Cùng với thành tựu chung của cả nước, hoạt động FDI vào các KCN Nam Định trong những năm gần đây bước đầu có những khởi sắc, đã xuất hiện các nhà đầu tư nước ngoài như Hàn Quốc, Trung Qu
Trang 1MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH VẼ iii
DANH MỤC BIỂU iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 7
1.1 Một số khái niệm, vai trò của các KCN và FDI trong KCN 7
1.1.1 Một số khái niệm KCN và FDI trong KCN 7
1.1.1.1 Một số khái niệm về KCN 7
1.1.1.2 Một số khái niệm về FDI 9
1.1.2 Vai trò của FDI trong KCN đối với phát triển kinh tế xã hội 15
1.1.2.1 Những ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế 16
1.1.2.2 Những thách thức và hạn chế của đầu tư FDI vào các KCN 21
1.1.3 Quan hệ giữa việc phát triển các khu công nghiệp và thu hút FDI 23
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào các khu công nghiệp 24
1.2.1 Những nhân tố bên ngoài 24
1.2.1.1 Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trong khu vực và quốc tế 24
1.2.1.2 Xu hướng tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế 26
1.2.1.3 Cách mạng khoa học và công nghệ thúc đẩy đầu tư quốc tế 27
1.2.1.4 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) 28
1.2.2 Những nhân tố bên trong 30
1.2.2.1 Sự ổn định về kinh tế - chính trị 30
1.2.2.2 Môi trường luật pháp thuận lợi 30
1.2.2.3 Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật 31
1.2.2.5 Cải cách thủ tục hành chính và hiệu quả quản lý của nhà nước về FDI 33
1.3 Kinh nghiệm về thu hút FDI vào các khu công nghiệp của một số nước và Việt Nam 33
1.3.1.1 Kinh nghiệm thu hút FDI vào KCN của Thái Lan 33
1.3.1.2 Kinh nghiệm thu hút FDI vào KCN của Ấn Độ 36
Trang 21.3.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh 37
1.3.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh 37
1.3.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG FDI VÀO CÁC KCN TỈNH NAM ĐỊNH 39
2.1 Tổng quan về tình hình FDI vào các khu công nghiệp của cả nước 39
2.1.1 Cơ cấu đầu tư FDI 43
2.1.1.1 Về cơ cấu đầu tư theo ngành 43
2.1.1.2 Về địa bàn đầu tư 46
2.1.1.3 Theo đối tác đầu tư 49
2.1.2 Thực hiện đầu tư 50
2.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh 52
2.1.4 Đánh giá chung 56
2.1.4.1 Một số thành công 58
2.1.4.2 Một số tồn tại 61
2.1.4.3 Nguyên nhân của tồn tại 62
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào các KCN tỉnh Nam Định 64 2.2.1 Một số đặc điểm về các KCN Nam Định 64
2.2.2 Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thu hút FDI vào các KCN Nam Định 65
2.2.2.1 Vị trí địa lý kinh tế 65
2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 66
2.2.2.3 Dân số và lao động 69
2.2.2.4 Cơ chế chính sách ưu đãi của Địa phương 70
2.2.2.5 Định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương 72
2.3 Tình hình FDI vào các khu công nghiệp tỉnh Nam Định 72
2.3.1 Tình hình FDI vào tỉnh Nam Định 72
2.3.2 Tình hình thu hút FDI vào các KCN Nam Định 73
2.3.2.1 Tình hình thu hút FDI theo cơ cấu đầu tư 73
2.3.2.2 Tình hình FDI vào KCN theo thực hiện đầu tư 82
2.3.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh 84
2.3.2.4 Đánh giá chung 89
Trang 3CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP TỈNH NAM ĐỊNH ĐẾN 2020 93
3.1 Triển vọng thu hút FDI vào các KCN tỉnh Nam Định 93
3.1.1 Định hướng thu hút FDI vào các KCN 93
3.1.1.1 Định hướng ngành 93
3.1.1.2 Định hướng vùng 94
3.1.1.3 Định hướng đối tác 95
3.1.2 Mục tiêu thu hút FDI vào các KCN đến 2020 98
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường khả năng thu hút FDI vào các KCN tỉnh Nam Định 100
3.2.1 Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư 100
3.2.2 Về cải thiện môi trường đầu tư 103
3.2.3 Hoàn thiện môi trường pháp lý 105
3.2.4 Khắc phục tình trạng yếu kém về hạ tầng kỹ thuật 107
3.2.5 Dịch vụ hỗ trợ đầu tư 108
3.2.6 Phát triển các KCN phải gắn liền với việc phát triển hệ thống hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN 109
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng việt
1 BCC Hợp đồng hợp tác kinh doanh
2 BOT Hợp đồng xây dựng - kinh doanh – chuyển giao
3 BT Hợp đồng xây dựng chuyển giao
4 BTO Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
7 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
8 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
9 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
10 KCN Khu công nghiệp
12 KCNC Khu công nghệ cao
14 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
15 TNCs Các công ty xuyên quốc gia
16 R&D Nghiên cứu – triển khai
17 UNCTAD Ủy ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc
19 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Điều chỉnh môi trường đầu tư của các nước giai đoạn 1991 - 2004 25
Bảng 1.2 Những ưu đãi của KCN Rojana 34
Bảng 2.1 Tổng số dự án FDI đầu tư vào KCN Việt Nam (2003 - 2009) 41
Bảng 2.2 Tổng vốn FDI đầu tư mới và đầu tư mở rộng đăng ký vào các KCN Việt Nam giai đoạn 2003 – 2009 42
Bảng 2.3 Tổng vốn đầu tư FDI đăng ký và vốn đầu tư thực hiện vào các KCN Việt Nam giai đoạn 2003 -2009 51
Bảng 2.4 Tổng vốn đầu tư FDI đăng ký và vốn đầu tư thực hiện vào các KCN Việt Nam theo lĩnh vực đầu tư (2003 - 2009 ) 51
Bảng 2.5 Số dự án FDI đăng ký vào KCN Nam Định (2003 - 30/10/2010) 74
Bảng 2.6 FDI đăng ký vào các KCN Nam Định theo hình thức sở hữu
(2003 - 30/10/2010) 75
Bảng 2.7 FDI đăng ký vào các KCN Nam Định theo lĩnh vực đầu tư (2003 - 30/10/2010) 77
Bảng 2.8 FDI đăng ký vào các KCN Nam Định theo đối tác đầu tư (2003 - 30/10/2010) 82
Bảng 2.9 Các dự án FDI đầu tư vào các KCN Nam Định theo vốn đăng ký và vốn thực hiện đến 10 /2010 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực) 83
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Tổng số KCN được thành lập và mở rộng giai đoạn 2003 - 2009 40 Hình 2.2: Tổng số dự án đầu tư FDI đang xây dựng cơ bản (lũy kế) giai đoạn
2004 - 2009 44 Hình 2.3: Giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào
các KCN Việt Nam (2003 – 09/2010) 52 Hình 2.4: Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào các KCN
Việt Nam (2003 – 09/2010) 53 Hình 2.5: Lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào các KCN Việt
Nam (2003 – 09/2010) 54 Hình 2.6: Nộp ngân sách của các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào các KCN
Việt Nam (2003 – 09/2010) 55 Hình 2.7: Giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào
các KCN Nam Định (2003 – 10/2010) 84 Hình 2.8: Doanh thu của các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào các KCN Nam
Định (2003 – 10/2010) 85 Hình 2.9: Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào các KCN
Nam Định (2003 -10/2010) 86 Hình 2.10: Nộp ngân sách của các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào các KCN
Nam Định (2003 – 10/2010) 87 Hình 2.11: Lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào các KCN Nam
Định (2003 – 10/2010) 88
Trang 7DANH MỤC BIỂU
Biểu 2.1: Tổng vốn FDI đăng ký đầu tư (lũy kế) vào KCN Việt Nam theo lĩnh vực
đầu tư tính đến hết năm 2009 44 Biểu 2.2: Cơ cấu đầu tư FDI vào các KCN Việt Nam theo ngành giai đoạn 2003 -
2009 45 Biểu 2.3: Đầu tư FDI đăng ký vào các KCN Việt Nam theo vùng đến tháng 6/2010
(lũy kế) 47 Biểu 2.4: FDI vào Việt Nam từ 1990 - 2010 49 Biểu 2.5: Cơ cấu đầu tư FDI vào các KCN theo hình thức đầu tư năm 2008 50
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, mối quan hệ giữa đầu tư trong nước với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn được coi là một trong những vấn đề quan trọng và được bàn bạc nhiều trong quá trình hoạch định chính sách phát triển trên phạm vi quốc gia và quốc tế Mỗi nước cần rất nhiều vốn cho quá trình phát triển của đất nước mình đặc biệt là các nước đang phát triển Và Việt Nam cũng vậy, để thúc đẩy quá trình tăng trưởng nền kinh tế, thực hiện công ngiệp hoá
và hiện đại hoá đất nước thì cần có một nguồn vốn rất lớn để chuyển dịch cơ cấu, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất và kỹ thuật,… Do đó, FDI
đã và đang trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Cụ thể, FDI mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, nâng cao năng lực quản lý, trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giúp Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Một trong những yếu tố góp phần thu hút FDI vào Việt Nam là việc phát triển các khu công nghiệp
Khu công nghiệp (KCN) ở Việt Nam ra đời cùng với chính sách đổi mới, do Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 khởi xướng Quá trình phát triển KCN tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển công nghiệp, tăng trưởng kinh tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn với phát triển đô thị, tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng cơ sở công nghiệp mới, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, tăng thu nhập người dân Các KCN phát triển đã góp phần tạo điều kiện cho việc thu hút đầu tư FDI Điều này càng thúc đẩy các KCN phát triển, mở rộng và phát huy vai trò của mình đối với phát triển kinh tế Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút FDI và phát triển các KCN đã liên tục phát triển và ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước
Trang 9Những kết quả ban đầu đạt được là rất đáng khích lệ nhưng không ít yếu tố bất lợi xảy ra đối với việc thu hút FDI các KCN như sự yếu kém về cơ sở hạ tầng, nhất là tình trạng thiếu điện… Do đó, hoạt động thu hút FDI vào các KCN của Việt Nam vẫn còn những hạn chế cần khắc phục
Bên cạnh đó, FDI vẫn tập trung chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm với những lợi thế về kết cấu hạ tầng và thị trường tiêu thụ, đầu tư nước ngoài vào các địa phương chưa khởi sắc, nhất là các tỉnh xa, điều kiện hạ tầng còn thấp
Cùng với thành tựu chung của cả nước, hoạt động FDI vào các KCN Nam Định trong những năm gần đây bước đầu có những khởi sắc, đã xuất hiện các nhà đầu tư nước ngoài như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore,…đến tìm hiểu
và đầu tư tại Nam Định FDI vào các KCN Nam Định đã góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng công nghiệp và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nam Định
Tuy nhiên, FDI vào các KCN Nam Định mới chỉ là bước khởi đầu Mặc dù, trong những năm vừa qua, tỉnh Nam Định đã có nhiều cố gắng song do nhiều yếu tố tác động nên số dự án FDI tại các KCN Nam Định còn rất hạn chế, nhỏ bé cả về số lượng, quy mô, chưa tương xứng với tiềm năng và đòi hỏi của nền kinh tế của tỉnh
và thực sự vấn đề kêu gọi, thu hút FDI vào các KCN đã và đang là một trong những nội dung, công tác trọng tâm nhằm khai thác lợi thế của tỉnh, khai thác các nguồn vốn đầu tư phát triển để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc tìm ra giải pháp để thu hút FDI vào các KCN Nam Định ngày càng trở lên cần thiết Nam Định cần thấy rõ: Những khó khăn còn tồn tại trong công tác thu hút FDI vào các KCN là gì và qua đó để làm
thế nào để tăng cường thu hút FDI vào các KCN Nam Định cho phù hợp với mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Chính vì những lý do trên, em chọn đề tài:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tỉnh Nam Định: Thực trạng và giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực đầu tư, đặc biệt là đầu tư FDI vào các khu công nghiệp đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế, nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và đã có nhiều công trình được công bố như:
1, Sách: “Phát triển các KCN, KCX trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá” của Nguyễn Chơn Trung và Trương Giang Long (Nxb Chính trị quốc gia
– năm 2004)
2, Sách: “Hướng dẫn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao ở Việt Nam” của Nguyễn Mạnh Đức, Lê Quang Anh (Nxb Thống kê
-2000 )
Các cuốn sách này đã làm rõ được một số lý luận về khu công nghiệp và các thủ tục hướng dẫn, các thủ tục đầu tư vào các khu công nghiệp nói chung Tuy nhiên, trong sách chỉ trình bày những vấn đề cơ bản chưa đi nghiên cứu đến công tác thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp
3, Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tư nhằm phát
triển các khu công nghiệp ở Việt Nam” - tác giả Nguyễn Thị Thu Hương ( Đại học
Kinh tế Quốc dân - 2004)
Tác giả đã nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp, làm rõ tác động của hoạt động xúc tiến đầu tư đến việc thu hút đầu tư phát triển các khu công nghiệp Qua đó, đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tư của Việt Nam nói chung
4, Luận án tiến sĩ kinh tế: “Thu hút đầu tư phát triển khu công nghệ cao
thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung (Học viện Ngân Hàng –
2009)
5, Luận án tiến sĩ kinh tế: “Những giải pháp nhằm phát triển các khu công
nghệ và khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010” tác giả Nguyễn
Quyết Chiến (Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh - 2003)
Hai tác giả này nghiên cứu những vấn đề chung về khu công nghệ cao, tình hình hoạt động đầu tư vào phát triển các khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí
Trang 11Minh, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm thu hút đầu tư phát triển khu công nghệ cao của Việt Nam nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Tuy nhiên, các luận án mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh
6, Bài trích: “Phát triển các KCN, KCX ở các tỉnh phía Bắc - Những vấn đề
lý luận và thực tiễn” (Kỷ yếu hội thảo khoa học, Thanh Hoá, tháng 6/2004)
7, Bài trích: “15 năm xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam
(1991-2006)” (Kỷ yếu hội nghị - hội thảo quốc gia, Long An, tháng 7/2006)
Các tác giả hệ thống hóa những lý luận về khu công nghiệp, khu chế xuất, tình hình phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất của Việt Nam nói chung, qua đó đánh giá những thành tựu đã đạt được và những hạn chế trong quá trình phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất nói riêng
8, Báo cáo: “Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Nam Định 5 năm xây
dựng và phát triển” tác giả Nguyên Xuân Tuyển (2009)
9, Báo cáo: “Báo cáo tổng kết công tác quản lý các khu công nghiệp tỉnh
Nam Định năm 2009 phương hướng nhiệm vụ năm 2010” – Ban quản lý các khu
công nghiệp tỉnh Nam Định (2009)
Ngoài ra, còn một số bài báo phân tích trên tạp chí chuyên ngành khác, nhưng do mục đích khác nhau nên các công trình mới chỉ nghiên cứu ở một số khía cạnh nhất định của tình hình FDI vào các khu công nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
- Phân tích tình hình FDI vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định để qua đó đề xuất những giải pháp và đưa ra những kiến nghị nhằm tăng cường thu hút FDI vào các khu công nghiệp Nam Định
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên thì nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về các khu công nghiệp, FDI, những nhân
tố ảnh hưởng tới thu hút FDI vào các khu công nghiệp Nam Định
Trang 12- Phân tích thực trạng tình hình FDI vào các khu công nghiệp Nam Định Tìm ra những thành công, hạn chế trong quá trình thu hút và sử dụng FDI vào các khu công nghiệp và những nguyên nhân tồn tại
- Nghiên cứu để đề xuất một số giải pháp và đưa ra kiến nghị nhằm tăng cường thu hút FDI vào các KCN Nam Định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình hình thu hút và sử dụng FDI vào
các khu công nghiệp Nam Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Nội dung nghiên cứu: FDI và tình hình thu hút FDI vào các KCN Nam
Định
- Phạm vi không gian:: Các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Phạm vi thời gian:: Từ năm 2003 đến năm 2009
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn này áp dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, sử dụng dữ liệu thu thập chủ yếu từ các nguồn tài liệu: Luật đầu tư năm 2005, Báo cáo của Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Nam Định, Báo cáo của Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh Nam Định, nghiên cứu khoa học, tạp chí để làm rõ tình hình FDI vào các khu công nghiệp Nam Định
- Ngoài ra luận văn cũng sử dụng các phương pháp khác như: kế thừa, tổng hợp, bảng biểu để minh họa các nội dung trong luận văn, phân tích, so sánh để đánh giá tình hình FDI vào các KCN Nam Định và đưa ra những kết luận
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu hút FDI vào các khu công nghiệp và đến quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nam Định
- Phân tích tình hình FDI vào các khu công nghiệp Nam Định thời gian qua, qua đó đánh giá những thành công và hạn chế trong quá trình FDI vào khu công nghiệp tỉnh Nam Định
Trang 13- Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn FDI vào các khu công nghiệp Nam Định, các kiến nghị đối với nhà nước
7 Kết cấu và nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của FDI vào các khu công nghiệp Chương 2: Thực trạng FDI vào các khu công nghiệp của tỉnh Nam Định Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh thu hút FDI vào các khu công nghiệp tỉnh
Nam Định
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA FDI VÀO
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm, vai trò của các KCN và FDI trong KCN
1.1.1 Một số khái niệm KCN và FDI trong KCN
1.1.1.1 Một số khái niệm về KCN
Từ những năm cuối thế kỷ 20, mô hình KCX đã hình thành, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay Cùng với KCN, khu công nghệ cao, khu vực kinh tế tự do hay đặc khu kinh tế… , mô hình này đã góp phần vào phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới
Theo hiệp hội KCX trên thế giới (WEPZA), KCX bao gồm cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu miễn thuế hải quan (Custom Free Zone)…
Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO), KCX là một khu vực phân cách về địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu phát triển công nghiệp, phục vụ xuất khẩu bằng những ưu đãi điều kiện về đầu tư so với các doanh nghiệp của nước chủ nhà Ngoài ra, các doanh nghiệp trong KCX được miễn thuế nhập khẩu hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất để xuất khẩu thông qua hình thức kho quá cảnh
Bên cạnh, các khái niệm về KCX là các khái niệm về KCN Trên thế giới, KCN là một khu đất được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể để cung cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiết kể cả hạ tầng cơ sở, tiện ích công cộng đầy đủ cho một cộng đồng các ngành công nghiệp tương ứng
Tại Việt Nam, trong quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khái niệm KCN, KCX được quy định tại Điều 2, khoản 2,3 như sau:
- Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới
Trang 15địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất
- Khu chế xuất là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
- Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu – triển khai khoa học – công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa
lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất
Thực tế hình thành các KCN trong những năm trước đây có thể hiểu: KCN là một khu vực có ranh giới xác định, có những thuận lợi về mặt tự nhiên, xây dựng kết cấu hạ tầng, về xã hội và nhân văn để thu hút đầu tư và hoạt động theo một cơ cấu hợp lý các doanh nghiệp công nghiệp và doanh nghiệp dịch vụ có liên quan thuộc nhiều thành phần kinh tế nhằm đạt hiệu quả cao cho từng doanh nghiệp và cả
cơ cấu doanh nghiệp trong khu
Trong thời gian qua, Chính phủ khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào KCN, KCX, KCNC gọi chung và tắt là KCN Như vậy, KCN nói chung có đặc điểm sau:
- KCN là khu vực tập trung các doanh nghiệp công nghiệp trong một khu vực có ranh giới xác định, sử dụng chung kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội Về nguyên lý thì các doanh nghiệp trong KCN có ưu thế tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Nên giá thuê hạ tầng kỹ thuật , hạ tầng xã hội rẻ hơn so với đầu tư ở khu vực khác
- Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng một số quy chế riêng của Nhà nước và của địa phương sở tại cho những ngành và doanh nghiệp loại nào được khuyến khích phát triển
Trang 16- Nhà nước chỉ quy định những ngành và doanh nghiệp loại nào được khuyến khích phát triển và loại nào không được đặt trong khu do yêu cầu bả o vệ môi trường
Với những ưu đãi nổi bật như trên các KCN đã thu hút một số lượng lớn các dự án FDI Ngoài ra, các doanh nghiệp khi đầu tư vào KCN sẽ giảm được nhiều chi phí như: chi phí mua đất, xây dựng đường dây tải điện, đường vận tải vào nhà máy Các KCN với những khuyến khích và ưu đãi thuận lợi hơn so với các địa điểm khác trong nước đã thu hút một số lượng lớn các dự án FDI
1.1.1.2 Một số khái niệm về FDI
Để có thể thu hút càng nhiều các dự án FDI đầu tư vào trong nước và đặc biệt là đầu tư vào các KCN thì đầu tiên chúng ta phải hiểu rõ về FDI Khái niệm đầu
tư FDI đã được nhiều tổ chức kinh tế quốc tế đưa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô về FDI , tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự
do hóa thương mại và đầu tư quốc tế Quỹ tiền tệ thế giới (International Moneytary Fund - IMF), trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư - hosting country), không phải tại nước
mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư - source country) với mục đích quản lý một cách hiệu quả doanh nghiệp”
Trang 17Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and development - OECD) cũng đưa ra nhận định về đầu tư trực tiếp nước ngoài tương tự như IMF Tuy vậy, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tư nước ngoài Theo quan điểm của OECD , nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân hoặc tổ chức có thể thuộc cơ quan Chính phủ hoặc không thuộc cơ quan Chính phủ đầu tư tại nước ngoài
Ủy ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) trong Báo cáo đầu tư thế giới năm 1996 đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ , lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công
ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)”
Quan điểm về FDI của Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật đầu
tư năm 2005:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia vào hoạt động quản lý đầu tư” [6,tr.2-3], trong đó nhà đầu tư được hiểu là
tổ chức kinh tế, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm:
- Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật Doanh nghiệp
- Hợp tác xã, liên hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này
có hiệu lực
- Hộ kinh doanh, cá nhân
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú tại Việt Nam
- Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trang 18Còn vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo các hình thức đầu tư khác nhau Trong đó, các hình thức đầu tư trực tiếp được quy định tại Điều 21 tại Luật đầu tư năm 2005 bao gồm:
- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT
- Đầu tư phát triển kinh doanh
- Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư
- Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác
Trong đó, các hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT thì được hiểu như sau:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân
- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BOT) là hình thức được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
Trang 19- Hợp đồng xây dựng chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BT) là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hòi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT
- Doanh nghiệp liên doanh : Là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế do hai bên hoặc các bên nước ngoài cùng hợp tác với nước chủ nhà trên cơ ở góp vốn , cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước nhận đầu tư
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài : là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài ) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà , tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh nhưng vẫn là pháp nhân của nước chủ nhà và chịu sự kiểm soát của luật pháp nước chủ nhà [6,20,30]
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam chủ yếu sử dụng các hình thức : Hợp đồng hợp tác kinh doanh , doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Bởi vì, hầu hết các doanh nghiệp liên doanh khi đầu tư, kinh doanh ở nước chủ nhà, họ thường phải mang theo các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến , kinh nghiệm quản lý hiện đại Còn doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng được các chủ đầu tư ưa thích vì họ được toàn quyền quản
lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư tạo ra (chủ đầu tư chỉ phải làm tròn nghĩa
vụ tài chính với nước chủ nhà ) còn nước chủ nhà không phải lúc nà o cũng có thể tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp liên doanh Do vậy, đối với những dự án đầu tư vốn lớn , thời hạn thu hồi vốn lâu , mức độ mạo hiểm cao và không đòi hỏi phải tham gia quản lý sát sao quá trình vận hàn h các kết quả đầu tư (như dự án dầu khí, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật) thì thường để nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn
Trang 20Ngoài ra, còn một số hình thức đầu tư khác như hình thức đầu tư mới , mua lại
và sáp nhập, cổ phần hóa doanh nghiệp đầu tư nước ngoài , hợp đồng phân chia sản phẩm, hợp đồng cấp giấy phép công nghệ
Qua một vài quy định nêu trong Luật đầu tư năm 2005 đã phần nào giúp các nhà đầu tư nước ngoài hiểu rõ được đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, bản chất và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các khái niệm FDI khác nhau nhưng đều thống nhất ở các điểm sau : FDI là hình thức đầu tư quốc tế , cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đi ều hành hoạt động đầu tư ở nước tiếp nhận đầu tư tùy theo mức góp vốn của nhà đầu tư Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài , quyền sở hữu gắn liền với quyền sử dụng tài sản đầu tư, nghĩa là nhà đầu tư có thể có lợi hơn khi đầu tư thu được lợi nhuận cao và chịu rủi ro hơn khi đầu tư thua lỗ
Từ những khái niệm trên , có thể hiểu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là biểu hiện bằng tiền hoặc tài sản do t ổ chức hoặc các nhân người nước ngoài mang vào nước khác (nước tiếp nhận) để thực hiện kinh doanh theo luật pháp của nước tiếp nhận nhằm thu được lợi ích Các nhà đầu tư có quyền điều hành doanh nghiệp tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình
Theo khái niệm này , các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư bằng tài sản ở nước tiếp nhận đầu tư nhưng phải là những loại tài sản do nước tiếp nhận đầu tư quy định trong luật pháp chứ không phải bất kỳ loại tài sản nào
Nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm nguồn vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu
tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động , nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc m ở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được
Qua nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài qua các thời kỳ có thể nhận thấy bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích đầu tư hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư thông qua di chuyển vốn (bằng tiền và tài sản, công nghệ và trình độ quản lý
của nhà đầu tư nước ngoài) từ nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư Nhà đầu tư
Trang 21ở đây bao gồm tổ chức hay cá nhân chỉ mong muốn đầu tư khi cho rằng khoản đầu
tư đó có thể đem lại lợi ích hoặc lợi nhuận cho họ Đây là một trong những đặc điểm cơ bản nhất và là nguyên nhân sâu xa đẫn đến việc hình thành hoạt động FDI giữa các quốc gia FDI có một số đặc điểm sau:
- Dự án FDI là một dự án mang tính lâu dài Đây là đặc điểm phân biệt giữa
nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp Đầu tư gián tiếp thường là các dòng vốn có thời gian hoạt động ngắn và có thu nhập thông qua việc mua, bán chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) Đầu tư gián tiếp có tính thanh khoản cao hơn so với đầu tư trực tiếp, dễ dàng thu lại số vốn đầu tư ban đầu khi đem bán chứng khoán và tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ phát triển ở những nước tiếp nhận đầu tư Chính vì thế nên rất cần những địa điểm như các KCN để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư FDI khi đầu tư
- Dự án FDI là một dự án có sự tham gia quản lý của các nhà đầu tư nước
ngoài Đây cũng là một trong những đặc điểm để phân biệt giữa đầu tư trực tiếp với
đầu tư gián tiếp Trong khi đầu tư gián tiếp không cần sự tham gia quản lý doanh nghiệp, các khoản thu nhập chủ yếu là các cổ tức từ việc mua chứng khoán tại cá doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài có quyền tham gia hoạt động quản lý trong các doanh nghiệp FDI Tuy vậy, nhà đầu tư nước ngoài phải có bao nhiêu phần trăm phiếu mới được phép tham gia quản lý doanh nghiệp FDI Theo hướng dẫn của OECD và Bộ Thương mại Hoa Kỳ thì nhà đầu tư nước ngoài phải chiếm tối thiểu 10% cổ phiếu thường hoặc quyền bỏ phiếu trong các doanh nghiệp FDI để cho nhà đầu tư có tiếng nói hay tham gia quản lý trong các doanh nghiệp FDI
- Đi kèm với dự án FDI là ba yếu tố: hoạt động thương mại (xuất nhập khẩu); chuyển giao công nghệ; di cư lao động quốc tế, trong đó di cư lao động quốc tế góp phần vào việc chuyển giao kỹ năng quản lý doanh nghiệp FDI
- Đầu tư FDI là hình thức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất”, “chu kỳ tuổi thọ
kỹ thuật” và “nội bộ hoá di chuyển kỹ thuật” Trên thực tế, nhất là trong nền kinh tế hiện đại có một yếu tố liên quan đến kỹ thuật sản xuất, kinh doanh đã buộc nhiều
Trang 22nhà sản xuất phải lựa chọn phương thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như là một điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của mình Ngoài ra, đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp cho doanh nghiệp thay đổi được dây chuyền công nghệ lạc hậu ở nước mình nhưng dễ được chấp nhận ở nước có trình độ phát triển thấp hơn và góp phần kéo dài chu kỳ sản xuất
- FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và bên kia là nước tiếp nhận đầu tư
- FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách về FDI của
mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính sách mở và quan điểm hội nhập quốc
tế về đầu tư
Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN là việc các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào các KCN Các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN là hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào cơ sở hạ tầng trong KCN Ngoài mục tiêu tìm kiếm mở rộng thị trường, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài còn nhằm hưởng các chính sách ưu đãi của Chính phủ và của địa phương có KCN kinh doanh với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận của mình
1.1.2 Vai trò của FDI trong KCN đối với phát triển kinh tế xã hội
Đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN nói riêng có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của một quốc gia, tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống, kinh tế - xã hội và chính trị của nước tiếp
nhận đầu tư Về kinh tế, FDI vào các KCN cũng tác động đến tăng trưởng GDP, cán
cân thanh toán, phục lợi xã hội, thu nhập của người lao động và các chỉ tiêu kinh tế
khác Về chính trị, đối với nhiều nước tác động cụ thể của FDI vào các KCN là
thông qua các công ty đa quốc gia (TNCs) đóng vai trò chi phối, thậm chí tham gia
các bộ máy chính quyền của các nước này Về mặt xã hội, FDI vào các KCN cũng
có tác động đến văn hoá, đạo đức của nước tiếp nhận đầu tư Xét về khía cạnh phát triển kinh tế và căn cứ vào nội dung phát triển kinh tế thì FDI có tác động đến quy
mô và chất lượng phát triển
Trang 231.1.2.1 Những ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế
a, Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN nói riêng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giúp cho nước tiếp
nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất Theo đánh giá của UNCTAD, hoạt
động FDI đầu tư vào các KCN đã trực tiếp đóng góp vào GDP của nước tiếp nhận đầu tư, tăng thu nhập của người lao động và làm cho sản lượng GDP tăng lên Những tác động tích cực từ hoạt động FDI vào các KCN qua hoạt động di chuyển vốn, công nghệ, kỹ năng và trình độ quản trị doanh nghiệp đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất và năng xuất lao động của nước tiếp nhận đầu tư Giống như những tác động của hoạt động FDI thì hoạt động đầu tư FDI vào các KCN cũng có những tác động tương tự của hoạt động đầu tư FDI Sau đây là một số tác động tích cực của hoạt động FDI vào các KCN đối với tăng trưởng kinh tế:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN bổ sung nguồn vốn cho
phát triển kinh tế Thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế cao thường gắn với tỷ lệ đầu
tư cao Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn trong nước và vốn ngoài nước Vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư Vốn ngoài nước được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động FDI Đối với các nước nghèo và đang phát triển, vốn là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế bởi vì những quốc gia này luôn lâm vào tình trạng thiếu vốn đầu tư Vì vậy biện pháp hữu hiệu nhất có thể coi là bước đột phá để phá vỡ tình trạng này là tăng vốn cho đầu tư, huy động các nguồn lực để phát triển nền kinh tế để tạo ra tăng trưởng kinh tế dẫn đến thu nhập tăng Vậy để có thể thu hút được nhiều vốn đầu tư FDI thì các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển đã thành lập các KCN để tăng cường thu hút FDI theo quy hoạch phát triển của đất nước và của từng vùng miền có KCN Đầu tư trực tiếp nước ngoài
có thể xem như là một nhân tố hay cú huých lớn để phá vỡ tình trạng thiếu vốn nói trên So với các nguồn vốn hình thành từ đầu tư gián tiếp hoặc vay thương mại thì
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN có những lợi thế sau:
Trang 24- Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN không tạo ra khoản nợ giữa nước
đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư
- Lợi nhuận chỉ được chuyển về nước khi dự án đầu tư tạo ra lợi nhuận và một phần lợi nhuận được các nhà đầu tư sử dụng để tái đầu tư
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và đầu tư FDI vào các KCN nói riêng
có sự ổn định cao và không thuận lợi cho việc rút vốn về nước như các khoản vay thương mại, ngân hàng hoặc đầu tư gián tiếp khác
Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN góp phần vào quá trình phát
triển công nghệ Công nghệ có một vai trò hết sức quan trọng đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế và làm chu kỳ sống của sản phẩm ngắn hơn Sản phẩm mới được áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, có hàm lượng khoa học cao sẽ kích thích tiêu dùng (tính mới của sản phẩm và giá thành hạ) dẫn đến kích thích sản xuất và tăng thu nhập của nền kinh tế quốc dân Đối với các nước đang phát triển và kém phát triển, công nghệ giúp những nước này theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế ở những nước công nghiệp phát triển dựa trên lợi thế của những nước đi sau (kế thừa những thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại) Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển khoa học – công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và năng suất lao động tại nước tiếp nhận đầu tư thông qua hiệu ứng tích cực Vì vậy hoạt động FDI vào các KCN cũng có tác động đến phát triển công nghệ của một quốc gia thông qua: chuyển giao công nghệ, phổ biến công nghệ và phát minh công nghệ
b, Đầu tư FDI vào các KCN góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư Cơ cấu kinh tế của một quốc gia là cấu trúc của nền kinh tế hay nói cách khác là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu
tố cấu thành của nền kinh tế Ba yếu tố cơ bản cấu thành nên cơ cấu kinh tế của một quốc gia đó là: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng kinh
tế Trong đó cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hình thức của cơ cấu kinh tế khác Do vậy, việc thay đổi cơ cấu ngành kinh tế sẽ làm thay đổi
Trang 25cơ cấu kinh tế của một quốc gia Một cơ cấu kinh tế hợp lý ở nước tiếp nhận đầu tư
sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN đi kèm với các yếu tố vốn, công nghệ, kỹ năng và trình độ quản lý đã có tác động mạnh đến cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến việc thay đổi và dịch chuyển cơ bản
cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư Qua nghiên cứu ở nước tiếp nhận đầu tư, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN chủ yếu đầu tư vào sản xuất công nghiệp lắp ráp điện tử, may mặc, lĩnh vực công nghiệp chế biến…
Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN góp phần thúc đẩy xuất
khẩu Hoạt động đầu tư FDI vào các KCN góp phần thúc đẩy xuất khẩu của nước
tiếp nhận đầu tư thông qua xây dựng năng lực xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất
khẩu Cụ thể như sau:
- Về xây dựng năng lực xuất khẩu, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hay các chi nhánh công ty nước ngoài tham gia vào quá trình sản xuất hàng xuất khẩu
- Về mở rộng thị trường xuất khẩu đối với các nước tiếp nhận đầu tư chủ yếu thông qua các chi nhánh của các công ty nước ngoài hoặc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) Các doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế xuất khẩu hơn so với doanh nghiệp nước tiếp nhận đầu tư về thị trường, thương hiệu sản phẩm Thông qua hệ thống công ty mẹ và công ty con của các TNCs, sản phẩm được xuất khẩu thuận lợi
từ công ty này sang công ty khác ở các quốc gia khác nhau Những TNCs có mối liện hệ chặt chẽ với thị trường nước nhập khẩu và có nhiều thị trường xuất khẩu thông qua quảng cáo, tiếp thị sản phẩm Xuất khẩu của các chi nhánh trong cùng tập đoàn TNCs cũng sẽ làm giảm chi phí giao dịch
Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN góp phần cải thiện cán cân
thanh toán Cán cân thanh toán có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của
những nước đang phát triển, là một chỉ tiêu mà các nhà hoạch định chính sách luôn theo dõi chặt chẽ Đối với những nước đang phát triển hay những nước đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá thì việc thâm hụt cán cân thanh toán là không đáng báo động Bởi vì, tại những nước này đang có sự thay đổi lớn về cấu trúc của ngành công nghiệp thông quan nhập khẩu những thiết bị, dây chuyền công nghệ, bí
Trang 26quyết công nghệ…dẫn đến nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu Tuy nhiên, hoạt động FDI trong các KCN còn giúp ổn định cán cân thanh toán thông qua hoạt động xuất khẩu và thay thế nhập khẩu Chủ yếu hoạt động của các công ty nước ngoài hay chi nhánh của các TNCs ở nước tiếp nhận đầu tư là sản xuất hàng xuất khẩu Xuất khẩu được thúc đẩy mạnh từ các chi nhánh công ty nước ngoài sẽ mang lại nguồn thu ngoại tệ cho nước tiếp nhận đầu tư, góp phần cải thiện cán cân thanh toán Việc các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư và sản xuất những mặt hàng mà nước tiếp nhận đầu
tư trước đây chưa có khả năng sản xuất đã giúp cho các nước này không phải nhập khẩu những hàng hoá, làm giảm lượng ngoại tệ phải thanh toán và dẫn đến cải thiện
cán cân thanh toán
Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN góp phần giải quyết việc
làm, nâng cao thu nhập cho người lao động Về vấn đề giải quyết việc làm cho
người lao động tại các nước tiếp nhận đầu tư, hoạt động đầu tư FDI vào các KCN đã góp phần tạo việc làm cho người lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở những quốc gia này Vấn đề này được giải quyết thông qua việc trực tiếp tạo việc làm bằng cách tuyển dụng lao động địa phương trong các doanh nghiệp có vốn FDI hoặc FDI gián tiếp tạo việc làm thông qua việc hình thành các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các doanh nghiệp FDI, và khi các doanh nghiệp vệ tinh này
được hình thành và phát triển sẽ tạo việc làm trong phạm vi toàn xã hội
Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN góp phần bảo vệ môi
trường, khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Bởi nguyên nhân của tình trạng phá huỷ môi trường chủ yếu là do trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp
đã sử dụng những công nghệ lạc hậu, trình độ và nhận thức của người quản lý và người lao động đối với vấn đề bảo vệ môi trường còn yếu, nhất là chưa có hệ thống quản lý môi trường trong các doanh nghiệp Trong khi đó các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư thường sở hữu công nghệ sạch, tiên tiến và có hệ thống quản lý môi trường tốt hơn so với các doanh nghiệp trong nước Bên cạnh đó, khi cho phép các doanh nghiệp FDI đầu tư tại nước mình, các nước tiếp nhận đầu tư thường xuyên yêu cầu rất chặt chẽ vấn đề xử lý môi trường, tiêu chuẩn môi trường
Trang 27trong sản xuất Do vậy, dưới sức ép của nước tiếp nhận đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài bắt buộc trong quá trình sản xuất phải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường do nước tiếp nhận đầu tư đặt ra Mặt khác, khi các doanh nghiệp FDI đầu tư vào các KCN thì vấn đề xử lý chất thải cũng được các cơ quan của Ban quản lý các KCN theo dõi, kiểm tra thường xuyên Điều này đã góp phần bảo vệ môi trường và khai
thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên tại nước tiếp nhận đầu tư
Việc áp dụng những công nghệ sạch, tiên tiến có lợi cho môi trường đã tạo nên những tác động tích cực đối với các doanh nghiệp trong nước phải có biện pháp xử
lý môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh từ phía Chính phủ Nhiệm vụ của các nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển là phải tối thiểu hoá ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng kinh tế đối với môi trường và tối đa hoá tác động có lợi của tăng trưởng kinh tế đối với môi trường
Thứ sáu, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN góp phần vào quá trình mở
rộng hợp tác kinh tế quốc tế Quan hệ đầu tư quốc tế xuất hiện từ thế kỷ XVIII Thời kỳ này được coi là qua trình hội nhập nông trong lĩnh vực đầu tư, có nghĩa là các nước quan hệ đầu tư với nhau trên cơ sở tự nguyện, có lợi ích và chưa đặt ra cho nhau các nghĩa vụ phải thực hiện Hiện nay, quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế trong phạm vi giữa các quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới biểu hiện tự do hoá trong bốn lĩnh vực: thương mại hàng hoá, sở hữu trí tuệ, đầu tư và thương mại dịch
vụ
Như vậy, đầu tư cũng là một trong bốn lĩnh vực được các quốc gia xem xét tự
do hoá Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa các quốc gia đi đầu tư và quốc gia tiếp nhận đầu tư, làm cho quá trình phân công lao động quốc tế diễn ra theo chiều sâu Những cam kết về tự do hoá đầu tư nước ngoài được coi như là những quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế của từng quốc gia Cùng với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới diễn ra theo chiều sau và rộng, các nước trên thế giới đã có nhiều hình thức áp đặt các cam kết nhằm tự do hoá lĩnh vực đầu tư
Các nước đã ký kết nhiều hiệp định đầu tư đa phương và tiến tới đang đàm phán hiệp định đa phương trong phạm vi toàn cầu như: WTO, OECD…, đối với các
Trang 28nước trong khhu vực như ASEAN, NAFTA… đã có hiệp định đầu tư đa phương
1.1.2.2 Những thách thức và hạn chế của đầu tư FDI vào các KCN
Đánh giá tác động của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và đầu
tư FDI vào các KCN nói riêng không chỉ đơn giản xem xét, nghiên cứu những mặt hạn chế hay những tác động tiêu cực của hoạt động này đối với nước tiếp nhận đầu
tư Dựa vào đó, mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư có thể đưa ra những chính sách nhằm hạn chế mặt tiêu cực và phát huy mặt tích cực của hoạt động FDI Sau đây là một số mặt hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN
Thứ nhất, về bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế Vốn do hoạt động
FDI vào các KCN cung cấp có thể đem lại những hạn chế về phát triển kinh tế tại
các nước tiếp nhận đầu tư trong các trường hợp:
- Vốn do hoạt động FDI vào các KCN cung cấp có chi phí vốn cao hơn so với các nguồn vốn khác từ nước ngoài Tỷ lệ lợi tức của doanh nghiệp nước ngoài hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt ở các nước đang phát triển cao hơn lãi suất của các khoản vay thương mại hoặc vay giữa các Chính phủ Điều này làm cho các doanh nghiệp có vốn FDI có chi phí cao hơn Trong khi đó các doanh nghiệp FDI lại chủ yếu sản xuất, lắp ráp các mặt hàng để xuất khẩu nên sẽ khó khăn trong cạnh tranh về giá Dẫn đến hoạt động sản xuất gặp khó khăn hơn so với các doanh nghiệp sử dụng bằng nguồn vốn khác Như vậy sẽ gây khó khăn cho nền kinh tế
- Vốn do hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN cung cấp có thể không lớn Bởi các doanh nghiệp FDI đầu tư vào các KCN chủ yếu là để tận dụng
cơ sở hạ tầng tốt cho hoạt động sản xuất và hưởng những ưu đãi về thuế của nước tiếp nhận đầu tư.Trong khi đó mục tiêu của các nước tiếp nhận FDI là muốn thu hút nguồn vốn lớn vào các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại Do đó, vốn
do hoạt động đầu tư FDI vào các KCN cung cấp có thể không lớn sẽ không đảm bảo mục tiêu thu hút vốn để phát triển kinh tế ở nước tiếp nhận
Thứ hai, về vấn đề chuyển giá Chuyển giá là một trong những vấn đề mà các
nước tiếp nhận đầu tư lo ngại, gây ra cạnh tranh không lành mạnh và dẫn đến hạn chế phát triển kinh tế Bởi vì, các nhà đầu tư nước ngoài thường lợi dụng sự thiếu
Trang 29hiểu biết của nước sở tại về công nghệ nên thường đây giá công nghệ chuyển giao lên rất cao so với thực tế để tránh đánh thuế nhập khẩu và nhằm đẩy nguồn vốn đầu
tư ban đầu lên rất cao Do đó, các nước tiếp nhận FDI có thể tiếp nhận được các công nghệ như mong muốn và như thế sẽ hạn chế phát triển kinh tế ở nước tiếp nhận nguồn vốn FDI Vì vậy, việc các TNCs lợi dụng chuyển giá để tránh đánh thuế nhập khẩu hoặc kiểm soát ngoại tệ là những vấn đề mà các nước tiếp nhận đầu tư
hiện đang quan tâm nhiều nhất
Thứ ba, về môi trường, chuyển giao công nghệ và hiệu quả sản xuất Về môi
trường, hoạt động đầu tư FDI vào các KCN chủ yếu được tiến hành trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và những chất thải nếu không được xử lý và kiểm soát chặt chẽ từ những nhà máy do nhà đầu tư nước ngoài thành lập sẽ gây ra ô nhiễm môi trường tại các nước kém và đang phát triển Bên cạnh những tác động gây ô nhiễm môi trường thông qua hoạt động sản xuất trực tiếp, việc chuyên giao công nghệ lạc hậu từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến môi trường Chuyển giao công nghệ lạc hậu sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các nước đi đầu tư và đem lại những hậu quả về môi trường cho nước tiếp nhận đầu tư, đồng thời cũng làm giảm hiệu quả sản xuất tại các nước tiếp nhận đầu tư
Thứ tư, những mặt hạn chế khác Về lao động, người lao động làm việc trong
doanh nghiệp FDI thường đòi hỏi phải có trình độ lao động cao, nếu không đáp ứng thường bị sa thải; Về cạnh tranh, những công ty FDI, nhất là những TNCs thường
sở hữu công nghệ hiện đại, trình độ tổ chức sản xuất, vốn lớn so với các doanh nghiệp trong nước, do vậy sẽ gây nên những tác động tiêu cực đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của những doanh nghiệp trong nước; Về cán cân thanh toán, do phải nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, công nghệ, chuyển lợi nhuận, vay nợ nước ngoài… sẽ là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn gây thâm hụt cán cân thanh toán của một quốc gia; Về mặt chính trị, do thành công trong hoạt động kinh doanh, những công ty FDI và TNCs ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động xã hội chính trị TNCs có thể can thiệp vào chính sách, quyết định
Trang 301.1.3 Quan hệ giữa việc phát triển các khu công nghiệp và thu hút FDI
Mỗi quốc gia đều có chính sách và định hướng thu hút nguồn vốn FDI riêng cho phù hợp với quốc gia mình Một trong những cách để thu hút FDI là thành lập các KCN để tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cho hoạt động sản xuất Bên cạnh đó, việc phát triển các KCN còn tạo điều kiện hình thành các vùng ngành nghề, đặc biệt là các ngành nghề công nghiệp phụ trợ và các các ngành sản xuất mang yếu tố đầu vào
Việc phát triển các KCN có thể giúp các nhà đầu tư FDI có nhiều cơ hội lựa chọn địa điểm phù hợp với lĩnh vực định đầu tư hơn Bởi một trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư FDI là thị trường tiêu thụ, nguyên liệu đầu vào, yếu tố lao động, và đặc biệt là các chính sách ưu đãi của địa phương
có KCN Do đó, KCN được xem như các trung tâm thúc đẩy mối liên kết ngược giữa các doanh nghiệp FDI với các nhà cung ứng trong nước Mối liên kết này thường được thể hiện ở hai dạng: nguyên liệu thô đầu vào tại địa phương và nguồn cung cấp linh kiện, phụ tùng từ các doanh nghiệp sở tại (thường được nói đến dưới thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ”) Tất nhiên, mối liên kết ngược này có hình thành
và phát triển được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào độ rộng và độ sâu của nền tảng công nghiệp nước sở tại Hơn thế nữa, điều này còn đòi hỏi sự liên kết giữa Chính phủ và các thành phần kinh tế trong nước để có thể tận dụng tối đa những tác động lan tỏa tích cực do các KCN mang lại và chủ động sử dụng những tác động đó trong việc nâng cao nội lực của quốc gia trong quá trình phát triển và hội nhập
Như vậy, các KCN ngày càng phát triển thì các yếu tố về cơ sở hạ tầng ngày càng được hoàn thiện hơn Điều đó từng bước tăng khả năng thu hút vốn đầu tư vào trong KCN, đặc biệt là nguồn vốn FDI
Ngược lại, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN cũng thúc đẩy phát triển các KCN Điều đó thể hiện rất rõ qua việc thu hút được nhiều nguồn vốn FDI vào các KCN góp phần phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cho các ngành
mà các doanh nghiệp FDI đầu tư Qua đó, việc phát triển các KCN ngày càng được
mở rộng và phát triển hơn Bởi mối quan hệ giữa FDI và công nghiệp phụ trợ trong
Trang 31nước có tính tương hỗ hai chiều và chỉ có thể phát triển bền vững trên nguyên tắc
“đôi bên cùng có lợi”
Các doanh nghiệp FDI, dù đặt cơ sở sản xuất ở đâu, cũng đều cần một lượng lớn các yếu tố đầu vào Họ có 3 lựa chọn: nhập khẩu, tổ chức sản xuất tại chỗ và tìm nguồn cung ứng địa phương (mua từ các doanh nghiệp trong nước, hoặc cũng có thể
từ các doanh nghiệp FDI khác) Rõ ràng là, nếu có thể sử dụng các yếu tố này ở ngay nền kinh tế nước sở tại, thì họ sẽ giảm được đáng kể chi phí sản xuất, đồng thời có thể tập trung vào việc nâng cao tính chuyên môn hoá, phát huy những thế mạnh của riêng mình Đặc biệt nếu các yếu tố này được tập trung trong các KCN lân cận thì sẽ rất thuận lợi và giảm chi phí vận chuyển cho các doanh nghiệp FDI, qua đó nâng cao yếu tố cạnh tranh về giá cả Qua đó càng giúp các KCN thu hút vốn đầu tư vào các ngày cung ứng đầu vào và các KCN từng bước được mở rộng và phát triển, đặc biệt là việc hình thành các vùng công nghiệp với các ngành sản xuất chính và các ngành công nghiệp phụ trợ liền kề
Như vậy, ta có thể thấy việc phát triển các KCN có tác động rất lớn đến việc thu hút vốn đầu tư FDI Và qua đó, từng bước cải thiện cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tạo nhiều việc làm cho lao động và nâng cao kinh nghiệm quản lý sản xuất Đồng thời việc thu hút các doanh nghiệp FDI vào các KCN cũng góp phần phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, qua đó tạo mối liên kết giữa các ngành giúp phát triển các KCN một cách bền vững
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào các khu công nghiệp
1.2.1 Những nhân tố bên ngoài
1.2.1.1 Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trong khu vực và quốc tế
Trong những năm vừa qua , môi trường kinh tế đã có những biến đổi quan trọng, tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế đang tăng lên từng ngày từng giờ Hầu hết nền kinh tế của các quốc gia có xu hướng ngày càng mở rộng ra thế giới bên ngoài Quá trình toàn cầu hóa ngày nay đang tạo ra sự lưu chuyển theo xu hướng tự do hóa đối với luồng vốn và hàng hóa , dịch vụ trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, đối với từng quốc gia thì sự lưu chuyển trên phạm vi toà n cầu vẫn còn nhiều hạn chế , nhất
là sự lưu chuyển vốn quốc tế và vì vậy mức độ cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn
Trang 32đầu tư giữa các quốc gia cũng ngày càng trở nên gay gắt hơn Sự tiến bộ của khoa học công nghệ , nhất l à công nghệ thông tin đã trở thành yếu tố quyết định trong cạnh tranh mà yếu tố này là ưu thế của các nước công nghiệp phát triển Hơn nữa, sự phát triển của các công ty đa quốc gia khiến cho sự cạnh tranh lại càng khốc l iệt thêm bởi các công ty đa quốc gia nắm giữ một khối lượng vốn tư bản , tri thức và công nghệ, do đó có khả năng đầu tư vào mọi lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao và có khả năng đem lại lợi nhuận
Về mặt lý thuyết , tự do h óa thương mại làm cho các yếu tố quy định khả năng cạnh tranh chuyển dịch dễ dàng từ nơi này đến nơi khác , tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách chênh lệch về khả năng cạnh tranh giữa các quốc gia với nhau Đặc biệt ở những nước đang phát triển, những ngành tập trung nhiều lao động đang ngày càng mất dần lợi thế cạnh tranh của nó mà thay vào đó là những ngành có hàm
lượng kỹ thuật công nghệ cao Một điều dễ hiểu là vì sao 3/4 nguồn vốn đầu tư quốc tế lại tập trung ở các nước phát triển Đó là các nước phát triển có trình độ công nghệ cao, lao động có trình độ chuyên môn , đặc biệt là lao động chất xám, là những yếu tố tạo nên những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao Do vậy, để tăng cường khả năng cạnh tranh trong thu hút FDI , ngày càng có nhiều quốc gia điều chỉnh chính sách và môi trường đầu tư để tạo sự hấp dẫn và cởi mở hơn cho các nhà đầu tư
Bảng 1.1: Điều chỉnh môi trường đầu tư của các nước giai đoạn
1991 - 2004
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 Số lượng các nước
thay đổi môi
trường đầu tư 64 65 76 60 63 69 71 71 82 102 Số lượng điều lệ
thay đổi 112 114 151 145 140 150 208 248 244 271 Trong đó:
+ Thuận lợi để thu
Trang 33Mặc dù vậy, vấn đề thu hút FDI không chỉ dựa vào chính sách ưu đãi đầu tư
mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng khác như chất lượng nguồn nhân lực , giá nhân công, cơ sở hạ tầng, sự phát triển của khoa học công nghệ, môi trường luật pháp… Do vậy , điều này buộc các nước phải có sự cạnh tranh lẫn nhau , nhất là những nước có điều kiện tương đối giống nhau nhưng môi trường đầu tư khác nhau
Bên cạnh sự cạnh tranh giữa các quốc gia , xu hướng liên kết kinh tế khu vực cũng ngày càng tăng lên Mục tiêu chủ yếu của các liên kết kinh tế này là thúc đẩy đầu tư quốc tế , tăng cường khả năng cạnh tranh , thúc đẩy sự hợp tác về thuế quan , mậu dịch, tài chính và tiền tệ… cho tới nay trên thế giới có khoảng hơn 20 khối liên kết như : Liên minh châu Âu (EU), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),
Tổ chức thương mại thế giới (WTO), OECD…
1.2.1.2 Xu hướng tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế
Dưới tác động mạnh mẽ của làn sóng khoa học , kỹ thuật và công nghệ mới , quá trình tự do hó a thương mại và đầu tư đã diễn ra nhanh chóng và rộng ở khắp nhiều nước khác nhau trên thế giới , bắt đầu từ các nước công nghiệp phát triển , sau đó là đến các nước đang phát triển Đây là yếu tố mang tính chủ quan tạo đi ều kiện thúc đẩy sự phát triển của toàn cầu theo hướng phục vụ cho lợi ích các quốc gia
Mặc dù quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư diễn ra ở các nước không đồng đều song đây là xu thế lâu dài , chủ đạo, bao quát và chi phối toàn bộ đời sống kinh tế, tài chính tiền tệ quốc gia và quốc tế trong những năm đầu của thế kỷ XXI Tự do hóa thương mại và đầu tư là một quá trình diễn biến theo từng giai đoạn nhằm loại bỏ dần các hàng r ào thuế quan, hạn chế dần sự độc quyền nhà nước trong sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, cho phép nước ngoài đầu tư kinh doanh ở một số lĩnh vực nhất định , thực hiện cạnh tranh tự do và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tiến tới hạ thấp và bãi bỏ hàng rào thuế quan đối với các hàng hóa xuất nhập khẩu
Theo quan niệm của trường phái tân cổ điển thì trạng thái tự do hóa toàn cầu
Trang 34đạt được khi các nhân tố tác động mạnh đến quyế t định đầu t ư của các nhà đầu tư Như vậy, vấn đề đầu tư sẽ không còn là sự khác biệt về các đường biên giới quốc gia hay tỉ suất hoàn vốn mà chỉ còn là chi phí vận chuyển và mức độ rủi ro của thị trường
Hiện nay, ngày càng có nhiều quốc gia chuyển sang thực hiện chính sách tự
do hóa, mở cửa thị trường và loại bỏ những cơ chế điều hành cản trở các hoạt động sản xuất kinh doanh Các nước trên thế giới hiện nay , hầu như không còn tồn tại tình trạng thị trường đơn nhất ngay cả ở cường quốc kinh tế phát triển Giờ đây, hầu như thị trường nội địa của các nước đều gắn với thị trường thế giới , là bộ phận của thị trường thế giới Những chính sách này đã tạo ra môi trường thông thoáng cho sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia , tạo điều kiện cho toàn cầu hóa tiến triển nhanh hơn Nhiều nước đã mạnh dạn dựa nhiều hơn vào các thị trường quốc tế nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của mình Quá trình tự do hóa đang tập trung chủ yếu vào lĩnh vực đầu tư và thương mại
Thực tế cho thấy toàn cầu hóa góp phần tăng cường quốc tế hóa luồng vốn
do vậy luồng vốn sẽ dễ dàng di chuyển từ nước này qua nước khác Có thể nói lợi ích của tự do hóa thương mại và đầu tư là rất lớn đối với sự trao đổi hàng hóa giữa các nước, các khu vực , góp phần đá ng kể vào phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, nó được thể hiện thông qua những chỉ số cơ bản như tăng mức tăng trung bình hàng năm của thương mại thế giới , tỷ lệ giữa tổng giá trị thương mại và GDP của thế giớ i, khoảng cách giữa mức tăng thương mại thế giới và mức tăng trưởng hàng năm, sự di chuyển vốn giữa các nước và khu vực
1.2.1.3 Cách mạng khoa học và công nghệ thúc đẩy đầu tư quốc tế
Sự bùng nổ của cách mạng khoa học và công nghệ đã gây nên sự đột biến trong tăng trưởng kinh tế , đồng thời làm cho cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia có sự biến đổi sâu sắc , đưa xã hội loài người bước sang một nền văn minh mới - nền văn minh “trí tuệ” Khác v ới các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trước đây , cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay được đặc trưng bởi những phát minh sáng chế, trực tiếp hình thành các nguyên lý công nghệ mới , làm thay đổi về chất cách
Trang 35thức sản xuất chứ không phải chỉ đơn thuần về mặt công cụ sản xuất Điều đó đặt ra đường lối phát triển kinh tế mới cho mỗi quốc gia, đưa đến quan niệm mới về yếu tố
và nguồn lực của sự phát triển , trong đó vai trò của con ng ười và trình độ khoa học
và công nghệ ngày càng có tính chất quyết định
Hiện nay, trên thế giới mỗi ngày có hàng nghìn bản quyền phát minh sáng chế khoa học công nghệ được công nhận Hàng loạt các công nghệ mới như : công nghệ điện tử , công nghệ tin học , công nghệ sinh học , công nghệ vật liệu mới… đã làm thay đổi các yếu tố của quá trình sản xuất và quản lý kinh tế , từ công cụ lao động đến đối tượng lao động, từ người công nhân đến ph ương pháp quản lý Tốc độ phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho khoa học thực sự trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp Những máy móc tiên tiến , hiện đại góp phần làm cho năng suất lao động cao gấp hàng trăm , hàng ngàn lần trước đây , vừa tiết kiệm được năng lượng, nguyên liệu cho sản xuất, vừa làm cho sản xuất phát triển nhanh chóng Sự đột phá của cuộc cách mạng này là không ngừng tạo ra những công nghệ mới thúc đẩy quá trình tự động hóa Do vậy, cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia đang phát triển đã chuyển dần từ những ngành sử dụng nhiều lao động, vốn và tài nguyên sang phát triển những ngành có hàm lượng kỹ th uật và công nghệ cao Các ngành nghề truyền thống ở các nước phát triển giảm xuống và chỉ có đầu tư ra các nước đang ở bậc thang phát triển thấp hơn mới có thể tìm được lợi nhuận cao hơn Sự chuyển dịch này đã làm bù ng nổ đầu tư trực tiếp nước ngoài
và nhiều nước đang phát triển đã lợi dụng sự bùng nổ này để thực hiện chiến lược
“mở cửa” nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn , tham gia vào cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Một số nước và lãnh thổ đã nhanh chóng vươn lên trở thành những nền công nghiệp mới như : Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và Hàn Quốc Trên cơ sở nâng cao trình độ kinh tế, khoa học và công nghệ, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch đầu tư các ngành nghề cũ tới các nước đang phát triển ở tầng thấp hơn
1.2.1.4 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNCs)
Theo UNCTAD, các TNCs bao gồm công ty mẹ và các công ty con ở nước ngoài, trong đó công ty mẹ của quốc gia đầu tư kiểm soát tài sản thông thường bằng
Trang 36sở hữu (từ 10% cổ phần trở lên) của một hoặc nhiều thực thể khác ở một hoặc nhiều quốc gia bên ngoài quốc gia đầu tư Các công ty xuyên quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định thúc đẩy tăng trưởng đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng năng lực cạnh tranh, mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường và tăng đầu tư chiều sâu bằng công nghệ cao Bên cạnh đó các TNCs cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng sản phẩm quốc tế Năm 1999, toàn thế giới có 63.321 TNCs với 821.818 chi nhánh nước ngoài, và cũng có tổng tài sản nước ngoài lên đến 17.700 tỷ USD Trong đó tổng tài sản nước ngoài của 100 TNCs lớn nhất thế giới là 2.124 tỷ USD, chiếm 12% tổng tài sản nước ngoài của tất cả các TNCs
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế phát triển ngày càng sâu rộng, tốc độ tự do hóa thương mại ngày càng tăng thì hoạt động của các TNCs cũng được mở rộng hơn bao giờ hết Việc mở cửa thương mại và đầu tư cho phép các TNCs chuyên môn hóa nhiều hơn và tìm kiếm những địa điểm thuận lợi để tạo
ra năng lực cạnh tranh cao Các TNCs cũng có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn địa điểm và lĩnh vực mà họ muốn chuyển đổi Do vậy, để thu hút FDI nhiều hơn, nhất là từ các TNCs, trong thời gian từ năm 1991 - 2000 đã có 1.185 điều lệ liên quan đến thu hút FDI được thay đổi, trong đó có 95% được thay đổi theo hướng tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư Năm 2004 có 102 nước thay đổi môi trường đầu
tư (cao hơn 82 nước của năm 2003) với số lượng điều lệ thay đổi là 271, trong đó số điều lệ thay đổi theo hướng thuận lợi cho các nhà đầu tư là 235 (chiếm 86%)
Thông thường khi các TNCs có hoạt động đầu tư tại một nước thì thường tạo
ra cho nước đó sức mạnh và sự năng động, thu hút thêm các kỹ năng và nguồn vốn mới Thông qua việc mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường và tăng đầu tư chiều sâu bằng công nghệ, các TNCs có thể đem lại cho những nước tiếp nhận đầu tư những thành tựu mới về mẫu mã, chất lượng, chi phí và giá cả của sản phẩm Vì lý do đó các TNCs đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và ngày càng đẩy mạnh các hoạt động này Và các nước có những chính sách ưu tiên hợp lý nhằm thu hút đầu tư của các TNCs sẽ có được nguồn vốn dồi dào, kỹ thuật công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý tiên tiến, phát triển những ngành kinh tế mới phù hợp với nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Trang 371.2.2 Những nhân tố bên trong
1.2.2.1 Sự ổn định về kinh tế - chính trị
Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro khi hoạt động đầu
tư ở nước chủ nhà bởi dòng vốn FDI không nằm trong tầm kiểm soát của chủ đầu tư nước ngoài Những bất ổn định kinh tế - chính trị không chỉ làm cho dòng vốn này
bị chững lại, thu hẹp, mà còn làm cho dòng vốn này từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi trú ẩn mới an toàn và hấp dẫn hơn
Khi nước tiếp nhận đầu tư có bất kỳ sự xung đột nào ở trong nước hay ở trong khu vực, nội chiến hay sự hoài nghi… đều thiếu thiện cảm đối với các nhà đầu tư nước ngoài bởi vì đây là những nhân tố nhạy cảm, tác động tiêu cực đến tâm
lý và hành động thực tế của các chủ đầu tư cũng như làm chậm lại các cải cách chính sách cần thiết đối với việc thu hút FDI của nước chủ nhà Để thu hút đầu tư, trước hết hệ thống luật pháp đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn
và cuộc sống cá nhân cho nhà đầu tư nếu hoạt động đầu tư của họ không làm phương hại đến an ninh quốc gia và môi trường cạnh tranh lành mạnh…
Tóm lại, kinh tế - chính trị của nước tiếp nhận đầu tư càng ổn định thì càng
có khả năng thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.2.2 Môi trường luật pháp thuận lợi
Thu hút FDI là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động quản lý vĩ mô về đầu tư nước ngoài của chính phủ Việc thu hút FDI không chỉ gắn liền với hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước Đối với mỗi quốc gia, hệ thống luật pháp và môi trường thể chế là thành phần quan trọng của môi trường đầu tư bởi vì nó phản ánh chính sách mở cửa và chiến lược hội nhập với nền kinh tế thế giới
Thực tế cho thấy sự thành công hay thất bại trong việc hấp dẫn các nhà đầu
tư nước ngoài phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống luật pháp cũng như môi trường thể chế Tuy nhiên, tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của từng nước mà hệ thống pháp luật của một nước càng đồng bộ, rõ ràng, chặt chẽ, không có sự chồng chéo, phù hợp với hệ thống luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng thu hút FDI của nước đó sẽ càng cao và ngược lại Các nhà đầu tư cho rằng pháp luật quy định và điều chỉnh tất cả các hoạt động để gắn quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm kinh tế
Trang 38- xã hội của họ trong sản xuất kinh doanh Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống luật pháp trong việc thu hút FDI, nhiều nước trên thế giới đã liên tục thay đổi,
bổ sung thêm các văn bản, luật hướng dẫn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài và đây cũng là yếu tố cạnh tranh quyết liệt giữa các nước cũng như các khu vực Chẳng hạn, để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, chính phủ Philippin đã tiến hành tự do hóa lĩnh vực ngân hàng, viễn thông, vận tải nội địa và cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài hay Singapore cam kết sẽ thực hiện giảm thuế và các hàng rào phi thuế quan sớm trước từ 4 - 9 năm theo lịch trình của vòng Urugoay
Qua đó, có thể thấy rõ các nước rất chú trọng đến cải thiện hệ thống luật pháp, chính sách nhằm tăng cường thu hút FDI góp phần phát triển kinh tế Đây là
sự thay đổi phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa đang được tăng cường hiện nay mà trong đó các dòng đầu tư quốc tế ngày càng vận động tự do với tốc độ và quy mô lớn hơn
1.2.2.3 Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Để tăng cường hoạt động đầu tư, ngoài môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch đòi hỏi các nước phải có kết cấu hạ tầng kỹ thuật tương xứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai các dự án đầu tư đã cam kết
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, điện nước… Để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tiến trình đầu tư Do vậy, sức cạnh tranh của nhiều ngành dịch vụ như bưu chính viễn thông, vận tải hàng không, điện, vận tải biển,… ngày càng phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu ở tất cả các quốc gia Trên thực tế, chính sách phát triển hạ tầng cơ sở của mỗi quốc gia sẽ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước
Việc phát triển và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật không chỉ là điều kiện để tăng sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ
Trang 39đầu tư triển khai các dự án mà còn là một cơ hội thuận lợi cho những nước tiếp nhận đầu tư có thể khai thác lợi ích nhiều hơn, đầy đủ hơn từ các dịch vụ vận tải, thông tin, điện nước từ các dự án đầu tư đã được triển khai
1.2.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự thành công của doanh nghiệp Doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không phụ thuộc rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực và vì vậy muốn trở thành những doanh nghiệp hàng đầu có khả năng chiếm lĩnh được thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài, vấn đề quan trọng hàng đầu là các doanh nghiệp đó phải có nhiều lao động giỏi và nhà quản lý giỏi Thực tế chứng minh rằng chất lượng nguồn nhân lực có tác động rất mạnh đến khả năng thu hút FDI của cả nước, kể cả những nước nghèo Chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia thấp sẽ dẫn đến khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến hạn chế, trình độ quản lý yếu kém, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm và làm giảm tính cạnh tranh của quốc gia đó Ngược lại, chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia cao sẽ tạo điều kiện hàng đầu để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Thông thường một quốc gia
có năng lực hấp thụ vốn FDI cao và nguồn nhân lực có chất lượng tốt thì dòng vốn nước ngoài đổ vào quốc gia đó càng nhiều và khai thác có hiệu quả
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển mạnh mẽ hiện nay, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò tích cực trong việc thu hút FDI Một
số công trình nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng các nhân tố quyết định đối với đầu
tư nước ngoài thì ngày nay tuy lao động vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong đầu
tư nước ngoài nhưng là lao động lành nghề giá rẻ chứ không phải là lao động giản đơn giá rẻ như trước
Như vậy, việc ưu tiên cho giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là không thể thiếu được trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh để thu hút FDI đang ngày càng khốc liệt như hiện nay
Trang 401.2.2.5 Cải cách thủ tục hành chính và hiệu quả quản lý của nhà nước về FDI
Lực cản lớn nhất làm nản lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, gây tốn kém về thời gian và chi phí, làm mất cơ hội đầu tư Bộ máy hành chính hiệu quả không chỉ quyết định sự thành công trong thu hút vốn FDI mà còn trong vấn đề sử sụng nguồn vốn Bộ máy hành chính gọn nhẹ, sáng suốt, các thủ tục hành chính và những quy định pháp lý đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con người có trình độ chuyên môn cao và tôn trọng pháp luật sẽ là những yếu tố quan trọng khi quyết định đầu tư và mở rộng đầu tư của các nhà đầu
tư nước ngoài
Vì mục tiêu của FDI là nhằm thu lợi nhuận cao, do vậy, nếu các dự án FDI
đã được triển khai đạt tỷ suất lợi nhuận sẽ khuyến khích và củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đầu tư để tái sản xuất đồng thời có tính lan tỏa đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đầu tư Điều này sẽ giúp cho nguồn vốn FDI tiếp tục tăng Ngược lại nếu các dự án đang triển khai kinh doanh không hiệu quả, thường xuyên thua lỗ sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư, vì họ cho rằng có thể môi trường đầu tư không tốt
Tóm lại, FDI sẽ tìm đến những quốc gia có nền kinh tế - chính trị - xã hội ổn định, hệ thống pháp luật đầu tư đầy đủ, cởi mở, tin cậy và mang tính chuẩn mực quốc tế cao, thủ tục hành chính không rườm rà, chính sách đầu tư linh hoạt và đủ sức hấp dẫn, cơ ở hạ tầng tốt, lao động có trình độ và rẻ, các dự án kinh doanh có hiệu quả…
1.3 Kinh nghiệm về thu hút FDI vào các khu công nghiệp của một số nước và Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm thu hút FDI vào KCN của Thái Lan
Thái Lan nằm trong khu vực Đông Nam Á và là nước thành viên APEC Thái Lan có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về văn hóa, lịch sử và địa lý Trong những năm vừa qua Thái Lan có nhiều bước phát triển mạnh về kinh tế Mặc
dù gần đây, do gặp phải nhiều thiên tai như sóng thần, mất ổn định về chính trị như đảo chính…toàn cảnh nền kinh tế vĩ mô của Thái Lan vẫn có sự tăng trưởng