1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI

99 837 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Chính những thay đổi của tình hình quốc tế và khu vực đã cho Nhật Bản tiến tới điều chỉnh một chính sách đối ngoại nhằm thích ứng những thay đổi của tình hình và bảo vệ những lợi ích số

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 : NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG FDI CỦA NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM VÀ TP.HỒ CHÍ MINH 11

1.1 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh thế giới mới 11

1.1.1 Tình hình thế giới và khu vực 11

1.1.2 Xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản 13

1.2 Những định hướng tái cấu trúc nền kinh tế Nhật Bản 21

1.2.1 Kinh tế Nhật bản 21

1.2.2 Nhật Bản định hướng tái cấu trúc kinh tế 22

1.2.3 Thành phố Hồ Chí Minh - trọng điểm của nền kinh tế Việt Nam 25

1.2.4 Ý nghĩa FDI của Nhật Bản ở Việt Nam và TP.HCM 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG FDI CỦA NHẬT BẢN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 32

2.1 Sơ lược về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh từ thời kỳ đổi mới 32

2.1.1 Chính sách nhằm thu hút FDI của Thành phố 32

2.1.2 So sánh môi trường đầu tư của Thành phố với các tỉnh lân cận 34

2.2 Hoạt động FDI của Nhật Bản ở Thành phố Hồ Chí Minh những năm đầu thế kỉ XXI 38

2.2.1 Qui mô đầu tư 38

2.2.2 Hình thức đầu tư 41

2.2.3 Lĩnh vực đầu tư 43

2.2.4 Phân tích trường hợp công ty Sony Việt Nam 47

2.3 Những tác động của FDI Nhật Bản đối với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh 51

2.3.1 Trong lĩnh vực kinh tế 51

2.3.2 Trong lĩnh vực xã hội, văn hóa 53

2.3.3 Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế 54

Trang 3

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ TRIỂN VỌNG NHẰM THU HÚT FDI CỦA NHẬT

BẢN Ở THÀNH PHỐ 60

3.1 Giải pháp 60

3.1.1 Hệ thống luật và thủ tục hành chính 60

3.1.2 Cơ sở hạ tầng 66

3.1.3 Hoạt động quảng bá về xúc tiến đầu tư 67

3.1.4 Nguồn nhân lực và công nghệ 68

3.2 Định hướng thu hút FDI vào TP.HCM giai đoạn 2010-2020 69

3.2.1 Định hướng theo ngành 69

3.2.2 Định hướng theo vùng 71

3.2.3 Định hướng đối tác: 71

3.3 Triển vọng 72

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 AJCEP Asean-Japan comprehensive economic partnership

Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Asean-Nhật Bản

2 APEC Asia-Pacific Economic Cooperation

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương

3 ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam Á

4 ASEM Asia-Europe Meeting

Hội nghị thượng đỉnh Á-Âu

5 ARF ASEAN Regional Forum-Security

Diễn Đàn An Ninh Đông Nam Á

6 BOT Built-Operation-Transfer

Xây dựng-Kinh Doanh-Chuyển giao

7 BT Built- Transfer

Xây dựng-Chuyển giao

8 BTA Bilateral Trade Agreement

Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ

9 CNH-HĐH Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa

10 ĐTNN Đầu tư nước ngoài

11 FDI Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

12 FTA Free Trade Area

Khu vực thương mại tự do

13 GDP Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

15 JICA Japan International Cooperation Agency

Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản

16 JBAH Japanese Business Association of Ho Chi Minh City

Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Thành phố

Trang 5

17 JETRO Japan External Trade Organization

Tổ chức thúc đẩy Ngoại thương Nhật Bản

18 IMF International Monetary Fund

Quỹ tiền tệ Quốc tế

19 KCNC Khu công nghệ cao

26 VJEPA Agreement Between Vietnam and Japan for an Economic

Partnership: Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản

27 WTO World Trade Organization

Tổ chức Thương mại Thế giới

29 XNK Xuất nhập khẩu

30.VKTTĐPN Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do và mục đích chọn đề tài

Bước vào thiên niên kỷ mới tình hình thế giới vẫn tiếp tục xảy ra những cuộc xung đột hết sức phức tạp Các quốc gia, dân tộc đang phải đối mặt với những vấn nạn dai dẳng như đói nghèo, bệnh tật, môi trường bị hủy hoại…Vì vậy mọi quốc gia đều phải liên tục tăng cường cho hoạt động chống khủng bố và ngăn chặn các hành động cực đoan, lo ngại vấn đề vũ khí hạt nhân, khủng hoảng lương thực và nước sạch, hiện số người sống dưới mức đói nghèo không giảm đi mà tăng lên, ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên, bùng nổ dân số và những thảm họa thay đổi khí hậu liên tiếp xảy ra… cho thấy để giải quyết các vấn đề này chúng ta cần sức mạnh tập thể, sức mạnh toàn cầu Đó chính là nhận thức về toàn cầu hóa – một quá trình mà mỗi quốc gia ngày càng mở rộng quan hệ; cùng liên kết chặt chẽ với nhau như những mắt xích cả ở vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội …

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các nước cùng hợp tác để phát triển là một xu thế tất yếu trên thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó

Một trật tự thế giới mới đang trong quá trình định hình và mọi quốc gia đều muốn khẳng định vị trí, thể hiện vai trò của mình về cả lĩnh vực chính trị, kinh tế Ngoài Trung Quốc đang nổi lên như “một con rồng phía chân trời”, EU tạm thời đứng ở vị trí thứ 3, Mỹ và Nhật Bản vẫn đang là 2 đối thủ chạy đua sát nút Tuy nước Mỹ có nội lực hùng hậu, song Mỹ đánh giá cao đối thủ đáng gờm của họ là nước Nhật Bản bé nhỏ, nghèo về tài nguyên, luôn hứng chịu thiên tai và là nước bại trận thảm hại nhất sau chiến tranh thế giới lần II – đủ thấy sự ngưỡng mộ của Mỹ khi dùng từ “thần kì”chỉ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản

Nhật Bản mong muốn thể hiện vai trò “đầu đàn” trong mô hình “đàn sếu bay”, là đầu tàu đưa các nước Đông Á nói riêng và Châu Á nói chung cùng phát triển qua con đường kinh tế để xác lập vị thế chính trị, xã hội Trên đường đua, Nhật Bản đã sớm xác định cần phải hợp tác với Châu Á như một điểm sáng năng động và còn đầy tiềm năng chưa được khai thác hết Như vậy, đối với Nhật Bản, vừa nhằm mục tiêu tăng cường vị thế kinh tế và chính trị, vừa nhằm mở rộng thị trường để tái

Trang 7

cấu trúc nền kinh tế trong thời kì hậu hiện đại thì FDI là con đường ngắn nhất và nhanh nhất dẫn đến thành công

Riêng với Việt Nam, vì điều kiện lịch sử mà cho đến tận những năm cuối của thế kỉ XX mới bắt đầu nhập vào dòng thác công nghiệp thế giới bằng một “con thuyền mảng” Những nỗ lực chèo lái con thuyền đòi hỏi phải tổng hòa cả nội lực, ngoại lực mà 3 yếu tố cần thiết nhất là con người, vốn và khoa học kĩ thuật Bên cạnh chú trọng phát huy nội lực (chính sách dân số, khai thác tài nguyên, thông tin, quản lý, pháp lý và hiện đại hóa nông thôn) thì FDI là kênh quan trọng nhất tổng hợp được hết nguồn ngoại lực Tận dụng vốn và khoa học kĩ thuật của thế giới để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, là chính sách khôn ngoan dùng ngoại lực để tăng nội lực, bước đầu là chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý tiến đến dần dần tự mình sản xuất sản phẩm rồi sau đó làm chủ thương hiệu Đây gọi là: dùng ngoại lực để củng cố nội lực và cuối cùng là tự lực hoàn toàn

Với tình hình doanh nghiệp tư nhân trong nước còn nhỏ bé, doanh nghiệp nhà nước đang trong quá trình cải cách, dấu hiệu tốt từ FDI sẽ giúp tạo ra sức bật cho nền kinh tế, là nguồn “nhiên liệu” giúp Việt Nam “đốt cháy”giai đoạn để bắt kịp với các nước phát triển khác

TP.HCM là một trong 3 trung tâm lớn của cả nước luôn giữ vai trò đầu tàu kinh tế Với vị thế là một điểm sáng trong khu vực trọng điểm phía Nam, có môi trường đầu tư năng động và nguồn nhân lực dồi dào, là nơi hấp dẫn cho FDI Song song đó, nhận thức được lợi ích từ FDI, thành phố đang tích cực chủ động tạo chính sách thông thoáng để mời gọi đầu tư Trong giai đoạn đang cần tăng trưởng nhanh

và bền vững thì FDI không chỉ giúp thành phố ổn định các yếu tố vĩ mô, mà còn tác động đến khu vực kinh tế khác, đặc biệt, giúp thành phố tạo ra lực “đầu tàu” kéo kinh tế đất nước phát triển Do vậy, bất cứ lúc nào nguồn vốn FDI vào thành phố cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Trong số các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhật Bản luôn được coi là đối tác lâu dài, quan trọng, là nhà đầu tư lớn vào Việt Nam, khu vực kinh tế phía Nam nói chung và là nhà đầu tư lớn của TP.HCM nói riêng Dựa trên mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam-Nhật Bản và phục vụ cho tiến trình thu hút FDI mạnh hơn của

Trang 8

TP.HCM cũng như các tỉnh thành khác trong cả nước, việc đi sâu nghiên cứu FDI của Nhật Bản tại TP.HCM đang là vấn đề quan tâm của một số cơ quan, ban ngành

Tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỉ XXI”, với mong muốn phân tích thực trạng,

đề xuất một số giải pháp để thu hút FDI vào thành phố và hi vọng góp phần tạo ra thành tựu kinh tế quan trọng

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Qui mô, hình thức, lĩnh vực, hiệu quả FDI của Nhật

Bản ở TP.HCM từ năm 2000 đến nay Đây là vấn đề rất thiết thực đối với Thành phố trong việc tranh thủ nguồn ngoại lực để thu hút sự quan tâm của các lãnh đạo, nhà quản lý, doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu…

Phạm vi nghiên cứu

-Không gian: FDI của Nhật Bản ở TP.HCM trên cơ sở có sự so sánh, đánh giá với các địa phương khác trong cả nước để làm nổi bật vai trò, vị trí TP.HCM trong việc thu hút FDI nói chung mà trọng tâm là FDI từ Nhật Bản

-Thời gian: từ năm 2000 đến nay, vì đây là thời kỳ quan hệ Việt Nam-Nhật Bản ngày càng phát triển, thông qua các chuyến viếng thăm của lãnh đạo 2 nước Thực tiễn phát triển cho thấy làn sóng FDI của Nhật Bản vào Việt Nam đã “nóng lên” hơn bao giờ hết vào thời điểm mà Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO và cũng là nước chủ nhà tổ chức Hội nghị diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) tháng 11/2006 –Thời điểm được coi là làn sóng FDI lần thứ 2 của Nhật Bản vào Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

