1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

109 854 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc tranh đua đó, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam mặc dù có ít ưu thế hơn so với các nước phát triển nhưng cũng có nhiều cơ hội vươn lên, rút ngắn sự chênh lệch về k

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIấN Lí LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

BẢNG QUY ƢỚC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH-HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNKT: Công nhân kỹ thuật

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 3

Chương 1 Kinh tế tri thức và những yêu cầu về nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức 3

1.1 Kinh tế tri thức và những yêu cầu của nó đối với nguồn nhân lực 3

1.1.1 Một số quan niệm khác nhau về kinh tế tri thức 3

1.1.2 Yêu cầu của kinh tế tri thức đối với phát triển nguồn nhân lực 12

1.2 Đặc điểm và nội dung phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức 15

1.2.1 Đặc điểm của nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 16 1.2.2 Nội dung 17

1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức của một số nước 19

1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 19

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 23

1.3.3 Một số bài học rút ra cho Việt Nam 27

Chương 2 Tình hình nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thời gian qua 29

2.1 Tình hình phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thời gian qua 29

2.1.1 Tình hình phát triển năng lực thể chất, phẩm chất văn hóa tinh thần của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay 29

2.1.2 Thực trạng giáo dục và đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ ở Việt Nam thời gian qua 34

2.1.3 Tình hình phân bổ, sử dụng nguồn nhân lực có trình độ ở Việt Nam thời gian qua 47

Trang 4

2.2 Nhận xét chung 51 2.2.1 Những thành tựu và nguyên nhân 51 2.2.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 54 2.2.3 Những vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri

thức ở Việt Nam 57

Chương 3 Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực để

phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 64

3.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển nguồn nhân lực 64 3.1.1 Phát triển nguồn nhân lực phải đảm bảo đáp ứng tốt nhất những yêu

cầu đặt ra của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hướng tới kinh tế tri thức 64 3.1.2 Phát triển tập trung tri thức cho đội ngũ lao động đặc biệt chú trọng

nhân lực cho những ngành kinh tế mũi nhọn, những ngành sản xuất có hàm lượng tri thức cao 65 3.2 Các giải phát phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở

Việt Nam 69 3.2.1 Các giải pháp tạo cơ sở môi trường thuận lợi cho việc phát triển nhân

lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 69 3.2.2 Giải pháp trực tiếp phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri

thức ở Việt Nam 76

Kết luận 96 Danh mục tài liệu tham khảo 98

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ đã làm cho thế giới có những đổi thay to lớn, ngày càng ngành sản xuất sử dụng công nghệ tiên tiến, có hàm lượng tri thức cao như: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng, công nghệ vật liệu mới… Tri thức đã trở thành yếu tố có vai trò ngày càng quan trọng Đây là một bước ngoặt lịch sử: nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ; nền kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức

Trong kinh tế tri thức, yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển kinh tế là tri thức và tiềm năng, nguồn tạo ra tri thức Nguồn nhân lực có trình độ, có hàm lượng chất xám cao không ngừng học hỏi, sáng tạo chính là chủ thể của tiềm năng tri thức Hiện nay, trên thế giới đang diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia để thu hút, chiếm hữu, khai thác nguồn lực trí tuệ Trong cuộc tranh đua đó, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam mặc dù có ít ưu thế hơn

so với các nước phát triển nhưng cũng có nhiều cơ hội vươn lên, rút ngắn sự chênh lệch về khoảng cách phát triển với các nước nếu biết nắm bắt, khai thác các thành tựu của khoa học công nghệ, của tri thức nhân loại để phát huy nội lực, tăng cường sức mạnh quốc gia Nhận thức rõ điều đó, Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “…tranh thủ ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức” [9]

Điều đó thực hiện được hay không phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng nguồn chủ yếu vào chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Nguồn nhân lực đó phải có những phẩm chất như thế nào? Vai trò của nguồn nhân lực đó trong kinh

tế tri thức thể hiện ra sao? Để có thể tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức phải có điều kiện, tiền đề then chốt nào? Chuẩn bị nguồn nhân lực để phát triển kinh tế

Trang 6

tri thức cần có những bước gì? những câu hỏi đó đang thật sự là những vấn đề

lý luận và thực tiễn quan trọng cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, thấu đáo nhất là trong điều kiện nước ta đang thực hiện công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá

và từng bước phát triển kinh tế tri thức

Với mong muốn góp phần nhỏ và làm rõ những vấn đề trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Kinh tế chính trị của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực con người để phát triển kinh tế tri thức

là một vấn đề đang rất được quan tâm Có một số công trình khoa học, cuốn sách, bài viết xoay quanh đề tài này như:

- Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ tri thức Việt Nam Đề tài khoa học cấp bộ năm 2004, do TS Đoàn Văn Khái chủ nhiệm đề tài

- Phát triển kinh tế tri thức rút ngắn quá trình trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta, GS TS Đặng Hữu Đề tài KX 02.03, H.2003

- Thời đại kinh tế tri thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001

- Trí tuệ, nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội của tác giả Phạm Thị Ngọc Trâm, Tạp chí Triết học, số 1/1993

- Kinh tế tri thức và con đường hội nhập của chúng ta, Tạp chí Xã hội học tháng 2/1999 của Phan Đình Diệu

- Kinh tế tri thức: xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 do Ngô Quý Tùng chủ biên

- Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra cho giáo dục và đào tạo nước ta Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 của tác giả Nghiêm Đình Vỳ

- Để tri thức trẻ tiến vào kinh tế tri thức, Tạp chí Cộng sản, số 178/2002

Trang 7

- Động lực cho kinh tế tri thức, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 6/2003 của Đặng Hữu

Các công trình, bài viết kể trên đã đưa ra những khái niệm cụ thể, phản ánh tình hình, xu hướng phát triển, những thành công cũng như những tồn tại, bất cập của nguồn nhân lực phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thời gian qua Tuy vậy kinh tế tri thức và phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức đối với Việt Nam là một lĩnh vực mới trẻ Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, các quan điểm, chính sách, xu hướng phát triển cũng như những bất cập

và các vấn đề đặt ra trong sự phát triển của nguồn nhân lực, của kinh tế tri thức

có nhiều thay đổi trong tình hình mới mà các công trình, bài viết trên không thể phản ánh hết được Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này một cách có hệ thống, đưa

ra những định hướng, giải pháp phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay là hết sức cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực trong kinh

tế tri thức và thực trạng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức hiện nay ở Việt Nam, luận văn đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

* Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:

+ Thứ nhất, phân tích, hệ thống và góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực, về kinh tế tri thức, nội dungvà những vấn đề đặt ra đối với phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức

Trang 8

+ Thứ hai, phân tích đánh giá đúng tình hình nguồn nhân lực hiện nay về quy mô, chất lượng và tác động của nó đối với quá trình phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

+ Thứ ba, xác định phương hướng, giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực trong vai trò để phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam trên phương diện Kinh tế chính trị

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên những lý luận phổ biến hiện nay về nguồn nhân lực, về kinh tế tri thức gắn với những đặc điểm, tình hình hiện nay của nguồn nhân lực Việt Nam, mối quan hệ giữa chúng và dựa trên những đòi hỏi bức thiết của xu thế phát triển kinh tế tri thức

- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, luận văn chú trọng sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp biện chứng và các phương pháp khác như các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, hệ thống hoá để làm rõ thêm những vấn đề cần phải phân tích

6 Đóng góp và ý nghĩa của luận văn

Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực và kinh tế tri thức, luận văn khắc hoạ vai trò của nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức như là một đặc trưng mới, một chức năng mới của nguồn nhân lực Và từ đó, luận văn đề ra một số định hướng, giải pháp mới trong tiến trình đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm ba chương:

Trang 9

Chương 1: Kinh tế tri thức và những yêu cầu về nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức

Chương 2: Tình hình nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thời gian qua

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010

Trang 10

Chương 1 KINH TẾ TRI THỨC VÀ NHỮNG YấU CẦU

VỀ NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

1.1 Kinh tế tri thức và những yêu cầu của nó đối với nguồn nhân lực

1.1.1 Một số quan niệm khác nhau về kinh tế tri thức

Theo quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài người, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển đi lên Các nền kinh tế lạc hậu, thấp kém trước đó được thay bởi những nền kinh tế đi sau đạt trình độ phát triển cao hơn Khởi đầu, kinh

tế tự nhiên, săn bắt hái lượm đã được thay bằng nền kinh tế nông nghiệp Và đến lượt kinh tế nông nghiệp cũng trở nên lạc hậu nhường chỗ cho nền kinh tế đại công nghiệp với quy mô, năng suất vượt trội Và có một số quan điểm cho rằng sau kinh tế công nghiệp là xã hội hậu công nghiệp

Ngay từ năm 1973, D.Bell nhà xã hội học Mỹ đã đưa ra khái niệm “xã hội hậu công nghiệp” Năm 1980 A.Top-phơ-lơ bàn luận về kinh tế hậu công nghiệp Năm 1982 G Nei-dơ-bet nhà kinh tế học ngươì Mỹ đưa ra khái niệm “kinh tế thông tin” Năm 1986 các nhà kinh tế học Anh đưa ra khái niệm “kinh tế kỹ thuật cao” Đến năm 1990, lần đầu tiên Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm “kinh tế tri thức” Trong tất cả các khái niệm trên tri thức đều được khẳng định có một vai trò đặc biệt quan trong Năm 1995, tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế tri thức”

Thuật ngữ “kinh tế tri thức” xuất phát từ cụm từ tiếng Anh: “knowledge economy”, bên cạnh đó còn một số thuật ngữ khác cũng được sử dụng nhưng ít phổ biến hơn Trong đó, thuật ngữ nền kinh tế dựa trên tri thức (knowledge based economy) có mức độ phản ánh rộng rãi hơn, gần với “kinh tế tri thức” hơn

Trang 11

Mặt khác, từ kinh tế tri thức nhưng theo những phương diện tiếp cận khác nhau mà có nhiều khái niệm khác như: kinh tế tri thức là nền kinh tế mới nhất, mới nên người ta cũng gọi là nền kinh tế mới (new economy); kinh tế tri thức đặc biệt coi trọng việc học tập nên có người gọi là nền kinh tế học hỏi (learnring economy); kinh tế tri thức coi trọng thông tin, cần nhiều thông tin, sử dụng kỹ thuật số nên còn có những thuật ngữ nền kinh tế mạng (digital economy), xã hội thông tin (information society)…

Kể từ đó kinh tế tri thức được quan tâm bàn luận rất nhiều trong giới nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam Kinh tế tri thức được ghi nhận, nhắc đến, bàn luận trong nhiều hội thảo khoa học, bài viết, cuốn sách, và cả trong văn kiện Đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam Vậy, kinh tế tri thức là gì?

