1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

100 529 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công thức “ưu tiên phát triển tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sản xuất” mà V.I.Lênin đề ra trước đây và được các nước XHCN vận dụng trong suốt mấy chục năm tồn tại của mình t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -

NGUYỄN THỊ THÚY

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6

1.1 Những vấn đề lý luận chung về kinh tế tri thức 6

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của kinh tế tri thức 6

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của kinh tế tri thức 16

1.1.3 Tiêu chí nhận biết trình độ kinh tế tri thức 25

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 28

1.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo 28

1.2.2 Tiềm lực khoa học - công nghệ 30

1.2.3 Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tri thức 32

1.2.4 Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 35

1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tri thức ở một số nước, một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 36

1.3.1 Kinh tế tri thức ở các nước phát triển 36

1.3.2 Kinh tế tri thức ở các nước châu Á đang phát triển 39

1.3.3 Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 43

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM 48

2.1 Sự cần thiết phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 48

2.1.1 Thực trạng của nền kinh tế trong thời kỳ đổi mới 48

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 58

2.2 Thực trạng hình thành các nhân tố kinh tế tri thức ở Việt Nam 60

2.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực và hệ thống giáo dục đào tạo 60

2.2.2 Tiềm năng khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật 68

2.2.3 Năng lực điều hành và quản lý của Nhà nước 70

2.3 Những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 71 2.3.1 Những thành tựu và nguyên nhân 71

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 74

Trang 3

2.3.3 Những vấn đề đặt ra đối với kinh tế tri thức ở Việt Nam 78

Chương 3 NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM 81

3.1 Những phương hướng cơ bản 81

3.1.1 Thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức 81

3.1.2 Xây dựng tiềm lực tri thức và sử dụng lực lượng lao động tri thức 83

3.1.3 Một số quan điểm cơ bản về phát triển của kinh tế tri thức ở Việt Nam 85

3.2 Các giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 86

3.2.1 Xây dựng cơ chế chính sách và cải cách nền hành chính quốc gia phù hợp với phát triển kinh tế tri thức 86

3.2.2 Phát triển các ngành công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin 88

3.2.3 Đổi mới giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức 91 3.2.4 Xây dựng thị trường lao động đáp ứng theo nhu cầu của xã hội 93

3.2.5 Sử dụng nguồn nhân lực phải đảm bảo tạo điều kiện để nguồn nhân lực phát huy được tính linh hoạt và khả năng sáng tạo 95

3.2.6 Tăng cường bảo vệ sở hữu trí tuệ 96

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây kinh tế tri thức là đề tài được nhiều cuộc hội thảo quốc tế nhiều công trình nghiên cứu quan tâm Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, sự tương tác giữa tin học, vi điện tử và sinh học đã tạo ra những tiến bộ thần kì trong kinh tế Những tiến bộ đó sẽ tiếp tục cung cấp nguyên liệu cho sự tăng trưởng của thế giới trong những năm tới Sự phát triển không ngừng

có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất trong đó tri thức đóng vai trò như lực lượng sản xuất chủ yếu đã dẫn đến sự hình thành một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức Xu hướng chung trong sự phát triển kinh tế của các nước trên thế giới là phát

triển kinh tế tri thức Việt Nam cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó

Trang 4

Nhận thức được xu thế nêu trên, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định: “Chúng ta tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh

tế tri thức Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển mạnh các ngành kinh tế và các sản phẩm kinh

tế có giá trị gia tăng cao dựa vào tri thức”

Trong giai đoạn hiện nay kinh tế thế giới đang trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế tri thức, một trình độ phát triển cao của LLSX Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển đang đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn để

có thể tận dụng ưu thế của người đi sau để có thể định hướng, nắm bắt khoa học công nghệ, đi tắt đón đầu xu hướng phát triển của nhân loại Chỉ có như vậy chúng

ta mới có thể theo kịp các nước phát triển Bên cạnh đó, khi cả thế giới đang chuyển mình sang giai đoạn phát triển kinh tế tri thức, nếu chúng ta không có được

sự chuẩn bị tốt nhất cả về nhận thức lẫn hành động thì chắc chắn chúng ta không theo kịp sự phát triển của nhân loại Lúc đó thì việc hội nhập quốc tế sẽ không còn

ý nghĩa quan trọng, bởi vì khi đó chúng ta không thể tận dụng và học hỏi các kinh nghiệm, công nghệ tiên tiến và ngược lại các nước khác cũng chẳng hợp tác được

gì từ chúng ta Có chăng chúng ta chỉ là thị trường tiêu thụ các công nghệ lạc hậu, tiêu thụ các sản phẩm của các nước khác

Kinh tế tri thức đang ở trong giai đoạn bắt đầu, khái niệm về kinh tế tri thức còn chưa được thống nhất, sự nghiên cứu kinh tế tri thức cũng chưa có nhiều, đặc biệt ở Việt Nam Nhưng có thể khẳng định đó là một xu hướng phát triển tất yếu của LLSX, của mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của nhân loại Xuất phát từ

những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” nhằm góp phần hoàn thiện về lý luận và các giải pháp phát

triển kinh tế tri thức ở nước ta trong quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đi tắt, đón đầu mà Đảng đã đề ra

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 5

Trong một vài năm qua, đã có một số tác phẩm trong và ngoài nước nghiên cứu về kinh tế tri thức Cụ thể ở nước ta có một số tác phẩm như:

- “Phát triển kinh tế tri thức: rút ngắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” xuất bản năm 2001 của GS.VS Đặng Hữu

- Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI của Ngô Quý Tùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001

- “Kinh tế tri thức: Những khái niệm và vấn đề cơ bản” xuất bản năm 2002 của Đặng Mộng Lân

- Kinh tế tri thức vấn đề và giải pháp: Kinh nghiệm của các nước phát triển

và đang phát triển của Takaski Kiuchi, Tianzhongging, Cheonsikwoo Nxb Thống

Trang 6

những con đường, bước đi ngắn nhất, phù hợp nhất cho Việt Nam trên con đường phát triển và hội nhập

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích:

Trên cơ sở nghiên cứu về phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay luận văn đưa ra định hướng và giải pháp phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

* Nhiệm vụ:

- Luận văn tập trung nghiên cứu, tìm hiểu và làm rõ khái niệm, bản chất và

xu hướng phát triển của kinh tế tri thức, các tác động về kinh tế, xã hội, thời cơ, thách thức và những vấn đề đặt ra với Việt Nam trước xu thế phát triển của kinh tế tri thức Đồng thời phân tích thực trạng nền kinh tế và các yếu tố tiền đề của kinh

tế tri thức để từ đó đề xuất các hướng chiến lược, các giải pháp để phát triển nền kinh tế nước ta theo kịp sự phát triển của thế giới với trình độ phát triển cao, trình

độ kinh tế tri thức

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong việc

phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về lý luận kinh tế tri thức và việc ứng

dụng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, không gian nghiên cứu là tầm vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam, về thời gian tập trung vào thời

kỳ 1995 đến nay

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn

* Nguồn tài liệu: Tác phẩm kinh điển, hệ thống văn kiện của Đảng, các bài

viết của Đảng và Nhà nước, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các công trình nghiên cứu khoa học

* Phương pháp nghiên cứu: Về cơ bản tác giả sử dụng phương pháp duy

vật biện chứng, phương pháp trừu tượng hóa khoa học và phương pháp lôgíc kết

Trang 7

hợp với lịch sử để nghiên cứu và khảo sát sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: tổng hợp, thống kê, phân tích, để làm rõ những luận điểm đƣợc đề cập trong luận văn

6 Đóng góp và ý nghĩa của luận văn

- Hệ thống hóa lý luận về kinh tế tri thức

- Phân tích, đánh giá những yếu tố ban đầu về kinh tế tri thức

- Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 8

7 Kết cấu luận văn

Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương, 8 tiết:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tri thức ở

Việt Nam hiện nay

Chương 2 Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Chương 3 Những phương hướng quan điểm cơ bản và các giải pháp phát

triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Trang 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Những vấn đề lý luận chung về kinh tế tri thức

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định hàng đầu việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển vọng phát triển Có thể nói: Khoa học công nghệ là lực lượng sản xuất thứ nhất Chính vì thế thuật ngữ “Kinh tế tri thức”, “Nền kinh tế tri thức”

là những thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong mấy năm gần đây trên sách báo nước ta Trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, thuật ngữ

“Kinh tế tri thức” cũng được chính thức sử dụng và trở thành một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta Trên thế giới, thuật ngữ

“Kinh tế tri thức” được sử dụng trên các sách báo kinh tế khoảng hơn 20 năm qua

và vào năm 1996, tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế OECD chính thức sử dụng

thuật ngữ này Theo OECD, kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh

tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.[14 tr21]

Mặc dù thuật ngữ “Kinh tế tri thức” hoặc “Nền kinh tế tri thức” đã được sử dụng một cách phổ biến nhưng nội hàm của khái niệm này về cơ bản vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau Tổng hợp các quan niệm về kinh tế tri thức, có hai cách hiểu chính do có hai cách tiếp cận khác nhau

Cách hiểu thứ nhất: Coi kinh tế tri thức là một “Nền kinh tế”, thuộc xã hội

“Hậu công nghiệp” Đây là cách hiểu xuất phát từ góc độ phân tích lịch sử nhân loại tiến triển theo lý thuyết các nền văn minh mà A Toffler - một nhà xã hội học người Mỹ - là đại biểu nổi tiếng Lý thuyết về lịch sử các nền văn minh có ảnh hưởng rất lớn tới các học giả phương Tây khi phân tích về nền kinh tế tri thức Theo lý thuyết này, lịch sử nhân loại tiến triển qua ba giai đoạn (ba nền văn minh):

Trang 10

văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp Giai đoạn văn minh hậu công nghiệp chính là giai đoạn phát triển của nền kinh tế tri thức

Cách hiểu thứ hai: Không coi kinh tế tri thức là một “Nền kinh tế tri thức”

Đây là cách hiểu phổ biến của những nhà nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam và Trung Quốc Cách hiểu này có điểm xuất phát là phương pháp luận mácxít về hình thái kinh tế - xã hội Theo lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác thì lịch

sử nhân loại phát triển qua các giai đoạn lịch sử: xã hội nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản và xã hội cộng sản chủ nghĩa Mỗi xã hội đó là một cơ cấu kinh tế - xã hội thống nhất, vận động theo các quy luật nội tại khách quan, mà trước hết và cơ bản nhất là hệ thống các quy luật kinh tế Các quy luật này phụ thuộc về bản chất của hệ thống cơ cấu kinh tế trong mỗi giai đoạn lịch

sử, là hệ thống cơ cấu của mỗi phương thức sản xuất đặc thù Tương ứng với các giai đoạn phát triển kinh tế của xã hội C.Mác đã đưa ra mô hình các hình thái kinh

tế đó là kinh tế tự nhiên tương đương với nền kinh tế nông nghiệp và xã hội nông dân cổ truyền, hình thái thị trường, tương đương với nền kinh tế thị trường của thời đại công nghiệp cơ khí và xã hội công nghiệp, hình thái cộng sản chủ nghĩa, tương đương với nền kinh tế có trình độ phát triển rất cao và xã hội tự do chân chính

Qua lý luận của C.Mác ta có thể thấy sự tương đồng cơ bản của nền kinh tế tri thức với hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa Như vậy kinh tế tri thức là một khái niệm mới, không chỉ đối với Việt Nam hay các nước đang phát triển mà đối với toàn thế giới Khái niệm này là nhân lõi của một hệ phạm trù đang hình thành nhưng phát triển rất nhanh chóng trong đời sống thực tế và cả trong lý luận Đứng trên lập trường của phương pháp luận mác xít, tác giả cũng đồng ý với cách hiểu thứ hai Rõ ràng, theo lý luận này, không thể nói tới khái niệm (và thuật ngữ) “Nền kinh tế tri thức” mà chỉ có thể là “Kinh tế tri thức” hoặc nền kinh tế phát triển tới giai đoạn kinh tế tri thức

Trang 11

Vậy nội hàm của khái niệm kinh tế tri thức là gì? Chúng ta chỉ có thể khái quát nội hàm của khái niệm này trên cơ sở nhận dạng các đặc trưng của kinh tế tri thức

* Các đặc trưng chủ yếu của kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức đã được hình thành và phát triển ở một số quốc gia và đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu Từ những nghiên cứu

đó có thể khái quát thành một số đặc điểm đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức mà căn bản là tri thức khoa học - công nghệ hiện đại Công nghệ cao chủ yếu bao gồm công nghệ thông tin,

công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới và năng lượng tái sinh, khoa học kỹ thuật không gian, khoa học kỹ thuật hải dương Trong

đó, khoa học - công nghệ cao đóng vai trò là nền tảng của kinh tế tri thức

Nếu trong giai đoạn kinh tế tài nguyên (kinh tế công nghiệp), các yếu tố của sản xuất chủ yếu là tài nguyên, lao động, vốn, thì ngược lại, trong giai đoạn kinh tế tri thức, nhân tố tri thức được xếp ở hàng đầu của những nhân tố tăng trưởng kinh

tế Tri thức được hiểu là những hiểu biết có hệ thống về một khách thể (đối tượng) nhất định Nói một cách cụ thể, tri thức là sự hiểu biết về một cụm thông tin và biết sử dụng thông tin đó một cách tốt nhất, trong đó quan trọng nhất là tri thức về khoa học - kỹ thuật, quản lý và thực hành Tri thức gồm bốn loại: biết nó là gì (hiểu biết về sự vật), biết vì sao (hiểu biết về quy luật và nguyên lý của sự vật), biết làm thế nào (có năng lực hoặc kỹ năng làm việc gì), biết ở đâu (ai và ở đâu có thông tin đó, tri thức này rất quan trọng trong xã hội tin học)

Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển đang diễn ra sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, các ngành dựa vào tri thức và ứng dụng công nghệ cao đang phát triển nhanh Sự chuyển dịch này nhằm chuyển nền kinh tế từ giai đoạn kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức

Thứ hai, nhân tố sáng tạo trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển

Điểm nhấn quan trọng nhất là ở sự khác biệt chất lượng quyết định của nền kinh tế tri thức so với nền kinh tế tri thức trước đó: thay vì các nguồn lực truyền

Trang 12

thống (tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động rẻ và vốn) - đã từng đóng vai trò là những lợi thế phát triển quyết định trước đây, trong nền kinh tế tri thức, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, tri thức, trí tuệ con người và kỹ năng lao động trở thành lợi thế phát triển lớn nhất, quyết định nhất) Khoa học công nghệ được nhất trí thừa nhận là lực lượng sản xuất thứ nhất theo nghĩa là yếu tố quan trọng và quyết định tiến trình phát triển kinh tế Điểm nhấn này chứa đựng những hàm ý rất

có ý nghĩa thực tiễn

Ngày nay, thay vì các yếu tố vật chất - kỹ thuật truyền thống (máy móc cơ khí, đường sắt, ruộng đất, hầm mỏ) con người trí tuệ và có kỹ năng cao đang trở thành lực lượng sản xuất quan trọng nhất, quyết định thành công của nỗ lực phát triển Tương ứng với sự thay đổi này là sự thay đổi trong trật tự ưu tiên của các nỗ lực phát triển Để giành thắng lợi trong cuộc đua tranh phát triển toàn cầu, chiến lược khôn ngoan nhất, có triển vọng nhất trong dài hạn chính là giành ưu tiên cao nhất cho nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực theo hướng mà nền kinh tế tri thức quy định Đó là nguồn nhân lực trí tuệ (nhân lực khoa học công nghệ, trí thức) là lực lượng lao động kỹ năng cao Vì tri thức và công nghệ cao đóng vai trò là lực lượng sản xuất quan trọng nhất, do tri thức, kỹ năng, nguồn phát minh và công nghệ hiện đại đã trở thành lợi thế cạnh tranh quết định nên một cách hiển nhiên, việc nâng cao năng lực sáng tạo và sử dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học công nghệ trở thành nhiệm vụ trọng tâm nhất của các nỗ lực phát triển Công thức

“ưu tiên phát triển tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sản xuất” mà V.I.Lênin đề ra trước đây và được các nước XHCN vận dụng trong suốt mấy chục năm tồn tại của mình trong thời đại hiện nay mang những nội dung rất mới: sản xuất và sử dụng tri thức khoa học và công nghệ cao là loại hình sản xuất quan trọng nhất, quyết định nhất Diễn đạt một cách khác, điều đó có nghĩa là để giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh, đua tranh phát triển, trước hết, phải tạo ra lợi thế cạnh tranh quyết định Đó là lợi thế về tri thức và kỹ năng lao động, là lợi thế về nguồn nhân lực chất lượng cao Các lĩnh vực từng là quan trọng nhất ở giai đoạn trước (ví dụ như luyện kim, cơ khí, hoá chất…) đặt trong logic của nền kinh tế tri thức, chỉ còn đóng vai trò là những nhiệm vụ quan trọng thứ cấp và tương đối ngắn

Trang 13

hạn so với nhiệm vụ phát triển khoa học công nghệ Trong nền kinh tế công nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là bằng cách tối ưu hóa, tức là hoàn thiện cái đã có, để giảm chi phí sản xuất, còn trong kinh tế tri thức, cái quyết định năng lực cạnh tranh chính là sự sáng tạo ra cái mới có chất lượng cao hơn đó là thành công của doanh nghiệp Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rất ngắn Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm, phải tìm chọn các công nghệ mới nẩy sinh, cái chín muồi là cái sắp tiêu vong Có thể nói sáng tạo là linh hồn của kinh tế tri thức

Thứ ba, các ngành công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin được áp dụng trong mọi lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội

Công nghệ thông tin dựa vào hai lĩnh vực chủ lực là công nghệ tin học và công nghệ viễn thông, tạo ra mạng Internet Hầu hết các quốc gia đều xếp các lĩnh vực sau đây vào danh mục công nghệ thông tin và viễn thông: lĩnh vực “tin học” bao gồm tất cả các ngành sản xuất thiết bị và các dịch vụ đi kèm, chủ yếu là dịch

vụ vận hành, khai thác, bảo trì; lĩnh vực “điện tử” cùng với hoạt động sản xuất linh kiện điện tử và một số loại máy móc; lĩnh vực “viễn thông” bao gồm các hoạt động dịch vụ và sản xuất thiết bị

Quá trình tin học hóa các khâu sản xuất, dịch vụ, và quản lý là cốt lõi của quá trình chuyển sang kinh tế tri thức Người ta coi tin học là ngành hạt nhân của các ngành mới nổi lên và gọi là ngành sản xuất thứ tư Chức năng của tin học là chuyển hóa tri thức khoa học và kỹ thuật thành sức sản xuất Tỷ trọng của nó tăng lên không ngừng và sẽ phát triển thành ngành chủ đạo Có thể nói tin học quyết định sự thành bại, hưng vong của tất cả mọi hoạt động kinh tế Xã hội tin học hóa

và tin học hiện đại hóa là dấu hiệu của một quốc gia phát triển Công nghệ thông tin nói chung đem lại năng suất và chất lượng lao động cao trong công tác quản lý kinh tế - xã hội Mọi người đều có nhu cầu thông tin và được truy cập vào các kho thông tin cần thiết cho mình Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều có sự tác động của công nghệ thông tin để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Cũng

chính vì vậy nhiều người gọi giai đoạn phát triển kinh tế tri thức là nền kinh tế số hay kinh tế mạng Thương mại điện tử, thị trường ảo, tổ chức ảo, xí nghiệp ảo,

Trang 14

làm việc từ xa được thiết lập làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh rất nhanh nhạy, linh hoạt, khoảng cách địa lý giảm dần, ý nghĩa của vị trí địa lý giảm

đi Nhiều quốc gia trên thế giới (không chỉ những nước công nghiệp phát triển mà

cả một số nước đang phát triển), đã coi công nghệ thông tin là ngành kinh tế mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển Công nghệ thông tin đã và sẽ mang lại những biến đổi

kỳ diệu trong cả đời sống kinh tế và đời sống xã hội Hiện nay mạng internet đã liên kết trên 200 quốc gia và khu vực Nước Mỹ là quốc gia làm chủ internet đang tiến hành một dự án đầy tham vọng phát triển xa lộ thông tin với các máy tính tý hon cài ở tất cả mọi nơi, điều khiển mọi hoạt động, từ đó đi tới xã hội tự động Dự kiến nửa sau thế kỷ XXI, một xã hội như vậy sẽ ra đời ở Mỹ Trung Quốc đang có

kế hoạch phát triển mạng công nghệ thông tin Các chuyên gia đầu ngành về công nghệ thông tin trên thế giới đáng giá: vào khoảng năn 2010, Trung Quốc có thể theo kịp công nghệ thông tin của Mỹ Hồng Công đang lập cảng thông tin Các nước đang hướng mạnh tới xã hội thông tin

