DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT KH viết tắt Nguyên nghĩa 1 UNCTAD Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển 2 PV-Petrovietnam Tập đoàn dầu khí Quốc Gia Việt Nam 3 PVEP Tổng Công
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ BÌNH
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA
TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ KHAI THÁC DẦU KHÍ (PVEP):
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên nghành : KTTG&QHKTQT
Mã số : 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Người hướng dẫn : TS Vũ Anh Dũng
HÀ NỘI: 2012
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIÊT TẮT i
DANH MỤC BẢNG, DANH MỤC HÌNH ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 9
1.1 Khái niệm, phân loại, vai trò đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp 9
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI-Foreign Direct Investment ) 9
1.1.2 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
1.1.2.1 Phân loại theo hình thức đầu tư 10
1.1.2.2 Phân loại theo phương thức thực hiện 12
1.2 Các nhân tố thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài 13
1.2.1 Đối với nước đi đầu tư 13
1.2.1.1 Tích cực 13
1.2.1.2 Tiêu cực 15
1.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư 15
1.2.2.1 Tích cực 15
1.2.2.2 Tiêu cực 17
1.2.3 Đối với Việt Nam………18
1.3 Kinh nghiệm đầu tư ra nước ngoài của một số công ty dầu khí quốc gia thành công trên thế giới 20
1.3.1 Petronas 20
1.3.2 Chinese National Offshore Oil Company (CNOOC) 23
1.3.3 PTTEP 24
Trang 31.3.4 Một số điểm rut ra từ các công ty dầu khi trên 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA PVEP 28
2.1 Tổng quan của PVEP 28
2.2 Thực trạng công tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài 31
2.2.1 Các hình thức triển khai thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài 31
2.2.1.1 Mua tài sản dầu khí 31
2.2.1.2 Thăm dò diện tích mới 33
2.2.1.3 Trao đổi cổ phần 34
2.2.2 Các thị trường trọng điểm 35
2.2.2.1 Đông Nam Á 35
2.2.2.2 Trung Đông và Bắc Phi 37
2.2.2.3 Nga và các nước vùng Ca-xpiên 38
2.2.3 Các dự án hiện tại ở nước ngoài 39
2.2.3.1 Các dự án hiện có 39
2.2.3.2 Các dự án đang đánh giá, đàm phán 58
2.3 Nhận xét đánh giá 59
2.3.1 Thành công 59
2.3.2 Tồn tại 60
2.3.3 Nguyên nhân 61
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC DẦU KHÍ CỦA PVEP 65
3.1 Dự báo nhu cầu năng lượng, cơ hội và thách thức 65
3.1.1 Dự báo nhu cầu năng lượng 65
Trang 43.1.1.1 Dự báo nhu cầu năng lượng 65
3.1.1.2 Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam 67
3.1.2 Cơ hội và thách thức 70
3.1.2.1 Cơ hội 70
3.1.2.2 Thách thức 71
3.2 Định hướng chiến lược phát triển 72
3.2.1 Quan điểm chiến lược phát triển ngành 72
3.2.2 Định hướng triển khai hoạt động tìm kiếm thăm dò khai thác ở nước ngoài 73
3.3 Giải pháp đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài 73
3.3.1 Giải pháp vĩ mô 74
3.3.1.1 Công tác quản lý 74
3.3.1.2 Cung cấp thông tin 75
3.3.1.3 Chính sách hỗ trợ ưu đãi 76
3.3.1.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh 77
3.3.1.5 Hoàn thiện khung pháp lý 78
3.3.1.6 Nâng cao năng lực tài chính 78
3.3.1.7 Nâng cao năng lực công nghệ 79
3.3.2 Giải pháp vi mô 79
3.3.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động đầu tư thăm dò khai thác ra nước ngoài 79
3.3.2.2 Đa dạng hóa phương thức đầu tư 81
3.3.2.3 Đổi mới phương pháp tiếp cận và đánh giá dự án 83
3.3.2.4 Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động theo xu hướng hội nhập và quốc tế hóa 84
3.3.2.5 Giải pháp về vốn 85
3.3.2.6 Phát triển mạnh nguồn nhân lực 87
Trang 53.3.2.7 Giải pháp về khoa học công nghệ 88 3.3.2.8 Giải pháp về an ninh, quốc phòng 90
KẾT LUẬN 91
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT KH viết tắt Nguyên nghĩa
1 UNCTAD Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát
triển
2
PV-Petrovietnam
Tập đoàn dầu khí Quốc Gia Việt Nam
3 PVEP Tổng Công ty Thăm dò Khai Thác Dầu khí
4 M&A Hoạt động mua lại và sáp nhập
5 FDI vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
6 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
7 GDP tổng sản phẩm quốc nội
8 PSC Hợp đồng phân chia sản phẩm
9 Petronas Công ty dầu khí Ma-lai-xia
10 CNOOC Công ty dầu khí Trung Quốc
11 PTTEP Công ty dầu khí Thái Lan
12 JOC Hợp đồng điều hành chung
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Tên bảng Trang
1 Bảng 2.1 Tiềm năng dầu khí khu vực Đông Nam Á 36
2 Bảng 2.2 Tiềm năng dầu khí khu vực Trung Đông và
Trang 8Hình 3.3 Trữ lượng và tiềm năng dầu khí Việt Nam 68 Hình 3.4 Sản lượng dầu khí dự báo giai đoạn 2007-
2025
69
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đầu tư ra nước ngoài là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng hơn, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hoá, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sở tại để mở rộng thị trường.Đồng thời, tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới
Đối với Việt Nam, song song với mục tiêu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp trong nước đã
mở hướng làm ăn ra bên ngoài lãnh thổ, với số lượng dự án cùng vốn đầu
tư tăng dần từng năm Xu hướng đầu tư ra nước ngoài đang trở nên khá sôi động, ngày càng có thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tài chính và quan tâm mở rộng địa bàn hoạt động sản xuất kinh doanh Hơn nữa đầu tư ra nước ngoài đã và đang chuyển từ những dự án có quy
mô nhỏ, đầu tư vào các ngành nghề đơn giản sang các dự án có quy mô lớn với các ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao hơn Việc đầu tư
ra nước ngoài đã trở thành một xu hướng phát triển mới của các doanh nghiệp Việt Nam, đã có những doanh nghiệp xem đây như một chiến lược phát triển trọng tâm của mình
Trong những năm qua, ngành dầu khí Việt Nam đã có những bước tiến bộ vượt bậc với tổng sản lượng khai thác đạt trên 100 triệu tấn (đứng thứ ba ở khu vực Đông Nam Á về khai thác dầu thô) và đã triển khai hoạt
Trang 10động một cách toàn diện từ khâu thăm dò khai thác đến tàng trữ, xử lý, vận chuyển, phân phối sản phẩm, lọc hoá dầu và dịch vụ Từ chỗ hoạt động bằng vốn ngân sách, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã tạo được nguồn tích luỹ đầu tư phát triển, có đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước và là nhân tố quan trọng góp phần đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng trong đầu thập kỷ 90 Tuy nhiên, kết quả thăm dò khai thác dầu khí trong nước những năm qua cho thấy trữ lượng dầu khí của Việt Nam không nhiều, điều kiện khai thác dầu khí ngày càng khó khăn, do vậy trong tương lai nước ta cần có thêm nguồn cung cấp bổ sung từ nước ngoài
Thực hiện đầu tư vào lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài là triển khai chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng Petrovietnam thành một tập đoàn kinh tế mạnh có hoạt động thăm dò khai thác cả ở trong và ngoài nước, gia tăng trữ lượng dầu khí làm cơ sở cho sự tăng trưởng của ngành, đồng thời góp phần đảm bảo nhu cầu năng lượng cho
sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Để triển khai chủ trương chiến lược trên, Petrovietnam đã thống nhất chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận trong Tập đoàn, giao toàn bộ công tác tìm kiếm thăm dò cả trong và ngoài nước cho Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
