Bên cạnh mức tăng trưởng đó, tư duy sản xuất nông nghiệp cũng đã có những sự chuyển biến, thâm canh trở thành xu hướng chủ đạo trong nền nông nghiệp với việc áp dụng các thành tựu khoa h
Trang 1đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học kinh tế
Trang 2đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học kinh tế
Trang 31.1.1.Khái niệm về phát triển bền vững 7
1.1.2 Sự hình thành về lý thuyết phát triển bền vững 8
1.2 Phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững 10
1.2.1 Khái niệm về nông nghiệp phát triển bền vững 10
1.2.2 Đặc trưng của nền nông nghiệp phát triển theo xu hướng bền
vững
11
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam
16
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững 16
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 20
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
THEO XU HƯỚNG BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA
25
2.1.1 Vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế 25
2.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Việt Nam 27
2.2 Những chuyển biến trong phát triển nền nông nghiệp theo xu
hướng bền vững
33
2.2.1 Đảm bảo giữ vững được nhịp độ tăng trưởng ổn định và có hiệu
quả trong thời gian dài
33
Trang 42.2.2 Giải quyết các vấn đề về mặt xã hội nảy sinh trong khu vực nông
nghiệp, nông thôn
59
2.2.3 Từng bước xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng phát
triển sạch, môi trường tự nhiên được bảo vệ và hình thành các vùng
nông nghiệp sinh thái
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO XU HƯỚNG BỀN VỮNG
3.1.1 Quan điểm định hướng 87
3.1.2 Phương hướng để phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng
3.2.1 Làm tốt công tác quy hoạch phát triển nông nghịêp 92
3.2.2 Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Bộ KH & CN: Bộ Khoa học và Công nghệ
2 Bộ NN & PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3 CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hóa
4 GDP: Gross Domestic Product (Tổng thu nhập quốc dân)
5 FDI: Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
6 ODA: Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức)
7 WTO: World Trade Organization (Tổ chức Thương mại thế giới)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 1: Phân bố đất nông nghiệp giữa các vùng trong cả nước năm 2007 27 Bảng 2: Sự biến động diện tích các loại đất nông nghiệp 28
Bảng 4: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành
hoạt động
35
Bảng 6: Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông
Bảng 9: Phân bố theo trình độ văn hóa thành thị - nông thôn, tỷ lệ lao động
Bảng 11: Vốn ODA cho ngành nông nghiệp, giai đoạn 1997 -2002 52
Bảng 12: Cơ cấu chi ngân sách cho nông nghiệp và nông thôn giai đoạn
Bảng 15: Tiềm năng hình thành các vùng sản xuất chuyên canh 57
Bảng 16: Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1992 - 2005 60
Bảng 17: Tỷ lệ hộ nghèo và tốc độ giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993
- 2004
61
Bảng 18: Tóm tắt một số chính sách liên quan đến sản xuất và tiêu thụ các 62
Trang 7sản phẩm nông nghiệp
Bảng 19: Hệ thống các Quỹ tín dụng nhân dân có trên địa bàn xã phân
theo vùng - năm 2006
64
Bảng 20: Ngân sách vốn đầu tư và chi thường xuyên của ngành Nông
nghiệp giai đoạn 1997 - 2006
65
Bảng 21: Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp qua các năm 68
Bảng 24: Đóng góp của các nguồn trong thu nhập hộ gia đình nông dân Việt
Nam qua các năm 1993, 1998, 2002
72
Bảng 25: Một số chỉ tiêu về kết cấu hạ tầng ở nông thôn của cả nước 74
Bảng 26: 10 sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất giai đoạn 1990-2007 83
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chỉ thị 100 của Ban Bí thư khóa IV và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khoá VI được coi là hai dấu mốc lớn tạo ra bước ngoặt trên con đường phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Nhờ có sự đổi mới cơ chế, chính sách mà Việt Nam đã thu được rất nhiều thành tựu trong sản xuất nông nghiệp Với mức tăng trưởng bình quân trên 4% năm, đến nay sản xuất nông nghiệp nói chung đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và đóng góp một phần vào giá trị kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế Sản xuất lương thực, đặc biệt là lúa gạo tăng lên liên tục cả về diện tích gieo trồng và năng suất, đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Ổn định an ninh lương thực đã tạo ra nền tảng vững chắc cho nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, phục hồi và phát triển mạnh mẽ trong suốt 20 năm qua
Bên cạnh mức tăng trưởng đó, tư duy sản xuất nông nghiệp cũng đã có những sự chuyển biến, thâm canh trở thành xu hướng chủ đạo trong nền nông nghiệp với việc áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ mới về giống, quy trình canh tác và chế biến sản phẩm Khái quát cho xu hướng trên được thể hiện thông qua việc đánh giá hiệu quả sản xuất nông nghiệp bằng các chỉ tiêu giá trị trên một đơn vị canh tác được nâng cao Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông nghiệp đã làm cho cơ cấu nông ngiệp và kinh tế nông thôn có những chuyển dịch theo hướng đa dạng hoá và định hướng theo thị trường
Những thành tựu đạt được trong sản xuất nông nghiệp là vô cùng to lớn Song đứng trước những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, nền nông nghiệp Việt Nam đang có những bước chuyển mình phát triển theo xu thế chung của thế giới Một trong những bước chuyển đó chính là phát triển một nền nông nghiệp bền vững Một nền nông nghiệp được coi là bền vững khi nó đạt được 3 mục đích:
* Đạt hiệu quả kinh tế cao
* Bảo đảm công bằng kinh tế và công bằng xã hội
* Gìn giữ và làm phong phú môi trường
Trang 9Để đạt được ba mục đích trên đang là một vấn đề khó cho tất cả các quốc gia Tuy nhiên việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững là một nhiệm vụ trọng yếu trong toàn bộ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến lên kinh
tế tri thức và xã hội thông tin Nhiệm vụ đó đặt ra cho mọi quốc gia cần phải có một sự thay đổi trong nhận thức và trong hành động để xây dựng cho mình một chiến lược đúng đắn về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Ở Việt Nam vấn đề phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn là một vấn đề mới Đặc biệt trong 20 năm đổi mới vừa qua bên cạnh những thành tựu mà chúng ta đạt được thì thực tiễn cũng đang đặt ra cho chúng ta rất nhiều thách thức khi xây dựng nền nông nghiệp theo hướng bền vững Những thách thức đó là :
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào tự nhiên + Giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp còn rất thấp
+ Ruộng đất ở nông thôn bị chia nhỏ, manh mún không phù hợp với yêu cầu của việc sản xuất hàng hoá lớn, tập trung
+ Quá trình cơ giới hoá nông nghiệp và việc áp dụng các quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến còn diễn ra chậm chạp Hầu hết các khâu sản xuất ở những vùng nông nghiệp đều làm thủ công, dẫn đến năng suất lao động nông nghiệp rất thấp
+ Việc sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và các chất kích thích sinh trưởng một cách tuỳ tiện đã có dấu hiệu vượt quá giới hạn cho phép của môi trường sinh thái, dẫn đến thoái hoá đất, ô nhiễm nguồn nước và gây hại đến sức khoẻ con người
+ Đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp không ổn định ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của cư dân nông nghiệp, tạo ra sự phân hoá giầu nghèo ngày càng sâu rộng trong các tầng lớp dân cư, đặc biệt là giữa khu vực thành thị và nông thôn
+ Công nghiệp nhỏ, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề phát triển mạnh ở nhiều vùng nông thôn, thu hút khoảng trên 2 triệu việc làm Song công nghệ sản xuất còn lạc hậu, sức cạnh tranh kém, thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm là
Trang 10những nguyên nhân chính gây cản trở cho sự phát triển ổn định của khu vực này Bên cạnh việc có những mặt tác động tích cực, nhưng do phát triển thiếu quy hoạch và thiếu đầu tư thoả đáng cho bảo vệ tài nguyên và môi trường, khu vực sản xuất này đang gây ô nhiễm môi trường sống cho các cộng đồng dân cư nông thôn, đặc biệt tại một số làng nghề nơi sản xuất và sinh hoạt của rất đông cư dân
Đứng trước những khó khăn và thách thức đó, thì việc xây dựng một nền kinh
tế nông nghiệp phát triển theo xu hướng bền vững có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Điều này cũng đã được khẳng định trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ 2006 - 2010 được thông qua tại Đại hội X của Đảng: “Hiện nay và trong những năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững”
Vì những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển nông nghiệp bền vững
ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp nói triêng ở trên thế giới là vấn đề không mới Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam thì khái niệm phát triển bền vững và đặc biệt là phát triển bền vững trong nông nghiệp lại là những vấn đề mới Qua tìm hiểu tác giả thấy có 5 công trình nổi bật nghiên cứu về phát triển bền vững trong nông nghiệp:
- Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam của tác giả Nguyễn
Xuân Thảo, Nxb CTQG, HN, 20004
- Phát triển bền vững ở Việt Nam - Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng
của GS.TSKH Nguyễn Quang Thái và PGS TS Ngô Thắng Lợi, Nxb Lao động - xã hội, 2007
- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - Con đường và bước đi
của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn, Nxb CTQG, HN, 2006
- Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp nông thôn của hai tác giả Đặng
Kim Sơn và Hoàng Thu Hà, Nxb Thống kê, 2002
Trang 11- Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau của tác giả
Đặng Kim Sơn, Nxb CTQG, HN, 2008
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng chỉ ở dạng những bài báo đăng trên các báo, tạp chí, những báo cáo trong các hội thảo khoa học
Nhìn chung các công trình trên cũng đã đề cập một cách tương đối khái quát
về xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững Nhưng vì nhiều lý do khác nhau các công trình trên chỉ mới đề cập đến một khía cạnh của vấn đề
Trong công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn thì phát triển nông nghiệp bền vững được tác giả tiếp cận chủ yếu dưới góc độ đánh giá tác động của việc phát triển nền nông nghiệp bền vững đối với nền kinh tế Còn trong công trình của Nguyễn Xuân Thảo thì phát triển bền vững trong nông nghiệp được tác giả tiếp cận chủ yếu trên góc độ chính sách của nhà nước đối với từng ngành, từng địa phương cụ thể Ngược lại thì trong công trình nghiên cứu của Đặng Kim Sơn và Hoàng Thu Hà thì phát triển nông nghiệp bền vững lại được tiếp cận ở góc độ an ninh lương thực quốc gia và phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
Đóng góp khoa học của các công trình khoa học trên vào sự phát triển nền nông nghiệp là bổ ích Tuy nhiên trước những biến đổi của nền kinh tế và những vấn
đề mới đặt ra cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi cần phải có nhận thức sâu sắc và tổng quát về phát triển nền nông nghiệp vừa đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, vững chắc lại vừa đảm bảo mục tiêu công bằng
xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái Đó chính là việc xây dựng và phát triển nền nông nghiệp bền vững Phát triển nền nông nghiệp bền vững đang được coi là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia Về vấn đề này Đảng ta đã khẳng định trong báo cáo tổng kết những bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005, bài học kinh nghiệm đầu tiên được Đảng ta xác định đó là bài học về phát triển nhanh và bền vững Việc Đảng ta chỉ ra bài học kinh nghiệm về phát triển nhanh và bền vững đã thu hút được sự quan tâm của dư luận xã hội trong suốt thời gian qua bởi tính thời sự đặc biệt của nó Đây là một bước tiến trong nhận thức về tăng trưởng và phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế tri thức Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm đó,
Trang 12trong định hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn Đảng ta xác định “Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững” [8, Tr 191]
Cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu và đánh giá đầy đủ về xây dựng và phát triển nền nông nghiệp bền vững ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững, luận văn đề ra các giải pháp để xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hoá các vấn đề cơ bản về phát triển bền vững và phát triển bền vững trong nông nghiệp từ góc độ lý luận và thực tiễn
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững của một số quốc gia trên thế giới
- Phân tích thực trạng việc phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam
và những vấn đề đặt ra
- Đề xuất định hướng và giải pháp để phát triển nền nông nghiệp bền
vững ở nước ta trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển bền vững trong nông nghiệp Việc phát triển nông nghiệp bền vững đó được xem xét, tiếp cận trên góc độ: Đảm bảo nhịp độ tăng trưởng ổn định,giải quyết tốt các vấn đề
xã hội, xây dựng nền nông nghiệp theo xu thế nền nông nghiệp sinh thái
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu thực tiễn phát triển nông nghiệp theo xu hướng bền vững ở Việt Nam dưới góc độ kinh tế chính trị Đề tài không đi vào nghiên cứu những vấn đề có tính vi mô của từng ngành, từng địa phương cụ thể
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được vận dụng trong đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp kết hợp phân tích với tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh trong quá trình nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận về phát triển nền nông nghiệp
theo xu hướng bền vững
- Khái quát kinh nghiệm xây dựng và phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững của một số quốc gia trên thế giới, trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phân tích thực trạng việc phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững ở Việt Nam, chỉ ra những mặt đạt được, những mặt hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế đó
- Đánh giá vai trò của nền nông nghiệp phát triển theo xu thế bền vững đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân nông thôn
- Đưa ra các quan điểm, các giải pháp để phát triển nền nông nghiệp bền
vững ở Việt Nam trong những năm tiếp theo
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được trình bày thành 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo xu hướng bền vững ở
nước ta
Chương 3: Phương hướng và giải pháp để phát triển nông nghiệp theo xu
hướng bền vững ở nước ta
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 1.1 Khái quát chung về phát triển bền vững
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững
Hiện nay loài người đang đứng trước những thách thức to lớn về sự sống còn của con người do sự phá huỷ môi trường và tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Muốn vượt qua những thách thức đó, không còn cách nào khác
là phải xây dựng và thực hiện một chiến lược phát triển mới, mang tính dài hạn, là con đường phát triển tất yếu của các quốc gia, dân tộc trên thế giới Chiến lược đó phải đảm bảo thực hiện được 3 mục tiêu cơ bản: mục tiêu kinh tế; mục tiêu xã hội, nhân văn; mục tiêu sinh thái, môi trường Thực hiện được yêu cầu đó sẽ là bước phát triển cao hơn về nhận thức của con người, là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững mối quan hệ giữa con người - xã hội - tự nhiên Phát triển bền vững vì thế trở thành vấn đề bức xúc của nhiều quốc gia, sự quan tâm của nhiều nhà khoa học hiện nay trên thế giới Hiện nay có rất nhiều định nghĩa hay khái niệm về phát triển bền vững
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (Công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên
và Tài nguyên thiên nhiên quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”
Khái niệm phát triển bền vững được chính thức đưa ra vào năm 1987 trong Báo cáo của Uỷ ban môi trường và phát triển của Ngân hàng thế giới Báo
cáo này ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được
những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [5, Tr 12]
Đây là một định nghĩa hết sức ngắn gọn, dễ hiểu: bền vững là sự phát triển ngày hôm nay không làm ảnh hưởng đến sự phát triển ngày mai Bền vững là ngày
Trang 15hôm nay được hưởng lợi ích như thế nào thì thế hệ ngày mai cũng được hưởng lợi ích như vậy Vậy phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, mà bao gồm cả bảo vệ môi trường, các mặt này cần phải hài hoà và thúc đẩy kinh tế phát triển Đây là bước ngoặt của sự phát triển về nhận thức của con người trước những biến đổi của thực tiễn tự nhiên, phương thức sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội cũng như trình độ phát triển trí tuệ của con người
1.1.2 Sự hình thành lý thuyết về phát triển bền vững
Phát triển là quy luật chung của mọi thời đại, của tất cả các quốc gia Tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống xã hội là mục tiêu trọng tâm của tất cả các chính phủ Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng thì môi trường thiên nhiên của chúng ta cũng đang bị tàn phá nghiêm trọng Nếu chúng ta tiếp tục theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế bằng việc nạo vét tài nguyên, tiêu dùng hoang phí, chất thải được đưa vào môi trường tự nhiên quá mức thì rõ ràng chúng ta sẽ không đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội
Thế giới đòi hỏi sự phát triển phải đảm bảo sự hài hoà giữa con người với con người, con người với môi trường tự nhiên Đây là cơ sở khách quan cho sự hình thành tư duy lý thuyết mới về sự phát triển của nhân loại - tư duy lý thuyết về phát triển bền vững đảm bảo tương lai cho tất cả các dân tộc trên thế giới, nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, các tư tưởng về sự phát triển hài hoà với tự nhiên, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đã xuất hiện rất sớm Các nhà triết học cổ đại Hy Lạp, La Mã, các triết gia phương Đông … đều đề cập vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau Bước sang thế kỷ XIX các nhà kinh tế học như Malthus, D.Ricardo đều có chung quan điểm với các nhà bảo vệ môi trường đầu tiên ở châu
Âu, châu Mỹ và tất cả họ đều cho rằng: cần sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Cho đến đầu thế kỷ XX, Uỷ ban bảo vệ môi trường Canada (năm 1915)
đã đưa ra quan điểm cho rằng: mỗi thế hệ có quyền khai thác lợi ích từ nguồn vốn thiên nhiên, nhưng nguồn vốn này phải được duy trì nguyên vẹn cho thế hệ tương lai để họ hưởng thụ và sử dụng theo một cách thức tương tự
Trang 16Tuy nhiên, phải đến những năm 1970, khi Maurice Strong tổ chức hội thảo
với chủ đề “Phát triển và môi trường” (6-1971) thì những vấn đề về phát triển bền
vững bắt đầu thu hút được sự quan tâm của các học giả trên thế giới Tư tưởng về phát triển gắn với bảo vệ môi trường ngày càng nhận được sự ủng hộ rộng rãi và
nó đã loại bỏ các tư tưởng về phát triển không quan tâm tới môi trường
Tháng 6-1972, Tuyên bố Stockholm về “môi trường con người” đã khẳng
định: “Bảo vệ và cải thiện môi trường con người là vấn đề lớn có ảnh hưởng tới phúc lợi của mọi dân tộc và phát triển kinh tế trên toàn thế giới Đó là khao khát khẩn cấp của các dân tộc trên khắp thế giới và nhiệm vụ của mọi chính phủ”
Trải qua một quá trình phát triển, các tư tưởng về phát triển bền vững dần
dần được khái quát rõ nét hơn Thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được
sử dụng trong “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế
giới phát hành Chiến lược này cho rằng muốn phát triền bền vững cần tính đến những yếu tố kinh tế - xã hội - môi trường
Năm 1981 Robert Riddell đã mô tả phát triển bền vững gồm 3 yếu tố đặc trưng: bình đẳng kinh tế, hài hoà xã hội, môi trường cân bằng
Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Uỷ ban Môi
trường và Phát triển của Ngân hàng thế giới thuật ngữ phát triển bền vững chính thức được định nghĩa Cho đến đây các lý thuyết về phát triển bền vững đã được hình thành và đã đạt được nhiều sự đồng thuận từ phía các quốc gia, các tổ chức môi trường cũng như quan điểm của các nhà khoa học trên thế giới Tiếp tục phát triển các tư tưởng về phát triển bền vững năm 1992, Liên Hợp Quốc tổ chức cuộc Hội thảo về “Môi trường và Phát triển” tại Rio de Janeiro Hội nghị này đưa ra các văn kiện có tầm thế giới, với việc tuyên bố 27 nguyên tắc và thông qua Chương trình nghị sự 21 Chương trình nghị sự 21 đã đề ra chương trình khung phù hợp với phát triển bền vững
Tháng 9-2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới của Liên Hợp Quốc tổ chức
tại Nam Phi lần đầu tiên lấy tên “Phát triển bền vững” Điều đó khẳng định phát
triển bền vững đã trở thành trào lưu của toàn thế giới Tuyên bố Johannesburg về phát triển bền vững năm 2002: thiết lập cam kết của các chính phủ cũng như trên
Trang 17toàn thế giới, nhằm thực hiện kế hoạch Johannesburg Nội dung của kế hoạch là nỗ lực thúc đẩy quá trình lồng ghép phát triển kinh tế, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, xem như là ba trụ cột phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển bền vững
1.2 Phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững
1.2.1 Khái niệm nông nghiệp phát triển bền vững
Xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững xuất hiện và được nhiều nước áp dụng đã đem lại những hiệu quả nhất định trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng Tuy nhiên khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững mới bắt đầu xuất hiện trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX
Theo định nghĩa của TAC/CGIARC (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc): Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên thiên nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên
Năm 1991, nhóm hoạt động về vấn đề lương thực thuộc Uỷ ban Hợp tác của các tổ chức phát triển Phi chính phủ (NGDOs) ở Cộng đồng châu Âu thống nhất đưa ra định nghĩa như sau: Nông nghiệp bền vững được thiết lập nhằm đáp ứng cả nhu cầu của người dân cũng như các mặt hạn chế về tự nhiên và điều kiện sinh thái
ở một vùng xác định Mục đích là đưa năng suất cây trồng lên mức cao trên cơ sở bền vững và lâu dài mà không huỷ hoại môi trường sống Cần ưu tiên xác định và phát triển các nguồn tài nguyên sẵn có ở địa phương như nguồn lực lao động, nước, dinh dưỡng… hơn là dựa vào các nguồn đầu tư từ bên ngoài Điều này không bao gồm việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp từ các nguồn bên ngoài nhưng cần giảm thiểu mức độ của nó để nó không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên cũng như sức khoẻ và điều kiện kinh tế của cộng đồng Nông nghiệp chỉ thực sự bền vững khi khía cạnh xã hội và văn hoá của những người sử dụng và thụ hưởng được tập trung một cách đầy đủ và các quyết định đều do họ thực hiện
Theo Tổ chức về môi trường sinh thái thế giới (WOED) đã định nghĩa nông nghiệp bền vững như sau: nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn
Trang 18được các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau
Ở Việt Nam nghiên cứu về phát triển bền vững bắt đầu được nghiên cứu từ khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX Thể hiện cụ thể nhất là quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17-8-2004 của Thủ tướng chính phủ ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị
sự 21 của Việt Nam) Trong 8 nội dung chính của chương trình hành động thì nội dung thứ 4 đã đề cập đến các nội dung về phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam
Từ việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đó và căn cứ vào điều
kiện thực tiễn của Việt Nam, có thể kết luận rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) là quá trình sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái trên cơ sở đảm bảo thoả mãn các nhu cầu của con người trong trong hiện tại
và tương lai và được xã hội chấp nhận
1.2.2 Đặc trưng của nền nông nghiệp phát triển theo xu hướng bền vững
1.2.2.1 Đảm bảo nhịp độ tăng trưởng ổn định, hiệu quả
Mục tiêu tăng trưởng là mục tiêu theo đuổi của tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân Bất cứ một ngành nào, một lĩnh vực nào nếu không có sự tăng trưởng đều sẽ gây trở ngại đối với tiến trình phát triển chung của toàn bộ nền kinh
tế Đối với ngành sản xuất nông nghiệp, việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng có một
ý nghĩa hết sức quan trọng Ngành nông nghiệp là ngành cung cấp toàn bộ lương thực - thực phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hằng ngày của con người Hoạt động tiêu dùng diễn ra liên tục đòi hỏi quá trình sản xuất cũng phải diễn ra liên tục tương ứng Bên cạnh đó, cùng với quá trình gia tăng tiêu dùng là sự gia tăng nhanh chóng của dân số Nếu như ngành nông nghiệp không có sự tăng trưởng thì sẽ đẩy toàn xã hội vào tình trạng thiếu lương thực
Đối với nền nông nghiệp truyền thống, tốc độ tăng trưởng rất thấp, đôi khi còn không có tăng trưởng do ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết Việc tiếp tục duy trì nền nông nghiệp truyền thống sẽ kéo lùi sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế
Trang 19quốc dân Chính vì vậy việc đổi mới toàn diện khu vực nông nghiệp, nói khác đi là phát triển nông nghiệp bền vững thì mục tiêu tăng tăng trưởng được coi là một đặc trưng cơ bản
Mục tiêu tăng trưởng là mục tiêu cao nhất song mục tiêu đó sẽ không còn ý nghĩa nếu như những thành quả của sự tăng trưởng đó bị trả giá quá đắt Nói khác đi kết quả của sự tăng trưởng đó phải thể hiện bằng hiệu quả trên thực tế Nếu như tăng trưởng mà không mang lại hiệu quả thì sự tăng trưởng đó hoàn toàn vô nghĩa, tăng trưởng phi thực tế Hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp nói chung được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng tập trung nhất ở việc các sản phẩm nông nghiệp làm ra sử dụng ít nhất các yếu tố đầu vào bao gồm cả các nguồn lực kinh tế lẫn
tự nhiên Các sản phẩm nông nghiệp là kết quả của quá trình tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu
Hoạt động sản xuất nông nghiệp có đặc trưng là phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện thời tiết, khí hậu… Do đó ngành sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất
có tính chất bấp bênh, không ổn định Đối với nền nông nghiệp truyền thống, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, kỹ thuật lạc hậu nên hoạt động sản xuất thường không ổn định Ngược lại thì một trong những đặc trưng của nền nông nghiệp bền vững đó là sự ổn định và do đó phải đảm bảo tăng trưởng ổn định Phát triển bền vững trong nông nghiệp đã bao hàm trong nó sự tăng trưởng ổn định và có hiệu quả, nó có ý nghĩa đối với việc nâng cao đời sống của dân cư khu vực sản xuất nông nghiệp và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững chung của toàn bộ nền kinh tế - xã hội
1.2.2.2 Giải quyết có hiệu quả các vấn đề về mặt xã hội trong khu vực nông nghiệp, nông thôn
Tuyên bố của hội nghị Rio de Ranerio đã khẳng định: “Xoá bỏ nghèo nàn là yêu cầu không thể thiếu của phát triển bền vững” Đây là một đỉnh của tam giác phát triển bền vững: kinh tế - xã hội - môi trường Có rất nhiều vấn đề xã hội trong khu vực nông thôn cần giải quyết như nghèo đói, thất nghiệp, sự phân hoá giàu nghèo…
Trang 20Tìm hiểu về vấn đề nghèo đói thì hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về vấn đề nghéo đói Theo cách định nghĩa được nhiều người chấp nhận nhất
và thường được sử dụng phổ biến hiện nay thì “nghèo đói được hiểu là: tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
Trên thực tế hiện nay tình trạng nghèo đói tồn tại chủ yếu ở vùng nông thôn Chiếm phần lớn trong số những người thuộc diện nghèo đói là những người tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Đối với một nền nông nghiệp truyền thống lạc hậu, tốc độ tăng trưởng thấp thì rất khó có thể giải quyết được vấn đề nghèo đói Trong khi đó việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững sẽ đảm bảo được các mục tiêu : tăng trưởng, ổn định, hiệu quả Thực hiện được các mục tiêu trên sẽ là cơ
sở giải quyết được vấn đề thất nghiệp trong khu vực nông thôn Xuất phát từ thực tiễn khi các mục tiêu trên được thực hiện sẽ là cơ sở tiền đề vật chất góp phần thúc đẩy nhanh quá trình xoá đói giảm nghèo Không thể nói tới việc nâng cao mức sống của dân cư sản xuất nông nghiệp nếu không thực hiện phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Song song với việc giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo, việc làm…việc phát triển nền nông nghiệp bền vững sẽ góp phần nâng cao vai trò của người nông dân trong các khâu của quá trình sản xuất Xuất phát từ khía cạnh nghèo đói xem xét: nghèo đói ảnh hưởng trực tiếp tới giáo dục, ảnh hưởng tới năng lực của các chủ thể Chủ thể ở đây chính là những người tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Với nền nông nghiệp truyền thống, những chủ thể của hoạt động sản xuất nông nghiệp lại không có bất cứ một quyền gì trong việc đưa ra các quyết định liên quan trực tiếp tới bản thân, tới các quá trình sản xuất của mình
Ngược lại, để phát triển một nền nông nghiệp theo hướng bền vững thì người nông dân phải được coi là chủ thể của quá trình sản xuất Họ có quyền trong mọi khâu của quá trình sản xuất, tiêu dùng sản phẩm, họ có năng lực tự chủ với việc tiến hành sản xuất của mình Việc đảm bảo được vai trò của chủ thể trong mọi khâu của quá trình sản xuất sẽ tạo điều kiện cho việc phá vỡ tảng băng tâm lý “ai là
Trang 21chủ” vẫn tồn tại lâu nay trong phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống Chỉ khi nào nền nông nghiệp phát triển một cách bền vững nhất thì khi đó vai trò của các chủ thể sẽ được đảm bảo ở mức cao nhất
Một khía cạnh khác của việc giải quyết có hiệu quả các vấn đề về mặt xã hội trong khu vực nông nghiệp, nông thôn đó là việc thực hiện phân phối thu nhập công bằng, đảm bảo các quyền tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm nông nghiệp một cách công bằng hơn giữa các vùng, các thế hệ trong tương lai Đối với một nền nông nghiệp truyền thống xưa nay, một trong những nguyên nhân kéo lùi sự phát triển của khu vực nông nghiệp so với các khu vực khác chính
là sự phân phối không công bằng Cụ thể ở đây đó là sự phân phối không công bằng về mặt thu nhập Phần giá trị thuộc về người nông dân trong tổng giá trị sản phẩm là rất thấp Phần lớn giá trị đó lại thuộc về những chủ thể không trực tiếp tạo
ra sản phẩm, ví dụ như tư thương, người cung cấp dịch vụ nông nghiệp…Khi thu nhập của các chủ thể sản xuất không được đảm bảo thì sẽ không khuyến khích được việc mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất lao động Mặt khác nó còn làm nảy sinh hàng loạt các mâu thuẫn, kèo lùi nền sản xuất đi xuống
Với một nền nông nghiệp bền vững, mọi chủ thể đều được phân phối thu nhập công bằng Không chỉ công bằng trong thu nhập mà còn công bằng trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm làm ra Sự công bằng đó không phải chỉ cho thế hệ hiện tại mà nó còn đảm bảo cho quyền tiếp cận công bằng của các thế hệ tương lai
Các vấn đề xã hội là những vấn đề liên quan trực tiếp con người Song để giải quyết được không thể một sớm một chiều mà cần phải có một thời gian nhất định và chỉ trong nền nông nghiệp phát triển bền vững các vấn đề trên mới có thể giải quyết được toàn diện và triệt để
1.2.2.3 Phát triển bền vững nền nông nghiệp theo xu hướng nền nông nghiệp sinh thái
Trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân thì ngành nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) là ngành liên quan trực tiếp tới các điều kiện tài nguyên thiên nhiên của môi trường sinh thái
Trang 22Nền nông nghiệp truyền thống với đặc trưng của nền nông nghiệp lạc hậu, trình độ kỹ thuật thấp kém, phương thức canh tác thủ công Chính những điều này đã làm cho môi trường thiên nhiên bị tàn phá nghiêm trọng Thể hiện cụ thể ở đây như diện tích đất trồng cây nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị thoái hoá, diện tích rừng tự nhiên ngày càng thu hẹp, các nguồn lợi thuỷ sản ngày càng cạn kiệt Tất cả đều do sự khai thác quá mức của con người Hậu quả của những vấn đề trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người nông dân, họ có nguy cơ rơi vào tình trạng
“nghèo đi tương đối” Đứng trước những vấn đề đó, nhận thức về phát triển bền vững
nền nông nghiệp theo xu hướng nền nông nghiệp sinh thái có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Phát triển bền vững nền nông nghiệp theo xu hướng nền nông nghiệp sinh thái được thể hiện trên 3 khía cạnh sau:
Thứ nhất, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên hiện có để thoả mãn
nhu cầu của con người… Cùng với sự gia tăng của dân số và mức sống của con người thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp có xu hướng ngày càng tăng lên Nếu như nền sản xuất nông nghiệp không đảm bảo được thì sẽ gây ra sự xáo trộn lớn trong toàn xã hội Tuy nhiên để đảm bảo được điều này thì không phải bằng cách khai thác thiếu tổ chức, thiếu khoa học Quá trình khai thác và sử dụng ở đây cần phải dựa trên những điều kiện tài nguyên thiên nhiên hiện có Trên thực tế trong quá trình tác động vào môi trường, khai thác các tài nguyên thiên nhiên con người đã phá vỡ tính cân bằng của môi trường sinh thái Do đó trước những đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu của con người ngày càng cao, nếu vẫn tiếp tục phá vỡ sự mất cân bằng của môi trường sinh thái thì chính con người phải lãnh chịu hậu quả Do vậy, khi phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững thì một trong những đặc trưng đó là phải biết khai thác có hiệu quả và sử dụng hợp lý những tài nguyên thiên nhiên hiện
có để thoả mãn nhu cầu của các thế hệ
Thứ hai, gìn giữ và bảo tồn chất lượng nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các
thế hệ mai sau Đứng trước thực trạng việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách thiếu khoa học, thiếu tổ chức trong thời gian qua thì việc gìn giữ và bảo tồn chất lượng nguồn tài nguyên có ý nghĩa quan trọng Vấn đề cốt lõi của phát
Trang 23triển bền vững là giành cho thế hệ mai sau những điều kiện tốt nhất Do vậy công việc bảo tồn và gìn giữ này không chỉ có ý nghĩa đối với thế hệ hiện tại, mà ở đây điều quan trọng là nó giành cho các thế hệ mai sau những gì tốt nhất liên quan đến nguồn tài nguyên thiên nhiên Bởi phát triển bền vững là ngày hôm nay được hưởng lợi ích như thế nào thì thế hệ ngày mai cũng được hưởng lợi ích như vậy Chính vì vậy ngay trong hiện tại, việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên bên cạnh việc thoả mãn nhu cầu của các thế hệ hiện tại thì việc khai thác và sử dụng cần phải tính đến lợi ích của các thế hệ trong tương lai
Thứ ba, ngăn chặn ô nhiễm, lạm dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp
Xuất phát từ việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của con người kết hợp với trình độ khoa học - kỹ thuật thấp kém nên trong quá trình sản xuất đã làm cho môi trường sinh thái bị ô nhiễm nghiêm trọng Cùng với đó là việc lạm dụng hoá chất đã làm mất đi tính bền vững quá trình sản xuất Phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng nền nông nghiệp sinh thái thì vấn đề ô nhiễm do sử dụng hoá chất trong quá trình sản xuất được đặt lên hàng đầu Những hậu quả của vấn đề ô nhiễm, lạm dụng hoá chất không thể phát hiện ra trong thời gian ngắn nhưng hậu quả mà nó đề lại thì rất lâu dài Xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phải dựa trên những tiến bộ khoa học -
kỹ thuật nhất định Các tiến bộ kỹ thuật đó phải dựa trên nền tảng thân thiện với môi trường sinh thái Do áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật sẽ giúp cho cây trồng vật nuôi sinh trưởng tốt, khi đó việc sử dụng hoá chất vào sản xuất sẽ dần được loại trừ Hiệu quả của việc phát triển theo hướng sinh thái sẽ tạo ra các sản phẩm sạch, có
chất lượng cao
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển nông nghiệp bền vững
Trung Quốc là quốc gia có diện tích rộng và dân số đông nhất thế giới Trong quá khứ cũng như hiện tại, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng so với Việt Nam Từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, nền nông nghiệp và kinh tế đã đạt được những thành tựu nhất định, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của khoa học - công nghệ Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho đến nay, các khu phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cơ sở hiện
Trang 24đại hoá nông nghiệp …được xây dựng ở hầu hết các tỉnh, thành phố và đã sử dụng công nghệ cao để cải tạo nông nghiệp truyền thống Trung Quốc đã chọn công nghệ cao làm khâu đột phá trong việc phát triển ngành nông nghiệp Hiện nay, trình
độ chung nền nông nghiệp Trung Quốc khá cao Tỷ lệ tiến bộ khoa học - công nghệ nâng cao đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển ổn định liên tục của kinh tế nông thôn và nông nghiệp Trung Quốc
Sản lượng một số nông sản phẩm của Trung Quốc đã và đang đứng hàng đầu thế giới: lương thực đứng vị trí số 1 (lúa gạo, lúa mì), ngô đứng thứ 2, đậu tương đứng thứ 3, bông, cây có dầu, các loại thịt, thức ăn gia cầm và các loại thuỷ sản đều đứng ở tốp đầu thế giới Trung Quốc chỉ sử dụng 7% đất canh tác của thế giới nhưng đã nuôi sống 22% dân số thế giới
Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, Trung Quốc đã lần lượt ban
hành “Cương yếu kế hoạch nghiên cứu phát triển công nghệ cao” và kế hoạch phối hợp đồng bộ với “Chương trình bó đuốc”, đã chọn được 7 lĩnh vực của công nghệ
sinh học, công nghệ thông tin làm trọng điểm, tổ chức lực lượng khoa học công nghệ nòng cốt, thúc đẩy khoa học - công nghệ nông nghiệp cao trong toàn quốc và giành được những tiến triển quan trọng và đột phá:
• Lĩnh vực công nghệ sinh học đã xây dựng được công nghệ sản xuất của hơn
60 loại hoa, lúa gạo, lúa mì, khoai tây, táo… đã được áp dụng thành công trên diện rộng về kỹ thuật cấy mô khử virút vào sản xuất theo kiểu công xưởng hoá, hiện nay
đã thực hiện được thương phẩm hoá công nghệ này Đã nhân bản vô tính gen hàng trăm loại, ứng dụng công nghệ chuyển ghép di truyền và thu được nhiều loại gen có các tính trạng khác nhau, sản xuất thử nghiệm điểm trình diễn hoặc trên đồng ruộng nhiều giống mới, và đã thành công đưa vào thị trường thương phẩm hoá Trong lĩnh vực chăn nuôi, Trung Quốc đã thực hiện cấy ghép phôi thai tươi bò, dê … thành công Công nghệ ghép phôi thai đông lạnh đã áp dụng vào bò, cừu… và đang được thương mại hoá
• Lĩnh vực công nghệ thông tin đã xây dựng được nhiều ngân hàng dữ liệu thông tin nông nghiệp như ngân hàng dữ liệu nông nghiệp, ngân hàng tài nguyên giống cây trồng, ngân hàng dữ liệu kết quả khoa học công nghệ nghề cá, ngân hàng
dữ liệu thống kê kinh tế nông nghiệp Các ngân hàng này đã được lưu giữ và khai thác mang lại hiệu quả kinh tế cao Theo đà phát triển nhanh chóng của mạng
Trang 25Internet, Trung Quốc đã khởi động chương trình: Kim nông, Mạng thông tin nông nghiệp Trung Quốc, Mạng thông tin khoa học công nghệ nông nghiệp Trung Quốc
và đã bắt đầu cung cấp những thông tin có liên quan để phục vụ cho nông nghiệp
và nông thôn Công nghệ viễm thám (RS) kết hợp với máy tính đã triển khai công tác điều tra tài nguyên đất đai, đồng cỏ, rừng… giám sát động thái gây hại của sâu bệnh chủ yếu trên nông nghiệp và lâm nghiệp… đã thu được hiệu quả tốt Công nghệ 3S, tức hệ thống định vị toàn cầu (GPS), hệ thông thông tin địa lý (GIS) và hệ thống viễn thám (RS) bắt đầu được ứng dụng vào “nông nghiệp chính xác” Việc thu thập thông tin và quản lý tác nghiệp ngoài đồng ruộng đã thu được kết quả Việc đẩy mạnh hoá quản lý thông tin và tiến trình mô hình hoá, thông tin hoá tài nuyên rừng đã cung cấp lý luận, phương pháp và công nghệ làm căn cứ cho các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp có thể sử dụng bền vững tài nguyên
• Lĩnh vực vật liệu, phân hoá học, thuốc trừ sâu mới Các loại phân bón, thuốc trừ bệnh sinh vật và các hoá chất loại mới đã phát triển khá mạnh Loại phân bón hỗn hợp do Trung Quốc tự chế tạo đã chiếm 20% số lượng phân bón hoá học, các loại phân hữu cơ dùng trong sản xuất rau, cây ăn quả, cây cảnh đã khá phổ biến: phân hoá học nồng độ cao, phân hoá học hiệu quả lâu dài và phân tan chậm….sẽ dần thay thế loại phân đơn nguyên tố, nồng độ thấp Phương pháp bón phân theo bài phối chế, bón phân cân bằng, bón phân ưu hoá đã mở rộng tới 1/3 tổng diện tích trồng cây lương thực Nói chung so với biện pháp bón phân đơn giản hiện nay thì sản lượng tăng từ 8 - 15 %, có nơi lên tới 20%
• Lĩnh vực thiết bị nông nghiệp Diện tích ứng dụng thiết bị đồng bộ năm
1996 là 698.000 ha đã phát triển lên 1.340.000 ha trong đó có 20.000 ha là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc phù hợp với các cấu trúc, kỹ thuật trồng trọt, khống chế môi trường khác nhau, tiết kiệm năng lượng và sử dụng ánh sáng mặt trời Trung Quốc nhập khẩu trên 100 nhà ấm điều hoà nhiệt độ, độ ẩm tự động hiện đại của các nước tiên tiến thông qua tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo đã nghiên cứu chế tạo ra các loại phòng ấm hiện đại điều kiển tự động
Những kết quả đạt được thông qua các chương trình phát triển trên là hết sức
to lớn Trung Quốc bên cạnh việc đảm bảo an ninh lương thực cho trên 1,2 tỷ người của mình thì Trung Quốc đã và đang tham gia mạnh mẽ vào thị trường các sản phẩm nông nghiệp trên thế giới
Trang 26Những kinh nghiệm trong quá trình phát triển nông nghiệp bền vưng ở Trung Quốc sẽ giúp cho Việt Nam có nhiều kinh nghiệm trong quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan về phát triển nông nghiệp bền vững
Thái Lan là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, có điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội gần giống như Việt Nam Việc Thái Lan phát triển mạnh mẽ ngành nông nghiệp đang là một bài học kinh nghiệm rất quý báu đối với Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước, phát triển ngành nông nghiệp
Xét về điều kiện tự nhiên, Thái Lan là một quốc gia có đất đai màu mỡ, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích cả nước), mưa thuận gió hoà
là điều kiện thuận lợi để phát triển cây lúa nước, cây ăn quả và cây công nghiệp nhiệt đới Hệ thống sông ngòi dày đặc, bờ biển dài, tiếp giáp với hai bờ đại dương (Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương) nên rất thuận lợi cho việc khai thác, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản Hiện tại, Thái Lan đang phát triển một nền nông nghiệp hoàn chỉnh với sự đa dạng hoá, chuyên môn hoá nhiều loại vật nuôi, cây trồng, vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước vừa đảm bảo xuất khẩu Sản xuất nông nghiệp của Thái Lan trong mấy thập kỷ qua phát triển tương đối ổn định Thái Lan đã chuyển sang cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp nhưng phần đóng góp của nông nghiệp trong GDP của Thái Lan vẫn rất quan trọng Nông nghiệp đóng góp 18% trong GDP của Thái Lan Ngành nông nghiệp nhiệt đới phong phú đã đem lại cho Thái Lan vị trí xuất khẩu gạo số một Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu gạo của Thái Lan đạt 73,8 tỉ Bạt (1,9 tỉ USD), năm 2000 là 257,8 tỉ Bạt (6,5 tỉ USD) Năm 2006, Thái Lan xuất khẩu khoảng 7,5 triệu tấn, mang về cho đất nước trên 9 tỉ USD Có được những thành công trên, bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên Thái Lan đã xây dựng cho mình một chiến lược phát triển đúng đắn Nội dung của chiến lược bao hàm rất nhiều vấn đề, song tập trung nhất vào việc xây dựng một ngành nông nghiệp với kỹ nghệ cao
và bền vững
Các chiến lược phát triển nông nghiệp của Thái Lan:
Thứ nhất, thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo chiến lược xây dựng cơ
cấu kinh tế toàn diện và ổn định Ngay từ năm 1999, chính phủ Thái Lan đã đưa
Trang 27ra chương trình phát triển nông nghiệp, trong đó tập trung vào một số giải pháp như :
+ Đẩy nhanh tốc độ giao đất cho nông dân thông qua cải cách đất đai Kể
từ năm 1998 đến nay, Thái Lan đã tiến hành cải cách đất đai trên diện tích khoảng 200.000 Rai (1 hécta = 0,5 Rai)
+ Phân vùng sản xuất nhằm giải quyết tình trạng sản xuất không ổn định, xây dựng kế hoạch đưa một số cây ngũ cốc vào vùng chuyên canh sản xuất, phân canh diện tích đất nhất định cho một số loại cây đòi hỏi tưới tiêu tốt
+ Cung cấp cho nông dân các loại giống cây khác nhau để cải thiện chất lượng cây trồng
+ Quản lý sau thu hoạch một cách hiệu quả Bộ Nông nghiệp Thái Lan đã tìm vốn vay từ Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) để tài trợ cho việc mua sắm phương tiện và xây dựng các kho chứa thóc ở mỗi huyện
+ Thúc đẩy và công bố các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, theo đó Chính phủ Thái Lan thiết lập Uỷ ban chuyên trách về việc xây dựng, phối hợp với các ngân hàng dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu đối với các cơ quan của Nhà nước và tư nhân Thông qua Uỷ ban này sẽ tạo điều kiện tư vấn nông nghiệp cho nông dân sản xuất
+ Cấp tín dụng cho người nghèo và hỗ trợ vốn cho nông dân sản xuất với các chính sách lãi suất ưu đãi
Thứ hai, thực hiện chiến lược lúa gạo quốc gia 5 năm 2004-2008 Thái
Lan tập trung nâng sản lượng thóc gạo thông qua việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới tăng năng suất, hoàn thiện hệ thống tưới tiêu, quảng bá thị trường thóc gạo, tăng giá trị xuất khẩu, nâng cao đời sống cho nông dân Theo chiến lược này, sản lượng thóc sẽ tăng từ 25,88 triệu tấn (17,20 triệu tấn gạo) niên vụ 2002-
2003 lên 33 triệu tấn thóc (21,8 triệu tấn gạo) vào niên vụ 2007-2008 Thái Lan tăng cường xuất khẩu gạo chất lượng cao sang các thị trường Trung Quốc, Hồng Kông, Xinhgapho, Liên minh châu Âu, tăng khả năng cạnh tranh gạo Thái Lan trên thị trường quốc tế
Thứ ba, phát triển các vùng nông nghiệp sinh thái đô thị Thái Lan là nước
có kinh nghiệm trong việc phát triển các vùng nông nghiệp sinh thái đô thị Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của thủ đô Băng Cốc cho phép hình thành các
Trang 28vùng sản xuất vệ tinh chuyên môn hoá xen kẽ với các khu công nghiệp và dân
cư, cách thủ đô từ 40 km đến 100 km Các nông sản sạch và có giá trị kinh tế cao được chú trọng phát triển.Tại những vùng nông nghiệp gần Băng Cốc, nông dân phát triển sản xuất rau quả an toàn trên liếp Tại các vùng cách thủ đô hàng trăm kilômét, các mô hình nông nghiệp tổng hợp được xây dựng, trang trại chăn nuôi kết hợp với trồng cây ăn quả, phát triển cây lương thực với nuôi trồng thuỷ sản nhằm giải quyết vấn đề môi trường và an toàn thực phẩm Vấn đề tiêu thụ sản phẩm được giải quyết trên cơ sở phát triển quan hệ hợp đồng giữa các công
ty chế biến nông sản của Băng Cốc và các hộ nông dân ở các vùng sản xuất vệ tinh Đặc biệt, chính phủ Thái Lan rất quan tâm đến các chính sách tài chính, tín dụng, khuyến nông, xây dựng kết cấu hạ tầng, giải quyết ô nhiễm…nhằm thúc đẩy phát triển các vùng nông nghiệp bền vững
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Ngành nông nghiệp là ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Bất cứ một quốc gia nào trong chiến lược phát triển kinh tế của mình cũng đều hết sức quan tâm tới chiến lược phát triển nông nghiệp Thông qua nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của các quốc gia trên thế giới sẽ giúp ích cho Việt Nam rất nhiều bài học trong chiến lược phát triển nền nông nghiệp của mình Có thể tổng kết và đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong tiến trình phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững:
Thứ nhất, xác định đúng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp
trong quá trình công nghiệp hoá đất nước Công nghiệp và nông nghiệp là hai ngành kinh tế xương cốt của nền kinh tế quốc dân Đây là hai ngành trực tiếp tạo