Thứ tư, kinh tế tri thức được tổ chức quản lý theo mô hình phi tập trung, mô hình mạng

Nền kinh tế thế giới hiện đại đang được cấu trúc thành một mạng lưới toàn cầu “Mạng” là thuộc tính phân biệt chủ yếu hệ thống này với các hệ thống trước Đây là cơ sở để nói đến tính cách mạng hay bước ngoặt lịch sử của quá trình chuyển sang kinh tế tri thức đang diễn ra

Mạng lưới toàn cầu của nền kinh tế tri thức đang diễn ra được kiến tạo bởi: các “chất liệu” phát triển cơ bản khác trước (những công cụ mới, như máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, các loại vật liệu mới, công nghệ “gen”, thương mại điện tử, ) những nhân vật mới (nhà lao động trí thức, các “siêu” công ty xuyên quốc gia ) vận động theo nguyên lý mới

Hệ thống phân công quốc tế toàn cầu thay cho hệ thống phân công lao động quốc tế, quốc gia Đây là một cấu trúc mới về nguyên tắc Nó vận động theo những quy tắc sản xuất thương mại và tài chính mới trong không gian toàn cầu hóa Đặc trưng của không gian toàn cầu hóa là thời gian ngắn lại, không gian thu hẹp và các đường biên giới mất dần

Trang 15

Quá trình phi tập trung hóa cấu trúc kinh tế - xã hội Cấu trúc mạng gắn với quá trình phi tập trung hóa cấu trúc Quá trình đô thị hóa diễn ra theo những xu hướng và quy tắc mới Các đô thị khổng lồ không còn là sự lựa chọn duy nhất và dường như ngày càng không còn là sự lựa chọn chủ yếu Khái niệm văn phòng, chỗ làm việc tập trung hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người kiểu công xưởng đã thay đổi mạnh mẽ khi công việc chủ yếu của xã hội là sản xuất tri thức, được tiến hành trong môi trường tự động hóa cao trên cơ sở mạng thông tin, với các công cụ chính là máy vi tính nối mạng

Sự thay đổi cơ cấu quyền lực trong nền kinh tế Hình thái phát triển dựa trên quan hệ lệ thuộc cai trị của các nền kinh tế trước đây được thay thế bằng quan hệ tham dự - bình đẳng về chức năng trong cơ cấu của các thành tố Lực lượng nắm giữ tri thức sẽ là động lực phát triển của xã hội Sự không thuần nhất cấu trúc của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu Trong mạng lưới kinh tế toàn cầu, vẫn tồn tại những mảng, vùng cấu trúc (khu vực, quốc gia, ngành) có trình độ phát triển thấp xa với các mảng, vùng khác Do đó sự bình đẳng về nguyên tắc của các

bộ phận cấu trúc mạng không có nghĩa là sự bình đẳng trên thực tế giữa chúng tại từng thời điểm xác định và trong những quan hệ xác định Điều này có nghĩa khả năng vượt bỏ hay tụt hậu của mỗi quốc gia (hay của bất cứ yếu tố cấu trúc nào) tùy thuộc vào vị trí, vị thế của nó trong mạng kinh tế toàn cầu, tức là tùy thuộc vào khả năng xác lập quan hệ với các nhân vật mới, công cụ mới để có được các điều kiện phát triển (các lợi thế phát triển do thời đại tạo ra) Có thể diễn đạt điều này như là năng lực “hòa” mạng của chủ thể đó Điều đó có nghĩa rằng muốn phát triển thì phải gia nhập mạng toàn cầu, phải trở thành thành viên của mạng Gia nhập mạng hàm chứa khả năng phải chịu “rủi ro” toàn cầu Sự rủi ro này có nguồn gốc từ tính không thuần nhất của cấu trúc mạng (vị thế không tương đương của các yếu tố) nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng thực tế giữa các yếu tố khi tham gia mạng Trình độ phát triển càng cách xa trình độ chung của mạng thì độ rủi ro càng lớn Song kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng trong khi những rủi ro tham gia mạng gây

ra là mang tính tiềm thế thì rủi ro không tham gia mạng là chắc chắn và lớn hơn bất kỳ rủi ro nào khi tham gia mạng

Trang 16

Như vậy mô hình kinh tế chỉ huy tập trung, có đẳng cấp không còn phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế tri thức Mà nó được tổ chức theo mô hình phi tập trung, mô hình mạng, trong đó quan hệ ngang là chủ yếu Mô hình này phát huy được tính năng động sáng tạo của mọi người, của các doanh nghiệp, vì thế nó dễ thích nghi và đổi mới Hiện nay, các doanh nghiệp của các nước công nghiệp phát triển được trang bị các thiết bị thông tin hiện đại lập nên một mạng lưới các doanh nghiệp, mọi người có thể làm việc ở các địa điểm khác nhau tại các công ty con, nhưng mối liên kết trong mạng lưới công ty rất chặt chẽ; công tác quản lý, thiết kế, tiêu thụ sản phẩm, việc giao nhận hàng hóa nhanh chóng và kịp thời

Thứ năm, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế học hỏi

Cũng như ở bất kỳ trình độ phát triển nào của nền kinh tế thế giới, trong kinh tế tri thức con người vẫn là nhân tố quyết định sự phát triển, nhưng không phải con người với bất kỳ tri thức và năng lực nào, mà buộc phải là con người có tri thức khoa học, có năng lực sáng tạo C.Mác đã nói đến nhân tố con người trong kinh tế tri thức là con người sáng tạo chứ không phải là một bộ phận của hệ thống máy móc trên dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp Tri thức là vốn quý nhất và

là nguồn lực hàng đầu của sự tăng trưởng kinh tế Quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan trọng nhất Ai chiếm hữu được nhiều tài sản tri thức hơn thì người

ấy sẽ thắng Để có tri thức thì phải học tập, vì thế nền kinh tế tri thức đòi hỏi con người phải không ngừng học tập, học suốt đời dưới mọi hình thức

Thứ sáu, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hóa Toàn cầu hóa là

đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thế giới ngày nay, nó được thực hiện thông qua quốc tế hóa thương mại, quốc tế hóa vốn, quốc tế hóa sản xuất Kinh tế tri thức sẽ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, hợp tác kinh tế quốc tế Với tốc độ phát triển khoa học - công nghệ cao như hiện nay, không một quốc gia nào có thể đi đầu trong tất

cả các kỹ thuật công nghệ cao và mới, vì thế chuyên môn hóa sản xuất trở nên sâu sắc, do đó đòi hỏi sự hợp tác sản xuất quốc tế, rất ít có sản phẩm do một nước sản xuất ra, mà là kết quả hợp tác của nhiều nước Công nghệ thông tin, nhất là mạng Internet, làm cho không gian trở nên nhỏ bé Tri thức, công nghệ, vốn, lao động

Trang 17

được luân chuyển trên phạm vi toàn cầu Thị trường và sản phẩm mang tính toàn cầu

Thứ bảy, đóng góp của tri thức (thông qua các ngành sản xuất, dịch vụ ứng dụng công nghệ cao và sử dụng lao động tri thức) chiếm trên 2/3 giá trị sản phẩm

và tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Giá trị (GT) của mỗi sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) được đo ví dụ bằng tiền, bao gồm giá trị của hai thành tố:

Giá trị của vật liệu tạo ra sản phẩm (GTvl)

Giá trị của công sức con người tạo ra sản phẩm (GTcs) phần này lại gồm hai phần: Giá trị của công lao động chân tay (GTct)

Giá trị của công lao động trí tuệ (GTtt)

Nếu GTtt chiếm phần lớn của giá trị, ví dụ GTtt > 50% GT ta nói sản phẩm

Trang 18

áo trắng, công nhân tri thức là hết sức quan trọng Họ là lực lượng chủ yếu tạo ra của cải xã hội, tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới

Thứ tám, kinh tế tri thức bảo đảm sự phát triển bền vững, không hủy hoại

môi trường, sinh thái Kinh tế công nghiệp với kỹ thuật - công nghệ truyền thống

phát triển dựa trên sự tận dụng hết các nguồn tài nguyên thiên nhiên để thu lợi nhuận cao nhất, gần như không chú ý gì tới lợi ích môi trường, sinh thái, vì thế dẫn đến thảm họa môi trường như ngày nay Ngược lại, kinh tế tri thức dựa trên cơ sở

kỹ thuật - công nghệ cao sử dụng một cách khoa học, hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên, không gây ô nhiễm môi trường sống của con người Các khu công nghệ cao đã được hình thành là những khu công nghệ sạch khác xa với khu sản xuất truyền thống trước đây

Khái niệm kinh tế tri thức, trước hết là khái niệm phản ánh trình độ phát triển của các nhân tố trong LLSX của xã hội hiện đại Có thể khẳng định đó là sự thay đổi về chất của LLSX do khoa học đã trở thành và ngày càng trở thành LLSX trực tiếp - điều mà C.Mác và Ănghen đã từng dự báo cách đây hơn một thế kỷ

Tổng quát lại, theo quan điểm triết học và kinh tế chính trị học mác xít, kinh

tế tri thức là khái niệm dùng để chỉ một trình độ phát triển cao hơn của LLSX mà trong nền tảng LLSX chủ yếu của nó là các ngành kỹ thuật công nghệ cao; khoa học đã trở thành LLSX trực tiếp và có vai trò quyết định đối với nền kinh tế

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của kinh tế tri thức

Sự phát triển của kinh tế trong lịch sử của nhân loại đã trải qua những giai đoạn khác nhau Trước hết là kinh tế săn bắn và hái lượm tồn tại trong hàng trăm nghìn năm Tiếp đó là kinh tế nông nghiệp kéo dài khoảng mười nghìn năm Rồi đến kinh tế công nghiệp xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào nửa đầu sau thế kỷ XVIII Sau đó là kinh tế tri thức lúc đầu thường gọi là kinh tế thông tin, đã ra đời lúc đầu ở Mỹ vào đầu những năm 1970 và rồi ở nhiều nước công nghiệp phát triển

và ngày nay cả những nước công nghiệp mới Kinh tế tri thức theo một số dự báo, đối với nước Mỹ có thể sẽ kết thúc vào khoảng năm 2020 để nhường chỗ cho một nền kinh tế mới khác - kinh tế sinh học

Trang 19

Bảng 1.1.1 Sự khác biệt giữa kinh tế tri thức

so với các nền kinh tế khác trong lịch sử

nông nghiệp

Kinh tế công nghiệp

Kinh tế tri thức

Đầu vào của sản

xuất

Lao động, đất đai, vốn

Lao động, đất đai, vốn, công nghệ, thiết bị

Lao động, đất đai, vốn, công nghệ, thiết

bị, tri thức, thông tin Cách thức sản xuất Trồng trọt,

chăn nuôi

Chế tạo, gia công

Thao tác, điều khiển, kiểm soát

Đầu ra của sản xuất Lương thực Lương thực,

hàng hóa tiêu dùng, các xí nghiệp nền công nghiệp

Lương thực, hàng tiêu dùng chất lượng cao, công nghiệp tri thức, vốn tri thức, công nghệ mới

Cơ cấu ngành kinh

tế

Nông nghiệp Công nghiệp và

dịch vụ

Các ngành kinh tế tri thức thống trị

Công nghệ chủ đạo Cơ giới hóa

đơn giản

Cơ giới hóa, hóa học hóa, điện khí hóa

Công nghệ cao, điện

tử tin học, siêu xa lộ thông tin

Cơ cấu xã hội chính Nông dân Công nhân Công nhân tri thức

Vai trò của khoa

Trung học Sau trung học

Vai trò của công

Trang 20

nghiệp, tri thức đã trở thành nhân tố hàng đầu trong tăng trưởng kinh tế, vượt lên trên các nhân tố sản xuất cổ truyền vốn và lao động, và chính đây là đặc điểm cơ bản của nền kinh tế được gọi là kinh tế tri thức hay kinh tế dựa trên tri thức

Những nghiên cứu về kinh tế tri thức đã có một lịch sử hơn bốn chục năm bắt đầu từ công trình của Fritz Machlup Sản xuất và phân phối tri thức ở Mỹ xuất bản năm 1962 Công trình này lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm “công nghiệp tri thức” và lưu ý mọi người về tầm quan trọng và đặc biệt là sự tăng trưởng nhanh chóng của khu vực kinh tế này Fritz Machlup lần đầu tiên đã nhận ra một sự thay đổi quan trọng trong nền kinh tế của nước Mỹ: Các hoạt động sản xuất, phân phối,

và sử dụng tri thức trong một số lĩnh vực rộng lớn đang phát triển nhanh hơn rất nhiều sự tăng trưởng chung của nền kinh tế Phát hiện của Fritz Machlup đã được các tác giả khác xác nhận và không lâu sau đó các nhà nghiên cứu còn chứng minh rằng hiện tượng tương tự cũng xảy ra ở một số nước khác như Anh, Đức, Pháp Như vậy là theo ý kiến hiện nay đã được chấp nhận rộng rãi, bắt đầu từ đầu những năm 1970, trước hết ở Mỹ sau đó là một số nước khác nền kinh tế quốc gia đã chuyển từ giai đoạn công nghiệp sang một giai đoạn mới - kinh tế tri thức, tương

tự như trước đây, vào đầu nửa sau thế kỷ XVIII, bắt đầu từ nước Anh, đã có sự chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp

Một mốc lớn trong nghiên cứu về kinh tế tri thức là lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp” do nhà tương lai học người Mỹ Daniel Bell đưa ra từ năm 1967 và

được trình bày đầy đủ trong tác phẩm nổi tiếng “The coming of post - industrial society” (Sự xuất hiện của xã hội hậu công nghiệp) năm 1973 Trong tác phẩm này

Bell đã chỉ ra vai trò trung tâm của các hoạt động biến đổi tri thức ở Mỹ và sự kiện nước Mỹ đã chuyển từ xã hội công nghiệp của những công nhân “cổ áo xanh” sang một xã hội mới với vai trò quạn trọng thuộc về những người lao động “cổ áo trắng”

- xã hội hậu công nghiệp

Đặc biệt là báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năm

1996 đã vạch ra khung các vấn đề của kinh tế tri thức có thể sử dụng làm cơ sở ban đầu cho việc tiếp tục nghiên cứu về sự phát triển của nền kinh tế này Báo cáo viết:

Trang 21

“Từ “kinh tế tri thức” đã xuất hiện từ sự nhận thức về vai trò của tri thức và công nghệ trong tăng trưởng kinh tế Đành rằng tri thức luôn luôn là một yếu tố trung tâm của phát triển kinh tế, song vấn đề là sự phụ thuộc của kinh tế một cách chặt chẽ vào sản xuất, truyền bá và sử dụng tri thức ngày nay đã được đặt lên trên hết Điều này đã đưa một số nhà kinh tế đến chỗ cho rằng hàm sản xuất như đã được sử dụng trong lý thuyết tân cổ điển cần phải được sửa đổi và nhân tố “Tri thức” cần phải được đưa vào nó một cách trực tiếp hơn - một sự phát biểu lại về kinh tế trong “lý thuyết mới về tăng trưởng” Theo quan niệm cổ điển, sản xuất phụ thuộc vào lượng các nhân tố sản xuất được sử dụng, đặc biệt là lao động, vốn, vật tư và năng lượng Công nghệ hay tri thức được xem là các yếu tố bên ngoài, không phải là một phần liên kết của các hàm sản xuất Theo quan niệm mới về tăng trưởng kinh tế, hàm này phụ thuộc trực tiếp hơn vào cho đầu tư tri thức, nhân

tố này có thể làm tăng khả năng sản xuất của các đầu vào cổ điển Tri thức cũng cung cấp bí quyết là cái giúp người ta kết hợp các đầu vào đó để tạo ra các sản phẩm đổi mới và cải tiến các quy trình”

* Những năm gần đây trong nhiều quá trình nghiên cứu, nhiều hội nghị hội thảo quốc tế và trong nhiều văn bản chiến lược phát triển của các quốc gia, người

ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế như:

“Kinh tế thông tin”, “Kinh tế mạng”, “kinh tế số”, (nói lên vai trò quyết định của công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế)

“Kinh tế học hỏi” (nói lên động lực chủ yếu của nền kinh tế là sự học tập suốt đời của mọi người)

“Kinh tế dựa vào tri thức”, “Kinh tế dẫn dắt bởi tri thức”, “Kinh tế tri thức” (nói lên vai trò quyết định của tri thức và công nghệ đối với phát triển kinh tế)

“Kinh tế mới” (là tên gọi chung không xác định nội dung)

Trong số các tên gọi trên, kinh tế tri thức là tên gọi thường được dùng nhiều nhất Tổ chức OECD chính thức dùng từ năm 1996 Tên gọi này nói lên được nội dung cốt lõi của nền kinh tế mới, còn kinh tế thông tin, kinh tế số chỉ mới nói về

Trang 22

công nghệ thông tin, mặc dù công nghệ thông tin là nội dung chủ yếu nhất nhưng không bao gồm được các yếu tố tri thức và công nghệ khác

Kỹ thuật số hóa mở ra khả năng mới

Nền kinh tế tri thức (dựa trên

tri thức)

Khoa học và công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp

Nền kinh tế học hỏi(learning) Học hỏi suốt đời để đổi mới không ngừng

Theo GS,VS Đặng Hữu, kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh

ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống

Trong nền kinh tế tri thức vẫn còn nông nghiệp và công nghiệp nhưng hai ngành này chiếm tỷ lệ thấp Cũng như trong nền kinh tế công nghiệp vẫn còn nông nghiệp nhưng nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ bé Trong nền kinh tế tri thức, chiếm đa

số là các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ

Như vậy, có thể nói kinh tế tri thức là một giai đoạn phát triển mới của các nền kinh tế sau kinh tế công nghiệp với vai trò của sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trong tăng trưởng kinh tế ngày càng trở nên quan trọng Tri thức đã trở thành nhân tố hàng đầu của sản xuất, vượt lên trên các nhân tố sản xuất cổ truyền vốn và lao động Đây chính là vấn đề cốt lõi của kinh tế tri thức

Khác với loại hình kinh tế trước đây, loại hình mà lấy công nghiệp truyền thống làm nền tảng, lấy nguồn tài nguyên thiên nhiên thiếu thốn và ít ỏi làm chỗ dựa để phát triển sản xuất, kinh tế tri thức lấy công nghệ cao làm lực lượng sản xuất, lấy trí lực - nguồn tài nguyên vô tận làm chỗ dựa chủ yếu, lấy công nghệ thông tin làm nền tảng để phát triển

Trang 23

Quá trình phát triển của nhân loại gắn liền với sự phát triển của LLSX Xét

từ thủa sơ khai đến nay, quá trình phát triển của LLSX có thể được chia ra làm ba giai đoạn tương ứng với ba mức trình độ phát triển của nền kinh tế thế giới, là giai đoạn kinh tế sức lao động, giai đoạn kinh tế tài nguyên và giai đoạn kinh tế tri thức

Giai đoạn kinh tế sức lao động

Kinh tế sức lao động bắt đầu từ giai đoạn đầu của văn minh nhân loại và kéo dài đến tận thế kỷ XIX (đến nay vẫn có một số nước trên thế giới có trình độ sản xuất thuộc loại này) Trong giai đoạn này, con người sử dụng các công cụ lao động thô sơ, lạc hậu, nên năng suất lao động thấp phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nên giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn kinh tế nông nghiệp Cho

dù trải qua một thời gian dài phát triển, nhưng cho đến trước cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX thì trình độ sản xuất vẫn không thay đổi Trong giai đoạn kinh

tế sức lao động phân phối sản xuất tiến hành chủ yếu dựa vào sự chiếm hữu tài nguyên sức lao động Trình độ giáo dục thấp tỷ lệ người mù chữ chiếm đại đa số trong dân cư

Giai đoạn kinh tế tài nguyên hay còn gọi là giai đoạn kinh tế công nghiệp, là

giai đoạn phát triển nền kinh tế chủ yếu quyết định bởi sự chiếm hữu và phân phối tài nguyên với các tư liệu lao động đã phát triển tới một trình độ cao hơn, máy móc

đã dần thay thế sức người lao động và trở thành yếu tố quyết định năng suất lao động Giai đoạn này, nền kinh tế phát triển khá nhanh nhờ khai thác ào ạt tài nguyên thiên nhiên

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào khoảng cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX đã làm cho nền kinh tế thế giới tăng trưởng với nhịp độ 0,6%/năm Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai từ đầu thế kỷ XIX đến cuối những năm 70 của thế kỷ XX đã làm cho nền kinh tế thế giới tăng trưởng với nhịp

độ 2%/năm Riêng trong 20 năm, từ 1950 đến 1970, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai đã đưa nền kinh tế thế giới tăng trưởng với tốc độ rất cao, gần 6%/năm

Trong giai đoạn này, nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào các ngành công nghiệp, chủ thể của nền kinh tế là các công nhân nhà máy Hàm lượng về năng

Trang 24

lượng, nguyên liệu, thiết bị, vốn chiếm phần rất lớn trong một sản phẩm Sự phân phối sản xuất chủ yếu dựa vào chiếm hữu tài nguyên thiên nhiên

Trong nền kinh tế công nghiệp, việc sử dụng và khai thác tài nguyên trí lực ngày càng tăng, dần tạo tiền đề cho sự ra đời của nền kinh tế tri thức Quá trình đó trải qua ba giai đoạn:

- Cách mạng công nghiệp: Giai đoạn này kéo dài khoảng một thế kỷ (1700 -

1800), có sự chuyển biến từ kỹ năng cơ khí sang công nghệ Trong giai đoạn này, tri thức được áp dụng cho các công cụ sản xuất và sản phẩm, nhưng tri thức chỉ được cho là kỹ thuật

- Cách mạng năng suất: Giai đoạn này bắt đầu từ khoảng cuối thế kỷ XIX

và kết thúc vào chiến tranh thế giới thứ nhất (khoảng 75 năm) Taylor 1915), một nhà kinh tế Hoa Kỳ, đã áp dụng tri thức vào việc tổ chức lao động, hợp

(1856-lý hóa quá trình sản xuất và tối đa hóa hiệu quả của các phương pháp sản xuất

Việc áp dụng tri thức và tổ chức lao động đã làm tăng nhanh chóng năng suất lao động Kể từ khi vận dụng phương pháp Taylor vào tổ chức lao động đến nay đã làm tăng năng suất lao động ở các nước đang phát triển tăng đến 50 lần Tuy nhiên phương pháp này chủ yếu chỉ được áp dụng có hiệu quả cho lao động chân tay Cùng với cách mạng năng suất, số người lao động chân tay đã giảm đáng

kể và vấn đề nổi lên là năng suất lao động của những công nhân không phải là lao động chân tay điều đó yêu cầu vận dụng tri thức vào sản xuất

- Cách mạng quản lý: Giai đoạn này bắt đầu từ năm 1945 và trải qua gần 50

năm để có thể chiếm vị trí thống lĩnh toàn cầu Ở hai giai đoạn trước, tri thức được ứng dụng vào việc sản xuất các công cụ lao động, các phương pháp sản xuất, vào sản phẩm và vào tổ chức lao động của con người Ở giai đoạn này, vận dụng tri thức là để biết làm thế nào sử dụng vốn tri thức hiện có để tạo ra kết quả sản xuất Hay nói cách khác, đó chính là vận dụng tri thức trong quản lý

Giai đoạn kinh tế tri thức hay còn gọi là kinh tế hậu công nghiệp là giai

đoạn phát triển kinh tế chủ yếu dựa trên sự chiếm hữu và phân phối tài nguyên trí lực, khoa học kỹ thuật sẽ trở thành một thành phần cơ bản của LLSX Hiện nay các nguồn nguyên liệu trong thiên nhiên đang dần cạn kiệt Thực tế đó đòi hỏi giới

Trang 25

khoa học kỹ thuật phải tìm cách giải quyết theo các hướng như tìm kiếm nguồn năng lượng mới, phát minh ra các chất liệu mới, phát triển các công nghệ mới Vì thế, trong giai đoạn này, quốc gia nào nắm được khoa học công nghệ thì quốc gia

đó càng có điều kiện và khả năng phát triển kinh tế nói chung và kinh tế tri thức nói riêng

* Quá độ từ kinh tế tài nguyên sang kinh tế tri thức

Từ những năm 80 thế kỷ XX trở lại đây, những tiến bộ có tính chất bùng nổ của LLSX do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt ở các nước phát triển và các nước công nghiệp mới (NICs), đang tạo nên sự biến đổi lịch

sử có ý nghĩa quan trọng: Nền kinh tế chuyển từ kinh tế tài nguyên (kinh tế công nghiệp) sang kinh tế tri thức (hậu công nghiệp), nền văn minh nhân loại chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ

Ở giai đoạn này, khoa học - công nghệ trở thành LLSX trực tiếp Khoa học trực tiếp tạo ra các sản phẩm và có vị trí quan trọng hàng đầu Kết quả nghiên cứu của khoa học cũng nhanh chóng chuyển thành hàng hóa Công nghệ cao phát triển như vũ bão Nhờ có công nghệ mới mà nhiều ngành mới xuất hiện Phát triển mạnh nhất và chiếm đa số là những ngành sản xuất và dịch vụ chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ cao Phát triển kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu khoa học - công nghệ Kinh tế tri thức có chủ thể là người lao động tri thức, sản phẩm làm ra có hàm lượng trí tuệ, hàm lượng chất xám cao Tri thức là một tài nguyên vô hình, vô tận, ngày một nhiều hơn, tốt hơn, có thể giúp chúng ta khai thác tối ưu tài nguyên thiên nhiên hiện có và tìm ra nguồn tài nguyên mới, tránh được ô nhiễm môi trường Khả năng khai thác tài nguyên tri thức thay thế cho tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt ngày càng tăng lên Do đó vai trò của tài nguyên thiên nhiên bị đẩy xuống hàng thứ yếu, lợi thế giàu tài nguyên và sức lao động ngày càng yếu đi so với lợi thế giàu tri thức Điều này thực tế đã chứng minh với một số nước ít tài nguyên nhưng lại phát triển mạnh về mặt tri thức như Nhật Bản, Singapore và Hồng Kông Kinh tế tri thức xuất hiện làm lu mờ dần vai trò của kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp

Trang 26

Hiện nay, khi loài người bước sang thiên niên kỷ mới, những yếu tố của giai đoạn phát triển kinh tế tri thức bắt đầu xuất hiện Sự hình thành và phát triển kinh

tế tri thức trở thành xu thế khách quan trong thời đại khoa học - công nghệ hiện đại

và toàn cầu hóa Nó là sản phẩm của thời đại hậu công nghiệp và là bước đột phá

kế tiếp tự nhiên trong lịch sử phát triển sản xuất của loài người Cần lưu ý rằng sự phát triển cao độ của giai đoạn kinh tế công nghiệp là điều kiện tiên quyết để chuyển sang giai đoạn phát triển kinh tế tri thức Đặc trưng cơ bản của của sự phát triển cao độ của kinh tế tài nguyên là sự phát triển cao độ của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, sự hoàn thiện của thiết bị cơ sở, sự thành thục của kinh tế thị trường và sự phát triển cao độ của cách mạng kỹ thuật mới, đều là những điều kiện không thể thiếu được để bước sang giai đoạn phát triển kinh tế tri thức Với vai trò

là nền tảng của kinh tế tri thức, việc phát triển khoa học kỹ thuật cao sẽ không thể thực hiện được nếu không nâng cao mức sống nhân dân, không phổ cập và nâng cao giáo dục toàn dân, không có sự bồi dưỡng nhân tài chuyên môn, không có sự

bố trí hợp lý đội ngũ nhân tài Tất cả những cái đó chỉ có được khi kinh tế công nghiệp phát triển cao độ

1.1.3 Tiêu chí nhận biết trình độ kinh tế tri thức

Việc đo lường, đánh giá năng lực của một nền KTTT, hay mức độ phát triển kinh tế tri thức đang được nghiên cứu và tranh luận Cái khó ở đây là tính toán vốn tri thức cùng lúc với các vốn cố định đã quen thuộc Tri thức là nguồn lực chủ yếu của KTTT, thế nhưng tri thức lại rất khó định lượng và định giá Hiện thời trên thế giới mới chỉ có những chỉ số rất gián tiếp và cục bộ về sự tăng trưởng cơ sở tri thức Ngoài ra, đối với các nền kinh tế đó là KTTT và các nền kinh tế có tiềm năng

để trở thành KTTT cũng còn có các chỉ số đánh giá khác nhau Tuy vậy, các tổ chức quốc tế cũng đã đề xuất và sử dụng một số chỉ tiêu và phương pháp để đánh giá năng lực và so sánh mức độ phát triển nền KTTT

OECD đề xuất cần đo lường bốn yếu tố sau: 1/ đầu vào của tri thức (sản xuất tri thức) gồm chi phí cho nghiên cứu - triển khai, sử dụng cán bộ khoa học công nghệ, số lượng bằng sáng chế ; 2/ đầu ra của tri thức (sử dụng tri thức), đó

là giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp dựa vào công nghệ cao, số việc làm cần kỹ năng cao và được thu nhập cao; 3/ mạng tri thức (phân phối, quảng bá tri

Trang 27

thức) bao gồm đánh giá về hệ thống đổi mới quốc gia (gắn kết nghiên cứu với sản xuất kinh doanh), hệ thống thông tin, truyền thông ; 4/ tri thức và học tập, gồm các chỉ số về trình độ học vấn, về đào tạo nghề, đặc biệt là về vừa làm vừa học, học tập suốt đời, phát triển nghề liên tục

APEC đưa ra 25 chỉ số bao trùm các nhóm vấn đề nhân lực và giáo dục, khoa học công nghệ và hệ thống đổi mới, công nghệ thông tin, môi trường kinh doanh và cải cách thể chế; trong đó hai chỉ số quan trọng nhất là tỷ lệ công nhân tri thức trong tổng lực lượng lao động và tỷ lệ kinh tế tri thức trong tổng GDP Về tỷ

lệ tri thức trong GDP vẫn chưa có cách xác định cụ thể, nên APEC vẫn dùng qui ước của OECD là các ngành công nghiệp chế tác dựa vào công nghệ cao và công nghệ cao được xem là các ngành kinh tế dựa vào tri thức Còn công nhân tri thức thì có thể bao gồm những người quản lý và cán bộ cấp cao của Chính phủ, các chuyên viên cấp cao và chuyên viên chính, công nhân kỹ thuật cao, theo phân loại của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Thực ra thì cách sắp xếp như trên không phản ánh được năng lực thực sự của một nền KTTT, nhưng lại dễ sử dụng trong thực tế nhờ vào các hệ thống thống kê hiện có

Ngân hàng Thế giới đã đưa ra hệ thống 64 chỉ tiêu tập hợp theo bốn nhóm: 1/ môi trường kinh doanh, 2/ khoa học và công nghệ, 3/ giáo dục và đào tạo, 4/ công nghệ thông tin và truyền thông Mỗi nhóm có 16 chỉ tiêu Để tiện dụng hơn

có thể rút gọn còn 14 chỉ tiêu: mỗi nhóm 3 chỉ tiêu và thêm hai chỉ tiêu cơ bản là tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số phát triển con người (HDI) Đối với mỗi chỉ tiêu, mức độ phát triển được đánh giá bằng thang điểm từ 0 đến 10 Mức độ phát triển KTTT được biểu thị bằng đồ thị hình bánh xe Điểm bình quân của 64 chỉ tiêu được gọi là chỉ số phát triển kinh tế tri thức (KEI) Với phương pháp đó, Ngân hàng Thế giới đã đánh giá mức độ phát triển KTTT của hơn 120 nền kinh tế

Cũng như một số nhà nghiên cứu trong nước có cùng quan điểm cho rằng, một nền kinh tế được cho là đã phát triển đến trình độ kinh tế tri thức khi đạt được một số chỉ tiêu như:

- 70% GDP là từ các ngành sản xuất và dịch vụ ứng dụng công nghệ cao

- 70% trong cơ cấu giá trị gia tăng là do kết quả của lao động trí óc

- 70% lực lượng lao động là công nhân trí tuệ

- 70% giá trị tư bản là từ lao động sáng tạo của con người

Trang 28

Theo GS, TS Ngô Quý Tùng (Trung Quốc), trong cuốn “Kinh tế tri thức -

Xu thế mới của thế kỷ XXI”, ông có đưa ra một hệ thống chi tiết hơn các chỉ tiêu của kinh tế tri thức Cụ thể:

Bảng 1.1.3 Các chỉ tiêu cùa kinh tế tri thức

Tính quan trọng của nghiên cứu khoa học Cực lớn

Kinh phí nghiên cứu khoa học chiếm tổng GNP Trên 3%

Tỉ lệ cống hiến của khoa học kỹ thuật đối với sự tăng

trưởng kinh tế

Trên 80%

nghiệp Kết cấu công nghệ

Công nghệ vật liệu mới và năng lượng tái sinh ~10%

Khoa học kỹ thuật không gian, khoa học kỹ thuật mềm 5%

Kết cấu sức lao động

Tác dụng của phương tiện tuyên truyền Cực lớn

Mức độ nhất thể hoá kinh tế thế giới Rất cao

Nguồn: Ngô Quý Tùng (2000), Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế

kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 29

Với một cách hiểu như vậy về khái niệm “Kinh tế tri thức” sẽ cho phép phân tích sáng tỏ những vấn đề có liên quan về mặt lý luận của kinh tế học chính trị và thực tiễn phát triển kinh tế tri thức ở các nước trên thế giới cũng như chủ trương

“Từng bước phát triển kinh tế tri thức” ở nước ta theo Văn kiện Đại hội X của Đảng Khái niệm này cũng cho thấy rằng: Chiến lược phát triển kinh tế ở nước ta cần thiết phải hướng tới xây dựng một nền kinh tế phát triển ở trình đội kinh tế tri thức

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

1.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo

Nhân tố cơ bản nhất để phát triển KTTT là nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên nền giáo dục tiên tiến KTTT có nhiều khác biệt cơ bản so với kinh tế công nghiệp, do đó đòi hỏi phải đổi mới, cải cách nền giáo dục

Trước hết trong nền KTTT vốn tri thức trở thành yếu tố quan trọng nhất của sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên; và cũng do đó giáo dục đào tạo với chức năng tạo ra và nhân lên vốn tri thức trở thành ngành sản xuất cơ bản nhất của nền KTTT Vị trí vai trò của giáo dục thay đổi cơ bản

Thứ hai là sáng tạo đã trở thành động lực quan trọng nhất: nếu như trong nền kinh tế công nghiệp hiện nay năng lực cạnh tranh và việc tạo ra giá trị mới chủ yếu là do hoàn thiện, tối ưu hoá cái đã có; thì trong KTTT việc nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là do sáng tạo ra cái mới Cái có giá trị nhất là cái chưa biết, cái

đã biết thì giá trị sẽ dần dần mất đi Đổi mới, phát triển chủ yếu là dựa vào sự sáng tạo ra cái mới, chứ không chỉ là hoàn thiện cái đã có Con người không có năng lực sáng tạo thì không có chỗ đứng trong KTTT

Thứ ba là tốc độ đổi mới rất nhanh Trong nền kinh tế công nghiệp chu kỳ công nghệ, sản phẩm có thể tính bằng thập kỷ, còn trong KTTT chu kỳ tính bằng năm, thậm chí bằng tháng Sản phẩm mới tăng lên không ngừng, vòng đời công nghệ và sản phẩm rút ngắn rất nhanh, do đó tốc độ đổi mới ngày càng tăng nhanh trong tất cả các ngành, các doanh nghiệp Tốc độ trở thành cái trên hết; người ta

Trang 30

“làm việc và kinh doanh theo tốc độ của tư duy” (Bill Gates, 2000) Các doanh nghiệp buộc phải đổi mới nhanh, doanh nghiệp nào không kịp thời đổi mới thì sẽ

bị tiêu vong Con người phải biết tự đào tạo, luôn tiếp thu tri thức mới, có năng lực sáng tạo, thường xuyên đổi mới cách nghĩ, cách làm thì mới có thể thích nghi và làm chủ được kinh tế tri thức

Vốn tri thức có các đặc điểm khác với các vốn khác ở chỗ vốn tri thức khi chuyển giao cho người khác thì người sở hữu tri thức không bị mất tri thức, như thế tri thức được nhân lên gấp đôi; khi truyền bá tri thức cho nhiều người thì vốn tri thức được nhân lên gấp bội, mà việc nhân lên vốn tri thức đòi hỏi ít chi phí Tri thức không những không bị hao mòn trong quá trình sử dụng, mà còn được nâng cao lên Thêm nữa, tri thức - với tư cách là một nguồn vốn, một tư liệu sản xuất chủ yếu - luôn luôn nằm trong từng người lao động, không tách khỏi người lao động Điều nay đòi hỏi phải thiết lập quan hệ sản xuất, quan hệ phân phối phù hợp

Hoạt động chính trong nền KTTT là tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức Tạo ra tri thức là mục đích của các hoạt động nghiên cứu sáng tạo, do những người được đào tạo tốt tiến hành Truyền bá tri thức tức là nhân lên vốn tri thức, làm cho vốn tri thức xã hội tăng lên nhanh chóng, đó chính là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần quảng bá tri thức Vì vậy người ta coi giáo dục là ngành sản xuất cơ bản nhất trong nền KTTT

Sử dụng tri thức là quá trình đổi mới, biến tri thức thành giá trị, đưa tri thức vào trong các hoạt động xã hội của con người, đó cũng là nhiệm vụ của giáo dục, nhất

là giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời, học kết hợp với hành, giáo dục kết hợp hoạt động thực tiễn

Trong thời đại cách mạng thông tin, cách mạng tri thức quá trình tạo ra tri thức, truyền bá tri thức và sử dụng tri thức không còn là quá trình kế tiếp nhau mà trở thành đan xen nhau, tương tác nhau; và cái quan trọng nhất là sử dụng tri thức, biến tri thức thành giá trị Giáo dục phải đào tạo ra con người có tri thức và biết sử dụng tri thức trong hoạt động thực tiễn để tạo ra nhiều giá trị mới

Trang 31

Trên thế giới mô hình giáo dục đang thay đổi, đang chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống, coi đào tạo và làm việc là hai giai đoạn tách biệt nhau, sang mô hình đào tạo (học tập) suốt đời Trong mô hình giáo dục truyền thống, nhà trường đào tạo rèn luyện để người học có được một vốn tri thức, một kỹ năng nhất định để

có thể ra làm việc suốt đời Nhưng trong mô hình học tập suốt đời, nhà trường trang bị cho người học một vốn tri thức và kỹ năng cơ bản để người học có thể sớm ra làm việc, nhưng vẫn phải tiếp tục giúp đỡ người lao động vừa làm vừa học, học tập suốt đời là việc cần thực hiện thường xuyên để phát triển kỹ năng liên tục Như vậy việc đào tạo gắn rất chặt với việc sử dụng, giáo dục luôn luôn gắn với việc làm, gắn với thị trường lao động

1.2.2 Tiềm lực khoa học - công nghệ

* Các khái niệm:

Khoa học là hệ thống kiến thức kinh nghiệm của loài người do cộng đồng các nhà khoa học tìm ra Khoa học bao gồm khoa học nghiên cứu và khoa học ứng dụng Theo định nghĩa chung, khoa học là cơ sở, phương pháp có lý luận, tư duy, chứng minh

Công nghệ (hay công nghệ học hoặc kỹ thuật học) có nhiều hơn một định nghĩa Một trong số đó là phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học và kỹ nghệ

Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ

Khoa học nghiên cứu các sự kiện tự nhiên, xã hội và tư duy Kỹ nghệ là ứng dụng của các kiến thức khoa học để phát triển sản phẩm Công nghệ là việc sử dụng các sản phẩm đã kỹ nghệ hóa

Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thường được đặc trưng bởi các phát minh

và cải tiến sử dụng các nguyên lý và quy trình đã được khoa học phát hiện ra gần

Trang 32

đây nhất Tuy nhiên, thậm chí cả phát minh cổ nhất như bánh xe cũng là một minh họa cho công nghệ

Một định nghĩa khác - được sử dụng trong kinh tế học - xem công nghệ như

là trạng thái hiện tại của các kiến thức của chúng ta trong việc kết hợp các nguồn lực để sản xuất các sản phẩm mong muốn (và kiến thức của chúng ta về việc sản xuất như thế nào) Như vậy chúng ta có thể thấy các thay đổi công nghệ khi kiến thức kỹ thuật của chúng ta tăng lên

* Đặc điểm khoa học công nghệ

Khoa học và công nghệ là lĩnh vực nghiên cứu nhằm mục đích phát hiện ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy Các hoạt động KH-CN có đặc điểm chung là kế thừa, sử dụng nhiều loại tri thức của nhân loại đã được tích lũy, kết quả của nó thường được biểu hiện ra như một hệ thống tri thức mới Với tư cách là một hệ thống tri thức, khoa học là biểu hiện sự khôn ngoan của trí tuệ đồng thời là một nguồn tài nguyên vô tận cho cuộc sống con người Tri thức mới và sản phẩm của khoa học công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi được xã hội thừa nhận khi đem lại hiệu quả kinh tế, làm giàu cho quốc gia Kinh tế một quốc gia chỉ được phát triển khi những nghiên cứu cải tiến khoa học công nghệ được vận dụng vào trong thực tiễn sản xuất kinh doanh

* Vai trò của khoa học - công nghệ

Bản chất của KH-CN là hệ thống tri thức mang tính quy luật và vai trò, nhiệm vụ của KH-CN bao gồm cả hai chức năng là nhận thức và cải tạo thế giới

Về cơ bản, khoa học được chia thành hai mảng: khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Về loại hình nghiên cứu khoa học được chia làm ba loại: nghiên cứu khoa học

cơ bản, nghiên cứu khoa học ứng dụng và nghiên cứu khoa học triển khai

Khoa học - công nghệ ngày nay đã trở thành một LLSX hàng đầu và nó có vai trò ngày càng to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của loài người KH-CN ngày nay đã trở thành LLSX trực tiếp Nền kinh tế thế giới đã phát triển đến giai đoạn kinh tế tri thức với sự phát triển cao độ của KH-CN và sự phát triển cao của tri thức

Trang 33

Theo quy luật phát triển, nền kinh tế đã trải qua nhiều giai đoạn như kinh tế lao động, kinh tế tài nguyên hay nói cách khác là kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp Hiện nay, một số nước phát triển đã ở giai đoạn hậu công nghiệp hay còn gọi là kinh tế tri thức

Như vậy để phát triển đi lên giai đoạn kinh tế tri thức thì gần như bắt buộc nền kinh tế nào cũng trải qua các giai đoạn phát triển trên Tuy nhiên về thời gian

và cách thức thì lại không giống nhau Với các nước phát triển, tiềm lực kinh tế và tiềm lực khoa học công nghệ đã phát triển cao thì thời gian đi lên kinh tế tri thức đương nhiên sẽ được rút ngắn lại Ngược lại, với những nước có tiềm lực kinh tế

và khoa học yếu hơn thì đương nhiên sẽ mất nhiều thời gian hơn Kinh tế tri thức

là giai đoạn phát triển cao của kinh tế công nghiệp chứ không chỉ đơn thuần là sự phát triển cao của một số ngành như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng, vật liệu mới Nhưng với các nước đang phát triển có thể tập trung phát triển trước một số ngành công nghệ cao làm mũi nhọn, đầu tàu để kéo cả nền kinh tế phát triển theo một hướng đã định

1.2.3 Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế tri thức

Với các nước phát triển, việc đi lên giai đoạn kinh tế tri thức là một quá trình tuần tự theo quy luật, do đó vai trò tác động của Nhà nước không phải là yếu

tố quyết định Ngược lại, với những nước đang phát triển thì sự tác động của Nhà nước là cực kỳ quan trọng, bởi nó mang tính định hướng cao Với các nước đang phát triển, cơ sở vật chất, trình độ khoa học còn chưa cao, Chính phủ các nước phải là người đứng ra quyết định phát triển nền kinh tế đi lên giai đoạn kinh tế tri thức theo hướng nào và bằng cách nào Nếu sự định hướng đúng đắn, đồng thời Nhà nước lại có nhiều cơ chế, chính sách phù hợp, hỗ trợ, thúc đẩy thì sẽ nhanh chóng thu được thành quả Trong trường hợp này, vai trò của Chính phủ sẽ được thể hiện thông qua một số điểm như: chiến lược, kế hoạch và chính sách giáo dục đào tạo, phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư, khuyến khích nghiên cứu khoa học

Trang 34

Xét về bản chất, kinh tế tri thức chỉ là giai đoạn phát triển cao của kinh tế thị trường nên vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế là không thay đổi Cụ thể, vẫn bao gồm một số điểm cơ bản như:

- Điều tiết và đảm bảo ổn định vĩ mô nền kinh tế thông qua các định hướng chiến lược cho sự phát triển kinh tế bằng các công cụ như kế hoạch, chính sách, chương trình

- Thiết lập ra khuôn khổ pháp luật để xác định môi trường pháp lý cho kinh

tế tri thức hoạt động Trong đó phải thực sự đề cao các luật về sở hữu trí tuệ và bản quyền công nghiệp các sản phẩm Bởi trong kinh tế tri thức, sản phẩm trí tuệ mang giá trị vô hình và rất dễ bị xâm phạm nếu không có những biện pháp bảo vệ tích cực và hữu hiệu của hệ thống pháp luật

- Điều chỉnh, sửa chữa các thất bại của thị trường

- Đảm bảo công bằng xã hội

Ngoài ra nhà nước cần thực hiện tốt các chính sách như sau:

* Đẩy mạnh việc thu nhận tri thức

Có được tri thức là sự kết hợp giữa tiếp thu tri thức từ bên ngoài và tạo ra tri thức ở trong nước Vì không có một nước nào có thể tạo ra tất cả tri thức mà mình cần, nên việc học tập từ những nước bên ngoài là một yếu tố quyết định trong chiến lược thành công cho tất cả các nước, ngay cả những nước có trình độ tiên tiến hơn Đối với các nước đang phát triển, việc xây dựng năng lực để ứng dụng tri thức nhập khẩu có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong phát triển, đặc biệt đối với việc nhanh chóng thu hẹp khoảng cách phát triển so với các nước tiên tiến hơn Tuy nhiên, những nước này cũng cần tạo ra tri thức mà họ không thể mua được trên thế giới Việc thu hẹp khoảng cách về tri thức cũng đòi hỏi các nước này phải nâng dần khả năng tạo ra tri thức ở trong nước

Để xây dựng cơ sở tri thức, các nước đang phát triển phải khai thác mọi phương tiện sẵn có cho việc tiếp thu tri thức từ bên ngoài và tạo ra tri thức ở trong

nước

* Nâng cao năng lực hấp thụ tri thức của một nước

Trang 35

Một chiến lược hiệu quả để thu hẹp những khoảng cách về thông tin phải có các biện pháp nâng cao năng lực con người để có được tri thức Bảo đảm cơ hội rộng khắp để tiếp cận giáo dục cơ bản là bước đầu tiên cực kỳ quan trọng, nhưng chưa phải là tất cả Các nước cũng phải đảm bảo rằng họ có đủ đội ngũ nhân viên

có trình độ cao, bao gồm các kỹ sư, các nhà khoa học Điều này đòi hỏi phải phát triển các trường trung học và đại học, đặc biệt là cho kỹ thuật và khoa học Điều

đó có nghĩa là phải cung cấp cơ hội học tập lâu dài cho các học viên sau khi đã tốt nghiệp phổ thông Đây là một vấn đề đòi hỏi sự đầu tư tốn kém mà các chỉnh phủ cần phải cân nhắc đặc biệt là đối với các nước nghèo

* Những chính sách để trao đổi tri thức trong thời đại thông tin

Ngày nay, những công nghệ thông tin và liên lạc mới giúp mọi người chia

sẻ tri thức với chi phí thấp chưa từng có Do đó, các nước đang phát triển có tiềm năng rất lớn để tận dụng những công nghệ mới nhằm nâng cấp hệ thống giáo dục, cải thiện việc hoạch định và thi hành chính sách, và tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới Để hiện thực hóa tiềm năng này, các nước phải:

- Bảo đảm cạnh tranh và điều tiết hợp lý để tạo điều kiện tự do sáng kiến cá nhân nhằm mang lại hạ tầng và các dịch thông tin liên lạc và mở rộng việc sử dụng các công nghệ

- Cung cấp cơ hội tiếp cận cho những vùng nông thôn và người nghèo; Bảo đảm dịch vụ đến được các vùng hẻo lánh và người nghèo bằng cách loại bỏ các chương trình trợ giúp truyền thống và thay vào đó hợp tác với khu vực tư nhân hay những người thụ hưởng để xác định mức độ hỗ trợ cần thiết của Chính phủ

1.2.4 Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội cho

sự phát triển nhất là về kinh tế như:

- Giúp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi quốc tế; nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới và khu vực

- Các hoạt động kinh tế quốc tế góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI)

và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và các tổ chức tiền tệ quốc tế (ODA)

Trang 36

- Thu hút khoa học, kỹ thuật, công nghệ, khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại

- Gia tăng các luồng chuyển giao vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy giao lưu văn hóa, trí tuệ Các hiệp định thương mại song phương và đa phương nhằm thúc đẩy thương mại chủ yếu thông qua các chính sách cắt giảm thuế đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tiến tới hội nhập toàn cầu

Quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đó dẫn đến xu hướng liên kết kinh tế thông qua sự ra đời, sự hợp nhất của nhiều tổ chức và đơn vị kinh tế, thương mại, tài chính, và các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Quỹ tiền

tệ thế giới IMF, Ngân hàng thế giới WB, Liên minh Châu Âu EU, Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ NAFTA, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN Thông qua các tổ chức này, quy mô lưu thông vốn quốc tế được tăng lên một cách đáng

kể, tốc độ tăng trưởng mậu dịch thế giới vượt xa tốc độ tăng trưởng kinh tế; các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, pháp luật, nghiên cứu và phát triển, văn hóa được hợp tác chặt chẽ giữa nhiều quốc gia để phát huy tối đa tiềm lực của từng dân tộc nhằm đạt đến những thành tựu đáng kinh ngạc

Song song với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, quá trình hội nhập còn giúp củng cố và hoàn thiện các thể chế quốc tế, thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc, các quốc gia, và các khu vực Khoảng cách giữa các giá trị văn minh, hòa nhập về vật chất lẫn tinh thần giữa các nền kinh tế sẽ được thu hẹp để tiến tới việc hấp thu, học hỏi những tinh hoa tiến bộ của nhân loại và đào thải dần những

hủ tục không phù hợp với sự phát triển của con người sẽ tạo ra những môi trường thuận lợi để nhân loại cùng vươn tới những đỉnh cao về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ khoa học kỹ thuật, môi trường, v.v…

1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tri thức ở một số nước, một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

1.3.1 Kinh tế tri thức ở các nước phát triển

* Kinh tế tri thức ở Mỹ

Trang 37

Tháng 2/1997, trong thông điệp về tình hình đất nước, Tổng thống Bill Clinton đã chính thức sử dụng tên gọi kinh tế tri thức theo định nghĩa của OECD Bởi lẽ, ở Mỹ cũng như các thành viên chủ yếu khác của OECD, hơn 50% tổng giá trị sản xuất trong nước (GDP) đều do các ngành sản xuất có hàm lượng tri thức và công nghệ cao tạo ra Tri thức đang trở thành yếu tố có sức sống và quan trọng nhất trong các yếu tố sản xuất, là hạt nhân của việc gắn liền tổ chức và lôi kéo, thúc đẩy đổi mới các yếu tố khác Cũng có nghĩa là trong điều kiện hiện nay, tài nguyên lao động và tư bản hữu hình ở giai đoạn kinh tế công nghiệp đang dần bị tài nguyên tri thức thay thế vai trò chủ đạo

Những năm gần đây, sự phát triển của nền kinh tế Mỹ đã bước đầu bộc lộ ra khuôn mặt của thời đại kinh tế tri thức như:

Mỗi năm số tiền chi cho sản xuất tri thức và các hoạt động liên quan khác chiếm khoảng 20% GDP Trong đó, chi tiêu cho giáo dục để phát triển nhân tài kiểu tri thức đã chiếm 10% GDP

Đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) chiếm 2,8% GDP, hướng vào việc nghiên cứu và sáng tạo ra những cái mới

Thương mại hóa số lượng lớn các thành quả của kỹ thuật cao để thúc đẩy tăng trưởng, trong đó các ngành sản xuất phần mềm có hàm lượng tri thức cao được xác định là đại diện chính cho các nguồn tăng trưởng Ví dụ, trong 3 năm gần đây, tỷ lệ đóng góp của ngành sản xuất điện tử - tin học cho sự tăng trưởng kinh tế của Mỹ lên đến khoảng 45%, trong khi ngành xây dựng chỉ chiếm khoảng 14% và

xe hơi chỉ chiếm khoảng 4% Theo dự đoán, cùng với sự khai thông toàn diện của

xa lộ thông tin cao tốc trên quy mô toàn cầu, mức độ đóng góp của tri thức cho tăng trưởng kinh tế từ 5 - 20% hiện nay sẽ lên tới 80 - 90% trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI

Trên cơ sở máy tính hóa, các công nghệ thông tin và các phương tiện giao tiếp mới, hàng loạt các dịch vụ mới như: dịch vụ tài chính, bảo hiểm, thông tin, thương mại điện tử đã xuất hiện và hình thành nhanh chóng trên thị trường Ví

dụ ở Mỹ, thương mại điện tử là một lĩnh vực phát triển hết sức mạnh Thương mại

Trang 38

điện tử hiện chiếm một tỉ lệ tiêu thụ lớn, từ 20 - 60% sản phẩm của các ngành máy tính điện tử, phần mềm, năng lượng và sách báo của Mỹ Với sự hình thành các dịch vụ mới, cơ cấu hoạt động kinh doanh trước đây là bộ phận của ngành sản xuất vật chất hoặc kinh tế gia đình sẽ được tách ra thành các khâu kinh tế độc lập Đặc biệt nhờ kinh tế tri thức, những dịch vụ chưa hề có trước đó, đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ

Kết cấu việc làm thay đổi, không ngừng khai thác và phát triển những lĩnh vực việc làm mới của những ngành kinh tế tri thức Năm 1997, chỉ riêng các ngành khoa học kỹ thuật cao của Mỹ đã tạo ra 240.000 cơ hội việc làm có tiền lương cao Hiện nay số người làm tin học ở Mỹ đã vượt trên 60% tổng lao động xã hội đang làm việc Các khu vực kinh tế tri thức đã đóng góp khoảng 80% tổng GDP

Rất nhiều ngành nghề trong nông nghiệp và công nghiệp đang chuyển thành những ngành nghề trí tuệ Hiện nay, có khoảng 60% số công nhân ở Mỹ là công nhân tri thức, 80% số ngành nghề mới là do các ngành kinh tế tri thức tạo ra

Khu vực kinh tế tri thức không những là khu vực phát triển nhanh nhất mà còn là khu vực xuất hiện những doanh nhân giàu có nhất Các tỷ phú người Mỹ đa phần nằm trong các ngành kinh tế tri thức

Nhờ sự phát triển của các ngành kinh tế tri thức, trong gần 10 năm qua, nền kinh tế Mỹ liên tục có tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 3%, lạm phát 2%, thất nghiệp 4,5% Lương thực tế ngày càng tăng và đặc biệt là lợi nhuận thực tế của các công ty cũng ngày một tăng

* Kinh tế tri thức ở EU

Tại Hội nghị thượng đỉnh Lisbon (3/2000) với mục tiêu đưa Liên minh Châu

âu (EU) trở thành khu vực phát triển năng động và có sức cạnh tranh cao nhất trên thế giới vào năm 2010, chính phủ các nước thành viên của liên minh đã đồng thuận hướng EU tiến tới nền kinh tế tri thức Tháng 5 năm 2000 ủy ban Châu Âu

đã đề xuất kế hoạch hành động “Châu Âu điện tử” kêu gọi các nước thành viên nhanh chóng xây dựng hệ thống mạng

Trang 39

Với ưu thế của một khu vực liên minh kinh tế - tiền tệ, có trình độ phát triển tương đối đồng đều ở trình độ cao, EU đã tạo ra một thị trường thống nhất trên toàn lãnh thổ Châu Âu trong việc phát triển điện thoại di động Đầu tư vào công nghệ thông tin ngày càng tăng với tốc độ nhanh chóng Nếu so sánh cả về quy mô nền kinh tế lẫn ưu thế về công nghệ, EU vẫn chậm hơn Mỹ trong nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ đòi hỏi trình độ cao, đặc biệt là trong việc ứng dựng công nghệ mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh Gần đây để đuổi kịp Mỹ trong việc phổ cập công nghệ thông tin, EU đã nỗ lực cải tiến để giảm giá máy tính xuống thấp hơn của Mỹ, đồng thời nhanh chóng chuyển sang sử dụng thế hệ máy tính mới với tốc độ cao Trong tương lai gần Châu Âu đang dự tính một kế hoạch đầu

tư 125 tỷ USD cho việc cài đặt hệ thống máy tính tương thích mới

Theo đánh giá chung của giới nghiên cứu, dẫu rằng EU vẫn là một trong những “cái nôi” chủ yếu của khoa học và công nghệ thế giới, song họ vẫn thua Mỹ trong một số công nghệ gien, công nghệ vũ trụ internet Chính vì lẽ đó, EU đã đưa

ra một số biện pháp để khắc phục những hạn chế của mình để tiếp tục phát triển trong kỷ nguyên mới

1.3.2 Kinh tế tri thức ở các nước châu Á đang phát triển

* Kinh tế tri thức ở Singapore

Vào năm 1960, Singapore là một cảng vận tải và căn cứ quân sự của đế quốc Anh với một nền công nghiệp tiêu dùng nhỏ nhoi Từ khi giành được độc lập vào năm 1965, trong khi dân số mới tăng gấp đôi, thì GDP tăng 20 lần và thương mại tăng 50 lần Tỷ lệ GDP/người của Singapore hiện thuộc vào nhóm cao nhất thế giới Các nhóm chỉ số biểu thị sự phát triển kinh tế tri thức ở Singapore đều đã tiệm cận hoặc vượt mức phát triển trung bình của OECD Điều đó chứng tỏ Singapore đã xây dựng được một kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, một nền tảng tri thức và một khuôn khổ chính sách mạnh, đủ sức cho phép nền kinh tế này tiếp tục tăng trưởng theo hướng kinh tế tri thức, tương đương với các nền kinh tế phát triển lâu đời của OECD Đó là kết quả của một đường lối phát triển hết sức đúng đắn

Trang 40

Ủy ban về nâng cao sức cạnh tranh của Singapore năm 1997 đã rút ra kết luận là đường lối hướng tới kinh tế tri thức rất thích hợp với Singapore - một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên Đường lối này đã mang lại các thành quả kinh tế đáng kể cho Singapore chỉ trong một thời gian ngắn Thậm chí Singapore còn vượt các nước phát triển lâu đời ở hai chỉ số kinh tế tri thức quan trọng là tỉ lệ công nhân tri thức trong lực lượng lao động và tỉ lệ đóng góp của nhóm các ngành công nghiệp dựa trên tri thức vào GDP Xem xét các chỉ số biểu thị các nguồn lực cho kinh tế tri thức giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông (được biểu thị cùng Hàn quốc ở bảng sau), có thể cho thấy

rõ Singapore đang sẵn sàng vững bước tiến vào kỷ nguyên kinh tế tri thức

* Kinh tế tri thức ở Hàn Quốc

Cũng tương tự như Singapore, trong 30 năm gần đây, Hàn Quốc đã theo đuổi thành công chiến lược định hướng xuất khẩu mang tính quốc gia và sự thành công này đã mang lại thành quả tăng trưởng kinh tế đáng kể, một trình độ tri thức cao và sự ra đời của các ngành công nghiệp dựa trên tri thức như công nghệ bán dẫn và công nghệ thông tin Nét đặc biệt của Hàn Quốc là đầu tư rất mạnh cho nghiên cứu và triển khai Hàn Quốc tập trung nguồn lực mạnh cho kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông từ năm 1997 Các số liệu ở bảng sau cho thấy các chỉ tiêu kinh tế tri thức của Hàn Quốc còn thấp hơn so với Singapore nhưng cũng có nhiều tiềm năng phát triển thành công kinh tế tri thức

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1.1. Sự khác biệt giữa kinh tế tri thức   so với các nền kinh tế khác trong lịch sử  Yếu tố  Kinh tế - Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1.1.1. Sự khác biệt giữa kinh tế tri thức so với các nền kinh tế khác trong lịch sử Yếu tố Kinh tế (Trang 19)
Bảng 1.1.2. Đặc trƣng của các nền kinh tế - Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1.1.2. Đặc trƣng của các nền kinh tế (Trang 22)
Bảng 1.1.3. Các chỉ tiêu cùa kinh tế tri thức - Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1.1.3. Các chỉ tiêu cùa kinh tế tri thức (Trang 28)
Bảng 1.3.1. Các chỉ số kinh tế tri thức của Hàn quốc và Singapore - Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1.3.1. Các chỉ số kinh tế tri thức của Hàn quốc và Singapore (Trang 41)
Bảng 2.1.1. Tổng sản phẩm trong nước năm 2008 theo giá so sánh 1994 - Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1.1. Tổng sản phẩm trong nước năm 2008 theo giá so sánh 1994 (Trang 55)
Bảng 2.2.1. Phân theo trình độ đào tạo - Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.2.1. Phân theo trình độ đào tạo (Trang 63)
Bảng 2.2.2. Chỉ số chất lượng giáo dục ở một số nước Châu Á   (thước đo 10 điểm) - Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.2.2. Chỉ số chất lượng giáo dục ở một số nước Châu Á (thước đo 10 điểm) (Trang 64)
Bảng 2.2.3. Số lƣợng các tổ chức KH-CN đã đăng ký   tính đến ngày 31/12/2006 - Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.2.3. Số lƣợng các tổ chức KH-CN đã đăng ký tính đến ngày 31/12/2006 (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w