- Về phương pháp luận: Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mac-xít, tư tưởng dân tộc và các quan điểm thời đại Phương pháp này sẽ giúp chúng ta nhận định đúng về bản chất FDI của Nhật Bản tại Việt Nam Vì thực chất nền kinh tế Nhật Bản là do các tập đoàn tư bản tư nhân lớn nắm giữ, các tập đoàn này thường được gọi là Zaibatsu, chi phối và lũng đoạn không chỉ nền kinh tế trong nước mà còn vươn ra thế giới Điển hình như tập đoàn Toyota, Honda, Fujitsu, Canon, Sumitomo… đã đầu tư vào các nước như Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam…

Trang 9

Vì là tập đoàn tư bản nên việc đầu tư của nó sẽ mang tính chất tư bản với mong muốn kiếm được nhiều lợi nhuận, gia tăng giá trị thặng dư Đó là mục đích hàng đầu của Nhật Bản khi đầu tư ra nước ngoài Dựa vào phương pháp luận Mác-Lênin giúp chúng ta nhận thức được rõ bản chất FDI của Nhật bản vào Việt Nam, từ

đó mới có cách nhìn đúng đắn về đường lối, cách thức đầu tư, số lượng dự án và hiệu quả đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng để có quan điểm đúng trong việc đề ra chiến lược thu hút nguồn vốn FDI của Nhật Bản trong hiện tại và tương lai, thúc đẩy đầu tư có hiệu quả cũng là góp phần củng cố

mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị và phát triển giữa Việt Nam-Nhật Bản

- Về phương pháp khoa học: Đề tài thuộc phạm trù của quan hệ quốc tế nên phải sử dụng phương pháp thống nhất lịch sử -logic, nhìn nhận sự vật hiện tượng do nhiều bộ phận cấu thành, sự vật hiện tượng phát triển không ngừng, luôn đi từ thấp lên cao; kết hợp phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp phân tích so sánh, phương pháp định lượng Từ đó rút ra những kết luận khách quan về việc thu hút, sử dụng nguồn vốn FDI của Nhật Bản tại TP.HCM đạt hiệu quả

4 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học : Chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia thực chất là để

phục vụ cho đường lối đối nội của quốc gia đó Chính sách đối ngoại của Việt Nam-Nhật Bản cũng nhằm phục vụ cho Việt Nam và Nhật Bản trên mọi phương diện Nhật Bản mở rộng quan hệ với Việt Nam thông qua con đường FDI nhằm để tái cấu trúc nền kinh tế của Nhật Bản vốn đang bị suy thoái; phát triển mối quan hệ kinh tế quốc tế ở khu vực và toàn cầu Còn đối với Việt Nam đang trong giai đoạn thoát nghèo, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tạo nền tảng đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Việt Nam luôn cần vốn, nguồn lực mạnh để đóng góp và thực hiện vào việc công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Do vậy, tận dụng nguồn ngoại lực,

mà cơ bản là nguồn vốn FDI cho cả nước hay cho riêng từng vùng là biện pháp, là chính sách quan trọng để phát triển kinh tế tỉnh thành và khu vực, góp phần vào phát triển kinh tế đất nước

Trang 10

- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm và hoạt động trực tiếp trong ngành quan hệ quốc tế và trong lĩnh vực FDI của Nhật Bản tại TP.HCM

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tính đến năm 2010 quan hệ giữa Việt Nam-Nhật Bản đã thiết lập được 37 năm (21/9/1973 - 21/9/2010) Trong khoảng thời gian ấy, Việt Nam-Nhật Bản đã không ngừng tìm hiểu nhau trên tất cả các lĩnh vực như văn hóa, chính trị, xã hội…, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Việt Nam-Nhật Bản đã ký kết với nhau nhiều hiệp định thương mại, đầu tư, hợp tác cùng nhau phát triển

Kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế

và đặc biệt từ năm 1991 đến nay nguồn vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam luôn được chính phủ Việt Nam quan tâm và coi trọng, là đề tài nóng bỏng, hấp dẫn đối với các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu Do đó đã có rất nhiều công trình, tài liệu,

sách viết về FDI ở Việt Nam như T.S Lê Xuân Bá với công trình: “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” (năm 2006); Lê Bộ Lĩnh: ”Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh” (năm 2002); T.S Vũ Văn Hà- GS.TS Dương Phú Hiệp:”Quan hệ kinh tế Việt

Trang 11

Nam-Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới” (năm 2004); Th.S Nguyễn Văn Tuấn :” Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam” (năm 2005); T.S Trần Anh Phương: “Thương mại Việt Nam-Nhật Bản trong tiến trình phát triển quan hệ giữa hai nước” (năm 2008)…

Không chỉ riêng ở Việt Nam nghiên cứu về FDI mà ở Nhật Bản và ở nhiều nước khác trên thế giới cũng rất quan tâm, vì FDI luôn là trụ cột quan trọng giúp các nước phát triển, chuyển giao công nghệ tiên tiến, nguồn vốn, năng lực lao động sang các nước đang và chậm phát triển Ngược lại các nước đang và chậm phát triển thì FDI là nguồn vốn bổ sung trong việc tăng trưởng nhanh và bền vững Đối với Nhật Bản, FDI đã góp phần giúp Nhật Bản vượt qua khó khăn và đẩy mạnh xu hướng phát triển trong tương lai, các nhà nghiên cứu như G.S Trần Văn Thọ với tác

phẩm “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam”; Iyasuhiko Nakasone với tác phẩm ” Chiến lược quốc gia Nhật Bản trong thế kỷ XXI”

Tuy nhiên, việc nghiên cứu FDI ở từng địa phương cụ thể như TP.HCM thì chưa được nhiều người quan tâm, chưa có nhiều công trình Do đó nghiên cứu về FDI của Nhật Bản ở TP.HCM trong bối cảnh quan hệ Việt Nam-Nhật Bản ngày càng phát triển tốt đẹp (từ hợp tác toàn diện hướng tới đối tác chiến lược) là hoàn toàn mới Đó cũng là khó khăn nhưng đồng thời cũng là ý tưởng giúp tôi nghiên cứu và cố gắng hoàn thành tốt luận văn này

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1- Những nhân tố tác động đến tăng trưởng FDI của Nhật bản ở Việt Nam

nói chung và TP.HCM

Chương 2- Thực trạng FDI của Nhật Bản ở TP.HCM những năm đầu thế kỷ XXI Chương 3- Giải pháp và triển vọng nhằm thu hút FDI của Nhật Bản ở TP.HCM

Trang 12

CHƯƠNG 1 : NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG FDI

CỦA NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM VÀ TP.HỒ CHÍ MINH

1.1 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh thế giới mới

1.1.1 Tình hình thế giới và khu vực

“Thập kỷ 90, tình hình thế giới và khu vực có những biến động sâu sắc Liên

Xô và Đông Âu tan rã, trật tự 2 cực Yalta bị sụp đổ, chiến tranh lạnh chấm dứt đã

mở ra một cục diện mới trong tình hình quốc tế nói chung và khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nói riêng

-Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển cùng tồn tại Các nước trong khu vực tăng cường tìm kiếm sự ổn định hợp tác, phân chia phạm vi ảnh hưởng vì lợi ích mọi mặt của quốc gia mình

-Xu thế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trở thành xu thế quan trọng

-Toàn cầu hóa tác động mạnh đến liên kết kinh tế khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường quan hệ, đổi mới đường lối đối ngoại của nhiều nước

-Lợi ích kinh tế ngày càng trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong quan

hệ các nước vì nhu cầu phát triển quốc gia, chi phối chính sách đối ngoại các nước nhất là dưới sự tác động ngày càng mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật” [36:tr28]

Bước qua thế kỉ XXI toàn cầu hóa nói chung, toàn cầu hóa kinh tế nói riêng

đã trở thành đặc trưng chủ yếu Đó là sự phát triển kinh tế vượt qua biên giới quốc gia trên cơ sở lực lượng sản xuất cũng như trình độ khoa học kĩ thuật phát triển; là một hiện tượng di chuyển trên quy mô toàn cầu của hàng hóa và các yếu tố sản xuất như tư bản, công nghệ, tri thức, quản lý kinh doanh Trong quá trình toàn cầu hóa, thị trường trong nước ngày càng quan hệ sâu rộng với thị trường thế giới và cũng chịu ảnh hưởng, tác động nhiều hơn

Xu thế chủ đạo của thế kỉ XXI là hợp tác lẫn nhau trong các mối quan hệ kinh tế; liên kết khu vực hóa để cùng phát triển Sự phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn cũng làm tăng nhu cầu hình thành hàng loạt các tổ chức, cơ chế hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu Trong thập niên cuối thế kỉ XX đã có hơn 40 hiệp định liên kết

Trang 13

kinh tế khu vực và toàn cầu Năm 2001 WTO gồm 144 nước, nhưng đến tháng 6/2010 thì WTO đã có 158 thành viên bao gồm hầu hết thị trường ở các quốc gia và vùng lãnh thổ, cùng thực hiện các nguyên tắc thương mại chung của tổ chức

Toàn cầu hóa mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức, không chia đều cho các quốc gia trong cộng đồng quốc tế Dòng chảy tư bản, công nghệ, tri thức kinh doanh di chuyển nhanh chóng từ nước này sang nước khác nên lợi thế so sánh của mỗi quốc gia luôn trong trạng thái bị động: các nước đang phát triển luôn bị đặt dưới sự lựa chọn của công ty đa quốc gia, và tình hình kinh tế dễ bị ảnh hưởng bởi hoạt động của các công ty này

Xét về quy mô, khu vực hóa là sự liên minh, liên kết các nước cùng khu vực: gần nhau về địa lí, tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán; liên kết với nhau phá bỏ hàng rào thương mại, miễn giảm thuế, đối phó với sự cạnh tranh và xu hướng bảo hộ thương mại trong khu vực khác; tăng vị trí, vai trò của khu vực mình trong trường quốc tế… Ví dụ tổ chức APEC: diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương; ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á; EU: Liên minh châu Âu…

Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, và đặc biệt là sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra từ năm 2008 Nhật Bản đã không ngừng cải thiện và tăng mạnh vốn vay đặc biệt cho ASEAN Những cố gắng mang tính tình thế này chỉ giúp ASEAN hồi phục lại sau khủng hoảng nhưng chưa đủ sức đối kháng lại với một trào lưu mới – sự xuất hiện của Trung Quốc như một nền kinh tế mạnh mẽ thu hút FDI của thế giới, trong đó có cả FDI Nhật Bản, làm giảm bớt thị phần của ASEAN trên thị trường thế giới

Tuy hiện nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản đang bị sụt giảm do khó khăn kinh tế từ những thập kỉ cuối của thế kỉ trước Song thực lực nước Nhật Bản vẫn còn hùng mạnh, thể hiện về mặt:

- Kĩ thuật chế tạo đứng hàng đầu thế giới

- Tỉ trọng đầu tư cho nghiên cứu phát triển luôn dẫn đầu thế giới

- Xuất siêu số 1 thế giới

Trang 14

- Dự trữ ngoại tệ khổng lồ

- Nước chủ nợ số 1 thế giới

Vai trò của Nhật Bản - một nước công nghiệp tiên tiến, có nền kinh tế lớn nhất khu vực được xem là rất quan trọng Việc chuyển giao công nghệ, bí quyết quản lí kinh doanh và hợp tác tri thức từ Nhật Bản sẽ giúp ASEAN tăng cạnh tranh, đối phó

có hiệu quả với các thách thức do FTA mang lại và do thách thức từ Trung Quốc

Ở phạm vi Đông Á, trong quá trình thay đổi và phát triển hướng tới mục tiêu hợp nhất khu vực hiện nay, Nhật Bản và Trung Quốc đang tích cực cạnh tranh trong cuộc đua trở thành cường quốc toàn diện, giữ vai trò lãnh đạo khối Mỗi nước có một chiến lược hợp tác quốc tế riêng nhằm mở rộng ảnh hưởng của mình ra toàn khu vực

“Chính những thay đổi của tình hình quốc tế và khu vực đã cho Nhật Bản tiến tới điều chỉnh một chính sách đối ngoại nhằm thích ứng những thay đổi của tình hình và bảo vệ những lợi ích sống còn của mình “[36:tr 29]

1.1.2 Xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản

Việt Nam và Nhật Bản vốn có mối quan hệ từ lâu đời-bắt đầu từ thế kỷ XVI, là hai quốc gia Châu Á có nhiều nét tương đồng về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, cùng chịu ảnh hưởng của dòng văn hóa phương Đông Hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/09/1973, kể từ đó đến nay mối quan hệ thắm tình hữu nghị, đoàn kết, hợp tác toàn diện ngày càng được tăng cường và phát triển

Thực trạng quan hệ Việt Nam -Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XXI

Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao

Những năm 90 của thế kỉ XX, tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực Châu Á –Thái Bình Dương đặc biệt là Đông Nam Á và Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng Chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế hợp tác và đối thoại được quan tâm, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng trở nên sâu sắc do quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa Từ đó, quan hệ giữa Nhật Bản với các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương nói chung và Việt Nam nói riêng mau chóng được cải thiện và ngày càng bền chặt Minh chứng cho bước cải thiện này chính là các chuyến viếng thăm hữu nghị chính thức song phương của phái đoàn 2 nhà nước

Trang 15

Kể từ tháng 3/1993, sau chuyến thăm chính thức Nhật Bản của cố Thủ tướng

Võ Văn Kiệt đến nay, năm nào cũng diễn ra các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước, góp phần quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ hữu nghị, tin

cậy lẫn nhau và là một trong những yếu tố quan trọng để hiện thực hóa “Quan hệ đối tác chiến lược” giữa Việt Nam-Nhật Bản

Tháng 6/2001, Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm và làm việc tại Nhật Bản trong khuôn khổ tham dự Hội thảo "tương lai Châu Á" Hai Thủ tướng đã trao đổi ý kiến về các biện pháp nhằm củng cố, phát triển, đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới trong thế kỷ XXI, tương xứng với tiềm năng phong phú của hai nước, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước; khẳng định mong muốn và quyết tâm của Chính phủ và nhân dân hai nước đóng góp vào sự nghiệp hòa bình,

ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cũng như trên thế giới

Tháng 4/2002 Thủ tướng Phan Văn Khải đã mời Thủ tướng J Koizumi sang thăm hữu nghị chính thức Việt Nam Hai bên xác định mối quan hệ chiến lược, đối tác lâu dài của nhau Việt Nam rất coi trọng và đánh giá cao chuyến thăm của Thủ tướng Koizumi với tư cách là Thủ tướng Nhật Bản đầu tiên đến Việt Nam trong thế

kỷ XXI, và tin tưởng rằng chuyến thăm này sẽ mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hữu nghị - hợp tác giữa hai nước

Tháng 10/2002, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã sang thăm chính thức Nhật Bản theo lời mời của Thủ tướng Junichiro Koizumi Chuyến thăm tiếp tục tăng cường đối thoại cấp cao Việt - Nhật, củng cố sự hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước; đưa quan hệ Việt Nam - Nhật Bản lên tầm cao mới, ổn định và bền vững; đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trên các lĩnh vực, trước hết là kinh tế, thương mại, đầu tư và viện trợ phát triển chính thức (ODA)

Tháng 4/2003 và tháng 6/2004 thủ tướng Phan Văn Khải đến thăm Nhật Bản Trong các cuộc hội đàm, hai bên cùng đề cập đến những vấn đề hợp tác song phương, đặc biệt về các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế

- thương mại - đầu tư

Trang 16

Năm 2004, Thủ tướng Koizumi cũng thăm Việt Nam trong khuôn khổ tham

dự Hội nghị ASEM5 Cũng năm 2004, hai nước ký Tuyên bố chung vươn tới tầm cao mới của quan hệ đối tác bền vững

Nhận lời mời của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 18 đến 22/10/2006 Đây là chuyến thăm chính thức Nhật Bản đầu tiên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kể từ khi nhậm chức tháng 7/2006 Chuyến viếng thăm đã đi đến tuyên bố chung Việt

Nam - Nhật Bản, xác định quan hệ hai nước hướng tới xây dựng "đối tác chiến lược

vì hoà bình và phồn vinh ở châu Á"

Riêng về thương mại: “nhận thức về tiềm năng trao đổi thương mại giữa 2 nước còn rất lớn, hai bên nhất trí cùng nhau tạo thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp hai nước đưa kim ngạch thương mại 2 chiều từ 8,5 tỉ USD năm 2005 lên 15

tỉ USD vào năm 2010” [tuyên bố chung Việt-Nhật đăng trên Thông tấn xã Việt Nam ngày 20/10/2006]

Tháng 11/2006, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe thăm chính thức Việt Nam Hai Thủ tướng đã trao đổi ý kiến về quan hệ song phương và một số vấn đề quốc tế

và khu vực hai bên cùng quan tâm, thỏa thuận tiếp tục duy trì và tăng cường tiếp xúc cấp cao, các cuộc trao đổi thường kỳ về chính trị, kinh tế, ngoại giao, an ninh quốc phòng giữa hai nước; thúc đẩy đàm phán để sớm ký kết Hiệp định đối tác kinh

tế Việt-Nhật; thực hiện tốt Sáng kiến chung Việt - Nhật giai đoạn II; thỏa thuận thành lập Ủy ban hợp tác Việt-Nhật do Bộ trưởng Ngoại giao hai nước đứng đầu Đồng thời, khẳng định lại mong muốn của hai nước đóng góp vào hoà bình, ổn định

và phát triển ở Châu Á-Thái Bình dương và trên thế giới thông qua các diễn đàn Liên hợp quốc, ASEAN, ARF, ASEM, APEC…

Tháng 1/2007, chuyến viếng thăm Nhật Bản của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết được coi là chuyến thăm Nhật Bản lần đầu tiên của Nguyên thủ Nhà nước Việt Nam kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và tân Thủ tướng Nhật Bản Yasuo Fukuda (2007) đã ký

tuyên bố chung và thông qua "Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản"

Trang 17

Nhiều chuyến thăm cấp cao giữa hai nước đã được thực hiện trong năm 2009 như chuyến thăm Việt Nam tháng 2/2009 của Hoàng Thái tử Nhật Bản, của Thủ tướng Nhật Bản Taro Aso tháng 4/2009 Tháng 4/2009, Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Fukuoka đã được thành lập và tháng 11/2009 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Nhật Bản trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao Mekong-Nhật Bản Đây là chuyến thăm Nhật Bản đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam sau khi Nhật Bản thành lập Chính phủ mới (tháng 9/2009) và diễn ra trong bối cảnh quan hệ hợp tác Việt- Nhật được đánh giá đang phát triển tốt đẹp và nhanh chóng nhất trong lịch sử quan hệ 2 nước, theo tinh thần đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu

Á Hai Thủ tướng khẳng định tăng cường hợp tác giữa hai nước trong các tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực mà hai nước đều là thành viên, đặc biệt trong năm 2010 khi Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch ASEAN và Nhật Bản chủ trì Hội nghị cấp cao APEC

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan thăm chính thức Việt Nam ngày 30-31/10/2010 Chuyến thăm của Thủ tướng Naoto Kan diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Nhật Bản tiếp tục

có bước phát triển mới sau khi lãnh đạo hai nước nhất trí nâng khuôn khổ quan hệ

lên tầm “Đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” vào năm 2009 Thủ

tướng Naoto Kan và Ban Lãnh đạo mới của Nhật Bản khẳng định tiếp tục coi trọng

và mong muốn tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam, hợp tác chặt chẽ trên các diễn đàn đa phương Đây là dịp thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và hợp tác trong các lĩnh vực khác, tăng cường sự phối hợp giữa hai nước trong các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm

Tóm lại: Các chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao hai nước luôn hướng đến việc tăng cường quan hệ chính trị - ngoại giao, kinh tế, hợp tác về quốc phòng, an ninh, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia, nhằm thúc đẩy quan

hệ hai nước luôn phát triển tốt đẹp, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển ổn định trong thế kỷ XXI

Trang 18

Trên lĩnh vực kinh tế

Nhật Bản là một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, hiện là bạn hàng lớn thứ 2 của Việt Nam sau Trung Quốc và là thị trường xuất khẩu đứng thứ 2 sau Mỹ Việt Nam xuất khẩu sang Nhật 90% là sản phẩm thô như dầu thô hoặc có hàm lượng chế biến thấp Đặc biệt đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Nhật ngày càng có xu hướng tăng lên một cách vững chắc, đứng thứ

tư sau Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan

Hiệp định đối tác kinh tế song phương Việt-Nhật (VJEPA) ký ngày 25/12/2008 và có hiệu lực từ 1/10/2009, cùng với Hiệp định đối tác toàn diện Nhật Bản-ASEAN cũng là một trong những yếu tố quan trọng tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ thương mại 2 nước, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

và lao động Việt Nam sang Nhật Bản Cụ thể kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam-Nhật Bản năm 2002 là 4,9 tỉ USD, năm 2007 đạt 12,2 tỉ USD-tăng gấp 2,5 lần so với 5 năm trước, bước qua năm 2008 với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp hai nước, kim ngạch 2 chiều đạt 17,3 tỉ USD, năm 2009 đạt 13 tỉ USD Mặc

dù vậy có thể nói cho đến nay kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản vẫn còn thấp so với tiềm năng của 2 nước, mặt hàng nhập khẩu còn đơn điệu khiến chúng ta vẫn chưa tận dụng được nhiều trang thiết bị hiện đại từ Nhật bản.[63: tr58]

Bảng 1: Kim ngạch mậu dịch Việt Nam- Nhật Bản (đơn vị: triệu USD)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

XK đi Nhật 2.621 2.509 2.438 2.909 3.502 4.411 5.232 6.069

NK từ Nhật 2.250 2.215 2.509 2.993 3.552 4.092 4.700 6.177 Cán cân mậu

dịch

371 294 -71 -84 -50 319 532 -108

Tổng kim ngạch 4.871 4.724 4.947 5.902 7.054 8.503 9.932 12.246 (Nguồn: Bộ Thương mại; Bộ Kế hoạch-Đầu tư; Tổng cục Thống kê năm 2008)

Nhật Bản là nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam Từ năm 1992 đến

2009 ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam đạt hơn 14 tỉ USD chiếm gần 50% lượng ODA của cộng đồng quốc tế cam kết viện trợ cho Việt Nam Đặc biệt trong năm 2009 ODA của Nhật dành cho Việt Nam là 1,6 tỉ USD Để góp phần thúc đẩy

Trang 19

chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, chính sách ODA của Nhật Bản tập trung ưu tiên 5 lĩnh vực: phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực; cải tạo công trình giao thông vận tải và điện lực; nông nghiệp và cơ sở hạ tầng nông thôn; giáo dục, sức khỏe và dịch vụ y tế; bảo vệ môi trường Thông qua nguồn ODA, Nhật Bản đã giúp Việt Nam xây dựng rất nhiều công trình hạ tầng kinh tế-xã hội như khôi phục bệnh viện Chợ rẫy ở TP.HCM, tuyến tàu điện ngầm số 1 TP.HCM, xây dựng cảng Cát Lở ở Vũng tàu, nâng cấp bệnh viện Bạch Mai-Hà nội, Đại lộ Đông-Tây, cầu Bãi cháy-Quảng Ninh…

Có thể khẳng định ODA của Nhật Bản đã có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Đặc biệt trong bối

cảnh Việt Nam đã là thành viên của tổ chức WTO và 2 bên đã ký kết “tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Nhật Bản”, những thuận lợi này sẽ

tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội thu hút và sử dụng hợp lý nguồn vốn ODA của Nhật trong tương lai

Bảng 2: ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam (đơn vị: Tỉ Yên)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Viện trợ không hoàn lại 15.5 17.3 13.1 12.4 12.6 12.58 8.8 7.4 Khoản vay 70 74.3 79.3 79.3 82 88.32 95.1 115.8 Tổng cộng 85.5 91.6 92.4 91.7 94.6 100.9 103.9 123.2

(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài) Kết quả của hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản là đã hình thành một cộng đồng người Nhật tại Việt Nam nói chung và TP.HCM, ngược lại cộng đồng người Việt tại Nhật Bản Nhịp cầu ngoại giao, kinh tế đã nối liền tâm hồn 2 dân tộc Việt Nam –Nhật Bản

Trên các lĩnh vực khác

Lĩnh vực du lịch-dịch vụ: Những năm gần đây là sự gia tăng đột biến du

khách Nhật Bản vào Việt Nam, Nhật Bản luôn đứng thứ 2 trong danh sách có lượng khách du lịch vào Việt Nam (sau Trung Quốc) “Với đường bay trực tiếp Việt Nam –Nhật Bản tháng 4/2002 và Nhật Bản-Việt Nam đã làm tăng dòng người 2 nước đi lại, năm 2008 có hơn 400.000 khách Nhật bản du lịch đến Việt Nam và năm 2009

Trang 20

là gần 500.000 lượt khách Việt Nam hi vọng mối quan hệ hợp tác du lịch Việt –Nhật sẽ ngày càng chặt chẽ và hiệu quả hơn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đón 1 triệu khách Nhật trong năm 2010” [63:tr 61]

Du lịch không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề giao lưu văn hóa, khi khách du lịch Nhật vào Việt Nam ngày càng đông thì sẽ kéo theo nhiều loại hình dịch vụ phát triển như khách sạn, nhà hàng, tiệm ăn Nhật, cửa hàng bán quà lưu niệm…để phục vụ du khách Nhật

Lĩnh vực văn hóa: Hội hữu nghị Việt Nam-Nhật Bản và Hội hữu nghị Nhật Bản-Việt Nam, Hội giao lưu văn hóa Nhật-Việt; Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam; Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản…đã thật sự là nhịp cầu nối để nhân dân

2 nước ngày càng hiểu nhau hơn về truyền thống văn hóa dân tộc, hữu nghị và hợp tác

Các chương trình hợp tác văn hóa ngày càng đa dạng và phong phú, năm

2008 cả 2 nước đều tiến hành nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao như giao lưu văn hóa, kinh tế, thương mại, du lịch Năm

2009 các hoạt động văn hoá được tổ chức như “lễ hội Việt Nam” tại Nhật Bản,

“những ngày giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản” tại Hội An, “những ngày du lịch-văn hóa Mekong-Nhật Bản” tại Cần Thơ đã gây được tiếng vang, góp phần

tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và thắt chặt thêm tình cảm giữa nhân dân hai nước

Lĩnh vực giáo dục-đào tạo: Một hoạt động cũng thường xuyên được Nhật Bản quan tâm đến đó là hợp tác nghiên cứu khoa học Các qũi tài chính của Nhật như quĩ khuyến học Nhật Bản, quĩ Toyota… đã hỗ trợ kinh phí cho các viện, trường đại học và các nhà khoa học Việt Nam đã thực hiện nhiều dự án nghiên cứu

“Trong thời gian qua Nhật Bản rất chú trọng việc tiếp nhận và đào tạo sinh viên Việt Nam Hiện có gần 5.000 sinh viên đang theo học tại các trường Đại học danh tiếng của Nhật, năm 2007 Nhật Bản đã nhận giúp đào tạo 500 tiến sĩ / 20.000 tiến sĩ của chính phủ Việt Nam trong vòng 10 năm tới Năm 2008 phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Nguyễn Thiện Nhân và Ông Komura Masahiko-Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nhật Bản đã ký kết 2 công hàm trao đổi, tiếp

Trang 21

nhận Dự án học bổng phát triển nguồn nhân lực-JDS do chính phù Nhật viện trợ

không hoàn lại cho Việt Nam” [22:tr50]

Ngoài ra Nhật Bản cũng hỗ trợ Việt Nam trong công tác giáo dục và đào tạo các cấp tiểu học, trung học, giúp Việt Nam xây dựng 1 trường Đại học chất lượng

cao tại Cần Thơ, bên cạnh còn hỗ trợ triển khai các dự án như “Xúc tiến giáo dục xóa mù cho người lớn vì sự phát triển cộng đồng bền vững tại vùng núi phía Bắc”,

dự án “nghiên cứu những hỗ trợ nhằm phát triển giáo dục tiểu học ở Việt Nam”.

[63:tr 62]

Hiện ở Nhật Bản có nhiều trường Đại học mở ngành tiếng Việt như Đại học Tokyo, Keio, Waseda, Nagoya , bên cạnh đó tại Việt Nam tiếng Nhật cũng được dạy thử nghiệm ở 1 số trường phổ thông và hiện nay ở hầu hết các trường Đại Học Việt Nam đều có bộ môn tiếng Nhật, các Trung tâm ngoại ngữ giảng dạy tiếng Nhật được thành lập nhiều như trường Nhật ngữ Đông du, Sakura, Nikko, Vyta…với số lượng học viên ngày càng tăng Đây cũng là tín hiệu đáng mừng và cũng minh chứng về sự giao lưu hợp tác giáo dục-đào tạo ngày càng được quan tâm

và phát triển

Lĩnh vực hợp tác lao động: Hai bên cùng nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hợp tác lao động; đào tạo nguồn nhân lực Nhật bản là thị trường tiềm năng cho lao động Việt Nam, từ năm 1992 đến 2009 Việt Nam đã có hơn 31.000 tu nghiệp sinh sang Nhật Bản Ngoài ra doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp với khoảng 2/3 số dự án và 3/4 số vốn đầu tư Doanh nghiệp lớn như Honda Việt Nam thu hút trên 5.000 lao động, Fujitsu thu hút trên 2.000 lao động…Ngoài ra các công ty này còn chú ý đào tạo kiến thức kỹ thuật cho người lao động theo tiêu chuẩn quốc tế, khuyến khích khả năng tự sáng tạo của cá nhân, đề cao tinh thần tập thể, hết lòng vì công việc

Tóm lại: Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản đã phát triển nhanh chóng cả về bề rộng lẫn

bề sâu, Việt Nam luôn được coi là một trong những đối tác quan trọng của Nhật Bản ở Đông Nam Á Về phía chúng ta, Việt nam luôn khẳng định chính sách lâu dài

và nhất quán, luôn coi trọng và không ngừng củng cố mở rộng quan hệ với Nhật Bản bởi lý do để thực hiện chiến lược công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước thì

Trang 22

việc tranh thủ nguồn vốn, kỹ thuật bên ngoài, trong đó Nhật Bản đóng vai trò quan trọng Phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, Nhật Bản, góp phần vào xây dựng một thế giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác phát triển cùng có lợi

1.2 Những định hướng tái cấu trúc nền kinh tế Nhật Bản

1.2.1 Kinh tế Nhật bản

Edwin O Reischauer một trong những chuyên gia hàng đầu của Mỹ nghiên cứu về Nhật Bản nhận xét: “ Cả địa lí lẫn tài nguyên đều chẳng đóng góp gì vào sự phát triển vĩ đại của quốc gia này…” Quả thực, Nhật Bản là một quần đảo, ngoài 4 hòn đảo lớn là Hokkaido, Honsu, Shikoku và Kyushu còn có khoảng 4 ngàn đảo nhỏ khác Diện tích của Nhật Bản khá nhỏ là 377 815 km2 chiếm chưa đầy 0,3 % diện tích toàn thế giới và lớn hơn Việt Nam khoảng 14% Còn diện tích đất đai có thể sử dụng được chỉ vào khoảng 19%

Quần đảo Nhật Bản nằm trong vành đai lửa Thái Bình Dương nên động đất

và núi lửa là hiểm họa thường xuyên của quốc gia này

Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển Trong khi đó Nhật Bản vốn là một nước nghèo về tài nguyên, khoáng sản Hiện nay, gần 90% nguyên liệu năng lượng (dầu lửa), khoáng sản và phần lớn lương thực phải phụ thuộc vào nhập khẩu nên hướng phát triển chủ đạo của Nhật Bản là tiết kiệm các nguồn tài nguyên và năng lượng một cách tối đa Mặc dù nền kinh tế cả nước bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh Thế giới thứ II, nhờ có các chính sách phù hợp cộng với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Mỹ, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954), tăng trưởng cao (1955-1973) Từ năm 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại song Nhật Bản tiếp tục là một nước có tiềm năng lớn thứ 2 về kinh tế, khoa học kỹ thuật và tài chính

Một số số liệu về kinh tế Nhật Bản (năm 2005)

 Tỷ lệ thất nghiệp năm 2005: 4,4%

 Tỷ lệ lạm phát năm 2005: -1,3% (giảm phát)

Trang 23

 Tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 2005: khoảng 4,9 nghìn tỉ USD Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2005 so với năm trước: 2,6%

 Cân đối ngân sách chính quyền trung ương năm 2005: tương đương -5,4% GDP (thâm hụt)

 Tổng số nợ trong dân của chính phủ Nhật chiếm 140% GDP (khoảng 6500 tỉ USD) cao nhất trên thế giới

 Tổng số nợ xấu khó đòi 375 tỉ USD (tính đến tháng 7 năm 2003)

 Dự trữ ngoại tệ tính đến tháng 3 năm 2004: 826,6 tỉ USD, nhiều nhất thế giới

o Xuất khẩu (2002  2004): 544,24 tỉ USD

o Nhập khẩu (2002  2004): 431,78 tỉ USD

 Tỉ trọng các ngành kinh tế chính:

o Nông nghiệp: 2,1%; Giao thông vận tải: 6,3%

o Công nghiệp: 26,8%; Lưu thông: 12,5%

o Xây dựng: 10,3%;Các ngành khác: 37,9%

(Theo Vnexpress.net)

1.2.2 Nhật Bản định hướng tái cấu trúc nền kinh tế

Giai đoạn 1974 đến 1985, mặc dù gặp một số khó khăn, nhất là do cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1974, Nhật Bản đã nhanh chóng vượt qua và vươn lên mạnh mẽ nhờ những công nghệ tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu để vượt qua Đức

và đã trở thành nhà xuất khẩu thiết bị, sản phẩm công nghiệp đứng hàng thứ hai thế giới với hàng loạt tên tuổi mới của như Toyota, Matsushita, Toshiba…

Chính sự phát triển này làm cho cán cân thương mại Mỹ - Nhật bị lệch hẳn

về phía Nhật Bản khi những thiết bị vốn tiêu thụ nhiều nhiên liệu của Mỹ bị thất thế ngay chính trên sân nhà của mình Bên cạnh đó, những chính sách tiền tệ sai lầm cộng với cuộc chạy đua vũ trang mới đầy đắt đỏ với Liên Xô khiến cho kinh tế Mỹ lao dốc, buộc Mỹ phải có những động thái chính trị mới để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Kết quả là vào năm 1985, Mỹ và các quốc gia G5 trong đó có Nhật đã gặp nhau trong Hiệp định Plaza nhằm cắt giảm giá trị đồng tiền USD so với đồng Yen của Nhật và đồng

Trang 24

Mark của Tây Đức Hiệp định này đã thành công trong việc chặn đứng thâm hụt ngân sách của Mỹ, làm cho hàng hóa Mỹ trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế, đưa nền kinh tế nước này thoát khỏi cuộc khủng hoảng

Sau Hiệp định Plaza ra đời năm 1985, đồng yen Nhật tăng giá đến 51% so với USD khiến cho hàng hóa của Nhật Bản trở nên đắt đỏ, khó cạnh tranh với hàng hóa Mỹ hơn trước Bên cạnh đó, sự tăng giá đồng yen khiến cho nhiều doanh nghiệp và cá nhân trở nên giàu có hơn, tăng cường đầu tư mạnh vào nền kinh tế nội địa khiến cho Nhật Bản lâm vào khủng hoảng sau sự sụp đổ của bong bóng địa ốc vào những năm 1990, kéo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản xuống mức thấp

Kể từ cuối thập niên 1980, cơ cấu dân số đã trở thành một gánh nặng và ngày càng đe dọa rõ nét đến tốc độ phát triển kinh tế Trong khi tỷ lệ sinh ở Nhật Bản cũng giảm như nhiều quốc gia phát triển khác, dòng người lao động từ bên ngoài bổ sung cho nền kinh tế vốn đã bị thắt chặt do chính sách nhập cư vô cùng chặt chẽ lại còn chịu thêm tác động của tốc độ phát triển thần kỳ từ Trung Quốc đã ngăn cản các dòng lao động nhập cư bất hợp pháp giá rẻ người Trung Quốc vượt biển vào Nhật Bản như trong các thập niên trước Kết quả là ở Nhật Bản, lực lượng lao động ngày một giảm sút nghiêm trọng trong khi số người quá tuổi lao động, thụ hưởng các phúc lợi xã hội lại tăng lên Tỷ lệ người Nhật ở độ tuổi lao động/ngoài độ tuổi lao động giảm từ 8:1 vào năm 1975 xuống còn 3,3:1 năm 2005 và có thể xuống tới mức 1,3:1 năm 2015 Ở Mỹ người nhập cư chiếm 15% lực lượng lao động trong khi tỷ lệ

đó ở Nhật chỉ là 1%

Trong bối cảnh đó, với nguồn vốn hùng hậu từ xuất khẩu thu được trong các thập kỷ trước cộng với giá trị cao của đồng yen, đầu tư ra nước ngoài bằng hình thức FDI trở thành một cứu cánh giúp cho nền kinh tế Nhật thoát khỏi những cuộc khủng hoảng triền miên FDI là chìa khóa giúp Nhật Bản thành công xâm nhập vào thị trường các quốc gia đang phát triển có những chính sách nhất định nhằm hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước có thể sản xuất được như chính sách bảo hộ mậu dịch bằng thuế quan Nếu Nhật Bản sản xuất hàng hóa ngay tại quốc gia đó, vừa tiếp cận được thị trường mà không gặp trở ngại thuế quan XNK Chưa kể chi phí cho sản xuất ở nước nghèo luôn thấp hơn chi phí cho sản xuất tại Nhật Bản

Trang 25

khiến Nhật Bản có thể xuất khẩu trở lại các mặt hàng này vào lại thị trường các quốc gia phát triển với giá cạnh tranh, trở thành đòn bẩy kinh tế cho Nhật Bản trong suốt những năm cuối của thế kỷ XX

Những năm đầu thế kỷ XXI, cả thế giới chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc khi nền kinh tế nước này vươn lên hàng thứ hai thế giới về quy mô với nhiều ngành công nghệ có thể cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn Nhật Bản Giá nhân công cũng tăng vọt khiến cho việc đầu tư các ngành cần nhiều lao động trở nên kém hiệu quả Ngoài ra, Trung Quốc cũng là quốc gia có nhiều hiềm khích với Nhật Bản trong quá khứ nên việc đầu tư quá nhiều vào Trung Quốc là một sự mạo hiểm đối với Nhật Bản Chẳng hạn như vụ bắt bớ tàu cá của Trung Quốc vào trung tuần tháng 9/2010 vừa qua đã làm dấy lên làn sóng phản đối Nhật Bản gay gắt trong lòng người dân Trung Quốc, khiến cho chính phủ Trung Quốc phải cấm xuất khẩu đất hiếm – nguồn nguyên liệu chiến lược trong các ngành công nghệ cao của Nhật Bản Chính vì vậy mà doanh nghiệp Nhật Bản nói riêng và chính quyền Nhật Bản nói chung tìm cách mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia khác trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, đặc biệt là các quốc gia khu vực Đông Nam Á như một sự chuyển giao định hướng đầu tư giữa tầng thứ ba và tầng thứ tư trong mô hình kinh tế “Đàn sếu bay” của Akamatsu, góp phần nâng cao uy tín cho Nhật Bản trong khu vực này

Sau thời kì kinh tế "bong bóng" 1986-1990, từ năm 1991 kinh tế Nhật Bản phát triển ì ạch Trong những năm 1992-1995 tốc độ tăng trưởng hàng năm chỉ đạt 1,4%, năm 1996 là 3,2% Đặc biệt, từ 1997 và nhất là từ đầu 1998, kinh tế Nhật bị lâm vào suy thoái nghiêm trọng, đến nay với những biểu hiện khủng hoảng hệ thống tài chính tiền tệ, đồng Yen, chứng khoán giảm giá mạnh, nợ xấu khó đòi tăng cao, sản xuất trì trệ và tỉ lệ thất nghiệp hoàn toàn đạt con số kỷ lục trong 45 năm nay (5,5% tháng 12 năm 2002) Năm 1997, GDP thực chất - 0,7%, năm 1998 là -1,8% Cuộc suy thoái kinh tế lần này của Nhật chủ yếu mang tính chất cơ cấu liên quan đến mô hình phát triển của Nhật đang bị thách thức với một môi trường đã thay đổi khác trước Vấn đề phục hồi kinh tế thông qua đẩy mạnh cải cách cơ cấu kinh tế, tài chính, ngân hàng đang là một vấn đề cấp bách đặt ra trước mắt đối với chính phủ Nhật [Theo Vnexpress.net]

Trang 26

Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách hệ thống tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ, giảm bớt sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế nhằm phát huy tối

đa khả năng của khu vực tư nhân và mở rộng kinh doanh tư nhân Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001 Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản

và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2003 đạt trên 3%, quý I/2004 đạt 6%

Chính vì những lý do trên, có thể nói FDI của Nhật Bản vào Việt Nam là một tác động tốt đối với Nhật Bản về nhiều mặt kể cả về kinh tế lẫn trong lĩnh vực ngoại giao nâng cao vị thế chính trị của Nhật Bản Sự bùng nổ dòng FDI này của Nhật Bản đã giúp các nền kinh tế ASEAN (Singapore, Malaysia, Thái lan và Indonesia)

có điều kiện và cơ hội trỗi dậy mạnh mẽ để trở thành “rồng” trong thập niên

1970-1980 Có nghĩa là sự đột phá phát triển của nền kinh tế Nhật Bản đã gây hiệu ứng lan tỏa phát triển đặc biệt mạnh mẽ ở khu vực Đông Nam Á

Bảng 3: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản ( triệu USD)

KV Chế tạo

tổng số

1981 1982 1983 1984 1985 1986 1987 1988 1989

2.306 2.076 2.588 2.505 2.352 3.806 7.832 13.805 16.246 8.932 7.703 8.145 10.155 12.217 22.320 33.364 47.022 67.540

Nguồn: Shojiiro Tokuwaga (Ed) đầu tư nước ngoài của Nhật Bản và sự

phụ thuộc kinh tế lẫn nhau

1.2.3 Thành phố Hồ Chí Minh - trọng điểm của nền kinh tế Việt Nam

Với diện tích 2.095,01 km², TP.HCM hiện là đô thị lớn nhất Việt Nam, gồm

19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với 322 phường, xã thị trấn Các tỉnh giáp ranh như Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An-Tiền Giang đồng thời đều là các khu công nghiệp, khu chế xuất, là vựa lúa sản xuất nông sản lớn của khu vực và

cả nước

Trang 27

Nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Hệ thống cảng, sân bay lớn nhất

cả nước, cảng Sài Gòn với công suất hoạt động hơn10 triệu tấn hàng /năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7 km

Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, TP.HCM trở thành đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á về cả đường thủy, đường bộ và đường hàng không

Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là phi trường lớn nhất Việt Nam về diện tích

và công suất nhà ga

Khu vực TP.HCM có bốn cảng biển chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè, Tân Cảng cùng các cảng sông Bình Đông, Tân Thuận, Tôn Thất Thuyết, Bình Lợi, Bình Phước Ngoài ra còn có khoảng 50 bến đò phục vụ giao thông hành khách Cảng Sài Gòn là một trong những cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm gần 30% trong tổng khối lượng hàng hóa thông qua các cảng biển cả nước Hệ thống kho, bến bãi hiện đang được mở rộng và chuyên sâu Bên cạnh đó cầu cảng thường xuyên được nâng cấp Dự án mở rộng cảng Sài Gòn với cảng nước sâu Thị Vải đang được triển khai

Về dân số, theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 TP.HCM có dân số 7.162.864 người, chiếm gần 9% dân số Việt Nam; phân theo giới tính: Nam có 3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 người chiếm 52,03% Trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố tăng thêm 2.125.709 người, tốc độ tăng 3,54%/năm Theo số liệu thống kê năm 2009, 83,32% dân cư sống trong khu vực thành thị và TP.HCM cũng có gần 1/5 là dân nhập cư từ các tỉnh khác [Nguồn Tổng cục Thống kê]

Với nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng lao động của thành phố khá cao, được đào tạo, đã quen với tác phong công nghiệp và dịch vụ So với các nước Đông Nam Á khác, nguồn lao động này không thua kém trình độ kĩ thuật và kĩ năng lao động mà giá nhân công lại rẻ hơn nhiều

Thành phố có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, giữ vai trò đầu tàu kinh tế và

đã tạo ra mức đóng góp 1/3 GDP cho cả nước, chiếm tới 27,9% giá trị sản xuất

Trang 28

công nghiệp và 34,9% dự án FDI Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam và là trung tâm đối với vùng Nam Bộ

Nền kinh tế đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh tế của thành phố gồm khu vực nhà nước chiếm hơn 30%, ngoài quốc doanh chiếm khoảng 45%, phần còn lại là khu vực có vốn FDI Các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại là công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%

Là nơi thu hút vốn FDI mạnh nhất, kể từ khi Luật đầu tư được ban hành Khu vực dịch vụ tăng trưởng vượt kế hoạch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất

- kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư TP.HCM có một hệ thống trung tâm mua sắm gồm 85 siêu thị, 400 chợ bán lẻ đa dạng Những thập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza, Thuận Kiều Plaza, Parkson,Vincom Mức tiêu thụ của TP.HCM cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh thành khác và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội

Là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam, dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số tài chính - tín dụng Các hoạt động tín dụng - ngân hàng liên tục phát triển, góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất - kinh doanh, giao dịch

Trang 29

Biểu đồ 1: Tỉ trọng GDP của TP HCM, VKTTĐPN so với cả nước năm 2005

(Nguồn:Sở Kế hoạch Đầu tư- Thành phố Hồ Chí Minh)

Biểu đồ 2: Tỉ trọng GDP của TPHCM, VKTTĐPN so với cả nước năm 2007

Tỷ trọng GDP của TP so với cả nước năm

(Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư- Thành phố Hồ Chí Minh)

Trong tương lai thành phố là địa phương đầu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế chủ lực như cơ khí gia dụng, sản xuất phương tiện vận tải, chế tạo máy, các ngành công nghệ cao … vẫn là đầu mối xuất nhập khẩu, du lịch của cả nước với hệ thống cảng biển phát triển Việc khai thông các hệ thống giao thông như đại lộ Xuyên Á, đại lộ Đông Tây … sẽ tạo điều kiện cho kinh tế thành phố tăng trưởng mạnh mẽ

1.2.4 Ý nghĩa FDI của Nhật Bản ở Việt Nam và TP.HCM

Nếu như ODA thường được tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thì nguồn vốn FDI là đòn bẩy trực tiếp kích thích nền kinh tế phát triển bởi lẽ FDI

Trang 30

không chỉ đơn thuần là vốn mà còn là công nghệ, kỹ thuật được đầu tư trực tiếp vào nhiều lĩnh vực, tạo ra việc làm cho người lao động Khoảng 10 năm trước, Việt Nam đã bỏ mất một thời cơ lớn để đón làn sóng FDI mới từ Nhật Bản, và thời cơ ấy Trung Quốc đã nắm bắt Nhưng hiện nay một thời cơ mới lại đến, mà nguyên nhân cũng lại xuất phát từ Trung Quốc Lần này nếu Việt Nam nhanh chóng nắm bắt thời

cơ này thì có thể khắc phục những trì trệ gần đây và tạo ra một cuộc bùng nổ về FDI, từ đó đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa theo hướng ngày càng tăng năng lực cạnh tranh quốc tế [Thời báo kinh tế Sài Gòn 7/2010]

Theo đánh giá mấy năm gần đây của giới doanh nghiệp Nhật, bốn quốc gia

mà họ cho là sẽ trở thành các cứ điểm sản xuất hàng công nghiệp quan trọng của thế giới trong tương lai là Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam Vào thời điểm hiện tại, có thể nói Việt Nam được chú ý nhiều nhất vì Việt Nam hội đủ các yếu tố thuận lợi nhất: Lao động khéo tay, chăm chỉ, tiếp thu nhanh các kiến thức mới mà tiền lương chỉ bằng một nửa Thái Lan và thấp hơn Trung Quốc nhiều

Chiến lược phát triển công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng là nhiệm vụ kinh tế xã hội nặng nề ở giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Việt Nam cần khai thác khoa học công nghệ của thế giới bằng cách phát triển quan hệ ngoại giao, chính trị, kinh tế với nước ngoài, trong đó quan hệ với Nhật Bản - siêu cường

số 2 thế giới có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong bối cảnh thuận lợi là 2 nước có những gần gũi về địa lí, lịch sử, tương đồng về văn hóa

Từ nhu cầu phát triển đất nước, Việt Nam mong muốn hợp tác với Nhật Bản trong một số ngành kinh tế như: xây dựng cải tạo cơ sở hạ tầng, khai thác và chế biến nông lâm thủy hải sản, thủ công mĩ nghệ, ngành công nghiệp nặng và khai thác khoáng sản tạo việc làm cho nhiều lao động Bên cạnh đó ngành công nghiệp mũi nhọn có hàm lượng công nghệ cao cũng cần phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước khác trên thế giới

Đáng kể hơn nữa là vì FDI của Nhâ ̣t Bản tâ ̣p trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất, nên đã góp phần thúc đẩy phát triển những ngành công nghiệp mới như sản xuất xe gắn máy , xe hơi Hiê ̣n nay , Nhâ ̣t Bản đang quan tâm đến phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ - ngành mà Việt Nam hiện thua xa các nước như Thái

Trang 31

Lan và Indonesia Vì thiếu ngành công nghiệp phụ trợ hữu hiệu nên Việt Nam bị thâm thủng mâ ̣u di ̣ch triền miên do phải nhâ ̣p khẩu nhiều linh kiê ̣n để làm ra thành phẩm Nếu viê ̣c phát triển thành công ngành công nghiê ̣p phu ̣ trợ sẽ là chìa khoá cho Viê ̣t Nam bước lên nấc thang cao hơn trên con đường hội nhập

Trong bối cảnh thế giới chứa nhiều biến động khó lường, vai trò của FDI đối với nhu cầu phát triển của đất nước trong thời gian tới tuy rất được coi trọng song Việt Nam cần nhìn nhận đúng đắn để tránh những rủi ro có thể gặp phải do sự phụ thuộc vào kinh tế nước ngoài Xác định được định hướng phát triển, Việt Nam cần khéo léo tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao thay vì đầu

tư tràn lan, vừa gây tổn thất môi trường vừa khiến các doanh nghiệp trong nước chịu áp lực cạnh tranh cao

Vai trò của nguồn vốn FDI đối với phát triển kinh tế-xã hội ở TP.HCM đã

được thực tiễn chứng minh Với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình ở mức hai con số, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực vào quá trình tăng trưởng kinh tế Thành phố và từ đó góp phần cải thiện cơ cấu kinh tế Thành phố theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hoá Hơn nữa với hiện trạng nền kinh tế còn nhiều điểm bất cập như hiện nay thì FDI là liều thuốc cần thiết giúp thay đổi diện mạo nền kinh tế cũng như các lĩnh vực khác của Thành phố

Những hạn chế về cơ sở hạ tầng cũng như các lĩnh vực kinh tế của Thành phố

đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển Tuy là địa phương có tốc độ phát triển nhanh nhưng vẫn chưa bắt kịp được sự phát triển của các thành phố trong khu vực

và trên thế giới Sản phẩm sản xuất ra của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố vẫn chủ yếu là sản phẩm thô -sơ chế, công nghệ sản xuất lạc hậu, đội ngũ lao động chưa được đào tạo lành nghề, hệ thống giao thông chưa phát triển…Đây chính là nguyên nhân làm cho kinh tế thành phố phát triển chưa tương xứng với tiềm năng phong phú của mình Trong thời gian tới Thành phố cần có thêm rất nhiều vốn để nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng chắp vá, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm …đáp ứng nhu cầu phát triển để thành phố thực sự trở thành trung tâm kinh tế của cả nước, tiến tới là trung tâm kinh tế năng động- phát triển của khu vực Nhu cầu vốn FDI để phát triển kinh tế của Thành phố là rất lớn, do vậy nguồn vốn FDI

Trang 32

của Nhật Bản sẽ đóng vai trò chủ đạo vì Nhật Bản là một trong những quốc gia đầu tiên đầu tư vào Thành phố từ năm 1991 đến nay, nguồn vốn đầu tư đứng vị trí thứ 5-7, bên cạnh nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Thành phố đã kéo theo việc chuyển giao công nghệ, bí quyết kinh doanh, thu hút một lượng lớn lao động…

Tóm lại, việc huy động nguồn vốn nước ngoài nói chung và nguồn vốn FDI của

Nhật Bản nói riêng vào Thành phố kể từ năm 1987 –năm ra đời luật đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế-xã hội TPHCM là cần thiết và việc thu hút FDI là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta cũng như của TP.HCM trong giai đoạn hiện nay

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG FDI CỦA NHẬT BẢN Ở THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

2.1 Sơ lược về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh từ thời kỳ đổi mới

2.1.1 Chính sách nhằm thu hút FDI của Thành phố

Kể từ khi đất nước thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và bắt đầu xúc tiến đầu tư nước ngoài thì giai đọan 1986-1990 là giai đoạn kinh tế cũng như chính trị, phải trải qua nhiều khó khăn với sự phát triển tích cực lẫn hạn chế đan xen của Thành phố Vì trong thời gian đầu đổi mới có hàng loạt các chương trình cải cách, nhiều văn bản luật ra đời, kinh nghiệm quản lý của cán bộ theo mô hình mới còn yếu và thiếu, do vậy trong thời gian này tuy đã có nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài như Nhật Bản, Trung Quốc, các nước trong khối ASEAN, Đức… đến Thành phố tìm hiểu thị trường nhưng các dự án đăng ký hoạt động thành công không nhiều

Bước sang năm 1991, Đại hội Đảng bộ Thành phố lần V (1991) đã đề ra mục

tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 1991-1996 là :”Từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh

tế hợp lý, sự phát triển của các ngành kinh tế dựa trên cơ sở, vị trí, tiềm năng, thế mạnh của Thành phố, gắn liền với cơ cấu kinh tế tương đối đồng bộ của vùng Nam

bộ mà cốt lõi là vùng kinh tế trọng điểm phái Nam, trong đó Thành phố giữ vai trò trung tâm công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thương mại-dịch vụ, khoa học-kỹ thuật, văn hóa” [43:tr.62] Do vậy trong thời gian này chính sách ưu tiên thu hút FDI của Thành phố chú trọng vào phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ Khu

chế xuất đầu tiên được ra đời năm 1992 là khu chế xuất Tân Thuận-Quận 7, điều này cũng đã tạo điều kiện cho FDI trên địa bàn Thành phố nở rộ và tăng tốc

Tháng 5/1996 Đại hội Đảng bộ Thành phố lần VI đã đề ra phương hướng

phát triển kinh tế giai đoạn 1996-2000 là :”Đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa công nghiệp và dịch vụ, công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, trước hết là cơ sở hạ tầng, tạo sự biến đổi về chất trong các ngành sản xuất và các ngành dịch vụ then chốt Tập trung đầu tư một số ngành có hàm lượng công nghệ-kỹ thuật cao, trên cơ

Trang 34

sở lợi thế của Thành phố định hình các khu chế xuất, xây dựng các khu công nghiệp tập trung và khu công nghệ cao, hình thành trung tâm tài chính, trung tâm thương mại và dịch vụ hiện đại…đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam” [44:tr 75-76] Do đó Thành phố xác định phát triển

ngành trong giai đoạn này công nghiệp mũi nhọn là cơ khí, công nghệ thông tin,

công nghệ sinh học

Năm 1997 cuộc khủng hoảng tài chính của Châu Á đã có ảnh hưởng đến các nhà đầu tư vào Việt Nam nói chung và Thành phố nói riêng Tuy nhiên với chính sách mở cửa, tạo độ thông thoáng của Thành phố có ý nghĩa quan trọng trong những năm sau

Từ tháng 12/1998 chính quyền Thành phố và Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Thành phố (JBAH) đã tổ chức chương trình làm việc hàng năm nhằm mục đích cải thiện môi trường đầu tư của Thành phố, qua đó thúc đẩy Doanh nghiệp Nhật Bản tăng cường đầu tư vào Thành phố

Bước sang thế kỷ XXI, cùng cả nước Thành phố đã chủ động hội nhập kinh

tế khu vực và thế giới Điển hình vào năm 2006 tập đoàn điện tử -linh kiện máy tính của Mỹ Intel đã được cấp phép đầu tư trong 50 năm trị giá 605 triệu USD tại Khu công nghệ cao Thành phố và đã đi vào hoạt động giữa năm 2009

Với vai trò và vị trí quan trọng của một trung tâm kinh tế cả nước Tại Đại hội Đảng bộ Thành phố lần VII đã đề ra mục tiêu giai đoạn 2001-2005: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 11% Cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thành phố vào năm 2005 là dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp, ưu tiên thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao (điện tử, viễn thông, ứng dụng công nghệ sinh học), khuyến khích đổi mới công nghệ trong lĩnh vực chế biến lương thực, thực phẩm, dệt-may Trong lĩnh vực dịch vụ ưu tiên phát triển ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ, công nghệ phần mềm, viễn thông

Cuối năm 2005, Đại hội Đảng bộ lần VIII diễn ra, nhằm nhìn lại thành tựu sau 30 năm giải phóng và 20 năm đổi mới, đồng thời đề ra mục tiêu giai đoạn 2006-

2010 Thành phố xác định phát triển kinh tế làm trọng tâm, phát triển văn hóa làm nền tảng tinh thần của xã hội

Trang 35

Ngày 30/05/2008 tại Thành phố đã diễn ra buổi hội thảo giữa đoàn doanh nghiệp thuộc tổ chức kinh doanh Quốc tế tỉnh Osaka và 50 doanh nghiệp Thành phố

để tìm hiểu cơ hội đầu tư Nhân sự kiện này Phó chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố bà Nguyễn Thị Hồng cam kết thành phố sẽ tiếp tục tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư Nhật bản, ngoài ra cũng mong muốn quan hệ giữa Thành phố và tỉnh Osaka ngày càng thắt chặt, tạo thuận lợi hơn nữa để cả hai bên có cơ hội hợp tác phát triển.Thành phố là đô thị lớn nhất cả nước, là trung tâm kinh tế do đó những

chính sách nhằm thu hút FDI luôn được quan tâm và đề ra

2.1.2 So sánh môi trường đầu tư của Thành phố với các tỉnh lân cận

Tính đến 15/12/2009 Việt Nam thu hút được 839 dự án FDI với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 21,48 tỉ USD, chỉ bằng 53,9% về số dự án mới và 30% vốn đầu tư đăng ký so với cùng kỳ 2008 Vốn đầu tư thực hiện ước đạt 10 tỉ USD, bằng 87% so với cùng kỳ năm (Cục Đầu tư nước ngoài) được phân bố rộng trên khắp cả nước Ở khu vực phía Nam chủ yếu là các tỉnh như Bình Dương, Đồng Nai

Tỉnh Bình Dương:

Năm 2009 được xem là thời gian khó khăn nhất trong thu hút đầu tư do khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng FDI của Bình Dương vẫn đạt kết quả khả quan Trong thu hút FDI, ngày càng có nhiều tập đoàn lớn với sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, khả năng cạnh tranh tốt

Kết quả là đã nâng số lượng dự án FDI trên địa bàn tỉnh hiện lên 1.850 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 13 tỷ USD Đáng chú ý, có đến hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào tỉnh như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, Ý, Mỹ, Hà Lan, Pháp với lĩnh vực đầu tư đa dạng như công nghiệp điện, điện tử, cơ khí chế tạo máy, chế biến thực phẩm, công nghiệp gỗ và trang trí nội thất, các ngành công nghiệp phụ trợ Nổi bật trong nguồn vốn FDI của tỉnh là ngày càng nhiều dự án có vốn đầu tư lớn, giải ngân khá nhanh thuộc hàng đầu của cả nước, có hàm lượng công nghệ cao, sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt như dự án nhà máy sản xuất vỏ

xe ô tô của Tập đoàn Kumho Asiana (Hàn Quốc) có vốn đầu tư 380 triệu USD, dự

án Khu đô thị sinh thái EcoLakes Mỹ Phước (Malaysia) có vốn đầu tư 620 triệu USD, nhà máy sản xuất nước giải khát của Kirin Acecook (Nhật Bản) có vốn đầu tư

Trang 36

60 triệu USD, dự án sản xuất các loại máy nông cụ và các phụ tùng của Tập đoàn Kubota (Nhật Bản) có vốn đầu tư giai đoạn 1 gần 11,4 triệu USD

Nói về môi trường Bình Dương, ông Tổng Giám đốc Công ty TNHH Showa Gloves Việt Nam (vốn Nhật Bản) Morita cho biết: “Hạ tầng công nghiệp tốt và sự quan tâm, tạo nhiều thuận lợi của tỉnh trong quá trình đầu tư đã giúp doanh nghiệp phát huy hiệu quả đầu tư Trong điều kiện thuận lợi như vậy, Công ty TNHH Showa Gloves Việt Nam tiếp tục chọn Bình Dương để chuẩn bị đầu tư giai đoạn 2 nhằm tăng năng lực sản xuất”

Không chỉ có doanh nghiệp Nhật, Hàn; trong chuyến tìm hiểu môi trường đầu tư tại Bình Dương của Hiệp hội các chủ Doanh nghiệp Pháp trên thế giới (MEDEF) vừa qua, đại diện đoàn ông Hervé Bolot, Đại sứ Pháp tại Việt Nam nhận định: “Trong tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu, song Bình Dương thu hút nhiều

dự án FDI là một minh chứng cho một hướng đi hiệu quả Đây là điều tốt đẹp và niềm tin để doanh nghiệp FDI, trong đó có DN Pháp đến hợp tác và đầu tư lâu dài”

Tại cuộc họp tổng kết năm 2009 tỉnh Bình Dương ngày 05/02/2010 Thứ

trưởng Thường trực Bộ Công Thương Bùi Xuân Khu phát biểu: Bình Dương là địa

phương có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu

tư từ châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore Trong thu hút đầu

tư, Bình Dương có một truyền thống là chính quyền, lãnh đạo tỉnh có những chính sách cởi mở và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư về thủ tục hành chính, giao đất giải phóng mặt bằng, các cơ chế chính sách thiết thực và hiệu quả trong khuôn khổ luật pháp cho phép để phục vụ thu hút đầu tư nước ngoài Chính môi trường hấp dẫn các nhà đầu tư như vậy cho nên các KCN của tỉnh như VSIP - KCN của

Becamex IDC và hàng loạt các KCN của thành phần kinh tế tư nhân đầu tư đều thành công và thu hút rất nhiều dự án vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, đẩy nhanh công nghiệp phát triển.[Vnexpress.net]

Trong 9 tháng đầu năm 2010 Bình Dương đã thu hút khoảng 700 triệu USD vốn FDI, cộng dồn đến nay địa phương này đã thu hút được 1.966 dự án FDI với tổng vốn đăng ký khoảng 13,5 tỷ USD và luôn là một trong những tỉnh thành dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI

Trang 37

Giai đoạn 2011-2015 việc thu hút nguồn vốn FDI vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu thu hút 5 tỷ USD

Ngoài ra một trong những mục tiêu quan trọng trong giai đoạn phát triển 2011-2015 mà Bình Dương đề ra đó là mở rộng đối ngoại thu hút đầu tư, tạo môi trường và điều kiện thông thoáng để thu hút đầu tư trong và ngoài nước; tạo điều kiện thuận lợi để các DN, các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn tiếp thị, xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các tập đoàn kinh tế lớn, các DN nước ngoài có trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất hiện đại; chú trọng kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, CN phụ trợ, các ngành công nghệ cao

Tỉnh Đồng Nai:

Ngay trong những tháng đầu năm 2009, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

đã có những tác động xấu đến tình hình thu hút vốn FDI của Đồng Nai Tính đến hết tháng 3/2009, Đồng Nai chỉ có 3 dự án được cấp mới vào các KCN Tam Phước

và Nhơn Trạch 3 với tổng vốn hơn 6,8 triệu USD, bằng 6,3% so với cùng kỳ năm

2008 và chỉ có 5 dự án điều chỉnh tăng vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh với tổng vốn tăng thêm là 12,8 triệu USD, so với quý 1 năm 2008 là 22 dự án với tổng vốn tăng hơn 190 triệu USD

Theo báo cáo của UBND tỉnh Đồng Nai, tình hình thu hút FDI cả trong lẫn ngoài KCN trong 2 tháng đầu năm 2009 chỉ bằng 16,3% so với cùng kỳ Tính đến cuối tháng 2, tổng vốn đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn là 40,87 triệu USD, đạt 2% trong kế hoạch thu hút 2 tỉ USD của năm 2009 So với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai đang xếp sau, bởi 2 địa phương trên trong 2 tháng đầu năm

2009 đã thu hút được một số dự án lớn với số vốn đăng ký hàng trăm triệu USD

Chủ tịch Hiệp hội Các DN Nhật Bản tại Đồng Nai, ông Yoshikawa Hisao cho biết,hiệp hội có 50 thành viên và đại đa số đều đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh Khó khăn nhất phải kể đến các DN hoạt động trong ngành sản xuất và lắp ráp xe hơi, linh kiện điện tử Đơn hàng của họ giảm từ 50-70% so với quý 4/2008 Tiếp đến là các DN ngành điện, điện tử với mức sút giảm đơn hàng khoảng 50%, trừ các DN sản xuất hàng điện tử để bán trên thị trường nội địa như Sanyo Một số DN khác hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất thực phẩm, may mặc,

Trang 38

hàng tiêu dùng thì không quá khó khăn Tuy nhiên, sắp tới, không có một DN Nhật Bản nào tại Đồng Nai có kế hoạch phát triển sản xuất, hầu hết chỉ cố gắng cầm

cự để vượt qua khó khăn.[Theo báo Đồng Nai ngày 23/3/2009]

Tại cuộc họp mặt các doanh nghiệp FDI trên địa bàn với lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch-Đầu tư) và Tổng cục Thuế, phần lớn các doanh nghiệp FDI đều than phiền về chính sách, thủ tục Nhiều câu hỏi của DN xoay quanh các chính sách thuế, hải quan, thủ tục và điều kiện để được vay vốn hỗ trợ lãi suất trong gói kích cầu của Chính phủ

Qua những số liệu của 2 tỉnh Bình Dương và Đồng Nai ở trên so sánh với Thành phố Hồ Chí Minh, ta thấy Bình Dương và Đồng Nai là 2 địa phương có qũi đất mạnh, phục vụ cho cả phát triển nông nghiệp, công nghiệp –xây dựng Đặc biệt diện tích đất bằng vẫn còn nhiều, giá đất rẻ hơn so với Thành phố

Bên cạnh đó một lợi thế của tỉnh Bình Dương là chính sách thông thoáng, có

bộ máy quản lý hướng vào việc hỗ trợ doanh nghiệp tạo lập môi trường kinh doanh với chi phí thấp

Từ những so sánh trên, chúng ta có thể nhận thấy được và tìm ra nguyên nhân, giải pháp để đưa ra hướng đi đúng nhằm thu hút FDI nói chung và của Nhật Bản nói riêng trong giai đoạn 2011-2015 vào TP.HCM

Bảng 4: 10 địa phương của Việt Nam được Nhật Bản đầu tư số dự án cao nhất từ 1988 -2005 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

STT Địa phương Số dự án Tổng vốn đầu tư

Trang 39

(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài-Bộ Kế hoạch Đầu tư năm 2005)

Từ số liệu bảng 4 cho thấy TP.HCM luôn là địa phương dẫn đầu về số dự án đầu tư

và vốn đầu tư thực hiện

2.2 Hoạt động FDI của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh những năm đầu thế kỉ XXI

2.2.1 Qui mô đầu tƣ

Từ ngày 1.1.1988, nhà đầu tư nước ngoài được phép tham gia hoạt động đầu

tư tại Việt Nam Cũng từ đó đến nay, TP.HCM luôn là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tính đến 31.12.2008, thành phố có 3.128 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 25,604 tỉ USD, vốn thực hiện 10,1 tỉ USD Trong đó, khu vực dịch vụ chiếm tỷ lệ cao nhất, tập trung vào hai ngành: kinh doanh bất động sản với tổng vốn đầu tư 7,2

tỉ USD (chiếm 27,81%) và các ngành dịch vụ khác với số vốn là 11 tỉ USD (chiếm 43,01%) Tỷ trọng trong GDP của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tương đối cao Năm 1995 chiếm 11,11%, năm 2005: 18,36%, năm 2007: 18,28% Với Nhật Bản,

từ năm 2000 đến hết 2009, đã có 252 doanh nghiệp có vốn Nhật Bản đầu tư tại thành phố Với tổng vốn đầu tư tới 876.088.946 USD

Bảng 5: Số lƣợng dự án và tổng vốn đầu tƣ của Nhật Bản vào TP.HCM

nước ngoài (USD)

Trang 40

Biểu đồ 3: Bảng trên thể hiện bằng biểu đồ đường cột

Tính đến hết 2009, số dự án của Nhật Bản chiếm hơn 10.2 % trong tổng số hơn

40 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào thành phố; với khoảng 6 % tổng vốn đầu

tư Tuy thành phố Hồ Chí Minh đã có những nỗ lực vượt bậc về thu hút FDI, nhưng con số giải ngân còn thấp, có khoảng cách quá xa với vốn đăng ký Do vậy, Nhật Bản tuy không dẫn đầu về tổng vốn đầu tư song lại luôn là quốc gia đứng đầu về tổng số vốn thực hiện, nên có thể coi như Nhật Bản là quốc gia có vốn thực hiện FDI lớn nhất

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Lê Xuân Bá (2006). Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Nxb Khoa học & Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: TS Lê Xuân Bá
Nhà XB: Nxb Khoa học & Kỹ thuật
Năm: 2006
2. GS.TS Hoàng Thị Chỉnh (2005). Giáo trình Kinh tế các nước Châu Á-Thái Bình Dương. Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế các nước Châu Á-Thái Bình Dương
Tác giả: GS.TS Hoàng Thị Chỉnh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
3. Công nghiệp Việt Nam:Tiềm năng và cơ hội đầu tư-Bộ Công thương, Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại. Nxb Thanh niên 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp Việt Nam:Tiềm năng và cơ hội đầu tư-Bộ Công thương, Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại
Nhà XB: Nxb Thanh niên 2009
4. Cục Đầu tư nước ngoài-Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài-Tạp chí Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (2008). Hai mươi năm đầu tư nước ngoài, nhìn lại và hướng tới 1987-2007. Nxb Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai mươi năm đầu tư nước ngoài, nhìn lại và hướng tới 1987-2007
Tác giả: Cục Đầu tư nước ngoài-Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài-Tạp chí Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
5. Nguyễn Duy Dũng và Nguyễn Thanh Hiền chủ biên (2003). Nhật Bản năm 2003-cuộc cải cách vẫn tiếp tục. Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản năm 2003-cuộc cải cách vẫn tiếp tục
Tác giả: Nguyễn Duy Dũng và Nguyễn Thanh Hiền chủ biên
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
6. PTS Phạm Khắc Duyên (1999). Những nội dung kinh tế-tài chính của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung kinh tế-tài chính của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: PTS Phạm Khắc Duyên
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 1999
7. Đặng Ngọc Dinh-chủ biên (1995). Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020. Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020
Tác giả: Đặng Ngọc Dinh-chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1995
8. Đặng Đức Đạm (1997). Đổi mới kinh tế Việt Nam-Thực trạng và triển vọng. Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới kinh tế Việt Nam-Thực trạng và triển vọng
Tác giả: Đặng Đức Đạm
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 1997
9. Nguyễn Bình Giang (1999). Bất ổn định tài chính ở Nhật Bản-Thực trạng, nguyên nhân vả giải pháp. Viện Kinh tế Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất ổn định tài chính ở Nhật Bản-Thực trạng, nguyên nhân vả giải pháp
Tác giả: Nguyễn Bình Giang
Năm: 1999
10. TS Vũ Văn Hà (2002). Điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tác giả: TS Vũ Văn Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
11. TS Vũ Văn Hà - GS-TS Dương Phú Hiệp (2004). Quan hệ Kinh tế Việt Nam- Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Kinh tế Việt Nam-Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới
Tác giả: TS Vũ Văn Hà - GS-TS Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
12. Dương Phú Hiệp chủ biên (2001). Triển vọng kinh tế Nhật Bản trong thập niên đầu thế kỷ XXI. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng kinh tế Nhật Bản trong thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Dương Phú Hiệp chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
13. Nguyễn Thúy Hương (2008). Dự báo khả năng thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài năm 2008. Cục Đầu Tư nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo khả năng thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài năm 2008
Tác giả: Nguyễn Thúy Hương
Năm: 2008
14. TS Nguyễn Văn Kim (2003). Nhật Bản với Châu Á-Những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế xã hội. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với Châu Á-Những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế xã hội
Tác giả: TS Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
15. PTS.Phạm Văn Linh (2005). Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới. Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: PTS.Phạm Văn Linh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
16. Lê Bộ Lĩnh (2002). Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Bộ Lĩnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
17. TS Võ Đại Lược (2000). Bối cảnh Quốc Tế và những điều chỉnh chính sách phát triển ở một số nước lớn. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh Quốc Tế và những điều chỉnh chính sách phát triển ở một số nước lớn
Tác giả: TS Võ Đại Lược
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
18. Bùi Xuân Lưu và Trần Quang Minh chủ biên (2001). Chính sách ngoại thương Nhật Bản thời kỳ tăng trưởng cao và toàn cầu hóa về kinh tế. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngoại thương Nhật Bản thời kỳ tăng trưởng cao và toàn cầu hóa về kinh tế
Tác giả: Bùi Xuân Lưu và Trần Quang Minh chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
19. TS Hà Thị Ngọc Oanh (1998). Liên doanh và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên doanh và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: TS Hà Thị Ngọc Oanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
20. TS Hà Thị Ngọc Oanh, (2006). Đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam. Nxb Lao động-Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
Tác giả: TS Hà Thị Ngọc Oanh
Nhà XB: Nxb Lao động-Xã hội
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: 10 địa phương của Việt Nam được Nhật Bản đầu tư số dự án  cao nhất  từ 1988 -2005 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực) - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
Bảng 4 10 địa phương của Việt Nam được Nhật Bản đầu tư số dự án cao nhất từ 1988 -2005 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực) (Trang 38)
Bảng 5: Số lƣợng dự án và tổng vốn đầu tƣ của Nhật Bản vào TP.HCM - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
Bảng 5 Số lƣợng dự án và tổng vốn đầu tƣ của Nhật Bản vào TP.HCM (Trang 39)
Biểu đồ 3: Bảng trên thể hiện bằng biểu đồ đường cột. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
i ểu đồ 3: Bảng trên thể hiện bằng biểu đồ đường cột (Trang 40)
Bảng 6: Qui mô dự án của doanh nghiệp Nhật Bản - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
Bảng 6 Qui mô dự án của doanh nghiệp Nhật Bản (Trang 41)
Bảng 7: Hình thức đầu tƣ của doanh nghiệp Nhật Bản tại TP.HCM - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
Bảng 7 Hình thức đầu tƣ của doanh nghiệp Nhật Bản tại TP.HCM (Trang 43)
Bảng 8: Vốn đầu tƣ của Nhật Bản vào TP.HCM theo lĩnh vực (Những ngành - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
Bảng 8 Vốn đầu tƣ của Nhật Bản vào TP.HCM theo lĩnh vực (Những ngành (Trang 44)
Bảng 9: Năm 2005 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
Bảng 9 Năm 2005 (Trang 45)
Bảng 10: Năm 2006 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
Bảng 10 Năm 2006 (Trang 46)
Bảng 11: Thống kê FDI vào TP.Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến năm 2009 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
Bảng 11 Thống kê FDI vào TP.Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến năm 2009 (Trang 55)
Bảng 12: FDI của Nhật Bản vào TP.HCM  sau  khi 2  nước  ký  hiệp định  khuyến khích và bảo hộ đầu tƣ - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
Bảng 12 FDI của Nhật Bản vào TP.HCM sau khi 2 nước ký hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tƣ (Trang 57)
HÌNH ẢNH VỀ QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM-NHẬT BẢN - Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI
HÌNH ẢNH VỀ QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM-NHẬT BẢN (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w