1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam

124 685 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu Xung quanh chủ đề FDI của TNCs đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, bài viết được đăng tải như: - Nguyễn Ngọc Diên, Bùi Thanh Sơn, Nguyễn Thái Yên Hương, Ph

Trang 1

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

ĐẶNG HOÀNG THANH NGA

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA HOA KỲ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội – 2011

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

ĐẶNG HOÀNG THANH NGA

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA HOA KỲ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số : 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ANH THU

Hà Nội – 2011

Trang 3

iv

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT I DANH MỤC CÁC BẢNG II DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ III DANH MỤC CÁC HỘP IV

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA HOA KỲ Ở VIỆT NAM 7

1.1CƠSỞLÝLUẬN 7

1.1.1 Một số vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 7

1.1.2 Đặc điểm của TNCs Hoa Kỳ 12

1.1.3 Sự cần thiết phải thu hút đầu tư trực tiếp từ TNCs Hoa Kỳ 17

1.2CƠSỞTHỰCTIỄN 22

1.2.1 Những nhân tố chung ảnh hưởng tới hoạt động FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam 22

1.2.2 Những nhân tố thuộc Hoa Kỳ 25

1.2.3 Những nhân tố thuộc Việt Nam 29

1.3KINHNGHIỆMCỦATRUNGQUỐCVỀTHUHÚTFDITỪTNCS CỦAHOAKỲ 36

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA HOA KỲ Ở VIỆT NAM 39

2.1 TÌNHHÌNHTHUHÚTFDICỦATNCSHOAKỲỞVIỆTNAM 39

2.1.1 Tổng quan tình hình FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam thời gian qua 39

2.1.2 FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam theo cơ cấu ngành 44

2.1.3 FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam theo hình thức hoạt động 46

2.1.4 FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam theo cơ cấu vùng 48

2.2 TÁCĐỘNGCỦAĐẦUTƯTRỰCTIẾPCỦATNCSHOAKỲĐỐI VỚIPHÁTTRIỂNKINHTẾ-XÃHỘIỞVIỆTNAM 50

2.2.1 Đối với nguồn vốn 50

2.2.2 Đối với tăng trưởng 52

2.2.3 Đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế 54

2.2.4 Đối với thị trường xuất nhập khẩu 56

2.2.5 Đối với chuyển giao công nghệ 57

2.2.6 Đối với giải quyết việc làm 58

Trang 4

v

2.2.7 Tính lan toả toàn cầu 61 2.2.8 Đối với chính trị 63 2.2.9 Đối với môi trường 64 2.3 ĐÁNHGIÁHOẠTĐỘNGFDICỦATNCSHOAKỲỞVIỆTNAM 66 2.3.1 Những kết quả đạt được 66 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 71 2.3.3 Một số vấn đề đặt ra trong hoạt động FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam 78 CHƯƠNG 3:ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA 81 HOA KỲ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 81 3.1 TRIỂNVỌNGVÀĐỊNHHƯỚNGTHUHÚTFDICỦATNCSHOA

KỲVÀOVIỆTNAM 81 3.1.1 Triển vọng thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ vào Việt Nam 81 3.1.2 Định hướng thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ vào Việt Nam 84 3.2 MỘTSỐGỢIÝVỀMẶTCHÍNHSÁCHNHẰMTĂNGCƯỜNGTHUHÚTVÀSỬDỤNGFDITỪTNCSHOAKỲVÀOVIỆTNAM

TRONGTHỜIGIANTỚI 89 3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư 89 3.2.2 Đổi mới công tác quảng bá và xúc tiến đầu tư đối với TNCs Hoa

Kỳ 98 3.2.3 Tạo lập các đối tác liên kết có hiệu quả với TNCs Hoa Kỳ 101 3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam 102 KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 5

i

DANH MỤC CÁC Kí HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

01 ASEAN Hiệp hội cỏc quốc gia Đụng Nam Á

02 BTA Hiệp định Thương mại Song phương

03 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

04 CNTT Cụng nghệ thụng tin

05 ĐTNN Đầu tư nước ngoài

07 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

08 FPI Đầu tư giỏn tiếp nước ngoài

09 GDP Tổng thu nhập quốc dõn

10 HĐTM Hiệp định thương mại

11 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

12 JETRO Tổ chức xỳc tiến thương mại Nhật Bản

13 KH-CN Khoa học - Cụng nghệ

14 M&A Mua bỏn và Sỏp nhập

15 MNC Cụng ty đa quốc gia

16 MOFA Chi nhỏnh nước ngoài cú sở hữu đa số

17 OECD Tổ chức Hợp tỏc và Phỏt triển Kinh tế

18 R&D Nghiờn cứu và phỏt triển

19 TNCs Cỏc cụng ty xuyờn quốc gia

20 TNHH Trỏch nhiệm hữu hạn

21 TP HCM Thành phố Hồ Chớ Minh

22 UNCTAD Hội nghị Liờn Hiệp Quốc về Thương mại và Phỏt triển

23 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 6

03 2.3 Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam,

phân theo địa phương

48

04 2.4 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện của

Hoa Kỳ trước và sau khi có Hiệp định Thương mại

51

05 2.5 Cơ cấu kinh tế Việt Nam qua các năm 54

Trang 8

iv

DANH MỤC CÁC HỘP

01 2.1 Công ty Hoa Kỳ cung cấp thiết bị điện cho lưới

truyền tải điện quốc gia

55

02 2.2 Doanh nghiệp Hoa Kỳ đào tạo nhân lực công nghệ

thông tin

59

04 2.4 Bộ Giáo dục – Đào tạo, Đại sứ quán Hoa Kỳ và

Công ty Intel Products Vietnam (Intel) hợp tác đào tạo cho đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật

68

05 2.5 Hoa Kỳ cam kết hỗ trợ Việt Nam chống biến đổi khí

hậu

69

06 2.6 Các công ty Mỹ lách thuế như thế nào? 71

07 2.7 Hãng dầu khí Mỹ muốn rút vốn khỏi dự án ở biển

Đông

73

08 2.8 FDI từ Mỹ có thể gặp rắc rối vì “phí bôi trơn" 79

09 3.1 Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng gặp gỡ đoàn đại biểu Hội

đồng kinh doanh ASEAN – Hoa Kỳ

82

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá và tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ (KH – CN), hoạt động của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đã và đang có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) của các nước đang phát triển Có thể nói, TNCs là chủ thể, là vật truyền dẫn dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và kỹ thuật từ các trung tâm phát triển ra các vùng ngoại vi của thế giới

Hoa Kỳ là một nước công nghiệp hàng đầu thế giới TNCs Hoa Kỳ có tiềm lực kinh tế mạnh với ưu thế về vốn, KH – CN, thị trường… là những đối tác đầu tư lớn Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Đảng và nhà nước, Việt Nam đã có những cơ hội tốt trong việc thu hút FDI từ TNCs của Hoa Kỳ Tuy nhiên, số lượng TNCs Hoa Kỳ hoạt động ở Việt Nam còn rất ít Trong khi đó, các nước khác trong khu vực như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan đã thu hút được khá nhiều TNC của Hoa Kỳ Phần lớn TNCs của Hoa Kỳ hoạt động ở Việt Nam hiện nay vẫn đầu tư cầm chừng và còn chờ đợi nhiều vào sự thay đổi môi trường đầu tư cũng như sức mua của thị trường Hiện trạng này đã đặt ra nhiều câu hỏi: Tình hình thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam thời gian qua như thế nào? TNCs Hoa Kỳ có những lợi thế và bất lợi gì so với TNCs khác đang hoạt động đầu tư tại Việt Nam? Những nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả: hạn chế của họ hay cản trở từ phía các chính sách của Việt Nam? Có hay không mặt trái của việc thu hút FDI từ TNCs Hoa Kỳ? Để thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ, cần phải có những giải pháp như thế nào?

Trang 10

2

Với những tiến triển mới trong quan hệ hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ, những động thái mới của môi trường đầu tư trong khu vực, cần nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách khách quan và đề xuất những giải pháp hữu hiệu

để thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam trong thời gian tới Với những

yêu cầu đó, tác giả chọn đề tài: “Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu

Xung quanh chủ đề FDI của TNCs đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, bài viết được đăng tải như:

- Nguyễn Ngọc Diên, Bùi Thanh Sơn, Nguyễn Thái Yên Hương, Phạm Lan

Phương, Hoàng Bình (1996), Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia

ở các nước đang phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Cuốn sách này chủ yếu nghiên cứu tình hình đầu những năm 90 thế kỷ

XX và không có liên hệ gì đối với Việt Nam

- Nguyễn Thiết Sơn (1999), Các công ty xuyên quốc gia và đầu tư trực tiếp

nước ngoài, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 6

- Tống Quốc Đạt (2002), Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 10

- Phạm Hồng Tiến (2005), Hoạt động FDI của các công ty xuyên quốc gia trong hơn 1 thập kỷ qua, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới số 12

- Đỗ Đức Bình (2005), Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Lê Mạnh Tùng (2006), Cơ hội, thách thức đối với các công ty xuyên quốc gia khi đầu tư vào Việt Nam và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Khoa học chính

trị số 1

Trang 11

3

- Đinh Trung Thành (2006), Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia, Tạp chí Báo

chí và tuyên truyền số 9

- Đậu Văn Dũng (2006), Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam,

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Đại học quốc gia Hà Nội

- Phạm Quốc Trung (2007), “Triển vọng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam đến 2010”, Tạp chí Kinh tế và

Các công trình trên đã đề cập toàn diện và sâu sắc về TNCs nói chung

và TNCs của Hoa Kỳ, Nhật, Châu Âu, các nước NIE Châu Á nói riêng Tuy nhiên, phần thực trạng chưa đi sâu phân tích vào từng trường hợp cụ thể của TNCs của từng nước Các công trình trên cũng đề cập đến quan điểm và giải pháp của Việt Nam trong việc thu hút TNCs Tuy nhiên, những giải pháp được các công trình này đưa ra mang tính chung cho tất cả TNCs trên thế giới chứ không chỉ riêng TNCs của Hoa Kỳ

- Đinh Trung Thành (2009), Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị -

Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Công trình trên tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị về FDI của TNCs Nhật Bản ở Việt Nam Do TNCs Nhật Bản và TNCs Hoa Kỳ có những đặc điểm riêng biệt nên những giải pháp đưa ra cũng cần phải khác nhau

- Nguyễn Thúy Hòa (2003), Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ vào Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Đại học quốc gia Hà Nội

Trang 12

4

- Nguyễn Xuân Trung (2006), Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ

và vấn đề đặt ra với Việt Nam, Tạp chí Châu Hoa Kỳ ngày nay số 11

Các công trình trên tiếp cận dưới những góc độ lý luận của chuyên ngành kinh tế chính trị và chưa đi sâu phân tích, đánh giá toàn diện về thực trạng FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam Thêm vào đó, Hoa Kỳ vừa phải chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế, trong khi môi trường thu hút đầu tư ở Việt Nam hiện nay cũng có những thay đổi nhất định trong điều kiện Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO Vì vậy, cần có những giải pháp phù hợp với điều kiện phát triển mới nhằm thu hút đầu tư của TNCs Hoa Kỳ vào Việt Nam

Như vậy, cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về FDI của TNCs nói chung và FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam nói riêng Những công trình đó đã đưa lại nhiều giá trị lý luận và thực tiễn làm cơ sở khoa học cho chủ trương thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ trong việc phát triển kinh tế -

xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

đầy đủ, hệ thống và chuyên sâu về FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam trong

giai đoạn từ 2001 đến nay Vì vậy, nghiên cứu đề tài này không trùng với bất

kỳ công trình khoa học nào đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích làm rõ thực trạng đầu tư trực tiếp của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thu hút nguồn vốn FDI của TNCs Hoa Kỳ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm, tiềm năng của TNCs Hoa Kỳ trong hoạt động đầu tư trực tiếp

Trang 13

- Đánh giá triển vọng FDI của TNCs Hoa Kỳ vào Việt Nam thời gian tới và

đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu chủ yếu từ năm 2001 đến nay, tức là từ khi Hiệp định thương mại (HĐTM) song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, đã góp phần đưa quan hệ đầu tư và thương mại song phương giữa hai nước lên tầm cao mới

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo Các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu tình huống của một số công ty cụ thể cũng được

sử dụng kết hợp trong quá trình nghiên cứu

Luận văn sử dụng các nguồn thông tin và dữ liệu từ Niên giám thống

kê, sách báo, bài nghiên cứu của một số tổ chức quốc tế và các cơ quan khác

6 Đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ đặc thù của TNCs Hoa Kỳ trong hoạt động đầu tư trực tiếp ở Việt Nam

- Làm rõ những thành công và hạn chế trong thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ thời gian qua

- Đề xuất những giải pháp nhằm thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ

Trang 14

6

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp của các công

ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam

- Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam

- Chương 3: Định hướng và một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 15

7

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA HOA KỲ Ở VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

1.1.1.1 Khái niệm

Khái niệm FDI đã được nhiều tổ chức kinh tế quốc tế đưa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hoá thương mại, đầu tư quốc tế, phân loại và sử dụng trong công tác thống kê quốc tế

Khái niệm về FDI được chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay do Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra dựa

trên khái niệm về cán cân thanh toán Theo IMF thì: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp” [7, tr100] Khái niệm này nhấn mạnh

đến tính lâu dài trong hoạt động đầu tư và động cơ của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và mở rộng thị trường Đây là sự phân biệt giữa FDI và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) trên thị trường vốn trong nền kinh tế hiện đại

OECD cũng đưa ra định nghĩa về FDI tương tự như IMF Tuy vậy, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tư nước ngoài Theo quan điểm của

OECD, “nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân hoặc tổ chức có thể thuộc cơ quan Chính phủ hoặc không thuộc cơ quan Chính phủ đầu tư tại nước ngoài”

[10, tr49]

Trang 16

8

Uỷ ban Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đã

đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi

nghĩa này có hai đặc trưng là quyền kiểm soát và lợi ích khống chế Về quyền kiểm soát thì hầu như đã đạt được sự nhất trí của các nhà nghiên cứu về FDI; còn lợi ích khống chế thì đang có những ý kiến khác nhau, nhưng hiện nay nhiều người đã thừa nhận rằng một công ty nước ngoài có tỷ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu 10% thì có ảnh hưởng nhất định đến quyền kiểm soát doanh nghiệp, tác động đến chiến lược kinh doanh và quản trị doanh nghiệp

Trong khái niệm FDI này, các tác giả nhấn mạnh mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư đến việc quản lý các doanh nghiệp đặt tại các nền kinh tế khác Chẳng hạn như đầu tư bao hàm công việc quản lý kinh doanh ban đầu giữa hai bên và công việc quản lý kinh doanh sau đó giữa chúng cũng như giữa các chi nhánh nước ngoài, bao gồm cả các chi nhánh đã hợp thành tổ chức hay không có tính chất pháp nhân FDI cũng có thể được thực hiện bằng các cá nhân, cũng có thể thực hiện bởi các doanh nghiệp

Tương tự như vậy, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đưa ra

định nghĩa về FDI như sau: “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong trường hợp chủ đầu tư là doanh nghiệp ở nước đầu tư thì được gọi là “công ty mẹ” và

Trang 17

9

các tài sản đầu tư ở nước nhận đầu tư được gọi là “công ty con” hay “chi

Hoa Kỳ - một trong những nước tiếp nhận đầu tư và tiến hành đầu tư lớn nhất

trên thế giới - cũng đưa ra định nghĩa về FDI là: “Sự sở hữu hoặc kiểm soát, trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi một cá nhân hay tổ chức nước ngoài với 10% cổ phần trở lên trong doanh nghiệp có tính pháp nhân hoặc lãi suất tương đương trong doanh nghiệp không có tính pháp nhân” Có thể nhận biết FDI

theo quan điểm của Hoa Kỳ [21]

Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam năm 1996 định nghĩa:

“FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất

kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” [4, tr8]

Khác với Luật ĐTNN năm 1996, Luật Đầu tư 2005 đã đưa ra định

nghĩa ĐTNN như sau: “ĐTNN là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” [5, tr10]

Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2005 lại không đề cập cụ thể đến khái niệm FDI, FPI

mà chỉ đưa ra khái niệm đầu tư trực tiếp Theo đó, khái niệm này được hiểu

như sau: “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và than gia quản lý hoạt động đầu tư” [5, tr8]

Nghị định 78/2006/NĐ-CP quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

chỉ rõ: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư

ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài” [26]

Các khái niệm khác nhau về FDI đều thống nhất ở các điểm như: FDI

là hình thức đầu tư quốc tế, cho phép các nhà đầu tư tham gia điều hành hoạt động đầu tư ở nước tiếp nhận đầu tư tuỳ theo mức góp vốn của nhà đầu tư Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, quyền sở hữu gắn liền với quyền sử dụng

Trang 18

1.1.1.2 Đặc điểm

Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích đầu tư hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư thông qua di

chuyển vốn (bằng tiền, tài sản, công nghệ và trình độ quản lý của nhà đầu tư

nước ngoài) từ nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư Nhà đầu tư ở đây

bao gồm tổ chức hay cá nhân chỉ mong muốn đầu tư khi cho rằng khoản đầu

tư đó có thể đem lại lợi ích hoặc lợi nhuận cho họ Đây là một trong những đặc điểm cơ bản nhất và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hình thành hoạt động FDI giữa các quốc gia Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư

Ngoài ra, FDI còn có một số đặc điểm như sau:

- FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua

cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập các doanh nghiệp lại với nhau

- Nguồn vốn FDI bao gồm vốn góp để hình thành vốn pháp định, vốn

vay hoặc vốn bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp để triển khai mở rộng dự

án Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn

Trang 19

11

pháp định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa

vào tỷ lệ này

- Chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành hoặc tham gia quản lý và

điều hành quá trình thực hiện vận hành dự án đầu tư tuỳ theo tỷ lệ góp vốn Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành hoặc thuê người quản lý điều hành

- Việc tiếp nhận FDI không làm tăng nợ cho nước tiếp nhận đầu tư mà

ngược lại, FDI tạo điều kiện để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước Thông qua hoạt động FDI, nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp thu khoa học công nghệ, bí quyết kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm tổ chức quản

lý hiện đại của nước đi đầu tư hoặc nước đi đầu tư sẽ tận dụng được sự ưu tiên, điều kiện thuận lợi mà nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp dành cho mình để phát huy lợi thế về nguồn nhân lực trình độ cao, phương tiện đầu tư… mà khi đầu tư trong nước sẽ không có được Đối với nước đi đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho doanh nghiệp thay đổi được dây chuyền công nghệ lạc hậu ở nước mình nhưng dễ được chấp nhận ở nước có trình độ phát triển thấp hơn và góp phần kéo dài chu kỳ sản xuất

- Lợi nhuận thu được từ kết quả hoạt động đầu tư, lãi hoặc lỗ được

phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã trừ đi thuế lợi tức

và các khoản đóng góp khác cho nước tiếp nhận đầu tư theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư

Trang 20

12

- FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách về FDI của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính sách mở và quan điểm hội nhập quốc tế về đầu tư

1.1.2 Đặc điểm của TNCs Hoa Kỳ

Nói đến TNCs là nói đến những công ty độc quyền lớn, có quá trình sản xuất kinh doanh vượt ra khỏi biên giới quốc gia và có quan hệ kinh tế chặt chẽ với nhiều nước, thông qua việc thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài

Trong lịch sử phát triển của các mô hình sản xuất - kinh doanh, các công ty như vậy được gọi với nhiều tên khác nhau: công ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia, công ty siêu quốc gia; hay gọi chung là

các công ty quốc tế (international corporations) Tuy nhiên, khi phân tích kỹ

hơn, người ta chủ yếu quan tâm đến tính chất sở hữu và tính quốc tịch của tư bản: vốn đầu tư - kinh doanh là của ai, ở đâu, thì khái niệm công ty xuyên

quốc gia (transnational corporation - TNC) và đa quốc gia (multinational corporation - MNC) được sử dụng thường xuyên hơn Nếu là TNC thì tập

đoàn lãnh đạo, quản lý công ty thuộc về các nhà tư bản của một nước Còn nếu là MNC thì Ban lãnh đạo công ty gồm các nhà đầu tư có cổ phần thuộc nhiều nước khác nhau Sự phân định này chủ yếu vẫn căn cứ vào công ty mẹ, chứ không căn cứ vào các chi nhánh [6]

Trên thực tế, trong số 500 công ty lớn nhất thế giới năm 2010 do Tạp chí Fortune bầu chọn (Fortune Global 500), chỉ có 2 công ty (chiếm 0,4%) thuộc sở hữu của hai nước, đó là Unilever (của Anh và Hà Lan) và Ageas (của

Bỉ và Hà Lan) Số còn lại, tới hơn 99% thuộc sở hữu chỉ của một nước Như vậy, tính chất đa quốc gia của các công ty mẹ là rất thấp, có thể vì vậy, thuật

ngữ “đa quốc gia” ít được sử dụng, mà hay dùng thuật ngữ “xuyên quốc gia” hơn Vì vậy, luận văn này cũng thiên về sử dụng thuật ngữ “xuyên quốc gia”

Tuy nhiên, đây chỉ là cách gọi với những công ty mang tính chất toàn cầu như

Trang 21

13

vậy Ngay với Hoa Kỳ, trong các báo cáo của Bộ Thương mại, các công ty mẹ của Hoa Kỳ đều thuộc sở hữu của riêng Hoa Kỳ nhưng họ vẫn dùng cụm từ

đa quốc gia (multinational corporation) để chỉ các công ty này Ở đây, có thể

họ quan niệm tính chất đa quốc gia gồm cả các chi nhánh Mặc dù vậy, cả hai cách gọi trên đều không ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu của luận văn này Trên thực tế, cả hai thuật ngữ được sử dụng song song với nhau Vấn đề cơ bản là phải thấy được sự phân biệt về bản chất của những công ty như chủ sở hữu hay phạm vi hoạt động…

UNCTAD đã nêu định nghĩa như sau: “Công ty xuyên quốc gia (TNC)

là những công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hoặc vô hạn bao gồm các công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài của chúng Các công ty mẹ là các công ty kiểm soát tài sản của các thực thể kinh tế khác ở nước ngoài, thông qua việc góp vốn tư bản cổ phần của mình Mức góp vốn cổ phần thường phải

từ 10% hoặc cao hơn, các loại cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu có quyền biểu quyết đối với loại công ty TNHH, hoặc tương đương với công ty trách nhiệm

vô hạn, thường được xem như là mức ngưỡng đối với quyền kiểm soát tài sản của các công ty khác Còn các chi nhánh nước ngoài (công ty con) là các công ty TNHH hoặc vô hạn, trong đó chủ đầu tư là người sống ở nước khác,

có mức góp vốn cho phép có được lợi ích lâu dài trong việc quản lý công ty đó” [12, tr14]

Trong các báo cáo về hoạt động của các công ty xuyên quốc gia, Bộ

thương mại Hoa Kỳ sử dụng định nghĩa: “Công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ gồm công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài của nó Công ty mẹ là người cư trú ở Hoa Kỳ, có sở hữu hoặc điều hành 10% hoặc lớn hơn số cổ phiếu có quyền biểu quyết, hoặc tương đương của doanh nghiệp có kinh doanh ở nước ngoài “Người” ở đây được định nghĩa bao gồm mọi cá nhân, ngành, công ty, tập đoàn, hiệp hội, tờ rớt, hoặc các tổ chức khác, hoặc các đơn vị của chính

Trang 22

14

phủ Nếu là công ty sáp nhập, công ty mẹ của Hoa Kỳ là tổng thể công ty Hoa

Kỳ thống nhất gồm: 1/ Công ty Hoa Kỳ có số cổ phiếu có quyền biểu quyết không bị công ty Hoa Kỳ khác chiếm quyền sở hữu trên 50% 2/ Nếu quyền sở hữu của các công ty Hoa Kỳ trong đó bị giảm đi thì công ty Hoa Kỳ đó không

bị các công ty Hoa Kỳ khác chiếm hơn 50% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty Các công ty mẹ của Hoa Kỳ cũng có các hoạt động kinh doanh nội địa ở Hoa Kỳ Các chi nhánh nước ngoài, là các công ty kinh doanh ở nước ngoài có đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ, trong đó, người Hoa Kỳ sở hữu hoặc kiểm soát (trực tiếp hoặc gián tiếp) 10% hoặc lớn hơn số cổ phiếu có quyền biểu quyết hoặc tương đương Các chi nhánh nước ngoài bao gồm cả các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia Hoa

Kỳ, trong đó các công ty mẹ có những tác động nhất định về mặt quản lý Đối với những chi nhánh ở nước ngoài có trên 50% vốn do công ty mẹ sở hữu thì

Hoa Kỳ là một nền kinh tế lớn, và cũng là quốc gia có nhiều công ty lớn nhất, đây là những công ty có tiềm lực tài chính mạnh, hoạt động rộng khắp thế giới… Vì vậy, các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ có những đặc trƣng rất riêng

về doanh thu năm 2010 thì Hoa Kỳ có 139 công ty, Nhật Bản có 71 công ty, Trung Quốc có 46 công ty, Pháp có 39 công ty, Đức có 37 công ty còn Anh

có 30 công ty… Những vị trí đứng đầu phần lớn đều thuộc về các công ty

Trang 23

15

Hoa Kỳ như Wal-Mart Stores, Exxon Mobil, Chevron, General Electric… [39]

VÒ doanh thu, năm 2009, doanh số bán hàng của các công ty mẹ Hoa

Kỳ đạt 7.819 tỷ USD còn của các MOFA Hoa Kỳ là 4.885 tỷ USD [22] Trong công bố mới nhất của Fortune, năm 2010, tổng doanh thu của 500 công

ty lớn nhất Hoa Kỳ (Fortune 500) là vào khoảng 10.800 tỷ USD, tăng 10,5%

và chiếm gần 73,85% tổng thu nhập quốc dân (GDP) của nước này [54]

Về chi phí vốn đầu tư, năm 2009, tổng chi phí vốn đầu tư bởi TNCs

Hoa Kỳ trên toàn thế giới đạt 544 tỷ USD Chi phí vốn đầu tư ở Hoa Kỳ bởi các công ty mẹ Hoa Kỳ là 395 tỷ USD còn chi phí vốn đầu tư ở nước ngoài bởi các MOFA là khoảng 150 tỷ USD Tỷ lệ chi phí vốn đầu tư của các công

ty mẹ Hoa Kỳ so với chi phí vốn đầu tư của TNCs Hoa Kỳ trên toàn thế giới

là 73%, không thay đổi so với năm trước đó [22]

nhất Trong số 50 công ty có lợi nhuận cao nhất năm 2010, Hoa Kỳ có 21 công ty, Trung Quốc có 6 công ty, Anh có 5 công ty, Pháp có 3 công ty, Đức

có 2 công ty… [39]

TNCs Hoa Kỳ trên toàn thế giới là khoảng 31,1 triệu người Tại Hoa Kỳ, số lượng người lao động làm việc cho các công ty mẹ Hoa Kỳ là khoảng 21,1 triệu người, chiếm gần 1/5 tổng số người lao động trong các lĩnh vực công nghiệp tư nhân tại nước này Số lượng người lao động làm việc cho các MOFA của TNCs Hoa Kỳ là khoảng 10,3 triệu người Tỷ lệ lao động do các công ty mẹ Hoa Kỳ tuyển dụng tại Hoa Kỳ so với tổng số lao động mà TNCs

Hoa Kỳ tuyển dụng trên toàn thế giới là 67% [22] Năm 2010, các công ty

Hoa kỳ là những công ty tuyển nhiều lao động vào làm việc nhất Trong danh sách 50 công ty lớn nhất về lao động, Hoa Kỳ có 14 công ty (bằng Trung

Trang 24

16

Quốc), Đức có 7 công ty, Pháp có 4 công ty, Anh và Nhật có 3 công ty… Công ty Hoa kỳ đứng đầu danh sách trên là Wal-Mart Stores với 2.100.000 người [39]

1.1.2.2 Về hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D)

TNCs Hoa Kỳ là những công ty có thế mạnh về công nghệ Họ luôn coi hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ là những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm bảo vệ vị trí cao của mình trên thế giới Trong danh sách Top

100 thành tựu nghiên cứu và phát triển có tính chất đột phá hàng năm do Tạp chí R&D bình chọn, luôn có sự hiện diện của TNCs Hoa Kỳ Năm 2010, một

số TNC Hoa Kỳ có trong danh sách này là IBM, Intel, 3M… [59] Hàng năm, TNCs Hoa Kỳ đã chi một lượng vốn khổng lồ cho các hoạt động R&D

Do đặc điểm của hoạt động này cần nhiều vốn, quy mô lớn và mang tính tập trung cao nên nó được tiến hành chủ yếu ở các công ty mẹ Theo số liệu mới nhất của Cục Phân tích Kinh tế - Bộ Thương mại Hoa Kỳ, năm 2008, chi tiêu vào hoạt động R&D của TNCs Hoa Kỳ phi ngân hàng là 236,1 tỷ USD Trong

đó, chi tiêu bởi các công ty mẹ Hoa Kỳ là 199,1 tỷ USD (chiếm khoảng 84%) còn chi tiêu bởi các chi nhánh nước ngoài là 37 tỷ USD (chiếm 16%) [9, tr212] Hiện nay, TNCs Hoa Kỳ tập trung cao vào các ngành hiện đại, có khả năng sản xuất lớn, và có tính cạnh tranh cao trên thị trường

Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của TNC sang nước chủ nhà qua hình thức 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh có phần lớn vốn nước ngoài Nhìn chung, TNCs Hoa Kỳ cũng hạn chế chuyển giao công nghệ mới, có tính cạnh tranh cao cho các chi nhánh của chúng ở nước ngoài vì sợ bị lộ bí mật công nghệ hoặc mất bản quyền, hoặc cũng có thể nước nhận đầu tư chưa sẵn sàng Tuy nhiên chuyển giao công nghệ giữa các chi nhánh của các công ty Hoa Kỳ đã tăng nhanh trong những năm gần đây TNCs Hoa Kỳ thường chỉ chuyển giao công nghệ cao cho các

Trang 25

17

nước phát triển và công nghệ thấp hơn (lạc hậu) cho các nước đang phát triển

Vì vậy, các nước đang phát triển cần có chiến lược đúng đắn để nhận chuyển giao công nghệ vì sự phát triển chung của nền sản xuất trong nước

1.1.2.3 Về mô hình tổ chức và hoạt động

TNCs Hoa Kỳ có mô hình tổ chức điển hình và hoạt động rộng khắp thế giới Chúng luôn được cấu tạo bởi một công ty mẹ ở Hoa Kỳ và những công ty con, cắm nhánh ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Hoạt động của TNCs Hoa Kỳ chủ yếu tập trung ở Hoa Kỳ, bởi các công ty mẹ chứ không phải ở các chi nhánh nước ngoài Các công ty chi nhánh chỉ cần có 10% sở hữu của phía Hoa Kỳ đã được coi là công ty con Trên thực tế, có trên 80% số công ty con ở nước ngoài của Hoa Kỳ là các MOFA TNCs Hoa Kỳ chủ yếu đặt chi nhánh ở các nước có thu nhập cao vì có cấu trúc kinh tế tương đồng với Hoa Kỳ và cũng nhằm để gia tăng mức độ cạnh tranh toàn cầu bằng cách hướng tới phục vụ các khách hàng nước ngoài

Những hình thức tổ chức chủ yếu của TNCs Hoa Kỳ hiện nay là concern và conglomerate Đây là những hình thức thích ứng được với quá trình kinh doanh hiện đại Thực tế hoạt động của TNCs Hoa Kỳ cho thấy ít có công ty nào thuần túy được tổ chức theo kiểu concern hay conglomerate mà cách tổ chức hoạt động của chúng có những nét tương đồng, đan xen, phụ thuộc vào điều kiện hoạt động cụ thể để áp dụng các biện pháp tổ chức, quản

lý cho phù hợp với khả năng phát triển của mình Cách thức tổ chức hoạt động của công ty còn phù thuộc vào khả năng, trình độ của các nhà quản lý

của công ty, của hệ thống nghiên cứu, quản lý sản phẩm, thị trường

1.1.3 Sự cần thiết phải thu hút đầu tư trực tiếp từ TNCs Hoa Kỳ

1.1.3.1 Về mặt khách quan

Thứ nhất, tác động của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 26

18

FDI là một xu hướng tất yếu khách quan trong điều kiện hội nhập kinh

tế quốc tế hiện nay Thế giới đã, đang và sẽ phát triển theo xu thế mở cửa, hội nhập sâu hơn vào quan hệ kinh tế quốc tế, điều này đã biến nền kinh tế thế giới trở thành một mạng lưới rộng lớn, trong đó mỗi quốc gia đóng vai trò là một mắt lưới không thể thiếu và các quốc gia phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Toàn cầu hoá kinh tế là một hiện tượng thực tế đang ngay càng hiển hiện và lan toả khắp thế giới cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Xu thế toàn cầu hoá kinh tế tạo ra khả năng tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế, sử dụng hiệu quả nguồn lực thế giới thông qua đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Với dòng chu chuyển vốn, công nghệ và sự tăng lên mạnh mẽ của quy mô đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các quốc gia có cơ hội mở rộng sản xuất, tạo ra nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động, góp phần thúc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, đảm bảo sự ổn định

xã hội

Thứ hai, sự phát triển kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới là không đồng đều, khả năng khai thác các lợi thế vốn có của các quốc gia là không giống nhau

Các quốc gia phát triển đã và đang khai thác các thế mạnh của mình về vốn đầu tư lớn, trình độ khoa học công nghệ hiện đại, phát triển ở mức cao nên có thể chiếm lĩnh và phát huy hiệu quả ở các quốc gia đang phát triển Còn các quốc gia đang phát triển có lợi thế để phát huy ở các nước phát triển

là môi trường kinh doanh ở các nước này rộng lớn khiến cho nhiều lĩnh vực đầu tư còn bị bỏ ngỏ; chi phí để thực hiện một số lĩnh vực đầu tư đối với họ còn tương đối cao so với các quốc gia đang phát triển khi các quốc gia này trực tiếp thực hiện chúng hoặc lợi nhuận biên cao hơn so với khi thực hiện ở

Trang 27

19

chính quốc Ví dụ: Hoa Kỳ là quốc gia đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhiều nhất thế giới, đồng thời cũng là quốc gia nhận đầu tư nước ngoài nhiều nhất

Thứ ba, hiện nay các quốc gia vừa hợp tác vừa cạnh tranh trong quan

hệ kinh tế quốc tế, nhất là trong hoạt động FDI

Các nước phát triển cũng như đang phát triển đã và đang nhận thức được tầm quan trọng của xu hướng hợp tác và cạnh tranh trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để khai thác và tận dụng xu hướng này nhằm mục tiêu mở rộng hoạt động đầu tư tăng lợi nhuận Trong nền kinh tế thế giới hiện nay với những lợi thế so sánh ở từng quốc gia, xuất hiện hiện tượng chuyên môn hoá nhằm thực hiện công việc một cách có hiệu quả nhất Khi các quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, mỗi quốc gia đảm nhận một vai trò mà mình có thế mạnh và để tận dụng được tối đa các lợi thế của các nước thì họ liên kết, hợp tác kinh tế giữa các nước nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đang ngày một khan hiếm, đồng thời vừa phát triển đất nước một cách toàn diện

Mặt khác, trong quá trình phát triển quốc gia nào cũng mong muốn được phát triển vượt trội, thu hẹp khoảng cách với các quốc gia tiên tiến khác, cạnh tranh với nhau để sao cho nước mình thu được nhiều lợi ích nhất Mong muốn này không những góp phần đắc lực giúp cho một quốc gia phát triển mà

vô hình chung giúp cho nền kinh tế thế giới có những bước tiến dài trong quá trình tồn tại và phát triển Bởi vậy, thu hút đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là xu thế tất yếu khách quan và cần thiết để các quốc gia đang phát triển tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, khai thác có hiệu quả hơn các lợi thế của mình trên con đường phát triển đất nước, tránh tụt hậu về kinh tế, xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu

1.1.3.1 Về mặt chủ quan

Trang 28

Thứ nhất, thu hút đầu tư trực tiếp từ TNCs Hoa Kỳ giúp bổ sung nguồn vốn phát triển kinh tế - xã hội

Thu hút TNCs Hoa Kỳ sẽ đem lại cho Việt Nam cơ hội tiếp cận với nguồn tài chính lớn phục vụ cho công nghiệp hóa, điều mà Việt Nam rất cần hiện nay Theo tính toán sơ bộ, Việt Nam cần khoảng 300 tỷ USD đầu tư cho phát triển giai đoạn 2011-2015 [53] Việc huy động nguồn vốn nước ngoài đóng vai trò quan trọng và đích nhắm của Việt Nam là TNCs lớn trên thế giới

và TNCs Hoa Kỳ Để thu hút FDI của TNCs Hoa Kỳ, Việt Nam cần chú ý đến chất lượng đầu tư chứ không phải chỉ số lượng đầu tư Từ đó, việc TNCs Hoa Kỳ vào Việt Nam sẽ đảm bảo rằng đó là những dự án hiệu quả cao đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

Thứ hai, thu hút đầu tư trực tiếp từ TNCs Hoa Kỳ giúp nâng cao năng lực khoa học công nghệ

TNCs Hoa Kỳ là những công ty nắm giữ phần lớn công nghệ nguồn của thế giới Với lợi thế lớn về trình độ công nghệ cao và phát triển mạng lưới R&D rất mạnh mẽ ở các chi nhánh nước ngoài, TNCs Hoa Kỳ đầu tư xây dựng các nhà máy, cơ sở sản xuất lắp ráp, qua đó chuyển giao công nghệ cho Việt Nam Việc thu hút TNCs Hoa Kỳ sẽ tranh thủ được các công nghệ cao của họ, giúp cho Việt Nam có bước chuyển giao công nghệ nhanh hơn, có thể

đi tắt đón đầu thành công

Trang 29

đó tỷ lệ tái đầu tư cũng có cơ sở để gia tăng

Thứ tư, thu hút đầu tư trực tiếp từ TNCs Hoa Kỳ tạo tác động lan toả

Việc thu hút TNCs Hoa Kỳ vào Việt Nam mang lợi ích lâu dài TNCs Hoa Kỳ là những TNCs lớn, khi họ đầu tư vào Việt Nam sẽ kéo theo các công

ty khác đi theo nhằm cung cấp các phụ kiện Điều này sẽ nhanh chóng đưa ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam phát triển TNCs Hoa Kỳ vào Việt Nam còn được coi như những sứ giả đi đầu mở đường phát triển quan hệ kinh

tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ - là đối tác lớn mà Việt Nam mong muốn hợp tác Việc TNCs lớn của Hoa Kỳ vào Việt Nam cũng làm nhiều nhà đầu tư công nghệ nguồn tin tưởng hơn và mạnh dạn hơn khi quyết định chọn Việt Nam làm điểm đến mới Nói như chủ tịch Phòng thương mại Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), Walter Blocker, nhân sự kiện Intel vào

Việt Nam: “Quyết định đầu tư vào Việt Nam của Intel là con dấu đảm bảo bằng vàng xác nhận Việt Nam là điểm đầu tư có đẳng cấp của thế giới Giờ đây, các công ty Hoa Kỳ cũng như các công ty nước ngoài nói chung chắc chắn sẽ coi Việt Nam là một quốc gia mà họ có thể đến và đầu tư công nghệ

Nam để cung cấp các phụ kiện cho Intel Như vậy, lợi ích của TNCs Hoa Kỳ

là kéo theo TNCs của các quốc gia khác, tạo tác động lan tỏa

Trang 30

22

Tuy nhiên, TNCs Hoa Kỳ không chú ý đến nguồn lao động rẻ của các nước nhận đầu tư mà chú ý nhiều đến sức mua và khả năng thị trường Đây là điều Việt Nam hết sức lưu ý nếu muốn thu hút TNCs Hoa Kỳ Từ lâu nay, Việt Nam vẫn dựa vào lợi thế nguồn lao động dồi dào, rẻ, để thu hút đầu tư nước ngoài thì điều này không phù hợp với TNCs Hoa Kỳ Nếu so sánh đầu

tư của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam với các nước trong khu vực, rõ ràng đầu tư của TNCs Hoa Kỳ còn chiếm tỷ lệ rất thấp Đây là một thách thức lớn mà Việt Nam cần khắc phục

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Những nhân tố chung ảnh hưởng tới hoạt động FDI của TNCs Hoa Kỳ ở Việt Nam

Xu thế vận động của thế giới và những thành tựu kỳ diệu về khoa học

và công nghệ đó mở ra những khả năng vô tận cho sản xuất và cuộc sống con người, đồng thời cũng đưa các nước đang phát triển đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước công nghiệp phát triển Việt Nam tuy mới ở giai đoạn đầu của quá trình mở cửa, hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực, nhưng qua thực tiễn có thể khẳng định rằng Việt Nam mở cửa, hội nhập quốc

tế là một xu thế tất yếu, phù hợp với xu thế chung của thời đại

Trong bối cảnh đó, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không nằm ngoài quy luật chung của thế giới Ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao chính thức với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tháng 8/1995, hai nước đã nâng cấp Văn phòng liên lạc lên thành Đại sứ quán Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã phát triển trên nhiều lĩnh vực Hai bên đã có nhiều cuộc tiếp xúc và trao đổi đoàn cấp cao: Tổng thống Clinton thăm Việt Nam (11/2000), Tổng thống Bush thăm Việt Nam (11/2006) và các vị lãnh đạo Việt Nam thăm Hoa Kỳ (Thủ tướng Phan Văn Khải - 6/2005, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết - 6/2007 và Thủ tướng

Trang 31

Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có bước tiến nổi bật vào ngày 13/7/2000, khi Hoa Kỳ và Việt Nam ký HĐTM Song phương (BTA) Hiệp định, có hiệu lực vào tháng 12/2001, không chỉ làm thay đổi một cách căn bản các mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ, thúc đẩy thương mại và đầu

tư, trợ giúp những cố gắng của Việt Nam trong việc tự do hoá nền kinh tế, mà còn đã thay đổi cả mối quan hệ song phương Hoa Kỳ trao cho Việt Nam Quy chế Quan hệ Thương mại Bình Thường (NTR)/Tối huệ quốc, làm giảm mức thuế trung bình đối với hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam từ khoảng 40% xuống còn 4% Năm 2003, Hoa Kỳ và Việt Nam ký Hiệp định Song phương

về Vận tải Hàng không đầu tiên bao gồm cả vận chuyển hàng hoá và hành khách Năm 2006, Hoa Kỳ trao quy chế Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam Năm 2007, hiện thực hoá cam kết của hai Chính phủ coi HĐTM Song Phương là bước đệm cho việc Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 11/1/2007 Sau đó, vào ngày 22/6/2007, Hoa Kỳ và Việt Nam

đã ký Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA) Năm 2008, Hoa Kỳ

và Việt Nam đàm phán Hiệp định Bầu trời mở dành cho vận chuyển hàng hoá Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu đối thoại về Hiệp định Đầu tư Song phương

Trang 32

24

(BIT) Năm 2010, cùng với 6 đối tác khác, Hoa Kỳ và Việt Nam khởi động đàm phán hiệp định tự do thương mại khu vực, Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), nền tảng tiềm năng cho việc hội nhập kinh tế giữa các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thúc đẩy các lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ và Việt Nam

Kể từ khi HĐTM có hiệu lực, thương mại hai chiều giữa hai nước tăng nhanh Năm 2009, Hoa Kỳ là nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam và thương mại hai chiều đạt mức 15,4 tỷ USD Thương mại song phương Hoa Kỳ - Việt Nam tăng hơn 3300% so với năm 1995! Kể từ khi bình thường hoá quan hệ,

số thành viên của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội và TP HCM tăng mạnh, đạt mức 900 công ty Năm 2009, bất chấp khủng hoảng kinh tế toàn cầu, xuất khẩu hàng hoá của Hoa Kỳ vào Việt Nam vẫn tăng 11%, xuất khẩu nông sản tăng 2,5%, đạt mức kỷ lục 1,05 tỷ USD Những bước tiến trong quan hệ kinh tế và đầu tư song phương của Việt Nam – Hoa Kỳ diễn ra đồng thời với quá trình chuyển đổi kinh tế mạnh mẽ của Việt Nam Thu nhập thực

tế của Việt Nam tăng trung bình 7,2%/năm trong thập kỷ qua và GDP bình quân đầu người tăng từ mức 220USD năm 1995 lên mức 1052USD năm

2009 Tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam giảm từ 59% năm 1993 xuống 12,3% năm

2009 Việt Nam là một trong những nước chuyển đổi nhanh nhất trên thế giới

và quan hệ kinh tế song phương Hoa Kỳ - Việt Nam, bằng nhiều hình thức,

đã góp phần tạo nên những chuyển biến này [33]

15 năm kể từ khi bình thường hoá quan hệ, tính đến năm 2010, quan hệ song phương giữa hai nước đã đạt được nhiều thành tựu Trong triển khai chính sách đối ngoại mới, Chính quyền Obama coi trọng hơn khu vực châu Á – Thái Bình Dương do vai trò ngày càng quan trọng của khu vực này, đồng thời coi trọng và tranh thủ nhiều hơn vai trò của Đông Nam Á và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tăng cường quan hệ với cả ASEAN

Trang 33

25

cũng như quan hệ và hợp tác với từng nước thành viên Trong bối cảnh như vậy, quan hệ hai nước vẫn tiếp tục được duy trì, hợp tác và đã tạo dựng được những nền tảng để xây dựng nên một quan hệ toàn diện và lâu dài, hỗ trợ cho những mục tiêu dài hạn của cả hai quốc gia Bên cạnh những điểm sáng trong hợp tác song phương, hai bên cũng đã và đang hợp tác tốt trên khuôn khổ đa phương như tại Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Phía Hoa Kỳ mong Việt Nam đóng góp tích cực trong ASEAN và đánh giá cao việc Việt Nam sẵn sàng hợp tác trong khuôn khổ tiểu vùng Mekong Cùng với việc gia tăng các mối quan hệ kinh tế, các hoạt động giáo dục, giao lưu văn hoá, du lịch cũng phát triển

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đạt được, hai bên vẫn còn có quan điểm khác biệt về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo Nhiều nhóm Việt kiều cực đoan ở Hoa Kỳ tiếp tục tìm cách vận động quốc hội Hoa Kỳ ra các

dự luật, nghị quyết "phê phán" tình hình nhân quyền ở Việt Nam và đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách "các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo" Ở quốc hội do Đảng Dân chủ kiểm soát, vấn đề gắn nhân quyền với

thương mại đang được một số nghị sỹ thúc đẩy, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới

đà phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ [20]

1.2.2 Những nhân tố thuộc Hoa Kỳ

Trong vài thập kỷ qua, lợi ích của TNCs Hoa Kỳ và chính phủ Hoa Kỳ

có sự giao thoa với nhau ở nhiều khía cạnh TNCs Hoa Kỳ nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ Hoa Kỳ để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận còn chính phủ Hoa

Kỳ lại coi TNCs như một phần quan trọng trong chính sách đối ngoại của

mình, nhằm duy trì vị trí số 1 trên thế giới [47]

1.2.2.1 Chính sách thóc ®Èy TNCs đầu tư ra nước ngoài của chính phủ Hoa Kỳ

Trang 34

26

Cơ chế chính sách đầu tư của Hoa Kỳ luôn hướng vào việc khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài (trừ trường hợp ảnh hưởng đến

an ninh quốc gia) Chính phủ Hoa Kỳ có 3 gói chính sách nhằm ủng hộ đầu tư

ra nước ngoài là: Chính sách Thuế Hoa Kỳ, Chính sách Tài chính và Bảo hiểm Đầu tư nước ngoài, Chính sách chống hoạt động chiếm đoạt tài sản tư nhân dùng vào mục đích công mà không có bồi thường Nhằm đảm bảo để mỗi nhà đầu tư Hoa Kỳ đều có thể mua bảo hiểm đặc biệt, và giúp đỡ TNCs phát hiện các rủi do chính trị nghiêm trọng ở các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước đã nhận sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, nay lại quay lại chiếm tài sản do Hoa Kỳ kiểm soát, mà không có bồi thường thiệt hại, Hoa Kỳ đã thành lập rất nhiều dịch vụ và các cơ quan hỗ trợ nhằm thúc đẩy TNCs đầu tư ra nước ngoài Bên cạnh các chính sách thương mại quốc tế, Hoa Kỳ có những tổ chức hỗ trợ đáng chú ý như:

- Ngân hàng xuất nhập khẩu (Exim Bank)

- Cơ quan phát triển quan hệ quốc tế (AID)

- Công ty đầu tư tư nhân ở nước ngoài (OPIC)

- Tổ chức thương mại và phát triển Hoa Kỳ (TDA)

Các nhà đầu tư tiến hành đầu tư ra nước ngoài theo chiến lược đầu tư của mình và chính phủ Hoa Kỳ không can thiệp vào chiến lược đó Các nhà đầu tư lấy cơ chế điều chỉnh và bảo hộ đầu tư làm chỗ dựa để tiến hành các hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Chính phủ Hoa Kỳ còn ký các hiệp định song phương với các đối tác như: Hiệp định bảo hộ đầu tư, HĐTM… và các Hiệp định đa phương khác Hầu hết các quy định về cơ chế chính sách đầu tư ra nước ngoài của Hoa Kỳ đều thực hiện theo những nguyên tắc của WTO Chính phủ cũng không hạn chế hoặc kiểm soát việc chuyển tiền ra nước ngoài mà chỉ quy định phải giải trình nguồn gốc và lý do việc chuyển tiền ra nước ngoài nÕu số lượng tiÒn

Trang 35

27

lín Như vậy, có thể thấy chính phủ Hoa Kỳ luôn có nhiều chính sách, biện pháp để thực hiện một mục đích quan trọng nhất là nhằm tạo lập một vị trí vững chắc cho mình trên trường quốc tế, đồng thời tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ hoạt động tại nước ngoài, tránh các rủi ro về chính trị hay thương mại

Tuy nhiên, pháp luật Hoa Kỳ nghiêm cấm các doanh nghiệp và cá nhân

có hành vi tham nhũng hoặc hối lộ ở nước ngoài Đồng thời, Hoa Kỳ còn có quy định Liên bang về xử phạt đối với các tổ chức có biểu hiện vi phạm đạo đức kinh doanh như đưa hối lộ, quảng cáo sai sự thật, lừa dối khách hàng Các

vi phạm này đều chịu hình phạt rất nặng Mặc dù vậy, Hoa Kỳ lại thừa nhận các hoạt động vận động hành lang để đạt được các mục tiêu trong lĩnh vực

thóc ®Èy TNCs cña m×nh ®Çu t- ra n-íc ngoµi, chÝnh chính trị hoặc kinh doanh

Tóm lại, với các chính sách khuyến khích, hỗ trợ và phủ Hoa Kỳ đã tạo điều kiện thuận lợi để TNCs yên tâm đầu tư ra nước ngoài, tránh được rủi ro

và được bảo đảm những quyền lợi nhất định Đó cũng là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao Hoa Kỳ lại là nước đầu tư ra nước ngoài nhiều nhất trên thế giới

1.2.2.2 Chiến lược đầu tư của TNCs Hoa Kỳ

TNCs Hoa Kỳ có những chiến lược hoạt động khác nhau trong từng thời kỳ Trong tiến trình toàn cầu hóa kinh tế, mục đích chủ yếu của TNCs Hoa Kỳ không chỉ là tối đa hóa lợi nhuận mà còn là tối đa hóa thị trường Vì vậy, TNCs Hoa Kỳ đã có những điều chỉnh chiến lược để phù hợp với tình hình mới hiện nay

Trang 36

Sự liên kết chặt chẽ hơn giữa công ty mẹ và các chi nhánh của chúng sẽ giúp Việt Nam tiếp cận với công ty mẹ dễ dàng hơn

Thứ hai, chiến lược đa dạng hoá đầu tư Trong điều kiện cạnh tranh

khốc liệt như hiện nay, bản thân TNCs Hoa Kỳ cũng muốn đa dạng hóa đầu

tư để tránh mạo hiểm và để vượt qua các hàng rào bảo hộ kỹ thuật đang ngày càng chặt chẽ hơn TNCs Hoa Kỳ cũng đã đầu tư nhiều vào các thị trường lớn như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan thì đến nay lại muốn phân tán các đầu tư của mình, tránh đầu tư tập trung quá mức vào các thị trường này Như vậy, nơi mà họ tìm đến sẽ là Việt Nam và các thị trường mới nổi khác Xu hướng này đang diễn ra với TNCs Nhật Bản – họ đang chuyển dần đầu tư khỏi Trung Quốc và cũng giống như TNCs Nhật Bản, Việt Nam là một địa điểm đến được nhiều TNCs Hoa Kỳ lựa chọn Như vậy, Việt Nam có cơ hội rất lớn để thu hút TNCs Hoa Kỳ

Thứ ba, chiến lược đầu tư của TNCs Hoa Kỳ trong những năm gần đây chủ yếu là đầu tư để phục vụ cho các thị trường ở nước ngoài chứ không phải

sản xuất hàng hóa để xuất khẩu vào Hoa Kỳ như những năm 70, 80 của thế kỷ trước Vì thế, các nhà đầu tư Hoa Kỳ cũng nhìn nhận Việt Nam với chiều

Trang 37

Thứ tư, TNCs Hoa Kỳ đang tích cực tận dụng những ưu đãi trong việc

thu hút đầu tư nước ngoài ở các nước đang phát triển TNCs Hoa Kỳ đang quan tâm đến khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nơi có tốc độ tăng trưởng

năng động và chính sách đầu tư khá thông thoáng Những nước có ưu đãi thuế, đánh thuế vào lợi nhuận thấp và tự do chuyển lợi nhuận, càng thu hút

được nhiều TNCs Hoa Kỳ Đây là lý do TNCs Hoa Kỳ chuyển hướng sang các nước đang phát triển để nhằm tìm kiếm lợi nhuận cho mình

Thứ năm, chiến lược thay đổi cơ cấu đầu tư Hiện nay, TNCs Hoa Kỳ tập trung đầu tư vào nhóm các nước có tốc độ phát triển nhanh Việt Nam

gặp nhiều thuận lợi trong việc thu hút TNCs Hoa Kỳ khi nằm trong khu vực

có tốc độ tăng trưởng kinh tế năng động nhất thế giới và bản thân Việt Nam cũng là nước có tốc độ tăng trưởng thuộc loại cao trong vài năm qua Bên cạnh đó, những thay đổi trong cơ cấu ngành đầu tư của TNCs Hoa Kỳ cũng rõ nét Nếu như trong thập kỷ 60, TNCs Hoa Kỳ chủ yếu đầu tư vào ngành nguyên liệu, đặc biệt là khai thác dầu, thì thập kỷ 70 là vào ngành công

nghiệp chế tạo, thập kỷ 90 đến nay lại tập trung vào ngành dịch vụ (thông tin,

thương mại, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm )

1.2.3 Những nhân tố thuộc Việt Nam

1.2.3.1 Về đường lối đối ngoại

Trong thập kỷ vừa qua, bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi hết sức nhanh chóng Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh

mẽ, tác động đến chính sách kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia Trong bối

Trang 38

30

cảnh đó, xuất phát từ nhu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, Việt Nam không thể không thay đổi chính sách kinh tế của mình, trước hết là để đáp ứng kịp thời yêu cầu của đất nước, của xã hội, sau đó là để hội nhập với xu thế chung của toàn cầu và đồng thời cũng là để theo kịp các nước trên thế giới Với mục tiêu thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, kinh tế đối ngoại đã được xác định ưu tiên cho các ngành công nghiệp mũi nhọn, đồng thời khuyến khích sản xuất hàng hoá xuất khẩu nhằm chiếm lĩnh từng phần thị trường thế giới

Chủ trương hợp tác đầu tư với nước ngoài nhằm tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và thị trường xuất khẩu đã được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng Cộng Sản Việt Nam qua từng thời kỳ đổi mới Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII (1996) đã khẳng định việc tiếp tục phát triển đường lối Đổi mới của Đại Hội VI, VII là đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại theo tinh thần:“Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và

quốc tế của Việt Nam Tiếp theo đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá 8 đã thống nhất nguyên tắc hội nhập của Việt Nam là

“trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài”, trong đó những biện pháp quan trọng hàng đầu là tiếp tục “tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư”, “tích cực và chủ động

lần thứ IX của Đảng còng đã khẳng định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, hàng hoá và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng ” [2, tr191-192]

Nâng cao nhận thức đối với chủ trương tăng cường thu hút và quản lý vốn

Trang 39

31

ĐTNN, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút ĐTNN, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng,

rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện tự do hoá thương mại của Đảng và Nhà nước ta đã tạo tiền đề cần thiết để thu hút đầu tư của TNCs Việt Nam có đường lối đối ngoại rộng mở, đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược mở cửa hướng về xuất khẩu, mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư nước ngoài và chủ trương, chính sách của Đảng là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phát triển của đất nước ta

1.2.3.2 Về luật pháp

Nhằm thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng về ĐTNN, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành từ cuối năm 1987 đã mở đầu cho việc thu hút và sö dông nguån vèn FDI Vào những năm đầu của công cuộc Đổi mới, việc ban hành Luật ĐTNN tại Việt Nam vào tháng 12/1987 có ý nghĩa rất lớn trong đời sống lập pháp của đất nước: lúc đó Việt Nam không có nhiều văn bản ở cấp độ luật của Quốc hội, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, nhưng chúng ta vẫn dành một sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực ĐTNN Hơn nữa, Luật ĐTNN năm 1987 được ban hành trong khuôn khổ Hiến pháp năm 1980 - một văn bản Hiến pháp có nhiều dấu ấn của cơ chế quản lý kinh tế cũ và đặc biệt là chưa có quy định nào về ĐTNN theo đúng nghĩa của nó Chính trong hoàn cảnh ra đời này mà đạo luật đầu tiên về

ĐTNN tại Việt Nam cần được coi là sự “đột phá” trong hệ thống pháp luật

của nước ta Trước nhu cầu phát triển của đất nước, Luật ĐTNN năm 1987 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990 và 1992; sau đó được thay thế bởi Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 Th¸ng 6/2000, bé LuËt ®Çu t-

Trang 40

những quy định khác như khuyến khích các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm ăn theo hướng gia tăng xuất khẩu; tạo nhiều công ăn việc làm, tỷ lệ nội địa hoá cao; mở rộng diện hàng hoá được miến thuế nhập khẩu; tăng cường biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc triển khai dự

án do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực như miễn giảm tiền thuê đất, điều chỉnh mức thuế lợi tức ưu đãi, cho phép tăng tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm nội địa Tháng 11/2005, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp Luật Đầu tư năm 2005 được coi là đạo luật có nhiều tiến bộ và là đạo luật thể hiện tinh thần hội nhập kinh tế quốc tế, xoá bỏ những sự phân biệt đối

xử giữa đầu tư trong nước và ĐTNN không phù hợp với thông lệ quốc tế, từng bước pháp điển hoá các nội dung cơ bản về đầu tư của hệ thống pháp luật đầu tư trong nước và hệ thống pháp luật ĐTNN của Việt Nam được ban hành trong thời gian trước đó, có cân nhắc đến xu hướng phát triển và nhu cầu của cộng đồng kinh doanh quốc tế Pháp luật về ĐTNN của Việt Nam tuy vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, nhưng thời gian qua và hiện nay đã là bộ phận quan trọng của pháp luật Việt Nam, góp phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước

Ngày đăng: 17/03/2015, 12:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, phân theo hình thức  (chỉ tính các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/3/2011) - Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, phân theo hình thức (chỉ tính các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/3/2011) (Trang 55)
Bảng 2.4: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện của Hoa Kỳ  trước và sau khi có HĐTM - Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam
Bảng 2.4 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện của Hoa Kỳ trước và sau khi có HĐTM (Trang 59)
Bảng xếp hạng V1000 - TOP 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập lớn nhất  Việt  Nam  năm  2010  -  do  Công  ty  Vietnam  Report  phối  hợp  với  Báo  VietNamNet công bố ngày 23/9/2010 cho thấy vai trò ngày càng quan trọng  của khối các doanh nghiệp có vố - Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam
Bảng x ếp hạng V1000 - TOP 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam năm 2010 - do Công ty Vietnam Report phối hợp với Báo VietNamNet công bố ngày 23/9/2010 cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của khối các doanh nghiệp có vố (Trang 61)
Bảng 2.5 Cơ cấu kinh tế Việt Nam qua các năm - Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam
Bảng 2.5 Cơ cấu kinh tế Việt Nam qua các năm (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm