1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

199 542 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong “Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam có đưa ra nhiều vấn đề cần ưu tiên để thực hiện PTBV, trong đó 5 lĩnh vực cần được ưu tiên để PTBV về kinh tế, đó là: duy trì tăng trưởng nhan

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TR

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS PHAN HUY ĐƯỜNG

2 TS TRẦN ANH TÀI

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa……… 1

Lời cam đoan……… 2

Mục lục……… 3

Danh mục các chữ viết tắt……… 5

Danh mục các bảng……… 7

Danh mục các hình vẽ……… 8

Lời nói đầu……… 9

Chương 1 Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm Quốc tế về PTKTBV… 15

1.1 Khái niệm và nội dung của PTKTBV…… ……… 15

1.1.1 Một số khái niệm và phạm trù cơ bản….….……… 15

1.1.2 Nội dung của PTKTBV ……… 32

1.1.3 Các điều kiện đảm bảo PTKTBV… ……… 44

1.2 Một số kinh nghiệm quốc tế về PTKTBV……… 52

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước ………… ……… 52

1.2.2 Bài học rút ra cho Việt Nam ……… 61

Chương 2 Thực trạng phát triển kinh tế của Việt Nam và những vấn đề đặt ra về PTKTBV……… ……… 68

2.1 Quá trình đổi mới tư duy về PTKTBV ở Việt Nam…….……… 68

2.1.1 Khái lược về phát triển kinh tế Việt Nam trước đổi mới……… 68

2.1.2 Những nội dung cơ bản về đổi mới tư duy PTKTBV ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay……… 77

2.2 Đánh giá về PTKTBV ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay……… 88

2.2.1 Đánh giá về tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ………….….…… 88

2.2.2 Đánh giá tác động lan tỏa của tăng trưởng kinh tế đến các vấn đề xã hội, môi trường ……… 92

2.2.3 Đánh giá về cơ cấu nền kinh tế đảm bảo phát triển bền vững.………… 104

2.2.4 Đánh giá về mức độ PTBV qua phân tích các ngành kinh tế chính.…… 111

2.3 Những vấn đề đặt ra về PTKTBV nền kinh tế Việt Nam ……… 135

2.3.1 Tăng trưởng chưa đạt mức tiềm năng.………

Trang 3

2.3.2 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm chạp thể hiện trình độ phát triển thấp

của nền kinh tế……… 136

2.3.3 Hiệu ứng lan tỏa của tăng trưởng kinh tế đến các vấn đề xã hội chủ yếu chưa bền vững …….……… 137

Chương 3 Quan điểm và giải pháp bảo đảm sự phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam.……… 141

3.1 Bối cảnh mới và quan điểm về PTKTBV ở Việt Nam.……… 141

3.1.1 Bối cảnh quốc tế ……… 141

3.1.2 Bối cảnh trong nước ………

3.1.3 Quan điểm về PTKTBV ………

146 148 3.2 Những định hướng giải pháp cơ bản đảm bảo PTKTBV ở Việt Nam.…… 155

3.2.1 Tiếp tục tạo môi trường chính trị – xã hội, pháp lý thuận lợi và ổn định 156

3.2.2 Hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển ………… 158

3.2.3 Phát triển khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực nhằm phát triển nền kinh tế và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế nước ta…… 165

3.2.4 Đẩy mạnh hoạt động thương mại nhằm phát triển kinh tế và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.…… 170

3.2.5 Hoàn thiện thể chế chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy PTKT và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế… 175 3.2.6 Những giải pháp thúc đẩy quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp…….……… 185

3.2.7 Những giải pháp đảm bảo sự công bằng trong phát triển, giảm bớt sự phân hóa giàu – nghèo và chênh lệch mức sống nông thôn – thành thị… …… 187

3.2.8 Những giải pháp nhằm công khai, minh bạch thông tin kinh tế để dự báo và cảnh báo kịp thời những tác động tiêu cực đến tính bền vững của phát triển kinh tế ……… 190

Kết luận……… 192

Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án………… 194

Tài liệu tham khảo ……… 195

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

1 AFTA Asean FreeTrade Area Khu vực mậu dịch tự do Asean

2 APEC Asia Pacific Economic Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu

5 CIEM Central Institute for Economic

9 EU European Union Liên minh Châu Âu

10 GATT General Agreement on Tariffs and

Trade

Hiệp định chung về thuế quan

và mậu dịch

11 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phảm quốc nội

12 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân

13 GNI Gross National Income Tổng thu nhập quốc dân

14 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

15 FED Federal Reserve System Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ

16 HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người

17 HIV/AIDS Human Immuno-deficiency Virus/ Acquired Immune Deficiency

20 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

Trang 5

STT Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

24 NICs New Industrialized Countries Các nước công nghiệp mới

25 NGO Non – Governmental Organization Tổ chức phi chính phủ

27 ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức

28 PSR PSR - Pressure - State – Response Mô hình “áp lực - tình trạng -

40 USD United State Dollar Đồng Đô la Mỹ

41 VCCI Vietnam Chamber of Commerce

and Industry

Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam

42 WB World Bank Ngân hàng thế giới

43 WCED World Commission on

Environment and Development

Ủy ban quốc tế về môi trường

và phát triển

44 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bức tranh tăng trưởng kinh tế của thế giới 1960-2000 27

Bảng 2.1 Sự phát triển nền kinh tế miền Bắc Việt Nam (Mức tăng giá trị

Bảng 2.10 Số lượng, cơ cấu và quy mô lao động các doanh nghiệp, cơ sở

sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế Việt Nam 107 Bảng 2.11 Cơ cấu doanh nghiệp theo ngành kinh tế 109

Bảng 2.12 Dân số trong độ tuổi lao động (Từ 15 đến 60 tuổi) 110

Bảng 2.13 Cơ cấu lao động theo nhóm ngành (1990-2008) 110

Bảng 2.14 Sản xuất lương thực của Việt Nam 113

Bảng 2.15 Khối lượng và kim ngạch một số mặt hàng nông-lâm-thủy sản

Bảng 2.16 Cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam 119

Bảng 2.17 Xuất khẩu một số mặt hàng công nghiệp chính của Việt Nam 120

Bảng 2.18 Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo ngành 122

Bảng 2.19 Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam 124

Bảng 2.20 Tốc độ tăng khối lượng vận tải phân theo các hình thức vận tải

Bảng 2.21 Số lượng HTX phân theo ngành thời kỳ 1996-2003 130

Bảng 2.22 Thu chi ngân sách Nhà nước (% GDP) 133

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Tăng trưởng và xu hướng tăng trưởng của Việt Nam, 1984-2008 30 Hình 1.2 Tương tác giữa con người, sản xuất và tự nhiên 34 Hình 1.3 Mô hình "Áp lực - Tình trạng - Ứng phó" – PSR 38 Hình 1.4 Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững 40 Hình 1.5 Quan hệ giữa nguồn nhân lực và vốn con người 42 Hình 2.1 So sánh cơ cấu ngành của các nước trong khu vực 136

Trang 8

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

PTKTBV nhấn mạnh đến khả năng phát triển liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên và xã hội Phát triển kinh tế mà làm hủy hoại môi trường là phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt (mà không lo trước đến ngày chúng cạn kiệt) là phát triển không bền vững Chẳng hạn, trữ lượng dầu mỏ thế giới theo một số tính toán chỉ có thể khai thác được khoảng 50 - 60 năm nữa; trữ lượng than đá thì còn khoảng trên dưới 120 năm nữa Vậy, nếu các ngành kinh tế chỉ dựa vào những nguồn năng lượng này thì không thể bảo đảm tính bền vững lâu dài được Đồng thời muốn kéo dài sự tồn tại của các ngành kinh tế dựa vào các nguồn năng lượng hóa thạch thì chỉ có thể là phải sử dụng tiết kiệm chúng hoặc là tìm nguồn năng lượng thay thế

Ngoài ra, có quan điểm còn cho rằng, mô hình phát triển kinh tế mà để phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (như FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn Nói ngắn gọn, phát triển kinh tế là không bền vững nếu nó thật "nóng", không thể giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay

ít nhất cũng chậm lại trong tương lai

Không thể chối cãi: "phát triển kinh tế bền vững" là một khái niệm một phạm trù đang được toàn thế giới lưu tâm "Phát triển kinh tế bền vững” có nội hàm rất rộng, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng Một mẫu hình PTBV là mỗi địa phương, vùng, quốc gia…không nên thiên về thành tố này và xem nhẹ thành tố kia Vấn đề là áp dụng nó như thế nào ở các cấp độ trên và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Nhưng chỉ để ý đến liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên

và tăng trưởng kinh tế là chưa toàn diện, chưa bao quát hết nội hàm của khái niệm

"bền vững" trong phát triển kinh tế Khái niệm đó sẽ toàn diện và toàn vẹn hơn nếu được áp dụng vào hai thành tố nòng cốt khác của phát triển, đó là văn hóa và xã hội

Để chuyển hoá khái niệm PTKTBV từ cấp độ lý thuyết áp dụng vào thực tiễn, khái niệm cần được làm sáng tỏ sau đó áp dụng trực tiếp đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội

Trang 9

Nhiều công trình nghiên cứu khác đã đi sâu nghiên cứu hệ thống và công phu

về PTBV Tuy nhiên, như trên đã phân tích, PTBV có nội hàm rất rộng, bao gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng Bởi vậy, các nghiên cứu chuyên biệt về PTKTBV đang chưa được thực hiện một cách thật hệ thống, nhất

là đặt nó trong mối liên hệ tương tác với các thành tố quan trọng khác của PTBV Mặt khác, thực tiễn phát triển kinh tế của Việt Nam đã bộc lộ những dấu hiệu của tính không bền vững Từ những lý do trên, Luận án đã được lựa chọn với đề tài “Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ giữa thập niên 80 thế kỷ XX, "phát triển bền vững về kinh tế" đã trở thành một đề tài được thế giới loài người không những quan tâm đặc biệt, mà còn tập trung nhiều trí tuệ để giải quyết các vấn đề của nó Cội nguồn của sự xuất hiện vấn đề và ngày càng trở nên bức thiết mang tính toàn cầu là ở chỗ, nó phản ánh sự quan ngại đối với một số quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế quá nhanh, tạo bước đi vội vã, chọn cách phát triển thiển cận, miễn sao tăng thu nhập hiện tại, mà không chú ý đến những nguy hại dài lâu của lối phát triển đó đến môi trường sinh thái (tàn phá rừng, sa mạc hóa ), đến trữ lượng hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên (quặng

mỏ, dầu hỏa, khí đốt), đến tình trạng khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo

"Phát triển kinh tế bền vững” là khái niệm mới ở Việt Nam Tiến hành xây dựng và thao tác hoá khái niệm này phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh thế giới hiện nay sẽ có ý nghĩa quan trọng Các nghiên cứu khoa học môi trường, khoa học xã hội, trong đó đặc biệt là kinh tế học, xã hội học và luật học đã có những đóng góp nhất định cho việc hoàn thiện hệ thống quan điểm lý luận về PTKTBV ở nước ta trong những thập niên sắp tới

Trong một công bố trên Tạp chí Xã hội học (2003) của tác giả Bùi Đình Thanh

với tiêu đề "Xã hội học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI", tác giả cũng chỉ ra 7 hệ

chỉ báo cơ bản về PTBV: Chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường Khái niệm “phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ

Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh

Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công

trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững”

Trang 10

(1995) của Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm PTBV theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt

kỹ thuật "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và PTBV, Hội Liên hiệp các Hội

Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí PTBV của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về PTBV đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí PTBV cho Việt Nam

Công trình nghiên cứu "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững”

(2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho PTBV Công trình này đã xác định PTBV qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hoá

đã tổng quan nhiều mô hình PTBV như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh

tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987),

mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của World Bank

Ngoài ra, trong giới khoa học xã hội còn có các công trình như "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp" (1997) của Phạm Xuân Nam Trong công

trình này, tác giả làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm PTBV: Phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là thao tác hoá khái niệm PTBV theo Brundtland Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, những thao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa được làm rõ

Tiếp theo là Đề tài cấp Bộ “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động” của PGS.TS Hà Huy Thành (chủ nhiệm), Viện nghiên cứu Môi trường và

PTBV là cơ quan chủ trì thực hiện Đề tài đã nghiên cứu tổng quan nội dung cơ bản

Trang 11

và quá trình hình thành và phát triển của khái niệm, khung khổ, chương trình hành động, chỉ tiêu PTBV của Liên hợp quốc và các quốc gia, khu vực trên thế giới Trên

cơ sở đó, rút ra những bài học về PTBV phù hợp với điều kiện của Việt Nam

Trong “Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam có đưa ra nhiều vấn đề cần ưu tiên để thực hiện PTBV, trong đó 5 lĩnh vực cần được ưu tiên để PTBV về kinh tế, đó là: duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững; thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường; thực hiện quá trình công nghiệp hóa sạch; phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững; PTBV các vùng và địa phương

Trong bài “Bàn thêm về PTBV” đăng trên Tạp chí nghiên cứu PTBV số tháng 6/2006 của Bùi Tất Thắng, Viện chiến lược – Bộ Kế hoạch và đầu tư, đã phân tích PTBV về mặt kinh tế để thực hiện PTBV là tốc độ tăng trưởng phải cao và quan trọng là có sự thay đổi cơ cấu kinh tế, cùng với việc nâng cao đời sống của dân chúng và bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên…

Lê Bảo Lâm với tác phẩm “Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế dài hạn: Lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam” (2007) và một số các tác phẩm khác của các tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, “Kinh tế – xã hội Việt Nam hướng tới chất lượng tăng trưởng hội nhập phát triển bền vững”; Nguyễn Văn Thương, “Tăng trưởng kinh tế Việt Nam - những rào cản cần vượt qua”; Phạm Ngọc Trung, “Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam”;…cũng chỉ nghiên cứu và bàn luận đến những vấn đề xoay quanh việc sử dụng các nhân tố được chú ý và cần phải tiếp tục sử dụng một cách có hiệu quả để nhằm tạo ra sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam Các vấn đề đã được nghiên cứu trong nhóm các tác giả trên cũng chỉ mới đưa ra, một cách rời rạc và chưa có tính chất hệ thống lý thuyết về sự PTKTBV, chỉ đưa ra những phân tích, đánh giá về vấn đề xã hội, hay môi trường và một số tiêu chí trong nghiên cứu sự phát triển một cách “bền vững” đối với Việt Nam

Trong tác phẩm “Phát triển bền vững của Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng”, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội – 2007, GS.TSKH Nguyễn Quang Thái và PGS.TS Ngô Thắng Lợi đã nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển của kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian đổi mới, phân tích những yếu tố hay điều kiện để có thể giúp Việt Nam đạt được những tiến bộ khả quan để thực hiện PTBV, trong đó có đề cập đến những nội dung của vấn đề tăng trưởng với chất lượng cao thể hiện ở những tiêu chí như xác định cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh

Trang 12

tế theo hướng tiến bộ Mặc dù, chưa đề cập trực tiếp đến khái niệm PTKTBV nhưng cũng đã đưa ra những tiêu chí và nội dung của PTKTBV

Tuy nhiên, đánh giá thật công bằng thì các nghiên cứu hiện có chưa đề cập sâu đến PTKTBV, cũng như đánh giá mức độ tác động của PTKTBV trong mối quan hệ đối với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm bền vững về mặt xã hội, văn hóa , từ đó, khẳng định vai trò quyết định của PTKTBV đến PTBV nói chung, đưa

ra những kết luận về nội dung cũng như tiêu chí của PTKTBV

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nền kinh tế quốc dân cùng với các vùng, ngành của

nó trong quãng thời gian tương đối thuần nhất để làm rõ động thái, khuynh hướng của nó dưới lăng kính của PTKTBV

Phạm vi nghiên cứu: luận án chỉ giới hạn nghiên cứu nền kinh tế quốc dân

Việt Nam dưới góc độ PTKTBV, bao gồm những vấn đề tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế xã hội, môi trường

Thời gian nghiên cứu: từ năm 1986 đến nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án: Luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về PTKTBV; đánh giá, phân tích thực trạng nền kinh tế quốc dân kể từ khi thực hiện

mô hình kinh tế mới để chỉ ra những mặt được và chưa được trong việc thực hiện mục tiêu bền vững; đề xuất một số giải pháp cơ bản bảo đảm PTKTBV trong thời gian tới

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định những nhiệm vụ cụ thể như sau: tổng hợp tài liệu, tư liệu đã nghiên cứu PTKTBV; tổng hợp một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc bảo đảm PTKTBV; sử dụng các công cụ phân tích để làm

rõ những thành tựu đã đạt được cũng như những mặt còn hạn chế của kinh tế Việt Nam trong việc vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa bảo đảm tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế; từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị để làm cho chất lượng tăng trưởng trong thời gian tới được cao và ổn định, bền vững hơn, hạn chế những tác động tiêu cực từ bên ngoài, nhất là tính chu kỳ của khủng hoảng trong kinh tế thị trường

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu áp dụng trong Luận án

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam; các thành tựu khoa học trong kinh tế chính trị nói chung và kinh tế

Trang 13

học phát triển nói riêng Luận án có sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, mô tả và so sánh, mô hình hóa, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn

6 Những đóng góp khoa học của Luận án

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về PTKTBV, thông qua việc làm rõ các nội dung và các tiêu chí đánh giá PTKTBV Nghiên cứu PTKTBV là để rút ra bài học cho Việt Nam trong vấn đề phát triển

- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam, luận chứng những vấn đề đang đặt ra trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược là duy trì tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững, thực sự tác động tích cực và lan tỏa đến các vấn đề văn hoá, xã hội, môi trường và có cơ cấu kinh tế phù hợp phản ánh trình độ phát triển của nền kinh

tế Nội dung của PTKTBV gồm cả yếu tố văn hoá, xã hội được xem là vấn đề mới

- Đề xuất quan điểm và định hướng giải pháp cơ bản để kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển bền vững Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và đào tạo trên lĩnh vực kinh tế chính trị và lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam, kinh tế học phát triển

7 Kết cấu của Luận án:

Ngoài Lời nói đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận án

được kết cấu thành 3 chương, 7 mục và 14 tiểu mục

Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về PTKTBV Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế của Việt Nam và những vấn đề đặt ra về PTKTBV

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm PTKTBV ở Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM

QUỐC TẾ VỀ PTKTBV

1.1 Khái niệm và nội dung của PTKTBV

1.1.1 Một số khái niệm và phạm trù cơ bản

1.1.1.1 Phát triển và phát triển kinh tế

Phát triển nói chung, phát triển kinh tế nói riêng, là một khái niệm dùng để chỉ trạng thái vận động không ngừng của sự vật và hiện tượng kinh tế theo chiều hướng tiến bộ trong quá trình thay đổi cả về số lượng và chất lượng của quá trình đó Đó là dòng tiến hoá có sự thay đổi mạnh về chất trong nội sinh của một quá trình nhất định

Sự phát triển về nghĩa hẹp, đó là sự mở rộng, khuyếch trương, mở mang của sự vật, hiện tượng hoặc ý tưởng tư duy của đời sống xã hội một cách tương đối hoàn chỉnh trong một giai đoạn nhất định Khái niệm phát triển rộng hơn là một khái niệm chỉ một chuyển biến đặc thù trong tiến trình kinh tế - xã hội và có nguồn gốc ra đời của nó

Quan niệm theo nghĩa rộng của từ này chính là bản chất vận động không ngừng của sự vật theo quy luật trong các thế giới: vô cơ, hữu cơ và xã hội loài người

Vậy, trong xã hội loài người, sự phát triển là quá trình cách mạng trong nội

bộ tiến trình kinh tế, thực hiện quá trình chuyển đổi: chuyển đổi vị thế trong cơ cấu của nền sản xuất xã hội và chuyển đổi trong phương thức sản xuất Một yếu tố cơ bản trong tiến trình nội sinh của các nước là: Trình độ phát triển về kinh tế - chỉ tiêu

phân định các nước trên thế giới thành hai cấp độ phát triển: Nước chậm phát triển

và nước phát triển [22]

Khái niệm “phát triển” ở đây dùng để chỉ những nước đã trải qua quá trình công nghiệp hoá, đó là những nước công nghiệp Trái lại, những nước kém phát triển hay chậm phát triển là những nước nông nghiệp lạc hậu, những nước chưa trải qua công nghiệp hoá Như vậy, phát triển ở đây không còn là khái niệm chỉ sự phát triển chung, mà là khái niệm đặc thù chỉ bước chuyển đổi trong tiến trình kinh tế, từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, công nghiệp hoá Quan điểm này đã

coi Công nghiệp và sức sản xuất là yếu tố quyết định đến trình độ phát triển, đồng

thời đặc trưng cho trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội loài người Trong các lý thuyết khác nhau, cũng đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau về sự phát triển Chẳng hạn, A.Toffler đã chia xã hội theo 3 làn sóng phát triển: Làn sóng nông

Trang 15

nghiệp kinh tế chậm phát triển Làn sóng công nghiệp kinh tế phát triển nhanh và mạnh hơn làn sóng nông nghiệp Những quốc gia và lãnh thổ đã trải qua làn sóng công nghiệp hay công nghiệp hoá là những nước phát triển, còn những nước hậu công nghiệp là những nước phát triển hiện đại Toàn bộ sự thay đổi trong phương thức sản xuất và trong cơ cấu của nền sản xuất - tức là chuyển từ nền kinh tế chậm phát triển sang nền kinh tế phát triển, là quá trình thị trường hoá và quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế W.Rostow đã làm rõ logic của bước chuyển từ xã hội với nền kinh tế chậm phát triển sang xã hội có nền kinh tế công nghiệp Ông cho rằng, giữa nền kinh tế chậm phát triển và nền kinh tế công nghiệp cách nhau một khoảng

cách với 5 bậc hay 5 cấp độ chuyển hoá kế tiếp nhau [22] như sau:

1) Giai đoạn xã hội truyền thống;

2) Giai đoạn chuẩn bị cất cánh;

3) Giai đoạn cất cánh;

4) Giai đoạn hướng tới sự chín muồi về kinh tế;

5) Giai đoạn kỷ nguyên tiêu dùng cao

Lý thuyết về 5 giai đoạn phát triển này nhấn mạnh giai đoạn cất cánh, là giai

đoạn tạo bước ngoặt lịch sử, vì thế, còn gọi là lý thuyết cất cánh

Trước khi có lý thuyết W.Rostow, người ta thường sai lầm là đồng nhất hai khái niệm phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế - tức là mở rộng mức sản lượng tiềm năng của một nền kinh tế

Nhưng cách tiếp cận toàn diện và có cơ sở khoa học hơn cả là học thuyết Mác -xít Riêng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, Các Mác đã từng chỉ ra, thời đại này khác thời đại khác không phải ở chỗ nó sản xuất ra cái gì mà là sản xuất bằng cách nào Điều đó có nghĩa là công cụ sản xuất, phương thức tiến hành sản xuất là cái quan trọng nhất để đánh giá những nấc thang phát triển của các xã hội khác nhau

Bước sang giai đoạn kinh tế trí thức, thông tin và tri thức trở thành động lực phát triển chính, nên xã hội loài người trở nên văn minh hơn, tiết kiệm hơn và sử dụng nguồn lực một cách hợp lý hơn nhờ vào kinh tế tri thức, nhất là sự xuất hiện của các vật liệu mới, nguồn nhiên liệu mới Chẳng hạn, công nghệ nanô cho phép chế tạo ra những

cỗ máy tinh vi, nhỏ bé mà chức năng lại vượt trội các cỗ máy dùng đến hàng tấn nguyên vật liệu Người ta ví toàn bộ chức năng của một vệ tinh hiện nay, tương lai có thể chỉ thu nhỏ bằng bao diêm với các máy móc được chế tạo bằng công nghệ nanô

Trang 16

Như vậy, Phát triển kinh tế là khái niệm chỉ quá trình chuyển nền kinh tế từ chậm phát triển sang nền kinh tế phát triển, chứ không phải là phát triển kinh tế với nội dung tăng trưởng kinh tế hiện đại Một khái niệm diễn tả quá trình thay đổi về

chất trong tiến trình kinh tế, khái niệm kia diễn tả sự tăng lên về lượng của một nền kinh tế Không nên đồng nhất phát triển kinh tế với tăng trưởng kinh tế, dù rằng

tăng trưởng kinh tế là nội dung vật chất của phát triển kinh tế [22]

Riêng về lĩnh vực kinh tế, một nền kinh tế được gọi là phát triển bao giờ cũng phát triển hài hoà cả hai nội dung chủ yếu sau: đó là sự gia tăng của cải vật chất và dịch vụ, cùng với sự chuyển biến theo hướng tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội Về cơ cấu kinh tế được thể hiện ở mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành theo chiều hướng tiến bộ: Công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp hay Dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Ngày nay, người ta nhận thấy rằng, một nền kinh tế phát triển phải đảm bảo cân đối, hài hoà và toàn diện các mục tiêu kinh tế, xã hội, bền vững và bảo vệ tốt môi trường môi sinh

Những yếu tố tác động quyết định đến sự phát triển nền kinh tế là sự phát

triển không ngừng của lực lượng sản xuất, trước hết là việc sử dụng các công cụ sản xuất tiên tiến, áp dụng thành công các kết quả của cách mạng về khoa học kỹ thuật, công nghệ và thông tin

Các cách tiếp cận trên dù đạt được một số mục đích nào đó tùy theo cách tiếp cận, cũng như vận dụng và phê phán chúng nhưng vẫn chưa chỉ ra được tính chất giới hạn của từng phương thức sản xuất trên cơ sở chỉ ra bản chất sâu xa của chúng

Học thuyết kinh tế của Các Mác chẳng những lý giải một cách khoa học, chuẩn xác các hiện tượng kinh tế tư bản chủ nghĩa, mà còn đưa ra những quan điểm hoàn toàn mới so với các quan điểm trước đó về mối quan hệ giữa con người và quá trình lao động của con người với giới tự nhiên Cái giá phải trả cho việc tác động vào giới tự nhiên một cách tự phát là bị thiên nhiên trừng phạt Ý muốn nói đến một sự bảo tồn, duy trì sự cân bằng cần thiết trong tự nhiên khi tác động vào nó để thỏa mãn các nhu cầu của con người

“Giới hạn thật sự của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chính là bản thân tư bản, điều đó có nghĩa là: tư bản và việc làm cho tư bản tự nó tăng thêm giá trị là

điểm xuất phát và điểm cuối cùng, là động cơ và mục đích của sản xuất, sản xuất

chỉ là sản xuất cho tư bản, chứ không phải ngược lại; những tư liệu sản xuất không

Trang 17

phải đơn thuần là những phương tiện cho quá trình sinh sống thường xuyên mở

rộng của xã hội những người sản xuất.” [11, tr 380].

1.1.1.2 Phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững

+ Phát triển bền vững:

Khi phân tích nội dung về PTBV trong các học thuyết kinh tế tư sản, nghiên

cứu bắt đầu từ tác phẩm nổi tiếng của Adam Smith: “Nghiên cứu bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc” (1776) vì đây là công trình nghiên cứu được đánh giá

là có sự khác biệt rất đáng kể so với các học thuyết trước đó, đồng thời đưa ra những lý giải khá đầy đủ về sự hoạt động của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa giai

đoạn cạnh tranh tự do [70]

Câu nói nổi tiếng của ông là coi các quy luật thị trường như bàn tay vô hình điều khiển các hành vi của con người và các lợi ích cá nhân Mỗi người theo đuổi lợi ích cho riêng mình, còn xã hội được lợi từ quá trình đó một cách ngẫu nhiên

Thế nhưng khi lý giải về của cải của các dân tộc, Adam Smith đã không vượt qua được giới hạn của phương thức lao động công trường thủ công thời kỳ đó và chính Các Mác đã phát hiện ra rằng, phạm trù “của cải của các dân tộc” không phải

là gì khác, đó chính là tư bản và tư liệu chính có thể làm tăng nguồn của cải đó lại chính là phân công lao động ở trình độ công trường thủ công Đó cũng chỉ là một

phương thức đặc thù sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối mà thôi [70]

Có nghiên cứu cho rằng, chỉ khoảng 3-4 thập niên cuối của thế kỷ XX, người

ta mới nhắc nhiều đến thuật ngữ "phát triển bền vững" Hầu hết các quốc gia cũng đều quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên, đây không hẳn chỉ là vấn đề thời sự mà từ lâu lắm, ông cha ta đã có những ước mong cháy bỏng: "Non nước ấy ngàn thu; nước non ngàn thủa vững âu vàng" Nhiều đế chế từ Âu sang Á cũng từng có những khát vọng ấy Nếu có khác chăng thường là ở sự diễn đạt và cách thức thực hiện Nhưng tựu trung lại, vẫn ở cách nhìn phiến diện, thiên lệch, tuyệt đối hóa một hoặc vài yếu tố nào đấy Suy cho cùng, các bậc tiền nhân thiên về quan niệm "mạnh" Củng cố quyền lực để có một vương triều mạnh Tăng cường xây dựng lực lượng để

có một quân đội mạnh, thiện chiến, đánh đông dẹp bắc, chiếm cứ đất đai, mở mang giang sơn, bờ cõi Vì vậy, đã dẫn đến những chu trình lặp đi lặp lại, tưởng như

"thiên định" là sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc Phải trả giá bằng hàng nghìn năm qua đêm trường trung cổ, người ta mới vỡ lẽ rằng, hóa ra phát triển mạnh

Trang 18

đâu có phải là bền vững Trong xã hội phong kiến cổ xưa của Trung Quốc, không phải thời nào cũng duy trì việc truyền ngôi theo kiểu “cha truyền con nối”, chẳng hạn thời Nghiêu Thuấn, tiêu biểu cho lớp người có công lớn trong việc trị thủy, mà Võ được tin cậy của quần chúng và tất nhiên là của Thuấn mà được truyền ngôi vua, sau này Nho giáo gọi đó là nếp “truyền hiền” hay còn gọi là “thiện nhượng” tức truyền

ngôi cho người có đức có tài đất nước thịnh vượng [20, tr 9]

Thế nghĩa là, con người qua nhiều triều đại đều có những quá trình mò mẫm, tìm tòi để giải quyết những vấn đề của sự phát triển và trường tồn của mình Tất nhiên, PTBV đã là một nhu cầu khách quan, là một tiền đề của lịch sử Không chỉ liên quan đến sự tồn vong, mà là trường tồn của một quốc gia, dân tộc

Mãi đến nhiều thập kỷ sau này của thời kỳ cận - hiện đại, theo cách gọi của giới sử học, mới xuất hiện những điều kiện vật chất nhất định cho quá trình hình thành những quan điểm rất khác nhau về PTBV Đó là, sự phát triển của các nước công nghiệp phát triển trước đây tập trung chủ yếu vào hoạt động sản xuất Cách làm này cũng được nhiều nước đang phát triển trong những năm 1950 và 1960 áp dụng Họ rất coi trọng mục tiêu tăng sản lượng và tăng trưởng thông qua chỉ tiêu đánh giá về tổng thu nhập quốc dân (GNP), thu nhập quốc nội (GDP) Và các nước này thường lấy tiêu chuẩn về hiệu quả kinh tế làm “kim chỉ nam” cho những hoạt động của nền kinh tế

Cho đến đầu những năm 1970, nạn nghèo đói gia tăng ở các nước đang phát triển đã khiến những người nghiên cứu về phát triển tập trung mọi nỗ lực vào vấn

đề cải thiện phân phối thu nhập Quan niệm về phát triển lúc đó được chuyển hướng sang sự tăng trưởng, song có bổ sung thêm nội dung phải bảo đảm bình đẳng xã hội

và đặc biệt là vấn đề giảm đói nghèo Chỉ tiêu này được đánh giá là một tiêu chuẩn quan trọng ngang bằng với tiêu chuẩn về hiệu quả kinh tế

Nhưng vào đầu những năm 1980, khi hàng loạt bằng chứng về sự xuống cấp nhanh chóng của môi trường đã trở nên những thách thức nghiêm trọng đối với phát triển thì vấn đề bảo vệ môi trường đã trở thành mục tiêu thứ ba của sự phát triển Cũng khoảng thời gian này, thuật ngữ "phát triển bền vững" bắt đầu xuất hiện

Từ đó tới nay, đã có nhiều định nghĩa và khái niệm về PTBV được nêu ra qua các hội nghị và hội thảo quốc tế Tuy thế, định nghĩa do Uỷ ban thế giới về môi

trường và phát triển đưa ra trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" (1987)

Trang 19

dường như nhận được sự tán đồng của đa số quốc gia và nhiều nhà nghiên cứu về

PTBV Nội dung của định nghĩa này là: "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của hiện tại song không xâm hại tới khả năng thỏa mãn của các

Các cách tiếp cận trên thể hiện trong các nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, cách tiếp cận kinh tế: Dựa vào luận điểm về tối đa hóa thu nhập

với chi phí tối thiểu (nhỏ nhất) của Hick - Lindahl Bao gồm chi phí nguồn tài sản,

tư bản, lao động [55] Ngoài ra, người ta còn dùng cách tiếp cận sử dụng tối ưu và

có hiệu quả những nguồn lực khan hiếm Tuy nhiên, có một số vấn đề nảy sinh khi

sử dụng cách tiếp cận này Chẳng hạn, dùng phương pháp gì để xác định những loại tài sản không được đánh giá trên thị trường như tài nguyên, hệ sinh thái Mặc dù vậy, luận điểm này được áp dụng rộng rãi nhất là ở các nước đang phát triển và các nước trong hệ thống XHCN trong những năm 1950-1960 và đầu những năm 1970 Mục tiêu hàng đầu của các nước thời kỳ đó là làm sao để giải được bài toán cho tăng trưởng và ổn định kinh tế với hiệu quả kinh tế cao

Thứ hai, cách tiếp cận xã hội: Với cách tiếp cận này, con người được coi là

trung tâm trong những quyết định về chính sách phát triển Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế còn có quan điểm phát triển mang tính xã hội, nhằm bảo đảm duy trì sự

ổn định xã hội; giảm bớt những tác động tiêu cực về xã hội của sự phát triển kinh tế; bảo đảm tính công bằng xã hội với mục tiêu giảm tỷ lệ dân số phải sống trong nghèo đói Đây là một mục tiêu phát triển cơ bản của đất nước

Thứ ba, cách tiếp cận môi trường: Được phổ biến rộng rãi từ đầu những năm

1980, tập trung vào các vấn đề môi trường đang ngày càng trở nên nóng bỏng trên thế giới Quan điểm này lưu ý tới sự ổn định của hệ sinh thái và của môi trường sinh thái Đó cũng chính là những đối tượng đang chịu tác động mạnh của các hoạt động kinh tế tại cả các nước đã phát triển và các nước đang phát triển

Trang 20

Thứ tư, cách tiếp cận về văn hóa: Càng ngày người ta lại càng ý thức được

rằng, nếu một đất nước tăng trưởng nhanh, giàu có, nhưng tệ nạn xã hội vẫn tràn lan, môi trường vẫn bị hủy hoại một cách chủ ý hoặc vô ý thì không thể bảo đảm sự PTBV Căn nguyên lại, do không chỉ trình độ văn hóa thấp, mà gần đây còn được cho là "sự xung đột của các nền văn hóa" Mới đây, ngày 12-10-2006, Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển công bố trao giải Nô-Ben Văn học cho nhà văn Thổ Nhĩ kỳ Ô-

ran Pa-múc vì các tác phẩm có giá trị cao về lĩnh vực này [6] Như vậy, quốc gia đó

không thể gọi là một nước phát triển, chứ chưa nói là PTBV Cuối cùng, vấn đề văn hóa từ lâu nay thường không được đề cập nhiều, nay đã dần dần được nhìn nhận một cách khách quan hơn, được đánh giá đúng với vị trí vốn có của nó Hàng trăm khái niệm về văn hóa ra đời, các chỉ tiêu nhân bản - HDI (Human Development Index - Chỉ số phát triển con người) đã được phân tích và bổ sung dần Tiêu chuẩn

về kinh tế đã được kết hợp cùng với tiêu chuẩn về văn hóa - xã hội và môi trường

Đó là một nhận thức hết sức quan trọng Bởi vì, suy cho cùng, con người sinh ra không mong gì hơn là được ấm no, tự do, hạnh phúc; cộng đồng người hợp thành xã hội, cũng không gì hơn là có một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trong một môi trường sinh thái trong lành, tốt đẹp

Không những thế, gắn phát triển kinh tế với xã hội và nhất là văn hóa đã giúp các quốc gia định vị lại mục tiêu chiến lược của mình, đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi sự tăng trưởng và phát triển Điều đó là hoàn toàn đúng với phát hiện của Các Mác

về tính giới hạn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa như đã đề cập ở trên

PTKTBV ngày nay đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, thậm chí còn trở thành một quan điểm chủ đạo trong hoạch định chiến lược và chính sách phát triển của nhiều quốc gia

Vậy PTKTBV được hiểu như thế nào, theo tác giả luận án:

- Hiểu theo nghĩa hẹp là sự tăng trưởng về kinh tế một cách hợp lý, hiệu quả

và bền vững Là sự tăng trưởng cao phù hợp được duy trì trong thời gian dài, thu nhập quốc dân và thu nhập bình quân đầu người tăng lên

- Tăng trưởng hợp lý, hiệu quả: điều này không có nghĩa phải duy trì tốc độ tăng trưởng thật cao, mà chỉ cần cao ở mức vừa phải đồng thời duy trì một cơ cấu kinh tế ngành một cách phù hợp và từng bước có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo đúng xu thế phát triển

Trang 21

- Tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc đảm bảo các cân đối vĩ mô một cách hợp lý

- Hiểu theo nghĩa rộng: chính là phát triển kinh tế thể hiện sự lan tỏa tích cực của nền kinh tế đến bền vững về văn hóa, xã hội và bền vững môi trường

1.1.1.3 Phát triển kinh tế bền vững - con đường tất yếu, hợp quy luật của phát triển

PTKTBV trong điều kiện hiện nay trở thành đòi hỏi khách quan đối với toàn cầu cũng như mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, ngành Tính tất yếu khách quan đó xuất phát từ những yếu tố sau:

Một là, PTKTBV là xu hướng phát triển phù hợp với phát triển hiện đại, bảo

đảm sự hài hoà giữa kinh tế - xã hội - môi trường; giữa các ngành, lĩnh vực; giữa các vùng lãnh thổ; giữa hiện tại và tương lai, giữa các thế hệ

Hai là, hiện còn nhiều hạn chế trong PTKTBV trên phạm vi cả nước cũng

như từng địa phương trên tất cả các mặt: chất lượng tăng trưởng, những vấn đề về văn hóa, xã hội, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường

Nhiều quốc gia đã không thành công khi quá chú trọng về mặt lượng trong tăng trưởng kinh tế Khi các quốc gia chú trọng nhiều đến tăng trưởng kinh tế về

mặt lượng thì các thước đo đánh giá chủ yếu thông qua GDP hoặc GNP và thu nhập đầu người của một quốc gia Những thước đo đánh giá này thể hiện cách tiếp cận hẹp, chủ yếu tập trung vào khía cạnh kinh tế Ngày nay cùng với những thành tựu

về kinh tế của một số quốc gia, nhiều vấn đề đặt ra đó là sự nghèo đói, suy dinh dưỡng, bất bình đẳng về thu nhập, thất nghiệp, các điều kiện sống và làm việc,

Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng vẫn ở trong tình cảnh tồi tệ nếu xét ở các góc độ như trình độ học vấn, sức khỏe, tuổi thọ

và dinh dưỡng trung bình của người dân Chưa kể các tổn hại về môi trường gây ra bởi quá trình tăng trưởng kinh tế làm ảnh hưởng đến điều kiện sống trước mắt và lâu dài của người dân Hai quốc gia điển hình trong sự trái ngược nhau là Hàn Quốc

và Brazin Nếu như Hàn Quốc gắn tăng trưởng với công bằng xã hội thì Brazin ngược lại, chú trọng đến tập trung phát triển doanh nghiệp quy mô lớn, sử dụng nhiều vốn, các chính sách xã hội ít quan tâm đến dân nghèo Chính vì vậy, mặc dù

có tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm nhưng họ không giải quyết được bất bình đẳng và chính điều này lại là nguyên nhân của sự chững lại trong tăng trưởng, thậm

Trang 22

chí có nguy cơ khủng hoảng Còn Hàn Quốc lại là quốc gia có sự bất bình đẳng ít nhất và giữ được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài

Năm 1996, Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đã khuyến

cáo 5 loại tăng trưởng xấu [54], bao gồm:

(1) Tăng trưởng không việc làm Đó là tăng trưởng kinh tế song không mở

rộng những cơ hội tạo thêm việc làm hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập rất thấp với những công việc có năng suất lao động thấp trong nông nghiệp và trong các khu vực không chính thức

(2) Tăng trưởng không lương tâm Đó là tăng trưởng mà thành quả của nó

chủ yếu đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo được hưởng ít, thậm chí số người nghèo còn tăng thêm, khoảng cách giàu nghèo gia tăng

(3) Tăng trưởng không có tiếng nói, tức là tăng trưởng kinh tế không kèm

theo việc mở rộng nền dân chủ hay là việc trao quyền lực cho dân, chặn đứng tiếng nói khác và dập tắt những đòi hỏi được tham dự nhiều hơn vào đời sống xã hội

(4) Tăng trưởng không gốc rễ, là sự tăng trưởng khiến cho nền văn hóa con

người trở nên khô héo

(5) Tăng trưởng không tương lai, là tăng trưởng trong đó thế hệ hiện nay

phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần đến Trong đó, đặc biệt phải kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên

Như vậy, trên thực tế, sự tăng trưởng của nhiều quốc gia không những không làm cho mọi người dân được hưởng mà ngược lại còn gây ảnh hưởng xấu đến tính bền vững của sự phát triển Loài người đã và đang trả giá cho sự tăng trưởng nhanh

và phiến diện, tăng trưởng không đi liền với phát triển Nó được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Một là, tạo nên sự chênh lệch quá xa về mức sống, mở rộng bất công xã hội Ở

thập kỷ 90, khoảng cách giữa giàu và nghèo chẳng những không rút ngắn mà còn tăng lên Nước Mỹ và các nước tư bản khác là minh chứng về những xã hội giàu có tăng lên nhưng cùng với nó là bất công xã hội Hiện nay, 20% số dân giàu của họ chiếm tới gần 90% thu nhập, trong khi 20% số dân nghèo nhất chỉ chiếm chưa đầy 2% thu nhập Chính bất công xã hội lại trở thành lực cản, phá hoại tăng trưởng các nền kinh tế đó

Hai là, sự tăng trưởng nhanh chóng vì những động cơ, lợi ích cục bộ đã đưa

tới tình trạng tàn phá môi trường, môi sinh ngày càng nghiêm trọng Rừng nhiệt đới

Trang 23

bị tàn phá nhanh trên phạm vi thế giới Nếu thập kỷ 80, diện tích rừng bị tàn phá bình quân 11 triệu ha/năm, thì thập kỷ 90 là 17 triệu ha/năm Theo tính toán mới nhất của Liên hợp quốc, loài người có thể thiệt hại lên đến 7000 tỷ USD nếu nhiệt

độ trái đất tiếp tục tăng thêm 2-3 độ C trong những thập niên tới

Ba là, tạo ra sự khủng hoảng về xã hội và gia đình, nhất là không có thái độ

đúng đắn với con người và quan hệ con người Hiện nay, ở nhiều quốc gia đi cùng với tăng trưởng kinh tế là sự băng hoại của xã hội và con người, sự xuống cấp của đời sống tinh thần đạo đức Biểu hiện của nó là các tệ nạn xã hội gia tăng, các giá trị nên tảng gia đình xuống cấp thậm chí mất hoàn toàn

Bốn là, gây ra sự mất ổn định về chính trị Một số Đảng cầm quyền và Chính

phủ của họ từng đạt nhiều thành tựu về tăng trưởng kinh tế song đã phải ra đi Sự giàu có về của cải vật chất không đem lại ổn định về chính trị, đó là, hậu quả của tăng trưởng phiến diện, tăng trưởng không đi đôi với phát triển Tình hình bất ổn ở các nước khu vực Nam Mỹ cuối thế kỷ trước; Đông Âu, Thái Lan và một số nước hiện tại là một minh chứng rõ rệt nhất

Vấn đề đặt ra là phải tăng trưởng như thế nào, có nghĩa là tăng trưởng phải

bảo đảm bền vững Dựa vào thực tế và một số chỉ tiêu phát triển chủ yếu của các

nền kinh tế, có thể nhận thấy rõ những cách tiếp cận khác nhau đối với chiến lược tăng trưởng kinh tế của các nước Đối với các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng được đặt lên hàng đầu Tuy nhiên, đối với phần lớn các nước này, do quá chú trọng tới việc đạt được mục tiêu

về tốc độ tăng trưởng nên đã trả giá bằng những tổn thất to lớn về môi trường, những méo mó về xã hội, đẩy lùi quá trình phát triển kinh tế xã hội của mình Tương tự, do không chú ý tới chất lượng tăng trưởng nên một số nền kinh tế mặc dù

đã đạt được những thành quả kỳ diệu vẫn bị lôi cuốn vào vòng xoáy của khủng hoảng kinh tế, phải đối mặt với những hiểm họa môi trường và hệ thống an ninh xã hội bị tổn thương Hiểm họa này, tồn tại một cách rõ rệt khi các chính phủ coi tăng trưởng kinh tế nhanh là yếu tố quyết định mà bỏ qua hoặc không chú ý một cách thích đáng đến các vấn đề xã hội và môi trường

Để đạt được điều đó thì mục tiêu đặt ra đối với mỗi quốc gia là “tăng trưởng phải có chất lượng”, nghĩa là ngoài sự phát triển kinh tế còn bao gồm các tiêu chuẩn

Trang 24

rộng hơn như là giảm đói nghèo, phân phối thu nhập bình đẳng, môi trường sống

cần được quan tâm và bảo vệ

Đến nay, nhiều quốc gia đã nhận thức được điều này Bởi vậy, ngày nay tiêu chí để đánh giá một nền kinh tế được coi là tăng trưởng có chất lượng hay không chỉ khi đảm bảo được 2 yếu tố sau:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng cao cần được duy trì trong dài hạn

Thứ hai, tăng trưởng đó phải đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao chất

lượng cuộc sống

Từ đó có nhiều quan niệm khác nhau nhưng có một điểm chung đó là sự tiến

bộ của một đất nước phải được đánh giá trên ba mặt, tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và đảm bảo môi trường môi sinh Các nước Đông Á như Nhật Bản, Trung

Quốc, Hàn Quốc giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định trong dài hạn là nhờ giải quyết tốt các mặt này, trong khi các nước châu Mỹ La tinh sau giai đoạn tăng trưởng tốc độ cao đầu thập kỷ 80 đã đột ngột dừng lại bởi sự tăng trưởng đó chỉ phiến diện về mặt kinh tế, theo chiều rộng

Qua quá trình nhận thức về mặt thực tiễn và lý luận, đến nay nhiều quốc gia

lựa chọn Mô hình tăng trưởng dựa vào các tiêu chí về chất lượng tăng trưởng như đã

đề cập ở trên Đó là mô hình chú trọng tới cả lượng và chất của quá trình tăng trưởng Hai khía cạnh này có mối quan hệ chặt chẽ Tốc độ tăng trưởng cao là tiền đề tối cần thiết để giúp các chính phủ đề ra và thực hiện các chính sách xã hội và môi trường, đã góp phần làm thay đổi cơ cấu xã hội theo hướng mang lại lợi ích cho tất cả mọi người Điều đó có nghĩa là tăng trưởng được thực hiện không vì bản thân sự tăng trưởng mà với mục tiêu lớn nhất và cuối cùng là lợi nhuận tối đa Trái lại, tăng trưởng nhanh góp phần quan trọng nhằm tăng cường các lợi ích xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống, phát triển giáo dục, cải thiện chất lượng cuộc sống, đến lượt mình, những yếu tố đó đã trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn nữa Rõ ràng, đi đôi với tăng trưởng kinh tế nhanh thì chất lượng tăng trưởng có vai trò cực kỳ quan trọng, làm nền tảng cho quá trình PTBV của mỗi dân tộc “Chúng ta

đã nhấn mạnh rằng bền vững, theo nghĩa rất rộng là vấn đề về bình đẳng trong phân phối, tức là sự chia sẻ khả năng có được phúc lợi giữa các thế hệ hiện tại và tương lai

theo cách có thể chấp nhận được…”[38, tr 30 - 32]

Trang 25

Phải nói rằng nếu không có tăng trưởng kinh tế thì không thể nâng cao được mức sống cho mọi người dân, tức là không có tiến bộ và công bằng xã hội “Cái bánh chung” của toàn xã hội có lớn lên thì mới có thể tăng khẩu phần cho mọi người Nhưng tăng trưởng không thôi thì chưa đủ vì nó mới chỉ phản ánh được sự gia tăng

về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, hay cụ thể hơn, tăng trưởng kinh tế là do tăng thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân bình quân đầu người Muốn có tăng trưởng trong một quá trình dài thì phải cần có phát triển kinh tế, bên cạnh tăng thu nhập quốc dân đầu người còn bao hàm sự thay đổi cơ bản cơ cấu kinh tế trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ hiện đại Sự biến đổi đó theo xu hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ đồng thời giảm tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân, tăng tỷ lệ lao động công nghiệp và dân cư thành thị Nếu như tăng trưởng kinh tế thể hiện sự tăng lên của sản lượng giữa hai thời điểm khác nhau thì phát triển là quá trình biến đổi trong thời gian dài và do những nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Tăng trưởng kinh tế chính là phương tiện cơ bản để có thể đạt được phát triển, nhưng bản thân nó chính là một đại lượng không hoàn hảo của sự tiến bộ Nó mới chỉ phản ánh sự vận động của nền kinh tế về mặt lượng, còn phát triển kinh tế mới thực sự phản ánh sự vận động của nền kinh tế về mặt chất Phát triển còn bao hàm cả sự phát triển của con người về văn hóa xã hội, nâng cao dân trí, sự bình đẳng về chính trị Như vậy, tăng trưởng kinh tế chưa phải là phát triển Muốn có

sự phát triển thì quá trình đó phải đảm bảo tính cân đối, tính hiệu quả, phải kết hợp

được tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường Phát triển bền vững chính là quá trình đảm bảo cho sự phát triển được diễn ra liên tục

1.1.1.4 Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (1945), các quốc gia trên thế giới tìm kiếm con đường phát triển cho mình Lúc đó, các quốc gia chú trọng nhiều đến tăng trưởng kinh tế về mặt lượng Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển, các vấn đề đặt ra thường gắn với những câu hỏi: tại sao chúng ta nghèo? Làm thế nào để tránh tụt hậu hay bắt kịp các nước khác Những câu hỏi này thể hiện cách tiếp cận hẹp, chủ yếu tập trung vào khía cạnh kinh tế nên nhiều quốc gia đạt được những thành công nhất định trong ngắn hạn nhưng xét về dài hạn lại không được như mong muốn Bảng thống kê về tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới trong 4 thập kỷ, từ 1960-2000 đã phần nào nói lên điều đó

Trang 26

Từ thực tế tăng trưởng trong 4 thập kỷ qua của các quốc gia trên thế giới, có thể rút ra một số nhận xét sau: ( xem bảng 1.1)

+ Tốc độ tăng trưởng cao trong một vài năm không phải là yếu tố quyết định trong dài hạn Để đạt được mục tiêu trong dài hạn không cần tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, mà chỉ cần cao ở mức hợp lý nhưng duy trì được bền vững Người ta tính rằng nếu một quốc gia duy trì được tốc độ tăng trưởng 5% trong vòng 1 thế kỷ thì tổng thu nhập quốc dân quốc gia đó sẽ tăng 135 lần, còn nếu chỉ giữ được ở mức 2% thôi thì tổng thu nhập cũng tăng 10 lần

Bảng 1.1: Bức tranh tăng trưởng kinh tế của thế giới 1960 - 2000 [54]

Vùng/Khu vực

Tốc độ tăng trưởng GDP

(%/năm)

Tốc độ tăng GDP bình quân đầu người (%/năm) 1960-

(22 nước) 5.2 3.3 2.9 2.5 3.9 1.7 1.8 1.5 Các nước Đông Á (không

tính Trung Quốc) 6.4 7.6 7.2 5.7 3.7 4.3 4.4 5.7 Trung Quốc 2.8 5.3 9.2 10.1 0.9 2.8 6.8 8.8 Châu Mỹ Latinh (22 nước) 5.5 6.0 1.1 3.3 2.8 2.7 -1.8 0.9 Nam Á (4 nước) 4.2 3.0 5.8 5.3 2.2 0.7 3.7 2.8 Châu Phi (19 nước) 5.2 3.6 1.7 2.3 2.8 1.0 -1.1 -0.2 Trung Đông (9 nước) 6.4 4.4 4.0 3.6 4.5 1.9 1.1 0.8

Nguồn: Số liệu thống kê của TCTK

+ Trong 4 thập kỷ qua, không quốc gia nào duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP/đầu người trung bình trên 6% Ngay như Nhật Bản, trong 25 năm phát triển mạnh nhất, tức là từ 1960 - 1985, chỉ đạt mức tăng trưởng bình quân GDP/đầu người là 5,8% Xét trong cả 4 thập kỷ, tăng trưởng của Trung Quốc chỉ ở mức 4,8%; các nước Đông Á đạt khoảng 4,4%

+ Nếu xét trong khoảng thời gian 1 thập kỷ thì kỷ lục về tốc độ tăng trưởng kinh

tế trung bình của một quốc gia thuộc về các nước Đông Á Nhật Bản, Trung Quốc và

Trang 27

Singapore đều đã từng đạt được trong một hoặc hai thập kỷ tăng trưởng trung bình trên 10%/năm, Hàn Quốc, Đài Loan và Malaysia cũng giữ được ở mức xấp xỉ 10%

Bài học lịch sử đó cho thấy rằng, đối với một quốc gia, bất kỳ trình độ phát triển nào, có rất ít khả năng đạt được tốc độ tăng trưởng GDP đầu người trung bình trên 5% trong một giai đoạn dài Tuy nhiên, trong trung hạn, tức là trong vòng khoảng một thập kỷ, khi ở vào những điều kiện thuận lợi cả bên trong và bên ngoài, một nền kinh tế quốc gia có thể đạt tới tốc độ tăng trưởng trung bình xấp xỉ 10%, tức

là tỷ lệ tăng trưởng GDP/đầu người khoảng 8%/năm Tuy nhiên, thành tích này đạt được rất ít Một tỷ lệ tăng trưởng GDP khoảng 8% (GDP đầu người khoảng 6 - 6,5%) trong vòng 1 thập kỷ có thể coi là một mục tiêu khá cao đối với bất kỳ quốc gia nào

Như vậy, có thể thấy mục tiêu tăng trưởng là điều kiện cần nhưng chưa đủ

Tăng trưởng kinh tế mới chỉ là sự so sánh sản lượng giữa các thời điểm khác nhau, còn để đánh giá một nền kinh tế có quá trình phát triển biến đổi trong thời gian dài

và do những nhân tố nội tại thì phải dùng khái niệm PTKTBV PTKTBV có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của một nền kinh tế trong một thời gian nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về

cơ cấu kinh tế - xã hội, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái Nói cách khác, PTKTBV là một nối dung quan trọng trong PTBV, trong đó bên cạnh sự bảo đảm lâu bền của tăng trưởng kinh tế còn bao hàm cả việc tạo điều kiện tốt nhất (về mặt chất lượng cuộc sống) cho sự phát triển của con người về các mặt như văn hóa xã hội, dân trí, sự bình đẳng, cũng như môi trường sống, môi trường sinh thái Nhưng trong PTKTBV cũng có những nội hàm, những yêu cầu có tính quy luật để bảo đảm được tính lâu bền của một xu hướng vận động Điều đó phần nhiều cũng giống như

sự phát triển chung đó có tính liên tục và không làm phương hại đến lợi ích của thế hệ mai sau thì đó lại cũng chính là sự PTBV

Từ nhận xét trên cho thấy, quốc gia thành công là quốc gia giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định trong thời gian dài Để đảm bảo yêu cầu về sự liên tục, bền vững trong quá trình phát triển, nhiều quốc gia đã nghiên cứu phân tích các mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế với thể chế quản lý cùng các mối quan hệ khác, để tìm ra mô hình phát triển thích hợp nhất cho quá trình phát triển của mình Có thể khái quát thành các quan điểm cơ bản về mô hình phát triển cho quá trình phát triển:

Trang 28

+ Các mô hình dựa trên quan điểm “Tăng trưởng kinh tế tất yếu dẫn đến bất bình đẳng” Quan điểm này cho rằng, chỉ có tầng lớp thu nhập cao mới có khả năng tích luỹ, cũng chính nhờ sự tích tụ tập trung tư bản này đã tạo động lực cho phát triển Đi kèm theo đó là sự tất yếu của bần cùng hoá Tư tưởng của quan điểm này, trong giai đoạn đầu của phát triển tất yếu phải chấp nhận bất bình đẳng và các vấn

đề khác như xã hội, môi trường môi sinh Mọi cố gắng tạo ra bình đẳng đều có thể làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Chỉ khi kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định, khi thu nhập bình quân đầu người đạt đến một mức độ nhất định thì sự phân phối lại thu nhập và việc tăng cường chi tiêu công cộng mới không làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế

+ Mô hình dựa trên quan điểm “ưu tiên bình đẳng, giải quyết thỏa đáng các vấn đề xã hội, môi trường hơn tăng trưởng” Có lẽ mọi quốc gia đều có nguyện vọng hướng tới một xã hội công bằng và lành mạnh, chính vì vậy, công bằng xã hội

ở một khía cạnh nào đó đánh giá trình độ phát triển của xã hội đó Mô hình có bình đẳng và phát triển lành mạnh trước, tăng trưởng sau được áp dụng rộng rãi trong hệ thống XHCN trước đây Nhưng bên cạnh sự tiến bộ của sự bình đẳng thì động lực phát triển cũng bị triệt tiêu và gánh nặng của chi tiêu công cộng cũng quá lớn Kết quả các quốc gia đi theo mô hình này không mấy thành công

+ Mô hình dựa trên quan điểm “tăng trưởng đi liền với bình đẳng, giải quyết hợp lý các vấn đề xã hội, môi trường” Nó dựa trên quan điểm song song với tăng trưởng là giải quyết bất bình đẳng bằng các chính sách, sự đầu tư hợp lý Như đầu tư đồng đều giữa các khu vực, giải quyết sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ Tăng cường chế độ giáo dục, y

tế miễn phí vì theo quan điểm này sự bất bình đẳng về học vấn và thể chất sẽ kéo theo bất bình đẳng về thu nhập và xã hội trong nhiều thế hệ Tóm lại, theo quan điểm này bên cạnh tăng trưởng thì việc nâng cao chất lượng tăng trưởng luôn được coi trọng

Một vấn đề không kém phần quan trọng nữa là trong các nền kinh tế thị trường, rõ nét nhất là trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, tính chất chu kỳ hay còn gọi là khủng hoảng chu kỳ như là một đặc trưng cố hữu của nó (khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi, hưng thịnh) Trước đây, khi còn là thị trường tự do theo trường phái bàn tay vô hình của Adam Smith, sự tàn phá hay lãng phí của một nền kinh tế khí trải qua những cơn khủng hoảng thật là ghê gớm Thế nhưng cùng với sự ra đời

Trang 29

của học thuyết Ken-sơ, sự can thiệp, điều tiết của nhà nước đã phần nào làm dịu bớt

sự tàn phá, tuy khủng hoảng chu kỳ vẫn còn xảy ra Mới đây nhất là cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn tại Mỹ năm 2007 - 2008 đã lây lan thành những cơn chấn động trên toàn cầu, lạm phát toàn cầu và giá xăng dầu lên đến gần 150 USD/thùng cũng là một trong những biểu hiện của tính chu kỳ 10 năm đó Bởi vậy, chưa thể nói

là bền vững về mặt kinh tế nếu loài người còn chịu bó tay trước các cơn “địa chấn kinh tế” của khủng hoảng chu kỳ

Về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tuy một thời gian dài sau đổi mới, mức tăng trưởng trung bình khá cao, nhưng xu hướng tăng trưởng dài hạn giảm nhẹ (xem hình 1.1) Hơn nữa, tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên

và các yếu tố bên ngoài Các yếu tố mới như tri thức, công nghệ đóng góp vào tăng trưởng GDP còn hạn chế Theo kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu CIEM (2006), đóng góp của KH&CN thể hiện quả yếu tố năng suất tổng hợp (TFP)

của Việt Nam chỉ khoảng 10% tăng trưởng GDP [1, tr 96]

Hình 1.1: Tăng trưởng và xu hướng tăng trưởng của Việt Nam, 1984 - 2008

Ghi chú: Chuỗi số tăng trưởng GDP thực của Việt Nam 1984 - 2008

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam qua các năm [42]

Hạn chế về tài nguyên: diện tích đất đai hẹp, bình quân chỉ có 0,41 ha/người - thuộc vào loại thấp nhất thế giới, bằng 20% diện tích bình quân đầu người trên thế giới Đặc biệt, đất bị suy thoái nặng với 50% diện tích ở đồng bằng và 60% ở vùng núi Chất lượng nước suy giảm mạnh, các chỉ tiêu cơ bản như BOD, COD, NH4+, tổng Nitơ, tổng

PH cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần; nước ngầm sụt giảm và có nguy cơ cạn kiệt

Tỷ lệ che phủ tuy có tăng lên nhưng chất lượng thảm che phủ còn rất hạn chế,

Trang 30

Trong bối cảnh hiện nay, PTBV là vấn đề đặt ra có tính cấp bách và tính tất yếu khách quan

PTBV có vị trí, vai trò lớn đối với toàn thế giới, từng quốc gia và từng vùng lãnh thổ Vai trò đó thể hiện cụ thể như sau:

Một là, PTBV là một nội dung trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia

trên thế giới Đây thực sự là vấn đề mang tính toàn cầu Định hướng chiến lược PTBV của Việt Nam chỉ rõ: "PTBV là nhu cầu cấp bách và xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người” Chính vì vậy, tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nước tham gia đã thông qua Tuyên bố về môi trường và phát triển với 27 nguyên tắc cơ bản

và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) [33] về các giải pháp PTBV chung cho toàn

thế giới trong thế kỷ 21 Năm 2002, tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về PTBV, 166 nước tham gia đã thông qua Tuyên bố Johannesburg và bản Kế hoạch thực hiện về PTBV Đến nay, có 113 nước xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về PTBV, trong đó có Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã ban hành và đang tổ chức thực hiện Định hướng chiến lược PTBV (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) với những quan điểm, nguyên tắc phát triển và 19 lĩnh vực ưu tiên

Hai là, PTBV là phương châm hành động trong phát triển kinh tế - xã hội của

các bộ, ngành, địa phương trong cả nước Các quan điểm, nguyên tắc, nội dung PTBV được quán triệt và đưa vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các

bộ, ngành, địa phương Trên cơ sở Chiến lược định hướng và Chương trình hành động về PTBV, các bộ, ngành, địa phương xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình hành động phù hợp với điều kiện, đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương

Ba là, PTBV là phương thức phát triển có vai trò điều chỉnh các hoạt động kinh

tế, xã hội của từng tổ chức, cá nhân trong xã hội Trên cơ sở định hướng và các thể chế PTBV, mỗi cá nhân và tổ chức điều chỉnh hoạt động của mình theo hướng PTBV, góp phần vào phát triển kinh tế ổn định, thực hiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường

Tuy vậy, trong nội hàm của PTBV thì PTKTBV đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có ảnh hưởng chi phối đến các yếu tố hợp thành chỉnh thể PTBV nói chung Điều đó thể hiện trên các luận cứ sau:

- Phát triển kinh tế liên quan trực tiếp đến việc huy động các nguồn lực, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, tài chính, khoa học, công nghệ nên việc

Trang 31

bảo đảm cho sự PTKTBV cũng là bảo đảm cho PTBV các yếu tố hợp thành khác

- Phát triển kinh tế kéo theo việc xác lập một cơ cấu kinh tế nhất định Cơ cấu này có thể thay đổi theo thời gian hoặc do việc lựa chọn mô hình phát triển kinh

tế của từng quốc gia cụ thể nhưng trong xu thế quốc tế hóa các nền kinh tế hiện nay, khó hình dung một sự tồn tại biệt lập nào đó về cơ cấu kinh tế đối với tổng thể kinh

tế toàn cầu - toàn nhân loại Bởi vậy, cơ cấu kinh tế phải vừa đáp ứng việc huy động

và sử dụng hiệu quả nhất, bền vững nhất các nguồn lực trong nước, sử dụng hợp lý các lợi thế so sánh nhưng đồng thời phải phản ánh được sự phân công lao động quốc tế, xác định vị thế quốc gia trong tổng thể kinh tế toàn cầu

1.1.2 Nội dung của phát triển kinh tế bền vững

Từ thửa bình minh của nhân loại cho đến trước kỷ nguyên hình thành chủ nghĩa tư bản thế kỷ XVIII - XIX, phát triển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng được gắn với khai thác tài nguyên thiên nhiên Không phải ngẫu nhiên mà các nhà kinh tế theo trường phái Trọng nông, Pháp (1756) cho rằng chỉ có đất đai mới tạo ra

giá trị, "đất đai là mẹ của mọi thứ của cải" [33] William Petty (1676) thì cho rằng

nguồn gốc của sự phát triển lúc bấy giờ là đất đai và lao động với luận điểm nổi tiếng

"Lao động là cha, đất đai là mẹ" Là một trong những người đầu tiên đưa ra lý luận về

tăng trưởng, Adam Smith trong tác phẩm nổi tiếng của mình "Wealth of Nations" (1776) coi sự giàu có của các dân tộc bắt nguồn chủ yếu từ sự phân công lao động

ngày càng được đẩy tới Như vậy, quan niệm về phát triển lúc bấy giờ coi nguồn gốc của phát triển là sự kết hợp giữa lao động của con người với tài nguyên thiên nhiên và ngành sản xuất chủ yếu là nông nghiệp Mức độ phát triển của quốc gia được đo bằng

số lượng các nguồn lực tự nhiên khai thác được (đất đai, đàn gia súc, lương thực )

Với việc hình thành CNTB, quan niệm và phương thức phát triển có sự thay đổi căn bản với việc hình thành một nguồn lực mới có tính quyết định tới sự phát triển - đó là vốn (tư bản) và động lực chủ yếu của phát triển kinh tế là lợi nhuận trong môi trường tự do kinh doanh dưới sự điều tiết của "bàn tay vô hình" Để có thể nhân lên nguồn vốn, cần có tích luỹ (tiết kiệm) và phương thức cơ bản để làm

"sinh sôi" thêm vốn vật chất của xã hội là tăng cường đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiến hành công nghiệp hoá sản xuất

Vào cuối những năm 1940, việc nghiên về phát triển được chú trọng đối với các nước đang phát triển, khởi đầu bằng lý thuyết "Cấu trúc luận" với các loại cơ cấu chủ

Trang 32

yếu như: cơ cấu ngành, cơ cấu kinh tế đối ngoại, cơ cấu doanh nghiệp, cơ cấu xã hội, lý thuyết này chủ trương lấy phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu nên bị phê phán gay gắt vào những năm 1960 Cùng với sự giảm sút vai trò của thuyết "Cấu trúc luận",

thuyết Tự do mới ra đời nhấn mạnh những nguyên lý phổ biến của sự phát triển gắn với

thị trường tự do và xu hướng hướng ra xuất khẩu với việc điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo ba hướng chủ đạo: tự do hoá thị trường, tự do hoá mậu dịch (mở cửa thị trường),

giảm bớt sự can thiệp của nhà nước [67] Vì mô hình phát triển này, nhiều nước đã gặt

hái được những thành công, như các nước NICs Châu Á Tuy nhiên, việc phát triển quá nhanh ở một số nước đã làm cho nguồn lực bị sử dụng quá mức Đồng thời, việc quá chú trọng vào phát triển kinh tế mà chưa chú trọng đúng mức đến bảo vệ môi trường và phát triển xã hội đã làm giảm tính bền vững của phát triển

Từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, cùng với làn sóng toàn cầu hoá, thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế mới với nhiều tên gọi khác nhau: "kinh tế hậu công nghiệp", "kinh tế số hoá", "kinh tế tri thức", Trong điều kiện đó, nhân tố

có tính quyết định đến phát triển kinh tế - xã hội của toàn thế giới cũng như từng

quốc gia, từng địa phương đó là tri thức Động lực của sự phát triển chính là "con

người có khả năng sáng tạo với một tư tưởng chủ đạo đúng đắn về phát triển" Không những thế, mỗi khi đích cuối cùng của nền sản xuất là con người (chứ không phải là tăng trưởng tư bản, hay lợi nhuận) thì sự hòa hợp giữa mục tiêu cao cả đó với nguồn lực trở nên dồi dào hơn bao giờ hết đó là sức sáng tạo của con người trong xã hội thông tin - kinh tế tri thức sẽ bảo đảm cho xã hội trở nên bền vững hơn

trong phát triển kinh tế [17, 18] Như vậy, ngoài việc phát triển kinh tế, các nước rất

chú trọng đến phát triển con người, xã hội và bảo vệ môi trường, do con người luôn nằm trong sự tương tác với môi trường và sản xuất xã hội như sơ đồ sau:

Trang 33

Hình 1.2 Tương tác giữa con người, sản xuất và tự nhiên [13]

Đó cũng là nội dung cơ bản của xu hướng phát triển mới trên thế giới từ những năm 1980 đến nay - đó là PTBV

PTBV từ khi nó xuất hiện như một trào lưu tư tưởng trong phong trào bảo vệ môi trường trên thế giới từ đầu những năm 1970 đến nay nhiều nhà nghiên cứu cũng cố gắng đưa ra khái niệm phù hợp nhất Theo nhà nghiên cứu Soubbotina (2005), PTBV là "phát triển bình đẳng và cân đối", có nghĩa là để duy trì sự phát triển mãi mãi, cần cân bằng giữa lợi ích của các nhóm người trong cùng một thế hệ

và giữa các thế hệ, thực hiện điều này đồng thời trên cả ba lĩnh vực quan trọng có

mối liên hệ qua lại với nhau: kinh tế, xã hội và môi trường" [56]

Như vậy, PTBV đối với quốc gia, vùng hay địa phương không chỉ đơn thuần đạt được cả mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường (mặc dù đạt được không phải dễ dàng),

(tăng trưởng kinh tế)

Con người

(xã hội)

Cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu

và không gian cho sản xuất

Các loại chất thải từ sản xuất

C

ác chấ

t thải

g cấ

p cá

c K sốngĐ

Trang 34

mà phải kết hợp một cách chặt chẽ, hợp lý và hài hoà cả ba mặt của sự phát triển trong từng biện pháp, từng khâu của quá trình phát triển, thể hiện trong các khâu cụ thể như sau:

- Trong hoạch định mục tiêu kinh tế, cần chú trọng đến các mục tiêu xã hội, đặc biệt là tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo

vệ môi trường Ngược lại, việc hoạch định các mục tiêu về xã hội và môi trường gắn với việc thực hiện mục tiêu kinh tế Chẳng hạn, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, mục tiêu tăng trưởng kinh tế phải kết hợp với tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường

- Trong định hướng PTBV, cần chú trọng cả PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội

và định hướng về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm

- Trong mỗi biện pháp phát triển: sản xuất phải thân thiện với môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, thay thế vật liệu mới, năng lượng mới, khuyến khích các nhà kinh doanh thực hiện các tiêu chuẩn ISO 1400

Các tiêu chí cơ bản đánh giá sự PTBV là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên

thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường [14]

1.1.2.1 Nội dung của phát triển kinh tế bền vững

a Phát triển kinh tế bền vững là một bộ phận cấu thành quan trọng của

PTBV ở mỗi quốc gia hiện nay Đó là sự biến đổi về quy mô, cơ cấu, chất lượng của nền kinh tế gắn với việc bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

Như vậy, nội dung cơ bản của PTKTBV bao gồm: đạt được mức tăng trưởng tương đối cao và ổn định, với cơ cấu kinh tế hợp lý và tiến bộ, sử dụng nguồn lực tiết kiệm và hiệu quả

+ Tăng trưởng tương đối cao và ổn định Tăng trưởng kinh tế thường được

đo bằng tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay tổng thu nhập quốc dân (GNI) Tăng trưởng kinh tế có vai trò rất quan trọng, không chỉ thể hiện mức tăng tiến về quy mô của nền kinh tế, mà tăng trưởng còn là điều kiện, tiền đề để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của quốc gia cũng như từng địa phương Để bảo đảm tính bền vững, tăng trưởng phải đáp ứng tối thiểu

ba yêu cầu cơ bản là:

Trang 35

Thứ nhất, mức tăng tương đối cao Việc duy trì tăng trưởng ở mức cao

không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng do dân số và quy mô tiêu dùng tăng, nhu cầu sản xuất tăng , mà còn là con đường để rút ngắn khoảng cách với các nước khác Với việc duy trì tăng trưởng trên 6% hàng năm trong hơn 20 năm ở các nước NICs Châu Á đã đưa các nước này từ nước kém phát triển trở thành các nước

có thu nhập cao như Hàn Quốc, Singapore Từ thực tế các nước NICs Châu Á, mức tăng trưởng GDP được coi là tương đối cao đối với các nước đang phát triển thường ở mức từ 5% - 6%/ năm trở lên

Thứ hai, tăng trưởng cần bảo đảm tính ổn định Đây là yêu cầu rất quan trọng để

bảo đảm tính bền vững trong phát triển kinh tế Tính ổn định của tăng trưởng vừa thể hiện năng lực sản xuất ổn định, khả năng bảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng và khả năng chống chịu được với những biến động bên trong và bên ngoài nền kinh tế Tính

ổn định của tăng trưởng có thể được xác định bằng nhiều cách Một số nhà nghiên cứu cho rằng, mức độ ổn định của tăng trưởng có thể được đánh giá qua độ lệch chuẩn hoặc bằng tỷ số giữa độ lệch chuẩn và tốc độ tăng trưởng Chẳng hạn, với độ lệch chuẩn 0,2 trong 15 năm qua (1991 - 2005), mức độ ổn định trong tăng trưởng của Việt Nam được đánh giá cao hơn Hàn Quốc là 0,4 (với độ lệch chuẩn là 0,4 và được coi là nước có

mức độ ổn định tăng trưởng cao) và cao hơn nhiều so với Brazin [3, tr 4] [1, tr 25]

Thứ ba, tăng trưởng cần bảo đảm chất lượng cao Tức là tăng trưởng cần dựa

trên yếu tố chất lượng, chiều sâu là chính; tăng trưởng gắn liền với việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội Chuyển dịch cơ cấu theo hướng tiến bộ đồng nghĩa với việc phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng có lợi thế so sánh, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu trên thế giới Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, cơ cấu chuyển dịch theo hướng tiến bộ có nghĩa là tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong GDP và giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn; tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu; giảm tỷ trọng hàng xuất khẩu sơ chế Thế nhưng bản thân cơ cấu kinh tế không có mục đích tự thân Cơ cấu phản ảnh một mực độ nhất định của quá trình huy động các nguồn lực cho các quá trình kinh tế tăng trưởng, bởi vậy một cơ cấu kinh tế tiến bộ như trên chưa thể là đủ mà còn phải bảo đảm cho tính bền vững của sự tăng trưởng Điều đó

Trang 36

có nghĩa là cơ cấu kinh tế hợp lý, bảo đảm huy động và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nhất các nguồn lực, đồng thời tạo ra những giá trị phù hợp với nhu cầu chung của thị trường (mang tính quy mô quốc tế và đặt trong sự phân công lao động quốc tế)

+ Phát triển kinh tế gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội cơ bản, như tạo

việc làm, xoá đói giảm nghèo, bảo đảm bình đẳng và tiến bộ xã hội Tạo việc làm và tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề xã hội gắn với quyền được làm việc, gắn với an sinh xã hội, mà còn là những vấn đề kinh tế cơ bản, gắn với sử dụng nguồn lực Hơn nữa, nếu phát triển kinh tế nhưng không bảo đảm được công bằng và tiến bộ xã hội, hay nói cách khác, sự nghiệp và thành quả phát triển kinh tế chỉ tập trung vào một nhóm người nào đó thì không thể vững chắc được

+ Phát triển kinh tế gắn với sử dụng nguồn lực hiệu quả và bảo vệ môi trường

sinh thái Trước hết, phát triển kinh tế cần gắn với việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả

các nguồn lực Điều này có nghĩa là, việc phát triển và tăng trưởng kinh tế không nên dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm sơ chế, mà cần gắn với quá trình giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, giảm chi phí trung gian, tăng

tỷ trọng các yếu tố phi vật chất trong giá thành sản phẩm, tăng giá trị gia tăng trong sản phẩm Ngoài ra, phát triển kinh tế cần gắn với bảo vệ, nuôi dưỡng và cải thiện môi trường sinh thái theo hướng: bảo vệ rừng và trồng rừng, bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, thay thế nguyên, nhiên liệu truyền thống bằng nguyên nhiên liệu mới, đổi mới công nghệ theo hướng sản xuất phải thân thiện với môi trường, kiểm soát ô nhiễm

b Các tiêu chí đo lường mức độ phát triển kinh tế bền vững.Việc xác định các chỉ tiêu đo lường mức độ bền vững của phát triển kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ, địa phương, ngành Có nhiều cách tiếp cận về đánh giá và đo lường chỉ số PTKTBV Trước đây, các tiêu chí đánh giá tính bền vững trong phát triển kinh tế chủ yếu tập trung vào PTBV nói chung, trong đó nhấn mạnh lĩnh vực môi trường theo nghĩa rộng (bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và của môi trường sống của con người) Hơn nữa, các tiêu chí đánh giá PTKTBV chỉ chú trọng đánh giá thực trạng Như thế là bao quát, rộng những chưa thực sự sát với những quá trình vận động đặc thù của kinh tế (trong sự so sánh với vận động xã hội và môi trường), dù rằng các mới quan hệ nay luôn nằm trong sự tương tác hữu cơ với nhau

Trang 37

Trước hết, xét từ góc độ các tiêu chí về bền vững môi trường Đầu năm 1990,

Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP - United Nations Environment Programme) đưa ra mô hình đánh giá PTBV về môi trường với tiêu đề "áp lực - tình trạng - ứng phó" (PSR - Pressure - State - Response)

Hình 1.3 Mô hình “Áp lực - Tình trạng - Ứng phó” - PSR [78]

Mô hình PSR ngay lập tức được nhiều tổ chức và quốc gia chấp nhận và sử dụng để đánh giá mức độ bền vững của phát triển Theo đó, việc đánh giá mức độ PTBV không dừng lại ở đánh giá thực trạng (State) mà còn cả nguyên nhân (áp lực nào) và hành động của con người (ứng phó) Từ đó, hình thành nên hệ thống các chỉ tiêu của "Ma trận về sự PTBV" Có ba nhóm chỉ tiêu cơ bản là: nhóm chỉ tiêu kinh tế, nhóm chỉ tiêu xã hội và nhóm chỉ tiêu về môi trường Từng nhóm chỉ tiêu này lại bao gồm cả các chỉ tiêu "thực trạng", các chỉ tiêu "áp lực" và các chỉ tiêu "ứng phó"

Trên cơ sở mô hình PSR của UNEP, một số tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (WB), Viện Tài nguyên thế giới (WRI) đã phát triển thành các mô hình đánh giá PTBV theo mục đích riêng của mình

Trang 38

Việt Nam cũng đã áp dụng mô hình PSR cải biên thành PSIR (Pressure - State - Impact - Responce) và xây dựng bộ chỉ báo môi trường (environmental indicators) của Việt Nam Bộ chỉ báo này gồm 3 nhóm chỉ số tương tự như mô hình PSR là áp lực, hiện trạng và ứng phó, bao quát 19 vấn đề môi trường cấp bách của

Việt Nam với 80 chỉ báo (indicators) [13]

Việc đánh giá và đo lường mức độ PTKTBV nói chung, kinh tế bền vững nói riêng là rất phức tạp, đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu rất công phu Hiện nay, có một số tổ chức quốc tế đưa ra các đánh giá và đo lường PTBV của các nước Chẳng hạn, Trung tâm Thể chế - chính sách về môi trường của Đại học Yale (Mỹ) cùng với Trung tâm về Mạng thông tin Khoa học Trái đất của Đại học Columbia (Mỹ) đưa ra xếp hạng về PTBV của 146 nước trên thế giới với 27 chỉ tiêu về môi trường, được tổng hợp từ 76 loại dữ liệu từ báo cáo của các nước Việt Nam được xếp thứ 125/146 nước với 42,3 điểm Đứng đầu là Phần Lan với 75,1 điểm và đứng cuối

bảng là Bắc Triều Tiên với 29,2 điểm Trung Quốc đứng thứ 134 với 38,6 điểm [86]

Tuy nhiên, trong trường hợp không có hệ thống đầy đủ các chỉ tiêu PTBV thì

có thể đánh giá qua hệ thống một số chỉ tiêu định lượng và định tính thông qua việc phân tích, đánh giá các nhân tố tác động đến PTKTBV

Có nhiều yếu tố tác động đến PTKTBV Một số nhà khoa học trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng có 3 nhóm nhân tố bảo đảm cho PTKTBV gồm: các nhân

tố kinh tế (các nguồn lực), quản lý của Nhà nước, các yếu tố phi kinh tế [22, tr 49]

Các nhóm nhân tố này kết hợp với quá trình sản xuất, bảo đảm hiệu quả kinh tế, cơ cấu hợp lý và năng lực cạnh tranh cao

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, các nhân tố cơ bản đối với PTKTBV không phải là nguồn lực dưới dạng thô mà là hiệu suất sử dụng nguồn lực, nguồn lực ở dạng tinh xảo, đã được "tinh luyện" ở mức cao hơn Chẳng hạn,Tatyana P.Subbotina (2005)

chú trọng ba nhóm nhân tố là: vốn vật chất, vốn con người và vốn tự nhiên [45, tr 13]

Trang 39

Hình 1.4 Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững [22]

Những cách tiếp cận trên đều có những nhân tố hợp lý Tuy nhiên, cần có cách nhìn tổng quát hơn, gắn với môi trường và điều kiện của quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương, gắn với năng lực của Nhà nước Các nhân tố tác động và điều kiện bảo đảm cho PTKTBV được mô tả như Hình 1.2

Từ mô hình trên có thể thấy các nhân tố cơ bản tác động đến phát triển kinh

tế nói chung và PTBV về kinh tế nói riêng bao gồm: các nguồn lực, các nguồn vốn, năng lực SX - KD và tác động của nhà nước

- Trình độ của cơ cấu ngành kinh tế thể hiện bản chất của sự phát triển, là dấu hiệu đánh giá các loại phát triển kinh tế Để phân biệt các giai đoạn phát triển hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về lượng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được Do đó, cơ cấu ngành kinh tế được chuyển dịch như thế nào và đóng góp cho PTKTBV ra sao là một trong các tiêu chí đánh giá kinh tế phát triển bền vững

- Tăng trưởng kinh tế đi đôi với nâng cao chất lượng của tăng trưởng

Chất lượng tăng trưởng thể hiện trên nhiều tiêu chí đánh giá nhưng tựu trung

là ở chỗ người dân được thụ hưởng bởi kết quả tăng trưởng đó như thế nào Do đó, chất lượng tăng trưởng có mối quan hệ hữu cơ với PTBV và PTKTBV, chẳng hạn:

- Thu nhập theo đầu người ngày càng tăng

Tăng trưởng kinh tế

Các nhân tố kinh tế:

Các nhân tố truyền thống:

- Vốn vật chất

- Lao động thô sơ

- Tài nguyên thiên nhiên

Các nhân tố hiện đại:

Bảo vệ môi trường

Hộp đen kinh tế

ng

lự

c c

Trang 40

- Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng

- Đời sống kinh tế, sinh hoạt của người dân ngày càng được cải thiện

- Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển rõ nét theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá

- Năng suất lao động ngày càng tăng

- Hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường

Chất lượng tăng trưởng liên quan đến những vấn đề thuộc nội hàm của PTKTBV, như vấn đề xã hội, môi trường sinh thái Nhưng để đánh giá sát hợp hơn người ta thường dựa vào các yếu tố đánh giá về mức độ thụ hưởng, được hưởng lợi của con người đối với kết quả tăng trưởng kinh tế

Bởi vậy, chất lượng tăng trưởng phải hướng tới sử dụng tốt nguồn nhân lực, nghĩa là việc khai thác, sử dụng và nâng cao nguồn lực nguồn nhân lực trên tất cả các phương diện: số lượng và chất lượng, khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo thông qua giáo dục - đào tạo, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn Mức độ phát triển nguồn nhân lực được đo lường chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI - Human Development Index) Chỉ số này được Tổ chức Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) nghiên cứu, đánh giá và công bố hàng năm đối với hơn 170 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Chỉ số này được xác định như công thức dưới đây với các thành phần được tính như sau:

3

IW IE IA

Trong đó: IA - Chỉ số tuổi thọ, IE - Chỉ số kiến thức, IW - chỉ số thu nhập

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện chỉ số HDI, cần cải thiện tình hình sức khoẻ, nâng cao trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sáng tạo; phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập bình quân đầu người

Về lao động, đây là một yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất Việc phát huy yếu

tố lao động thực chất là làm tăng cả về số lượng, chất lượng lao động và sử dụng lao động có hiệu quả hơn Trong nền kinh tế, số lượng lao động thể hiện ở một số chỉ tiêu như: tỷ trọng của lao động so với dân số, tỷ lệ có việc làm (hay ngược lại là tỷ lệ thất nghiệp) Việt Nam được coi là nước có dân số trẻ với tỷ lệ người trong độ tuổi khá cao Đây được coi là một lợi thế Tuy nhiên, do khả năng tạo việc làm của nền kinh tế chưa cao nên một bộ phận không nhỏ lao động thiếu việc làm, một bộ phận khác phải

Ngày đăng: 17/03/2015, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.  Tăng trưởng và xu hướng tăng trưởng của Việt Nam, 1984-2008  30 - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Hình 1.1. Tăng trưởng và xu hướng tăng trưởng của Việt Nam, 1984-2008 30 (Trang 7)
Hình 1.1: Tăng trưởng và xu hướng tăng trưởng của Việt Nam, 1984 - 2008  Ghi chú: Chuỗi số tăng trưởng GDP thực của Việt Nam 1984 - 2008 - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Hình 1.1 Tăng trưởng và xu hướng tăng trưởng của Việt Nam, 1984 - 2008 Ghi chú: Chuỗi số tăng trưởng GDP thực của Việt Nam 1984 - 2008 (Trang 29)
Hình 1.2. Tương tác giữa con người, sản xuất và tự nhiên [13] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Hình 1.2. Tương tác giữa con người, sản xuất và tự nhiên [13] (Trang 33)
Hình 1.4. Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững [22] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Hình 1.4. Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững [22] (Trang 39)
Hình 1.5. Quan hệ giữa nguồn nhân lực và vốn con người [39] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Hình 1.5. Quan hệ giữa nguồn nhân lực và vốn con người [39] (Trang 41)
Bảng 2.1: Sự phát triển nền kinh tế miền Bắc Việt Nam (Mức tăng giá trị  sản lượng %) [46] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.1 Sự phát triển nền kinh tế miền Bắc Việt Nam (Mức tăng giá trị sản lượng %) [46] (Trang 68)
Bảng 2.2: Kết quả sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc Việt Nam qua các  giai đoạn [18] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.2 Kết quả sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc Việt Nam qua các giai đoạn [18] (Trang 70)
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế quốc dân Việt Nam năm 1985 [46] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế quốc dân Việt Nam năm 1985 [46] (Trang 71)
Bảng 2.4: Kết quả sản xuất nông nghiệp Việt Nam (Giai đoạn 1976 - 1985) [18] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.4 Kết quả sản xuất nông nghiệp Việt Nam (Giai đoạn 1976 - 1985) [18] (Trang 73)
Bảng 2.5: Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu GDP theo ngành từ 1986-2007 [72, 42] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.5 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu GDP theo ngành từ 1986-2007 [72, 42] (Trang 88)
Bảng 2.8: Tình hình thực hiện mục tiêu tạo việc làm thời kỳ 2000-2004 [72,42] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.8 Tình hình thực hiện mục tiêu tạo việc làm thời kỳ 2000-2004 [72,42] (Trang 99)
Bảng 2.9: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế (theo giá hiện hành)[72,42]( %)                                                                                                                     Nội dung  Năm - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.9 Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế (theo giá hiện hành)[72,42]( %) Nội dung Năm (Trang 106)
Bảng 2.11: Cơ cấu doanh nghiệp theo ngành kinh tế [54](:%) - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.11 Cơ cấu doanh nghiệp theo ngành kinh tế [54](:%) (Trang 108)
Bảng 2.13:Cơ cấu lao động theo nhóm ngành (1990-2008) [54]. - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.13 Cơ cấu lao động theo nhóm ngành (1990-2008) [54] (Trang 109)
Bảng 2.12: Dân số trong độ tuổi lao động (Từ 15 đến 60 tuổi) [49, 42] - Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Bảng 2.12 Dân số trong độ tuổi lao động (Từ 15 đến 60 tuổi) [49, 42] (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w