Bước vào thời kỳ của hội nhập kinh tế, Việt Nam với xuất phát điểm thấp, gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển. Những nước đang phát triển như Việt Nam muốn thúc đẩy kinh tế tiến bước, không chỉ dựa vào nội lực, mà còn rất cần nguồn lực bên ngoài, trong đó quan trọng hơn cả là dòng FDI đang đổ về từ các quốc gia trên thế giới. Với những lợi thế về nền chính trị ổn định, tăng trưởng kinh tế khá cao, nguồn lao động dồi dào giá rẻ…, Việt Nam đang là một trong những nền kinh tế đang phát triển được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhất. Trong bối cảnh thế giới đã đi lên khỏi đáy cuộc khủng hoảng kinh tế, dòng FDI vốn sụt giảm và chững lại, thì nay lại đang từng bước lưu thông trở lại. Từ nơi bắt nguồn và bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ, vốn FDI đã tiếp tục được đổ về Việt Nam, và Hoa Kỳ lại tiếp tục vai trò đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam. Để tận dụng cơ hội phát triển, Hà Nội với những lợi thế của một thủ đô và với vai trò là đầu tàu kinh tế của cả nước cũng đang nỗ lực thực hiện các biện pháp để thu hút FDI của đối tác chiến lược này.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thời kỳ của hội nhập kinh tế, Việt Nam với xuất phát điểm thấp, gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển Những nước đang phát triển như Việt Nam muốn thúc đẩy kinh tế tiến bước, không chỉ dựa vào nội lực,
mà còn rất cần nguồn lực bên ngoài, trong đó quan trọng hơn cả là dòng FDI đang đổ về từ các quốc gia trên thế giới Với những lợi thế về nền chính trị ổn định, tăng trưởng kinh tế khá cao, nguồn lao động dồi dào giá rẻ…, Việt Nam đang là một trong những nền kinh tế đang phát triển được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhất
Trong bối cảnh thế giới đã đi lên khỏi đáy cuộc khủng hoảng kinh tế, dòng FDI vốn sụt giảm và chững lại, thì nay lại đang từng bước lưu thông trở lại
Từ nơi bắt nguồn và bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế
- Hoa Kỳ, vốn FDI đã tiếp tục được đổ về Việt Nam, và Hoa Kỳ lại tiếp tục vai trò đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam Để tận dụng cơ hội phát triển, Hà Nội - với những lợi thế của một thủ đô và với vai trò là đầu tàu kinh
tế của cả nước - cũng đang nỗ lực thực hiện các biện pháp để thu hút FDI của đối tác chiến lược này
Đứng trước tình hình trên, với mong muốn tăng cường thu hút luồng vốn
FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội, em đã chọn đề tài: “Tăng cường thu hút vốn
đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Hà Nội” nhằm mục đích trên cơ sở phân
tích lý luận và thực trạng vốn FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội trong thời gian qua, từ đó đề ra một số giải pháp đề thu hút nhiều hơn nữa FDI của Hoa Kỳ vào phát triển kinh tế- xã hội của thủ đô, xứng với tiềm năng và mối quan hệ vốn có của hai bên
Trang 22 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thu hút FDI của Hoa
Kỳ vào Hà Nội; chỉ ra thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân; từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thu hút FDI
của Hoa Kỳ trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội trong thời gian qua
* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội
từ trước đến nay, cụ thể là đến năm 2010 Đề tài chỉ nghiên cứu về các dự án
FDI của Hoa Kỳ nằm ngoài các KCN, KCX và KCNC ở Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử
- Kết hợp lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng với thực tiễn của Hà Nội
để lý giải những vấn đề mà luận văn đặt ra
- Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, tổng hợp và phân tích, đối
chiếu so sánh để khái quát những vấn đề thực tiễn đặt ra và đề xuất một số
những giải pháp xử lý
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, các phụ lục thì nội dung chính của Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết phải tăng cường thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội
Chương 2: Thực trạng FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội
Trang 3CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG THU
HÚT FDI CỦA HOA KỲ VÀO HÀ NỘI
1.1 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư trong đó nhà đầu tư
nước ngoài bỏ toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư vào các dự án nhằm
giành quyền điều hành và trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn
Bản chất của FDI là sự di chuyển của khối lượng nguồn vốn kinh doanh dài hạn (hình thức xuất khẩu tư bản) giữa các quốc gia nhằm thu lợi nhuận cao hơn
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm sau:
Một là, đây là hình thức đầu tư được thực hiện chủ yếu bằng vốn của tư
nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh
và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh đó Đây là hình thức mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần trực tiếp cho nền kinh tế
Hai là, chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư nếu là
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỷ lệ vốn góp của mình
Ba là, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận
được kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được
Bốn là, nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của
chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định và vốn trong quá trình hoạt động,
mà nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng
dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được
Trang 41.1.2 Các hình thức của FDI
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là một thực thể kinh doanh quốc tế, có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư nước ngoài góp 100% vốn pháp định, tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp
- Doanh nghiệp liên doanh: Là một tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau trên cơ sở cùng góp vốn cùng kinh doanh, nhằm thực hiện các cam kết trong hợp đồng liên doanh và điều lệ doanh
nghiệp liên doanh, phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước nhận đầu tư
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): Là một loại hình thức đầu tư được
ký giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước chủ nhà để tiến hành họat động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm
và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới
Các loại hợp đồng hợp tác kinh doanh gồm: Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), xây dựng - chuyển giao (BT)
Ngoài ra, tùy từng quốc gia còn có nhiều hình thức FDI khác như: hình thức công ty quản lý vốn, mua lại, sáp nhập…
1.1.3 Vai trò của FDI với sự phát triển kinh tế- xã hội
* Đối với quốc gia đầu tư
Bằng việc bỏ vốn tiến hành sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư, các chủ đầu tư nước ngoài đã tận dụng lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư, giảm chi phí sản xuất, tìm kiếm nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định
Khi tiến hành sản xuất kinh doanh thông qua các dự án mới tại quốc gia khác, các chủ đầu tư có điều kiện đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
FDI bằng việc đưa lại tỷ suất lợi nhuận cao, vươn mình ra nhiều thị trường
và được khuyến khích ở nhiều quốc gia, đã giúp các chủ đầu tư bành trướng
Trang 5sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tiêu thụ và trách được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước
* Đối với quốc gia nhận đầu tư (là nước có nền kinh tế đang phát triển):
Các quốc gia đang phát triển thường có xuất phát điểm thấp, thiếu các nguồn lực để phát triển, đặc biệt là vốn Mặt khác, huy động vốn trong nước lại rất khó khăn vì thu nhập của dân cư còn thấp Vì vậy, FDI với ưu điểm là không để lại gánh nặng nợ cho nền kinh tế, sẽ là nguồn vốn quan trọng để các quốc gia đang phát triển thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới
Không những thế, FDI thường chảy vào những nơi có tỷ suất lợi nhuận cao như một số ngành công nghiệp, dịch vụ, công nghệ cao, … từ đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế vốn nông nghiệp là chủ đạo theo hướng công nghiệp, hiện đại
Bên cạnh đó, với yêu cầu cao hơn về lao động, FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, trình độ cao, đồng thời tạo thêm việc làm cho người lao động
Ngân sách của các nước đang phát triển vốn nhỏ bé lại thường hay bị thâm hụt, FDI với họat động kinh doanh thường có hiệu quả cao, sẽ tạo nguồn thu khá lớn (thuế, phí, lệ phí…) cho ngân sách vốn eo hẹp của nước chủ nhà, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội cũng những quốc gia này
Các quốc gia đầu tư với mạng lưới phân phối lớn trên thị trường thế giới, khi đầu tư vào một quốc gia, sẽ giúp doanh nghiệp quốc gia đó mở cửa và bước đầu thâm nhập thị trường hàng hóa thế giới Điều này rất có ích cho những doanh nghiệp ở các quốc gia đang phát triển, thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có năng lực cạnh tranh chưa cao
Đặc điểm của FDI là gắn liền với khoa học - công nghệ Các quốc gia đang phát triển với đa phần công nghệ còn chưa hiện đại, khi tiếp nhận FDI sẽ có
cơ hội được chuyển giao khoa học - công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý
Trang 6tiên tiến và tác phong làm việc công nghiệp… để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Khi FDI chảy vào một quốc gia, cũng đồng nghĩa là các doanh nghiệp nội địa phải sẵn sang để cạnh tranh Trong khi đó, ở những nước đang phát triển, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn thấp, nếu không tự đổi mới để sản xuất kinh doanh hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh, thì doanh nghiệp đó
sẽ bị đào thải khỏi thị trường Có thể nói, FDI là động lực để tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế các nước đang phát triển
Tuy nhiên, bên cạnh vai trò tích cực, FDI cũng có một vài hạn chế sau: Thứ nhất, luồng vốn FDI chỉ đi vào những nước có môi trường kinh tế - chính trị
ổn định, môi trường đầu tư hấp dẫn Thứ hai, mục tiêu của FDI là lợi nhuận,
vì vậy nếu nước đầu tư không có quy hoạch cụ thể, kế hoạch chi tiết và những công cụ quản lý cần thiết, FDI có thể đi chệch hướng, làm mất cân đối cơ cấu đầu tư, cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường, trở thành bãi rác công
nghệ Thứ ba, doanh nghiệp ở các quốc gia đang phát triển đa phần là doanh
nghiệp nhỏ, năng lực cạnh tranh còn chưa cao nên dễ bị các doanh nghiệp FDI chèn ép, thôn tính…
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI
Dòng chảy của vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp quốc tế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó, không chỉ có những yếu tố ở bản thân quốc gia nhận đầu tư mà còn do yếu tố nội tại của quốc gia đầu tư và yếu tố khách quan của nền kinh tế thế giới
1.1.4.1 Tình hình kinh tế thế giới
Sức khỏe của nền kinh tế thế giới có ảnh hưởng rất lớn đối với FDI chảy ra
và chảy vào một quốc gia Nếu kinh tế thế giới tăng trưởng tốt, ổn định, có nghĩa là hoạt động đầu tư diễn ra sôi động, sản phẩm và dịch vụ tạo ra nhiều, sức mua của thị trường tăng, các chỉ số về giá cả và tài chính lành mạnh khuyến khích các nhà đầu tư trong các hoạt động đầu tư và kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, làm FDI dồi dào và mạnh mẽ hơn Khi kinh tế thế giới khó
Trang 7khăn hay bất ổn, dòng vốn này khan hiếm, các nhà đầu tư không những cắt giảm vốn đầu tư mà còn thận trọng hơn trong việc đầu tư, hoặc đầu tư vào lĩnh vực khác an toàn hơn, đầu tư trong nước, hoặc cất giữ tiền dưới dạng ngoại tệ mạnh hay vàng
Trình độ phát triển của kinh tế thế giới cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới luồng FDI Nền kinh tế phát triển đến trình độ cao, thông tin được tiếp cận một cách dễ dàng và nhanh chóng, các nhà đầu tư càng muốn vươn mình ra thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư ở những nước khác, FDI cũng vì thế mà không ngừng dịch chuyển giữa các quốc gia
Bên cạnh đó, mức độ hội nhập kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng trong thu hút FDI Khi các nền kinh tế mở cửa, quan hệ giữa các nền kinh tế sẽ ngày càng chặt chẽ và ràng buộc lẫn nhau, tất yếu dẫn đến sự ra vào dễ dàng hơn của luồng vốn đầu tư giữa các quốc gia Nhờ đó mà dòng FDI lưu thông mạnh
mẽ hơn
1.1.4.2 Tình hình kinh tế của quốc gia đầu tư
Tình hình kinh tế của quốc gia đầu tư là một yếu tố quyết định đến lượng vốn FDI và tốc độ chảy của dòng vốn này Nếu nền kinh tế quốc gia đó tăng trưởng tốt, vốn dồi dào, sẽ kích thích các nhà đầu tư tăng đầu tư và đầu tư mới, kể cả ở trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, nếu nền kinh tế quốc gia tăng trưởng kém, đầu tư ra nước ngoài của quốc gia đó chưa chắc đã chậm lại,
vì có thể nhà đầu tư lo rằng đầu tư trong nước sẽ gặp nhiều rủi ro hơn và chuyển sang đầu tư ở quốc gia khác an toàn và có lợi hơn
Cạnh tranh giữa các chủ thể trong nền kinh tế quốc gia đó cũng là yếu tố tác động đến việc đầu tư ra nước ngoài Nếu cạnh tranh quá gay gắt, nhà đầu
tư buộc phải tìm thị trường khác dễ hoạt động hơn, cạnh tranh ít hơn và lợi nhuận nhiều hơn
Ngoài ra còn rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một quốc gia như: tình hình chính trị - xã hội của quốc gia đầu tư,
Trang 8thị trường trong nước, trình độ phát triển của nền kinh tế đó, luật pháp về đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài, tập quán và văn hóa kinh doanh…
1.1.4.3 Tình hình quốc gia nhận đầu tư
a Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý là yếu tố ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng Các quy định của luật pháp và các chính sách trực tiếp liên quan bao gồm: các quy định về việc thành lập dự
án FDI và hoạt động của dự án; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện đầu tư; cơ chế hoạt động của thị trường trong đó có sự tham gia của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nươc ngoài… Sự minh bạch, rõ ràng và đồng bộ của các quy định trên tạo ra bước đi thuận lợi đầu tiên khi nhà đầu tư nước ngoài chuẩn bị đầu tư vào nước chủ nhà
Bên cạnh đó, một số quy định trong các ngành, lĩnh vực khác cũng có ảnh hưởng đến FDI như: chính sách thương mại ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư do FDI gắn liền với họat động sản xuất kinh doanh; chính sách tỷ giá ảnh hưởng đến giá trị tài sản ở nước nhận đầu tư, đến lợi nhuận thu được của nhà đầu tư…
Một yếu tố không kém phần quan trọng tạo ra môi trường pháp lý hấp dẫn
là những ưu đãi đầu tư Việc quy định về ngành nghề, địa bàn được ưu đãi, các ưu đãi cụ thể… làm việc đầu tư trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn
Nói chung, nhà đầu tư nước ngoài thường thích đầu tư vào những nước có hành lang pháp lý, cơ chế chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và có thể dự đoán được… giúp đảm bảo an toàn cho vốn đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư
b Môi trường chính trị
Môi trường chính trị ổn định, trong sạch cũng là một yếu tố thu hút FDI Một quốc gia có nền chính trị ổn định sẽ đảm bảo an toàn cho vốn đầu tư và hoạt động đầu tư khỏi những rủi ro: quốc hữu hóa, chiến tranh, biểu tình Nhà đầu tư sẽ không đầu tư vào quốc gia có nền chính trị bất ổn - nơi mà tài
Trang 9sản và họat động sản xuất kinh doanh của họ có thể mất mát và bị tổn hại bất
cứ lúc nào
Bên cạnh sự ổn định, nền chính trị trong sạch hay không, tỷ lệ tham nhũng cao hay thấp cũng là yếu tố ảnh hưởng đến FDI vào một quốc gia Tham
nhũng ở đây được hiểu là việc đưa hối lộ cho quan chức để có được một số
“ân huệ” (trong cấp giấy phép đầu tư, thuế và phí…) Tóm lại, đây được coi như một khoản “ chi phí” Bên cạnh việc làm giảm lợi nhuận dự kiến của nhà đầu tư, nó còn gián tiếp làm mất cơ hội đầu tư, mất thời gian, thậm chí còn làm nhà đầu tư không thể tiến hành hoạt động đầu tư ở nước sở tại Nhà đầu
tư sẽ không đầu tư, hoặc dè chừng và do dự nếu đầu tư vào một đất nước hay một địa phương có tỷ lệ tham nhũng cao
c Môi trường kinh tế
Có thể nói, đây là yếu tố quyết định đến việc thu hút FDI của một quốc gia Nhà đầu tư nước ngoài sẽ muốn đầu tư vào quốc gia có môi trường kinh tế vĩ
mô ổn định, thể hiện ở một vài khía cạnh như: tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, lạm phát ổn định ở mức vừa phải, lãi suất hợp lý… Bên cạnh đó, tùy vào mục tiêu đầu tư mà môi trường kinh tế ảnh hưởng đến thu hút FDI
Nếu mục tiêu của nhà đầu tư là tìm kiếm thị trường thì yếu tố quyết định đến FDI là: dung lượng thị trường, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng của thị trường, khả năng tiếp cận với thị trường khu vực và thị trường thế giới, cơ cấu thị trường… của nước nhận đầu tư
Nếu mục tiêu đầu tư là tìm kiếm yếu tố đầu vào và hạ thấp chi phí, thì các yếu tố tác động đến FDI là: tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ hay nhân công có tay nghề, trình độ khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng ( đường đi, bến cảng, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới viễn thông…)… của quốc gia nhận đầu tư
d Các yếu tố khác
Bên cạnh các yếu tố trên còn có rất nhiều yếu tố khác của quốc gia nhận đầu tư có tác động đến dòng FDI vào quốc gia đó như: Điều kiện tự nhiên -
Trang 10khí hậu, đặc điểm văn hóa - xã hội, vấn đề cạnh tranh giữa các doanh nghiệp…
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI VÀO HÀ NỘI
1.2.1 Hà Nội và vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước
Hà Nội - Thủ đô nước Việt Nam là một thành phố được hình thành và phát triển 1000 năm, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Sau khi được mở rộng vào tháng 8/2008, Hà Nội hiện nay rộng 3300 km2 với trên 6,5 triệu dân Với
lợi thế về vị trí địa lý, diện tích và dân cư, Hà Nội đã và đang phát huy truyền
thống Thăng Long ngàn năm văn hiến, phát triển ngày càng hiện đại, văn minh Không chỉ là trung tâm chính trị, văn hoá, khoa học, Hà Nội đang là một trong hai đầu tàu kinh tế của cả nước Nhìn lại chặng đường đã qua, có thể thấy Thủ đô Hà Nội đã đạt được những thành tựu rất to lớn và đáng tự hào, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của cả nước
Trong 5 năm đầu đổi mới (1986 - 1990), tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 7,1%, giai đoạn 1991 - 1995 là: 12,52%, giai đoạn 1996 - 2000 là 10,6%, giai đoạn 2000- 2005 là 11,3%, giai đoạn 2005 - 2010, giai đoạn 2006 -2010 là 10,6% Riêng trong năm 2007, GDP tăng 12,1%, đạt mức tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua Năm 2008 và 2009, trong bối cảnh khó khăn chung, GDP của Hà Nội tăng 10,58% và 6,67% Năm 2010, dù chưa thoát hẳn ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, Hà Nội vẫn đạt được tỷ lệ tăng trưởng GDP là 11% GDP bình quân đầu người của Hà Nội cũng không ngừng tăng từ 470 (năm 1991) USD lên 915 USD (năm 1999), 1500 USD (năm 2008) và 1900 USD (năm 2010)
Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, năm 2010 có 225 dự án FDI được cấp phép và 19 lượt dự án tăng vốn, tổng vốn đăng ký và tăng thêm là 311,3 tỷ USD Thành phố cũng là địa điểm của khoảng hơn văn phòng đại diện và chi nhánh nước ngoài
Thành phố Hà Nội có 17 KCN và KCX, 2 KCNC với tổng diện tích trên 4.000 ha đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập Trong đó có 8
Trang 11KCN với tổng diện tích gần 1.200 ha đã cơ bản hoàn thành hạ tầng và lấp đầy diện tích đất cho thuê Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đạt được đến năm 2009 của 8 KCN này bằng khoảng 1/10 của tổng các KCN cả nước Riêng các KCN&KCX đã thu hút được 524 dự án đầu tư với các thương hiệu lớn như Canon, Panasonic, Yamaha, Toto, Meiko,…trong đó, 252 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký 3,55 tỷ USD và 272 dự án đầu tư trong nước vốn đăng
ký 11.000 tỷ đồng
Hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ phát triển mạnh Thị trường Hà Nội ngày càng sôi động, hàng hóa phong phú, đa đạng, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Là nơi có ảnh hưởng tiếp cận thị trường đông dân các tỉnh miền Bắc, gần với Nam Trung Quốc và Lào, Hà Nội là địa điểm rất thuận lợi
để kinh doanh phân phối
Xây dựng và quản lý đô thị có nhiều tiến bộ, đã cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng đầu tư xây dựng nhiều công trình mới làm cho diện mạo thủ đô ngày càng khang trang Các cửa ngõ ra vào thành phố được mở rộng; nhiều tuyến đường mới như: Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh, Đại Cồ Việt, Trần Khát Chân đã mang dáng dấp của tuyến phố hiện đại; nhiều con đường mới: Bắc Thăng Long - Nội Bài, Láng - Hoà Lạc, Pháp Vân, Cầu Giẽ…được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cao tốc
Một số khu đô thị mới đồng bộ, hiện đại như Linh Đàm, Định Công, Trung Hoà - Nhân Chính, Trung Yên, Mỹ Đình…đã hình thành Những vấn đề bức xúc về nước sạch, điện chiếu sang, úng ngập, vệ sinh môi trường, từng bước được giải quyết
Hà Nội và các tỉnh lân cận có lực lượng lớn các lao động trẻ, được đào tạo,
dễ dàng tuyển dụng Với hàng trăm viện nghiên cứu khoa học đầu ngành, nhiều trường Đại học, Cao đẳng, có khả năng bổ sung cho thị trường lao động trên 70000 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm Ngoài ra, sẵn sang đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, có tay nghề, làm việc chăm chỉ sẽ là cơ hội giúp các
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 12Các cơ quan chính phủ Việt Nam, phái đoàn ngoại giao và các tổ chức quốc tế đều đặt trụ sở tại Hà Nội đã tạo cho các nhà đầu tư một mạng lưới liên lạc tốt nhất để chia sẻ thông tin và trao đổi kinh nghiệm
Tuy còn nhiều công việc phải làm, còn những tồn tại và không ít khó khăn phải đối mặt nhưng Hà Nội đang vững vàng tiến lên phía trước, là địa phương
đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa, xứng đáng là đầu tầu kinh tế của cả nước
1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường thu hút FDI vào Hà Nội
a Do FDI có nhiều ưu điểm
Trong số các kênh bổ sung vốn từ bên ngoài thì nguồn FDI là kênh đầu tư tương đối an toàn, thuận lợi là vì nhà đầu tư nước ngoài tự chịu trách nhiệm
về đầu tư vốn và hiệu quả đầu tư Hơn nữa FDI không tạo ra sức ép ràng buộc
về điều kiện kinh tế, chính trị như nguồn vốn vay ODA FDI cũng tránh cho Thành phố khỏi những khó khăn ban đầu nếu huy động vốn từ thị trường chứng khoán mà Việt Nam còn non nớt trong quản lý, vận hành loại định chế tài chính bậc cao và nhạy cảm này
Hơn nữa, năng lực sản xuất, nguồn vốn tài chính và công nghệ, kinh nghiệm quản lý và đặc biệt là thị trường tiêu thụ, công ăn việc làm, nguồn thu ngoại tệ do FDI tạo ra đã, đang và sẽ còn đóng vai trò như một động lực mạnh
để tăng trưởng kinh tế cao của Hà Nội
b Sự tăng lên nhanh chóng nhu cầu về vốn để phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Với đà phát triển nhanh chóng của thủ đô, vốn là một yếu tố cực kỳ quan trọng Những năm tới, đầu tư cho phát triển từ ngân sách sẽ khó tăng mạnh, trong khi nhu cầu vốn đầu tư nhằm thực hiện những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội rất lớn Do vậy, cần tăng cường thu hút nguồn vốn từ bên ngoài, đặc biệt là FDI
Việc mở rộng địa giới hành chính thủ đô, đã mang đến cho Hà Nội những lợi thế lớn cả về điều kiện tự nhiên lẫn về nhân lực và vật lực Tuy nhiên
Trang 13những vùng miền mới được sát nhập từ các tỉnh lân cận về Hà Nội và một số địa bàn trên thành phố Hà Nội cũ vẫn chưa có được sự đầu tư đúng mức để khai thác tốt tiềm năng, lợi thế sẵn có Do vậy, Hà Nội cần phải có sự đầu tư lại một cách thích đáng hơn cho mỗi vùng miền, mỗi ngành nghề để cân bằng
sự phát triển giữa các vùng trong thủ đô, đưa thủ đô lên tầm cao mới xứng đáng với vai trò đầu tàu kinh tế của mình Vì thế việc tăng cường thu hút FDI lúc này là cấp thiết cho phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội trong những năm tới
c FDI đã và đang phát huy vai trò to lớn của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
Cùng với khu vực kinh tế khác, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội của thủ đô Bên cạnh việc giải quyết vấn đề thiếu vốn của thành phố, FDI còn giúp kinh tế Hà Nội chuyển dịch theo hướng hiện đại, góp phần thúc đẩy xuất khẩu của thủ đô, giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động, đóng góp phần không nhỏ vào ngân sách nhà nước và cải thiện tình hình công nghệ của thành phố
Giai đoạn 1996 - 2000, FDI chiếm tỷ trọng 41% tổng vốn đầu tư phát triển Thủ đô, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 46% tổng kim ngạch xuất khẩu và đóng góp trên 15% nguồn thu ngân sách cho Hà Nội, tạo ra hơn 20.000 việc làm Giai đoạn 2001 - 2005, FDI chiếm 42% trong tổng số 12,3 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư phát triển Thủ đô Giai đoạn 2006 - 2010 FDI chiếm 15,71% trong tổng số 240 - 250 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư phát triển Thủ đô
d Tăng cường thu hút FDI là một hướng tăng cường hội nhập kinh tế quốc
tế cho Hà Nội
Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO thì việc thu hút và sử dụng nguồn lực từ bên ngoài thông qua hội nhập kinh tế quốc tế nhằm bổ sung và phát triển nguồn lực trong nước là xu thế phát triển tất yếu Trong điều kiện
Trang 14hiện nay, FDI chính là tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của một nền kinh tế; là con đường hiệu quả để tiếp cận với các thành quả tiến bộ chung của thế giới trong mọi lĩnh vực
Việt Nam đang thực hiện việc mở cửa, tuân thủ các cam kết quốc tế đã ký trong các hiệp định với các nước và các tổ chức khu vực và trên thế giới (ASEAN, APEC, WTO ) Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, cho nên không thể không mở rộng cửa thu hút FDI, cũng như thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng
e FDI vào Hà Nội còn hạn chế, chưa tương xứng với khả năng và tiềm năng thu hút của thủ đô
Sau khi được mở rộng, FDI vào Hà Nội tăng đáng kể do còn gồm cả FDI vào Hà Tây và những vùng được sáp nhập, tuy nhiên, với diện tích đất đai rộng lớn và nhiều lợi thế, thì lượng FDI vào Hà Nội hiện nay dường như là chưa tương xứng với tiềm năng và khả năng thu hút FDI của thủ đô Những năm gần đây, Hà Nội vẫn nằm ngoài top 10 các địa phương thu hút FDI nhiều nhất Chỉ số năng lực cạnh tranh của Hà Nội còn chưa cao và liên tục bị giảm Năm 2010, chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của Hà Nội xếp thứ 43, tụt 10 bậc so với năm 2009
Như vậy, với tất cả yếu tố trên, việc tăng cường thu hút FDI vào Hà Nội là
thực sự cần thiết và trở thành một trong những mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế của thành phố
1.3 HOA KỲ VÀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA HOA KỲ
1.3.1 Giới thiệu về Hoa Kỳ vào đặc điểm FDI của Hoa Kỳ
* Giới thiệu về Hoa Kỳ:
Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (còn gọi là Mỹ) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang, gồm 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang, nằm trọn ở Tây bán cầu, diện tích là: 9,38 triệu km2 với hơn 300 triệu dân Với ưu thế về điều kiện tự nhiên, sự đa dạng của đất đai và con người, tuy được thành lập từ năm
Trang 151776 nhưng cho đến năm 1890 đã vượt qua Anh, Pháp để giữ vị trí đứng đầu cho tới nay GDP của Hoa Kỳ năm 2006 là 13.000 tỷ USD và 14.620 tỷ USD vào 2010, dù là trước hay sau khủng hoảng kinh tế thì vẫn không thể chối bỏ được vị trí đứng đầu của nền kinh tế lớn nhất thế giới này Hiện nay, Hoa Kỳ đang là quốc gia xuất khẩu đứng thứ 3 và nhập khẩu đứng đầu thế giới, chiếm gần 20% GDP toàn cầu
Về đầu tư nước ngoài, Hoa Kỳ là quốc gia có lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào lớn nhất thế giới và cũng là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất thế giới
* Đặc điểm FDI của Hoa Kỳ:
Ngoài những đặc điểm chung của FDI, FDI của Hoa Kỳ còn có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, mục tiêu kinh doanh của Hoa Kỳ là luôn vươn tới tối đa hoá lợi
nhuận trong các hoạt động của mình Trong khi đó, mục tiêu hàng đầu của Nhật Bản là phát triển tập đoàn, chú trọng tăng tỷ lệ chiếm lĩnh và khai thác thị trường thế giới, phát triển sản phẩm mới, kỹ thuật mới, tăng cường vị trí
cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước
Thứ hai, nhà đầu tư Hoa Kỳ rất chú trọng đến khả năng tiếp cận thị trường
của nước nhận đầu tư và coi đó là nền tảng để xây dựng chiến lược đầu tư của mình Điều này cũng lý giải tại sao trong thời gian qua, các nước phát triển (Châu Âu, Nhật Bản…) vẫn là nơi nhận được nhiều vốn đầu tư nhất của Hoa
Kỳ, đó là vì khu vực này có qui mô lớn, giàu có và tính liên kết của các thị trường cao Điều này khác với các công ty Nhật Bản, quan tâm nhiều hơn đến nguồn lao động rẻ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm đạt được những chi phí sản xuất thấp hơn
Thứ ba, Hoa Kỳ cũng rất quan tâm đến vị trí chiến lược của nước nhận đầu
tư Họ muốn phát triển mạng lưới sản xuất và phân phối khép kín trong châu lục chứ không chỉ ở một nước với sự liên kết cao và phân công chặt chẽ rõ ràng Do đó vị trí địa - kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với Hoa Kỳ,
Trang 16Singapore là một ví dụ ở khu vực Đông Nam Á Việt Nam cần chú ý tới vị trí địa lý - kinh tế trong việc thu hút FDI từ Hoa Kỳ
Thứ tư, các nhà đầu tư Hoa Kỳ có xu hướng tập trung vào những dự án lớn
ở trình độ công nghệ cao như công nghệ thông tin, viễn thông… Số vốn đầu
tư có thể nằm trong khoảng 200 triệu tới 1 tỷ USD Ngoài ra năng lượng là lĩnh vực Hoa kỳ đặc biệt quan tâm, nhất là các dự án nhiệt điện số vốn đầu tư
có thể lên tới 4 đến 5 tỷ USD Lĩnh vực đầu tư thứ ba là dịch vụ và du lịch số vốn cũng rất lớn từ 1 tới 10 tỷ USD Những dự án ở các lĩnh vực này đều được Hoa Kỳ dùng máy móc và công nghệ chất lượng cao hàng đầu thế giới với trình độ quản lý tiên tiến và khoa học Điều mà Việt Nam học được và tận dụng được ở Hoa Kỳ chính là công nghệ cao, số vốn lớn và trình độ quản lý hiện đại
Thứ năm, nhà đầu tư Hoa Kỳ rất coi trọng hạ tầng của nước nhận đầu tư
Cơ sở về thông tin liên lạc, điện, giao thông vận tải có ảnh hưởng lớn đến chi phí đầu vào của quá trình sản xuất và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh sản phẩm của họ
Thứ sáu, nhà đầu tư Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến chất lượng nguồn nhân
lực Họ không chú trọng nhiều vào nguồn lao động rẻ, mà là trình độ lao động Nguồn nhân lực có dồi dào đi chăng nữa, nhưng trình độ thấp thì không hấp dẫn được các nhà đầu tư Hoa Kỳ Những ngành được quan tâm là những ngành chế tạo, công nghệ cao và dịch vụ đòi hỏi trình độ chuyên môn và kỹ năng quản lý của lao động cao
Thứ bảy, FDI của Hoa Kỳ còn chịu ảnh hưởng của chính sách đầu tư ra
nước ngoài của Chính phủ Hoa Kỳ Cơ chế chính sách đầu tư của Hoa Kỳ luôn hướng vào việc khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài Chính phủ Hoa Kỳ thành lập nhiều tổ chức hỗ trợ như EXIMBANK (Ngân hàng xuất nhập khẩu), OPIC (Tổng công ty đầu tư tư nhân ở nước ngoài) và
có những chính sách bảo hộ quyền sở hữu tài sản cho các công ty Hoa Kỳ Chính phủ Hoa Kỳ còn ký các hiệp định song phương với các đối tác như:
Trang 17Hiệp định bảo hộ đầu tư, Hiệp định thương mại, và các Hiệp định đa phương khác Hầu hết các quy định về cơ chế chính sách đầu tư ra nước ngoài của Hoa Kỳ đều thực hiện theo những nguyên tắc của WTO Như vậy có thể thấy Chính phủ Hoa Kỳ luôn có nhiều chính sách, biện pháp để thực hiện mục đích quan trọng nhất là nhằm tạo lập một vị trí vững chắc cho mình trên trường quốc tế, đồng thời tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ hoạt động tại nước ngoài, tránh các rủi ro về chính trị hay thương mại
1.3.2 Khái quát tình hình FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam
Những năm vừa qua, FDI từ Hoa Kỳ liên tục tăng, Hoa Kỳ đang trở thành đối tác đầu tư chiến lược của Việt Nam Tính đến ngày 09/03/2011, Hoa Kỳ
có 565 dự án FDI đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký là hơn 13,132 tỷ USD Tuy nhiên, con số này chưa phản ánh hết luồng vốn đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ tại Việt Nam do có rất nhiều công ty Hoa Kỳ như Tập đoàn Coca Cola, Procter & Gamble, Cheveron, Conoco đầu tư vào Việt Nam thông qua các chi nhánh, công ty con đăng ký tại một số nước khác như British Virgin Islands, Singapore, Hongkong Thực tế cho thấy, lượng vốn đầu tư của Hoa Kỳ theo diện này còn cao hơn so với đầu tư trực tiếp từ chính quốc, do vậy, những con số thống kê trên càng cho thấy chúng chưa phản ánh hết số vốn FDI của Hoa Kỳ thực sự vào Việt Nam
Hoa Kỳ hiện đang đứng thứ 7 trong tổng số 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Đặc biệt năm 2009, Hoa Kỳ là đã vươn lên là nhà đầu
tư số 1 với 43 dự án cấp mới, 12 dự án tăng vốn với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm lên đến 9,8 tỷ USD
Trang 18Bảng 1.1: FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam qua một số năm
Năm Số dự án cấp mới Vốn đầu tư (USD)
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Đầu tư của Hoa Kỳ tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 45,2% tổng vốn đầu tư), trong đó có một số dự án với quy mô lớn như Winvest Investment LCC cam kết đầu tư 4,1 tỷ USD xây khách sạn 5 sao tại Bà Rịa - Vũng Tàu, Good Choice USA cam kết gần 1,3 tỷ USD xây dựng khu khách sạn cao cấp tại Bà Rịa - Vũng Tàu Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 (chiếm 28,3% tổng vốn đầu tư đăng ký) Tiếp theo là các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất phân phối điện nước, vận tải, kho bãi
Trang 19Bảng 1.2: FDI của Hoa Kỳ vào một số lĩnh vực chính ở Việt Nam
(Tính đến 09/03/2011)
Chuyên ngành Số dự án Tổng vốn đầu tư (USD) Dịch vụ lưu trú và ăn uống 14 5.944.605.000
Công nghiệp chế biến, chế tạo 286 685.159.962
Sản xuất, phân phối điện, khí nước,
Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 9 168.210.000
Nông, lâm nghiệp; thủy sản 13 126.844.162
Hoạt đông chuyên môn, nghiên cứu
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Về hình thức đầu tư, hình thức đầu tư chủ yếu của Hoa Kỳ ở Việt Nam là 100% vốn nước ngoài với hơn 10,368 tỷ USD (chiếm khoảng hơn 80% tổng vốn đầu tư đăng ký)
Bảng 1.3: FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam theo hình thức đầu tư
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Về phân bố ở các địa phương, trừ lĩnh vực dầu khí, đầu tư của Hoa Kỳ đã
có mặt tại 38/63 địa phương của cả nước, nhưng chủ yếu tập trung vào các địa phương thuộc trọng điểm kinh tế phía Nam như Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương, miền Bắc thì ít hơn và tập trung
ở các địa phương như: Hà Nội (gồm cả Hà Tây cũ), Hải Phòng…
Hiện tại, rất nhiều công ty, tập đoàn lớn của Mỹ đã có mặt tại Việt Nam như: Starwood Hotels & Resorts, Citigroup và American Group, New York &
Trang 20Company, Alfonso DeMatteis, Dickerson Knight Group, AIA… và đã khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường Việt Nam Cùng với các làn sóng đầu tư của các công ty khổng lồ này, đầu tư của người Mỹ gốc Việt tại Việt Nam cũng đã có dấu hiệu khởi sắc, tuy quy mô chưa thật lớn
Các dự án FDI của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã phát huy được những thế mạnh của nhà đầu tư cũng như đáp ứng được yêu cầu của hai nước, mang đến lợi ích cho cả hai bên Nguồn vốn này đã góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, tạo công ăn việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý và phát triển nguồn nhân lực
1.3.3 Sự cần thiết phải tăng cường thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội
Nhìn chung, FDI vào Hà Nội tuy nhiều nhưng còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và chưa tương xứng với tiềm năng thu hút của thành phố Vì vậy, việc tăng cường thu hút FDI từ các nước, trong đó có Hoa Kỳ, là thực sự cần thiết
Đối với riêng FDI của Hoa Kỳ, từ sau hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực, FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam nói chung và vào Hà Nội nói riêng đều tăng lên đáng kể Tuy nhiên, Hoa Kỳ mới chỉ là nhà đầu tư lớn chứ chưa trở thành nhà đầu tư chính của Hà Nội So với Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore thì FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội là rất nhỏ bé Cho đến hết năm
2010, Hoa Kỳ chỉ đứng thứ 10 về số vốn đầu tư đăng ký vào Hà Nội (hơn 210 triệu USD) và đứng thứ 6 về tổng số dự án đầu tư (59 dự án) Các năm về trước - sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực, số vốn đầu tư của Hoa Kỳ cũng chỉ quanh quẩn ở các vị trí này
Hà Nội cũng chưa phải là địa phương hấp dẫn các nhà đầu tư Hoa Kỳ nhiều nhất Hoa Kỳ có xu hướng đầu tư vào khu vực phía Nam hơn, đặc biệt là một
số tỉnh, thành phố như Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai,
Bà Rịa - Vũng Tàu Các dự án lớn hầu như được xây dựng ở phía Nam Các địa bàn đầu tư của Hoa Kỳ nhằm vào các vùng này vì cơ chế và chính sách hỗ trợ đầu tư cũng như mặt bằng và hạ tầng ở các địa phương này hơn hẳn các
Trang 21vùng phía Bắc Việt Nam Các địa phương phía Nam Việt Nam tỏ ra am hiểu
và phản ứng nhanh nhạy trước những đòi hỏi của các nhà đầu tư Hoa Kỳ Họ
đã xây dựng những KCN và KCX chất lượng cao hơn hẳn các khu ở miền Bắc tạo ra sự cạnh tranh cao hơn, đủ để hấp dẫn các đối tác Hoa Kỳ với nhiều yêu cầu khá chặt chẽ về môi trường đầu tư Vì vậy, dẫu là một trong hai đầu tàu của kinh tế Việt Nam với sự vượt trội về kinh tế, Hà Nội vẫn cần phải nỗ lực rất nhiều, học hỏi kinh nghiệm thu hút của các tỉnh và các quốc gia khác
và có những biện pháp cần thiết để tăng cường thu hút FDI nói chung và FDI của Hoa Kỳ nói riêng
Trang 22CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI CỦA HOA KỲ
VÀO HÀ NỘI
2.1 TÌNH HÌNH THU HÚT FDI CỦA HOA KỲ VÀO HÀ NỘI
2.1.1 Khái quát tình hình thu hút FDI ở Hà Nội
Kinh tế thế giới đang bước vào kỷ nguyên của hội nhập, mở ra cơ hội đầu
tư lẫn nhau của các quốc gia Thật vậy, đầu tư ra nước ngoài hiện nay đang là
xu hướng phát triển của các nền kinh tế Trong bối cảnh bất ổn về kinh tế - chính trị - xã hội đang lan rộng trên toàn cầu, Việt Nam không những ít bị ảnh hưởng mà còn là một trong những quốc gia đang phát triển được các nhà đầu
tư quan tâm và đánh giá cao về môi trường đầu tư khá hấp dẫn và ổn định FDI vào Việt Nam đang tăng theo thời gian Đi cùng với xu thế đó, FDI vào
Hà Nội cũng tăng lên mạnh mẽ
Hiện nay, Hà Nội còn khoảng gần 2000 dự án FDI còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư hơn 15 tỷ USD FDI vào Hà Nội tăng mạnh qua các năm cả về số
dự án và quy mô vốn đầu tư:
Giai đoạn 1989 - 1992: thu hút được 770 triệu USD
Giai đoạn 1993 - 1996: thu hút được 5545 triệu USD
Giai đoạn 1997 - 2004 : thu hút được 3048 triệu USD
Giai đoạn 2006 - 2010: thu hút được triệu 9.618 USD
Năm 2010, Hà Nội có 225 dự án cấp mới với 180,2 triệu USD, 19 lượt dự
án tăng vốn với 131,1 triệu USD, tổng số vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 311,3 triệu USD Với kết quả như trên, Hà Nội hiện đang đứng thứ 12 trong các địa phương trên cả nước về thu hút FDI
Trang 23Bảng 2.1: Tình hình thu hút FDI vào Hà Nội qua một số năm
(Nguồn: Phòng ĐTNN - Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội)
a Theo hình thức đầu tư,
Giai đoạn đầu các dự án FDI chủ yếu theo hình thức liên doanh, sau đó chuyển dần sang doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài để phát huy được tính chủ động; hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh từ trước đến nay vẫn rất ít Nếu tính theo số dự án còn hiệu lực đến hết năm 2010 thì hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là nhiều nhất với 1220 trong tổng số 1748 dự án, tương ứng 69,8%; đứng thứ 2 hình thức liên doanh có
Trang 24510 dự án chiếm 29,2%; còn lại 6 dự án theo hình thức hợp đồng hợp tác liên doanh chiếm 1%
Bảng 2.2: Số dự án FDI ở Hà Nội theo hình thức đầu tư
(Đến hết năm 2010) S
án
Tỷ lệ (%)
1 Doanh nghiệp 100% vốn nước
(Nguồn: Phòng ĐTNN - Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội)
b Theo cơ cấu ngành, lĩnh vực
Xét theo số dự án, đứng đầu là ngành xây dựng với 343 dự án (chiếm 19,6% trong số 1748 dự án), đứng thứ hai là công nghiệp chế biến chế tạo với
334 dự án (chiếm 19,1%), thứ ba là hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ với 286 dự án (chiếm 16,4%), tiếp đó là thông tin và truyền thông với
258 dự án (chiếm 14,8%)
Xét theo tổng số vốn đầu tư, hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm số vốn đầu tư cao nhất là 8.103,6 triệu USD (chiếm 53,66% tổng số vốn đầu tư), thứ hai là lĩnh vực thông tin và truyền thông với 2.697,56 triệu USD ( chiếm 17,89%), thứ ba là công nghiệp chế biến chế tạo với 1.641,18 triệu USD (chiếm 10,87%),…
Có thể thấy, vốn FDI chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là hoạt động kinh doanh bất động sản (đứng đầu về số vốn đầu tư) Trong khi đó, đầu tư vào nông nghiệp rất hạn chế: 20 dự án (chiếm 1,1% trong tổng số dự án FDI) với số vốn đầu tư là 56,609 triệu USD (chiếm 0,37% trong tổng số vốn FDI vào các lĩnh vực)
Trang 25(Tham khảo chi tiết ở phụ lục 1)
c Theo đối tác đầu tư
Trong những năm vừa qua, Hà Nội đã đón nhận FDI từ rất nhiều quốc gia trên thế giới, cả những nhà đầu tư quen thuộc như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc,… đến những nhà đầu tư mới như: Isarel, Ukraina,… Trong đó,
về số dự án FDI, Hàn Quốc là quốc gia đứng đầu với 516 trên 1736 dự án (29,72%), tiếp đó là Nhật Bản với 230 dự án (chiếm 13,25%), thứ ba là Trung Quốc (không tính HongKong) với 143 dự án (chiếm 8,24%) Xét về tổng vốn đầu tư, Hàn Quốc vẫn dẫn đầu với gần 3.895 triệu USD trên tổng số 15.136 triệu USD (chiếm 25,73%); đứng thứ hai là Singapore với 3136 triệu USD (chiếm 70,72%); đứng thứ ba là Malaysia với 1109,8 triệu USD (chiếm 7,33%)
Như vậy, quốc gia đầu tư nhiều nhất là Hà Nội là Hàn Quốc và một vài nước thuộc khu vực Châu Á Các quốc gia khác như Mỹ, EU,… tuy số dự án
và số vốn đầu tư chưa nhiều nhưng cũng bắt đầu chú ý đến Hà Nội
d Đóng góp của FDI vào kinh tế - xã hội của Hà Nội
Với những ưu điểm của mình, FDI ngày càng chứng tỏ vai trò của mình trong việc phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội GDP của khu vực FDI ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng GDP của thành phố (từ hơn 5% giai đoạn 1993 - 1995 lên hơn 15% trong những năm gần đây)
Bảng 2.3: Đóng góp của khu vực FDI vào GDP của Hà Nội
1993-1995 1996-2000 2001-2005 2006 2007 2008 GDP(Tỷ đồng) 32.972 118.517 175.000 35.987 58.377 64.553 FDI (Tỷ đồng) 1.771 14.503 18.500 5.614 8.815 9.170
( Nguồn: Phòng ĐTNN - Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội)
FDI còn thúc đẩy sự phát triển của thành phố thông qua đóng góp vào
Ngân sách của thành phố của các doanh nghiệp FDI bằng các loại thuế, phí
Trang 26Tỷ trọng đóng góp vào ngân sách của khu vực FDI cũng thay đổi qua các năm, từ 5,8% vào năm 2000 lên 10% vào năm 2005 và còn 8,3% năm 2007
Bảng 2.4: Đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách thành phố Hà Nội
( Nguồn: Phòng ĐTNN - Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội)
Với chất lượng khá cao và thường hướng về xuất khẩu, các doanh nghiệp FDI đã góp phần không nhỏ trong việc làm tăng kim ngạch xuất khẩu của thành phố Tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI cũng tăng mạnh qua các năm, từ 13% năm 2000 lên đến 31,8% năm 2005 và 38,8% năm
(Nguồn: Phòng ĐTNN – Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội)
Với đặc trưng là mang theo khoa học công nghệ, FDI đang ngày càng phát huy những đặc điểm của mình, đem lại nền công nghệ hiện đại cho Thủ đô Trong khu vực FDI, đa số là công nghệ hiện đại (85%) và hầu như không có công nghệ lạc hậu
Trang 27Bảng 2.6: Trình độ công nghệ khu vực FDI của Hà Nội
Trình độ công nghệ
Hiện đại Trung
bình
Lạc hậu
(Nguồn: Phòng ĐTNN – Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội)
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI còn tạo rất nhiều việc làm cho lao động thành phố Điều này càng có ý nghĩa hơn khi dân số thành phố ngày càng tăng, lực lượng lao động ngày càng đổ về Hà Nội, vấn đề giải quyết việc
làm cho lao động thành phố ngày càng trở nên cấp bách (Tham khảo chi tiết
ở phụ lục 2)
Trong những năm qua, Hà Nội luôn là một trong những địa phương được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhất Theo thống kê mới nhất của Bộ kế hoạch và đầu tư tính đến ngày 22/03/2011, Hà Nội hiện đang đứng thứ 7 trong số các địa phương thu hút được nhiều vốn FDI nhất ( trong khi năm
2010 đứng thứ 12) Với tiềm năng vốn có của mình, tình hình thu hút FDI hiện nay là chưa tương xứng Một số dự án FDI đầu tư vào Hà Nội vẫn còn gặp nhiều khó khăn nên chưa triển khai được, một số dự án thì chuyển sang địa phương khác Hà Nội cần có các giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội, có những khuyến khích ưu đãi… để thu hút được nhiều FDI hơn nữa
2.1.2 Thực trạng thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội
Tính đến hết năm 2010, có 63 dự án đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp,
cá nhân Hoa Kỳ được cấp phép tại Hà Nội với tổng vốn đầu tư đạt 226,6 triệu USD, chiếm khoảng 3,9% tổng số dự án và 1,5% tổng vốn đầu tư đăng ký của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn, không tính các dự án ĐTNN trong các KCN - KCX do Ban quản lý KCN - KCX Hà Nội quản lý và KCNC
Trang 28Hoà lạc do Ban quản lý KCNC Hoà Lạc (Bộ Khoa học Công nghệ) quản lý Trong đó có một số dự án tương đối lớn như: “Bệnh viện quốc tế Hoa Kỳ” (vốn đầu tư: 50 triệu USD - lĩnh vực y tế); “Công ty LD Crown” (vốn đầu tư: hơn 49 triệu USD - sản xuất vỏ lon nước giải khát), “Công ty V - TRAC” (18,6 triệu USD - thi công xây dựng hạ tầng), “Công ty Cavico” (18.1 triệu USD - thi công xây dựng), “Cao ốc quốc tế Hồ Tây” (16 triệu USD - kinh doanh bất động sản),…
Về lĩnh vực đầu tư, cũng như các lĩnh vực mà Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam, tại Hà Nội các dự án FDI của Hoa Kỳ thường tập trung vào các lĩnh vực: công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng, xây dựng,… Trong đó, xét theo số dự án thì lĩnh vực công nghệ thông tin là nhiều nhất với 20 dự án chiếm 31,75% trong tổng số dự án; thứ hai là lĩnh vực xây dựng với 7 dự án chiếm 11,29% Xét theo tổng vốn đầu tư, lĩnh vực văn hóa - xã hội đứng đầu với số vốn lên tới hơn 62 triệu USD (chiếm 27,62% tổng vốn đầu tư), thứ hai
là lĩnh vực cơ khí với 50,327 triệu USD (chiếm 26,30%); tiếp đó là xây dựng với 40,885 triệu USD (chiếm 18,13%) Sở dĩ số vốn FDI vào lĩnh vực văn hóa
- xã hội cao như vậy là do số vốn đầu tư rất lớn của dự án “Bệnh viện quốc tế Hoa Kỳ” là 50 triệu USD (đã chiếm 80,25% tổng vốn đầu tư của toàn lĩnh vực văn hóa - xã hội); lĩnh vực cơ khí đứng thứ 2 về tổng vốn đầu tư là nhờ có dự
án “Cty Liên doanh TNHH Crown Hà Nội” với tổng vốn đầu tư là 49,177 triệu USD (chiếm 97,72% tổng vốn đầu tư của lĩnh vực cơ khí) Lĩnh vực dịch
vụ lưu trú và ăn uống dẫn đầu số đầu tư chiếm 45,2% tổng vốn FDI của Hoa
Kỳ vào Việt Nam thì ở Hà Nội con số này rất khiêm tốn với 0,009% tổng vốn FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội Trong khi đó, lĩnh vực kinh doanh bất động đứng thứ hai chiếm 28,3% tổng số vốn FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam thì tại
Hà Nội chỉ hạn chế là 8,45%
Nhìn chung các dự án FDI của Hoa Kỳ tại Hà Nội có ít dự án công nghệ cao (chỉ một số dự án CNTT, viễn thông quy mô tương đối nhỏ) và chưa có
Trang 29dự án vốn đầu tư thực sự lớn kể cả trong lĩnh vực bất động sản Có thể nói quy mô vốn các dự án Hoa Kỳ là quá nhỏ, không tương xứng nếu so sánh tiềm năng với một số quốc gia, vùng lãnh thổ khác (FDI của Hàn quốc tại Hà Nội tính đến năm 2009 là 3,9 tỷ USD, Singapore 3,2 tỷ USD, Malaysia 1,1 tỷ USD) cũng như quy mô quan hệ thương mại Hoa Kỳ - Việt Nam đã tăng trưởng ấn tượng trong thời gian gần đây sau khi Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ và gia nhập WTO (Thương mại hai chiều đã tăng từ vài chục triệu USD trước khi bình thường hoá lên 15 tỷ USD năm 2009 - Bộ Ngoại giao)
2.1.2.1 Trước khi ký kết hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA)
Trước khi Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam, thương mại và đầu tư giữa hai nước hầu như không có gì đáng kể FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội thời
kỳ đó là hầu như không có, vài dự án chỉ dừng lại ở mức thăm dò Kể từ đầu năm 1994, khi Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam, đầu tư giữa hai nước mới bắt đầu được thiết lập Trong giai đoạn đó, ở Hà Nội cũng nhen nhóm một vài dự án FDI từ Hoa Kỳ mà vài dự án còn hiệu lực đến ngày nay như: “Chi nhánh ngân hàng City Bank N.A tại Hà Nội” (vốn đầu tư 20 triệu USD), “Cao ốc quốc tế Hồ Tây” (vốn đầu tư 16 triệu USD), “Công ty phát triển nhà Hanoi - Cali hữu hạn” (3,15 triệu USD) Có thể thấy, ở giai đoạn này, các dự án rất ít nhưng vốn khá cao và chủ yếu tập trung vào kinh doanh bất động sản, ngân hàng…
Từ sau khi Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ (11/07/1995), thương mại giữa Hà Nội và Hoa Kỳ có tiến triển nhưng các dự án FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội vẫn rất ít (7 dự án) Trong đó, đáng kể nhất là dự án vào lĩnh vực y tế của Hoa Kỳ với số vốn đầu tư cao kỷ lục (50 triệu USD) là
“Bệnh viện quốc tế Hoa Kỳ”, có thể nói đây là dự án hiếm có của Hoa Kỳ vì
số vốn rất lớn và và vì đây không phải là lĩnh vực mà Hoa Kỳ thường đầu tư
ra nước ngoài Tuy nhiên dự án này đã bị ngưng trệ trong một thời gian dài, hiện giờ mới tiếp tục xây dựng
Trang 30Bảng 2.7: FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội trước khi ký kết BTA
dự án
Tổng VĐT (triệu USD)
Dự án có VĐT trên 1 triệu USD
(Nguồn: Tổng hợp từ danh mục dự án FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội)
Về lĩnh vực đầu tư, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực
mà Hoa Kỳ vốn có ưu thế như: ngân hàng bảo hiểm, kinh doanh văn phòng, công nghệ thông tin Đó là các lĩnh vực mà ở Việt Nam cũng như Hà Nội còn khá mới mẻ và thiếu vốn lúc bấy giờ
Trang 31Bảng 2.8: Cơ cấu đầu tư của Hoa Kỳ vào Hà Nội trước khi ký kết BTA
( Nguồn: Tổng hợp từ danh mục dự án FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội)
Tóm lại, trong giai đoạn này, dù số dự án còn rất hạn chế, nhưng số vốn
đầu tư vào từng dự án khá cao (hầu hết là trên 1 triệu USD, có 3 dự án trên 10 triệu USD), tổng vốn đầu tư là hơn 93 triệu USD Điều này chứng tỏ, dù các nhà đầu tư Hoa Kỳ chưa quan tâm nhiều đến Hà Nội nhưng FDI Hoa Kỳ đã đem lại cho Hà Nội lượng vốn đầu tư không nhỏ và rất hữu ích, nhất là trong thời điểm bấy giờ, khi Hà Nội đang bắt đầu công cuộc đổi mới, rất cần vốn để
phát triển kinh tế
2.1.2.2 Từ sau khi ký kết hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ đến trước khi Việt Nam gia nhập WTO
* Vài nét về hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA):
Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ký kết tháng 7/2000, chính thức
có hiệu lực ngày 10/12/2001 đã đưa quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ lên một bước mới Với 4 phần: tiếp cận thị trường, thương mại dịch
vụ, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư, các cam kết toàn diện trong Hiệp định thương mại của hai quốc gia sẽ không chỉ thúc đẩy thương mại hai chiều giữa hai nước mà còn tăng thêm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam đối với các nhà đầu tư Hoa Kỳ
Trang 32* Thuận lợi từ BTA cho đầu tư nói chung, cho FDI nói riêng giữa Việt Nam
và Hoa Kỳ
Việc ký kết BTA tạo điều kiện tăng cường FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam
mà còn sẽ thu hút sự quan tâm của toàn thế giới và nó sẽ được coi là cam kết hội nhập kinh tế của Việt Nam Việt Nam sẽ giành được thêm cơ hội tiếp cận với nguồn tài chính, phương thức quản lý hiện đại, thông tin thị trường và công nghệ tiên tiến BTA sẽ giúp tạo lập một sân chơi công bằng cho tất cả các doanh nghiệp BTA cũng mở ra cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp tận dụng thị trường ASEAN rộng lớn Cụ thể như sau:
Thứ nhất, lần đầu tiên cho phép các công ty Mỹ và các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ được phép xuất nhập khẩu hầu hết các sản phẩm (với lộ trình từ 3 - 6 năm)
Thứ hai, Trong lĩnh vực dịch vụ, Việt nam cam kết tuân thủ các quy định
của WTO về Tối huệ quốc, đối xử quốc gia và các nguyên tắc trong pháp luật quốc gia Bên cạnh đó, Việt Nam đồng ý cho phép các công ty và các cá nhân
Mỹ đầu tư vào các thị trường của một loạt các lĩnh vực dịch vụ, bao gồm: kế toán, quảng cáo, ngân hàng, máy tính, phân phối, giáo dục, bảo hiểm, luật và viễn thông Hầu hết các cam kết về các lĩnh vực đó có lộ trình thực hiện sau 3 đến 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực Đặc biệt là những cam kết rất rõ ràng trong 3 lĩnh vực dịch vụ lớn nhất của Mỹ - ngân hàng, bảo hiểm và viễn thông
Thứ ba, Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ - Việt Nam có các bảo đảm về đối
xử Tối huệ quốc, đối xử quốc gia, minh bạch và bảo vệ trong trường hợp tước quyền sở hữu Đồng thời, Việt Nam cam kết tiến hành những thay đổi sau trong cơ chế đầu tư của mình:
- Chuyển đổi lợi nhuận ra ngoại tệ: Các công ty đa quốc gia của nước ngoài
sẽ có quyền chuyển lợi nhuận ra ngoại tệ giống như các công ty Việt Nam
Trang 33- Ngưỡng vốn góp: Vào thời điểm ký hiệp định, phần vốn góp của Hoa Kỳ trong liên doanh ít nhất phải chiếm 30% vốn pháp định của liên doanh Yêu cầu này sẽ được loại bỏ trong sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực
- Các yêu cầu về nhân sự đối với liên doanh: Trong vòng 3 năm Việt nam
sẽ cho phép các công ty đa quốc gia của Mỹ có quyền lựa chọn các chức vụ lãnh đạo cao cấp mà không có hạn chế về quốc tịch
- Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs): Việt Nam đồng
ý trong vòng 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực sẽ xoá bỏ tất cả các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) không phù hợp với quy định của WTO, ví dụ như các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá
Thứ tư, về tính minh bạch, Việt Nam đồng ý thực hiện một cơ chế thương
mại hoàn toàn minh bạch bằng cách cho phép góp ý kiến vào các dự thảo luật
và quy định, đảm bảo sẽ công khai trước tất cả các luật và các quy định đó; bằng cách công bố tất cả các văn bản đó; và cho phép công dân và các công ty Hoa Kỳ có quyền khiếu nại các quy định đó
* Tình hình FDI vào Hà Nội sau hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đến trước khi Việt Nam gia nhập WTO
Ngay sau khi BTA được ký kết, trong năm 2000, có 2 dự án với tổng số vốn 2,5 triệu USD, mỗi dự án đều có vốn đầu tư trên 1 triệu USD Năm 2001,
ở Hà Nội có 4 dự án FDI của Hoa Kỳ được cấp, trong đó đáng chú ý hơn cả là
dự án “Công viên Công nghệ Việt Mỹ (ATI)” với tổng vốn đầu tư 4,8 triệu USD vào lĩnh vực công nghệ thông tin Ba dự án còn lại, một dự án là vào lĩnh vực công nghiệp thực phẩm, hai dự án còn lại đều vào lĩnh vực công nghệ thông tin Tổng vốn đầu tư trong năm 2001 là 6,46 triệu USD Trong các năm tiếp theo, tuy BTA đã có hiệu lực, một số điều khoản trong BTA đã phát huy tác dụng nhưng số dự án FDI vào Hà Nội cũng không có những biến chuyển đáng kể Từ năm 2002 đến hết năm 2006, chỉ có 7 dự án FDI của Hoa
Kỳ đầu tư vào Hà Nội với tổng vốn đầu tư là hơn 6 triệu USD
Trang 34Trong cả giai đoạn từ sau khi BTA được ký kết đến trước khi Việt Nam gia nhập WTO (từ 2001 đến 2006), các dự án FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội tăng không nhiều so với giai đoạn trước, vốn đầu tư của từng dự án cũng không lớn (nhỏ hơn giai đoạn trước), cao nhất là dự án “Công ty liên doanh Cinema
1 Việt Nam” với tổng vốn đầu tư là 5 triệu USD, ít hơn kỷ lục của giai đoạn trước rất nhiều (đó là dự án Bệnh viện quốc tế Hoa Kỳ với 50 triệu USD) Tổng vốn đầu tư của cả giai đoạn cũng chưa đạt 15 triệu USD - là con số quá nhỏ so với giai đoạn 1989-2000 (hơn 93 triệu USD)
Lĩnh vực đầu tư chủ yếu vào Hà Nội của các nhà đầu tư Hoa Kỳ trong giai đoạn này là công nghệ thông tin Trong 12 dự án FDI thì có tới 6 dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin với tổng số vốn đầu tư trên 6,73 triệu USD Còn lại là vào l số lĩnh vực như: công nghiệp thực phẩm (2 dự án; 0.31 triệu USD), văn hóa - xã hội (2 dự án; trên 6,5 triệu USD), may (1 dự án; 1,5 triệu USD)
Bảng 2.9: FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội từ sau BTA đến trước khi Việt
Nam gia nhập WTO
án
Tổng VĐT (triệu USD)
Trang 35Như vậy, cho dù Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã được ký kết
và bắt đầu phát huy hiệu lực, nhưng sức ảnh hưởng của nó với dòng FDI từ Hoa Kỳ vào Hà Nội là chưa nhiều, những thuận lợi do BTA mang lại vẫn chưa được tận dụng
2.1.2.3 Từ sau Việt Nam gia nhập WTO đến nay
a Những thuận lợi cho việc thu hút FDI khi Việt Nam gia nhập WTO
Thứ nhất, việc gia nhập WTO đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt
Nam mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ và đã được đối xử bình đẳng hơn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế, góp phần khắc phục trở ngại về thị trường mà lâu nay các doanh nghiệp Việt Nam, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường gặp phải Điều đó đã tạo điều kiện thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam để xuất khẩu ra thế giới
Thứ hai, Việt Nam cam kết mở cửa 11/12 ngành dịch vụ, gồm 110 phân
ngành theo quy định của WTO, trong đó có một số ngành quan trọng như: các dịch vụ viễn thông, phân phối, bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán, vận tải, bảo hộ sở hữu trí tuệ Điều đó đã tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ tại Việt Nam và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư lâu dài ở Việt Nam
Thứ ba, việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi Việt Nam tiếp tục xây dựng môi
trường pháp lý hoàn chỉnh và minh bạch hơn Việt Nam đã cam kết kể từ khi gia nhập WTO sẽ tuân thủ toàn bộ các hiệp định quan trọng của WTO liên quan đến chính sách tài chính, tiền tệ, doanh nghiệp nhà nước, quyền kinh doanh, trợ cấp, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs), tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO (trừ một số ngoại lệ), loại bỏ toàn bộ các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu, bãi bỏ chế độ hai giá, bãi
bỏ áp dụng tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này (được thể hiện trong Luật Đầu tư và Luật Doanh
Trang 36nghiệp mới cùng các văn bản hướng dẫn) sẽ thúc đẩy mở cửa các ngành kinh
tế và tăng tính hấp dẫn của Việt Nam đối với đầu tư nước ngoài
Thứ tư, sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO cũng tạo thêm lòng
tin cho các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Có thể nói, việc Việt Nam gia nhập WTO là một dấu mốc hết sức quan trọng Nó đưa Việt Nam lên một tầm cao mới, được các nước, các nhà đầu tư nhìn nhận với một cái nhìn mới Riêng trong lĩnh vực đầu tư, sự kiện này có tác động lớn làm cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao trong năm 2007 và sẽ tiếp tục tăng trưởng những năm tiếp theo Đặc biệt, Hoa Kỳ là nhà đầu tư lớn luôn chú trọng vào một số lĩnh vực trong ngành dịch vụ như: tài chính ngân hàng, công nghệ thông tin, viễn thông… Khi Việt Nam cam kết
mở cửa thị trường dịch vụ và thực hiện cam kết này, các nhà đầu tư Hoa Kỳ
sẽ có điều kiện đầu tư vào Việt Nam nhiểu hơn, thúc đẩy tăng trưởng đầu tư giữa hai nước, đặc biệt là đầu tư trực tiếp
b FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Như đã thấy ở trên, việc gia nhập WTO của Việt Nam có tác động rất tích cực lên dòng vốn FDI đang chảy vào Việt Nam, Hà Nội cũng không là ngoại
lệ Bên cạnh sự dồi dào của dòng FDI từ các đối tác đầu tư khác vào Hà Nội, FDI của Hoa Kỳ cũng gia tăng rất nhanh chóng Giai đoạn này có 42 dự án với tổng vốn đầu tư đạt được lên tới hơn 119 triệu USD
Bảng 2.10: FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội giai đoạn 2007 - 2010
Trang 37 Năm 2007
Năm 2007 là năm đánh dấu mốc quan trọng của kinh tế Việt Nam Ngày 11/1/2007, sự kiện chính thức trở thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế WTO đã mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là đầu
tư nước ngoài Từ đây, vốn FDI từ các quốc gia trên thế giới đổ vào Việt Nam tăng mạnh mẽ Thủ đô Hà Nội cũng chứng kiến sự tăng vọt về FDI của Hoa
Kỳ, cả về dự án lẫn số vốn Có thể nói, từ trước đến nay, chưa bao giờ FDI của Hoa Kỳ lại dồi dào như vậy Chỉ trong một năm mà Hà Nội có tới 21 dự
án FDI của Hoa Kỳ, hơn tổng số dự án của tất cả các năm trước cộng lại, tổng vốn đầu tư là 51,217 triệu USD
Có 7 dự án có số vốn đầu tư từ 1 triệu USD trở lên Trong đó đáng chú ý nhất là hai dự án có vốn đầu tư hơn 18 triệu USD, đó là dự án “Công ty Phát triển cơ sở hạ tầng V - TRAC” với vốn đầu tư là 18,625 triệu USD và dự án
“Công ty TNHH Cavico Việt nam” với vốn đầu tư 18,11 triệu USD Cả hai
dự án này đều đầu tư vào lĩnh vực xây dựng Ngoài ra có dự án “Cty CP Công nghệ thanh toán Việt Nam” với 3,33 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực Công nghệ thông tin; dự án “Công ty TNHH Gerber Scientific International (Vietnam)” với 2,5 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ vận tải… và một
số dự án khác với số vốn trên 1 triệu USD
Về cơ cấu đầu tư, trong năm 2007, có hai lĩnh vực mà các nhà đầu tư Hoa
Kỳ chú trọng khi đầu tư vào Hà Nội, đó là: Công nghệ thông tin, xây dựng, đều là các lĩnh vực đầu tư truyền thống của Hoa Kỳ từ trước tới nay Về công nghệ thông tin, có tới 6 dự án với tổng vốn đầu tư là 5,98 triệu USD Trong
đó có hai dự án có vốn đầu tư từ 1 triệu USD trở lên, đó là : Dự án “Cty CP Công nghệ thanh toán Việt Nam” (3,33 triệu USD) và dự án “Cty Punch Entertainment (Việt Nam)” (1 triệu USD) Lĩnh vực xây dựng có 6 dự án với tổng vốn đầu tư là 40,785 triệu USD, chiếm phần lớn số vốn đầu tư vào Hà Nội trong năm 2007 Với đặc thù là cần tổng vốn đầu tư lớn, lĩnh vực xây dựng có đến 4/6 dự án trên 1 triệu USD, trong đó có hai dự án trên 18 triệu
Trang 38USD (đã kể trên) Còn lại là một số dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ (1 dự án về dịch vụ công nghiệp, 1 dự án dịch vụ lưu trú), kinh doanh xuất nhập khẩu (1
dự án) và công nghiệp thực phẩm (1 dự án), giáo dục đào tạo (1 dự án)
Có thể nói, năm 2007 là bước nhảy vọt của Hà Nội trong việc thu hút FDI của Hoa Kỳ Đây là điều chưa từng có vì FDI Hoa Kỳ chỉ riêng năm 2007 đã gấp hơn 3 lần lượng FDI của Hoa Kỳ trong giai đoạn 2000 - 2006 vào địa phương này Điều này đã gây ngạc nhiên cho không chỉ các cơ quan chức năng mà còn chính đối với các nhà đầu tư Hoa Kỳ Kết quả đó cộng thêm sự kiện Việt Nam gia nhập WTO sẽ tạo ra niềm tin lớn hơn của các nhà đầu tư Hoa Kỳ với Hà Nội và tạo động lực mạnh mẽ cho lãnh đạo và doanh nghiệp
Hà Nội tiếp tục có những chiến lược thu hút và hợp tác đầu tư những dự án FDI lớn hơn của Hoa Kỳ trong tương lai
Năm 2008
* Hà Nội bị ảnh hưởng ít nhiều của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính
lan rộng toàn cầu
Với mức tăng trưởng kinh tế hơn 8% năm 2007, cộng với sự trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế WTO, Việt Nam đang
là một trong những điểm đến đầu tư được ưa thích Với những thành tựu đạt được của cả nước và Hà Nội trong việc thu hút FDI năm 2007, đáng lẽ năm
2008 phải tiếp bước những thành tựu đó để đạt được những thành tựu cao hơn, nhưng thực tế không như vậy Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính đã nhen nhóm lửa từ cuối năm 2007, đến năm 2008 mới thực sự bùng phát làm cho nền kinh tế Mỹ rơi vào khủng hoảng, kinh tế thế giới cũng vì thế mà chao đảo Các nhà đầu tư Mỹ, một phần lâm vào đổ vỡ, phá sản nên cắt giảm hoặc ngừng đầu tư; một phần cắt giảm hoặc ngừng đầu tư vì lo ngại cho sự an toàn của vốn đầu tư; một phần giảm đầu tư là do vốn FDI chủ yếu là nợ vay nên khi thị trường vay nợ đóng băng khó mà sử dụng nguồn vốn này; phần khác lại vẫn đầu tư ra nước ngoài - nơi những nền kinh tế không hoặc ít bị ảnh hưởng của khủng hoảng Ở Việt Nam, năm 2008 chứng kiến sự đảo ngược
Trang 39trong việc thu hút FDI của Hoa Kỳ, tuy số dự án của Hoa Kỳ vào Việt Nam
có giảm so với năm 2007 (năm 2008: 53 dự án cấp mới và 13 dự án tăng vốn, năm 2007: 66 dự án cấp mới và 14 dự án tăng vốn) nhưng tổng vốn đầu tư lại tăng (năm 2008: 1525 triệu USD, năm 2007: 388 triệu USD) Một lần nữa, Việt Nam lại chứng tỏ sự ổn định và tăng trưởng của mình - là điểm đến an toàn cho các luồng vốn đầu tư, nhất là trong lúc thế giới đang lao đao vì khủng hoảng
FDI vào Hà Nội giảm về số dự án nhưng số vốn đầu tư lại tăng gấp đôi (2008: 294 dự án với 5009 triệu USD, năm 2007: 309 dự án với 2535 triệu USD) Tuy nhiên, FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội lại giảm khá mạnh, chỉ có 10
dự án với tổng vốn đầu tư là hơn 12 triệu USD, chưa bằng một nửa năm 2007
cả về số dự án và số vốn Trong đó, chỉ có ba dự án có vốn đầu tư trên 1 triệu USD là dự án “Công ty TNHH NV76” (trên 3,268 triệu USD) vào kinh doanh xuất nhập khẩu, “Trường Quốc tế Hà Nội” (2,72 triệu USD) đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và “Công ty TNHH Manpower Việt Nam” đều đầu tư vào văn hóa - xã hội Các dự án còn lại có vốn đầu tư rất hạn chế Đặc biệt là lĩnh vực tài chính ngân hàng, do ảnh hưởng của khủng hoảng, đầu tư vào lĩnh vực này tại Hà Nội hầu như là không có
Năm 2008, Hoa Kỳ cũng đầu tư khá dàn trải, không tập trung quá vào lĩnh vực nào Lĩnh vực công nghệ thông tin vốn là lĩnh vực đầu tư truyền thống của Hoa Kỳ thì nay cũng chỉ có 3 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 425 nghìn USD Còn lại là các dự án thuộc lĩnh vực: cơ khí, xuất nhập khẩu, tư vấn…
* Hà Nội mở rộng địa giới hành chính
Năm 2008, bên cạnh việc bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính, Hà Nội còn có sự thay đổi lớn về địa giới hành chính Từ tháng 8/2008,
Hà Nội sáp nhập thêm tỉnh Hà Tây cũ và một số địa phương của tỉnh Bắc Ninh và Vĩnh Phúc Đây là yếu tố có ảnh hưởng khá lớn đến thu hút FDI của thành phố:
Trang 40- Ảnh hưởng tích cực: Với việc mở rộng địa giới này, Hà Nội trở thành một thị trường rộng lớn với dân số đông và đời sống đang tăng lên Thứ hai, quỹ đất của thủ đô cũng được mở rộng, giải quyết một phần khó khăn trong vấn
đề đất đai Thứ ba, Hà Tây cũ cũng là một địa phương được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, đặc biệt là các nhà đầu tư Hoa Kỳ (thực tế đã có nhiều
dự án lớn của Hoa Kỳ xây dựng và hoạt động ở đây) Thứ tư, Hà Tây và một
số địa phương được sáp nhập là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển khá nhiều ngành nghề, đặc biệt là du lịch, có khả năng thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài
- Ảnh hưởng tiêu cực: Việc mở rộng địa giới khiến thành phố Hà Nội phải tiến hành quy hoạch lại Như vậy, rất nhiều dự án, kể cả các dự án FDI (đặc biệt là những dự án đầu tư vào kinh doanh bất động sản) bị ngừng lại, một số
dự án bị tạm ngưng Điều này làm cho các nhà đầu tư cân nhắc, lưỡng lự khi muốn đầu tư vào Hà Nội Bên cạnh đó, nguồn lao động tăng lên rất nhiều nhưng trình độ thấp và chưa được qua đào tạo cũng là trở ngại trong việc thu hút FDI vào một số ngành và FDI từ một số quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ Sau khi mở rộng, FDI của Hà Nội hiện tại là bao gồm cả FDI của Hà Tây
cũ và các địa phương được sáp nhập Thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội là thu hút cả vào các vùng mới với tiềm năng mới, nhất là khi Hà Tây cũ cũng là một địa điểm thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư Hoa Kỳ trong
số các tỉnh miền Bắc
Tuy nhiên, trên thực tế FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội sau khi sáp nhập không tăng, thậm chí còn giảm, có thể là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh
tế toàn cầu và mặt tiêu cực của việc sáp nhập mạnh hơn là những mặt tích cực
do việc sáp nhập đem lại
Tổng kết lại, năm 2008, FDI của Hoa Kỳ vào Hà Nội sụt giảm và dừng lại
ở con số rất khiêm tốn trong khi FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam lại tăng Các
dự án FDI Hoa Kỳ vào Hà Nội rất nhỏ lẻ và dàn trải Chứng tỏ, Việt Nam vẫn