Do đó, việc đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo sự bình đẳng giữa người và người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, trước hết nhằm thực hiện mục tiêu, đồng thời cũng tạo động l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRỊNH VĂN TOÀN
CÔNG BẰNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH : TRIẾT HỌC
MÃ SỐ : 60.22.80
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : TS HOÀNG VĂN LUÂN
HÀ NỘI - 2007
Trang 2MỤC LỤC
Mởđầu……… ….1
Chương I: Công bằng xã hội và phát triển bền vững……… 7
1.1.Công bằng xã hội……….7
1.2.Phát triển bền vững.……… …21
1.3 Vai trò của công bằng xã hội đối với phát triển xã hội bền vững… 31
Kết luận chương I ……… … 40
Chương II: Thực trạng và giải pháp thực hiện công bằng xã hội đảm bảo phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay………….….41
2.1 Thực trạng thực hiện công bằng xã hội tác động đến phát triển xã hội bền vữngở Việt Nam……….41
2.2 Quan điểm và giải pháp thực hiện công bằng xã hội đáp ứng với yêu cầu phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay.……… 66
2.2.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về thực hiện công bằng xã hội……… 66
2.2.2 Một số giải pháp thực hiện công bằng xã hội đáp ứng với yêu cầu phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay……… 74
Kết luận chương II……… …… 81
Kết luận… ……… 82
Danh mục tài liệu tham khảo……… ….85
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và đã ghi lại những dấu ấn đậm nét tương ứng với từng hình thái kinh tế -
xã hội khác nhau Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi xã hội đều có những bước phát triển tích cực, đồng thời cũng có những tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của con người Đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã đạt được những bước tiến vượt bậc, những sản phẩm mà nhân loại tạo ra đã phần nào thoả mãn được nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Những thành tựu đó đã góp phần đưa đến sự phát triển nhanh của nền văn minh nhân loại
Song cũng chính sự phát triển đó đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm như tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức của cải, tài nguyên, năng lượng và đặc biệt là sự bất bình đẳng xã hội Những vấn đề này đã gây trở ngại lớn đối với phát triển kinh tế và làm giảm sút chất lượng cuộc sống, đe doạ cuộc sống của con người cả ở hiện tại và tương lai
Tăng trưởng kinh tế nhanh làm xuất hiện các vấn đề môi trường, tệ nạn
xã hội, phân hóa giầu nghèo, bất bình đẳng xã hội, xung đột xã hội trong các
xã hội phát triển dẫn đến cản trở sự phát triển xã hội Chính vì vậy, vấn đề phát triển xã hội được đặt ra và là một trong những vấn đề được ưu tiên trong hoạch định chiến lược, chính sách phát triển của các quốc gia Điều này có nghĩa là con người phải tìm ra một con đường phát triển mà trong đó các vấn
đề về dân số, công bằng xã hội, kinh tế, môi trường phải được phát triển một cách hài hoà Đó chính là con đường phát triển bền vững Vậy vấn đề là Phát triển bền vững là gì? Nó có những nội dung nào? Việc thực hiện công bằng xã hội có vai trò gì đối với phát triển bêng vững?
Trang 4Đối với Việt Nam hiện nay, chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chế độ xã hội mà nhân dân ta xây dựng mang bản chất công bằng và tính bình đẳng, nó thể hiện qua mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang phấn đấu thực hiện là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” Do đó, việc đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo sự bình đẳng giữa người và người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, trước hết nhằm thực hiện mục tiêu, đồng thời cũng tạo động lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đang phát triển nhưng với phương châm
đi tắt, đón đầu nhằm phát triển nhanh nhưng không thể không rút ra những bài học kinh nghiệm của các quốc gia đi trước Thực tiễn thực hiện các chính sách
xã hội ở Việt Nam những năm qua trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, ưu đãi, cứu trợ xã hội, giáo dục, văn hóa, đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần đảm bảo công bằng xã hội qua đó, tạo điều kiện bền vững thúc đẩy xã hội phát triển Bên cạnh đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường cũng đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của quá trình phát triển xã hội, tác động tiêu cực đến phát triển của Việt Nam Câu hỏi đặt ra là: Công bằng xã hội là gì? Nó có vai trò và vị trí như thế nào đối với phát triển bền vững? Những vấn đề lý luận và thực tiễn đó mà việc làm sáng tỏ chúng sẽ là những đóng góp bổ ích cho việc hoạch định các chính sách góp phần thực hiện thành công mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”
Do đó, việc nghiên cứu làm rõ sự tác động của công bằng xã hội đối với phát triển xã hội bền vững, từ đó có biện pháp thực hiện công bằng xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay là một việc làm rất cần thiết
Chính vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề: “Công bằng xã hội đối với phát
triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn và hướng
Trang 52 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề công bằng xã hội và phát triển bền vững luôn là một đề tài hấp
dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Đến nay, trên bình diện lý luận, đã có nhiều công trình, bài viết về công bằng xã hội và phát triển xã hội bền vững được công bố Trong đó, chúng ta có thể điểm đến một số tác giả và công trình sau:
Lương Xuân Quỳ, trong cuốn: “Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng
xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam”, (Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002), đã đề cập đến khái niệm, thực trạng, hệ quan điểm, phương hướng, giải pháp xây dựng quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối, quan hệ quản lý) định hướng xã hội chủ nghĩa và việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam
Trong tác phẩm “Về động lực của phát triển kinh tế- xã hội” của tập thể
tác giả do giáo sư Lê Hữu Tầng chủ biên, vấn đề công bằng xã hội đã được nghiên cứu từ góc độ triết học Các tác giả đã cố gắng làm rõ khái niệm công bằng xã hội và đặt nó trong quan hệ với bình đẳng xã hội Trong tác phẩm này các tác giả đã luận chứng được công bằng xã hội là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
“Lợi ích, động lực của sự phát triển xã hội bền vững”, Luận án tiến sĩ
(Hoàng Văn Luân, 2000), tác giả đã trình bầy rõ quan niệm khoa học về phát triển xã hội nói chung và phát triển xã hội bền vững nói riêng Tiếp đó, tác giả trình bầy và phân tích quan niệm về lợi ích và vai trò động lực của lợi ích đối với sự phát triển xã hội bền vững Cũng trong công trình này, tác giả đưa ra một số nguyên tắc, biện pháp và công cụ điều chỉnh các quan hệ lợi ích nhằm phát huy vai trò động lực của lợi ích cho sự phát triển xã hội bền vững
“Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, Luận án tiến sĩ (Nguyễn Minh
Trang 6Hoàn, 2005), tác giả luận án đã làm rõ vai trò và vị trí của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội, trên cơ sở đó tác giả đã làm sáng tỏ một số vấn đề cấp bách cần được giải quyết nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay
Cuốn “Phát triển bền vững ở Việt Nam: thành tựu, cơ hội, thách thức và
triển vọng”, (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, 2007), của Nguyễn Quang Thái
và Ngô Thắng Lợi đã làm rõ được khái niệm về phát triển bền vững và tình hình phát triển bền vững ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp để đảm bảo cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam
Các công trình nghiên cứu trên đã có những cách tiếp cận khá phong phú về vấn đề công bằng xã hội và phát triển xã hội bền vững Qua đó, các nhà nghiên cứu, ít nhiều đã góp phần làm sâu sắc và phát triển nhiều vấn đề của công bằng xã hội và phát triển xã hội bền vững Tuy nhiên, mối quan hệ giữa công bằng xã hội và phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam cũng như việc đề xuất giải pháp phát triển xã hội bền vững từ góc độ thực hiện công bằng xã hội chưa đặt ra và nghiên cứu thỏa đáng Đó là vấn đề còn bỏ ngỏ và với luận văn này chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở phân tích và khái quát khái niệm và quan hệ giữa công bằng xã hội với phát triển xã hội bền vững, khảo sát thực trạng vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong những năm vừa qua và tác động của nó đến sự phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam để đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa việc thực hiện công bằng xã hội nhằm phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới
Để đạt mục đích này, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Trang 7bằng xã hội đối với phát triển xã hội bền vững
- Khảo sát, đánh giá việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua và tác động của nó đến sự phát triển xã hội bền vững
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện công bằng xã hội đảm bảo phát triển xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Công bằng xã hội và việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong quan hệ với phát triển xã hội bền vững
- Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng được khảo sát trên bình diện quan điểm chủ trương của Đảng và chính sách vĩ mô của Nhà nước từ 1986 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được xây dựng trên cơ sở quan điểm của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, các chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về chiến lược và mục tiêu phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam, các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của thế giới mà trong đó Việt Nam là một thành viên tham gia tích cực Ngoài
ra luận văn còn dựa vào sự nghiên cứu tham khảo các công trình nghiên cứu
có liên quan đến vấn đề này
Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp phân tích- tổng hợp, lôgíc - lịch sử, …
6 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, luận văn đã góp phần làm rõ vai trò của công bằng
xã hội đối với phát triển xã hội bền vững, thực trạng của việc thực hiện công
Trang 8bằng xã hội đối với sự phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam Từ đó, đề ra
một số giải pháp thực hiện công bằng xã hội đáp ứng với yêu cầu phát triển xã
hội bền vững ở Việt Nam
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những giải pháp phát triển xã hội
bền vững từ góc nhìn của công bằng xã hội Kết quả của luận văn có thể sử
dụng làm tài liêu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương, 5 tiết
Chương I: Công bằng xã hội và phát triển bền vững
Chương II: Thực trạng và giải pháp thực hiện công bằng xã hội đảm bảo
phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay
Trang 9CHƯƠNG I CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 Công bằng xã hội
Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại, con người có quan niệm và đánh giá khác nhau về công bằng xã hội
Vấn đề công bằng được đặt ra trong lịch sử xã hội loài người ngay từ khi con người ý thức được những bất công trong xã hội, nhận thức được bất công
ở mức độ nào sẽ hướng con người vươn tới sự công bằng xã hội Như vậy, về mặt nhận thức luận, bất công và công bằng là những khái niệm luôn nằm trong quá trình sinh thành và phát triển trên cơ sở của thực tiễn phát triển xã hội Có thể thấy rằng, khái niệm công bằng xã hội là một khái niệm mở và đang từng bước hoàn thiện cả về nội hàm lẫn ngoại diên của nó gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Theo từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn xuất bản năm
2004, “Công bằng: theo đúng lẽ phải, không thiên vị” Trong ngôn ngữ Anh và Pháp công bằng (justice) thường được hiểu là sự đúng đắn, chính đáng, lẽ phải, công lý
Theo từ điển bách khoa triết học, (Matxcơva 1983), định nghĩa: “Công bằng là khái niệm đạo đức - pháp quyền, đồng thời cũng là khái niệm chính trị -
xã hội Khái niệm công bằng bao hàm trong nó yêu cầu về sự phù hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa những quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội Sự không phù hợp trong những quan hệ đó được đánh giá là sự bất công”
Trang 10Có thể thấy, bản chất của công bằng xã hội chính là sự tương xứng (sự phù hợp) giữa đóng góp và hưởng thụ (theo nghĩa tích cực) và giữa phá hoại
và trừng phạt của cá nhân (nhóm xã hội) đối với sự phát triển của cộng đồng,
xã hội Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn triết học với cái nhìn lạc quan hướng tới tương lai, luận văn chủ yếu đề cập đến công bằng xã hội theo nghĩa tích cực: sự công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ
Ngày nay, công bằng xã hội không chỉ được giới hạn ở công bằng về kinh
tế - mặc dù đây vẫn là yếu tố nền tảng- mà còn được mở rộng trong những lĩnh vực chính trị, pháp lý, văn hoá, xã hội… Công bằng xã hội là một giá trị cơ bản định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: cống hiến về vật chất
và tinh thần cho xã hội ngang nhau thì được hưởng thụ những giá trị vật chất
và tinh thần ngang nhau do xã hội tạo ra Song, vì hoàn cảnh của mỗi người khác nhau, nên tạo điều kiện cho mọi người, nhất là những người khó khăn đều có cơ hội tiếp cận công bằng các cơ hội phát triển, các nguồn lực phát triển, tiếp cận các nguồn lực xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, việc làm… luôn
là một vấn đề cơ bản trong thực hiện công bằng xã hội Tất nhiên, sự cống hiến phải được xem xét suốt cả chiều dài của quá trình phát triển bao gồm những đóng góp công hiến trong quá khứ, hiện tại, và cả sự đầu tư tập trung phát triển cho tương lai Sự hưởng thụ chỉ thực sự công bằng khi nó tương ứng với sự cống hiến
Trong tư duy hiện đại, nội hàm của công bằng xã hội được bổ sung, mở rộng và phát triển đáng kể Những thay đổi đó trước hết thể hiện ở chỗ nội
dung quan trọng nhất của công bằng xã hội là công bằng về cơ hội phát triển
Đây là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá sự công bằng Nếu trong xã hội còn tình trạng tạo cơ hội cho người này mà không tạo cơ hội cho người kia thì chưa thể
có công bằng Công bằng về cơ hội là yếu tố chi phối nhất trong tất cả những
Trang 11chủ thể khác thì có nghĩa là anh ta có điều kiện để đạt được và duy trì một cách vững chắc sự công bằng trong thu nhập và hưởng thụ ở tất cả các lĩnh vực của đời sống Anh ta càng có năng lực để tiếp cận, lựa chọn và hiện thực hoá cơ hội đó thì tương quan công bằng xã hội của anh ta càng bền vững
Nội dung tiếp theo của công bằng xã hội đó là được hưởng như nhau cho
những người đóng góp bằng nhau Đây là tiêu chuẩn đảm bảo những người
đóng góp nhiều nhất vào nền kinh tế sẽ được hưởng nhiều nhất Sự phân biệt đối xử không tồn tại giữa các cá nhân cùng làm việc như nhau Nói cách khác
đây là tiêu chuẩn đảm bảo sự công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa
quyền lợi và nghĩa vụ, giữa năng lực và vị trí xã hội
Một nội dung khác của công bằng xã hội đó là phải gắn công bằng xã hội
với trách nhiệm công dân và điều kiện phát triển công dân Tức là phải xác lập
được chuẩn tối thiểu về công bằng do luật pháp quốc gia quy định trong từng lĩnh vực xã hội cụ thể Chuẩn tối thiểu này cần được đảm bảo bằng những chính sách cụ thể của Nhà nước đối với mọi người dân thuộc mọi tầng lớp, nhóm xã hội; không phân biệt người giàu hay nghèo, nam hay nữ, miền núi hay miền xuôi… Trên cơ sở xác định chuẩn tối thiểu, việc thực hiện công bằng
xã hội phải gắn với trách nhiệm của mỗi công dân Tuy nhiên, do điều kiện địa
lý, điều kiện lịch sử, nguồn gốc giống nòi, giới tính, tôn giáo, vị trí xã hôi vv…thì việc tiếp nhận những cơ hội, hưởng những phúc lợi xã hội khác nhau nên ngoài trách nhiệm chung đối với xã hội thì mỗi cá nhân đều phải có những trách nhiệm riêng tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh, vị trí xã hội của mình
Khái niệm công bằng xã hội không tách rời khái niệm bình đẳng xã hội,
do đó khi nghiên cứu về khái niệm công bằng cần phải xem xét cả khái niệm bình đẳng
Bình đẳng với tính cách là phạm trù chính trị - xã hội, có nghĩa là sự bằng nhau, sự ngang nhau giữa các cá nhân hay các nhóm xã hội về một hay một số
Trang 12phương diện xã hội nhất định Chẳng hạn, sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay các nhóm xã hội nào đó về những quyền và nghĩa vụ công dân, về chính trị - xã hội, về cơ hội xã hội, về mức độ thoả mãn những nhu cầu nhất định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…
Công bằng xã hội là sự ngang nhau giữa người và người không phải về mọi phương diện hay một phương diện bất kỳ mà chính là về một phương diện hoàn toàn xác định: quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau Còn thực hiện công bằng xã hội là đặt mọi người vào những cơ hội như nhau nhằm làm cho nó tự do phát triển và tạo ra cho mỗi người những điều kiện thực tế để phát triển Sự phát triển trong công bằng là sự phát triển chứa đựng
sự vượt trội, chênh lệch, phân hoá…
Bình đẳng có khía cạnh công bằng (như sự bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ của công dân, bình đẳng trong hưởng thụ ở những người có lao động, đóng góp ngang nhau), nhưng cũng có khía cạnh không công bằng (như sự phân phối bình quân bất chấp chất lượng và hiệu quả công việc dẫn đến sự trì trệ xã hội); ngược lại, trong công bằng vừa có bình đẳng, vừa có bất bình đẳng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với sự bất công (sự vượt trội, phân hoá giầu nghèo…) Do đó, nhiều khi người ta nói về sự bất công bằng nhưng thực
ra, đó không phải là sự công bằng mà là bình đẳng và ngược lại, không ít khi
sự bất công được đề cập đến lại không phải là sự bất công mà chỉ là sự bất bình đẳng Hai mặt bình đẳng và bất bình đẳng có địa vị không ngang nhau Bất bình đẳng, dù được xã hội thừa nhận là công bằng cũng chỉ là cái bắt buộc phải duy trì nhằm đảm bảo cho sự phát triển xã hội Mục đích lâu dài của xã hội là phấn đấu cho sự bình đẳng xã hội Trong chủ nghĩa xã hội, bình đẳng xã hội là mặt chủ đạo của sự phát triển Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, chỉ có thể thực hiện sự bình đẳng từng mặt, chứ chưa thể thực hiện được
Trang 13bình đẳng về cơ hội, tức là tạo điều kiện cho mọi người ai cũng có thể có những điều kiện nhất định về phía cá nhân cũng như về phía xã hội, để mọi người đều có thể tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh và các hoạt động
xã hội khác, trên cơ sở đó có được mức hưởng thụ tương xứng với năng lực của mình Còn về mặt hưởng thụ, trước mắt chúng ta chỉ có thể phấn đấu thực hiện bình đẳng ở sự thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản nhất rồi dần dần phát triển lên
Để đánh giá thế nào là công bằng không phải là vấn đề đơn giản Nó đòi hỏi phải so sánh phần hưởng thụ của các cá nhân, các nhóm xã hội với phần đóng góp, cống hiến của họ Ở đây, phần hưởng thụ về cơ bản là có thể lượng hoá được một cách tương đối dễ dàng hơn, còn phần đóng góp, cống hiến, nhất
là sự đóng góp, cống hiến về tài năng và trí tuệ thì rất khó có thể lượng hoá một cách chính xác được Thêm vào đó, sự đóng góp của cá nhân không những cần được xem xét không phải chỉ trong hiện tại, mà còn phải tính đến
cả sự đóng góp trong quá khứ và tương lai Bất kỳ sự đánh giá đơn giản nào vấn đề này đều có thể dẫn đến việc ngộ nhận công bằng thành bất công và ngược lại
Công bằng xã hội có tính khách quan vì công bằng xã hội xuất phát từ
nhu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội Thực hiện tốt công bằng xã hội sẽ khuyến khích mọi người hăng hái tạo ra càng nhiều của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Công bằng xã hội không chỉ phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động
xã hội, vào mối tương quan giữa lao động phức tạp và lao động đơn giản, vào tính chất của quan hệ sản xuất, mà còn phụ thuộc vào trình độ văn hoá, văn minh của xã hội và chế độ xã hội
Công bằng xã hội là khái niệm mang tính lịch sử Nó xuất hiện và tồn tại
từ thời cổ đại và khi nào xã hội còn tồn tại bất công xã hội thì công bằng còn
Trang 14tồn tại và luôn là mơ ước và là mục tiêu phấn đấu của loài người Từ điển bách khoa Việt Nam viết: “Công bằng xã hội là phương thức đúng đắn nhất để thoả mãn một cách hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân, xuất phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Về nguyên tắc, chưa thể có sự công bằng nào được coi là tuyệt đối trong chừng mực mà mâu thuẫn giữa nhu cầu con người và khả năng hiện thực còn chưa được giải quyết Bởi vậy, mỗi thời đại lại có những đòi hỏi riêng về công bằng xã hội [65, tr.580]
Mỗi xã hội đều có những chuẩn mực riêng về công bằng xã hội do hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội đó quy định Ph.Ăngghen từng nhận xét: “Công bằng của những người Hi Lạp và La Mã là sự công bằng của chế độ nô lệ Công bằng của giai cấp tư sản những năm 1878 là những đòi hỏi cần xoá bỏ chế độ phong kiến mà nó coi là bất công” [42, tr.273] Việc đặt ra và giải quyết vấn đề công bằng không chỉ phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể mà còn phụ thuộc trình độ nhận thức, đặc biệt là sự chi phối lợi ích của các giai cấp, các nhóm chủ thể xã hội
Trong chế độ công xã nguyên thuỷ, công bằng xã hội chỉ có nghĩa là mọi người đều phải tuân theo trật tự đã được cộng đồng thừa nhận, ai vi phạm sẽ bị trừng phạt
Khi sở hữu tư nhân xuất hiện nội dung công bằng cũng thay đổi: sự công bằng được xem xét trong mối quan hệ với địa vị xã hội Platon (427-347 Tr.CN) cho rằng, không thể có sự bình đẳng giữa những tầng lớp người khác nhau trong xã hội, bởi vì theo Platon, bản thân nhà nước xuất hiện từ chính sự
đa dạng của nhu cầu con người Xã hội không có sự bình đẳng, đó là điều tất yếu và nếu ông đối xử với một người nô lệ như một người tự do là điều vượt ra khỏi lẽ phải thông thường
Trang 15Tuy nhiên, Platon lại cho rằng dù xã hội không có sự bình đẳng nhưng vẫn có công bằng, bởi lẽ công bằng là ở chỗ mỗi hạng người dù ở địa vị xã hội nào cũng phải làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình và phải biết được thân phận mình Nói một cách khác, theo Platon, công bằng ở đây không phải là sự ngang bằng nhau giữa người với người trong cống hiến và hưởng thụ, mà là sự phân định đẳng cấp Và theo ông, công bằng
ở đây là công bằng giữa những người trong cùng đẳng cấp chứ không phải là công bằng cho toàn xã hội
Bước vào thời kỳ của xã hội phong kiến, đây là thời kỳ mà hệ tư tưởng chiếm địa vị thống trị trong xã hội là tôn giáo Bọn phong kiến, quý tộc muốn củng cố chế độ tập quyền thống trị và muốn thôn tính các dân tộc khác nên đã
ra sức đề cao các quan điểm tôn giáo và thần học Chẳng hạn ở Phương Đông
đó là các quan điểm của Phật giáo, Nho giáo…, Phương Tây là các quan điểm của Ki tô giáo, tiếp đến là các nhà triết học Tomát Đacanh, Ôguýtstanh …Các quan điểm về công bằng xã hội thời kỳ này cũng thể hiện sự phân biệt đẳng cấp giữa giai cấp thống trị và bị trị Chẳng hạn Đổng Trọng Thư là một nhà tư tưởng thời Lưỡng Hán (Trung Quốc) Ông ta lợi dụng quan điểm định mệnh trong lý luận âm dương để nói rằng “dương thiện, âm ác” Theo Đổng Trọng Thư thì kẻ thống trị là một phần thế lực tính dương, người bị trị là một phần của thế lực tính âm Ông ta cho rằng trật tự âm dương là không thể thay đổi do
đó, trật tự phong kiến được ông chứng minh là trật tự thống trị hợp pháp, vĩnh viễn
Trong chủ nghĩa tư bản, cùng với quá trình xác lập địa vị thống trị của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã sử dụng nguyên tắc trao đổi ngang giá để chống lại sự bất công và bất bình đẳng đang tồn tại trong xã hội phong kiến Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản đã tỏ ra bất lực trước vấn đề xây dựng một xã hội công bằng và bình đẳng thực sự giữa người với người Theo Mác, mỗi thời đại kinh tế có một phương thức phân phối riêng đặc trưng cho
Trang 16nó Phương thức ấy do những quan hệ sản xuất quyết định Không có phương thức phân phối chung cho mọi thời đại Và điều đó cũng có nghĩa là không có một khái niệm công bằng chung chung Trong chủ nghĩa tư bản, cũng giống như các phương thức phân phối trước đây, công bằng xã hội không phải là vĩnh cửu, nó cũng mang tính lịch sử Trong chủ nghĩa tư bản phân phối căn cứ vào tài sản và vốn Theo phương thức này, giai cấp nào nắm giữ tư liệu sản xuất đương nhiên sẽ chi phối quan hệ phân phối trong xã hội Đều đó đưa đến
hệ quả là nhà tư bản ngày càng giàu lên trong khi đó giai cấp vô sản, người lao động ngày càng bị tha hoá và bất bình đẳng xã hội ngày càng lớn Đó là sự công bằng chỉ dành riêng cho giai cấp tư sản, “Bọn tư sản há chẳng khẳng định rằng sự phân phối hiện nay là “công bằng” đó sao? Và quả vậy, trên cơ sở phương thức sản xuất hiện nay thì đó chẳng phải là sự phân phối duy nhất
“công bằng” hay sao? Phải chăng do những quan hệ kinh tế, do những khái niệm pháp lý điều tiết hay ngược lại, những quan hệ pháp lý lại phát sinh từ những quan hệ kinh tế? Những môn phái xã hội chủ nghĩa há cũng chẳng đặt
ra những quan niệm hết sức khác nhau về sự “phân phối công bằng” hay sao?” [43, tr.30-31]
Đứng trên lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản, C.Mác đã đưa ra quan niệm về nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng xã hội Và trong các tác phẩm liên quan, bao giờ Mác cũng đề cập tới lĩnh vực phân phối sản phẩm theo lao động Đây là lĩnh vực đặc biệt có ý nghĩa để xem xét vấn đề công bằng Nhưng theo Mác, phân phối sản phẩm, đến lượt nó lại bị phụ thuộc vào quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Giai cấp nắm quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội thì đồng thời là giai cấp thống trị xã hội Quan niệm duy vật về lịch sử của Mác bắt nguồn từ luận điểm cho rằng sản xuất vật chất, phân phối sản phẩm là cơ sở, nền tảng của mọi tồn tại xã hội Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô – ta,” Mác cho rằng công bằng xã hội không
Trang 17phải là một ý tưởng, một mong muốn mà là kết quả tất yếu của sự vận động trong bản thân phương thức sản xuất mới để xác lập công bằng xã hội
Mác cũng chỉ rõ rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sau khi đã khấu trừ
đi những khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ số sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: “mỗi người sản xuất sẽ được nhận lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội (sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta cho quỹ xã hội)” [43, tr.31] Theo Mác, đây là một nguyên tắc phân phối công bằng, vì nó đảm bảo cho tất cả những người sản xuất đều có quyền hưởng thụ ngang nhau khi làm một công việc ngang nhau trong xã hội Nhưng C.Mác cũng chỉ rõ, trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, không phải mọi người đều bình đẳng với nhau về
cơ hội phát triển mà còn tồn tại rất nhiều sự khác biệt Vì vậy sự phân phối đó chưa loại trừ được mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội vì những người lao động không phải ai cũng như ai, người này khác người kia về thể chất và tinh thần, về năng lực lao động và tay nghề, về hoàn cảnh gia đình…Vì theo Mác
“Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu ấn của xã hội
cũ mà nó đã lọt lòng ra” [43, tr.33] Vì vậy, “với một công việc ngang nhau và
do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội, thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giầu hơn người kia…” [43, tr.35] Đó vừa là ưu việt vừa là thiếu sót của nguyên tắc phân phối theo nhu cầu Theo C.Mác, điều khó nói có thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu trong xã hội cộng sản chủ nghĩa Thiếu sót đó chỉ có thể được khắc phục trong chủ nghĩa cộng sản, khi có thể thực hiện được nguyên tắc phân
Trang 18phối theo lao động: “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” Bởi vậy, Mác kết luận về những hạn chế tất yếu của công bằng xã hội trong chế độ xã hội chủ nghĩa “Đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của
xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ kéo dài Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” [49, tr 35-36]
Như vậy xét trên lĩnh vực phân phối, công bằng được hiểu là quyền hưởng thụ ngang nhau khi cống hiến ngang nhau Mác khẳng định “Quyền
ngang nhau ấy là một quyền không ngang nhau đối với một lao động không
ngang nhau Nó không thừa nhận một sự phân biệt giai cấp nào cả, vì bất cứ người nào cũng chỉ là một người lao động như người khác; nhưng nó lại mặc nhiên thừa nhận sự không ngang nhau về năng khiếu cá nhân và do đó, về năng lực lao động, coi đó là những đặc quyền tự nhiên” [43, tr.33-34] Từ đây, theo Mác, công bằng không phải là sự cào bằng, bình quân chủ nghĩa Công bằng thực chất là sự ngang bằng nhau giữa người với người về quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ Theo đó cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau Mác còn chỉ rõ: “Bất kỳ một sự phân phối nào về tư liệu tiêu dùng cũng chỉ là hậu quả của sự phân phối chính ngay những điều kiện sản xuất; nhưng
sự phân phối những điều kiện sản xuất lại là một tính chất của chính ngay phương thức sản xuất Ví dụ, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên tình hình là những điều kiện vật chất của sản xuất lại nằm ngay trong tay những kẻ không lao động” [43, tr.36-37]
Trên cơ sở đó, Mác đã đưa ra một tư tưởng mới về công bằng xã hội: công bằng xã hội là sự điều hoà các quan hệ phân phối, quan hệ lợi ích của các cá nhân, các nhóm dân cư, các tầng lớp xã hội…, theo nguyên tắc phân phối theo lao động Mặt khác, công bằng xã hội còn thể hiện ở việc xã hội phải tạo ra
Trang 19viên trong cộng đồng Công bằng xã hội vì vậy còn gắn liền với một chế độ chính trị, thái độ của giai cấp cầm quyền trong xã hội, và chỉ có xã hội xã hội chủ nghĩa mới có thể đảm bảo được các tiêu chí về công bằng nói trên
Theo Mác, sự công bằng tuyệt đối sẽ đạt được trong chủ nghĩa cộng sản Khi đó người ta “Mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu!” [43, tr.36] Lúc đó con người không còn phụ thuộc vào
sự phân công lao động Khoảng cách giữa lao động trí óc và lao động chân tay được rút ngắn tối đa; lao động không còn là phương tiện để sinh sống mà là một nhu cầu hoạt động và phát triển của mỗi cá nhân
Khi bàn đến công bằng xã hội, Mác và Ăng ghen thường gắn vấn đề này với bình đẳng xã hội Ăngghen chỉ rõ “Cái quan niệm cho rằng tất cả mọi người, với tư cách là con người, đều có một cái gì chung, rằng trong phạm vi cái chung đó mọi người đều bình đẳng, dĩ nhiên là một quan niệm đã cũ rồi Nhưng yêu sách hiện đại về bình đẳng lại hoàn toàn khác với quan niệm đó; nói cho đúng ra yêu sách đó đòi hỏi phải từ cái thuộc tính chung là con người,
từ sự bình đẳng của mọi người với tư cách là con người, rút ra cái quyền có một giá trị ngang nhau về chính trị và xã hội cho tất cả mọi người, hay ít ra cho mọi công dân trong một nước, hay cho mọi thành viên trong một xã hội” [44, tr.149] Ở đây, công bằng xã hội thực chất là biểu hiện cụ thể của bình đẳng xã hội, thực hiện công bằng xã hội là góp phần thực hiện bình đẳng xã hội Vì nói tới bình đẳng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người về mọi phương diện Trong khi đó nói tới công bằng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người về phương diện quan hệ giữa cống hiến
và hưởng thụ, nghĩa vụ và quyền lợi theo nguyên tắc: cống hiến ngang nhau
thì sẽ được hưởng thụ ngang nhau Theo cách hiểu này, thực hiện công bằng
xã hội là đã đạt được một phần quan trọng trong việc thực hiện bình đẳng xã hội hoàn toàn
Trang 20Lênin đã phát triển vấn đề công bằng và bình đẳng xã hội trong điều kiện lịch sử mới: thực tế nước Nga sau cách mạng tháng Mười Lênin cho rằng, việc giải phóng khỏi ách tư bản, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc của tất cả những người vô sản, của tất cả nhân dân lao động trên thế giới Chủ nghĩa xã hội thể hiện tính chất chung của những quyền lợi cơ bản, của những ý nguyện tiến bộ và công bằng cho tất cả mọi người Lênin viết “Chế độ dân chủ
tư sản, do bản chất của nó, vốn có cái lối nói trừu tượng hoặc hình thức về quyền bình đẳng nói chung… Nấp dưới hình thức quyền bình đẳng của cá nhân nói chung, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố quyền bình đẳng hình thức hoặc quyền bình đẳng trên pháp luật giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, do đó,
đã làm cho những giai cấp bị áp bức bị lừa dối một cách ghê gớm Ý niệm bình đẳng, bản thân nó chỉ là sự phản ánh những quan hệ sản xuất hàng hoá,
đã bị giai cấp tư sản biến thành một vũ khí đấu tranh chống lại việc thủ tiêu giai cấp dưới chiêu bài của quyền bình đẳng tuyệt đối cá nhân”(71, tr.198) Như vậy theo Lênin, công bằng bình đẳng xã hội trong chủ nghĩa tư bản chỉ là giả tạo, hình thức và không triệt để bởi sự bình đẳng đó xây dựng trên quan hệ
áp bức, bóc lột giai cấp Từ đây, Lênin khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội mà
cụ thể là chế độ Xôviết là chế độ có thể thật sự đảm bảo công bằng xã hội cho mọi người bằng cách thực hiện trước hết sự đoàn kết tất cả những người vô sản, rồi đến toàn thể quần chúng lao động Theo Lênin “không có gì kìm hãm
sự phát triển và sự đoàn kết giai cấp của giai cấp vô sản hơn là sự bất công dân tộc” [71, tr.411]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp tục bổ sung và phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng và bình đẳng xã hội và vận dụng nó vào thực tiễn Việt Nam Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là gì? Là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng tự do Nhưng nếu muốn tách riêng một mình
mà ngồi ăn no, mặc ấm, người khác mặc kệ thế là không tốt Mình muốn ăn no mặc ấm cũng làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm [26, tr.682]
Trang 21Theo Hồ Chí Minh, thực hiện một chế độ phân phối công bằng chính là thực hiện nguyên tắc phân phối trong đó phần hưởng thụ ngang bằng với mức độ đóng góp, cống hiến của từng cá nhân, chứ hoàn toàn không phải là sự ngang bằng về hưởng thụ giữa các cá nhân mà không tính đến cống hiến của từng người Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Chủ nghĩa xã hội là công bằng, hợp lý, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng, những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ, chăm nom” [30, tr.175] Công bằng xã hội đã được Hồ Chí Minh phát triển thêm một bước Công bằng không chỉ dừng lại ở công bằng trong phân phối theo lao động mà còn được thể hiện ở việc trợ giúp cho những nhóm người, tầng lớp yếu thế trong xã hội: người già yếu và tàn tật không còn và không có khả năng lao động và cống hiến
Như vậy, Hồ Chí Minh đã bảo vệ và phát triển quan điểm về phân phối của Mác khi Người cũng khẳng định cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau Quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ Hồ Chí Minh kiên quyết chống lại chủ nghĩa bình quân, Người viết: “Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như nhau, bằng hết… Bình quân chủ nghĩa là trái với chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng” [29, tr.386] Theo Người, chủ nghĩa xã hội là phấn đấu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm” [29, tr.65]
Trên cơ sở kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay Đó là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.” Mục tiêu này đang dần được hiện thực hoá trong quá trình định hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng,
Trang 22bình đẳng luôn được đề cập trong các kì đại hội Đảng đặc biệt là từ Đại hội Đảng VI (1986) đến nay
Từ những phân tích trên, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, công
bằng xã hội là một giá trị định hướng để con người thoả mãn một cách hợp lý những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần trong quan hệ phân phối sản phẩm xã hội và khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển giữa các cá nhân, nhóm xã hội dựa trên sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, xuất phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
Công bằng xã hội, như chúng tôi đã chỉ rõ, là một khái niệm mà nội hàm của nó gắn liền với trình độ phát triển nhất định của xã hội và một kiểu hay một mô hình phát triển xã hội cụ thể Do đó, những luận giải, phân tích công bằng xã hội một cách biện chứng duy vật, chúng ta phải dựa trên những trình
độ phát triển và đặc điểm, tính chất của xã hội trong những điều kiện hiện thực, cụ thể
Với quan điểm đó, trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận công bằng xã hội từ góc độ của phát triển bền vững và đặt công bằng xã hội trong mối quan
hệ với phát triển bền vững - một mô hình phát triển mà hầu hết các quốc gia,
dân tộc trên thế giới đã và đang đặt thành chương trình nghị sự của mình
1.2 Phát triển bền vững
Từ thuở ban đầu, đặc trưng của con đường đi của loài người trên trái đất
là quá trình tự giải phóng mình và làm chủ các điều kiện tự nhiên Quá trình nhân tạo hoá này một mặt nó đưa con người ngày một phát triển toàn diện hơn mà theo Ăng-Ghen “Con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người ngày càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” [44, tr.476] Nhưng mặt khác quá trình tác động vào tự nhiên của con người cũng tạo ra những mất cân đối lớn Những
Trang 23mất cân đối này ảnh hưởng đến cả chính môi trường cũng như xã hội, làm cho
ta tự hỏi về khả năng bền vững của sự phát triển
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là sự thay thế các hình thái kinh
tế - xã hội từ thấp lên cao Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội đó đều có những bước phát triển cao hơn về chất lượng cuộc sống của con người Nhưng chúng ta cũng thấy rằng, trong mỗi bước phát triển, xã hội cũng thường đặt ra những yêu cầu mới cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người Thời
kỳ đồ đá, các nhóm người sống đắm chìm trong thiên nhiên và phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên Những cuộc săn bắn và hái lượm nhọc nhằn và đầy hiểm nguy rình rập chính là nguồn duy nhất nuôi sống họ Tuy nhiên, những nhọc nhằn và hiểm nguy đó ngày càng giảm đi nhờ những phát minh ra công cụ lao động Qua đó, con người ngày càng nâng cao khả năng chinh phục tự nhiên của mình
Từ nửa cuối thế kỷ XX, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã lên đến đỉnh điểm, chất lượng cuộc sống của con người đã được nâng lên rõ rệt Những thành tựu của khoa học công nghệ, của năng suất lao động
đã phần nào thoả mãn được nhu cầu vật chất và tinh thần cho loài người và mang tới một bước tiến mới cho văn minh nhân loại Công nghiệp hoá nền sản xuất, việc mở rộng các thành phố, sự phát triển của kiến thức khoa học và các ứng dụng của nó, trong đó có việc sử dụng các nguồn năng lượng mới và thông tin liên lạc viễn thông, sẽ làm tăng quá trình nhân tạo hoá trong thời kỳ đương đại Nhưng cũng chính sự phát triển đó đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm Đó là: cuộc khủng hoảng môi trường đánh dấu các giới hạn của khoa học và tiến bộ công nghệ và dường như thiên nhiên đang có biểu hiện hạn chế và thậm chí chống lại sự phát triển xã hội Và cùng với sự suy giảm của môi trường sinh thái, tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức, phân hoá giàu nghèo đã gây trở ngại đối với phát triển kinh tế
và làm giảm sút chất lượng cuộc sống, đe doạ cuộc sống hiện tại của con
Trang 24người và ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai Hiện tượng tăng trưởng liên tục của kinh tế, khoa học công nghệ dẫn tới một tải trọng khổng lồ đè nặng lên cỗ máy thiên nhiên cũng như các hiện tượng mất cân đối quá mức và các điều kiện sống, sự phân bố của cải trên thế giới Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 1950, thế giới có 2,5 tỷ người, năm 2000 trái đất có 6 tỷ dân, theo các dự báo thì đến năm 2050 dân số thế giới sẽ là 9,3 tỷ Các nước đang phát triển chiếm 80% dân số vào năm 2000 và có thể sẽ tăng lên 87% vào năm 2050 Theo báo cáo của tổ chức ngân hàng thế giới, khoảng gần 1/4 (24,3%) dân số thế giới sống dưới ngưỡng nghèo Một nửa dân số thế giới hiện sống trong các thành phố gần như không được bảo đảm đầy đủ các chức năng đô thị (nhà ở, công trình đô thị, nơi làm việc, mạng giao thông vận tải…) Ngoài các bất bình đẳng lớn về điều kiện sống này, hiện tượng ô nhiễm môi trường dưới nhiều dạng khác nhau ngày càng tăng: khí quyển nóng lên, thiên tai tăng về số lượng và cường độ và sự xuất hiện của nhiều dịch bệnh đang đe doạ trầm
trọng tới chất lượng cuộc sống
Cơ sở tham chiếu này làm sáng tỏ ba nguyên nhân cơ bản của cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội, môi trường mà chúng ta đang phải đối mặt đó là:
Sự bành trướng liên tục của một phương thức sản xuất và sự tiêu dùng các tài nguyên thiên nhiên không tiết kiệm; hoạt động của một guồng máy kinh tế mà yếu tố chinh phục duy nhất là các quy luật thị trường đã làm ngăn cách giữa các nước giàu và các nước nghèo
Đứng trước áp lực của thực tế khắc nghiệt này, con người không còn cách lựa chọn nào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của mình với thiên nhiên, phương sách phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình phát triển của mình Điều cốt yếu là trong sự phát triển đó, tất cả những vấn đề, các lĩnh vực phải được xem xét một cách tổng thể, nhằm hạn chế những tác động cản trở đến sự phát triển của mỗi quốc gia Điều đó có nghĩa là con đường phát
Trang 25triển phải có sự kết hợp hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trường Đó chính là con đường phát triển bền vững
Phát triển bền vững (Sustainable development) là khái niệm xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập kỷ 70 thế kỷ
XX Đó là thời kỳ thế giới đối mặt với tình trạng khan hiếm năng lượng và ô nhiễm môi trường nặng nề Trước thực tế đó, Liên hợp quốc đã tổ chức một hội nghị quốc tế về môi trường ở Stockholm (Thuỵ Điển) Hội nghị ra tuyên
bố xác nhận hiện trạng môi trường toàn thế giới đang xấu đi nghiêm trọng và kêu gọi nhân loại hãy cứu lấy trái đất
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển cho thấy phát triển bền vững không chỉ được giải quyết từ khía cạnh môi trường tự nhiên mà còn cần phải giải quyết
từ góc độ của các vấn đề xã hội
Trên phạm vi toàn cầu, nhằm tìm cách đối phó với tình trạng cuộc sống ngày càng xấu đi do sự gia tăng của nghèo đói, bệnh tật, thất học, do sự cách biệt ngày càng sâu sắc giữa giàu và nghèo, và đặc biệt do sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường Trước tình hình đó, Liên hợp quốc đã thành lập
Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển vào năm 1983
Năm 1987, Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển đã công bố báo
cáo “Tương lai chung của chúng ta” - Báo cáo BrundtLand Trong báo cáo
này, thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu được phổ biến Sự phát triển bền
vững được định nghĩa là “Sự phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ
hiện tại mà không tổn hại đến khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau”
Phát triển bền vững thể hiện một sự thừa nhận rõ ràng rằng những nhu cầu về xã hội, môi trường và kinh tế phải được lồng ghép với nhau và đáp ứng
Trang 26cho nhau một cách cân đối để sự phát triển có thể bền vững trong tính dài hạn của nó
Bước ngoặt quan trọng nhất của phát triển bền vững là tại hội nghị thượng đỉnh trái đất họp tại Rio de Janero (Braxin) năm 1992 của các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới Tại hội nghị này các nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới đã thống nhất đưa ra được hai bản tuyên bố mang tính nguyên tắc đó là 27 nguyên tắc cơ bản và chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỉ XXI Bằng những văn kiện này, cộng đồng quốc tế đã bắt đầu chính thức thừa nhận con đường phát triển của nhân loại là con đường phát triển bền vững Bước tiếp theo, năm 2002 tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Nam Phi, 166 nước tham dự đã thông qua bản tuyên bố Johannesburg
và bản kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững
Nội dung phát triển bền vững
Một số người cho rằng phát triển bền vững là từ đồng nghĩa với sự cắt giảm về tăng trưởng hay mức độ tiêu thụ Một số người khác lại cho rằng phát triển bền vững đòi hỏi con người phải hi sinh tăng trưởng kinh tế và một cuộc sống chất lượng hơn để đạt được mục tiêu lâu dài về bảo vệ môi trường Đó là những quan điểm nhầm lẫn phát triển bền vững với một tăng trưởng định lượng được đo đếm bằng tăng sản phẩm quốc dân
Ngày nay, trong quan niệm về phát triển bền vững tất yếu phải có quan điểm con người làm trung tâm: lấy sự tồn tại của con người (quốc gia - dân tộc
- nhân loại), sự phát triển liên tục, lâu dài, bền vững, ổn định tương đối của cả thế hệ hiện nay lẫn các các thế hệ mai sau làm mục tiêu Nhưng mặt khác, nếu
Trang 27tổng thể Quan điểm lấy sinh thái làm trung tâm là một bổ sung tất yếu: lấy việc giữ gìn, bảo vệ sinh thái, sự bền vững và tiến hóa của nó với tính cách cơ
sở tự nhiên của toàn bộ nền văn minh của con người làm mục tiêu chính, để sự phát triển tiếp theo không rơi vào thảm họa sinh thái Nói tóm lại, phát triển bền vững phải là sự đồng tiến hóa của tự nhiên và xã hội dưới hình thức chỉnh thể tự nhiên - xã hội, trong đó, những tiến bộ xã hội trong mỗi bước đi không gây tác hại cho sinh thái, là cơ sở bảo tồn cho cả sinh thái lẫn nhân loại Đó là các yếu tố: kinh tế (thị trường, tăng trưởng, công nghiệp hóa ); xã hội (Nhà nước, xã hội công dân, ý thức cộng đồng, hệ thống giá trị ); môi trường Góc
độ xem xét này có những yếu tố hợp lý của nó, đặc biệt ở sự phân loại các bộ phận cấu thành nên 3 yếu tố trụ cột nói trên Điều này cho phép nhìn nhận, đánh giá, phân tích các nhóm bộ phận chính xác hơn, nhất quán và dễ dàng hơn Chẳng hạn, nếu tách thị trường ra khỏi sự tăng trưởng và công nghiệp hoá để xem xét quan hệ thị trường với sinh thái là không khách quan, mà sẽ rơi vào phiến diện, không thấy được các mối quan hệ tổng thể rộng lớn hơn của sự phát triển kinh tế nói chung với môi trường xung quanh, trong đó có cả môi trường xã hội
Tăng trưởng kinh tế, hiện đại hoá xã hội gắn liền với việc bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trong mỗi bước phát triển tất yếu phải trở thành nguyên tắc chủ đạo của đời sống xã hội ở mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi quốc tế Tuy nhiên, điều đó hiện đang đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong ý thức của toàn thể cộng đồng và của mỗi thành viên, xây dựng tư duy mới và thế giới quan mới - thế giới quan trí tuệ quyển Chưa có được những cái đó thì cũng chưa thể có hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng, các giá trị
và cách ứng xử mới của con người với môi trường xung quanh và do vậy, cũng chưa có cơ sở vững chắc để phát triển xã hội một cách bền vững, hài hoà
Như vậy, phát triển bền vững trước hết phải là một sự tăng trưởng phức hợp Tức là ngoài nghĩa kinh tế ra nó còn phải được quan tâm tới chất lượng
Trang 28các mối quan hệ giữa người với người (hay gọi chung là môi trường xã hội) và chất lượng môi trường tự nhiên Chúng ta cần phải vừa bảo vệ môi trường tự nhiên lại vừa nâng cao môi trường xã hội trên cơ sở thúc đẩy phát triển kinh tế mang tính công bằng và bền vững Nội dung của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những tiêu chí đó là phát triển xã hội phải đảm bảo được 3 yêu cầu cơ bản: phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về mặt xã hội và phát triển bền vững về môi trường tự nhiên
Trong quá trình phát triển, hiện đại hoá trước đây, nhân loại chỉ tập trung chú ý phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật, khai thác tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trưởng nhanh và mạnh về kinh tế Người
ta ít quan tâm đến việc quản lý, bảo vệ, giữ gìn sinh thái, càng không có ý tưởng cải thiện, làm cho sinh thái tốt hơn Thậm chí, đã có lúc nhân loại nhầm tưởng rằng, tăng trưởng kinh tế, hiện đại hoá xã hội, tất yếu phải "hy sinh" môi trường sinh thái Thực tiễn phát triển xã hội hiện nay cho thấy nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không bảo vệ môi trường sinh thái thì đến lượt nó, môi trường sinh thái sẽ cản trở, hạn chế sự tăng trưởng kinh tế của những giai đoạn sau, gây ảnh hưởng lớn đến phát triển xã hội bền vững và hài hoà
Vấn đề cực kỳ quan trọng và tất yếu hiện nay còn là cải thiện môi trường sinh thái (vốn là hậu quả của quá trình tăng trưởng phi môi trường tự nhiên trước đây) Khắc phục những vấn đề môi trường đã nảy sinh trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hóa trước đây, làm cho môi trường sinh thái sạch hơn, tốt hơn, được quản lý chặt chẽ và hữu ích hơn đối với con người, tạo nên mối quan hệ hòa hợp giữa con người với môi trường xung quanh
Từ quan điểm triết học cho rằng con người là chủ thể của mọi quá trình phát triển, xã hội và con người cùng với sức sáng tạo của nó lại được tạo dựng, nảy sinh trong các quan hệ xã hội Chúng tôi cho rằng, phát triển bền vững còn phải được mở rộng ở lĩnh vực bảo vệ và phát triển môi trường xã
Trang 29hội: đảm bảo sự công bằng xã hội, giảm thiểu phân hoá giàu nghèo, phát triển văn hoá, giáo dục
Tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường tự nhiên, nâng cao chất lượng môi trường xã hội là 3 yếu tố cơ bản tác động biện chứng qua lại để tạo nên sự phát triển xã hội bền vững Đồng thời đó là 3 khía cạnh hay 3 biểu hiện cơ bản của phát triển xã hội bền vững
Phát triển bền vững về kinh tế: Tính bền vững về kinh tế thể hiện trong
sự tăng trưởng tự lập Tính bền vững này dựa trên những nguyên tắc cân đối kinh tế vĩ mô (cân đối ngân sách, cân đối cán cân thanh toán, làm chủ lạm phát, vv…) cũng như các nguyên tắc đầu tư (cấp ngân sách, các tỷ lệ đầu tư khu vực, trinh độ năng suất, tỷ lệ tiêu dùng/tích luỹ,…), những quy tắc này nhằm tối ưu hoá tăng trưởng và không làm nảy sinh những hậu quả thái quá
mà các thế hệ sau phải gánh chịu
Đây là sự phát triển đòi hỏi phải kết hợp hài hoà giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với các yêu cầu phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ phát triển kinh tế với các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được và việc phát triển công nghệ sạch
Phát triển bền vững về môi trường: Theo quan điểm của các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác, thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó, giữa con người và giới tự nhiên có mối quan hệ gắn bó hữu cơ Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Mác khẳng định: "Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người” Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự
nhiên gắn liền với bản thân giới tự thiên, vì con người là một bộ phận của giới
Trang 30tự nhiên và bản thân lịch sử là một bộ phận hiện thực của lịch sử tự nhiên, của
sự sinh thành của tự nhiên bởi con người Với quan niệm đó, C.Mác kết luận rằng, chừng nào mà loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau Theo đó, quan hệ giữa con người và tự nhiên là quan hệ đồng tiến hoá, cùng tồn tại và phát triển Con người và xã hội loài người không thể có sự phát triển ổn định, bền vững và hài hoà nếu con người đối xử thô bạo với tự nhiên - cái “nôi,” cội nguồn, “thân thể vô cơ” của mình Trước đây, do quan niệm sai lầm và hạn hẹp, người ta lầm tưởng rằng, tài nguyên thiên nhiên là vô tận, sản xuất và tiêu dùng có thể phát triển tuỳ theo nhu cầu con người, khoa học và công nghệ có thể giải quyết được tất cả những vấn đề đặt ra trên mỗi bước phát triển của con người và xã hội, kể cả các vấn đề chất thải, gia tăng dân số hoặc sinh thái Trái lại, trong phát triển bền vững và hài hoà, tài nguyên được xem là có hạn, sản xuất và tiêu dùng phải tiết kiệm tài nguyên, không thể phát triển bên ngoài giới hạn và quy luật của sinh thái Khoa học và công nghệ cũng có những giới hạn xác định và không phải lúc nào, ở bất cứ đâu chúng cũng có thể ngay lập tức và tự động giải quyết được mọi vấn đề của nhân loại
Bền vững về môi trường thể hiện ở tiêu chí các tài nguyên không tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi khôi phục được về số lượng và chất lượng bằng các con đường tự nhiên hoặc nhân tạo Môi trường tự nhiên như: đất, nước, không khí, cảnh quan thiên nhiên Các nguồn phế thải từ công nghiệp và dịch vụ được xử lý, tái chế kịp thời, bảo đảm con người được sống trong môi trường sinh thái trong sạch…
Phát triển bền vững về xã hội: Đó là sự phát triển trong đó sự tăng trưởng
kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội Điều đó có nghĩa là các lĩnh vực giáo dục, y tế, và phúc lợi xã hội của người dân phải được chăm lo Như vậy, đảm bảo sự bền vững về xã hội suy cho cùng là việc phát triển con
Trang 31phát triển xã hội bền vững, nó đòi hỏi xem xét kỹ lưỡng tác động qua lại giữa
ba lĩnh vực xã hôi, kinh tế và môi sinh Tính bền vững về mặt xã hội có thể được xác định ở các tiêu chuẩn sau:
Thứ nhất, tính bền vững của xã hội phải bảo đảm được khả năng tiếp cận
cho mọi người Thực vậy, chính tình trạng không có khả năng tiếp cận cơ hội (hay khó khăn trong việc tiếp cận cơ hội) của một số người mà dẫn tới nghèo
nàn nảy sinh Ở đây, chúng ta có thể hiểu nghèo nàn về khả năng tiếp cận
không chỉ về kinh tế mà nó còn bao gồm các điều kiện khác như việc làm, chỗ
ở, chăm sóc y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội và dịch vụ Và từ tình trạng này làm cho con người dễ bị tổn thương, yếu thế và họ phải đối mặt với nhiều rủi
ro về môi trường sinh thái, kinh tế và xã hội
Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là phải đảm bảo được công bằng xã hội, giảm thiểu những bất công, đem lại sự bình đẳng cơ hội cho tất cả mọi người trong xã hội
Như vậy, các tiêu chuẩn này phải luôn bổ sung cho nhau để đảm bảo tính bền vững về mặt xã hội Việc tôn trọng những tiêu chuẩn đó chính là sự đảm bảo gìn giữ các thành quả xã hội, trong nội bộ một thế hệ cũng như giữa các thế hệ Nếu một trong các tiêu chuẩn đó không được tôn trọng, tính bền vững
về mặt xã hội của phát triển sẽ khó và thậm chí không được đảm bảo Thực vậy, có sự bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận các điều kiện, một bộ phận dân cư sẽ bị loại trừ, và do đó sẽ làm giảm công bằng xã hội trong cùng thế hệ
Và điều đó tất yếu dẫn đến việc chuyển giao các tiềm năng cho thế hệ tương lai sẽ bị suy giảm thậm chí không còn được tôn trọng Những tiêu chí trên là điều kiện cần và đủ để có sự phát triển bền vững, thiếu một trong các tiêu chí
đó thì sự phát triển sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững Và một điều hiển nhiên là tất cả những tiêu chí của sự phát triển bền vững trên đều là sự phát triển vì con người và do con người Nói cách khác, chính con người là trung
Trang 32tâm của sự phát triển Con người vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của mọi quá trình phát triển xã hội nói chung và sự phát triển xã hội bền vững nói riêng…
Phát triển vì con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong một thế giới hiện đang tồn tại những bất bình đẳng về cơ hội và điều kiện sống của thế hệ hiện tại và những nguy cơ đối với triển vọng của thế hệ tương lai Trọng tâm của quá trình phát triển vì con người là công bằng xã hội giữa các công dân trong một thế hệ cũng như sự công bằng giữa các thế hệ khác nhau Mặc dù, phát triển bền vững xuất hiện trong bối cảnh các nguy cơ về môi trường sinh thái và do đó, chú ý nhiều đến thế hệ tương lai Nhưng một cách rõ ràng rằng khi chúng ta chú ý đến thế hệ tương lai, chúng ta cũng không thể và không được phép bỏ qua sự thiệt thòi, sự bất công của những giai tầng, một nhóm dân cư thậm chí một cá nhân của thế hệ hiện tại “Không hành động để đảm bảo các năng lực cơ bản cho thế hệ tương lai có thể coi là điều đáng xấu hổ, còn không hành động để đem lại năng lực cơ bản đó cho những người bần cùng trong thế giới hiện nay có thể coi là vô nhân đạo” [70,tr.19] và ngay nhà triết học cổ điển Đức, I.Kant cũng nói: “Đối xử với con người như là một mục đích chứ đừng bao giờ chỉ coi con người là phương tiện” [70, tr.40].Và cũng không phải ngẫu nhiên mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đều đánh giá con người là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội Đảng ta cũng coi con người là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển nhanh
Trang 33người làm ra lịch sử của mình - vô luận lịch sử này diễn ra thế nào - bằng cách
là mỗi người theo đuổi những mục đích riêng, mong muốn một cách có ý thức,
và chính kết quả chung của vô số những ý muốn tác động theo nhiều hướng khác nhau đó và của những ảnh hưởng muôn vẻ của những ý muốn đó vào thế giới bên ngoài đã tạo nên lịch sử” [45, tr.436]
Theo C.Mác, xã hội dưới bất kì hình thức nào đều là “sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” và lịch sử chẳng qua là hành động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình” [46, tr.675] Như vậy, xã hội là kết quả hoạt động của con người và đương nhiên nguồn gốc động lực của sự phát triển xã hội phải được tìm trong chính hoạt động của con người
Mà suy cho cùng, hoạt động đó luôn diễn ra theo một chuỗi nhân quả: Hoàn
cảnh bên ngoài → nhu cầu → lợi ích → mục đích (động cơ tư tưởng) → kết quả (làm thay đổi hoàn cảnh bên ngoài) Như vậy, nhu cầu và lợi ích là những yếu tố trực tiếp dẫn con người tới hành động, và vì con người là chủ thể của xã hội, hay hoạt động của con người chính là xã hội, do đó chính nhu cầu và lợi ích
đã trở thành các động lực phát triển xã hội
Tuy nhiên, trong một nền sản xuất xã hội con người không phải chỉ đơn thuần là một nhân tố vật chất của lực lượng sản xuất Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thì ngoài những nhân tố vật chất thì những nhân tố “phi vật chất” cũng tác động lớn đối với hoạt động của con người Và vì thế những nhân tố như văn hoá, đạo đức, tư tưởng, tâm linh… nếu không trở thành lợi ích trực tiếp cho hoạt động của con người thì chúng cũng chỉ là những yếu tố hết sức hạn chế Điều đó có nghĩa là, bất cứ một nhân tố nào, kể cả vật chất lẫn tinh thần muốn trở thành yếu tố thúc đẩy con người hành động (với tính cách là động lực phát triển xã hội) đều phải trở thành động cơ bên trong, lợi ích của con người
Trang 34Ở mỗi giai đoạn lịch sư cụ thể với một hoàn cảnh kinh tế - xã hội nhất định bao giờ cũng có một thước đo của công bằng xã hội tương ứng làm căn
cứ để xác định một tỷ lệ tương ứng cụ thể giữa cống hiến và hưởng thụ cho mọi chủ thể cùng tham dự vào hoạt động của nền sản xuất xã hội Thước đo của công bằng xã hội tương ứng với mỗi giai đoạn lịch sử là căn cứ để các chủ thể lợi ích tự đối chiếu với khả năng của bản thân mình để điều chỉnh nhu cầu
và lựa chọn những lợi ích phù hợp với tương quan lợi ích chung của toàn xã hội Khi mỗi cá nhân nhận thức được nguyên tắc của công bằng xã hội theo nghĩa trên thì xã hội luôn được ổn định và phát triển Hơn nữa, thước đo này cũng chính là cái để ngăn chặn và trừng phạt những kẻ vi phạm quan hệ lợi ích chung của xã hội Tóm lại, thước đo của công bằng xã hội vừa là yếu tố kích thích sự cống hiến của con người, vừa là công cụ để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội và lợi ích của mỗi cá nhân trong xã hội ấy Đến lượt mình, xã hội
có công bằng sẽ động viên kích thích sự cống hiến của các cá nhân, nghĩa là huy động được nhiều hơn nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực… cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong khi đó, phát triển xã hội bền vững đòi hỏi sự phát triển hài hoà tất
cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Nguyên tắc đặt ra để đảm bảo sự phát triển bền vững đó là phải lấy con người làm trung tâm của sự phát triển Trong
quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của
thế hệ hiện tại và không gây trở ngại đến cuộc sống của thế hệ tương lai Tạo
lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng
để phát triển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất ,tinh thần
và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau
Một thực tế không thể phủ nhận đó là mặc dù tăng trưởng kinh tế là tiền
đề vật chất, là cơ sở kinh tế của sự tồn tại và phát triển của xã hội nhưng công
Trang 35tăng trưởng kinh tế Điều đó được thể hiện trong các nước đặc biệt là đối với những nước đang phát triển, một chiến lược tăng trưởng dựa vào sự gia tăng mức độ các bất công trong thu nhập trên thực tế không hơn một phép màu mang tính cơ hội được tạo ra để giữ các đặc quyền, đặc lợi và do đó, nó không mang tính bền vững Tiếp theo, do bất bình đẳng trong thu nhập dẫn tới mức sống của người nghèo không được đảm bảo: suy dinh dưỡng, sức khoẻ kém, giáo dục kém… dẫn tới có thể làm giảm năng suất lao động của họ, như vậy, trực tiếp hay gián tiếp, dẫn tới sự chậm phát triển của kinh tế Và như thế có nghĩa là nếu tăng thu nhập cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người lao động sẽ tạo động lực phát triển kinh tế bền vững Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển thì mức công bằng cao hơn trên thực tế có thể là một điều kiện để tăng trưởng kinh tế dài hạn Kinh nghiệm ở một số nước như Brazil, Argentina, và một số nước Mỹ Latin khác
đã từng phát triển bùng nổ nhưng sau đó lại có một nền kinh tế què quặt do những căng thẳng về mặt xã hội Và như vậy không thể đánh giá một xã hội phát triển bền vững khi mà chỉ có vài tỷ phú trong khi hầu hết dân chúng sống dưới chuẩn nghèo của thế giới Ngay trong nguyên tắc tăng trưởng thì tăng trưởng cũng tạo ra những bất công vì những cơ hội đối với từng cá thể thay đổi rất nhiều theo vùng, theo nhóm xã hội, theo thời kỳ… Liên quan tới mối gắn kết xã hội, các bất công sẽ làm nảy sinh nhiều căng thẳng xã hội và có thể dẫn tới những xung đột nghiêm trọng trong xã hội Và những xung đột này sẽ làm cho mối gắn kết xã hội trở nên kém bền vững hơn Những "hố sâu" ngăn cách của sự bất bình đẳng trong giàu nghèo và trong cơ hội, kể cả trong nội bộ và giữa các quốc gia, đã góp phần dẫn đến sự nghèo khổ cùng cực kéo dài dai dẳng đối với một bộ phận lớn dân số Điều này làm lãng phí tiềm năng con người và trong nhiều trường hợp, nó làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững Các thể chế thiếu công bằng sẽ gây ra những tổn thất về kinh tế, các thể chế đó dường như bảo vệ cho lợi ích của những người giàu và những người có ảnh hưởng về mặt chính trị Điều đó thường gây hại cho phần đông
Trang 36dân chúng Điều này làm cho toàn bộ xã hội trở nên kém hiệu quả Nếu những nhóm người nghèo và trung bình không thể khai thác tài năng của họ, xã hội sẽ mất đi những cơ hội đổi mới và đầu tư Các chính sách tiến tới mục tiêu công bằng có thể làm cầu nối những "hố sâu" ngăn cách nói trên Mục tiêu không phải là sự công bằng trong thu nhập, mà xa hơn là mở rộng khả năng tiếp cận cho người nghèo đến với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, công ăn việc làm, nguồn vốn và bảo đảm cho họ các quyền về đất đai Điều quan trọng
là, sự công bằng đòi hỏi cả sự bình đẳng lớn hơn trong việc tiếp cận với tự do chính trị và quyền lực chính trị Nó cũng có nghĩa là phá vỡ sự rập khuôn và phân biệt đối xử, tăng cường khả năng tiếp cận với các hệ thống tư pháp và cơ
sở hạ tầng
Nếu các quốc gia có những chính sách nhằm loại trừ tác hại của những bất bình đẳng kéo dài về cơ hội, cũng sẽ giúp tăng hiệu quả kinh tế và sửa chữa những thất bại của thị trường, như đầu tư nhiều hơn vào con người, cung cấp những mạng lưới an sinh cho những nhóm người dễ bị tổn thương Mở rộng khả năng tiếp cận của dân chúng với luật pháp, đất đai và cơ sở hạ tầng kinh tế như đường xá, điện, nước, vệ sinh và viễn thông; Tăng cường tính công bằng trong các thị trường tài chính, lao động và sản phẩm, để người nghèo có thể tiếp cận dễ dàng hơn với các khoản tín dụng, các cơ hội nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử Như thế tính bền vững trong sự phát triển mới được đảm bảo
Công bằng xã hội không chỉ có tác động mạnh mẽ, tích cực trong lĩnh vực kinh tế Ngoài lĩnh vực đặc biệt quan trọng đó, công bằng xã hội còn đóng vai trò điều chỉnh quan hệ giữa người và người trong các lĩnh vực: chính trị, xã hội, đạo đức, pháp quyền…để đảm bảo sự tương xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi của các cá nhân hay nhóm xã hội Nếu sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của con người đó được thực hiện trên
Trang 37ngang bằng nhau phù hợp với những cống hiến, tài năng, phẩm giá, trách nhiệm…của họ, không ai bị thiệt thòi, bất công…Thì công bằng xã hội sẽ không chỉ tạo trạng thái ổn định cho sự phát triển của xã hội mà còn tạo ra tâm
lý lành mạnh, phấn khởi, có tác dụng kích thích tính năng động của con người trong hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển Khi con người được đối xử công bằng làm cho các quan hệ xã hội trở lên tốt đẹp hơn, hình thành một động lực mạnh mẽ đóng góp cho sự phát triển xã hội
Vì lợi ích của mỗi cá nhân bao giờ cũng nằm trong mối quan hệ với lợi ích của những cá nhân khác và lợi ích của xã hội, cho nên nguyên tắc phân phối lợi ích là một khía cạnh, một nội dung cơ bản của công bằng xã hội, lúc này, được biểu hiện ra như một động lực của phát triển xã hội
Như đã phân tích, sự vận động và phát triển của xã hội chính là kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn giữa người và người trong hoạt động tìm kiếm, bảo vệ lợi ích để thoả mãn nhu cầu của mỗi chủ thể Lợi ích mỗi cá nhân luôn chịu sự quy định bởi quan hệ phân phối lợi ích giữa các thành viên trong xã hội Nguyên tắc phân phối lợi ích đựơc hình thành trong mối quan hệ lợi ích giữa người và người là thước đo để phân chia lợi ích chung của xã hội Mặt khác, thước đo dùng để phân chia lợi ích chung của xã hội lại phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của những giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử, trong đó đặc biệt là sự chi phối bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Vì thế, nguyên tắc phân phối lợi ích có trong mọi phương thức sản xuất được gọi
là nguyên tắc phân phối nói chung Đương nhiên, trong nguyên tắc phân phối này, giai cấp nào giữ địa vị sở hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp ấy giữ vai trò chi phối Điều này khẳng định thêm rằng trong một phương thức dựa trên chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì không bao giờ có sự ngang bằng trong quan
hệ phân phối giữa một bên là những người sở hữu tư liệu sản xuất còn bên kia
là những người không có tư liệu sản xuất
Trang 38Công bằng xã hội cũng là một nguyên tắc phân phối lợi ích, thước đo của nguyên tắc phân phối lợi công bằng là sự ngang bằng giữa người và người trong mối quan hệ tương ứng giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau Hơn nữa, nguyên tắc phân phối công bằng lại được thực hiện dựa trên sự thoả thuận tự nguyện của mọi cá nhân cùng tham gia vào một quan hệ lợi ích Vì thế, tác động của nguyên tắc phân phối công bằng tới hoạt động của con người mang tính tích cực, tự
nguyện nguyên tắc phân phối này không tác động mang tính cưỡng bức tới các
hoạt động của con người Nó kích thích sự cống hiến tự nguyện của mỗi cá nhân vào hoạt động chung của xã hội vì lợi ích của mình và của cả cộng đồng Bởi vì nguyên tắc phân phối công bằng giúp cho mỗi cá nhân không thấy mình
bị thiệt thòi, họ sẵn sàng tự nguyện hoạt động hơn nữa và từ sự tự nguyện hoạt
động hơn nữa ấy đã thúc đẩy sự vận động và phát triển của xã hội Chính sự tự
nguyện hoạt động của mọi thành viên trong xã hội đã thúc đẩy xã hội tiếp tục vận động và phát triển Theo nghĩa đó, công bằng xã hội là động lực tích cực của phát triển xã hội bền vững
Tất nhiên, nguyên tắc phân phối công bằng không đồng nghĩa với việc
cào bằng Sẽ là sai lầm nếu chúng ta không hiểu rằng trên thực tế sự cống hiến
của mỗi cá nhân bao giờ cũng có sự khác nhau Chính vì thế một nguyên tắc phân phối mang một ý nghĩa công bằng đó là trong một điều kiện kinh tế - xã hội nhất định thì cống hiến ngang nhau, hưởng thụ ngang nhau Nếu không theo nguyên tắc này tất yếu sẽ làm giảm sự nhiệt tình cống hiến của những người có nhiều cống hiến nhưng cũng chỉ được hưởng thụ như những người có cống hiến ít hơn Điều đó sẽ dẫn đến một hiện tượng nguy hiểm đó là sự gia tăng lười biếng và dựa dẫm, ỷ lại vào xã hội của không ít các thành viên trong
xã hội Từ đó, xã hội sẽ xuất hiện nhiều hiện tượng “bất công.” Sự bất công xã
hội tất yếu sẽ làm suy giảm động lực phát triển kinh tế - xã hội Nguyên tắc
phân phối công bằng tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân đều có quyền tự do
Trang 39lựa chọn việc tham gia cống hiến vào sự phát triển của xã hội cũng như quyền được hưởng thụ tương xứng với những cống hiến đó Dó vậy, công bằng xã hội chính là nhân tố kích thích, động viên mọi người ra sức tham gia cống hiến cho sự phát triển của xã hội một cách tự nguyện nhất Có công bằng xã hội người lao động người lao động mới phát huy hết nhiệt tình và khả năng lao động, không ngừng nâng cao năng suất lao động để tạo ra năng suất lao động
có chất lượng cao Có công bằng xã hội các nhà kinh doanh mới chịu bỏ vốn, chấp nhận rủi ro để đầu tư cho sản xuất Sự cống hiến tự nguyện và hết sức mình của mỗi cá nhân quyết định tới hiệu quả của sự phát triển kinh tế - xã hội Với ý nghĩa đó, công bằng xã hội là động lực thực sự của sự phát triển xã hội
Như thế thực hiện công bằng xã hội, giảm thiểu những bất công xã hội
sẽ mở ra khả năng cho phép con người dễ dàng hơn trước những rủi ro và do
đó, giảm được tính dễ bị tổn thương và sau đó hình thành những cơ chế đảm bảo tính công minh về những khả năng có thể chuyển giao cho các thế hệ tiếp theo Làm được như vậy sẽ cho phép con người sống tốt hơn, mọi người đều
có cơ hội tiếp cận với những nguồn lực để có thể phát huy hết khả năng của mình và góp phần phát triển xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống Chẳng hạn ở Việt Nam, muốn phát triển kinh tế bền vững, yếu tố công bằng phải luôn được đặt lên hàng đầu công bằng trong kinh tế thể hiện trước hết ở việc Đảng
và Nhà nước ta quán triệt nguyên tắc đối xử bình đẳng, công bằng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ mọi thành kiến, thiên lệch để các chủ thể tham gia kinh doanh hăng hái tham gia hoạt động kinh tế, làm giầu cho đất nước Công bằng xã hội cần được đảm bảo ngay trong việc tiếp cận với điều kiện làm kinh tế, điều kiện phát huy sức sáng tạo của cá nhân và cộng đồng Điều này sẽ tạo thành động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Nếu không tạo ra sự công bằng trong tiếp cận với các điều kiện kinh doanh, môi trường kinh doanh thì không thể huy động được mọi nguồn lực, không thể thúc đẩy lực lượng sản
Trang 40xuất phát triển do đó, không thể có công bằng xã hội.Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước chủ động giải quyết ngay từ đầu mối quan hệ giữa tăng trưởng với công bằng xã hội, đảm bảo công bằng xã hội Bởi, vấn đề đảm bảo công bằng, bình đẳng trong xã hội không chỉ
là động lực để phát triển mà còn là mục tiêu của chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa Và khi đã có công bằng trong lĩnh vực kinh tế đương nhiên nó sẽ giúp cho việc thực hiện những chính sách xã hội được thuận lợi hơn, con người sẽ có ý thức hơn trong việc thực hiện bảo vệ môi trường, vì lúc đó nghĩa
vụ thật sự gắn với quyền lợi của mỗi người Tính bền vững trong sự phát triển của xã hội sẽ được đảm bảo
Tóm lại, thực hiện phát triển xã hội một cách bền vững, không thể bỏ qua vấn đề thực hiện công bằng xã hội Nói cách khác, trong quan hệ với phát triển
xã hội bền vững, công bằng xã hội vừa là tiêu chuẩn, thước đo vừa là một động lực cho sự phát triển xã hội bền vững Không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, có hiệu quả cao và bền vững trong một xã hội có đa số dân chúng thấp kém về trí tuệ, ốm yếu về thể chất và một bộ phận đáng kể lực
lượng lao động thất nghiệp, nghèo đói, bị đẩy ra ngoài lề xã hội