“Nền kinh tế tri thức” hay khái niệm “kinh tế tri thức” là đối tượng nghiên cứu còn khá mới mẻ không những ở Việt Nam mà còn với cả thế giới Nó có vai trò đặc biệt nên được giới nghiên cứu chú ý bàn luận Có nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau về nền kinh tế tri thức, còn có quan điểm cho rằng hiện nay chưa xuất hiện cái gọi là kinh tế tri thức Vì thế, đặt vấn đề nghiên cứu, tiếp cận là chưa cần thiết

Có quan điểm cho rằng: kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó tin học

và công nghệ thông tin phát triển sâu rộng Quan điểm khác thì lý giải rằng: đó là nền kinh tế mà công nghệ sinh học giữ vai trò chủ đạo Hay có một quan điểm khác giải thích: kinh tế tri thức là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở một nền văn hoá tiên tiến và ở đó người dân hưởng thụ với trình độ cao Trên đây chỉ là những cách hiểu khác nhau về nền kinh tế tri thức, nó chưa chỉ ra được những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức Những ý kiến phản biện như của tác giả Lê Huy Thục cho rằng: trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay việc một quốc gia sử dụng công nghệ sinh học, tin học hoá hay cả hai một cách sâu rộng trong sản xuất nông nghiệp nhưng chỉ có thế thì chưa thể coi là đã có được kinh

Trang 12

ưu đãi, chỉ cần bán nguyên liệu thô cũng trở nên giàu có, khắp nơi người dân đều

có điều kiện sử dụng những hàm lượng tri thức, chất xám trong các sản phẩm thô rất thấp nên nền kinh tế như vậy không được coi là kinh tế tri thức (hoặc là tiếp cận được với kinh tế tri thức)

Các quan điểm trên chưa chính xác bởi đã đồng nhất nền kinh tế sử dụng công nghệ cao với nền kinh tế tri thức; tri thức về khoa học công nghệ đã tách ra khỏi tri thức rộng lớn của con người cũng như tách rời khoa học, công nghệ ra khỏi môi trường kinh tế, văn hoá và xã hội nói chung

Có một định nghĩa khác khái quát hơn của tác giả Nguyễn Ngọc Thành:

“kinh tế tri thức là hình thái phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế hàng hoá tư bản, trong đó, công thức hoạt động cơ bản:Tiền-hàng-tiền được thay thế bằng công thức Tiền - tri thức - tiền” [22] Định nghĩa này có điều mới là chỉ ra được vai trò quan trọng của tri thức trong nền kinh tế mới song ở đây nó mới chỉ

đề cập đến tri thức trong môi trường kinh doanh với tri thức là một dạng hàng hoá cao cấp, dùng tiền mua đem về sử dụng để kiếm được lợi nhuận lớn hơn số tiền ban đầu bỏ ra Định nghĩa này chưa bao quát được vấn đề bởi tri thức không chỉ tác động đến môi trường kinh tế mà trong nền kinh tế tri thức, tri thức còn nằm trong sự tương tác với môi trường văn hoá, xã hội, giáo dục…

Năm 1996, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra một định nghĩa đơn giản nhưng bao quát về kinh tế tri thức trong báo cáo có tên:

“Kinh tế dựa trên tri thức” Theo đó, “kinh tế tri thức là một nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức” hoặc “kinh tế tri thức là kinh tế trong đó tri thức đóng vai trò then chốt đối vối sự phát triển loài người”

Định nghĩa này có tính khái quát cao, khắc phục hạn chế của nhiều định nghĩa kể trên; nó vừa cho thấy vị trí, vai trò của tri thức trong nền kinh tế tri thức vừa chỉ ra được mối quan hệ giữa tri thức và quá trình phát triển kinh tế xã hội của loài người Đồng thời định nghĩa này đã cho thấy vai trò, tầm quan trọng của

Trang 13

nguồn nhân lực cụ thể là nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển kinh

tế tri thức

Trước đây khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển nền kinh tế tự nhiên còn thống trị thì sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tài nguyên thiên nhiên được ưu đãi và lực lượng lao động thủ công Quốc gia nào không sở hữu được nhân tố đó thì không thể có điều kiện để phát triển kinh tế

Ngày nay, thời kỳ bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ, có những nước nghèo hoặc thậm chí rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động không đông song lại đạt được tốc độ phát triển kinh tế rất cao trong nhiều thập kỷ, trở thành những quốc gia có nền kinh tế phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore… Nhân tố quyết định cho sự thành công đó chính

là nguồn nhân lực chất lượng cao Trong khi các quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên khai thác ngày càng cạn kiệt nguồn lực tự nhiên của mình thì nguồn nhân lực chất lượng cao lại càng có điều kiện phát triển mạnh Với ưu thế rõ rệt của mình trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nguồn nhân lực được rất nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu

Nguồn nhân lực là một khái niệm phức tạp, trong quá trình vận động và phát triển nó chịu sự tác động của những qui luật sinh tử tự nhiên và những qui luật xã hội Bởi vậy, khái niệm nguồn nhân lực được tiếp nhận dưới nhiều góc

độ

Thứ nhất, theo thuyết lao động xã hội, gần gũi với đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị thì nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho nền sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực con người cho sự phát triển Như vậy, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư của quốc gia Hoặc nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, bao gồm tất cả các cá nhân trong độ tuổi lao động tham gia vào quá trình lao động được sử dụng trong quá trình lao động

Trang 14

Thứ hai, theo cách tiếp cận của môn kinh tế học phát triển thì nguồn nhân lực là nguồn lực tạo động lực cho sự phát triển Nền kinh tế tăng trưởng phát triển hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc cung ứng nguồn nhân lực theo yêu cầu của nền kinh tế

Thứ ba, theo thuyết về vốn con người thì nhân tố con người trong nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất, đứng trước các nguồn lực vật chất khác Bởi vậy, việc đầu tư cho nguồn nhân lực theo thuyết này là rất quan trọng Nhà kinh tế học người Mỹ đạt giải Nobel năm 1992, Gang Baken cho rằng: không có một khoản đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu

tư vào nguồn nhân lực Theo một nghiên cứu được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố thì khi đầu tư vào các ngành sản xuất vật chất tỷ lệ thu hồứi vốn chỉ đạt 13% tổng vốn đầu tư trong khi đầu tư cho giáo dục tiểu học, tỷ lệ thu hồi vốn đạt 24%, giáo dục trung học là 17%, giáo dục cao đẳng đại học là 14% Tổng vốn đầu

tư cho kinh nghiệm phát triển của những quốc gia có tốc độ phát triển thần kỳ thời gian qua cho thấy: chìa khoá cho sự thành công vượt bậc đó không phải là nguồn lực tự nhiên, nguồn lực tài chính hay các nguồn lực vật chất khác mà chính là nguồn nhân lực có chất lượng cao Do vậy, việc đầu tư để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đang ngày càng được thế giới quan tâm Tất nhiên Bên cạnh nguồn nhân lực, cũng cần phải đầu tư vào các nguồn vốn vật chất tương ứng

Thứ tư, theo quan niệm của Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) thì nguồn nhân lực là tổng thể những năng lực bao gồm năng lực thể chất và năng lực trí tuệ của con người được huy động vào quá trình sản xuất Nguồn năng lực đó của con người gộp thành nguồn nội lực quan trọng hàng đầu của mọi quốc gia Những quốc gia có dân số đông sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia mình

Trang 15

Thứ năm, ở Việt Nam theo quan điểm được sử dụng rộng rãi thì nguồn nhân lực là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và sức khoẻ, năng lực phẩm chất, tác phong làm việc

Như vậy, có nhiều quan điểm cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực trong đó những quan điểm gần gũi với Việt Nam đều nhấn mạnh tới năng lực lao động, năng lực làm việc hay là năng lực thể chất, tinh thần và trí tuệ tồn tại trong mỗi con người của lực lượng lao động xã hội Chất lượng của nguồn nhân lực vì thế sẽ phụ thuộc vào năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động Phát triển nguồn nhân lực, bên cạnh quan tâm phát triển số lượng chính là việc phát triển khả năng của năng lực thể chất, năng lực tinh thần, năng lực trí tuệ của toàn bộ lực lượng lao động xã hội

1.1.2 Yêu cầu của kinh tế tri thức đối với phát triển nguồn nhân lực

1.1.2.1 Phát triển nguồn nhân lực phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đây là một trong những yêu cầu quan trọng cần phải chú ý khi phát triển nguồn nhân lực bởi vì ngay từ khi thực hiện tiến trình CNH-HĐH rút ngắn cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của ngành nông nghiệp

Theo đó, tỉ lệ lao động làm việc trong những ngành này cũng phải có sự thay đổi tương ứng Tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm trong sự so sánh tương đối với công nghiệp và dịch vụ thì số lượng lao động có thể giảm nhưng do sự tiến

bộ của khoa học công nghệ lượng giá trị của nông nghiệp tạo ra có thể còn lớn hơn, sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao hơn, sức cạnh tranh tốt hơn Muốn được như vậy, đương nhiên lao động ngành nông nghiệp phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn, nhiều trí tuệ hơn Tương tự, lao động nhóm ngành công nghiệp, dịch vụ cũng phải tăng lên về số lượng và chất lượng mới có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 16

Đây chính là một trong những yêu cầu quan trọng đối với việc phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức bởi nếu quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực không tương thích về số lượng và chất lượng so với yêu cầu về nhân lực của nền kinh tế sẽ dẫn tới những hậu quả lâu dài cho đất nước Nguồn nhân lực có trình

độ được đào tạo không đủ, không đáp ứng được yêu cầu phát triển thì sẽ không khai thác, sử dụng được hết các nguồn lực vật chất của xã hội, tiềm năng phát triển không được giải phóng gây ra sự lãng phí, hạn chế sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Ngược lại, nếu như công tác dự báo nhu cầu nhân lực không chính xác, đào tạo vượt quá nhu cầu về lao động sẽ gây lãng phí cho nguồn lực của xã hội trong điều kiện nguồn nhân sách dành cho giáo dục đào tạo còn nhiều hạn chế như hiện nay Ngoài ra, nguồn nhân lực đã qua đào tạo mà không có việc làm có thể dẫn tới một số tác động tiêu cực khác cho xã hội Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực phải gắn liền với công tác dự báo chính xác , theo kịp với yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin

Từ những năm cuối của thế kỷ XX, công nghệ thông tin phát triển mạnh

mẽ làm thay đổi mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, làm thay đổi và xuất hiện những ngành nghề mới, cách thức tư duy quản lý mới

Các sản phẩm của công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Công nghệ thông tin đã làm xoá mờ các khoảng cách về địa lý, thời gian làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn

ra nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn

Trong bối cảnh đó, dù muốn hay không người lao động, nhất là lao động

có trình độ chuyên môn cao đều phải chịu sự ảnh hưởng của công nghệ thông tin; phải tiếp xúc và sử dụng các sản phẩm, kỹ thuật của công nghệ thông tin Điều đó đòi hỏi đội ngũ nhân lực phải được đào tạo đến một trình độ chuyên

Trang 17

môn nhất định để có thể khai thác các thành tựu của công nghệ hiện đại một cách

có hiệu quả Đây chính là một trong những yêu cầu quan trọng mà việc phát triển

mà nguồn nhân lực phải hướng đến

1.1.2.3 Phát triển nguồn nhân lực phải đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá

và hội nhập kinh tế quốc tế

Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh

mẽ đã làm mờ đi các biên giới quốc gia Lao động, các nguồn vốn, công nghệ và

kỹ năng quản lý tiên tiến hiện đại có thể dễ dàng tiếp cận với các quốc gia, các chủ thể của hoạt động sản xuất kinh doanh hơn bao giờ hết Quá trình đó đòi hỏi phải có một lực lượng đông đảo nhân lực có trình độ tay nghề chuyên môn cao,

có kỹ năng tiếp nhận, xử lý và ứng dụng tri thức, công nghệ mới cũng như khả năng hoà nhập vào môi trường làm việc quốc tế

Sự mở rộng của thị trường lao động đã mở ra nhiều cơ hội lựa chọn cho người lao động Chủ sử dụng lao động của họ có thể là các doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam hoặc tại bất kỳ một quốc gia, vùng lãnh thổ nào trên thế giới Mỗi năm Việt Nam xuất khẩu hàng chục ngàn lao động và chuyên gia đi làm việc tại các quốc gia, hầu hết có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam và họ nhận được mức lương cao hơn

so với cùng vị trí làm việc tại Việt Nam Nguồn ngoại tệ gửi về nước hàng năm lên tới hàng tỷ USD Đội ngũ lao động này còn được tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến để khi trở về nước họ trở thành những lao động lành nghề đóng góp năng lực trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động trong nước cũng như quốc tế đòi hỏi người lao động, nâng cao được sức cạnh tranh của mình từ học vấn, trình độ chuyên môn, tác phong đến phẩm chất đạo đức, lối sống công nghiệp mới có thể tìm được vị trí xứng đáng Lao động Việt Nam khi ra làm việc ở nước ngoài thường được đánh giá cao ở khả năng nhanh

Trang 18

nhẹn, dễ thích nghi, cần cù chịu khó nhưng còn thiếu tác phong công nghiệp, tính kỷ luật và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ yếu Đối với lao động trong nước thì hiện nay được đánh giá là còn thiếu công nhân kỹ thuật lành nghề; Bộ phận đã qua đào tạo thì lại chưa đáp ứng được yêu cầu làm việc thực tế Còn với nhóm nhân lực trí tuệ như các nhà quản lý cao cấp, kỹ sư công nghệ thông tin thì được coi là thiếu về số lượng và yếu về chất lượng Điều đó đã dẫn tới một thực tế có nhiều chủ doanh nghiệp phải đưa nhân lực cao cấp từ nước ngoài vào Việt Nam làm việc Tình hình nêu trên đòi hỏi công tác phát triển nguồn nhân lực để tiếp cận, phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam phải được đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng hiện nay

1.2 Đặc điểm và nội dung phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức

1.2.1 Đặc điểm của nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Thứ nhất, nguồn nhân lực phải được đào tạo với trình độ chuyên môn nhất

định, có phẩm chất trí tuệ Đây được coi là đặc điểm nổi bật nhất của nguồn nhân lực phục vụ cho tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Bởi có trải qua quá trình đào tạo, có phẩm chất trí tuệ thì mới có khả năng sáng tạo, áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật để sáng chế ra các công nghệ, sản phẩm mới Nguồn nhân lực phải có khả năng thu thập, xử lý thông tin, có sự nhạy bén, thực sự làm chủ được kỹ thuật, công nghệ hiện đại Ngoài ra nguồn nhân lực đó phải có khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghệ nghiệp, có kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn như câu ca dao “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề” đã khẳng định

Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi người lao động làm việc

ở vị trí nào cũng phải tinh thông nghiệp vụ: Người đầu bếp thì phải nấu ăn ngon, thầy thuốc thì phải giỏi trị bệnh, người công nhân thì phải giỏi ngành nghề…

Trang 19

Điều đó càng thể hiện rõ trong điều kiện hiện nay khi chúng ta tiến hành sự nghiệp CNH-HĐH với sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và sự chuyên môn hoá ngày càng cao của người lao động

Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự chuyển dịch lao động quốc tế cũng như công nghệ kỹ thuật hiện đại dẫn tới sự cạnh tranh quốc tế giữa những người lao động để giành được những vị trí làm việc tốt Bởi vậy người lao động phải có khả năng làm việc thực

tế, phải có khả năng xử lý các vấn đề phát sinh trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và của cách mạng khoa học công nghệ; người lao động còn phải có năng lực tham gia hoạch định chính sách đưa ra giải pháp và tổ chức thực hiện quản lý sản xuất kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường và phân công lao động quốc tế Những khả năng đó chỉ có thể có từ nguồn nhân lực có tri thức,

có trí tuệ và đã được đào tạo Như vậy, nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức phải là nguồn nhân lực có trí tuệ, có tri thức khoa học và được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật

Thứ hai, nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức có tính quốc tế hoá cao

Từ khi công nghệ thông tin phát triển bùng nổ, nhất là với sự phát triển của Internet, đã làm cho không gian, thời gian không chỉ trong phạm vi quốc gia

mà trên phạm vi toàn cầu đã bị rút ngắn, thu hẹp khoảng cách Các nhân tố tri thức, công nghệ, vốn, lao động…không còn bị bó hẹp trong biên giới một quốc gia làm cho hoạt động kinh tế mang tính toàn cầu Sự chuyển dịch lao động quốc

tế cũng như công nghệ kỹ thuật hiện đại ngày càng mạnh mẽ dẫn tới sự cạnh tranh quốc tế giữa những người lao động Điều đó bắt buộc người lao động phải học tập, trang bị kiến thức kỹ năng về chuyên môn, kỹ năng sử dụng ngoại ngữ mới có thể đáp ứng được yêu câù trong tình hình hiện nay

Thứ ba, đặc điểm quan trọng của nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri

thức là có tính sáng tạo cao

Trang 20

Sáng tạo là một đặc điểm quan trọng và nổi bật của nguồn nhân lực hiện đại Sáng tạo là cơ sở để phát triển lực lượng sản xuất của xã hội đồng thời cũng

là động lực cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế để thông qua đó kinh tế phát triển Cho dù ở bất kỳ hình thái kinh tế nào thì sự sáng tạo của người lao động đều có vị trí đặc biệt quan trọng Đối với kinh tế tri thức thì sức sáng tạo của nguồn nhân lực lại càng được coi trọng và sáng tạo có thể được coi như một tiêu chí để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, đánh giá sự phát triển cuả kinh tế tri thức

Nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo mới có thể đưa ra các phương pháp, cách thức mới để giải quyết một vấn đề cũ hay đưa ra một vấn đề mới, giải pháp mới Trong thực tế, năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực có thể được thể hiện qua các cải tiến, các giải pháp hữu ích hay phát minh ra sản phẩm mới, dịch vụ hay công nghệ quản lý mới

Trong kinh tế tri thức, KH-CN có tốc độ phát triển và thay thế rất cao, sản phẩm có vòng đời ngắn, thậm chí công nghệ phát minh sáng chế cũng có vòng đời ngắn Phát triển nguồn nhân lực nếu như không có nguồn nhân lực sáng tạo thì không những không sáng tạo ra được công nghệ, sản phẩm mới mà còn không làm chủ được những công nghệ, kỹ thuật trung bình của xã hội và như vậy

sẽ dần đào thải ra khỏi đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao

Như vậy, sáng tạo là yếu tố, đặc điểm không thể thiếu được của nguồn nhân lực và có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công cũng như trình độ phát triển của kinh tế tri thức

1.2.2 Nội dung

- Phát triển nguồn nhân lực để phát triển nguồn tri thức

Thời đại ngày nay, khoa học công nghệ phát triển vượt bậc cùng với làn sóng toàn cầu hoá đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử: nền kinh tế thế giới bước

Trang 21

nghiệp, cơ khí hoá sang nền kinh tế dựa trên tri thức Lúc này tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, và việc phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia đóng vai trò sống còn đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Các quốc gia phát triển có nền kinh tế dựa trên một nền sản xuất công nghệ cao, sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Cơ sở vật chất

kỹ thuật như tự động hoá, tin học hoá đã được hình thành đáp ứng đòi hỏi của kinh tế tri thức Lực lượng sản xuất phát triển thể hiện bằng việc xuất hiện một

số lượng đông đảo những lao động trí tuệ ở các nước phát triển và cả những nước công nghiệp mới (NICs), các nước đang phát triển

Sự chuyển biến có tính chất bước ngoặt này của lực lượng sản xuất thế giới khiến cho bất cứ quốc gia nào khi tiến hành công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá và đặc biệt muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn thì việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao để tiếp cận, phát triển kinh tế kỹ thuật giữ một vai trò cực kỳ quan trọng

Phát triển nguồn nhân lực bao gồm hai nội dung phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng nguồn nhân lực Về số lượng nguồn nhân lực, mỗi thời

kỳ, mỗi nền kinh tế có những yêu cầu khác nhau về số lượng nguồn nhân lực Thời kỳ kinh tế phát triển bùng nổ thì số lượng lực lượng lao động mà nền kinh

tế đòi hỏi tăng cao và đi cùng với nó là chất lượng của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện thông qua hiệu quả của quá trình lao động do nguồn lao động thực hiện Các hoạt động lao động của con người trong quá trình lao động này được phân thành hai nhóm các hoạt động

Thứ nhất, người lao động thực hiện những hoạt động đã được lặp đi lặp lại

nhiều lần như những kỹ năng đã được học tập để sản xuất ra các sản phẩm theo khuôn mẫu tính sẵn

Thứ hai, người lao động sáng tạo ra các kỹ thuật công nghệ sản xuất mới

(trước đó chưa có một khuôn mẫu tính sẵn nào) Những sản phẩm của quá trình

Trang 22

lao động này chứa đựng một hàm lượng giá trị rất cao bởi vì người lao động phải huy động một năng lực thể chất, năng lực tinh thần, trí tuệ, đạt đến một mức độ rất cao Con người lao động phải có đủ trình độ để tìm kiếm, phát hiện thông tin mới, tri thức mới; từ đó vật chất hoá nó biến nó thành các sản phẩm mới, công nghệ mới

Như vậy, phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức yêu cầu: (i) về số lượng phải cung ứng đủ số lượng nguồn nhân lực theo nhu cầu tăng trưởng và phát triển nền kinh tế; (ii) về chất lượng cần phát triển năng lực thể chất, tinh thần sáng tạo, khả năng tìm kiếm phát hiện và vật chất hoá thông tin thành sản phẩm mới công nghệ mới Trong số đó, phát triển nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo, năng lực đổi mới thể hiện ra kết quả lao động là những sản phẩm công nghệ mới là nội dung quan trọng nhất của việc phát triển nguồn nhân lực để tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức

Trang 23

1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức của một số nước

Cùng nằm trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á một số quốc gia có nền kinh tế phát triển thần kỳ, có điền kiện tự nhiên, kinh tế và văn hoá xã hội gần gũi với Việt Nam Việc nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm phát triển kinh tế đặc biệt là kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực để tiếp cận phát triển nền kinh tế tri thức có ý nghĩa quan trọng, thông qua đó chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm Trong số các quốc gia đó có thể kể đến Hàn Quốc, Trung Quốc

1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Từ một nước kém phát triển, nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu những năm 60 của thế kỷ 20, nhưng nhờ có tầm nhìn chiến lược và chính sách đúng đắn về phát triển con người nên Hàn Quốc đã làm nên một cuộc bứt phá được gọi là “sự thần

kỳ Đông Á” trở thành một nước công nghiệp phát triển Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Hàn Quốc tập chung chủ yếu vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua hai nội dung chính:

Thứ nhất: coi giáo dục đào tạo, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực chất lượng

cao là nhân tố quan trọng hàng đầu phát triển nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức

Từ bậc tiểu học, cũng giống như các nền kinh tế phát triển khác Hàn Quốc

đã hoàn thành phổ cập hoá tiểu học trước khi tiến hành CNH-HĐH Ngay từ những năm 60, tỷ lệ dân số biết chữ của Hàn Quốc đạt 80%, gần 90% dân số trong độ tuổi tiểu học đã hoàn thành chương trình tiểu học Năm 1970, tỷ lệ hoàn thành chương trình tiểu học đã đạt 100%

Đối với cấp học cao đẳng và đại học, Hàn Quốc cũng có tỷ lệ sinh viên học đại học rất cao: 80% số học sinh phổ thông trung học đã học đại học (số liệu 1995)

Trang 24

Hàn Quốc chủ trương tuyển chọn bồi dưỡng người tài rất rõ ràng ngay từ rất sớm chính sách này được thực hiện một cách có hệ thống Các học sinh có năng khiếu, có năng lực đặc biệt được tuyển chọn vào các lớp năng khiếu Tốt nghiệp phổ thông trung học, những sinh viên suất sắc được đưa ra nước ngoài học tập, tiếp thu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của những nước phát triển Chính nhờ vậy, số sinh viên du học nước ngoài của Hàn Quốc rất đông trên thế giới chỉ xếp sau Trung Quốc Lực lượng du học sinh có trình độ cao học đã góp phần quan trọng nâng cao trình độ khoa học công nghệ Hàn Quốc Ngay từ những năm 80 Hàn Quốc đã hoàn thành giai đoạn mô phỏng tiếp thu công nghệ tiên tiến của nước ngoài, chuyển sang giai đoạn sáng tạo công nghệ mới Cùng với đó, năng lực tư duy quản lý hiện đại của nước ngoài được áp dụng linh hoạt, sáng tạo tại Hàn Quốc Nhờ đó, nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng ổn định 8% trong suốt thời gian 45 năm, cho tới cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997-1999

Ngân sách nhà nước của Hàn Quốc dành cho giáo dục không ngừng tăng lên qua các năm Năm 1960, ngân sách dành cho giáo dục đào tạo chiếm tỷ lệ 9-10%; thập niên 80 là17%; đến thâp niên 90 đã tăng lên mức 27-29% ngân sách (tương đương 3.5-3.7%GDP)

Giáo dục phổ thông ở Hàn Quốc chủ yếu do các trường công lập giảng dạy, có khoảng 70% số học sinh theo học các trường này Các học sinh ở nông thôn Hàn Quốc được chính phủ miễn học phí Chính vì thế, tỷ lệ học sinh theo học phổ thông trung học ngay từ những năm 1985 đã đạt hơn 90% (So sánh với Hồng Kông có cùng trình độ phát triển nhưng tỷ lệ học sinh đi học Trung học phổ thông chỉ đạt 69%) Bù lại lĩnh vực giáo dục phổ thông khu vực tư nhân ở Hàn Quốc rất tích cực tham gia vào giáo dục đại học và dạy nghề, tỷ trọng của khu vực này có lúc chiếm tới 70-90% Tuy vậy, bên cạnh những tích cực do khu vực tư nhân mang lại cho giáo dục và dạy nghề ở Hàn Quốc thì còn có những

Trang 25

hạn chế khác mang lại: do tư nhân thống lĩnh giáo dục đại học nên mức học phí rất cao vì vậy nhiều học sinh gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn ít có cơ hội theo học đại học

+ Việc sử dụng lao động có trình độ cao của Hàn Quốc

Hàn Quốc không áp dụng hình thức thuê lao động làm việc đến suốt đời như ở Nhật Bản Lao động làm việc không tốt sẽ bị sa thải ngay hoặc người làm công cũng dễ dàng chuyển tới làm việc cho những công ty khác trả lương cao hơn, điều kiện lao động tốt hơn Điều này tạo ra một áp lực cạnh tranh nâng cao trình độ rất cao giữa các nhân viên cũng như sự cạnh tranh giữa chính sách đãi ngộ nhân tài của chủ sử dụng lao động Ngoài ra, mức trả lương rất cao tại Hàn Quốc đối với lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao cũng là một động lực lớn thu hút nhân tài, khích lệ người lao động nâng cao trình độ Mức tiền lương của người có trình độ đại học cao gấp 3-4 lần lao động chỉ có trình độ PTTH và mức tiền lương còn tăng lên nhiều lần tuỳ theo sự thay đổi của bằng cấp, trình độ chuyên môn…

Chính sách thu hút nhân tài từ nước ngoài trở về Hàn Quốc làm việc cũng rất có hiệu quả Ngay từ năm 1968 Hàn Quốc đã bắt đầu thực hiện chính sách:

“kế hoạch hoá đưa nhân tài về nước”, theo đó có rất nhiều ưu đãi như: nhà ở, môi trường làm việc hiện đại, trả lương cao… Mức lương mà Hàn Quốc trả cho lao động có trình độ cao từ các nước đang phát triển về làm việc có thể cao gấp 20-40 lần mức lương cũ Thậm chí Hàn Quốc cũng đặt các văn phòng chuyên trách tại nước ngoài, cử các đoàn công tác ra nước ngoài kêu gọi các tài năng Hàn Quốc trở về nước

Nhờ những chính sách đúng đắn, linh hoạt như vậy mặc dù là quốc gia thiếu lao động, phải nhập khẩu lao động nhưng nguồn nhân lực của Hàn Quốc lại

có trình độ tri thức cao, đội ngũ kỹ sư và công nhân kỹ thuật đạt mức độ đẳng cấp thế giới

Trang 26

Tuy vậy, chính sách sử dụng nguồn nhân lực của Hàn Quốc cũng có những bất cập do tư tưởng “trọng nam khinh nữ” Phụ nữ Hàn Quốc đến bậc đại học không còn cơ hội học tập như nam giới ở cấp học nay tỷ lệ nữ chỉ chiếm 60% so với nam Tỷ lệ này là rất thấp so với khu vực và thế giới Sự bất bình đẳng trong lao động nữ còn thể hiện khi xin việc làm cũng như mức lương và cơ hội thăng tiến Điều này vô hình chung đã bỏ phí nguồn nhân lực quan trọng khi Hàn Quốc vẫn phải nhập khẩu lao động từ nước ngoài

Thứ hai: coi việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, công

nghệ mới vào việc sản xuất kinh doanh như một biện pháp quan trọng để phát triển tay nghề, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực chất lượng cao

Việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh đòi hỏi nguồn nhân lực phải có một trình độ khoa học kỹ thuật tương ứng mới có thể tiếp nhận và quản lý công nghệ Khi trình độ của người lao động phát triển đến một mức độ nhất định, nó lại là cơ sở cho việc tiếp thu công nghệ mới cao hơn, hiện đại hơn Đây cũng là một trong những kinh nghiệm quan trọng của Hàn Quốc

để phát triển được một đội ngũ nguồn nhân lực làm chủ các ngành công nghiệp quan trọng như: sản xuất thép, xe hơi, đóng tàu, điện tử… ở đẳng cấp của những quốc gia công nghiệp phát triển Đó cũng là kết quả của chính sách quan tâm đầu

tư thích đáng cho các hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển) của Hàn Quốc Hiện nay mức đầu tư cho R&D của Hàn Quốc ở mức cao, chiếm 3% GNP

Đến năm 1997, Hàn Quốc thông qua Bảng đổi mới khoa học – công nghệ với tham vọng đến đầu thế kỷ XXI đưa trình độ R&D ngang tầm với các quốc gia nhóm G7, tạo điều kiện phát triển các ngành công nghệ cao Đến năm 2002, Hàn Quốc đã đầu tư 10.2000 tỷ won vào kết cấu hạ tầng thông tin; 466 tỷ won được đầu tư vào mạng thông tin siêu tốc Với sự đầu tư mạnh mẽ như vậy tin học

ở Hàn Quốc đã được sử dụng rất phổ thể hiện qua sự phát triển của chính ngành điện tử, thương mại điện tử

Trang 27

Năm 1997 có 1,6 triệu người sử dụng Internet, đến năm 1999 có 10,8 triệu người, năm 2000 lên tới 16,4 triệu và năm 2006 có tới 29 triệu người Hàn Quốc

sử dụng Internet [41]

Việc đón đầu, tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới của Hàn Quốc cũng góp phần tạo ra cơ hội phát triển trình độ của đội ngũ lao động kỹ thuật cao của Hàn Quốc Điển hình như việc nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ CDMA (công nghệ truyền thông di động băng thông rộng định hướng miền thời gian ba chiều) do hãng QUANCOM, Mỹ phát minh ra đã biến nước này trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về công nghệ và dịch vụ CDMA Hiện nay, Hàn Quốc không những sản xuất các sản phẩm theo hướng công nghệ này để phục vụ thị trường Hàn Quốc mà còn xuất khẩu sản phẩm, công nghệ và chuyên gia lĩnh vực này tới cả các quốc gia khoa học kỹ thuật phát triển như Nhật Bản và Bắc

Mỹ (ở Việt Nam là mạng điện thoại di động S-phone) Hiển nhiên, qua đó số lượng nhân công Hàn Quốc làm việc với công nghệ này có trình độ đẳng cấp thế giới

Sự phát triển của công nghệ hiện đại đòi hỏi nguồn nhân lực phải có một trình độ chuyên môn kỹ thuật tương ứng Và để có nguồn nhân lực như vậy, Hàn Quốc đã quan tâm tới giáo dục và đào tạo từ rất sớm và ngay cả từ cấp học thấp nhất Bên cạnh đó việc sử dụng, khai thác nguồn nhân lực chất lượng cao hợp lý

là những kinh nghiệâm quý báu của Hàn Quốc trong việc phát triển NNL chất lượng cao để phát triển kinh tế tri thức mà Việt Nam có thể tham khảo

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu thực hiện công cuộc cải cách và gặt hái được những thành tựu kinh tế xã hội vang dội, thế giới bắt đầu chú ý và gọi đó là hiện tượng Trung Quốc

Từ năm 1978-2006, GDP của Trung Quốc tăng bình quân 8,6% một năm, thu nhập thực tế đầu người tăng 4,7% ở nông thôn; 5,8% ở thành thị; tốc độ tăng

Trang 28

GDP bình quân đầu người tăng trung bình 9,5%/năm Thậm chí trong thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997-1999 thì tốc độ tăng trưởng kinh

tế giai đoạn 1996-2000 vẫn đạt 8,3%/năm; thu ngân sách tăng 16,5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 67%

Đến năm 2006, theo Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (NBS) thì GDP của Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng 10,5%, đạt tổng giá trị GDP là 2500 tỷ USD, trở thành nền kinh tế đứng thứ 4 thế giới, chỉ xếp sau Mỹ, Nhật, Đức [23]

Những kết quả đạt được trên đây một phần nhờ vào chính sách phát triển chất lượng NNL Trung Quốc với quan niệm “sự nghiệp hưng suy mấu chốt là nhờ con người” Đây là những kinh nghiệm phát triển quý báu mà Việt Nam có thể tham khảo

+ Một là, chú trọng đầu tư cho giáo dục, đào tạo để phát triển nguồn nhân lực

Trung Quốc có tốc độ phát triển kinh tế cao, có những năm tốc độ tăng GDP đạt trên 2 con số, cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ chuẩn bị tiếp cận

và phát triển kinh tế tri thức đã đặt ra yêu cầu cho Trung Quốc phải phát triển giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển đang tăng cao

Trung Quốc coi giáo dục đào tạo là kế hoạch lớn cơ bản để thực hiện hiện đại hoá đất nước Theo đó, Trung Quốc đã thực hiện xong chương trình học mới, xây dựng chế độ học bổng nhân dân, xây dựng được nguồn nhân lực dự bị có chất lượng

Ngân sách dành cho giáo dục đào tạo của Trung Quốc không ngừng tăng lên qua các năm Những năm 70, tỷ lệ đầu tư cho giáo dục đào tạo là 1-2% GNP Đến những năm 80 tỷ lệ này tăng lên 3%, đến những năm 90 tỷ lệ này giảm xuống nhưng giá trị tuyệt đối lại tăng do thời kỳ nay GNP tăng rất cao Từ cuối những năm 90 đến nay tỷ lệ dành cho giáo dục đào tạo của Trung Quốc lại đạt 3% GNP

Trang 29

Ngoài ngân sách nhà nước, Trung Quốc còn thực hiện xã hội hoá giáo dục mạnh mẽ cho nên nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo không chỉ có vốn ngân sách nhà nước mà còn nguồn vốn vật vật chất, tài chính của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, xã hội, chính phủ các nước Nhờ đó mà Trung Quốc đa dạng hơn được nhiều loại hình đào tạo như:hệ thống các trường công lập, dân lập, trường dân lập có nhà nước hỗ trợ, các trường liên doanh liên kết với nước ngoài…

Cũng giống như Hàn Quốc, lượng học sinh ra nước ngoài học tập rất đông theo nhiều kênh khác nhau như: du học bằng ngân sách nhà nước; du học có học bổng của các tổ chức, các doanh nghiệp và chính phủ nước ngoài… Tính từ năm

1978 đến thời điểm hiện nay, Trung Quốc đã có hơn một triệu học sinh ra nước ngoài học tập và số lượng du học sinh vẫn tăng nhanh hằng năm, năm sau cao hơn năm trước Tuy vậy, Trung Quốc cũng phải đối mặt với hiện tượng chảy máu chất xám Một lượng lớn du học sinh đã không trở về nước làm việc, đặc biệt giai đoạn 1978-1984 có 230.000 sinh viên Trung Quốc ra nước ngoài học tập nhưng chỉ có 700.000 người về nước để làm việc Bên cạnh đó, một bộ phận nhân tài trong nước do tiền lương eo hẹp, điều kiện làm việc khó khăn cũng đi ra nước ngoài tìm việc làm

Tính ở thời điểm năm 1995, riêng ở nước Mỹ đã có 45.0000 sinh viên, cán

bộ Trung Quốc du học ở lại làm việc Tuy nhiên, hiện nay ở Trung Quốc quan điểm đối với vấn đề chảy máu chất xám cũng có những điểm mới Khi người ta cho rằng chính bộ phận có trình độ làm việc ở nước ngoài là nguồn cung cấp ngoại tệ cũng như khoa học công nghệ quan trọng cho Trung Quốc Bởi vậy, họ lại càng có điều kiện tốt hơn để học tập và nâng cao vốn tri thức, trình độ chuyên môn Đến khi cần trở về nước đây sẽ là lực lượng lao động chất lượng cao của Trung Quốc, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế của đất nước Thực tế

đã chứng minh quan điểm này hoàn toàn đúng đắn Cùng với chính sách ưu đãi

Trang 30

trải thảm đỏ trong nước, kế hoạch kêu gọi người tài, danh nhân Trung Quốc ở nước ngoài về nước ngoài về nước đầu tư kinh doanh và làm việc đã đánh đúng tâm lý quay về nguồn cội quê hương của nhiều thế hệ người Trung Quốc ở nước ngoài Làn sóng Hoa kiều trở về nước ngày một tăng, góp phần không nhỏ vào kết quả đưa nền kinh tế Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới

Bên cạnh những thành tựu to lớn như vậy, giáo dục và đào tạo của Trung Quốc cũng còn nhiều hạn chế như: chất lượng giáo dục và đào tạo chưa cao Theo thống kê năm 1991 của Ngân hàng thế giới, tỷ lệ số dân đến tuổi học cao đẳng đại học của Trung Quốc mới chỉ đạt 6,5% Trong khi tỷ lệ dân đến tuổi học đại học cao đẳng ở Hàn Quốc là 40%; Singapore 25%; HồngKông 18%;… Do phương pháp đào tạo còn nặng về nhồi nhét kiến thức mà chưa chú trọng phát huy tính tích cực của người học khi trong thực tế tính sáng tạo là một trong những tố chất quan trọng nhất của đội ngũ nhân lực tiếp cận, phát triển kinh tế tri thức ở Trung Quốc

+ Hai là, phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ để phát triển nguồn

nhân lực

Với quan điểm phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ để phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đến lượt nó, nguồn nhân lực chất lượng cao lại là cơ sở để nâng tầm trình độ của khoa học công nghệ, Trung Quốc rất chú trọng phát triển khoa học kỹ thuật Chính phủ ưu tiên đặc biệt cho những ngành khoa học mũi nhọn, xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, phổ biến thông tin để vật chất hoá tri thức trong thực tiễn

Năm 1999, Trung Quốc đã phóng thành công vệ tinh bốn lần, trong đó đặc biệt nhất là cuộc phóng thành công con tàu vũ trụ đầu tiên “Thần Châu” do chính Trung Quốc nghiên cứu chế tạo Đến năm 2003, Thần Châu 5 đã đưa người lên

vũ trụ, Trung Quốc trở thành một trong những cường quốc vũ trụ của thế giới

Trang 31

Ngoài ra, Trung Quốc cũng đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực sinh học, tin học, y học…

Trung Quốc còn thành lập ra quỹ khoa học tự nhiên cung cấp tài chính cho các nhà nghiên cứu Trung bình mỗi năm quỹ tài trợ cho hơn 30.000 dự án nghiên cứu cơ bản; 3000 dự án chủ chốt và 125 dự án cấp nhà nước Mỗi năm ngân sách của quỹ tăng 29,9%, cho thấy mức độ quan tâm của nhà nước tới kinh phí nghiên cứu khoa học Để tăng tính thực tiễn và hiệu quả kinh tế các dự án nghiên cứu đều được lồng ghép với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Ngay

từ tháng 3 năm 1986 Trung Quốc đã cho ra đời chương trình, kế hoạch phát triển

và nghiên cứu công nghệ cao quốc gia (Chương trình 863) Theo nội dung của kế hoạch này, thông tin, an ninh thông tin và vi điện tử sẽ đặc biệt được chú trọng Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chủ trương xây dựng vườn ươm doanh nghiệp, hỗ trợ các nhà khoa học đưa các thành tựu nghiên cứu khoa học vào ứng dụng trong thực tiễn Các phong trào này thu hút được rất đông các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp trong và ngoài Trung Quốc tham gia rộng rãi, tạo ra hiệu ứng tích cực, to lớn cho việc phát triển nguồn nhân lực

Với tham vọng đứng vào hàng ngũ các quốc gia phát triển trên thế giới vào năm 2050, Trung Quốc cần một lượng cán bộ khoa học công nghệ khổng lồ

Để đáp ứng nhu cầu đó, Trung Quốc ngoài đào tạo trong nước còn rất chú trọng đưa nhân tài ra nước ngoài đào tạo Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có nhiều chính sách ưu đãi thu hút người tài bằng các chương trình xây dựng nhà ở, nâng cao mức lương, thu nhập thực tế, tạo điều kiện làm việc thuận lợi Việc kêu gọi đội ngũ cán bộ du học sinh Trung Quốc ở lại các nước phát triển làm việc sau khi học xong hồi hương cũng rất thành công Năm 2002, Trung Quốc có 18.000 cán bộ, du học sinh hồi hương, tăng gấp 2 lần so với năm 2000 Đặc biệt, chiếm tới 90% số đó có học vị tiến sỹ hoặc thạc sỹ Năm 2006, số lượng du học sinh, cán bộ trở về Trung Quốc đạt con số kỷ lục 31.000 người [40]

Trang 32

Ngoài ra, mỗi năm Trung Quốc thu hút một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có năm lên tới hơn 50 tỷ USD Điều đó đồng nghĩa với việc công nghệ kỹ thuật tiên tiến cũng được đưa vào Trung Quốc và đương nhiên trình độ chuyên môn, tay nghề của lực lượng lao động tiếp nhận, sử dụng những kỹ thuật công nghệ đó cũng phải được nâng lên tương ứng Đây cũng chính là một kinh nghiệm của Trung Quốc để phát triển nguồn nhân lực có chất lương cao phục vụ cho việc tiếp cận, phát triển kinh tế dựa trên tri thức

Việc luân chuyển nhân tài cũng rất được Trung Quốc quan tâm, coi đó như biện pháp để khuyến khích tối đa sức sáng tạo của đội ngũ những nhà khoa học, giáo dục, làm phong phú hơn tri thức, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của đất nước

1.3.3 Một số bài học rút ra cho Việt Nam

Nguồn nhân lực để tiếp cận, phát triển kinh tế tri thức là nguồn nhân lực phải có tổng thể các yếu tố năng lực thể chất và tinh thần, có khả năng tìm kiếm, tiếp nhận và sáng tạo thông tin, vật chất hoá thông tin thành sản phẩm mới, công nghệ mới Vì thế, để tiếp cận phát triển thành công kinh tế tri thức thì việc phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hoá và tri thức hoá nền kinh tế quốc

tế là rất quan trọng Và nhân tố hàng đầu để phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là giáo dục và đào tạo Cho nên đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển

Việt Nam bắt đầu từ một xuất phát điểm thấp, đứng trong nhóm cuối cùng của các quốc gia phát triển Vì thế, để hội nhập thành công vào nền kinh tế quốc

tế, việc thực hiện CNH-HĐH rút ngắn và tiếp cận phát triển kinh tế tri thức là tất yếu khách quan Theo đó, nhu cầu nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực ngày càng cấp thiết Giải quyết nhu cầu đó, đòi hỏi phải cải cách, phát triển mạnh mẽ giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, nhấn mạnh đào tạo cao đẳng và đại học

Trang 33

Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực, phát triển kinh tế tri thức của Trung Quốc, Hàn Quốc cũng đã cho chúng thấy rằng: giáo dục đào tạo đặc biệt

là đào tạo đại học và sau đại học thông qua rất nhiều kênh khác nhau như: đào tạo bằng ngân sách nhà nước, tiền của cá nhân, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài… bằng nhiều hình thức như: đào tạo trong nước, đào tạo ở nước ngoài, thành lập các trường liên doanh… Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao cũng có thể thu hút từ nước ngoài, đội ngũ các nhà khoa học, cán bộ và du học sinh đã từng làm việc ở nước ngoài Để kêu gọi những người tài Hàn kiều thậm chí Chính phủ Hàn Quốc còn thành lập những văn phòng chuyên trách ở nước ngoài Kinh nghiệm xã hội hoá ngành giáo dục cũng được Hàn Quốc áp dụng rất thành công thể hiện qua tỷ trọng của khu vực

tư nhân cũng như trong kết quả đào tạo giáo dục Hàn Quốc Kinh nghiệm luân chuyển người tài, luân chuyển cán bộ ở Trung Quốc cũng là kinh nghiệm tốt với Việt Nam Những chính sách này vừa khơi gợi tài năng, sức cống hiến của nguồn nhân lực có trình độ vừa tránh được những trì trệ trong hoạt động Đó là những kinh nghiệm gần gũi và có thể tham khảo trong tiến trình thực hiện CNH-HĐH rút ngắn và tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam

Chương 2 TèNH HèNH NGUỒN NHÂN LỰC CHO PHÁT TRIỂN

KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

2.1.Tình hình phát triền nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thời gian qua

2.1.1 Tình hình phát triển năng lực thể chất, phẩm chất văn hoá tinh thần của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay

Như đã trình bày trong chương 1, nguồn nhân lực là bao gồm tổng hoà năng lực thể chất và năng lực tinh thần tồn tại trong cơ thể sống của người lao động Chất lượng nguồn nhân lực cao hay thấp không chỉ phụ thuộc vào năng

Trang 34

lực trí tuệ, năng lực tinh thần của người lao động mà còn do năng lực thể chất, sức khoẻ của bản thân người lao động quyết định Người lao động có tài năng, trí tuệ sáng tạo nhưng tài năng và trí tuệ đó không được đặt vào một cơ thể khoẻ mạnh thì người lao động đó cũng không thể phát huy được khả năng lao động, sáng tạo của mình được Bên cạnh đó, trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, nhịp sống hối hả của xã hội công nghiệp khiến cho người lao động phải chịu nhiều áp lực trong công việc cũng như trong cuộc sống Điều đó đòi hỏi người lao động phải có sức khoẻ tốt, sung mãn mới có thể đáp ứng tốt được yêu cầu của công việc Chính vì vậy năng lực thể chất của nguồn nhân lực là một trong những mục tiêu quan trọng của phát triển nguồn nhân lực Năng lực thể chất được thể hiện qua chỉ số chiều cao, cân nặng và các chỉ số khác

Từ những năm 90 của thế kỷ 20, nền kinh tế Việt Nam bước vào thời kỳ tăng trưởng và phát triển ổn định, điều kiện vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi cho sự cải thiện về chiều cao, cân nặng, tỷ lệ suy dinh dưỡng và tuổi thọ của người dân Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực nói riêng

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài KHXH 04-04 “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước” thì năm

1985 chiều cao trung bình của nam giới Việt Nam là 159,8cm, của nữ giới là 150,5cm Đến năm 2000, chiều cao của nam giới đã đạt 162,5cm và của nữ giới

là 152,3cm

Như vậy, sau 15 năm chiều cao của người Việt Nam cao thêm 2cm, đây là mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng trung bình của thế giới là cứ 10 năm tăng thêm 1cm

Theo một nghiên cứu khác của chương trình quốc gia mang tên “Nâng cao tầm vóc và thể trạng của người Việt Nam, góp phần phát triển giống nòi và phục

vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước” do Viện khoa học Thể dục Thể thao tiến

Trang 35

và cân nặng là 53,19kg, tăng 6,14cm so với năm 1975; chiều cao trung bình của

Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực thì tốc độ phát triển tầm vóc cơ thể của người Việt Nam còn rất chậm Nhật Bản thực hiện chương trình quốc gia nâng cao thể chất, tầm vóc cơ thể trong 20 năm, chiều cao của người Nhật đã tăng thêm 17cm, trung bình mỗi năm tăng 0,85cm Trong khi cũng với thời gian

20 năm, chiều cao của thanh niên Việt Nam mỗi năm chỉ tăng trung bình 0,24cm Nguyên nhân được giải thích là chương trình quốc gia về nâng cao thể chất, tầm vóc cơ thể của người Việt Nam chưa được thực hiện và có sự quan tâm đúng mức, chưa thực hiện được những giải pháp có tính chất đột phá như phát miễn phí sữa uống cho học sinh trong tất cả các trường học trên toàn quốc Theo nghiên cứu của GS.TS Aiyoshi (Nhật Bản) thì chiều cao của con người ngoài yếu tố di truyền thì có 2 nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đối với chiều cao là dinh dưỡng (tỷ trọng 31%) và chế độ luyện tập (chiếm tỷ trọng 20%)

Trong khi đó, dinh dưỡng trẻ em Việt Nam thể hiện qua tỷ lệ suy dinh dưỡng còn khá cao Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 44,9% năm 1995 xuống còn 33,1% năm 2000, và 30,1% năm 2002

Hiện nay Việt Nam còn nằm trong số các nước có mức sống thấp của thế giới Theo phân loại của Ngân hàng thế giới thì các nước có thu nhập thấp là mức 745 USD/ người Trong khi năm 2006, GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới chỉ đạt 725,3 USD/người/năm [23] Mức thu nhập thấp như vậy trong khi tốc độ tăng dân số còn cao, trình độ hiểu biết về dinh dưỡng và sức khoẻ lại

Trang 36

thấp nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng sống Điều kiện lao động trong nhiều cơ sở ở các ngành sản xuất cũng như trong một số cơ quan hành chính sự nghiệp của nước ta còn xấu, có nơi còn rất khắc nghiệt Môi trường lao động bị ô nhiễm nghiêm trọng, các yếu tố nguy hiểm, độc hại vượt quá ngưỡng giới hạn cho phép nhiều lần; tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp tăng Điều này cho thấy chất lượng dân số nói chung và chất lượng nguồn nhân lực nói riêng về mặt thể lực, sức khoẻ cũng như điều kiện lao động chưa được đảm bảo Nói cách khác, thu nhập thấp, đời sống khó khăn, dinh dưỡng thiếu thốn và thể lực hạn chế là hiện trạng chung của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay

Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam không chỉ đơn thuần là tổng thể của năng lực thể chất và năng lực trí tuệ mà còn phải nói đến đạo đức, tư tưởng, văn hoá nhân cách và tâm lý của người lao động Đó là những phẩm chất đạo đức, tinh thần có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nguồn nhân lực, nó có thể thúc đẩy tính tích cực và làm tăng hiệu quả lao động của con người hoặc ngược lại

Người Việt Nam vốn có truyền thống coi trọng phẩm chất đạo đức, nhân cách của con người Điều đó được thể hiện qua các câu tục ngữ như “Cái nết đánh chết cái đẹp” Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời cũng đã từng nói: Người có tài, mà không có đức là người vô dụng và ngược lại, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó

Cái đức ở đây sẽ giúp người lao động làm việc với tinh thần trách nhiệm cao với cộng đồng, với xã hội Từ đó họ sẽ làm việc tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn

+ Về ưu điểm

Thứ nhất, phẩm chất cơ bản nổi bật nhất của người Việt Nam là tinh thần

yêu nước nồng nàn, ý thức dân tộc, lòng tự tôn dân tộc, tính tự cường, tư tưởng nhân văn, nhân ái trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa các

Trang 37

cộng đồng với nhau, những tư tưởng phẩm chất quan trọng này được thể hiện rất

rõ nét trong lịch sử dân tộc, đó là phẩm chất truyền thống vô cùng quý báu của người Việt Nam

Thứ hai, truyền thống cần cù, chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ được trui

rèn trong điều kiện làm việc cùng với thiên nhiên khắc nghiệt Khả năng giỏi chịu đựng, tính cần cù đã giúp cho người lao động Việt Nam có tính kiên trì, nhẫn nại, khả năng thích ứng và hoà nhập với môi trường mới rất nhanh Điều này đã được chính những chủ sử dụng lao động xuất khẩu Việt Nam ở nước ngoài ca ngợi

Thứ ba, người lao động Việt Nam có truyền thống đoàn kết cộng đồng,

ứng xử thông minh, linh hoạt sáng tạo, cương nhu thuần thục Phẩm chất này có được từ sự rèn luyện, kinh qua các cuộc chiến tranh giữ nước giành độc lập cho dân tộc cũng như đối phó với thiên tai, địch hoạ

Trong quá trình đó, nền văn hoá Việt Nam, con người Việt Nam đã tiếp cận, giao lưu với những nền văn hoá của các quốc gia hùng mạnh, những nền văn minh phát triển bậc nhất thế giới nhưng văn hoá, con người Việt Nam không những không bị đồng hoá mà còn tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiên tiến, ưu việt của những nền văn hoá nước ngoài đó để làm phong phú, “giàu có” hơn cho văn hoá, truyền thống người Việt Nam

Thứ tư, lối sống giản dị, tiết kiệm, gần gũi hoà đồng với thiên nhiên được

bắt nguồn từ cuộc sống gắn bó với sản xuất nông nghiệp Hoàn cảnh sống của cư dân nông nghiệp ở nông thôn từ hàng ngàn năm qua cũng đã giúp hình thành tình cảm “tối lửa tắt đèn có nhau” cùng với sự ảnh hưởng của triết lý phật giáo đã hình thành lối sống coi trọng tình nghĩa, tính vị tha, lòng bao dung của người Việt Ngoài ra, sự ảnh hưởng tích cực của Nho giáo đã hình thành nên truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” của người Việt Nam

Những phẩm chất tốt đẹp nói trên của người Việt nếu được gìn giữ, kế thừa và phát triển đáp ứng phù hợp với yêu cầu của thời kỳ hội nhập ngày nay sẽ

Trang 38

tạo ra sức mạnh to lớn của nguồn nhân lực Việt Nam Tuy vậy, bên cạnh những

ưu điểm, phẩm chất tốt đẹp thì còn có những hạn chế, yếu kém trong tính cách, truyền thống của người Việt Nam

+ Về nhược điểm:

Thứ nhất, đó là những nhược điểm xuất phát từ tư tưởng, tâm lý tiểu nông

của nền sản xuất nhỏ: Coi trọng địa vị, ngôi thứ, tư tưởng gia trưởng và hình thức; thiên về tình cảm, coi trọng tình nghĩa hơn lý lẽ, đề cao kinh nghiệm mà coi nhẹ lý trí và tri thức khoa học, thói quen cư xử dựa theo các mối quan hệ họ hàng, huyết thống, quên biết mà coi nhẹ sự tôn nghiêm của pháp luật Điều này được phản ánh qua câu châm ngôn: “Phép vua thua lệ làng”

Những tính cách, truyền thống này không phù hợp với những yêu cầu về phẩm chất người lao động trong thời kỳ CNH-HĐH, nó tạo ra lực cản, sức ì đối với quá trình tiếp cận khoa học kỹ thuật và công nghệ mới

Thứ hai, dấu ấn của thời kỳ bao cấp đã để lại cho người Việt Nam những

thói quen xấu như: Tính thụ động, trông chờ, ỉ lại, dựa dẫm vào Nhà nước và tập thể; thiếu năng động, ngại tìm tòi, sáng tạo, chưa mạnh dạn áp dụng cái mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh; tư tưởng an phận, bám chắc vào biên chế nhà nước…

Những thói quen xấu này dần dần cũng được xoá bỏ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường nhưng để thay đổi được hoàn toàn những thói quen xấu đó không phải là công việc một sớm một chiều bởi như Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã từng viết: “Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch

to, nó ngấm ngầm cản trở cách mạng tiến bộ Chúng ta lại không thể trấn áp nó,

mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài” [25] Bên cạnh

đó, mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình mở cửa giao lưu, hội nhập quốc tế cũng làm nảy sinh nhiều thói hư tật xấu, phá vỡ các giá trị truyền thống, đạo đức

Trang 39

2.1.2 Thực trạng Giáo dục và Đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ ở Việt Nam thời gian qua

Như đã trình bày trong Chương 1, nguồn nhân lực cho phát triển là nguồn nhân lực có trí tuệ, có năng lực tiếp nhận và sử dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại

và cao hơn nữa là khả năng sáng tạo, đổi mới sản phẩm, kỹ thuật, công nghệ Để

có được điều đó, nguồn nhân lực phải được đào tạo, đào tạo liên tục và suốt đời Nói cách khác nguồn nhân lực chất lượng cao phải gắn liền với đào tạo và thực trạng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực của một quốc gia cũng chính là sự phản ánh chính xác về tình hình nguồn nhân lực, mức độ chuẩn bị của nguồn nhân lực

để tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức

2.1.2.1 Tình hình đầu tư cho giáo dục đào tạo ở Việt Nam thời gian qua

Với phương châm coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu để tạo ra đội ngũ nguồn nhân lực có trí tuệ, có trình độ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và tiến vào kinh tế tri thức, giáo dục đào tạo của nước ta luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước thông qua nhiều chủ trương, chính sách đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo Nhờ đó từ một quốc gia có tới hơn 90% dân

số mù chữ ngành Giáo dục và Đào tạo đã đưa Việt Nam trở thành nước có tỷ lệ dân số biết chữ cao hàng đầu trong số các nước đang phát triển, đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ thông qua đào tạo ngày càng tăng, có khả năng tiếp nhận, làm chủ nhiều công nghệ hiện đại, các đội học sinh tham gia các cuộc thi trí tuệ quốc tế thường dành được giải cao, được bạn bè quốc tế khen ngợi, nhiều nhân tài người Việt hiện đang làm việc ở nhiều lĩnh vực công nghệ cao ở các quốc gia phát triển

Các thành tựu đó có được là nhờ sự quan tâm đầu tư nhân, tài, vật lực mạnh mẽ cho giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Đảng và Nhà nước ta Trong nhiều năm qua, ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục đào tạo không ngừng tăng lên

Trang 40

Bảng 1: Tỷ trọng đầu tư cho GD-ĐT trong tổng chi ngân sách của Nhà nước Năm Tổng chi cho giáo dục

Nguồn: Website của Bộ tài chính: www.mof.gov.vn 8/10/2007

(Và TS Vũ Quang Việt, chuyên gia thống kê của Liên Hiệp Quốc: Chi tiêu cho giáo dục, những con số “giật mình” www.vietnamnet.vn ngày 11/7/2007)

Như vậy, từ năm 2000 đến nay Ngân sách đầu tư cho giáo dục hầu như năm nào cũng tăng Năm 2000 tổng chi cho giáo dục là 23.219 tỷ đồng chiếm 15% so với chi ngân sách của Nhà nước thì đến năm 2004 mức tổng chi đã đạt 54.223 tỷ đồng, chiếm 17,1% ngân sách Nhà nước Năm 2005 tổng mức chi tiêu

là 68.968 tỷ đồng chiếm 21% ngân sách Nhà nước Đến năm 2007 mức chi tiêu cho giáo dục có giảm đi chút ít, đạt 66.770 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 20,6% ngân sách Trong điều kiện kinh tế của Việt Nam hiện nay, mức chi tiêu này phản ánh

sự cố gắng rất lớn của Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp giáo dục đào tạo nguồn nhân lực Nếu so sánh với chi tiêu cho giáo dục ở các nước phát triển thuộc khối OECD thì chi phí cho giáo dục ở Việt Nam là rất lớn Tỷ lệ chi cho giáo dục trên GDP là 8,3% vượt xa các nước phát triển cao như Mỹ, Pháp,

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang A (2005), Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam? trong cuốn “Để kinh tế Việt Nam phát triển”, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Để kinh tế Việt Nam phát triển
Tác giả: Nguyễn Quang A
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2005
2. Ban Khoa giáo Trung ương (2000), Dự thảo chiến lược nguồn nhân lực 2001 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chiến lược nguồn nhân lực 2001 - 2010
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương
Năm: 2000
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2003
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Qui hoạch phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển các lĩnh vực công nghệ ưu tiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui hoạch phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển các lĩnh vực công nghệ ưu tiên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2000
5. “Câu chuyện giá ô tô không nằm ở Bộ Tài chính” (9/9/2007), Tuổi trẻ cuối tuần, tr.4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện giá ô tô không nằm ở Bộ Tài chính” (9/9/2007), "Tuổi trẻ cuối tuần
6. Daniel Cohen (2001), Các quốc gia nghèo khó trong một thế giới thịnh vượng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quốc gia nghèo khó trong một thế giới thịnh vượng
Tác giả: Daniel Cohen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Nguyễn Văn Dân (Chủ biên, 2001), Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
8. Phan Đình Diệu (1999), “Kinh tế tri thức và con đường hội nhập của chúng ta”. Tạp chí Xã hội học, 2/1999. Báo cáo tại diễn đàn CNTT, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức và con đường hội nhập của chúng ta”. "Tạp chí Xã hội học, 2/1999
Tác giả: Phan Đình Diệu
Năm: 1999
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
11. Nguyễn Hữu Đức (7/2006), “Liên kết giữa nhà doanh nghiệp và nhà trường”. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết giữa nhà doanh nghiệp và nhà trường”
12. Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH- HĐH. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH-HĐH
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diệu (chủ biên, 1996), Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, kế sách trăm năm chấn hưng đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, kế sách trăm năm chấn hưng đất nước
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
15. Nguyễn Đắc Hưng (2005), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước
Tác giả: Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
16. Nguyễn Đắc Hưng, Phan Xuân Dũng (2004), Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia
Tác giả: Nguyễn Đắc Hưng, Phan Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
17. Đặng Hữu (2004), Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam
Tác giả: Đặng Hữu
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
18. Đặng Hữu (2003), Phát triển kinh tế tri thức-rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đề tài KX.02.03, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tri thức-rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Đặng Hữu
Năm: 2003
19. Đặng Hữu (chủ biên, 2001), Phát triển kinh tế tri thức, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tri thức
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
20. Đoàn Văn Khái (Chủ nhiệm đề tài, 2004), Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thức Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thức Việt Nam
21. Đoàn Văn Khái (2006), Nguồn lực con người trong quá trình CNH- HĐH ở Việt Nam. Nxb. Lý luận chính trị. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người trong quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Văn Khái
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị. Hà Nội
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ trọng đầu tư cho GD-ĐT trong tổng chi ngân sách của Nhà nước  Năm  Tổng chi cho giáo dục - Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Bảng 1 Tỷ trọng đầu tư cho GD-ĐT trong tổng chi ngân sách của Nhà nước Năm Tổng chi cho giáo dục (Trang 40)
Bảng 4: Số học sinh phổ thông từ năm 2000 đến năm 2006. - Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Bảng 4 Số học sinh phổ thông từ năm 2000 đến năm 2006 (Trang 43)
Bảng 5: Số giáo viên phổ thông từ năm 2000-2006 - Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Bảng 5 Số giáo viên phổ thông từ năm 2000-2006 (Trang 45)
Bảng 10: Tỷ lệ thất nghiệp của lực lƣợng lao động trong độ tuổi khu vực thành  thị. - Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Bảng 10 Tỷ lệ thất nghiệp của lực lƣợng lao động trong độ tuổi khu vực thành thị (Trang 55)
Bảng 11: Lực lƣợng lao động đƣợc đào tạo từ 2002-2006 - Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Bảng 11 Lực lƣợng lao động đƣợc đào tạo từ 2002-2006 (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm