1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam

126 512 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AFT Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Asian BCC Business Cooperation Hội đồng hợp tác kinh doanh BOT Build – Operate- Transfer Xây dựng – Kinh doanh

Trang 1

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi Tr-êng §¹i häc Kinh TÕ

-

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA HOA KỲ VÀO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội - 2008

Trang 2

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi Tr-êng §¹i häc Kinh TÕ

-

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA HOA KỲ VÀO VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tÕ ChÝnh trÞ

Mã số : 60.31.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG THỊ BÍCH LOAN

Hà Nội - 2008

Trang 3

MỤC LỤC Trang

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1.5 Các nhân tố chủ yếu tác động đến thu hút FDI nói chung và FDI

từ Hoa Kỳ nói riêng

28

1.2 Đầu tư ra nước ngoài của Hoa Kỳ và quan hệ hợp tỏc kinh tế

Việt Nam – Hoa Kỳ

33

1.2.2 Quan hệ hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ 35

1.3 Kinh nghiệm của một số nước chõu Á về thu hút FDI từ Hoa Kỳ 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG FDI TỪ HOA KỲ VÀO VIỆT NAM

TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

48

2.2.2 Những hạn chế và nguyờn nhõn trong thu hỳt FDI từ Hoa Kỳ 73

Trang 4

CHƯƠNG 3 TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH THU HÚT FDI TỪ HOA KỲ VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

81

3.1.2 Dự báo triển vọng thu hút FDI từ Hoa Kỳ 89

3.2 Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh thu hút FDI từ Hoa Kỳ

vào Việt Nam trong thời gian tới

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFT Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Asian

BCC Business Cooperation Hội đồng hợp tác kinh doanh

BOT Build – Operate- Transfer Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao BTO Build – Transfer - Operate Xây dựng – Chuyển giao – Kinh Doanh

BT Build – Transfer Xây dựng – chuyển giao

BTA Bilateral Trade Agreement Hiệp định Thương Mại song phương

Việt Nam – Hoa Kỳ

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

M&A Merger & Acquisition Mua lại và sát nhập

MFN Most Favored Nation Quy chế tối huệ quốc

NTR Normal Trade Relations Quy chế quan hệ thương mại bình thường ODA Official Development

Assistance

Hỗ trợ phát triển chính thức

R&D Reseacher and Development Nghiên cứu và phát triển

TNCs Transnational Corpotations Công ty xuyên quốc gia

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

B¶ng 1.1 Lợi thế của doanh nghiệp FDI so với doanh nghiệp

nước tiếp nhận đầu tư

19

B¶ng 1.2 10 nhµ ®Çu t- n-íc ngoµi lín nhÊt Trung Quèc 40

Bảng 2.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện từ Hoa

Kỳ trước và sau khi có Hiệp định thương mại

52

Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ theo ngành 55

Bảng 2.3 Đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ theo đi ̣a phương 63

Bảng 2.4 FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam qua nước thứ 3 theo

Đồ thị 1.3 Học thuyết lợi nhuận cận biên của vốn 25

Đồ thị 1.4 Học thuyết lợi nhuận cận biên của vốn 27

Đồ thị 2.1 FDI của Hoa Kỳ đầu tư theo năm 50

Đồ thị 2.2 Đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ theo HĐHT 60

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi nước, nhất là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Quốc gia nào thu hút được nhiều và sử dụng

có hiệu quả nguồn vốn quốc tế thì quốc gia đó có cơ hội tăng trưởng kinh

tế nhanh, rút ngắn khoảng cách về trình độ so với các nước công nghiệp phát triển

Từ khi thực hiện đường lối mở cửa được đánh dấu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Đặc biệt là Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ra đời tháng 12/1987 Nhà nước ta đã có những chủ trương chính sách tạo điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt

là nguồn vốn FDI

Có thể nói rằng thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam thời

kỳ đổi mới, không thể không kể tới sự đóng góp quan trọng của nguồn vốn FDI Nguồn vốn FDI đã góp phần quan trọng gia tăng kim ngạch xuất khẩu, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo ra tác động tổng hợp trong việc tăng năng lực sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ, đào tạo đội ngũ chuyên gia, các nhà quản lý và công nhân lành nghề, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của nông thôn và thành thị ở nước ta, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển của Việt Nam so với các nước trong khu vực, nâng dần vị thế chính trị và kinh tế của Việt Nam trên thế giới

Hoa Kỳ là nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới, có nguồn vốn FDI lớn, cùng với ưu thế về khoa học công nghệ, sự hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ, luồng vốn FDI của Hoa Kỳ đang giữ vai trò quan trọng và chi

Trang 8

phối nền kinh tế thế giới Trong quá trình phát triển nếu khai thác được nguồn lực quan trọng này thì Việt Nam có thêm nguồn lực để phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Do vậy, việc nghiên cứu: “Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam”

được chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ kinh tế

- “Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ tại Việt Nam” Luận văn thạc sỹ, Nguyễn Thúy Hòa, Đại học Quốc gia Hà Nội 2003

- “Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam: Thực trạng và triển vọng” ThS Lại Lâm Anh, Vũ Xuân Trường, Tạp chí kinh tế chính trị thế giới,

số 6

- Nguyễn Xuân Trung (2006) “Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia

Hoa Kỳ và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” Tạp chí Châu Mỹ ngày

- Võ Phước Tấn, Đỗ Hồng Hiệp “Một số vấn đề nhằm thu hút FDI của

Mỹ vào Việt Nam” Tạp chí phát triển kinh tế, số 128/2001

Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề này với những cách tiếp cận khác nhau

Trang 9

Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào khảo sát, nghiên cứu về FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam một cách đầy đủ, hệ thống dưới dạng một

luận văn khoa học ở góc độ kinh tế chính trị Vì thế đề tài: “Đầu tư trực tiếp

của Hoa Kỳ vào Việt Nam” cần được nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá lý luận về FDI

- Chỉ ra vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế xã hội

- Phân tích thực trạng thu hút FDI của Hoa Kỳ từ 2001 đến nay

- Làm rõ căn cứ để đề ra các giải pháp nhằm thu hút FDI của Hoa Kỳ trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thu hút nguồn FDI đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam chủ yếu trong thời gian từ 2001 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là các học thuyết kinh tế của các nhà kinh điển Mác - Lênin, các học thuyết kinh tế hiện đại, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đầu tư nước ngoài Một số phương pháp chính được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là:

- Phương pháp duy vật biện chứng

- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học

Trang 10

- Phương pháp logic lịch sử

- Phương pháp phân tích hệ thống

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp mới của luận văn

Thứ nhất: Hệ thống hóa lý luận về FDI và cập nhật về đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam

Thứ hai: Khẳng định vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư

Thứ ba: Phân tích và đánh giá hoạt động đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam trong thời gian qua Từ đó thấy được những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó

Thứ tư: Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam trong thời gian tới

7 Bố cục của luận văn

Đề tài: “Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam” Ngoài phần kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 2: Thực trạng thu hút FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam từ năm 2001 đến nay

Chương 3: Triển vọng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thu hút FDI

từ Hoa Kỳ vào Việt Nam trong thời gian tới

Trang 11

Trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển mỗi quốc gia Quốc gia nào nhận thức đúng và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, quốc gia đó sẽ thành công và thu hút được nhiều hơn nguồn vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển kinh tế đất nước Đối với các nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong khi nhu cầu vốn của các quốc gia ngày càng tăng thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới lại có hạn Làm thế nào để thu hút và sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn FDI hiện nay đang là vấn đề đặt ra đối với các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển bởi lẽ những nước này đang gặp phải những khó khăn về cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính, trình độ, kiến thức quản lý…

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm FDI

1.1.1.1 Khái niệm về FDI

Tùy theo khía cạnh tiếp cận mà mỗi tổ chức, mỗi quốc gia có các khái niệm về FDI

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) năm 1977 đưa ra khái niệm FDI như sau: FDI là việc đầu tư được thực hiện nhằm thu hút những lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất

Trang 12

nước của nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó

Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”

Tuy nhiên nhiều nước trên thế giới không có những quy định về vốn đăng ký, vốn pháp định, vốn đầu tư, vốn thực hiện như Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Họ chỉ quan tâm đến vốn thực hiện, bởi đó chính là vốn thực được đưa từ bên nước ngoài vào một nước khác để đầu tư Các khái niệm về vốn đăng ký, vốn pháp định chỉ nói đến tiềm năng, mà từ tiềm năng đến hiện thực là một khoảng cách

Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật đầu tư Luật này có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/7/2006 Trong đó có một số khái niệm liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”; “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” [17, tr6]

FDI là một loại hình đầu tư quốc tế chủ yếu được thực hiện từ khu vực

tư nhân và do các công ty xuyên quốc gia (TNCs) thực hiện thông qua việc thiết lập các công ty con để mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh FDI không chỉ có sự lưu chuyển vốn mà còn thường đi kèm theo công nghệ, kiến thức kinh doanh và gắn với mạng lưới phân phối rộng lớn trên phạm vi toàn cầu

Trang 13

Như vậy, có thể hiểu một cách duy nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn tư bản từ nước đầu

tư sang nước tiếp nhận đầu tư để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao

1.1.1.2 Đặc điểm của FDI

FDI là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng thời cũng là người sử dụng vốn, điều đó có nghĩa là nhà đầu tư đồng thời cũng là người quản lý hoạt động đầu tư Về bản chất, FDI có một số đặc điểm cơ bản sau:

Một là: Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư

quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hình thức đầu tư này mang tính khả thi lâu dài và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại ghánh nặng cho nền kinh tế

Hai là: Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư

nếu là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số

cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ Trong khi đó Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức 100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp vốn tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án

Ba là: Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp

nhận được kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được

Bốn là: Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu

của chủ đầu tư với hình thức vốn pháp định và trong quá trình hoạt động nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được

Trang 14

1.1.2 Các hình thức FDI

Chúng ta có thể tiếp cận theo hai cách: Mục đích đầu tư và hình thức sở hữu

1.1.2.1 Xét theo mục đích đầu tư

FDI được phân làm hai loại: đầu tư theo chiều ngang và đầu tư theo chiều dọc

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang (Horizontal FDI): là việc một công ty tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ đang có lợi thế cạnh tranh một loại sản phẩm nào đó Với lợi thế này họ muốn tìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở nước ngoài nên đã mở rộng sản xuất là thôn tính thị trường nước ngoài Hình thức này thường dẫn đến cạnh tranh độc quyền mà Mỹ, Nhật Bản đang dẫn đầu việc đầu tư này ở các nước phát triển

Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc (Vertical FDI): khác với hình thức đầu tư theo chiều ngang, đầu tư theo chiều dọc với mục đích khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ như lao động, đất đai của nước nhận đầu tư Do các nhà đầu tư thường chú ý khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu trong quá trình sản xuất

ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế các sản phẩm thường được hoàn thiện qua lắp ráp ở nước nhận đầu tư Sau đó các sản phẩm này lại được nhập khẩu về nước đầu tư hay xuất khẩu sang nước khác Đây là hình thức khá phổ biến của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển

1.1.2.2 Xét về hình thức sở hữu

Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có các hình thức sau:

- Hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài

Trang 15

thành lập, tự quản lý điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Doanh nghiệp này được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Vốn pháp định cũng như vốn đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài đóng góp, vốn pháp định ít nhất bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp

- Hình thức doanh nghiệp liên doanh: Đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó pháp nhân mới được thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp mới này do hai hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh, hình thức này có các đặc trưng pháp nhân mới được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có

tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà Mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh một pháp nhân riêng Nhưng doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân độc lập với các bên tham gia Khi các bên tham gia đóng góp đủ số vốn đã quy định vào liên doanh thì dù một bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn góp của mình vào vốn pháp định

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có quy định: số người tham gia hội đồng quản trị lãnh đạo doanh nghiệp của các bên phụ phuộc vào tỷ lệ vốn góp Hội đồng quản trị là cơ quan cao nhất lãnh đạo liên doanh Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc nhất trí đối với các vấn đề quan trọng như: Duyệt quyết toán thu chi tài chính hàng năm và quyết toán công trình, sửa đối,

bổ sung điều lệ doanh nghiệp, vay vốn đầu tư, bổ nhiệm, miễn nhiệm tổng giám đốc, phó tổng giám đốc thứ nhất và kế toán trưởng…lợi nhuận hay rủi

ro của doanh nghiệp liên doanh này được phân chia theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên

Trang 16

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam còn quy định thời gian hoạt động của liên doanh thông thường từ 30 năm đến 50 năm, trong trường hợp đặc biệt không quá 70 năm Doanh nghiệp liên doanh phải giải thể khi hết thời hạn hoạt động trừ khi việc kéo dài thời gian hoạt động đã được cơ quan quản

lý nước ngoài về hợp tác đầu tư chuẩn y Đồng thời doanh nghiệp liên doanh cũng có thể kết thúc hợp đồng sớm hơn trong một số trường hợp đặc biệt như: Gặp bất khả kháng, một hoặc các bên liên doanh không thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng

- Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được

ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các bên hợp tác kinh doanh) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động hợp tác kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia

mà không cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới Hình thức này không làm hình thành một công ty hay một xí nghiệp mới Mỗi bên vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân độc lập của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình trước nhà nước

Ngoài 3 hình thức trên, theo nhu cầu đầu tư về hạ tầng, các công trình xây dựng còn có hình thức:

- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): Là phương thức đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài (có thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài) với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước chủ nhà

Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao thường được thực hiện bằng 100% vốn nước ngoài, cũng có thể được thực hiện bằng vốn nước ngoài

Trang 17

và phần góp vốn của chính phủ hoặc các tổ chức cá nhân của nước chủ nhà Trong hình thức đầu tư này, các nhà đầu tư có toàn quyền tổ chức xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian đủ thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, sau đó sẽ chuyển giao cho nước chủ nhà mà không được bồi hoàn bất kỳ khoản tiền nào

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh: là phương thức đầu

tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu

hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà Nước chủ nhà có thể sẽ giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): là một phương thức đầu

tư nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý

1.1.3 Vai trò của FDI

1.1.3.1 Đối với nước đầu tư

* Tác động tích cực

Thực tế cho thấy, phần lớn các nước đi đầu tư là những nước công nghiệp phát triển, có tiềm lực kinh tế mạnh, nguồn vốn lớn hoặc một số nước công nghiệp hóa, nhưng trình độ phát triển đã đạt đến mức khá cao làm cho các nhân tố phát triển sản xuất theo chiều rộng mất dần đi (còn lại những nhân tố thuộc về lợi thế so sánh tĩnh như lao động, tài nguyên thiên nhiên…)

Trang 18

Kèm theo là hiện tượng dư thừa nguồn vốn trong nước, nên họ tìm mọi cách

để đưa vốn sang nước khác để đầu tư Nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài mà các nhà đầu tư có thể khai thác và sử dụng một cách triệt để những lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư Những nước có trình độ phát triển thấp hơn, các nước này sẵn sàng tiếp nhận dòng vốn từ các nước khác chảy vào đề phát triển nền kinh tế trong nước

FDI là nhân tố quan trọng giúp các nước đi đầu tư khắc phục tình trạng sản phẩm bị lão hóa Đó là một trong những giải pháp tốt nhất để cứu giúp các ngành công nghiệp đã xế chiều ở trong nước Thông qua FDI, các nước đi đầu tư có thể di chuyển máy móc thiết bị và công nghệ không còn tiên tiến ở nước họ sang các nước tiếp nhận đầu tư để kéo dài vòng đời sản phẩm trong khi tiếp tục phát triển các ngành công nghiệp mới với các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao ở trong nước Đây là một hiện tượng mang tính quy luật khách quan trong quá trình di chuyển vốn quốc tế, nó đòi hỏi các nền kinh tế tham gia vào quá trình này luôn luôn phải cân nhắc và lựa chọn Các nước tiếp nhận đầu tư (nước sở tại) là nguồn cung cấp ổn định với chi phí thấp các nguồn lực như: nguyên vật liệu, lao động… cho các nhà đầu tư nước ngoài

Tóm lại, có thể thấy đối với các nước đi đầu tư, FDI sẽ góp phần làm tăng tổng sản phẩm quốc dân của đất nước bằng sự đóng góp của các khoản lợi nhuận thu được từ nước ngoài chuyển về FDI đóng phần vào việc mở rộng thương mại đặc biệt là xuất nhập khẩu trong những ngành có ý nghĩa quan trọng đối với nên kinh tế, là động lực chủ yếu để thúc đẩy việc nghiên cứu và triển khai công nghệ mới của nước nhận đầu tư Bên cạnh đó, FDI là phương tiện không những chỉ để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của nước

đi đầu tư mà còn để phục vụ cho các mục tiêu khác của họ nhằm vào việc củng cố vững chắc và bành chướng thế lực chính trị trên thị trường quốc tế

Trang 19

* Tác động tiêu cực

FDI không chỉ tạo ra những tác động tích cực mà còn tạo ra những ảnh hưởng bất lợi về việc làm và thu nhập của người lao động trong nước Trong nhiều trường hợp, nếu như việc quản lý vĩ mô không được hiệu quả sẽ dẫn đến tình trạng các nước đầu tư (mạnh về xuất khẩu) nhưng lại là quốc gia nhập khẩu những hàng hóa và dịch vụ nhất định vì các doanh nghiệp không muốn đầu tư và bán sản phẩm trên thị trường nội địa dẫn đến tình trạng thiếu hụt, mất cân đối Đầu tư ra nước ngoài cũng thường gắn với chuyển giao công nghệ mới, do đó trong nhiều trường hợp đã làm tăng khả năng cạnh tranh cho đối thủ Đây là một số vấn đề hiện được nhà nghiên cứu kinh tế rất quan tâm khi đưa ra nhận định và đánh giá về tác động của hiện tượng kinh tế này

1.1.3.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư

* Tác động tích cực

Thứ nhất; FDI không để lại gánh nặng nợ cho chính phủ nước tiếp

nhận đầu tư như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như phát hành trái phiếu ra nước ngoài…Bởi vì, chính các nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn lâu dài ở nước sở tại, hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư Nước tiếp nhận FDI ít phải chịu những điều kiện rằng buộc kèm theo của người cung ứng vốn như tiếp nhận ODA, kể cả kèm theo những điều kiện về chính trị, có ảnh hưởng đến công việc nội bộ, chủ quyền của đất nước đi vay

Thực hiện liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính, trong tình huống xấu nhất khi gặp rủi ro thì các đối tác nước ngoài cũng sẽ là người cùng chia sẻ rủi

ro với các công ty của nước sở tại

Trang 20

Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tương đối ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư Đây là điều nhiều nước đang phát triển quan tâm, vì khả năng trả nợ của họ, nhất là phải trả nợ bằng ngoại

tệ mạnh thường là yếu kém

Thứ hai; Do đặc điểm và bản chất của FDI, nhà đầu tư không dễ dàng

rút vốn ra khỏi nước sở tại như đầu tư gián tiếp Kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực năm 1997 cho thấy, những nước chịu tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng thường là nước tiếp nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, ngược lại những nước thu hút nhiều FDI thường chịu tác động của khủng hoảng ít hơn, nhẹ hơn Kinh nghiệm của một số nước lâm vào khủng hoảng tài chính - tiền tệ như Mêhico (1984) và Arghentina (2001) cũng đã nhận định tương tự Chính vì vậy, sau các cuộc khủng hoảng tài chính tiên tệ, các nước đang phát triển được khuyến cáo nên thay đổi chính sách theo hướng thận trọng hơn với đầu tư gián tiếp, chú trọng hơn đến việc thu hút, sử dụng FDI Đối với FDI, nhà đầu tư thường tính chuyện làm ăn lâu dài, không mang tính đầu cơ như đầu tư gián tiếp Trong trường hợp không muốn làm ăn tiếp, nhà đầu tư cũng không thể rút vốn dễ dàng, nhanh chóng như đầu tư gián tiếp, vì vốn đầu tư của họ nằm trực tiếp trong nhà xưởng, thiết bị trên đất nước tiếp nhận đầu tư, phải chuyển đổi thành tiền bằng cách bán lại hoặc thanh lý nhà máy mới thu hồi vốn và chuyển về nước được

Thứ ba: FDI không đơn thuần là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ

thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới,

mở ra thị trường mới…cho nước tiếp nhận đầu tư Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước đang phát triển có trình độ khoa học

và công nghệ thấp, trong khi phần lớn những kỹ thuật mới được phát minh trên thế giới vẫn xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển, do đó

Trang 21

để rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển, các nước này rất cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi nước có cách đi riêng lẻ để nâng cao trình độ công nghệ của mình, nhưng thông qua FDI là cách tiếp nhận nhanh, trực tiếp và thuận lợi Thực tế cho thấy, FDI là một kênh quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với các nước vừa thiếu vốn, vừa có trình độ phát triển thấp, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý kém, đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo đầy đủ Đồng thời, FDI có tác dụng rõ nét hơn các hình thức đầu tư nước ngoài khác trong việc trấn hưng, làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt và sự sôi động của nền kinh tế nước tiếp nhận nhờ gia tăng sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài, kéo theo các dịch vụ phục vụ cho họ (vận tải, khách sạn, văn phòng, nhà hàng ăn uống, vui chơi giải trí…) Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận

Thứ tư: Thông qua tiếp nhận FDI, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện

thuận lợi để gắn kết nền kinh tế trong nước với hệ thống phân phối, trao đổi quốc tế thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Chủ thể chủ yếu của hoạt động FDI trên thế giới hiện nay là các công ty xuyên quốc gia với mạng lưới chân rết toàn cầu, thông qua tiếp nhận đầu tư của các công ty, tập đoàn, nước

sở tại có điều kiện thuận lợi để tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, làm quen với tập quán thương mại quốc tế, thích nghi nhanh hơn với những thay đổi trên thị trường thế giới…Đó là vai trò làm cầu nối và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế rất quan trọng của FDI, một nhân tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế

Thứ năm: FDI có thể duy trì sử dụng lâu dài, từ khi một nền kinh tế còn

ở mức phát triển thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triển cao Nó có thể

Trang 22

được sử dụng rất lâu dài trong suốt quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế, tùy theo chính sách của nước tiếp nhận

Tóm lại đối với Việt Nam vốn FDI có vai trò đặc biệt quan trọng Nó góp phần vào tăng GDP của nền kinh tế; cung cấp vốn cho CNH, HĐH đất nước; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Tuy nhiên bên cạnh vai trò tích cực của nguồn vốn FDI thì nó cũng còn những hạn chế nhất định đối với nước tiếp nhận

- Các nhà đầu tư nước ngoài thường sử dụng lợi thế của mình đối với doanh nghiệp ở trong nước tiếp nhận, nhất là trong trường hợp liên doanh, để thực hiện biện pháp “chuyển giá” thông qua cung ứng nguyên vật liệu, chi lợi ngay từ khâu này, làm cho giá thành sản phẩm cao một cách giả tạo, giảm lợi nhuận, thậm chí gây ra “lỗ giả, lãi thật” gây thiệt hại cho người tiêu dùng và giảm thu ngân sách của nước sở tại (nhất là trong trường hợp chính sách và trình độ quản lý của nước chủ nhà chưa chặt chẽ, hoàn chỉnh) Đôi khi, doanh

Trang 23

nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện chính sách cạnh tranh bằng con đường bán phá giá, chịu lỗ trong giai đoạn đầu và các hình thức cạnh tranh không bình đẳng khác để loại trù đối thủ cạnh tranh, đặc chiếm hoặc khống chế thị trường, lấn át các doanh nghiệp trong nước, làm cho một ngành hoặc một số ngành sản xuất trong nước không phát triển được

- Lợi dụng trình độ công nghệ thấp và quản lý yếu kém của nước chủ nhà, một số nhà đầu tư nước ngoài thông qua con đường FDI để tiêu thụ những máy móc, thiết bị lạc hậu, thậm chí đã thải loại sang nước tiếp nhận FDI Thực

tế ở nhiều nước cho thấy khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nước ngoài đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị và vật tư đã lạc hậu, đã qua sử dụng (được tân trang) hoặc nhiều khi đã đến thời hạn thanh lý Nếu không có những quy định và sự kiểm soát chặt chẽ, nước nhận FDI dễ trở thành “bãi thải công nghiệp” của các công ty xuyên quốc gia, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế

- Thông qua sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty xuyên quốc gia có khả năng gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về kinh tế - xã hội như làm tăng chênh lệch về thu nhập, làm gia tăng sự phân hóa trong các tầng lớp nhân dân, tăng mức độ chênh lệch phát triển trong một vùng hoặc giữa các vùng… So với các các hình thức đầu tư nước ngoài khác, nước chủ nhà khó chủ động trong việc điều phối, phân bố sử dụng nguồn vốn FDI vì về cơ bản, quyết định đầu tư (cả

về quy mô, địa điểm, hình thức đầu tư, sản phẩm, công nghệ, phân phối sản phẩm…) thuộc về nhà đầu tư

Những mặt bất lợi của FDI gây ảnh hưởng như thế nào còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của nước chủ nhà (quan điểm, nhận thức, chiến lược, thể chế, chính sách, công tác tổ chức quản lý nước ngoài đối với lĩnh vực này) Nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ và có các biện pháp phù hợp, nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế, giảm thiểu được những tác động tiêu cực, bất lợi, xử

Trang 24

lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài và lợi ích quốc gia, tạo ra lợi ích tổng thể tích cực của việc tiếp nhận FDI cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo mục đích, định hướng của mình

1.1.4 Một số lý thuyết về FDI

Do tính chất quan trọng của việc phát triển quan hệ đầu tư giữa các quốc gia trên thế giới, nhiều học thuyết kinh tế về FDI đã được các nhà kinh tế học nghiên cứu và phát triển Những học thuyết này được hình thành nhằm mục đích lý giải nguồn gốc hình thành và phát triển của FDI

1.1.4.1 Học thuyết kinh tế vi mô về FDI

thị trường cạnh tranh không hoàn hảo [33, tr34]

Các nhà kinh tế học sau này đã phát triển quan niệm của Hymer thông qua so sánh doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp của nước nhận đầu tư Khi một doanh nghiệp của nước đi đầu tư thành lập doanh nghiệp ở nước tiếp nhận đầu tư thì thường có ít lợi thế hơn các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư Lợi thế kém cạnh trạnh có thể là ngôn ngữ, văn hóa, pháp luật… Tuy vậy, bên cạnh những bất lợi so với các doanh nghiệp nước nhận đầu tư thì đầu

Trang 25

tư FDI có một số lợi thế nhất định đó là vốn, tài sản vô hình (công nghiệp, thương hiệu), kỹ năng tổ chức và quản lý… Hai nhà kinh tế học Lall và Streenten đã tiến hành so sánh những lợi thế của doanh nghiệp FDI (Bảng 1.1) Doanh nghiệp FDI sử dụng những lợi thế này như những công cụ hữu hiệu trong cạnh tranh, nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp

Bảng 1.1 Lợi thế của doanh nghiệp FDI so với doanh nghiệp nước

tiếp nhận đầu tư

Vốn Có vốn lớn và chi phí vốn thấp hơn so với doanh nghiệp

trong nước Trình độ

quản lý

Có trình độ quản trị doanh nghiệp tốt hơn, có khả năng dự báo và xác định rủi ro cũng như lợi nhuận tốt hơn

Công nghệ Có công nghệ tiên tiến, có khả năng ứng dụng công nghệ

vào sản xuất, có khả năng phát minh ra công nghệ mới và áp dụng trong sản xuất

Marketing Có khả năng nghiên cứu thị trường, quảng cáo và phân phối

sản phẩm Mua nguyên vật

Trang 26

Giai đoạn 1: Sản phẩm được chế tạo và sản xuất tại nước đi đầu tư,

trong giai đoạn này sản phẩm mới được chế tạo nên chỉ mang tính chất thử nghiệm

Giai đoạn II: Sản phẩm đã được hoàn thiện hơn Giai đoạn này đánh

dấu sự phát triển của sản phẩm, số lượng sản phẩm được bán ra nhiều và cầu theo giá của sản phẩm đã co giãn Sản phẩm được xuất khẩu sang những nước

có thu nhập cao

Giai đoạn III: Sản phẩm đã được chuẩn hóa về chất lượng, các doanh

nghiệp ở nước gốc không còn đóng vai trò là doanh nghiệp độc quyền về sản xuất và phân phối sản phẩm cũng như độc quyền về công nghệ sản xuất nữa

Đã có nhiều doanh nghiệp sản xuất loại sản phẩm đó và có sự cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp với nhau Do vậy, để tìm kiếm thị trường và lợi thế

so sánh về chi phí sản xuất sản phẩm (giá nhân công, nguyên, nhiên vật liệu…) các doanh nghiệp gốc (đầu tiên) chế tạo ra sản phẩm đã tiến hành đầu tư tại các nước đang phát triển Sản phẩm tiếp tục được sản xuất ra tại những nước đang phát triển và được nhập khẩu ngược trở lại ở những nước đi đầu tư Nước đi đầu tư trở thành nước nhập khẩu thuần túy và nước tiếp nhận đầu tư trở thành nước xuất khẩu

Trang 27

Đồ thị 1.1 Vòng đời sản phẩm– Veron

D là nhu cầu nội địa, P là sản xuất, X là xuất khẩu, M là nhập khẩu và

t là thời gian

* Học thuyết bắt kịp vòng đời sản phẩm

Do nhà kinh tế học Nhật Bản Akamatsu, Giáo sư Trường Đại học

Hitotsubashi xây dựng Nội dung của học thuyết chủ yếu lý giải đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển, trong đó có Nhật Bản được coi

là một ví dụ điển hình sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Theo học thuyết thì sản phẩm bắt đầu chu kỳ khi được nhập khẩu vào các nước đang phát triển

Sản phẩm mang tính mới và có chất lượng cao, đặc biệt là có hàm lượng khoa học công nghệ cao nên đã được chấp nhận ở thị trường các nước nhập khẩu Cầu sản phẩm tăng dẫn đến các nhà sản xuất nước ngoài trực tiếp tổ chức sản xuất sản phẩm tại ngay chính các nước nhập khẩu Quá trình tổ chức sản xuất tại các nước nhập khẩu đã tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất phát triển,

hiệu quả sản xuất của nền kinh tế tăng và giảm chi phí sản xuất sản phẩm

Khi chi phí sản xuất sản phẩm đạt được mức ngang bằng chi phí sản xuất trên thế giới và thị trường sản phẩm cũng được phát triển ở các nước

Trang 28

khác trên thế giới đã dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu, xuất khẩu sản phẩm đó ra thị trường nước ngoài

Kết hợp quá trình nhập khẩu sản phẩm, sản xuất sản phẩm và xuất khẩu

sản phẩm nêu trên được coi là “Bắt kịp vòng đời sản phẩm” ở những nước

đang phát triển (Đồ thị 1.2)

Đồ thị 1.2 Bắt kịp vòng đời sản phẩm - AKAMATSU

D là nhu cầu nội địa, P là sản xuất, X là xuất khẩu, M là nhập khẩu và t là thời gian

1.1.4.2 Học thuyết kinh tế vĩ mô về đầu tư trực tiếp nước ngoài

* Học thuyết Mac Dougall – Kemp

Học thuyết Mac Dougall – Kemp được G.D.A Mac Dougall xây dựng

và Murray C Kemp kế thừa và phát triển Học thuyết nghiên cứu sự di chuyển vốn giữa các quốc gia và cho rằng vốn chỉ dịch chuyển giữa các quốc gia khi lợi nhuận cận biên của vốn giữa các quốc gia là khác nhau Việc dịch chuyển vốn giữa các quốc gia góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên trên thế giới, làm tăng sản lượng sản phẩm và phúc lợi xã hội của quốc gia

- Một số giả định học thuyết đưa ra như sau:

+ Thị trường tại hai quốc gia là thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Trang 29

+ Thế giới bao gồm nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Trước khi có

sự di chuyển vốn giữa hai quốc gia thì lợi nhuận cận biên của vốn (MPK) ở nước đi đầu tư thấp hơn lợi nhuận cận biên của vốn ở nước tiếp nhận đầu tư + Không có hạn chế về đầu tư, vốn được dịch chuyển hoàn toàn tự do + Thông tin thị trường hoàn hảo, người nhập vốn và xuất khẩu vốn đều có thông tin đầy đủ liên quan đến phương án đầu tư của mình

+ Các quốc gia đều cùng một loại sản phẩm

Nội dung của học thuyết Mac Dougall – Kem

Đồ thị 1.3, giả sử có hai quốc gia: Quốc gia I là nước đi đầu tư và Quốc gia II là nước tiếp nhận đầu tư O1Q là vốn của nước đi đầu tư còn O2Q là vốn của nước tiếp nhận đầu tư Tổng số vốn của hai nước là O1O2 Lợi nhuận cận biên của vốn được đo bằng trục tung Đường MN là đường lợi nhuận cận biên của vốn của nước đi đầu tư thể hiện nguyên lý xu hướng lợi nhuận cận biên của vốn giảm dần và đường này cũng được coi là đường cầu về vốn của nước

đi đầu tư Cũng tương tự nhu vậy, đường mn là chi phí cận biên của vốn ở

nước tiếp nhận đầu tư

Trước khi có sự di chuyển của vốn giữa các quốc gia thì Quốc gia I sản xuất được O1MTQ sản phẩm với số vốn là O1Q và Quốc gia II sản xuất được

O2mUQ sản phẩm với số vốn là O2Q Chi phí vốn của Quốc gia (= lợi nhuận cận biên của vốn) là QT nhỏ hơn chi phí vốn của Quốc gia II là QU Điều này dẫn đến vốn chảy từ Quốc gia I sang Quốc gia II tới điểm lợi nhuận cận biên của hai quốc gia ngang bằng nhau Lượng vốn dịch chuyển từ Quốc gia I sang Quốc gia II là SQ và lợi nhuận cận biên của vốn cân bằng tại điểm P và bằng: SP=O1E=O2e Kết quả của sự di chuyển vốn giữa hai quốc gia đã tạo nên sản

lượng của Quốc gia I là O1MPS và sản lưộng của Quốc gia II là O2mPS So

sánh với tổng sản lượng của hai quốc gia trước khi chưa có sự di chuyển vốn quốc tế (O1MTQ + O2mUQ) thì tổng sản lượng của thế giới đã tăng lên một

Trang 30

lượng là PUT (PUT= O1MPS + O2mPS – O1MTQ – O2mUQ) Điều này chứng

tỏ rằng việc di chuyển vốn quốc tế đã làm tăng tổng sản lượng của thế giới và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trên thế giới

Khi đi đầu tư, sản lượng của quốc gia đi đầu tư giảm SPTQ Việc giảm sản lượng của quốc gia đi đầu tư không có nghĩa là giảm thu nhập của quốc gia này Bởi vì, nước đi đầu tư có thu nhập bằng vốn đầu tư ở nước ngoài (SQ) nhân với giá của vốn là (SP) Do vậy, sản lượng của Quốc gia I thu về là SPWQ so với sản lượng mà Quốc gia I bị mất khi đầu tư ra nước ngoài là SPTQ, sản lượng của Quốc gia I đã tăng lên một lượng là PWT Điều này dẫn đến Quốc gia I mong muốn mở rộng đầu tư trực tiếp nước ngoài hơn là không tiến hành hoạt động đầu tư ở nước ngoài Bởi vì, thông qua đàu tư trực tiếp nước ngoài, Quốc gia I đã sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư SQ và tổng sản lượng quốc gia tăng thêm một lượng là PWT

Tương tự như vậy, quốc gia II đã tăng thêm thu nhập của mình bằng PWU Kết quả của quá trình đầu tư nước ngoài làm cho phần sản lượng thế giới tăng thêm PUT (PUT = QUPS – SPTQ) được chi cho cả hai quốc gia đi đầu tư và quốc gia tiếp nhận đầu tư

Trang 31

Đồ thị 1.3 Học thuyết lợi nhuận cận biên của vốn

* Học thuyết đánh thuế nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài

Học thuyết được xây dựng và phát triển trên cơ sở nội dung của học thuyết Macdougall - Kemp Nội dung của học thuyết cho rằng các nước tiếp nhận đầu tư có quyền đánh thuế với lợi nhuận của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài Mặt khác, nước đi đầu tư có quyền đánh thuế vào thu nhập sau khi đã trừ đi phần thuế bị đánh ở nước ngoài của các công ty đầu tư ra nước ngoài Do vậy, doanh nghiệp cần phải cân nhắc có nên đầu tư ra nước ngoài không hay chỉ nên đầu tư trong nước Nếu lợi nhuận sau thuế của đầu tư trong nước lớn hơn lợi nhuận đầu tư ở nước ngoài chuyển về thì doanh nghiệp sẽ chọn giải pháp đầu tư ở trong nước hơn là tiến hành đầu tư ở nước ngoài Và ngược lại [33, tr46]

Nội dung của học thuyết được minh họa qua ví dụ sau:

Trong đồ thị 1.4 với các giải thuyết giống như Đồ thị 1.3 của học thuyết MacDougall- Kemp Trong đó, SQ là vốn đầu tư được chuyển từ Quốc

Trang 32

gia I (nước đi đầu tư) sang quốc gia II (nước tiếp nhận đầu tư) theo lý thuyết lợi thế cận biên giảm dần Giả sử Quốc gia II đánh thuế đối với thu nhập của vốn đi đầu tư ra nước ngoài với thuế suất là tỷ lệ HQ/HF Khi đánh thuế làm

cho lợi nhuận cận biên của vốn giảm, đường mn dịch chuyển sang phải xuống phía dưới bằng tỷ lệ đánh thuế Đường mn dịch chuyển xuống phía dưới cắt

đường Mn tại điểm G Lượng vốn đầu tư từ Quốc gia I sang Quốc gia II sẽ giảm từ QS xuống FQ

Đối với Quốc gia II, tổng sản lượng do khu vực đầu tư nước ngoài tạo

ra là QUHF, trong đó phần sản lượng nhà đầu tư nước ngoài chuyển về nước

là QJGF Phần sản lượng chuyển về nước này thấp hơn so với phần sản lượng chuyển về nước khi chưa bị đánh thuế là QWVF Do vậy, sản lượng của Quốc

gia II tăng lên bằng diện tích a (JWVG) Tổng diện tích của JWVG và WIHV

là JIHG do Chính phủ của Quốc gia II thu về do đánh thuế Tuy nhiên, sau khi đánh thuế đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, sản lượng của Quốc gia II giảm xuống FHPS, trong đó FVPS là phần thu nhập được các nhà đầu

tư nước ngoài chuyển về và diện tích hình b (VHP) là phần thu nhập Quốc gia

II mất đi hoặc được hưởng nếu không đánh thuế So sánh diện tích hình a và diện tích hình b thì diện tích hình a lớn hơn, tức là phần sản lượng tăng lên

của Quốc gia II lớn hơn phần sản lượng Quốc gia II mất đi Quốc gia II có lợi trong trường hợp đánh thuế này

Nhưng xét trên tổng thể thì những lợi ích của Quốc gia II đạt được là không đáng kể so với những gì đã mất trước khi đánh thuế Đó là sản lượng của Quốc gia II giảm FHPS Do vậy, Quốc gia II cần quy định thuế suất thích hợp để tối đa hóa sản lượng sản xuất ở nước mình và xác định tỷ lệ nhập khẩu vốn vào nước mình một cách hợp lý

Trang 33

Đối với Quốc gia I, tương tự như Quốc gia II để có lợi đã đánh thuế vào thu nhập chuyển về nước của các khoản đầu tư nước ngoài, dẫn đến tình trạng hạn chế xuất khẩu vốn đầu tư ra nước ngoài

Như vậy, cả hai quốc gia cần phải xem xét lại chính sách thuế của mình,

để làm sao có một chính sách thuế hợp lý nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài

Đồ thị 1.4 Học thuyết lợi nhuận cận biên của vốn

* Học thuyết Kojima

Do Giáo sư Kojima – người Nhật đưa ra Nội dung của học thuyết cho

rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài đi kèm với dịch chuyển vốn, chuyển giao công nghệ và chuyển giao kỹ năng quản lý từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư Giáo sư Kojima phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài thành hai

loại: đầu tư hướng vào xuất khẩu và đầu tư không hướng vào xuất khẩu

Đầu tư hướng vào xuất khẩu giúp nền kinh tế dư cầu nhập khẩu và dư cung xuất khẩu, làm cho phúc lợi của cả nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu

tư tăng lên với điều kiện nước đi đầu tư phải đầu tư vào ngành công nghiệp có

Trang 34

lợi thế so sánh Điều này dẫn đến phát triển hoạt động thương mại không chỉ

ở hai quốc gia mà còn góp phần thay đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp ở cả hai nước Đầu tư không hướng vào xuất khẩu có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại giữa hai quốc gia, không khuyến khích và cải thiện cơ cấu ngành kinh tế của nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư [33,tr51]

Ngoài các học thuyết kinh tế nêu trên còn có các học thuyết về kinh tế khác như: học thuyết chiết trung của nhà kinh tế học Dunning; học thuyết toàn cầu hóa của Coase…

1.1.5 Các nhân tố chủ yếu tác động đến thu hút FDI nói chung và FDI

từ Hoa Kỳ nói riêng

1.1.5.1 Tình hình ổn định chính trị

Có thể nói, ổn định chính trị là nhân tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư Yếu tố này lại càng đặc biệt quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài Bởi vì, tình hình chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu đầu tư, các chính sách ưu tiên đầu tư và định hướng phát triển của nước nhận đầu tư Đồng thời, ổn định chính trị còn lại điều kiện tiên quyết để duy trì sự ổn định

về tình hình kinh tế - xã hội Đây là nhân tố quan trọng tác động đến rủi ro của các hoạt động đầu tư

An toàn vốn đầu tư là nguyên tắc hàng đầu của các nhà đầu tư và đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài Vì hoạt động trong môi trường xa

lạ, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên các nhà đầu tư nước ngoài rất lo sợ tài sản của họ bị nước chủ nhà tịch thu (quốc hữu hóa)

Tình hình chính trị bất ổn đất ổn định thường dẫn tới đường lối phát triển không nhất quán Có thể chính phủ đương nhiệm cam kết không quốc hữu hóa tài sản của người nước ngoài, nhưng sau khi đảo chính hoặc thay đổi, chính phủ mới chưa chắc đã đảm bảo những cam kết này hoặc lại đưa ra

Trang 35

những sửa đổi làm đe dọa đến an toàn sở hữu tài sản của các nhà đầu tư nước ngoài Ngược lại, tình hình chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết đảm bảo đường lối phát triển nhất quán của nước chủ nhà Nhờ đó, thực hiện được các cam kết về an toàn sở hữu và tài sản hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài

Mặt khác, việc cam kết thực hiện các khuyến khích đầu tư của nước chủ nhà luôn là vấn đề quan trọng được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, điều đó làm tăng sự chủ động cho các nhà đầu tư nước ngoài trong tính toán các chương trình đầu tư dài hạn của họ

Một vấn đề khác cũng được các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm, đó

là định hướng đầu tư của nước chủ nhà Vì các nhà đầu tư nước ngoài (chủ yếu là TNCs) thường có chiến lược kinh doanh dài hạn nên họ rất cận sự rõ ràng và ổn định trong định hướng đầu tư của nước chủ nhà Chẳng hạn, phần lớn TNCs không thể hào hứng quyết định đầu tư vào một nước mà ở đó luôn thay đổi định hướng ưu tiên đầu tư, trong đó đặc biệt là khuyến khích đầu tư vào các ngành không phải lợi thế cạnh tranh của họ Hơn nữa, sự thay đổi không rõ ràng và thiếu ổn định giữa định hướng đầu tư thay thế nhập khẩu và hướng vào xuất khẩu sẽ làm cho các nhà đầu tư nước ngoài lúng túng, không chủ động trong việc thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình

Tình hình chính trị có liên quan chặt chẽ với sự ổn định của kinh tế - xã hội Đây là yếu tố tác động trực tiếp và có tính toàn diện làm tăng hoặc giảm khả năng rủi ro trong đầu tư Các nhà đầu tư không thể quyết định chuyển vốn đầu tư vào thị trường có nền kinh tế khủng hoảng hoặc đang chứa đựng nhiều tiềm năng bùng phát khủng hoảng vì ở đó có độ mạo hiểm cao

Như vậy, sự ổn định tình hình chính trị ở nước chủ nhà không chỉ là điều kiện quan trọng đảm bảo an toàn vốn đầu tư mà còn có vai trò to lớn để đảm bảo sự ổn định nền kinh tế - xã hội, nhờ đó giảm được khả năng rủi ro đầu tư Đây là những mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 36

1.1.5.2 Chính sách, pháp luật

Quá trình đầu tư có liên quan đến rất nhiều các hoạt động của các tổ chức, cá nhân được tiến hành trong khoảng thời gian dài, ở nơi xa lạ nên các nhà đầu tư nước ngoài rất cần môi trường pháp lý vững chắc, có hiệu lực Môi trường này bao gồm một hệ thống đầy đủ các chính sách, quy định cần thiết, đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn chồng chéo với nhau và có hiệu lực trong thực hiện Các nhà đầu tư nước ngoài luôn tôn trọng các quy định về chính sách, luật pháp của nước nhận đầu tư

Các hoạt động đầu tư nước ngoài chịu tác động bởi nhiều chính sách của nước nhận đầu tư, trong đó có các chính sách tác động trực tiếp như: Quy định về lĩnh vực được đầu tư, mức sở hữu của nước ngoài… miễn giảm thuế đầu tư, quy định các tỷ lệ xuất khẩu, tư nhân hóa, cạnh tranh, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ… và các chính sách có ảnh hưởng gián tiếp như: Chính sách về tài chính tiền tê, thương mại, văn hóa - xã hội, an ninh, đối ngoại…Mức độ đầy

đủ và hợp lý của các chính sách này có ảnh hưởng mạnh đến dòng vốn đầu tư vào nước nhận đầu tư

Các quy định của nước nhận đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài

là những rào cản đối với dòng lưu chuyển FDI Các quy định thường là các thủ tục hành chính đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong việc đi lại, xin giấy phép đầu tư, giải quyết các khiếu kiện và các vấn đề khác trong cuộc sống của họ Việc ban hành quá nhiều các quy định đối với các nhà đầu tư nước ngoài thường dẫn đến tình trạng “cửa quyền, sách nhiễu” của các cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài Tình trạng này làm nản lòng các nhà đầu tư

và góp phần làm tăng rủi ro trong công cuộc đầu tư của họ Trái lại, nếu nước chủ nhà chỉ cần có những qui định cần thiết, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư thì sẽ góp phần tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, bình đẳng và

vì thế hấp dẫn được các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 37

Một vấn đề nữa thường gây nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài và đẩy

họ vào cảnh thua lỗ là các chính sách, quy định đối với đầu tư nước ngoài không thống nhất với nhau, dẫn đến các nhà đầu tư không biết phải theo chính sách hoặc quy định nào là đúng Hiện tượng này dễ đẩy họ lâm vào tình trạng

vi phạm pháp luật của nước chủ nhà Mặt khác, việc sửa đổi các chính sách luật pháp đối với đầu tư nước ngoài không nhất quán sẽ làm cho các nhà đầu

tư lúng túng trong thực hiện Vì thế họ không yên tâm làm ăn dài hạn ở nước nhận đầu tư

Tính hiệu lực trong thực hiện chính sách pháp luật của nước nhận đầu tư

là mối quan tâm lớn của các nhà đầu tư nước ngoài Do làm ăn ở nơi xa lạ, không có người thân thích, với lượng tài sản lớn, nên các nhà đầu tư nước ngoài phải dựa vào pháp luật của nước nhận đầu tư để bảo đảm quyền lợi cho

họ Vì thế nếu việc thực hiện pháp luật không nghiêm, kém hiệu lực thì quyền lợi của họ sẽ bị đe dọa Bởi vậy, các nhà đầu tư nước ngoài rất lo sợ đầu tư vào nơi có môi trường pháp lý nhiều rủi ro này

1.1.5.3 Đặc điểm phát triển văn hóa - xã hội

Đặc điểm văn hóa - xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động đầu tư nước ngoài Nó bao gồm các yếu tố chủ yếu về ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị đạo đức và tinh thần dân tộc, phong tục tập quán, thị hiếu thẩm mỹ và giáo dục Các yếu tố này có thể là những cản trở kìm hãm hoặc khuyến khích các hoạt động đầu tư nước ngoài

Một trong những khó khăn nhất cho các nhà đầu tư khi kinh doanh ở nước ngoài là sự bất đồng về ngôn ngữ Sự khác biệt về ngôn ngữ không chỉ phát sinh thêm chi phí (học ngoại ngữ, thuê phiên dịch…) mà còn có thể gây

ra những hiểu nhầm nhau trong kinh doanh và khó khăn trong sinh hoạt của các nhà đầu tư Bởi vậy, nếu ngôn ngữ của nước chủ nhà được nhiều nước sử

Trang 38

dụng (Anh, Pháp, Trung Quốc…) hoặc gần với ngôn ngữ này thì rất thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài

Tôn giáo là một thành tố quan trọng của nền văn hóa, nó phản ảnh tín ngưỡng của con người vào một đấng siêu nhiên Tín ngưỡng có tác động mạnh đến các quan niệm sống của con người về các giá trị cá nhân và xã hội, qua đó ảnh hưởng đến thái độ đối với các nhà kinh doanh, tập quán tiêu dùng

và thuần phong mỹ tục Mỗi tôn giáo có cái nhìn khác nhau về giá trị đạo đức

cá nhân và xã hội Đặc điểm khác nhau này đã tạo ra những ráo cản trong giao lưu giữa các nền văn hóa

Giá trị đạo đức và tinh thần dân tộc của nước chủ nhà cũng ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nước ngoài Nếu một xã hội không phân biệt đối xử, coi trọng lòng tin, thương yêu đùm bọc lẫn nhau thì sẽ giảm được tình trạng bạo loạn và tệ nạn xã hội Hơn nữa, tính tự trọng dân tộc cao nhưng không có thái

độ bài ngoại thì sẽ có thái độ thân thiện bạn bè với các nhà đầu tư nước ngoài

Phong tục tập quán của nước chủ nhà có ảnh hưởng lớn đến thu hút đầu

tư nước ngoài Các nhà đầu tư không muốn đầu tư vào một nơi mà có quá nhiều các tập tục khác lạ như ăn kiêng, nhiều lễ hội, tôn giáo và các cấm đoán trong giao tiếp với người nước ngoài Trái lại, nếu nước chủ nhà có nhiều phong tục tập quán gần với các nhà đầu tư thì không chỉ tạo thuận lợi cho họ trong công việc kinh doanh mà còn giúp họ dễ hòa nhập với cuộc sống của nước sở tại

Mỗi nền văn hóa có đặc trưng riêng về thị hiếu thẩm mỹ Nó có cách nhìn riêng về cái đẹp trong màu sắc, hình khối, âm nhạc…Các đặc điểm này ảnh hưởng đến thiết kế nhãn hiệu, quảng cáo và kiểu dáng của sản phẩm

Trình độ phát triển giáo dục - đào tạo đóng vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động đầu tư nước ngoài Trình độ giáo dục và cơ cấu đầu tư hợp

lý sẽ là cơ sở quan trọng để cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài đội ngũ

Trang 39

lao động có tay nghề cao, thích ứng với tác phong lao động có kỷ luật Nhờ

đó, giảm được chi phí đào tạo nhân lực và đáp ứng yêu cầu sản xuất của họ

1.1.5.4 Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung, kinh tế đối ngoại nói riêng Do vậy, kết cấu hạ tầng kinh tế

- xã hội càng hiện đại, đồng bộ thì càng thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, góp phần khắc phục đói nghèo lạc hậu Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, do vậy yêu cầu kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội càng đóng vai trò quan trọng và chất lượng ngày càng cao Trong đó, đặc biệt chú trọng kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, nó được coi là khâu đột phá dể thu hút nguồn vốn cả trong và ngoài nước nhằm phát triển nền kinh tế

- xã hội

1.2 ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA HOA KỲ VÀ QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM - HOA KỲ

1.2.1 Đầu tư ra nước ngoài của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một cường quốc lớn, để duy trì vị trí của mình Hoa Kỳ luôn

củng cố sức mạnh và tăng cường vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế toàn cầu, sắp đặt hệ thống thương mại, tài chính tiền tệ thế giới, định ra luật lệ mới tạo

ra cho những thách thức trong thế kỷ 21 Hoa Kỳ đã định ra chiến lược toàn cầu hóa kinh tế đối ngoại hướng tới thế kỷ 21 với mục đích chính là nhằm điều động và khai thác nguồn tài nguyên của toàn thế giới phục vụ cho lợi ích quốc gia Để làm được điều này Hoa Kỳ lấy sức mạnh quốc gia để thúc đẩy kinh tế đối ngoại và các tập đoàn kinh tế của Hoa Kỳ sẽ là những công cụ để

mở rộng tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở các nước đầu tư

Các cơ quan và dịch vụ hỗ trợ nhằm thúc đẩy các công ty trong nước đầu tư ra nước ngoài cũng được thành lập Các tổ chức này thành lập để đảm

Trang 40

bảo các nhà đầu tư Hoa Kỳ có thể mua bảo hiểm đặc biệt, giúp các công ty

xuyên quốc gia phát hiện các rủi ro chính trị nghiêm trọng ở nước nhận đầu tư,

đặc biệt là những nước đã nhận sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, nay lại quay lại

chiếm bất động sản do Hoa Kỳ kiểm soát mà không có bồi thường thiệt hại

Bên cạnh các chính sách thương mại quốc tế, Hoa Kỳ còn có các tổ chức hỗ

trợ như: Ngân hàng xuất nhập khẩu (Eximbank), cơ quan phát triển quan hệ

quốc tế (AID), Công ty đầu tư tư nhân nước ngoài (OPIC), tổ chức thương

mại và phát triển Hoa Kỳ (TDA) Các công ty xuyên quốc gia của Hoa Kỳ,

Nhật Bản, EU có những điểm tương đồng Họ đều quan tâm đến khả năng

tiếp cận thị trường của các nước nhận đầu tư và coi đó là nền tảng để xây

dựng chiến lược đầu tư của mình Trong khi đó các công ty xuyên quốc gia

Nhật Bản lại lấy nguồn lao động rẻ và các tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu

quan tâm khi đầu tư vì đó là yếu tố làm cho chi phí sản xuất thấp hơn Các

công ty của Hoa Kỳ lại quan tâm đến thị trường và khả năng tiêu thụ của thị

trường đó, vì thế chiến lược của đầu tư của các công ty Hoa Kỳ là sản xuất và

bán hàng hóa ngay tại nước nhận đầu tư và xuất khẩu ra ngoài Đối với các

chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở nước ngoài, 67% giá trị

hàng hóa bán ra được thực hiện trện thị trường nước sở tại, 23% chuyển sang

thị trường thứ 3 và chỉ có 10% chuyển về Hoa Kỳ

Hoa Kỳ tham gia thành lập các khối kinh tế như APEC, NAFTA…

Hoa Kỳ còn ký các hiệp định song phương với các đối tác như: Hiệp định

thương mại, hiệp định bảo hộ đầu tư… tham gia ký kết các hiệp định đa

phương như GATT, WTO, hiệp định đảm bảo đầu tư đa phương (MIGA) Tóm lại Hoa Kỳ đã thực hiện nhiều chính sách, biện pháp để tạo môi

trường kinh tế thuận lợi, tránh các rủi ro tài chính cho các công ty của Hoa

Kỳ ở nước ngoài Hoa Kỳ là một trong những nước tiếp nhận đầu tư và tiến

hành đầu tư lớn nhất trên thế giới Trong những năm vừa qua đặc biệt từ

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân (2006), “Phân tích chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài trên quan điểm phát triển bền vững”. Tạp chí Quản lý kinh tế, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài trên quan điểm phát triển bền vững
Tác giả: Đinh Văn Ân
Năm: 2006
2. Lê Xuân Bá (2006) “Tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”. NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
3. Báo điện tử - diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam sẽ tăng mạnh (cập nhật ngày 25/6/2007) Website: http://dddn.com.vn 4. Bộ kế hoạch và đầu tư, website: www.mpi.gov.vn/fdi/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam sẽ tăng mạnh
7. Nguyễn Sinh Cúc (2005) “Triển vọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Hoa Kỳ.” Tạp chí Con số và sự kiện, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Hoa Kỳ
8. Nông Việt Cường (2005) “Kinh nghiệm thành công trong quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc.” Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thành công trong quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc
9. Hoàng Thị Chỉnh (2001), “Đầu tư trực tiếp của Mỹ ở Việt Nam: Thực trạng và triển vọng”, Tạp chí phát triển kinh tế, số 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp của Mỹ ở Việt Nam: Thực trạng và triển vọng
Tác giả: Hoàng Thị Chỉnh
Năm: 2001
11. Nguyễn Khánh Duy (2006), “Triển vọng FDI vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 206-2010”. Tạp chí phát triển kinh tế, số 188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng FDI vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 206-2010
Tác giả: Nguyễn Khánh Duy
Năm: 2006
12. Tấn Đức (2003) “Chìa khóa FDI”. Thời báo kinh tế Sài Gòn, số 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chìa khóa FDI
13. Đặng Thu Hương (2006) “Một số điểm tương đồng và khác biệt của Việt Nam và Trung Quốc về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điểm tương đồng và khác biệt của Việt Nam và Trung Quốc về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
14. Hoàng Thị Phương Lan (2005)“Quan hệ đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ sau 10 năm bình thường hóa quan hệ”. Tạp chí tài chính, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ sau 10 năm bình thường hóa quan hệ
15. Phương Lan (2006) “Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ tác động đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” Tạp chí kinh tế dự báo,số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ tác động đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
16. Nguyễn Trường Lạng (2006) “Lựa chọn hình thức FDI: kinh nghiệm các nước và bài học đối với Việt Nam”. Tạp chí Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương, số 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn hình thức FDI: kinh nghiệm các nước và bài học đối với Việt Nam
21. Phùng Xuân Nhạ (2000) “Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngòai ở Việt Nam, Chính sách và thực tiễn” NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngòai ở Việt Nam, Chính sách và thực tiễn
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội
22. Bùi Huy Nhượng (2005) “Kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái Lan và Singapore về hỗ trợ triển khai thực hiện dự án FDI” Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái Lan và Singapore về hỗ trợ triển khai thực hiện dự án FDI
23. Hà Phương (2005) “Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ tại Việt Nam”. Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ tại Việt Nam
24. Nguyễn Hồng Sơn (2006) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Triển vọng thế giới và thực tiễn Việt Nam”. Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Triển vọng thế giới và thực tiễn Việt Nam
25. Vũ Trường Sơn (1997) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”. NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Thống Kê
26. Võ Phước Tấn, Đỗ Hồng Hiệp (2001) “Một số vấn đề nhằm thu hút FDI của Mỹ vào Việt Nam”. Tạp chí phát triển kinh tế, số 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nhằm thu hút FDI của Mỹ vào Việt Nam
27. Ngô Công Thành (2001) “Hiệp định Thương mại Việt Mỹ với việc thu hút FDI vào Việt Nam”. Tạp chí Thương Mại, số 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định Thương mại Việt Mỹ với việc thu hút FDI vào Việt Nam
35. http://uschina.org/public/documents/2008/02/2008-foreign-investment.pdf 36. UNCTAD (2008), World Investment Report 2008 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.1 Vòng đời sản phẩm– Veron - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
th ị 1.1 Vòng đời sản phẩm– Veron (Trang 27)
Đồ thị 1.2 Bắt kịp vòng đời sản phẩm - AKAMATSU - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
th ị 1.2 Bắt kịp vòng đời sản phẩm - AKAMATSU (Trang 28)
Đồ thị 1.3 Học thuyết lợi nhuận cận biên của vốn - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
th ị 1.3 Học thuyết lợi nhuận cận biên của vốn (Trang 31)
Đồ thị 1.4  Học thuyết lợi nhuận cận biên của vốn - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
th ị 1.4 Học thuyết lợi nhuận cận biên của vốn (Trang 33)
Đồ thị 2.1 FDI của Hoa Kỳ đầu tƣ theo năm - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
th ị 2.1 FDI của Hoa Kỳ đầu tƣ theo năm (Trang 56)
Bảng 2.1: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện từ Hoa Kỳ  trước và sau khi có Hiệp định thương mại - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
Bảng 2.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện từ Hoa Kỳ trước và sau khi có Hiệp định thương mại (Trang 58)
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước từ Hoa Kỳ theo ngành - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước từ Hoa Kỳ theo ngành (Trang 61)
Đồ thị 2.2:  Đầu tƣ trực tiếp tƣ̀ Hoa Kỳ theo HĐHT - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
th ị 2.2: Đầu tƣ trực tiếp tƣ̀ Hoa Kỳ theo HĐHT (Trang 66)
Bảng 2.3: Đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ theo đi ̣a phương - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
Bảng 2.3 Đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ theo đi ̣a phương (Trang 69)
Bảng 2.4 FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam qua nước thứ 3 theo đối tác - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
Bảng 2.4 FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam qua nước thứ 3 theo đối tác (Trang 72)
Bảng 2.5 Các dự án đầu tư lớn qua nước thứ 3 của Hoa Kỳ  từ năm 1991 đến  tháng 6 năm 2008 - Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam
Bảng 2.5 Các dự án đầu tư lớn qua nước thứ 3 của Hoa Kỳ từ năm 1991 đến tháng 6 năm 2008 (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w