Ngành dầu khí Việt Nam tiềm lực còn yếu so với những “đại gia” trên thị trường thế giới Khi mở cửa, chấp nhận cạnh tranh với những đối thủ lớn này, nếu không có hướng đi phù hợp sẽ rất dễ rơi vào trạng thái bị động, phụ thuộc vào những nguồn tài trợ hay đầu tư từ nước ngoài mà không thể đững vững được trên đôi chân của mình
Công nghệ dầu khí của Việt Nam còn quá lạc hậu, hiện nay các dự
án trong nước chỉ là thăm dò khai thác và xuất khẩu dầu thô mà chưa thực
Trang 11hiện được công đoạn chế biến các sản phẩm từ dầu mỏ để thu lợi lớn hơn Điểm yếu này dễ bị các đối tác lợi dụng để khai thác nguồn tài nguyên của chúng ta dẫn đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, để lại hậu quả cho các thế hệ sau Đây là điều mà chúng ta cần tính toán kĩ lưỡng khi tiếp nhận hay trao đổi các dự án dầu khí
Sự cạnh tranh từ các công ty dầu khí quốc tế đối với các hoạt động thăm dò ở nước ngoài của PVEP là rất lớn, đặt PVEP vào tình thế khó khăn ngay từ trong giai đoạn tìm dự án đầu tư Để có được những dự án hấp dẫn
sẽ rất khó khăn và không có nhiều lựa chọn tốt cho PVEP khi tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài
Chi phí cho hoạt động dầu khí ngày càng tăng Đơn giá cho 1 tấn dầu
để phát hiện ra, phát triển và khai thác ngày càng cao, dẫn đến nhu cầu vốn cho PVEP sẽ rất lớn, đặt ra nhiều thách thức về thu xếp vốn đầu tư
Vậy để hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí được thuận lợi thì PVEP phải làm gì ? Do đó việc nghiên cứu vấn đề đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của PVEP là rất cần thiết
Trên cơ sở thực tế đã được tìm hiểu tại Tổng Công ty Thăm dò Khai
thác Dầu khí, tôi đã lựa chọn đề tài luận văn : Đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài của Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP): Thực trạng và giải pháp
2 Tình hình nghiên cứu:
* Về sách chuyên khảo, tham khảo có các công trình nghiên cứu tiêu biểu :
Trang 12- Lý thuyết thương mại và đầu tư quốc tế, Bài giảng cho cao học
Nguyễn Anh Minh (2001)
- Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, Lê Bộ Lĩnh (2005) nhà
xuất bản chính tri quốc gia
- Quan hệ kinh tế quốc tế, Nguyễn Tuấn Anh (2006) nhà xuất bản
chính tri quốc gia
- Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam của
Đỗ Đức Bình(2006)
Các cuốn sách này mới đề cập đến các lý thuyết giải thích sự hình thành đầu tư trực tiếp đứng trên góc độ quan hệ kinh tế quốc tế
- Đầu tu trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế của Võ Đại Lược
và Lê Bộ Lĩnh (2006) đề cập đến đầu tư trực tiếp trong khu công nghiệp
- Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Viêt Nam của Hoàng Thị Bích Loan chủ biên (2008) nhà xuất bản chính trị quốc
gia Tác giả đưa ra toàn cảnh bức tranh của TNCs trong dòng lưu chuyển vốn FDI toàn cầu, chiến lược đầu tư trực tiếp của TNCs, Thực trạng đầu tư trực tiếp của TNCs vào Việt Nam
- Thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của
Đinh Trọng Thịnh (2006) nhà xuất bản Tài chính Tác giả nêu ra thực trạng
và phương hướng hoạt động để thúc đẩy các doanh nghiệp Viêt Nam đầu tư
ra nước ngoài
* Về giáo trình :
Trang 13- Giáo trình quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, Trường Đại họcc Kinh tế quốc dân, Bộ môn Kinh doanh quốc tếcủa
Nguyễn Thị Hường (2004) nhà xuất bản thống kê.Tác giả khái luận chung
về quản trị dự án FDI Đại cương về quản trị doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI Quản trị rủi ro trong hoạt động FDI Quản trị thẩm định dự án và triển khai dự án FDI
- Giáo trình đầu tư quốc tế của Phùng Xuân Nhạ (2001) Trình bày
những vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp
* Các bài báo, bài viết, luận án :
- Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (2002), Chiến lược đầu tư của Petrovietnam trong thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài Nghiên cứu về
thực trạng và chiến lược đầu tư của Petrovietnam trong thăm dò khai thác
dầu khí ở nước ngoài, tuy nhiên chỉ dừng lại ở năm 2002
- Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (2002), Bàn về định hướng chiến lược cho sự khởi đầu công cuộc đầu tư thăm dò khai thác dầu khí ra nước ngoài của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
- Luận án tiến sĩ Đỗ Hoàng Long Tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Nghiên cứu tác
động của toàn cầu hoá kinh tế đối với dòng FDI trên thế giới và Việt Nam
Xu hướng vận động của dòng FDI toàn cầu và một số giải pháp dối với thu hút FDI vào Việt Nam
- Luận án tiến sĩ Nguyễn Huy Thám Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các nước Asean và vận dụng vào Việt Nam Tác giả nghiên
Trang 14cứu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các nước Asean và vận dụng vào Việt Nam
- Ảnh hưởng của FDI và chuyển giao công nghệ đến phát triển công nghiệp và xuất khẩu của các nước khu vực Đông Á và Đông Nam Á, Nguyễn
Quang (2005) Số 9-Tr.64-72, Tạp chí nghiên cứu kinh tế
- Những loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại khu vực Đông Á- Đông Nam Á và kinh nghiệm thu hút vốn FDI của một số quốc gia Trà
Ngọc Phong 2004 Số 85 Tr.53-56, Tạp chí Kinh tế và phát triển
- Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế xã hội của Việt Nam Lê Công Toàn (2005) số 6, Tạp chí Tài chính- Tr.19-2
- Tổng công ty Dầu khí Việt Nam với mục tiêu xây dựng thành tập đoàn kinh tế mạnh Nguyễn Bá (2005) số 4, Kinh tế và dự báo
Các công trình nghiên cứu trên đều nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các góc độ và mục đích khác nhau Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp cụ thể về đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài của PVEP
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trang 153.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, Luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề sau:
- Khái quát một số lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
- Phân tích đánh giá thực trạng đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí của PVEP
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của PVEP
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của PVEP
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí của PVEP
- Thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng kết hợp phương pháp thống kê, phân tích hệ thống và các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp so sánh, tổng hợp Để phân tích minh chứng, so sánh, tổng hợp số liệu giải quyết các nội dung nghiên cứu của luận văn Các phương pháp đó được kết hợp chặt chẽ
Trang 16với nhau dựa trên cơ sở các quan điểm, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách đầu tư ra nước ngoài của Đảng và Nhà nước
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Phân tích cơ sở khoa học, đánh giá các yếu tố tác động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của PVEP chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
- Đóng góp một số giải pháp đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí của PVEP
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, danh mục hình luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài của PVEP
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí của PVEP
Trang 17Theo tổ chức thương mại thế giới: FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Theo nghị định số 78/2006/NĐ-CP của chính phủ: “Đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài.”
Trong thực tiễn quản lý đầu tư hiện nay có khá nhiều quan niệm về đầu tư, mỗi quan niệm lại đứng trên các giác độ khác nhau để định nghĩa Quan tâm đến quá trình quản trị hoạt động đầu tư, có thể đưa ra khái niệm
Trang 18như sau: “Đầu tư là tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu được lợi ích lớn hơn cho các nhà đầu tư, cho xã hội và cho cộng đồng”
Như vậy, việc các cá nhân và doanh nghiệp đưa vốn ra nước ngoài
để tự mình hoặc cùng với các nhà đầu tư nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý điều hành và thu lợi trong kinh doanh được gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài
So với hoạt động đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những điểm khác biệt rất lớn như sự phức tạp trong quản lý, điều hành và xử
lý tranh chấp do có sự tham gia của scác bên mang quốc tịch khác nhau, thường gắn với hoạt động chuyển giao công nghệ, gắn với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế,…
Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác
1.1.2 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1 Phân loại theo hình thức đầu tư
Liên doanh và chi nhánh sở hữu toàn bộ là hai hình thức cơ bản và chủ yếu trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, tuỳ theo giai đoạn và điều kiện phát triển riêng biệt của từng nước mà có thêm những hình thức biến tướng khác Ở Việt Nam hiện nay có thể khái quát một số
Trang 19Đầu tư theo hình thức liên doanh
Có thể hiểu đầu tư theo hình thức liên doanh là thành lập một doanh nghiệp được góp vốn bởi các nhà đầu tư trong và ngoài nước Hình thức này
có một số ưu điểm như chia sẻ rủi ro trong quá trình thành lập và hoạt động của dự án, giảm gánh nặng về vốn cho các nhà đầu tư nước ngoài, dễ tiếp cận thị trường và các cơ quan địa phương sở tại… Tuy nhiên thông qua hình thức này, quyền quản lý và lợi nhuận cũng sẽ bị chia sẻ cho các bên tuỳ theo
tỷ lệ góp vốn
nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đây là hình thức thành lập doanh nghiệp hoàn toàn do nhà đầu tư nước ngoài góp vốn và trực tiếp điều hành quản lý Hình thức này có ưu điểm là nhà đầu tư nước ngoài toàn quyền quyết định về quản lý, không phải chia sẻ lợi nhuận Tuy nhiên, sẽ chịu gánh nặng về vốn góp ban đầu, xác suất rủi ro cao, đôi khi gặp bất lợi trong việc tiếp cận thị trường và các cơ quan chính quyền sở tại
Theo Điều 9- Nghị định 108/2006/ NĐ-CP của chính phủ: Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hợp đồng do một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài ký kết với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước để tiến hành đầu tư, kinh doanh; trong đó có quy định về quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân
Như vậy có thể hiểu đây là hình thức đầu tư mà các bên tham gia hợp đồng ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất
Trang 20kinh doanh ở nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia các kết quả kinh doanh cho các bên tham gia Khi hết thời gian hiệu lực thì các bên không còn ràng buộc
về mặt pháp lý
Hình thức này chỉ khác với doanh nghiệp liên doanh ở chỗ không cho ra đời một pháp nhân mới, bên nước ngoài mượn tư cách pháp nhân của bên sở tại để tiến hành các hoạt động của mình Đây chính là điểm bất cập
mà nhà đầu tư nước ngoài không mong muốn vì cơ hội khuyếch trương uy tín của họ hầu như không có Mặt khác hình thức này thường không đòi hỏi vốn lớn và thời hạn hợp đồng thường ngắn, cũng chính vì vậy mà ít thu hút được những nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng
Theo luật pháp Việt Nam còn có một số hình thức đầu tư đặc thù như các hợp đồng BOT (xây dựng-kinh doanh-chuyển giao) và các hình thức phái sinh của nó
1.1.2.2 Phân loại theo phương thức thực hiện
Đó là việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư mua sắm thiết bị và thiết lập các cơ sở kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư Hình thức này làm tăng số lượng dự án đầu tư vào một ngành, địa phương nhất định
Trang 21Mua lại và sáp nhập là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào
1.2 Các nhân tố thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài
1.2.1 Đối với nước đi đầu tư
1.2.1.1 Tích cực
Chính phủ những nước này muốn mở rộng đầu tư ra nước ngoài, có thể dưới hình thức không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp nhằm mục đích chính trị, ép buộc nước tiếp nhận phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho nước đầu tư Một số trường hợp đầu tư nhằm mục đích nhân đạo, củng
cố hình ảnh và niềm tin của nước mình với thế giới [7]
Các cơ sở sản xuất kinh doanh dù là tư nhân hay của Nhà nước khi
đã đi đầu tư đều nhằm mục tiêu chủ yếu là lợi ích kinh tế, lợi nhuận Đầu tư
ra nước ngoài, các đơn vị này hướng đến tận dụng lợi thế chi phí sản xuất thấp Bằng cách thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để sử dụng nguồn lao động rẻ Mặt khác đối với những công nghệ đã cũ, khi trong nước không còn điều kiện để phát triển thì họ có thể mang đi đầu tư ở những nước có trình độ công nghệ thấp hơn để kéo dài chu kỳ sống cho sản phẩm và công nghệ, chi phí sản xuất thấp để giảm giá thành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nhờ vậy mà tạo thêm được lợi nhuận [18]
Đầu tư ra nước ngoài còn giúp cho các nhà kinh doanh của nước chủ nhà tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào dồi dào ổn định
Trang 22giá rẻ thường có ở các nước đang phát triển Đây là một lợi thế thường được các nước đang phát triển tận dụng để kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài [20] Đầu tư nhằm tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp thuộc các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước châu Á khác vì việc đảm bảo cung cấp ổn định các nguồn lực có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các nước này Bởi vậy, khi nguồn lực trong nước có chiều hướng cạn kiệt, đặc biệt là các tài nguyên chiến lược như dầu khí, các doanh nghiệp phải chuyển hướng khai thác các nguồn lực từ bên ngoài Ví dụ như các doanh nghiệp dầu khí quốc gia của Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kì… đã phải thực hiện nhiều dự án liên doanh nhằm khai thác dầu mỏ ở một số quốc gia khác như Trung Đông, Tây Á, Bắc Phi…
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn nhằm mục đích khai thác chuyên gia và công nghệ ở nước nhận đầu tư [19]
Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư còn có một mục đích cao hơn,
đó là bành trướng sức mạnh kinh tế, tăng sức ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế [19] Thường thì các nước kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài có chính sách rất thông thoáng, khuyến khích xuất khẩu và chuyển giao công nghê, vì vậy khi xuất khẩu máy móc sang để sản xuất tai đây và sau đó xuất khẩu các sản phẩm này sang các nước khác, chủ đầu tư nước ngoài đã né tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch, mở rộng được thị trường tiêu thụ một cách dễ dàng
Thực tế cho thấy các nước phát triển đôi khi có những khó khăn không thể tự giải quyết Sự hợp tác đầu tư làm cho những vấn đề đó trở nên
dễ dàn hơn, đồng vốn được sử dụng với hiệu quả kinh tế-xã hội-chính trị cao
Trang 23nhất Điển hình ở các nước phát triển có một xu hướng, ngay cả khi trong nước tình trạng thất nghiệp đang gia tăng nhưng các doanh nghiệp vẫn có xu hướng tìm kiếm lao động ở nước ngoài và đem vốn đi đầu tư, đồng thời cũng đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư
1.2.1.2 Tiêu cực
Việc một lượng vốn được chuyển ra nước ngoài làm giảm cán cân thanh toán quốc gia, đồng thời khả năng đầu tư cho phát triển kinh tế trong nước cũng bị hạn chế Điều này phải được khắc phục bằng cách thu hút vốn
từ nước khác vào, tạo lập sự cân bằng cho cán cân thanh toán
Bên cạnh đó, vốn và tài sản từ các hoạt động kinh tế ngầm được chuyển ra nước ngoài mà Chính phủ không quản lý được, hoặc có thu hồi được thì chi phí cũng rất tốn kém
Đầu tư ra nước ngoài còn có một tác động làm chủ đầu tư e ngại, đó
là nguy cơ chảy máu chất xám, mất vị thế độc quyền về công nghệ [7] Thường thấy rằng các nước phát triển đầu tư sang nước đang phát triển đa phần là công nghệ lạc hậu, sử dụng ít chất xám
Việc đầu tư ra nước ngoài dẫn đến các sản phẩm được sản xuất ra với giá thành rẻ hơn, thị trường tiêu thụ cũng được mở rộng [18] do chính sách khuyến khích xuất khẩu của nước tiếp nhận sẽ là một kênh tiêu thụ cạnh tranh với sản xuất kinh doanh nội địa của nước chủ đầu tư
1.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
1.2.2.1 Tích cực
Trang 24Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài sẽ làm tăng lượng tiền, tài sản trong nền kinh tế sẽ tạo sự tăng trưởng khả quan và giúp khai thác các nguồn lực một cách hiệu quả [7]
Cơ cấu kinh tế sẽ được điều chỉnh theo hướng tích cực, những ngành
có lợi thế so sánh, có lợi nhuận cao, khả năng cạnh tranh mạnh sẽ được tập trung phát triển
Thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài đồng thời với việc các Liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, khu công nghiệp, khu chế xuất…
sẽ được thành lập Những khu này sẽ thu hút được một lượng lớn lao động, đặc biệt là lao động tại chỗ, giúp giải quyết việc làm cho một lượng người dân đang thất nghiệp hay bán thất nghiệp Đồng thời khoản thuế, lệ phí mà các đơn vị này nộp cho Nhà nước cũng giúp tăng thu ngân sách bù đắp thiếu hụt
Những nhà đầu tư nước ngoài mang vốn cùng với công nghệ cao, kỹ thuật quản lý hiện đại, thương hiệu nổi tiếng, mạng lưới quan hệ rộng… Đây
là cơ hội tốt để các nước tiếp nhận nắm bắt nhằm tăng năng lực sản xuất, tăng kim ngạch xuất khẩu, khai thác thị trường nước ngoài, tạo lợi thế kinh
tế theo quy mô [7]
Ngược lại với nước đi đầu tư, hoạt động đầu tư nước ngoài làm tăng tiền, tài sản trong nền kinh tế của nước tiếp nhận, qua đó cải thiện cán cân thanh toán, gia tăng đầu tư cho nền kinh tế, góp phần tăng GDP [20]
Qua công việc hoặc các khoá huấn luyện, chương trình đào tạo ngắn
và dài hạn, đặc biệt là trong điều kiện làm việc cạnh tranh gay gắt thường có
ở những doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, đội ngũ cán bộ và người lao
Trang 25động sẽ được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng điều hành, quản lý… Điều này là một tác động tích cực to lớn và mang tính lâu dài, nâng cao trình
độ nguồn nhân lực, yếu tố then chốt cho phát triển kinh tế của một quốc gia
Các công ty xuyên quốc gia là những chủ thể chính trong hoạt động đầu tư quốc tế với hệ thống mạng lưới hoạt động rộng lớn sẽ mang lại cho nước tiếp nhận cơ hội mở rộng quan hệ quốc tế trên nhiều lĩnh vực: thương mại, đầu tư, văn hoá…
Các doanh nghiệp trong nước sẽ có xu hướng di chuyển lao động, sao chép học hỏi, liên kết sản xuất và cạnh tranh… để nâng cao tiềm lực, đây là một tín hiệu tốt, như một chuỗi dây chuyền, cải thiện môi trường kinh doanh trong nước, hấp dẫn hơn với nhà đầu tư nước ngoài Như vậy, nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh chóng
1.2.2.2 Tiêu cực
Thường các nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm kiếm lợi ích từ nguồn tài nguyên phong phú và chưa có điều kiện khai thác ở các nước đang phát triển Bên cạnh đó, Chính phủ các nước này với suy nghĩ thiển cận và tâm lí muốn nhanh chóng thu hút được nhiều vốn từ nước ngoài bất chấp mọi điều kiện làm cho nguồn tài nguyên này bị khai thác và sử dụng quá mức dẫn đến cạn kiệt, phá huỷ môi trường, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng: lũ lụt, hạn hán, ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái…
Chính phủ do muốn phát triển cân đối nền kinh tế nên sẽ ưu tiên hỗ trợ phát triển những vùng khó khăn, nghèo nàn lạc hậu Nhưng do mục tiêu lợi nhuận, các ngành các vùng có điều kiện thuận lợi hơn sẽ thu hút nhiều
Trang 26vốn Hai xu hướng trái ngược này sẽ cản trở sử dụng hiệu quả những hỗ trợ
từ Chính phủ
Như đã nói ở trên, các công nghệ được chuyển giao thường không phải công nghệ nguồn mà nhiều khi là công nghệ lạc hậu đã qua sử dụng [19] Thực tế nhiều nước đang phát triển đang có nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ Những công nghệ được chuyển giao không những không làm tăng chất lượng, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm mà còn gây ô nhiễm môi trường Cái giá phải trả cho sự thu hút vốn đầu tư nước ngoài không có chọn lọc, thu hút bằng bất cứ giá nào là quá đắt
Trong nội bộ những doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài và giữa doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài với doanh nghiệp trong nước cũng dễ xảy ra những xung đột về mặt xã hội Như mâu thuẫn giữa hai dòng vốn khi thu nhập được tái phân phối, thu nhập của nguồn vốn từ nước ngoài tăng đồng nghĩa với việc thu nhập của nguồn vốn trong nước bị giảm đi, xản xuất trong nước bị cạnh tranh dẫn đến phá sản,như xung đột về lợi ích giữa lao động trong nước và nước ngoài, những khác biệt về văn hoá, mâu thuẫn giữa giới chủ và công nhân… Thời gian qua ở Việt Nam cũng có nhiều vụ bãi công, đình công mà nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ những mâu thuẫn này
Nhiều khi những nguồn vốn từ nước ngoài hay kèm theo các điều kiện gây sức ép với nhà nước sở tại phải thay đổi cơ chế chính sách luật lệ theo hướng có lợi cho các nhà đầu tư Điều này làm giảm tính tự chủ của Chính phủ trong xây dựng cơ chế chính sách
1.2.3 Đối với Việt Nam
Thứ nhất, đối với quốc gia:
Trang 27- Giúp củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của VN trong khu vực và trên thế giới
- Giúp nền kinh tế VN thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở VN.[26]
- Thông qua hoạt động đầu tư ra nước ngoài, VN có thêm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu…phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước Ví
dụ, đầu tư của Tập đoàn dầu khí VN vào hoạt động khai thác dầu mỏ tại nhiều nước trên thế giới sẽ tạo nguồn cung cấp cho nhà máy lọc dầu Dung Quất khi mà khả năng khai thác dầu trong nước có xu hướng giảm sút
- Đầu tư ra nước ngoài tạo tiền đề cho hoạt động kinh tế đối ngoại của VN đa dạng và phong phú, hoạt động ngoại giao đi vào chiều sâu
- Đầu tư ra nước ngoài thành công sẽ tác động ngược lại nền kinh tế trong nước theo hướng thúc đẩy công cuộc cải tổ nền kinh tế: về thể chế chính sách, về thuế, về thủ tục hành chính, về hệ thống thông tin đối ngoại,
về chính sách điều hành vĩ mô
- Đầu tư ra nước ngoài góp phần tạo đội ngũ thương nhân năng động,
có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, góp phần làm tăng năng lực quốc gia
- Đầu tư ra nước ngoài góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của VN theo hướng ổn định và có hiệu quả hơn vì chính cơ sở sản xuất và dịch vụ ở nước ngoài là điểm đến của hàng hóa, thiết bị, bí quyết công nghệ (y khoa, chế biến thực phẩm…), nhân công của VN
Thứ hai, đối với doanh nghiệp:
- Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ví dụ nhiều công ty chế biến mì ăn liền đầu tư vào Nga, Ucraina… đã tạo ra các sản phẩm mì ăn liền hợp với khẩu vị người châu Âu
và sử dụng sản phẩm bột mì tại chỗ, nhờ đó mà giảm giá thành sản xuất.[26]
Trang 28- Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp tăng nội lực kinh doanh: tích lũy kinh nghiệm trên thương trường quốc tế; học hỏi tiếp thu công nghệ và bí quyết công nghệ; sử dụng đội ngũ quản lý và khoa học kỹ thuật bản xứ…và áp dụng những thành công ở nước ngoài vào hoạt động kinh doanh của công ty mẹ trong nước.[26]
- Đầu tư ra nước ngoài tạo ra khả năng cho doanh nghiệp thực hiện
”chuyển giá” để giảm thiểu mức thuế đóng góp cho toàn bộ hệ thống công ty đóng ở các nước khác nhau Nhờ đó mà tối đa hóa lợi nhuận thu được Hiện nay nhiều công ty VN mở công ty con của mình tại Singapore để thực hiện mục tiêu ”chuyển giá”, vì Singapore có môi trường kinh doanh tốt với hệ thống thuế thấp
- Đầu tư ra nước ngoài giúp các công ty phát triển vốn vô hình của mình: thương hiệu, công nghệ, bí quyết công nghệ Ví dụ: thương hiệu cà phê Trung Nguyên, Phở 24, bệnh viện Châm cứu…
- Đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp có điều kiện phân tán rủi
ro kinh doanh, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thế giới đầy biến động về kinh tế – chính trị như hiện nay
1.3 Kinh nghiệm đầu tư ra nước ngoài của một số công ty dầu khí quốc gia thành công trên thế giới
1.3.1 Công ty dầu khí Ma-lai-xia (Petronas)
Petronas được thành lập vào năm 1974 (cùng thời gian với Tổng Công ty dầu khí Việt Nam-Petrovietnam), thuộc sở hữu toàn phần của chính phủ Ma-lai-xia để kiểm soát nguồn tài nguyên dầu khí của Ma-lai-xia Petronas tham gia tất cả các hoạt động dầu khí ở Ma-lai-xia bao gồm thăm
dò khai thác, lọc dầu, buôn bán dầu thô và phân phối các sản phẩm dầu, vận
Trang 29chuyển và phân phối khí thiên nhiên, khí hoá lỏng và tiếp thị các sản phẩm khí, sản xuất và tiếp thị các sản phẩm hoá dầu, đóng tàu…
Từ cuối thập kỷ 80 khi các phát hiện dầu khí không theo kịp với nhịp độ khai thác ngày càng tăng ở Ma-lai-xia, Petronas triển khai chiến lược đầu tư vào thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài nhằm tìm kiếm trữ lượng bổ sung, bắt đầu bằng việc thành lập Petronas Carigali Overseas chuyên trách việc triển khai hoạt động ở nước ngoài với mục tiêu đề ra là đến năm 2005, 30% lợi nhuận của công ty sẽ từ hoạt động khai thác ở nước ngoài
Dự án đầu tiên ra nước ngoài của Petronas là thu nhượng 15% cổ phần lô B ở Mian-ma vào năm 1990 Việt Nam là nước láng giềng thứ hai Petronas có dự án (lô 01&02, năm 1991) và là dự án nước ngoài đầu tiên Petronas nắm quyền điều hành ở nước ngoài
Ngoài việc thăm dò và khai thác dầu khí, Petronas cũng tham gia vào các hoạt động khác như lọc dầu; marketing, bán và phân phối dầu thô
và các sản phẩm dầu mỏ; vận chuyển và phân phối khí; hoá lỏng khí; sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm hoá dầu….Tại Malaysia, Petronas tham gia vào các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí thông qua hợp đồng phân chia sản phẩm với các công ty dầu khí quốc tế Các hoạt động thăm dò khai thác
ở nước ngoài là nhiệm vụ của công ty thành viên Petronas Carigali
Thêm vào đó, năm 1997, Petronas đưa ra một loại hợp đồng chia sản phẩm mới nhằm khuyến khích đầu tư hơn nữa bằng việc cho phép nhà thầu hưởng mức phần trăm lớn hơn trong sản lượng khai thác khi lợi nhuận của nhà thầu xuống tới quá thấp
Trang 30Trên trường quốc tế, Petronas thành lập một chi nhánh quốc tế và đặt ra mục tiêu là 30% doanh thu của tập đoàn sẽ thu từ việc khai thác ở nước ngoài vào năm 2005
Tập trung đầu tư vào các liên doanh khai thác từ giữa thập kỷ 90 để giảm thiểu rủi ro và thu hồi vốn nhanh (lô Ahnet tại Algieria; mở Helig và Unity ở Xu-đăng; mỏ Sirri và South Pars ở I-ran; dự án phát triển Cheleken-
1 tại Turkmenistan…) Đáng lưu ý là các dự án khai thác của Petronas có sự đóng góp rất lớn của Chính phủ Ma-lai-xia (dự án GNP ở Xu-đăng) khi các nước tiếp nhận có những vấn đề nhạy cảm về chính trị
Mua công ty cũng là phương án dược Petronas lựa chọn Công ty sở hữu 80% cổ phần của Engen, 57,5% cổ phần một công ty thăm dò của Nam Phi, và 25% cổ phần của Premier của Anh, mua lại công ty FL Selenia SpA của Ý
Tập trung đầu tư vào các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi, Tây Phi, Trung Á Gần đây bắt đầu quan tâm đến Nam
Mỹ
Petronas được coi là một công ty dầu khí quốc gia thành công trong việc quốc tế hoá hoạt động thăm dò khai thác Tiềm lực tài chính to lớn, tổ chức hợp lý, sự hậu thuẫn rất hiệu quả của Chính phủ Ma-lai-xia và mối quan hệ hợp tác với các công ty dầu khí nước ngoài là những điều kiện quan trọng dẫn đến sự thành công của Petronas
Tuy nhiên mô hình Petronas có một số hạn chế nhất định, đặc biệt là thời gian cho doanh thu từ nước ngoài (sau 8 năm) do không phân định hợp
lý sự ưu tiên đối với các loại dự án (ban đầu tập trung vào các dự án thăm dò
Trang 31và giới hạn ở các dự án dầu) Vì vậy, sau 5 năm kể từ khi triển khai đầu tư ra nước ngoài, Petronas đã chuyển sự tập trung vào các dự án phát triển mỏ, đồng thời triển khai mua tài sản/công ty sở hữu tài sản và quyết định này tỏ
ra hợp lý, nhờ đó Petronas có sản lượng đáng kể trong một thời gian tương đối ngắn sau khi điều chỉnh chiến lược và xác lập vị thế công ty trên thị trường thế giới [24]
1.3.2 Công ty dầu quốc gia Trung Quốc (CNOOC)
CNOOC được thành lập năm 1982 như một công ty dầu quốc gia của Trung Quốc để tiến hành các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí tại các lô ngoài khơi Trung Quốc Hiện tại, CNOOC đang điều hành phát triển
6 mỏ ngoài khơi, và tham gia 3 dự án phát triển mỏ khác (bên nước ngoài điều hành) ở Trung Quốc Sản lượng khai thác trong nước đạt 400.000 thùng/ngày (dự kiến tăng gấp đôi trong 5 năm tới). [24]
CNOOC niêm yết cổ phiếu ở thị trường chứng khoán Hồng Kông và New York Giá trị thị trường của CNOOC là 7,9 tỷ USD CNOOC đang tiếp tục tiến hành tích cực việc cổ phần hoá công ty, đặc biệt là các công ty con
để thu hút vốn Tuy nhiên, cổ phần hoá công ty mẹ (CNOOC) chỉ ở quy mô nhỏ và Chính phủ sẽ chiếm giữ phần lớn cổ phần (dự kiến 72,5%) Các bên mua cổ phần chủ yếu là ExxonMobil, Royal Dutch/Shell và BP
Từ 1998 khi Chính phủ Trung Quốc cơ cấu lại công ty dầu khí quốc gia, CNOOC đã triển khai mạnh mẽ đầu tư vào thăm dò khai thác ở nước ngoài Nhờ liên minh với các công ty đang hoạt động ở Trung Quốc, CNOOC có cổ phần đầu tiên ở nước ngoài (với Ker McGee trong 7 lô ở vịnh Mê-hi-cô và với Arco trong 1 lô ở eo biển Malaca In-đô-nê-xia) Ngoài ra, CNOOC liên minh với CNPC ở thị trường châu Á và Mỹ La tinh CNOOC
Trang 32quan tâm đến đầu tư vào rất nhiều nước giàu tiềm năng dầu khí ở tất cả các khu vực trên thế giới Đáng lưu ý nhất trong quá trình quốc tế hoá của CNOOC là việc đầu tư 585 triệu USD mua phần lớn tài sản của Repsol-YPF
ở In-đô-nê-xia để có sản lượng khai thác từ nước ngoài đầu tiên khoảng 120.000 thùng/ngày [25]
Đây là mô hình triển khai đầu tư của một công ty lớn, khả năng tài chính mạnh, triển khai thăm dò khai thác với quy mô toàn thế giới Với tư cách là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Trung Quốc đã dùng quan hệ chính trị làm đòn bẩy để giành các dự án phát triển
mỏ cho các công ty dầu quốc gia Trung Quốc, đặc biệt ở các nước có vấn đề chính trị nhạy cảm (Xu-đăng, Li-bi, I-rắc) Rút kinh nghiệm của CNPC đã đầu tư rất lớn cho thăm dò nên có doanh thu chậm, CNOOC đã đầu tư một
số tiền lớn để mua tài sản của Repsol_YPF và nhờ đó có sản lượng ở nước ngoài đầu tiên chỉ sau một vài năm quốc tế hoá Một kinh nghiệm nữa có thể tham khảo là việc huy động vốn qua phát hành IPO: số vốn huy động được lên tới hơn 10 tỷ USD trong khi nhà nước vẫn nắm quyền kiểm soát/cổ phần khống chế [24]
1.3.3 Công ty dầu khí Thái Lan (PTTEP)
Hiện nay, ngành công nghiệp năng lượng Thái Lan đang trong quá trình tái
cơ cấu và tư nhân hoá Trữ lượng dầu khí đã được thẩm định của Thái Lan ở vào khoảng 352 triệu thùng và trong năm 2000 sản lượng khai thác là 171.000 thùng/ngày Tuy nhiên, Thái Lan phải dựa chủ yếu vào nguồn nhập khẩu để đáp ứng tới 75% nhu cầu trong nước Tài nguyên dầu khí của Thái Lan phân bố chủ yếu ở Vịnh Thái Lan Chính phủ nước này đã đưa ra chính sách khuyến khích người tiêu dùng sử dụng khí thiên nhiên và công ty dầu khí quốc gia PTT đang tiến hành xây dựng hệ thống phân phối khí rộng
Trang 33khắp Băng Cốc Mặc dù thấp hơn dự đoán trước cuôc khủng hoảng 1997, tốc độ tiêu thụ thiên nhiên ỏ Thái Lan đang tăng nhanh
Công ty dầu khí quốc gia Thái Lan PTT sở hữu 61% cổ phần công
ty thành viên hoạt động chính trong lĩnh vực thăm dò khai thác là PTTEP, một công ty đã có cổ phiếu niêm yết Điều này có ý nghĩa khá quan trọng đối với các cổ đông thiểu số bởi PTTEP đã hoạt động như một công ty thương mại PTT có dự định giảm cổ phần của mình xuống 51%, và hiện tại bản thân PTT cũng đang trên lộ trình tư nhân hoá từ đầu năm 2002 [24]
Khởi nguồn, PTTEP có chức năng như một công ty quốc gia truyền thống và tổ chức hoạt động thông qua các hợp đồng chia sản phẩm Tuy nhiên hiện nay trong bước chuyển mình thành một công ty tầm cỡ khu vực, PTTEP tham gia vào một số liên doanh tại Myanmar, Malaysia và Việt Nam Và những bước đi chiến lược cơ bản của công ty (cũng gần tương tự như Petronas của Malaysia nhưng trong thời gian dài hơn) như sau:
- Thông qua việc tham gia vào các hợp đồng chia sản phẩm, PTTEP
có thể có được một vị trí nhất định trong các phát hiện dầu khí Đồng thời công ty cũng dần học hỏi được kinh nghiệm từ các nhà điều hành trong lĩnh vực thượng nguồn PTTEP đã từng có quyền tham gia 25% cổ phần trong các dự án khi các dự án đã có thể tiến hành khai thác thương mại Và từ tháng 1/1995 quyền này đã bị bãi bỏ
- PTTEP đã hoạt động như một doanh nghiệp thương mại
- Công ty có một tiềm lực tài chính vững chắc bởi vì có được nguồn thu lớn từ hoạt động khai thác dầu khí Trong quý I năm 2001, lợi nhuận công ty là 58,6 triệu USD trong tổng doanh thu 162,5 triệu USD
- Trong khi củng cố kinh nghiệm và tiềm lực, PTTEP đã chiếm lĩnh
vị trí số 1 trong việc cung cấp khí tại Băng Cốc
Trang 34- Ngay khi đã thương mại hoá, có kinh nghiệm và vốn, PTTEP bắt đầu hoạt động vươn ra ngoài lãnh thổ Thái Lan Tuy nhiên, động thái này không nhằm vào việc biến mình thành một công ty toàn cầu mà công ty chú trọng vào các nước trong khu vực như Myanmar, Việt Nam, Malaysia và Indonesia Đây là những quốc gia mà PTTEP tin tưởng rằng họ đã hiểu rõ
về địa lý, chính trị, kinh tế, hệ thống luật pháp và là những đối tác thương mại truyền thống của Thái Lan
- PTTEP tham gia hội nhập quốc tế thông qua nhiều phương thức bao gồm: tham gia đấu thầu, nhận hợp đồng nhượng lại, mua cổ phần trong các giếng đang khai thác…
Xét một cách tổng thể, PTTEP đã hoàn thành tốt quá trình tư nhân hoá
và mở rộng hoạt động ra nước ngoài Chiến lược này rất có tổ chức và có phương pháp đúng đắn, hợp lý và hiệu quả
1.3.4 Một số điểm rút ra từ các công ty dầu khí trên
Nhìn chung các bước triển khai đầu tư ra nước ngoài của các công
ty dầu khí quốc gia đều bao gồm những bước đi cơ bản sau:
- Xác định mục tiêu cho đầu tư ra nước ngoài
- Xác định khu vực ưu tiên đầu tư là các nước/khu vực lân cận và/hoặc giàu tiềm năng dầu khí và tập trung nỗ lực để thâm nhập, mở rộng
- Mua tài sản là hình thức được áp dụng để sớm có chỗ đứng trên thị trường (và sản lượng, doanh thu)
- Tranh thủ các mối quan hệ hợp tác liên minh (cấp chính phủ, cấp công ty) để có dự án
Trang 35Một yếu tố quan trọng đưa đến thành công của các công ty này là đều có thể điều hành hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự chủ động kinh doanh cũng như huy động được các nguồn vốn bên ngoài, và thêm vào đó là kinh nghiệm hoạt động điều hành tương đối dài ở trong nước Với nhiều nét tương đồng, PVEP có thể học hỏi kinh nghiệm từ thành công và hạn chế của những mô hình công ty này để hoạch định một chiến lược hợp lý trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI
CỦA PVEP 2.1 Tổng quan của PVEP
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam Petrovietnam (nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) được thành lập vào năm 1975 Là công ty dầu khí quốc gia, Petrovietnam được giao nhiệm vụ quản lý khai thác, phát triển và gia tăng giá trị nguồn tài nguyên dầu khí của đất nước Theo Luật Dầu khí, Petrovietnam thực hiện các hoạt động dầu khí trong nước bao gồm thăm
dò, khai thác, nhập khẩu và xuất khẩu dầu thô, nguyên liệu thiết bị dầu khí, cung cấp dịch vụ, vận chuyển, tàng trữ, chế biến và phân phối các sản
vụ cho công nghiệp địa phương
Ở ngoài khơi Trung và Nam Bộ, các công ty dầu khí nước ngoài đã tiến hành khảo sát địa vật lý vào cuối những năm 60 Mobil đã khoan thăm
dò Bể Cửu Long vào năm 1974 và Bể Nam Côn Sơn vào năm 1975 và đã phát hiện dầu ở hai giếng khoan mỏ Bạch Hổ và Đại Hùng Sau khi thống nhất đất nước, các công ty dầu nước ngoài Agip, Deminex đã khoan và phát hiện dầu và khí tại một số giếng nhưng các phát hiện này được đánh giá lúc đó là không đủ lớn để thẩm lượng tiếp
Trang 37Từ 1980-1988 là thời kì phát triển quan trọng của ngành dầu khí Việt Nam với việc xí nghiệp liên doanh Vietsopetro được thành lập và khai thác dầu từ mỏ Bạch Hổ Vietsopetro cũng đã tiến hành khảo sát địa chấn và khoan thăm dò ngoài khơi trong thời gian này và đã phát hiện hai mỏ dầu Đại Hùng và Rồng Các hoạt động này đặt nền tảng cho công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí sau này
Năm 1987, thực hiện chính sách mở cửa của Đảng và Chính phủ nhằm thu hút các Công ty dầu khí quốc tế đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí tại Việt Nam, Petrovietnam đã ra quyết định thành lập Công ty PV-II, là tiền thân của Công ty Thăm dò - Khai thác Dầu khí (PVEP) với nhiệm vụ giám sát các hợp đồng thăm dò, tìm kiếm dầu khí triển khai tại thềm lục địa phía Nam
Ngày 17/11/1988 Tổng cục Dầu khí đã ra Quyết định số
1195/TC-DK thành lập Công ty Petrovietnam I (PV-I), là tiền thân của Công ty Giám sát các hợp đồng chia sản phẩm (PVSC) với nhiệm vụ giám sát các hợp đồng thăm dò, tìm kiếm dầu khí triển khai tại thềm lục địa phía Bắc
Từ cuối năm 1987, khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành, hàng loạt các công ty dầu quốc tế đã đầu tư vào thăm dò khai thác ở Việt Nam, chủ yếu từ châu Âu và châu Á Sau khi Mỹ xoá bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, nhiều công ty dầu nổi tiếng của Mỹ quay lại Việt Nam đầu tư đặc biệt là Mobil, Occidental, Unocal và Conoco Trong giai đoạn 1990 - 1992, số lượng các hợp đồng chia sản phẩm (PSC) được ký kết tăng cao (thời điểm cao nhất lên tới gần 40 hợp đồng), quy mô và phạm vi hợp đồng có nhiều thay đổi Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát các hợp đồng PSC cũng như công tác thăm dò và khai thác dầu khí, Tổng
Trang 38Công ty Dầu khí Việt Nam quyết định đổi tên Công ty PV-I thành Công ty Giám sát các hợp đồng chia sản phẩm (PVSC) chuyên giám sát các hợp đồng PSC, công ty PV-II thành Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
có trách nhiệm thăm dò và khai thác dầu khí khu vực mỏ Đại Hùng Nhờ các phát hiện mới, con số trữ lượng dầu khí Việt Nam tăng lên đáng kể
Với mục tiêu đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác ra nước ngoài,
ngày 14/12/2000 Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã có Quyết định số
2171/QĐ-HĐQT thành lập Công ty Đầu tư - Phát triển Dầu khí (PIDC) trên
cơ sở tổ chức lại Công ty PVSC với chức năng đầu tư tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí khu vực phía Bắc Việt Nam và ở nước ngoài Chức năng giám sát các hợp đồng PSC khu vực phía Nam được giao lại cho công ty PVEP
Ngày 04/05/2007, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã ra quyết định số 1311/QĐ-DKVN thành lập Công ty mẹ - Tổng công ty Thăm
dò Khai thác Dầu khí trên cơ sở tổ chức lại hai công ty PVEP và PIDC Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí hoạt động theo mô hình công ty
mẹ - công ty con, trong đó Công ty mẹ - Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nắm giữ 100% vốn điều lệ Việc thành lập Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí nhằm thống nhất hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí ở Việt Nam
và ở nước ngoài
Hiện nay PVEP đang giám sát, quản lý, tham gia góp vốn 58 đề
án thuộc phạm vi các hợp đồng PSC, JOC, BC; đề án khai thác dầu khí
tự lực cũng như các nhiệm vụ tìm kiếm thăm dò khác theo phân công của Tập đoàn
Trang 39Tổng công ty PVEP cũng đang hết sức tích cực trong việc tìm kiếm các cơ hội thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài Hiện tại, con số
20 dự án đang có ở 20 nước khác nhau, trong đó có dự án khổng lồ như Junin, đã khẳng định PVEP là doanh nghiệp dầu khí của Việt Nam đi tiên phong trong việc đầu tư ra nước ngoài, hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng tiềm lực dầu khí
2.2 Thực trạng công tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài
2.2.1 Các hình thức triển khai thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài
2.2.1.1 Mua tài sản dầu khí
Mua tài sản dầu khí là mua mỏ dầu khí đang/chuẩn bị khai thác (trữ lượng dầu khí được xác minh) Mua tài sản dầu khí có thể gồm mua cổ phần hợp đồng hoặc mua công ty sở hữu tài sản Sự điều chỉnh chiến lược đầu tư của các công ty trong từng giai đoạn phát triển cần vốn đầu tư bổ sung hoặc các khó khăn về tài chính, kỹ thuật… đã dẫn đến việc bán các mỏ dầu khí đang hoặc sắp đi vào khai thác
Phương thức đầu tư này có một số lợi ích nổi bật:
- Giúp Tổng Công ty nhanh chóng thâm nhập một thị trường mới, hình thành khu vực hoạt động tập trung và làm cơ sở thuận lợi để mở rộng hoạt động trong phạm vi nước và khu vực đã mua được tài sản
- Trong khi các dự án hiện có hoặc đang trong giai đoạn đánh giá khó
có sản lượng khai thác trước năm 2005, mua tài sản là phương thức duy nhất
Trang 40để Tổng Công ty thực hiện được mục tiêu có sản lượng khai thác ở nước ngoài sớm nhất
- Rủi ro kĩ thuật được giảm thiểu nhờ đã có phát hiện thương mại/khai thác dầu khí
- Tổng Công ty có thể có ngay thu nhập từ dự án nếu mua mỏ đang khai thác, từ đó có thể khai thác lợi ích về thương mại
- Tạo điều kiện tiếp cận thông tin tài liệu (địa chất, khai thác…) cơ bản và đáng tin cậy của một nước, là cơ sở tốt cho các bước triển khai tiếp theo Nếu lựa chọn mua công ty sở hữu tài sản, việc sử dụng ngay các nhân viên có kinh nghiệm là một lợi ích đáng kể trong tình trạng thiếu nhân lực có kinh nghiệm hoạt động ở nước ngoài của PVEP
- Thuận lợi trong vay vốn để đầu tư vì thông thường các ngân hàng và
tổ chức tài chính thường sẵn sàng cung cấp các khoản vay cho các công ty dầu khi mua tài sản
- Việc mua tài sản thường được nước chủ nhà nhìn nhận như một sự cam kết, quan tâm của Việt Nam vào nước đó, nhờ vậy PVEP nói riêng và Tập đoàn Dầu khí nói chung sẽ có cơ hội để mở rộng hoạt động sau này ở
đó
Tuy nhiên, phương thức này có một số điểm bất lợi cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay vì chi phí mua tài sản dầu khí thường rất cao, đồng thời có sự cạnh tranh rất lớn từ các công ty lớn có tiềm lực tài chính mạnh Một yếu tố nữa mà bên phía Việt Nam hay e ngại, đó là những vấn đề về pháp lý, tài chính thường phát sinh trong quá trình mua lại tài sản hay cổ