Ở An Giang có nhiều điểm du lịch văn hóa tiêu biểu như miếu bà Chúa xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, chùa Hang, đồi Tức Dụp, các di tích Óc Eo, Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MỸ LINH
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN
DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
TP.HCM - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MỸ LINH
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN
DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH AN GIANG
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ……….………8
1 Lý do chọn đề tài ……….………8
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……….……… 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….… 10
5 Phương pháp nghiên cứu……….……… 10
6 Bố cục luận văn……….…… 11
7 Đóng góp của luận văn……….… 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH AN GIANG……… 12
1.1 Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa……… 12
1.1.1 Du lịch văn hóa……… 12
1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa……….…….1 3 1.1.3 Sản phẩm du lịch văn hóa……… 14
1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa……….……16
1.1.5 Nhân lực trong du lịch văn hóa……….………… 17
1.1.6 Điểm đến du lịch văn hóa……….………17
1.1.7 Thị trường của du lịch văn hóa…… ……….……… 18
1.1.8 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa……… 19
1.1.9 Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa ……….……… 20
1.1.10 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch……….………….21
1.2 Điều kiện phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang……….… 22
1.2.1.Điều kiện tự nhiên……….………… 22
1.2.2 Điều kiện lịch sử xã hội.……….…… 22
1.2.3 Tài nguyên du lịch văn hóa tỉnh An Giang……….… 26
1.3 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa 31
1.3.1 Những bài học kinh nghiệm trong nước……….…… 31
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm của nước ngoài……… 32
Tiểu kết chương 1……….…… 36
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH AN
GIANG……….……… 37
2.1 Thi trường khách du lịch văn hóa ở An Giang……… 37
2.1.1 Mục đích tham quan và tìm hiểu của du khách……….… 37
2.1.2 Phân kỳ du khách đến An Giang……….….39
2.1.3 Nhu cầu lưu trú của du khách đến An Giang……… 40
2.1.4 Lượng khách du lịch – khách du lịch văn hóa đến An Giang……… 41
2.1.5 Đặc điểm và xu hướng của du khách……….… 44
2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa tỉnh An Giang……… 49
2.2.1 Cơ sở kinh doanh du lịch……… 49
2.2.2 Cơ sở kinh doanh lưu trú……… 51
2.2.3 Cơ sở kinh doanh ăn uống……… 52
2.2.4 Phương tiện vận chuyển khách du lịch……… 53
2.2.5 Các cơ sở vui chơi, giải trí……… 54
2.2.6 Các dịch vụ bổ sung……… 54
2.3 Sản phẩm du lịch văn hóa tỉnh An Giang……… 54
2.3.1 Du lịch tham quan các di tích văn hóa lịch sử……….……… 55
2.3.2 Du lịch tôn giáo tín ngưỡng……… 56
2.3.3 Du lịch lễ hội ……… 57
2.3.4 Du lịch làng nghề ……… 58
2.3.5 Du lịch nghỉ dưỡng ……… 59
2.3.6 Du lịch sông nước ………… ……… 59
2.4 Các tuyến điểm du lịch văn hóa tiêu biểu ở An Giang ……… 61
2.4.1 Các điểm du lịch văn hóa tiêu biểu……… 61
2.4.2 Các tuyến du lịch văn hóa tiêu biểu……….64
2.5 Nhân lực du lịch văn hóa tỉnh An Giang……… 65
2.5.1 Nhân lực du lịch thường xuyên……… 65
2.5.2 Nhân lực du lịch thời vụ……… 69
2.6 Tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa tỉnh An Giang……… 70
2.6.1 Các cấp chính quyền và quản lý nhà nước……… 70
2.6.2 Các đơn vị kinh doanh du lịch……… 71
2.6.3 Cư dân bản địa……… 72
Trang 52.7 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa tỉnh An Giang……… 72
2.7.1 Cơ quan quản lý nhà nước……… 72
2.7.2 Chính quyền địa phương……… 75
2.7.3 Các doanh nghiệp du lịch……… 75
2.8 Tác động của du lịch đối với các di sản văn hóa ở tỉnh An Giang………… 76
2.8.1 Tác động của du lịch đối với các di sản văn hóa vật thể ……… 76
2.8.2 Tác động của du lịch đối với các di sản văn hóa phi vật thể ……… …78
Tiểu kết chương 2……… 80
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH AN GIANG……… 81
3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp……… 81
3.1.1 Chủ trương chính sách nhà nước……… 81
3.1.2 Định hướng, chiến lược phát triển của tỉnh……… 82
3.1.3 Điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch văn hóa của tỉnh……… 86
3.1.4 Thực trạng một số mặt yếu kém của du lịch văn hóa An Giang……… 90
3.2 Những giải pháp cụ thể……… 92
3.2.1 Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật……….……… 92
3.2.1.1 Hệ thống giao thông……… 92
3.2.1.2 Hệ thống cơ sở ăn uống, lưu trú……… 93
3.2.1.3 Đầu tư các cơ sở vui chơi, giải trí……… 93
3.2.2 Giải pháp phát triển nhân lực trong du lịch văn hóa……… 93
3.2.2.1 Nguồn nhân lực quản lý nhà nước về du lịch văn hóa ……… 93
3.2.2.2 Nguồn nhân lực trong các cơ sở kinh doanh du lịch……… 94
3.2.2.3 Nguồn nhân lực ở địa phương……… 94
3.2.2.4 Các cơ sở đào tạo du lịch……… 95
3.2.3 Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù……… 95
3.2.4 Xây dựng các tuyến điểm du lịch văn hóa tiêu biểu ở An Giang……….96
3.2.5 Giải pháp phát triển thị trường khách du lịch văn hóa……… 98
3.2.6 Giải pháp tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa……… 99
3.2.6.1 Quản lý nhà nước về hoạt động du lịch văn hóa ……… 99
3.2.6.2 Các đơn vị kinh doanh du lịch văn hóa ……… 101
3.2.6.3 Chính quyền địa phương trong hoạt động du lịch văn hóa ……… 102
Trang 63.2.7 Giải pháp xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa……… 102
3.2.8 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa và tài nguyên du lịch văn hóa…… 103
3.2.8.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước……… 104
3.2.8.2 Đối với các tổ chức kinh doanh du lịch……… 104
3.2.8.3 Đối với người dân địa phương……….104
Tiểu kết chương 3……… 105
KẾT LUẬN……… 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 108
PHỤ LỤC……….112
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ICOMOS International Council On Monuments and Sites
Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ
QĐ-SVHTTDL Quyết định – Sở Văn hóa Thể thao Du lịch
QĐ-UBND Quyết định - Ủy ban nhân dân
UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization) Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa thế giới
UNIDO (United Nations Industrial Development Organization)
Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hợp quốc UNWTO (World Tourism Organization) Tổ chức Du lịch thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1 : Tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể……… 13
Bảng 1.2 : So sánh sản phẩm du lịch và sản phẩm văn hóa ……… 14
Bảng 2.1 : Hiện trạng ngày khách và ngày lưu trú trung bình ……… 40
Bảng 2.2 : Lượng khách du lịch đến một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.41 Bảng 2.3 : Hiện trạng khách du lịch đến An Giang ……… 42
Bảng 2.4 : Thị trường khách quốc tế đến An Giang ……… 44
Bảng 2.5 : Doanh thu du lịch của các đơn vị qua các giai đoạn……… 47
Bảng 2.6 : Chi phí tour du lịch 2 ngày 1 đêm của khách trong nước……… 48
Bảng 2.7 : Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ở An Giang ……… 50
Bảng 2.8 : Cơ sở lưu trú ở An Giang ……… 51
Bảng 2.9 : Các nhà hàng ở An Giang ……… 53
Bảng 2.10 : Các lớp nghiệp vụ du lịch đã được tổ chức……… 66
Bảng 2.11 : Lao động trực tiếp trong du lịch ở An Giang……… 67
Bảng 2.12 : Dự đoán số lượng lao động trong du lịch từ 2015 - 2030……….68
Bảng 2.13 : Số lượng lao động của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang …… ……… 68
Bảng 2.14 : Số lượng lao động của Trung tâm Xúc tiến Thương mại Đầu tư và Du lịch tỉnh An Giang ……… 69
Bảng 2.15 : Số lượng lao động của Ban quản lý Du lịch huyện Thoại Sơn… 69
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 : Quy trình bảo tồn di sản ……… 21
Biểu đồ 2.1 : Mục đích của du khách đến An Giang ……… 37
Biểu đồ 2.2 : Phân kỳ khách du lịch đến An Giang ……….… 39
Biểu đồ 2.3 : Nguồn khách trong nước đến An Giang ……… 43
Biểu đồ 2.4 : Nhu cầu lưu trú của khách đến An Giang ……….…45
Biểu đồ 2.5 : Thời gian lưu trú của khách đến An Giang ……… 47
Biểu đồ 2.6 : Mức chi tiêu của khách đến An Giang ……… 49
Biểu đồ 2.7 : Tỷ lệ trình độ lao động năm 2011……….….……68
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
An Giang là một tỉnh phía Tây Nam của tổ quốc, từ lâu đã trở thành một mảnh đất không những có tiềm năng về kinh tế nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, mà còn là một vùng đất giàu tiềm năng du lịch Đặc biệt là các loại hình du lịch văn hóa như du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo, du lịch tìm hiểu các di tích văn hóa lịch sử, du lịch sông nước, du lịch nông nghiệp Ở An Giang có nhiều điểm
du lịch văn hóa tiêu biểu như miếu bà Chúa xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây
An, chùa Hang, đồi Tức Dụp, các di tích Óc Eo, Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành, thánh đường Hồi giáo Mubarak… Bên cạnh các điểm du lịch trên, nét văn hóa đặc thù của người dân vùng đất phía Tây Nam tổ quốc cũng là những tài nguyên vô giá để tạo nên các sản phẩm du lịch văn hóa ở An Giang
Du lịch văn hóa An Giang có nhiều sức hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước Đặc biệt là khách du lịch ở các khu vực như Đồng bằng sông Cửu Long, TP.Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ Sức hấp dẫn của du lịch văn hóa ở An Giang ẩn chứa nhiều điều kỳ thú qua từng dòng sông, ngọn núi, văn hóa
ẩm thực, các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa và lễ hội của các dân tộc cộng cư trên vùng đất tân cương Sự lôi cuốn này được thể hiện qua tổng số lượng khách du lịch đến An Giang hàng năm đều tăng mạnh và năm 2011 lượng khách du lịch văn hóa đến An Giang đạt 5.549.087 người Bên cạnh việc góp phần phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh, du lịch văn hóa ở An Giang còn có vai trò rất lớn trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa, và tiếp thu các giá trị văn hóa trong khu vực, hay trong quốc gia để làm phong phú thêm đời sống văn hóa địa phương
Chúng tôi lựa chọn việc “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh An
Giang” làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ Du lịch học của mình là bởi các lý do
chính sau:
- Thứ nhất, hoạt động của du lịch nói chung, du lịch văn hóa nói riêng của tỉnh An Giang còn nhiều bất cập và yếu kém, chưa phát huy được hết thế mạnh, tiềm năng, tài nguyên và các điều kiện phát triển du lịch, nên chưa thật sự trở
Trang 11thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, vì vậy cần có những nghiên cứu chuyên sâu để có thể góp phần phát triển nó
Thứ hai, các nghiên cứu về du lịch An Giang từ trước đến nay còn khá khái quát, chung chung, hoặc trong những phạm vi còn rất hạn hẹp, chưa có nghiên cứu toàn diện và phù hợp để giúp cho việc hình dung đầy đủ về các thế mạnh và hạn chế của du lịch văn hóa ở An Giang
Thứ ba, du lịch văn hóa chiếm giữ vị trí chủ đạo của du lịch An Giang, nhưng hiện nay chưa được nhận thức cũng như quan tâm nghiên cứu đầy đủ, vì vậy cần một nghiên cứu chuyên sâu nhắm góp phần xác định tầm quan trọng của
du lịch văn hóa trong việc phát triển du lịch của tỉnh nhà
tiềm năng và định hướng, Luận văn thạc sĩ khoa học địa lý, TP.Hồ Chí Minh Hay
đề tài nghiên cứu về Du lịch cộng đồng của Phạm Xuân Phú (2010), Nghiên cứu
phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở xã Mỹ Hoà Hưng, TP.Long Xuyên, tỉnh An Giang, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học An Giang…
Các đề tài nghiên cứu trên đã nêu lên được những tiềm năng, thực trạng
và định hướng phát triển của du lịch ở An Giang nói chung đến năm 2020 Đề tài nghiên cứu của Phạm Xuân Phú đã đi sâu vào phân tích loại hình du lịch văn hóa dựa vào cộng đồng ở xã Mỹ Hòa Hưng như một góc nghiên cứu mới đối du lịch văn hóa ở An Giang Nhìn chung, tất cả các đề tài nghiên cứu trên đã góp phần khẳng định việc phát triển du lịch văn hóa ở An Giang là hoàn toàn khả thi và để lại tư liệu quan trọng cho các công trình nghiên cứu sau
Tuy nhiên, vấn đề còn bỏ ngỏ là chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về du lịch văn hóa ở An Giang Các đề tài trên hoặc chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu chung về định hướng phát triển của du lịch An Giang, hoặc nghiên cứu ở phạm vi quá nhỏ về du lịch cộng đồng tại một xã Vì thế, nhiệm vụ đặt ra của luận văn là nghiên cứu chuyên đề về du lịch văn hóa, thế mạnh du lịch chủ yếu của tỉnh, một cách tương đối đầy đủ, toàn diện để đề ra
Trang 12được những giải pháp thiết thực bước đầu, góp phần phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện phát triển du lịch văn hóa ở An Giang
- Phân tích thực trạng của hoạt động du lịch văn hóa ở An Giang
- Đề xuất những giải pháp phù hợp để phát triển du lịch văn hóa nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch An Giang nói riêng và nền kinh
tế xã hội của tỉnh An Giang nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những lĩnh vực chủ yếu của du lịch văn hóa
An Giang như: Cơ sở vật chất kỹ thuật, sản phẩm du lịch văn hóa, thị trường, nguồn nhân lực, tổ chức, quản lý, tuyên truyền, quảng bá, công tác bảo tồn các di sản và tác động của du lịch đối với các di sản văn hóa ở tỉnh An Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Toàn bộ các hoạt động du lịch văn hóa tại tỉnh An Giang,
cũng như các di tích văn hóa – lịch sử được xếp hạng cấp tỉnh, cấp quốc gia và một phần của văn hóa phi vật thể như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, nghề thủ công truyền thống, văn hóa ẩm thực, văn hóa đờn ca tài tử…
Thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2011
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra thực địa
- Phương pháp sưu tầm tài liệu
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Trang 13- Phương pháp dự báo
Luận văn cũng tham khảo và sử dụng các tài liệu thứ cấp, các nguồn thông tin từ các sở ban ngành, thư viện, các tổ chức hiệp hội khoa học, các cổng thông tin chuyên đề, các nhà xuất bản khoa học, các diễn đàn chuyên môn, các website chuyên ngành du lịch làm cơ sở cho nghiên cứu của mình
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa và điều kiện phát triển du lịch
văn hóa tỉnh An Giang
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tỉnh An Giang
Chương 3: Một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa tỉnh An
Giang
7 Đóng góp của luận văn
- Tổng quan cơ sở lý luận về nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa
- Khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở An Giang
- Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa ở An Giang
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA
VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở AN GIANG
1.1 Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa
1.1.1 Du lịch văn hóa
Cần có sự phân biệt rõ giữa cụm từ “Du lịch văn hóa’’ và “Văn hóa du lịch’’ Khi nói đến văn hóa du lịch là nói đến văn hóa của con người trong hoạt động khai thác, sử dụng và hưởng thụ sản phẩm du lịch Nói đến ý thức văn hóa
và cách ứng xử của con người thể hiện trong mọi hoạt động du lịch Thuật ngữ
“Du lịch văn hóa” ở đây muốn đề cập đến một loại hình du lịch lấy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các di sản và truyền thống văn hóa của dân tộc làm nòng cốt trong chương trình du lịch
Hiện nay trên thế giới và trong nước có rất nhiều khái niệm về du lịch văn hóa như sau:
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di
tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa – kinh tế – xã hội” (ICOMOS)
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) cũng đưa ra một khái niệm khác về
du lịch văn hóa “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động
cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện về văn hóa khác nhau, thăm các di tích đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”
Theo Luật Du lịch Việt Nam thì “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch
dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”
Hoặc “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên cơ sở khai thác các
giá trị di sản văn hóa dân tộc và được tổ chức một cách có văn hóa” [04,tr.98]
Trang 15Như vậy, du lịch văn hóa là lĩnh vực du lịch khai thác các tài nguyên du
lịch văn hóa, các dịch vụ thích hợp nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của du khách Du lịch văn hóa lấy văn hóa làm tài nguyên du lịch Du
lịch văn hóa có tính lựa chọn khách, nó vừa mang tính giáo dục nhận thức, vừa giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa và là cầu nối cho việc giao lưu văn hóa giữa các vùng miền
1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa
Luật Du lịch Việt Nam chia tài nguyên ra 2 dạng chính là tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất như: rừng, biển, sông, hồ, hang động…
và dạng tài nguyên du lịch văn hóa đang được khai thác và chưa được khai thác Tài nguyên du lịch văn hóa được sáng tạo từ bàn tay và khối óc của con người trong quá trình sống, lao động như các di tích lịch sử văn hóa, các món ăn hay hàng thủ công mỹ nghệ… Hiểu theo cách này thì các thành tố văn hóa được xếp vào dạng tài nguyên du lịch văn hóa như truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian và đây cũng là nguồn tài nguyên hết sức độc đáo trong
du lịch Tuy nhiên, tài nguyên văn hóa được chia ra 2 loại cơ bản là tài nguyên văn hóa vật thể thì tồn tại dưới dạng hữu hình mà con người có thể thấy và chạm vào được như các công trình kiến trúc, hàng thủ công, các công cụ …; còn tài nguyên văn hóa phi vật thể thì tồn tại ở dạng vô hình, không hiện hữu trong không gian, con người chỉ có thể cảm nhận thông qua các giác quan như lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách giao tiếp, ứng xử …
Bảng 1.1: Tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể [19]
Tài nguyên văn hóa vật thể Tài nguyên văn hóa phi vật thể
Trang 16- Phương tiện sinh hoạt - Nghề thủ công truyền thống
- Các di sản truyền khấu dân gian
- Nghệ thuật diễn xướng Không phải tất cả tài nguyên văn hóa đều là tài nguyên du lịch văn hóa Nó
phải đáp ứng đủ các điều kiện khách quan và chủ quan Tài nguyên du lịch văn
hóa là toàn bộ tài nguyên văn hóa có khả năng kết hợp với các loại dịch vụ du lịch tương ứng để tạo thành sản phẩm du lịch [19]
Các giá trị di sản vật thể hay phi vật thể chỉ được phát huy khi nó thực sự đóng vai trò nhất định tác động đến tâm lý, tình cảm và tri thức của con người Như vậy, chỉ những giá trị văn hóa nào được phép khai thác đưa vào trong hoạt động du lịch và có tính hấp dẫn du khách thì mới trở thành tài nguyên du lịch văn hóa Du lịch văn hóa khai thác các giá trị di sản và giá trị truyền thống của dân tộc làm nguồn tài nguyên cho mình và nguồn tài nguyên này là cốt lõi của chương trình du lịch văn hóa
1.1.3 Sản phẩm du lịch văn hóa
Trong quá trình sống con người đã tạo ra văn hóa và sự sáng tạo của con người là biết vận dụng các giá trị văn hóa để tạo các sản phẩm du lịch văn hóa nhằm thỏa mãn những yêu cầu và khát vọng tìm hiểu của con người Có rất nhiều
khái niệm về sản phẩm du lịch như “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần
thiết để thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch” [26, tr.4]
Theo Tiến sĩ Dương Văn Sáu thì “Sản phẩm du lịch là toàn bộ những
dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc
tế đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng bản địa; đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa phương nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch”
Bảng 1.2: So sánh sản phẩm du lịch và sản phẩm văn hóa: [28,tr.33]
-Bền vững, tính bất biến cao -Thích ứng, tính khả biến cao
-Mang nặng dấu ấn của cộng đồng cư -Mang nặng dấu ấn của các cá nhân,
Trang 17dân bản địa các nhà tổ chức, khai thác
-Dùng cho tất cả các đối tượng khác
nhau, phục vụ mọi người
-Chỉ dùng cho khách du lịch, phục vụ những đối tượng sử dụng dịch vụ du lịch
-Sản xuất ra không phải để bán, chủ yếu
phục vụ đời sống sinh hoạt văn hóa –
tinh thần của cư dân bản địa
-Sản xuất ra phải được bán ra thị trường, bán cho du khách, phục vụ nhu cầu của các đối tượng du khách là cư dân của các vùng miền khác nhau -Chú trọng giá trị tinh thần, giá trị
không đo được hết bằng giá cả
-Giá trị văn hóa đi kèm giá trị kinh tế -
xã hội Giá trị được đo bằng giá cả -Quy mô hạn chế, thời gian và không
Như vậy sản phẩm du lịch văn hóa là tập hợp các dịch vụ cần thiết để
thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch văn hóa trong chuyến đi du lịch Các sản
phẩm du lịch văn hóa bao gồm: du lịch tín ngưỡng, du lịch lễ hội, du lịch tìm hiểu các di tích văn hóa – lịch sử, du lịch làng nghề, du lịch nông nghiệp, du lịch sông nước… Sản phẩm văn hóa tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch trở thành sản phẩm du lịch văn hóa Sản phẩm du lịch văn hóa do con người tạo ra và nó luôn chịu sự chi phối của con người Sự sáng tạo và vận dụng của con người có khả năng làm các giá trị văn hóa mất đi bản sắc của nó Tuy nhiên, chính con người đã đưa các giá trị văn hóa đến gần hơn nữa với nhân loại và tôn vinh giá trị của nó thông qua con đường du lịch
Tuy nhiên, nếu xem sản phẩm du lịch chỉ là dịch vụ thì mới chỉ chú ý đến
sự tham gia của yếu tố chủ thể là con người, người phục vụ nhu cầu của du khách, hay các hình thức phục vụ nhu cầu của du khách Sản phẩm du lịch bắt buộc phải cần tới đối tượng khách thể, nằm ngoài người phục vụ, hay hình thức dịch vụ, chi phối nhu cầu của du khách, để có khả năng và hình thức phục vụ thích hợp, đó là
Trang 18tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch nào thì dịch vụ du lịch ấy, sản phẩm du lịch
ấy Không có tài nguyên du lịch thì không có sản phẩm du lịch Vì vậy, sản phẩm
du lịch phải là sự kết hợp giữa toàn bộ các loại tài nguyên du lịch và toàn bộ các loại dịch vụ du lịch thích hợp nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải
nghiệm về những điều khác biệt, mới lạ của du khách Sản phẩm du lịch văn hóa
phải là sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch văn hóa và các dịch vụ du lịch văn hóa thích hợp phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm của du khách về những điều khác biệt, mới lạ của các nền văn hóa khác nhau [19]
1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
Hiểu theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch được xem là toàn bộ cơ sở hạ tầng, phương tiện, vật chất và kỹ thuật tham gia vào hoạt động
du lịch Bao gồm cả cơ sở vật chất của bản thân ngành du lịch như nhà hàng, khách sạn, hệ thống điện, nước, vệ sinh phục vụ tại điểm du lịch và cơ sở vật chất của các ngành kinh tế khác có liên quan như: mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện, nước của vùng …
Hiểu theo nghĩa hẹp, thì cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch là toàn bộ những cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật được các nhà làm du lịch đầu tư xây dựng
để phục vụ cho hoạt động du lịch như nhà hàng, khách sạn, đường giao thông nội
bộ trong khu, điểm du lịch, công trình điện nước tại khu điểm du lịch, các khu vui chơi giải trí, phương tiện giao thông và các công trình bổ trợ khác gắn liền với hoạt động du lịch
Theo 2 cách hiểu trên, cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch là toàn bộ các
cơ sở vật chất của bản thân ngành du lịch và cả các cơ sở hạ tầng của các ngành nghề khác có liên quan đến hoạt động du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển du lịch của một địa phương hay một quốc gia
Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa là toàn bộ các cơ sở
vật chất kỹ thuật tại điểm du lịch văn hóa và cơ sở hạ tầng của ngành nghề khác tham gia vào hoạt động du lịch văn hóa như: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, các công trình cung cấp điện, nước, cơ sở phục vụ ăn, uống, lưu trú, các cửa hàng, khu giải trí, thể thao, cơ sở y tế, trạm xăng dầu, nhà ga, bến cảng, bãi đỗ xe… phục vụ trực tiếp cho du khách đến tham quan tìm hiểu du lịch văn hóa Cơ
Trang 19sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa góp phần quyết định đến chất lượng dịch
vụ và hiệu quả kinh tế của điểm đến du lịch văn hóa
1.1.5 Nhân lực trong du lịch văn hóa
Nguồn nhân lực được hiểu là tất cả người lao động làm việc trong một tổ chức, bao gồm trí lực và thể lực Nguồn nhân lực luôn được xem là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng và hiệu quả công việc
Nguồn nhân lực trong du lịch hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ đội ngũ nhân viên làm việc có liên quan đến lĩnh vực du lịch Bao gồm cả nguồn nhân lực thường xuyên và nguồn nhân lực không thường xuyên như nhân viên quản lý nhà nước về du lịch, quản lý trong các doanh nghiệp du lịch, nhân viên nhà hàng, khách sạn, bán vé tại các điểm du lịch, hướng dẫn viên du lịch, nhân viên y tế, ngân hàng, hàng không… Tất cả người lao động có liên quan đến du lịch
Hiểu theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực du lịch là đội ngũ nhân viên làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch, các khu, điểm du lịch… Tất cả người lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch
Do vậy, nguồn nhân lực trong du lịch văn hóa là toàn bộ những người
trực tiếp và gián tiếp làm việc có liên quan đến du lịch văn hóa Bao gồm quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp và kinh doanh du lịch văn hóa Đội ngũ này
quyết định hiệu quả kinh doanh và sự tồn tại của du lịch văn hóa Muốn phát triển
du lịch văn hóa bền vững cần phải có đội ngũ nhân lực giỏi chuyên môn nghiệp
vụ am tường lĩnh vực văn hóa, đủ khả năng đảm nhiệm vai trò truyền tải về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam cho du khách
1.1.6 Điểm đến du lịch văn hóa
Theo điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì “Điểm du lịch là nơi
có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”
Tuy nhiên, điểm đến du lịch có thể là vùng du lịch, á vùng du lịch hay tiểu vùng
du lịch tùy theo quy mô lớn, nhỏ Theo cách hiểu trên thì điểm du lịch được xem
có quy mô nhỏ là “Nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa –
lịch sử hoặc kinh tế xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ” [44, tr.113]
Điều 24, Luật Du lịch Việt Nam (2005) quy định điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch cấp quốc gia:
Trang 20- Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch;
- Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm
Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch địa phương:
- Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch;
- Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm
Như vậy, điểm đến du lịch văn hóa là nơi có tài nguyên du lịch văn hóa
hấp dẫn, có khả năng thu hút và thỏa mãn các yêu cầu của du khách về du lịch văn hóa như: những di tích văn hóa lịch sử, những danh thắng, các công trình cổ đại và đương đại, các cổ vật, những giá trị văn hóa phi vật thể, truyền miệng, phong tục tập quán, ứng xử, các lễ hội, làng nghề, nghệ thuật ẩm thực, những tác phẩm văn học, nhạc họa, thơ ca, những sự kiện, những hoạt động văn hóa, thể thao, khoa học, kinh tế, xã hội…
1.1.7 Thị trường của du lịch văn hóa
Thị trường du lịch là nơi diễn ra quá trình mua và bán các sản phẩm du lịch, mang nhiều đặc tính của thị trường hàng hóa như yếu tố về địa lý, thời gian, yếu tố cung cầu, tính chất sản phẩm… và thực hiện các chức năng như thị trường hàng hóa Thị trường du lịch xuất hiện và vận hành dựa trên cơ sở thị trường hàng hóa
Thị trường du lịch văn hóa được hiểu là một kiểu thị trường du lịch đã phát triển thêm để đáp ứng yêu cầu làm thỏa mãn yếu tố văn hóa của du khách
Như vậy, thị trường du lịch văn hóa là nơi diễn ra sự trao đổi mua bán giữa
người mua là khách du lịch có nhu cầu thỏa mãn về sản phẩm văn hóa và người bán là những nhà cung cấp các dịch vụ có liên quan đến du lịch văn hóa trong một thời gian và không gian xác định Thị trường du lịch văn hóa chịu sự tác động
chung của thị trường du lịch về yếu tố địa lý, yếu tố cung cầu, về tính chất hoạt động và thành phần sản phẩm Đồng thời, thị trường du lịch văn hóa đảm nhiệm
Trang 21các chức năng như: chức năng thực hiện, chức năng thừa nhận, chức năng thông tin và chức năng điều tiết
1.1.8 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa
Công tác tổ chức, quản lý du lịch văn hóa cũng đồng nghĩa với công tác
tổ chức quản lý, phát huy và bảo tồn các di sản văn hóa Đây là điều kiện quan trọng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững để phát triển du lịch văn hóa Việc tổ chức quản lý du lịch văn hóa nhằm mục đích khai thác, phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa trong du lịch Như vậy, việc tổ chức, quản lý du lịch văn hóa dựa trên cơ sở nội dung quản lý nhà nước về du lịch như sau:
Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch văn hóa
Ngành du lịch hiện nay đã và đang không ngừng phát triển, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch của một vùng, miền Vì thế, việc khai thác và sử dụng đúng
ý nghĩa, mục đích của các di sản văn hóa là nhân tố quyết định hiệu quả thành
công của ngành kinh doanh du lịch
Tổ chức quản lý nhà nước về du lịch văn hóa hiện nay đang là vấn đề được lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo ngành và các doanh nghiệp quan tâm Tổ chức quản lý nhà nước được thực hiện tốt sẽ góp phần vào hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch và định hướng phát triển bền vững của ngành Căn cứ vào điều 10, Luật du lịch Việt Nam quy định nội dung quản lý nhà nước về du lịch từ đó suy ra các chức năng và nhiệm vụ trong việc tổ chức quản lý du lịch văn hóa của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương và các đơn vị kinh doanh du lịch như sau:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển du lịch văn hóa
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản, các tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật của hoạt động du lịch văn hóa trong phạm vi pháp luật
du lịch
- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch văn hóa
- Tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo nguồn nhân lực du lịch văn hóa; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ
Trang 22- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch văn hóa, xác định khu du lịch văn hóa, điểm du lịch văn hóa, tuyến du lịch văn hóa để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch văn hóa
- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế và hoạt động xúc tiến du lịch văn hóa
Đối với chính quyền địa phương
Theo sự phân cấp về quyền hạn và trách nhiệm của chính phủ, UBND cấp tỉnh, thành phố có trách nhiệm thực hiện đúng và tốt nhiệm vụ được phân công trong công tác quản lý nhà nước về du lịch văn hóa ở từng địa phương Việc quản
lý phải được cụ thể hóa trong công tác quy hoạch, ban hành quy chế, các chính sách phát triển du lịch văn hóa phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương
Đối với cơ sở kinh doanh du lịch văn hóa
Các cơ sở kinh doanh du lịch văn hóa phải chấp hành mọi quy định của nhà nước về tổ chức, quản lý các hoạt động có liên quan đến du lịch văn hóa Bên cạnh việc khai thác có hiệu quả các giá trị di sản văn hóa, các doanh nghiệp phải biết giữ gìn và tôn tạo nguồn tài nguyên vô giá này để hoạt động kinh doanh phát triển bền vững
1.1.9 Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá trong du lịch văn hóa
Trong kinh doanh việc xúc tiến, tuyên truyền quảng bá sản phẩm luôn đóng vai trò quan trọng để khẳng định tính hiệu quả của công việc và sự tồn tại của sản phẩm trên thị trường Công tác quảng bá trong du lịch góp phần quan trọng trong việc giới thiệu hình ảnh sản phẩm du lịch đến với du khách và mang
về hiệu quả thiết thực cho ngành du lịch Vì thế, việc xúc tiến tuyên truyền quảng
bá trong du lịch có thể được hiểu “Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền,
quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch” [26, tr.4]
Trang 23Như vậy xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá trong du lịch văn hóa là tranh thủ mọi cơ hội có thể để quảng bá hình ảnh du lịch văn hóa đến với thị trường du lịch trong và ngoài nước Mục đích của việc xúc tiến, tuyên tuyền, quảng bá trong
du lịch văn hóa là hoạt động giới thiệu các sản phẩm du lịch văn hóa để du khách
có thể chiêm ngưỡng, đánh giá, nghiên cứu, đồng thời, tạo điều kiện thúc đẩy du lịch văn hóa phát triển và mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất cho ngành du lịch
1.1.10 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch
Văn hóa là tài nguyên cốt lõi để cấu thành sản phẩm du lịch văn hóa Nếu nhìn về góc độ tổng thể, nơi nào có yếu tố du lịch thì nơi có chắc chắn tồn tại yếu
tố văn hóa Do mối quan hệ không thể tách rời, nên sản phẩm du lịch bao giờ cũng mang hình ảnh của văn hóa Vì thế, bảo vệ các giá trị văn hóa cũng chính là bảo vệ tài nguyên du lịch Bên cạnh đó, di sản văn hóa chính là bản sắc dân tộc
Do vậy, bảo tồn di sản văn hóa là nghĩa vụ và quyền lợi thiết thực của mỗi con người trong xã hội
Luật Di sản của Việt Nam đã khẳng định “Di sản văn hóa Việt Nam là tài
sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [25] Như vậy, việc bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị văn hóa
trong du lịch bao giờ cũng là cần thiết và cấp bách Từ hoạt động thực tiển của việc bảo tồn di sản ở Việt Nam trong nhiều năm qua thể hiện cách nhìn nhận không đúng về di sản, sự không thống nhất về cách nghĩ cách làm của các nhà quản lý đã làm cho các di sản bị tổn hại và đôi khi đánh mất luôn cả giá trị thực của nó Xét về mặt du lịch văn hóa những việc làm sai trái trong công tác bảo tồn các di sản văn hóa sẽ làm cho nguồn tài nguyên du lịch bị mai một Do vậy việc bảo tồn tài nguyên du lịch văn hóa cần phải có quy trình cụ thể như sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình bảo tồn di sản [51, tr.107]
Nhận diện di sản
Nghiên cứu và kiểm kê di sản
Xây dựng chính sách bảo tồn
Trang 241.2 Điều kiện phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Tên “An Giang”, tạm giải nghĩa là “Dòng sông an bình”[47] có từ năm
1832 Vua Minh Mạng vì muốn khuyến khích cư dân vào sinh sống, bám đất giữ
bờ cõi, nên đã thực thi chính sách cải cách hành chánh, chia Nam Kỳ thành 6 tỉnh gọi là Nam Kỳ lục tỉnh Trong đó có tỉnh An Giang (tỉnh lỵ ở Châu Đốc) Qua bao lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính đến ngày 20/12/1975, tên gọi An Giang được chính thức sử dụng cho đến ngày nay
An Gianglà vùng đất trù phú nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam, thuộc đầu nguồn lưu vực sông MeKong chảy vào Việt Nam Phía Đông giáp Đồng Tháp, phía Đông Nam giáp Cần Thơ, phía Tây Nam giáp Kiên Giang, phía Tây và Tây Bắc giáp nước bạn Campuchia Khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình là 270c, cao nhất từ 35ºC - 36ºC vào tháng 4 - 5, thấp nhất từ 20ºC - 21ºC vào tháng 12 và tháng 1 Lượng mưa trung bình 1400 - 1500mm, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Do là tỉnh đầu nguồn, nên hàng năm
An Giang phải đón mùa lũ về từ tháng 9 đến tháng 11
Đồi núi ở An Giang tập trung ở phía Tây Bắc của tỉnh, thuộc 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn Đây là cụm núi cuối cùng của dãy Trường Sơn Đất An Giang hình thành qua quá trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi, nên rất đa dạng Mỗi một vùng trầm tích trong môi trường khác nhau tạo nên một nhóm đất khác nhau về thổ nhưỡng, địa hình, hệ sinh thái và tập quán canh tác
1.2.2 Điều kiện lịch sử, xã hội
Lịch sử hình thành vùng đất An Giang
Chỉ định cơ quan bảo tồn
Trùng tu, tôn tạo và phát triển
Quản lý và quảng bá di sản
Trang 25Theo nhiều tư liệu nghiên cứu về “Lịch sử hình thành vùng đất An Giang”, người Việt đến vùng đất An Giang từ lúc nào, cho đến nay chưa có tư liệu chính xác Tuy nhiên, theo truyền thuyết dân gian và một số vết tích còn lại,
từ rất lâu đã có vài nhóm người Việt gốc miền Trung vào đây sống rải rác dọc theo bờ sông Tiền và sông Hậu Tương truyền khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược (năm 1700), đã thấy có người Việt ở vùng Bình Mỹ (Châu Phú), vùng Châu Đốc và vùng cù lao Cây Sao (cù lao Ông Chưởng) Vùng An Giang gồm 2 khu vực mới và cũ riêng biệt:
- Phía Tân Châu, Ông Chưởng, Chợ Mới dễ canh tác, dân đông, làng cũ
vì đã lập từ lâu
- Phía hữu ngạn sông Hậu, là vùng rừng núi hoang vu, đất khó canh tác, dân thưa thớt, làng mới lập
Năm 1819, theo lệnh triều đình, Nguyễn Văn Thoại cho đào kênh Vĩnh
Tế song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc nối thẳng tới sông Giang Thành thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ngày nay Đào kênh Vĩnh Tế xong, Nguyễn Văn Thoại cho đắp con đường từ Châu Đốc đến núi Sam lấy tên là “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương”, từ đó người dân đã khai hoang lập làng và khai phá vùng Tịnh Biên
Đầu thế kỷ XIX đã nhiều lần quân Xiêm xâm lấn nước ta Hà Tiên, Châu Đốc là những vùng bị thiệt hại trước tiên và nặng nề nhất Năm 1833, giặc Xiêm tàn phá dọc kênh Vĩnh Tế, chiếm Châu Đốc và tràn qua Tân Châu Nhưng chỉ 5 năm sau dân cư đã quy tụ trở lại, thành lập hàng chục thôn rải rác từ núi Sam dọc theo 2 bờ kênh Vĩnh Tế về phía Hà Tiên Vùng Châu Đốc là biên cương hiểm trở, vừa sản xuất vừa phải đối phó với ngoại xâm
- Dưới đời vua Minh Mạng, tội phạm lưu đày phần lớn gom về vùng Vĩnh
Tế để lập các xóm dọc bờ kênh, dần dần hình thành vùng dân cư Nguyễn Tri Phương, khi làm kinh lược sứ ở miền Nam, đã có sáng kiến lập đồn điền biên giới nhằm ngăn giặc, yên dân, tập trung ở vùng Châu Đốc, Hà Tiên
- Người Khmer: Là dân bản địa, hầu hết đều sinh ở Việt Nam nên gọi là người Việt gốc Khmer, tập trung nhiều nhất ở các huyện Tri Tôn và Tịnh Biên
- Người Chăm ở An Giang theo Hồi giáo (Islam) được du nhập vào từ bên ngoài Những người Chăm theo Hồi giáo này có sự liên lạc với Hồi giáo quốc
Trang 26tế, hàng năm thường hành hương đến thánh địa Mecca Do biến cố lịch sử họ di
cư sang Campuchia và đến Châu Đốc, Tân Châu, An Phú từ năm 1840
- Người Hoa: Theo dụ số 48 ngày 21/8/1956 của chính quyền Ngô Đình Diệm sửa đổi bộ luật quốc tịch Việt Nam, thì những người Hoa sinh đẻ tại Việt Nam kể như dân Việt Nam
Kinh tế xã hội tỉnh An Giang
Tính đến năm 2011, tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: TP.Long Xuyên, thị xã Châu Đốc (nay là TP.Châu Đốc), thị xã Tân Châu và 8 huyện: An Phú, Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên Trong đó TP.Long Xuyên là trung tâm chính trị, kinh tế, tài chính văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh
An Giang có 4 dân tộc Kinh, Hoa, Chăm và Khmer Trong đó, người Kinh chiếm khoảng 91%, người Hoa chiếm khoảng 4%, người Khmer chiếm 4,31% và người Chăm chiếm khoảng 0,61% Dân số An Giang có 2.149.457 người (thống kê năm 2010), mật độ dân số khoảng 608 người/km2, đứng thứ 4 trong vùng đồng bằng sông Cửu Long 6 đơn vị hành chính như huyện Chợ Mới, TP.Long Xuyên, huyện Phú Tân, huyện Phú Tân, huyện An Phú, thị xã Châu Đốc
và thị xã Tân Châu chiếm hơn 60% dân số toàn tỉnh
Tổng diện tích của An Giang là 3.537 km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm 79%, đất lâm nghiệp chiếm 4% Nền kinh tế chủ yếu của tỉnh là nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Sản lượng lúa năm 2011 của An Giang cao nhất nước đạt trên 3,8 triệu tấn, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia An Giang có 2 cửa khẩu quốc tế với nước bạn Campuchia đó là cửa quốc tế đường bộ Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên), cửa khẩu quốc tế đường thủy Vĩnh Xương (thị xã Tân Châu); cửa khẩu đường bộ quốc gia Khánh Bình (huyện An Phú) và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch khác Với lợi thế đường biên giới với nước bạn Campuchia dài 98km, An Giang có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển kinh tế và du lịch
Cơ sở hạ tầng
* Giao thông
- Giao thông đường thủy: có 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu thuộc hạ nguồn của sông Mekong, đoạn chảy qua địa phận An Giang khoảng 100km trên tổng chiều dài chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 220km Lòng sông sâu, dòng chảy
Trang 27tốt, phù hợp cho các tàu thủy vận tải hàng hóa có tải trọng từ 1.000 – 10.000 tấn Đây là tuyến giao thông đường thủy quan trọng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến Campuchia, ra biển Đông, đến các đảo quốc Singapore, Philippine, Malaysia… và ngược lại Bên cạnh đó, cửa khẩu đường thủy quốc tế Vĩnh Xương đóng vai trò quan trọng trong việc giao thương hàng hóa và chính trị với nước bạn Campuchia
- Giao thông đường bộ: An Giang có đường biên giới dài 98 km với 5 cửa khẩu được phép thông quan hàng hóa, gồm: 2 cửa khẩu quốc tế, 1 cửa khẩu quốc gia và 2 cửa khẩu phụ Quốc lộ 91 là đường huyết mạch của tỉnh từ Long Xuyên – Châu Đốc – Tịnh Biên tổng chiều dài 93km, Quốc lộ N1 từ Châu Đốc – Hà Tiên đoạn chạy địa phận An Giang dài 25km và Quốc lộ 80 từ Vĩnh Long – Đồng Tháp – Cần Thơ – An Giang – Kiên Giang, đoạn đi qua An Giang dài 1,2km Toàn tỉnh hiện có 14 tuyến tỉnh lộ, tổng chiều dài 394km Hệ thống đường giao thông nông thôn hiện có 3.365km Hầu hết các tuyến đường giao thông nông thôn ở An Giang đều đã được bê tông hóa và nhựa hóa
* Cảng: An Giang có cảng Mỹ Thới có khả năng đón nhận và trung
chuyển từ cảng sông tới cảng khu vực với các loại tàu buôn trên 10.000 tấn Cảng
Mỹ Thới nằm trong đường vận chuyển trực tiếp từ các quốc gia thuộc khối Asean
và quốc tế
* Hệ thống giáo dục và dạy nghề: tỉnh có Trường Đại học An Giang được
thành lập theo Quyết định số 241/1999/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ Trường có cơ sở vật chất hiện đại, thoáng mát, với quy mô đào tạo 10.000 sinh viên theo hướng đa ngành nghề và đang xúc tiến liên kết đào tạo quốc tế Đây là cơ sở đào tạo công lập trong hệ thống các trường đại học Việt Nam, dưới sự quản lý chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chịu sự quản lý trực tiếp của Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang Trường phục vụ đào tạo cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời nhận sinh viên từ nước bạn Campuchia
và Lào An Giang còn có Trường Cao Đẳng nghề, Trường Trung học Y tế đào tạo theo chuẩn quốc gia và quốc tế
* Tổ chức tín dụng và ngân hàng: toàn tỉnh An Giang có trên 60 tổ chức
tín dụng, ngân hàng đảm bảo việc thanh toán nhanh chóng và dễ dàng cho du khách
Trang 28Bên cạnh đó, các hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm, viễn thông, điện chiếu sáng, nước sạch ở An Giang được đầu tư rất tốt từ thành thị đến vùng nông thôn
Trong nhiều năm qua, nhằm phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Chính quyền tỉnh An Giang đã đề ra nhiều chính sách thúc đẩy việc khai thác và phát huy tiềm năng du lịch của tỉnh như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch; củng cố nâng cao năng lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước trong du lịch; hoàn chỉnh quy hoạch du lịch toàn diện trên địa bàn tỉnh; ban hành các chính sách, cơ chế thông thoáng để thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển du lịch; tạo điều kiện và hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch có khả năng cạnh tranh, phát triển và vươn ra các thị trường ngoài tỉnh; Thực hiện các giải pháp bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử, bảo vệ môi trường, cảnh quan, các di tích văn hóa lịch sử; nâng cao chất lượng các lễ hội truyền thống gắn với phát triển du lịch; thực hiện tốt các công tác kiểm tra, kiểm soát dịch bệnh nguy hiểm, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, trước hết là tại các điểm, khu du lịch nhằm tạo sự an tâm cho du khách
Bên cạnh đó, chính quyền tỉnh An Giang còn xúc tiến các hoạt động mời gọi đầu tư nhiều lĩnh vực Các lĩnh vực được ưu đãi đầu tư liên quan đến du lịch văn hóa gồm: đầu tư xây dựng khu du lịch quốc gia, khu du lịch sinh thái; khu công viên văn hóa có hoạt động thể thao vui chơi, giải trí; xây dựng và phát triển các ngành nghề truyền thống sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, các chế biến nông sản thực phẩm và các sản phẩm văn hóa
1.2.3 Tài nguyên du lịch văn hóa của An Giang
1.2.3.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể
An Giang được xem là một tỉnh có tiềm năng du lịch văn hóa nhất trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bởi địa thế có núi, rừng, sông và sự cộng cư của các dân tộc An Giang hiện có 1.198 di tích, trong đó có 46 di tích được công
nhận cấp tỉnh và 26 di tích được công nhận cấp quốc gia và Nguồn tài nguyên du
lịch văn hóa vật thể tạo nên những sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn và đa dạng bao gồm các tài nguyên như:
- Những công trình kiến trúc, mỹ thuật
- Những di tích lịch sử văn hóa
Trang 29- Những danh lam thắng cảnh
- Di tích khảo cổ
- Khu lưu niệm danh nhân
- Các di tích tôn giáo
1.2.3.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể
Ngoài những tài nguyên du lịch văn hóa vật thể, ở An Giang còn có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể rất phong phú như: tôn giáo, tín ngưỡng; phong tục tập quán: lễ hội cổ truyền, tết; làng nghề; ẩm thực…
* Tôn giáo và tín ngưỡng dân gian
Tôn giáo
An Giang là một tỉnh nông nghiệp, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và nuôi, trồng thủy sản Người dân An Giang sống dựa vào ruộng đồng, sông rạch, núi non Dãy Thất Sơn là vùng đất địa linh, nơi người dân An Giang gởi gấm đời sống tâm linh và tín ngưỡng Vì thế, nơi đây có nhiều truyền thuyết huyền bí, khó
lý giải và là cội nguồn của những bậc chân tu mà người đời thường gọi là Phật sống Điều này lý giải cho lý do An Giang là một tỉnh có nhiều tôn giáo, nhiều cơ
sở thờ tự nhất trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long Dân số của tỉnh trên 2,1 triệu người, trong đó có hơn 70% người dân là các tín đồ của các tôn giáo Phần còn lại theo tín ngưỡng thờ cúng ông, bà Các tôn giáo ở An Giang bao gồm: Phật giáo Việt Nam (Bắc Tông và Nam Tông của dân tộc Khmer); Phật giáo Hòa Hảo; Giáo phái Cao Đài; Công giáo; Hồi giáo; Tin Lành; Tịnh độ Cư sĩ, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương
Những đặc điểm tôn giáo ở An Giang là những nét đặc trưng văn hóa Nam Bộ và là một bộ phận không thể tách rời trong đời sống tâm linh và xã hội của cộng đồng cư dân
Tín ngưỡng dân gian
Từ những ngày đầu khai hoang lập ấp, người dân An Giang là một cộng đồng tứ xứ lập nghiệp trên mảnh đất hoang vu Họ phải sống hòa nhập và nương tựa vào nhau, cùng chia đôi hạt muối, hay uống chung ly rượu ngon Trong cách giao tiếp và ứng xử hàng ngày không mang nặng tư tưởng quan hệ thân tộc, dòng dõi, lai lịch mà quý trọng quan hệ giữa cá nhân với nhau Trong đời sống hàng ngày của người dân có sự dung hòa giữa các tôn giáo du nhập như: Phật giáo,
Trang 30Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo với các tôn giáo địa phương như Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương Vì thế, tín ngưỡng ở An Giang mang nặng tính bản địa, người dân An Giang dễ dàng chấp nhận các tín ngưỡng dân gian có trên địa bàn như tín ngưỡng thờ Tổ tiên, thờ Mẫu, thờ Thành Hoàng, thờ Thổ Công, thờ Thần Tài, thờ cúng Tổ nghề, thờ cúng Danh nhân
* Các lễ hội
Các lễ hội dân gian truyền thống
- Lễ hội đình làng: Các lễ hội đình làng gắn liền với ý nghĩa nông nghiệp
như lễ Hạ điền (lễ tế thần vào đầu mùa mưa); lễ Thượng điền (cử hành vào cuối
mùa mưa hoặc vào mùa lúa chín, chuẩn bị thu hoạch), để tạ ơn Trời, Đất và Thần
Nông đã ban cho mùa màng tươi tốt; lễ Cầu an (lễ hội Kỳ yên), còn gọi là lễ vía Thành hoàng hoặc giỗ Ông, có ý nghĩa cầu mong được bình yên mạnh khỏe
- Lễ hội bà Chúa xứ núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 04 âm lịch hàng năm tại chân Núi Sam – đây là lễ hội cấp quốc gia hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan, cúng bái để cầu mong được an
cư lạc nghiệp
- Lễ hội đến thờ Quản cơ Trần Văn Thành (lễ Đức Cố Quản) Lễ tưởng
nhớ công đức và sự hy sinh của Quản cơ Trần Văn Thành cùng các nghĩa sĩ
Những năm gần đây, do quy mô lễ hội được mở rộng, địa phương có tổ chức nhiều hoạt động vui chơi phục vụ khách tham quan như: hát cải lương, ca nhạc, xiếc mô tô bay, ảo thuật, các gian hàng ăn uống, bán quà lưu niệm…
- Lễ hội của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa
Tết Đônta, trong đó có hội đua bò của người Khmer được thay phiên tổ chức hàng năm tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Lễ hội thu hút đông đảo đồng bào Khmer trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và khách du lịch đến tham quan
Lễ hội của người Hoa: Người Hoa ở An Giang sống tập trung nhiều ở khu vực chợ Long Xuyên và chợ Châu Đốc Ngoài các lễ tết giống người Kinh còn có
các lễ như: cúng ông Bổn (24/04 âm lịch), cúng Thần tài (cầu mong cho sự làm ăn
phát đạt)
Lễ hội của người Chăm: Người Chăm An Giang hầu hết là tín đồ Hồi giáo (Islam) Các lễ hội của người Chăm được tính theo Hồi lịch và được tổ chức
Trang 31hàng năm tại các Thánh đường ở địa phương Hàng năm, các lễ hội lớn như: Lễ
Mâu lút (12/03 Hồi lịch) là Lễ sinh nhật Muhammed; Lễ Ramadan (01/09 đến
30/09 Hồi lịch) còn gọi là tháng thánh lễ Ramadan tháng ăn chay); Lễ Roya Phik (1/10 Hồi lịch), là lễ bố thí cho người nghèo Lễ Roya Haji (10/12 Hồi lịch) là lễ
hành hương đến Mecca - Thánh địa Hồi Giáo
- Lễ hội tôn giáo
Các lễ của Phật giáo; Các lễ của Thiên Chúa giáo; lễ của Phật giáo Hòa Hảo và một một số lễ hội mang tính chất tôn giáo khác cũng thu hút đông đảo khách du lịch hành hương về tham quan cúng bái như: lễ vía Đức Phật thầy Tây
An (cụ Đoàn Minh Huyên) vào ngày 12/08 âm lịch tại chùa Tây An (núi Sam, Châu Đốc) và chùa Thới Sơn (Tịnh Biên); lễ vía Đức Bổn sư đạo Tứ Ân Hiếu
Nghĩa (Ngô Lợi) vào ngày 12-13 tháng 10 âm lịch tại chùa Tam Bửu - làng An
Định (nay thuộc xã Ba Chúc, Tri Tôn); lễ giỗ ông Đạo Nằm vào ngày 15 tháng 02
âm lịch tại chùa Thành Hoa (Chợ Mới)
Ngày hội văn hóa huyện An Phú - vào ngày 02/09 (kỷ niệm Quốc Khánh
từ năm 1996)
- Lễ hội văn hóa huyện Tân Châu (kỷ niệm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng) vào ngày 30/04 (từ năm 1999)
- Lễ hội xuống giống tại huyện Chợ Mới, được tạo dựng kể từ năm 1999
để tạo không khí sôi nổi vào vụ sản xuất lúa trong thời kỳ hiện đại
* Phong tục tập quán
Trong quan niệm sống, người dân An Giang theo triết lý sống hài hòa và không thoát ly tính cách sống của dân tộc Việt Nam Phong tục tập quán và nếp sống gia đình của người dân An Giang có nét tương đồng với người dân Đồng bằng sông Cửu Long Qua tiến trình lịch sử, những lễ thức đời thường dần được
Trang 32hình thành và lưu truyền từ đời này sang đời khác như các ngày Tết, ngày giỗ, lễ tang, ngày mừng thôi nôi, đầy tháng, mừng thọ, đám cưới, đám hỏi…
* Nghề thủ công truyền thông
Nghề thủ công mỹ nghệ ở An Giang rất phong phú, toàn tỉnh có 29 làng nghề tiểu thủ công nghiệp Trong đó có 19 làng nghề truyền thống được UBND tỉnh công nhận Những làng nghề truyền thống này có bề dầy lịch sử từ rất lâu đời như: lụa Tân Châu; dệt thổ cẩm Khmer ở Văn Giáo; thổ cẩm Châu Giang của người Chăm; mộc Chợ Thủ, Mỹ Luông, Tấn Mỹ, mắm Châu Đốc; đường Thốt Nốt ở Tịnh Biên; lưỡi câu ở Mỹ Hòa; đan lờ, lọp ở Châu Thành, nhang ở Cần Xây… Bên cạnh đó còn có các cơ sở thủ công, mỹ nghệ mới nổi như: cơ sở làm tranh lá Thốt Nốt, cơ sở thêu may Kim Chi, hàng mỹ nghệ làm từ tre bông của cơ
sở Viễn Thành… Những làng nghề này mang giá trị văn hóa rất lớn đối với việc phát triển ngành du lịch của tỉnh Tuy nhiên, do điều kiện phát triển kinh tế hiện tại nên một số làng nghề truyền thống này có phần bị mai một nhiều (lụa Tân Châu) Vì thế, chính quyền tỉnh An Giang và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh đang cố gắng khôi phục các làng nghề truyền thống đưa vào phục vụ khách du lịch nhằm phát triển kinh tế địa phương và lưu giữ lại những nét đẹp văn hóa làng nghề
* Ẩm thực
Việc giao lưu văn hóa do đời sống cộng cư của các dân tộc ở An Giang nên ẩm thực ở An Giang cũng rất phong phú và khác biệt Nguồn thực phẩm chủ yếu từ sản phẩm nông nghiệp và sản vật sông nước như các loại cá đồng, cá sông, tôm, tép, các loại rau đồng, rau núi… đã tạo nên những món ăn hấp dẫn và nhiều dinh dưỡng như các món được chế biến từ mắm Châu Đốc hoặc các món ăn của người Khmer như xiêm lo, món của người Chăm như tung lò mò (lạp xưởng bò) cũng để lại cho du khách nhiều ấn tượng khó quên
* Âm nhạc, vũ điệu
Đời sống kinh tế của người dân ngày càng ổn định, nhu cầu về đời sống
tâm linh đã hình thành các đền, miếu, chùa, chiền… Âm nhạc tế lễ ở An Giang cũng bắt đầu phá triển từ đó thông qua các hình thức múa nhựt nguyệt, diễn tam tài, tế thiên vương, xây chầu và hát bội Trải qua nhiều triều đại, nhạc lễ được cải
tiến thành nhạc tài tử Nhạc tài tử xuất phát từ nông thôn và những người thưởng
Trang 33thức thường là những người bình dân Do lối chơi mang tính tri âm, tri kỷ nên
thường được chơi vào những đêm trăng thanh hay trong đám tiệc đông người
Ngày nay ở An Giang, đờn ca tài tử và hát cải lương khá phổ biến phục vụ từ
những người bình dân đến giới thượng lưu Đặc biệt, khách du lịch đến An Giang cũng rất muốn tìm hiểu và thưởng thức vài câu vọng cổ giữa không gian tĩnh lặng của miền sông nước Vì thế, loại hình nghệ thuật này đã tạo nên một sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo thu hút được sự quan tâm của đông đảo khách du lịch gần
xa
* Nghệ thuật biểu diễn
Lối hát bội xuất hiện ở An Giang vào những thập niên đầu của thế kỷ 19 Thời gian ông Thoại Ngọc Hầu trấn nhậm ở vùng Châu Đốc tân cương, vì say mê hát bội nên đi đâu ông cũng có một đoàn hát theo phục vụ Từ năm 1916 đến năm
1921, khi phong trào ca ra bộ thịnh hành xuất phát từ dòng nhạc dân gian, khuynh hướng cải lương dần dần được đưa lên sân khấu và nhanh chóng chinh phục sự ái
mộ của người xem và tồn tại cho đến ngày nay
1.3 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa
1.3.1 Những bài học kinh nghiệm trong nước
Việt Nam đang chọn du lịch văn hóa là hướng đi chính để tăng tốc cho ngành công nghiệp không khói, phù hợp với các điểm đến di tích văn hóa lịch sử trãi dài khắp từ Bắc chí Nam và sự góp mặt của 54 nền văn hóa trong cả nước Du lịch văn hóa ở Việt Nam đang tập trung khai thác các giá trị của các di tích văn hóa lịch sử, các công trình kiến trúc, các lễ hội, nghệ thuật biểu diễn truyền thống,
ẩm thực hay các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống Thời gian qua đã có nhiều đơn vị kinh doanh du lịch, khu du lịch, điểm du lịch và địa phương đã hoạt động rất tốt và đạt được những kết quả khả quan về kinh tế, xã hội, môi trường và bảo tồn các giá trị di sản
Tỉnh Quảng Nam là địa phương điển hình về hoạt động du lịch văn hóa Nổi bật nhất là du lịch văn hóa ở Phố cổ Hội An Phố cổ Hội An được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1999 và hiện tại là địa phương có hoạt động
du lịch văn hóa điển hình ở Việt Nam Ở đây, chính quyền, doanh nghiệp và người dân kết hợp đưa ra những sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù như: Đêm hội
Trang 34trăng rằm vào ngày 15 âm lịch hàng tháng, Phố đêm vào thứ 7 hàng tuần, homestay phố cổ, du lịch làng nghề Khu Phố cổ Hội An được xây dựng từ thế kỷ XVI dường như còn được bảo quản nguyên vẹn Đó là tất cả công sức và tình cảm của con người nơi đây dành cho các di sản văn hóa Dự án “Tư vấn chính sách về quản lý môi trường: Phát triển công nghiệp xanh” phối hợp giữa Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) với UBND thành phố Hội An được triển khai vào tháng 08 năm 2011 cho thấy hướng phát triển lâu dài cho du lịch văn hóa Hội An Dự án này giúp giải quyết về các vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu và hạn chế thấp nhất tác hại do du lịch mang đến cho con người và xã hội nơi đây Các doanh nghiệp và những người làm du lịch ở Hội An sẵn sàng đáp ứng tối
đa những nhu cầu của du khách nhưng vẫn không đánh mất bản sắc văn hóa của mình Điều này khiến du khách rất hài lòng và trở thành kênh quảng cáo tích cực cho du lịch Hội An
Bên cạnh Hội An, thánh địa Mỹ Sơn cũng là một điển hình về hoạt động
du lịch văn hóa Di tích này được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm
1999 Toàn bộ khu di tích nằm trong một thung lũng hoang sơ, rêu phong nhưng rất sạch sẽ Khi mới đưa vào hoạt động, ban quản lý di tích đã dùng loại xe chuyên dùng chạy bằng nhiên liệu để trung chuyển khách vào thung lũng gây ra nhiều tiếng ồn và bụi Tuy nhiên, vào năm 2011, để khai thác bền vững và đảm bảo một môi trường xanh, sạch Nơi đây đã đầu tư đội xe chuyên dùng chạy bằng điện không gây khói bụi, tiếng ồn làm ảnh hưởng đến di tích và tạo cảm giác thoải mái cho du khách Thánh địa Mỹ Sơn vừa là một di tích văn hóa lịch sử vừa trở thành một khu du lịch sinh thái hấp dẫn du khách bởi không khí trong lành, mát
mẻ và nhiều cây xanh Đặc biệt, các biển báo và hướng dẫn ở khu di tích này rất
rõ ràng, dễ hiểu và đầy đủ thông tin Thuyết minh viên được đào tạo chuyên nghiệp, tận tình cung cấp thông tin và kiến thức cho du khách
Tổ chức hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh Quảng Nam thực sự là bài học kinh nghiệm quý giá cho các địa phương theo hướng khai thác du lịch đi đôi với việc bảo tồn di sản
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm của nước ngoài
Khẩu vị du lịch của du khách dần dần chuyển sang việc tìm kiếm sự khác biệt hơn là việc hưởng thụ vật chất Trước sự biến đổi về tâm lý tiêu dùng của du
Trang 35khách, nhiều nước trên thế giới đã tìm loại hình du lịch mới thay thế loại hình du lịch cũ Du lịch văn hóa được nhìn nhận là ứng viên số một cho sự thay thế đó Kinh nghiệm làm du lịch văn hóa của các nước trên thế giới không ngừng được trao đổi và học tập lẫn nhau
Vương quốc Campuchia
Đến với Vương quốc Campuchia chắc chắn mọi người sẽ rất ngạc nhiên
về việc bảo tồn những di tích văn hóa lịch sử của đất nước chùa tháp này Quần thể Angkor – Di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận là một minh chứng cụ thể Qua bao thế kỷ, quần thể di tích này vẫn tồn tại giữa khu rừng già, bao gồm các công trình nổi tiếng trên diện tích khoảng 1.000km²: Cổng thành phía Nam đền Angkor Thom, đền Bayon, đền Taphrom và đền Angkor Wat, người dân ở đây ý thức rất cao trong việc bảo vệ di tích Mặc dù người dân Campuchia xem ngôi đền là một điểm du lịch văn hóa chính đem lại cho họ nguồn lợi rất lớn trong đời sống kinh tế Nhưng không vì thế mà họ phát triển du lịch một cách ồ ạt và không kiểm soát Để bảo vệ các bậc thang lên xuống trong các ngôi đền không bị hao mòn, họ dùng nhiều loại gỗ quý làm thêm lối lên xuống khác thay cho lối đi cũ Những nơi bị sụp đổ họ được tổ chức UNESCO giúp đỡ trùng tu và gia cố rất cẩn thận từng chi tiết chứ không phá bỏ kiến trúc cũ
để xây dựng lại cái mới Môi trường vệ sinh ở các điểm tham quan rất tốt Điều này làm cho khách du lịch rất quan tâm và tự giác giữ vệ sinh chung Tháng 02 năm 2013 ngành du lịch Campuchia phát động chiến dịch "Mỗi du khách một cây xanh" nhằm khuyến khích khách du lịch chung tay bảo vệ môi trường, giảm thiểu các nguy cơ biến đối khí hậu Việc làm này được các nước trên thế giới rất đồng tình và đánh giá cao Năm 2012, Campuchia đón khoảng 3,5 triệu lượt khách nước ngoài, tăng 25% so với năm 2011, dự kiến năm 2013 sẽ thu hút khoảng 4 triệu lượt khách Điều này có nghĩa du lịch văn hóa đã giúp nền kinh tế Campuchia gặt hái được nhiều thành quả tích cực
Ba Li (Indonesia)
Bali là một trong những hòn đảo đẹp nổi tiếng của đất nước Indonesia khu vực Đông Nam Á Hòn đảo này với diện tích khoảng 5.600 km2 và dân số hơn 3 triệu người và đa số người dân theo đạo Hindu Trước thập niên 60 của thế
kỷ XX, Bali chưa phải là địa chỉ du lịch lý tưởng bởi tư tưởng khép kín, không cởi
Trang 36mở của người dân địa phương Họ e ngại sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai sẽ làm tổn hại và thay đổi truyền thống văn hóa vốn có của họ Nhưng rồi chính phủ Indonesia đã cẩn trọng lập quy hoạch phát triển du lịch văn hóa cho chính họ: Họ
đã tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, những nhà hàng, khách sạn dần dần mọc lên, người dân bản địa học cách giao tiếp với khách nước ngoài, các chuyến bay đến Bali bắt đầu thu hút các nhà đầu tư, hình ảnh hòn đảo này được quảng bá khắp nơi trên thế giới Từ đó, tên của hòn đảo Bali được nhiều người biết đến và muốn đến Bali bắt đầu phát triển thành thiên đường du lịch theo định hướng của chính phủ Những làng nghề truyền thống được khôi phục như: nghề may cắt, nghề điêu khắc đá và những nghề thủ công mỹ nghệ khác Du lịch văn hóa đã đem đến cho họ đời sống kinh tế sung túc và những thành quả tích cực Khách đến Ba Li có thể thăm viếng khoảng 12.000 ngôi đền với những điểm đến văn hóa hấp dẫn, ngắm những mảnh ruộng bậc thang và thưởng thức điệu múa Barong thần thoại
Malaysia
Cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á xảy ra vào năm 1997 làm cho nhiều nền kinh tế ở Châu Á bị ảnh hưởng nghiêm trọng và trong đó có Malaysia Thời điểm đó, Chính phủ Malaysia đã tìm ra lối thoát cho mình bằng con đường phát triển du lịch văn hóa: du lịch homestay, du lịch sinh thái
Du lịch homestay phát triển rất mạnh và hoạt động chuyên nghiệp ở những vùng quê Malaysia Có khoảng 3.300 hộ dân từ 230 ngôi làng trên khắp 13 bang của Malaysia tham gia chương trình du lịch homestay Những nông dân này trước đây có đời sống rất khó khăn và lại càng khó khăn hơn khi cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á xảy ra Chính phủ Malaysia đã đầu tư các cơ sở hạ tầng về thôn quê và hỗ trợ vốn cho người dân sửa sang, vệ sinh nhà cửa Ngành du lịch Malaysia xúc tiến mở các lớp tập huấn về quản lý, về an ninh và cách phục vụ du khách Chính phủ Malaysia còn có chính sách không thu thuế đối với các hộ dân làm du lịch homestay Người dân ở đây học làm du lịch văn hóa theo cách: cùng
ăn, cùng sinh hoạt và cùng chia sẻ với du khách trong chính ngôi nhà của họ Điều quan trọng dẫn đến thành công của các chương trình du lịch homestay ở Malaysia
là đối với khách du lịch thì họ được thỏa mãn trong việc tìm kiếm sự khác biệt về văn hóa, và họ được chia sẻ rất nhiều về các tập quán và kinh nghiệm sống hàng
Trang 37ngày của người dân bản địa Đối với người dân địa phương, họ cũng thỏa mãn trong việc giới thiệu nét văn hóa bản địa của họ đến du khách và nhận lại nhiều lợi nhuận từ việc kinh doanh du lịch văn hóa Slogan “Truly Asia” (châu Á đích thực) của Malaysia nhanh chóng được nhiều khách du lịch quốc tế chấp nhận
Canada
Canada là một nước có diện tích lớn thứ 2 thế giới nằm ở cực bắc châu
Mỹ, có sự pha trộn của nền văn hóa đa sắc tộc Chính phủ Canada từ rất lâu đã có những chính sách bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Mục tiêu trong chính sách văn hóa của họ là giáo dục cho người dân có sự hiểu biết nhau hơn giữa các dân tộc và
ra sức gìn giữ di sản của bộ tộc Chính phủ Canada còn có chính sách thúc đẩy phát triển các bảo tàng về người bản địa và tích cực quảng bá các điểm đến du lịch văn hóa ra khắp thế giới Đặc biệt là điểm đến du lịch văn hóa cộng đồng thổ dân, du lịch học tập ngôn ngữ và văn hóa ẩm thực Cách làm của họ được nhiều nước trên thế giới quan tâm và gởi người sang giao lưu học tập kinh nghiệm như Đài Loan và Trung Quốc Thổ dân Inuit (bộ tộc Nuvanut) làm du lịch văn hóa rất chuyên nghiệp Họ xem du lịch văn hóa là phương tiện truyền bá văn hóa bản địa đến với thế giới và là ngành kinh doanh mang đến nhiều lợi nhuận Thổ dân da đỏ biết cách hướng dẫn khách du lịch hòa mình vào cuộc sống của người bản địa để học cách chế biến và ăn những món ăn cổ truyền của họ, múa những điệu múa truyền thống, vui đùa trên đồng cỏ hay sinh hoạt trong những chiếc lều tipi và mua những sản phẩm thủ công mỹ nghệ do họ chế tác Tất cả đều mang đậm sắc thái và đầy ý nghĩa đối với bộ tộc, du lịch văn hóa đã đem lại nguồn thu rất lớn cho thổ dân Ở Canada có trên 1.000 doanh nghiệp làm du lịch mà người da đỏ chiếm cổ phần hơn 50% Mỗi năm các doanh nghiệp du lịch này thu về hàng triệu
đô la và giải quyết nhu cầu lao động rất lớn cho địa phương Tuy nhiên, có những giá trị văn hóa mà họ không thể chia sẻ với du khách Đồng thời họ cương quyết không chấp thuận cho khách du lịch tham gia vào Chính ý thức bảo vệ tài sản văn hóa này đã làm cho giá trị văn hóa bản địa không bị lu mờ
Trang 38Tiểu kết chương 1
Ngày nay du lịch văn hóa đang là sự lựa chọn của nhiều du khách để làm thay đổi khẩu vị du lịch của mình Nắm bắt được sự thay đổi này, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang có kế hoạch cụ thể trong việc khai thác hợp lý các giá trị tài nguyên du lịch văn hóa làm mũi nhọn phát triển kinh tế Tuy nhiên, mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều có lộ trình thực hiện riêng tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, miền An Giang được đánh giá
là một tỉnh có tiềm năng du lịch văn hóa rất lớn Việc nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm đưa ra những luận chứng, những điều kiện cần thiết và những bài học kinh nghiệm cần thiết nhằm góp phần phát triển du lịch văn hóa ở An Giang nói riêng
và du lịch văn hóa ở Việt Nam nói chung
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH AN GIANG
2.1 Thị trường khách du lịch văn hóa ở An Giang
2.1.1 Mục đích tham quan và và tìm hiểu của du khách
Qua khảo sát thực tế, luận văn có nhận xét sơ bộ về mục đích của khách
du lịch đến An Giang cho thấy: khách du lịch đến An Giang thường có nhiều mục đích khác nhau như: tìm hiểu các di tích lịch sử văn hóa; mục đích thư giãn tinh thần bởi các yếu tố tâm linh của vùng đất trấn biên, đa sắc tộc; tìm kiếm sự khác
lạ về nét văn hóa cộng đồng, các lễ hội của dân tộc Chăm, Khmer; đắm mình vào cảnh đẹp hùng vĩ của dãy Thất Sơn; hoặc lênh đênh trên chiếc xuồng con vào mùa nước nổi giữa bạt ngàn sông nước…
Biểu đồ 2.1: Mục đích của du khách đến An Giang
Di tích lịch sử văn hóa
Danh thắng và nghỉ dưỡng
khác
khách trong nước Khách quốc tế
Biểu đồ trên cho thấy nhu cầu du lịch văn hóa của khách trong và ngoài nước đến An Giang rất khác nhau Đối với khách du lịch nội địa, mục đích du lịch
để thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng và tôn giáo đang được du khách rất ưa chuộng, chiếm tỷ lệ 64% trên tổng lượng khách nội địa đến An Giang Đây cũng
là điều dễ hiểu, bởi người dân ở vùng đất mới – Đồng bằng sông Cửu Long cuộc sống kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và tập quán canh tác của cha ông trước đây còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Vì thế đối với họ, mỗi dòng sông, mỗi ngọn núi đều mang dáng dấp của các vị thần Yếu tố tâm linh, tín ngưỡng dân gian và tôn giáo bản địa không thể thiếu trong đời sống hàng ngày
Trang 40An Giang là vùng đất có khả năng đáp ứng được những nhu cầu đó của người dân trong khu vực Xét về yếu tố hiện diện của con người trong tự nhiên, nơi đâu có con người sinh sống ít nhiều cũng để lại những dấu tích trong quá trình hình thành, xây dựng và sáng tạo; quá trình đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại, đấu tranh với con người để phát triển… Chính những dấu tích đó là những di tích văn hóa lịch sử Những di tích này bao giờ cũng có những gắn bó mật thiết, những tình cảm đặc biệt của người bản xứ Tham quan các di tích văn hóa lịch sử là hình thức ôn lại những sự kiện trong quá khứ, những truyền thống xây dựng và bảo vệ của các thế hệ đi trước Vì thế, nhu cầu tham quan các di tích văn hóa lịch sử ở An Giang chiếm 20%
Con người bao giờ cũng có những yêu thương gắn bó với quê hương với vùng đất mình sinh sống Chính những tình cảm yêu thương đó cộng với sự ưu đãi của thiên nhiên đã tạo nên những danh thắng trong mỗi vùng đất Đồng thời, con người là đối tượng chính chiêm ngưỡng và đánh giá cảnh quan Do vậy, mục đích
du lịch để tham quan danh thắng và nghỉ dưỡng ở An Giang chiếm tỷ lệ 11%
Còn lại 05% là khách du lịch nội địa đến An Giang vì mục đích khác Đối với khách nước ngoài, mục đích du lịch đến An Giang để tìm hiểu văn hóa bản địa thông qua việc tìm hiểu các di tích văn hóa lịch sử nhiều hơn là đến để thắp hương cúng bái và loại hình du lịch này chiếm tỷ lệ 63% Mục đích
du lịch nhằm tham quan các danh lam, thắng cảnh của các điểm đến là lựa chọn thứ 2 của du khách nước ngoài khi đến An Giang, loại hình du lịch này chiếm tỷ
lệ 18% Nhu cầu tìm hiểu về tôn giáo, tín ngưỡng chiếm 11% và du lịch vì mục đích khác chiếm 08%
Tuy có nhu cầu tìm hiểu khác nhau của du khách trong và ngoài nước, nhưng điều quan tâm chung của khách vẫn là du lịch văn hóa Điều này cho thấy nhu cầu của du lịch văn hóa trong thị trường du lịch ở An Giang là thật sự cần thiết Nắm bắt được nhu cầu của thị trường du lịch văn hóa ở An Giang cần gì? và mức độ đáp ứng của địa phương với du khách ra sao? Đó là những điều quan trọng giúp các nhà kinh doanh xác định được thị trường mục tiêu, sản phẩm chủ đạo, sản phẩm kế thừa, đối tượng du khách, đối thủ cạnh tranh… Đồng thời, việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước có chính