ra của cải vật chất Trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, quốc gia nào cũng đặt vấn đề công nghiệp lên hàng đầu Ngành công nghiệp sẽ là ngành tạo
ra được bước đột phá, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Đây là một quan điểm đúng, tuy nhiên trong khi phát triển ngành công nghiệp thì yêu cầu chúng ta phải coi trọng nông nghiệp Nếu khu vực nông nghiệp không phát triển thì trước hết nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ dân cư sống trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, sau đó là ảnh hưởng tới sự ổn định về kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn xã hội Kinh nghiệm của các quốc gia đã cho thấy việc xác định đúng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình công
Trang 29nghiệp hoá đất nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng Dù cho nền khoa học - công nghệ của thế giới có phát triển như thế nào thì cũng không thể xoá bỏ vai trò của ngành nông nghiệp Nông nghiệp và công nghiệp là hai ngành có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo điều kiện và thúc đẩy nhau cùng phát triển Do vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung cần phải chú trọng phát triển cả công nghiệp và nông nghiệp
Riêng đối với Việt Nam, việc xác định đúng mối quan hệ trong phát triển công nghiệp và nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng Xuất phát điểm phát triển kinh tế của Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới trên 70% dân cư sống ở khu vực nông nghiệp Do đó trong chiến lược phát triển kinh tế của mình nếu chúng ta không phát triển hài hoà được giữa công nghiệp và nông nghiệp thì nền kinh tế có nguy cơ rơi vào tình trạng mất ổn định, thiếu tính cân bằng tổng thể Thực tiễn đã chứng minh điều này, khi trước đổi mới trong đường lối phát triển kinh tế Việt Nam chỉ chú trọng vào phát triển công nghiệp nặng, khu vực nông nghiệp ít được quan tâm đã dẫn đến tình trạng thiếu lương thực - thực phẩm, đời sống của toàn bộ dân cư vô cùng khó khăn Hiện nay trong việc phát triển ồ ạt các khu công nghiệp cũng đang đẩy một bộ phận dân cư bị mất đất sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng thiếu việc làm, đời sống khó khăn, làm nẩy sinh những vấn đề xã hội rất khó giải quyết
Từ kinh nghiệm của các nước, trên cơ sở những vấn đề thực tiễn của Việt Nam việc xác định đúng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước là bài học hết sức có ý nghĩa
Thứ hai, cần đầu tư thích đáng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn
Khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực kém phát triển nhất so với các khu vực khác về mọi mặt Từ trước đến nay, do yêu cầu của quá trình tăng trưởng kinh tế hầu hết các quốc gia đều giành phần lớn các nguồn vốn đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ Phần vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn là rất hạn chế Trong khi đó đây lại là ngành đòi hỏi vốn lớn, thời gian đầu
tư lâu dài Việc thiếu công bằng trong đầu tư phát triển đã làm cho nông nghiệp vốn lạc hậu lại càng trở lên lạc hậu hơn Do vậy, từ những bài học kinh nghiệm của các nước rút ra cho Việt Nam bài học: cần phải có những cơ chế chính sách
Trang 30đầu tư một cách hợp lý, hiệu quả cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nông nghiệp, nông thôn
Thứ ba, phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ tài nguyên môi
trường Ngành nông nghiệp là ngành có liên quan trực tiếp tới các điều kiện tài nguyên môi trường Cụ thể ở đây đó là quá trình sản xuất nông nghiệp liên quan trực tiếp tới các yếu tố tài nguyên như đất, nước, rừng, thuỷ hải sản…Bên cạnh
đó khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực có trình độ dân trí thấp Do trình
độ khoa học kỹ - thuật còn lạc hậu, trình độ nhận thức của người sản xuất còn hạn chế nên trong quá trình sản xuất, các yếu đầu vào của sản xuất đã bị sử dụng một cách thiếu tổ chức, thiếu khoa học Cụ thể ở đây đó là sự ô nhiễm của nguồn nước, sự suy thoái của đất nông nghiệp do lạm dụng hoá chất, diện tích rừng giảm do chặt phá để lấy đất trồng cây công nghiệp, sự cạn kiệt của các nguồn lợi thuỷ sản do khai thác quá mức với những phương tiện đánh bắt mang tính huỷ diệt Hậu quả của những vấn đề trên đang tác động trực tiếp ngay tới toàn bộ khu vực nông nghiệp, nông thôn: diện tích đất hoang hoá, rừng trọc có diện tích ngày càng tăng, sản luợng đánh bắt thuỷ hải sản gần bờ có xu hướng giảm Chính vì vậy việc phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng Bảo vệ tài nguyên môi trường chính là bảo vệ
sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp
Thứ tư, phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với vấn đề xoá đói,
giảm nghèo, nâng cao mức sống của cư dân nông thôn Đối với Việt Nam, khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực tập trung tới trên 70% dân cư Không chỉ có riêng Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới, khu vực nông nghiệp vẫn là khu vực phát triển chậm nhất, đời sống của cư dân nông thôn phần lớn vẫn ở tình trạng nghèo đói so với mỗi quốc gia Tuy nhiên để vượt qua vòng luẩn quẩn nghèo đói ở khu vực nông nghiệp là hết sức khó khăn Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế, khu vực nông thôn đang rơi vào tình trạng “nghèo đi tương đối” Đời sống khó khăn, cùng với sự gia tăng của nghèo đói sẽ là sự gia
tăng của hàng loạt các tệ nạn xã hội gây mất ổn định không chỉ khu vực nông nghiệp, nông thôn mà nó tạo ra áp lực đè nặng lên nền kinh tế quốc dân Để giải quyết được vấn đề đó thì không còn con đuờng nào khác là phải tập trung các nguồn lực để vực dậy sự phát triển của khu vực nông nghiệp, nông thôn Việc
Trang 31phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn phải nhằm thực hiện được mục đích cao nhất đó là xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của dân cư Chỉ khi đó
Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu,
cơ sở vật chất của công nghiệp hầu như chưa có gì Do đó muốn phát triển kinh
tế bắt buộc chúng ta phải xuất phát từ nông nghiệp Tuy nhiên nếu với nền nông nghiệp thủ công, lạc hậu, khép kín thì sẽ rất khó phát triển Trước những vấn đề thực tiễn đó, một trong những bước phát triển đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, Việt Nam đã phát triển và đưa ngành nông nghiệp dần dần trở thành nền nông nghiệp mang tính chất hàng hoá Hiện nay các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam sản xuất ra chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường quốc tế như gạo, hồ tiêu, cao su, cà phê…và đã mang lại nguồn ngoại tệ lớn để làm cơ sở thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên về cơ bản sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn mang tính chất thủ công, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô nên giá trị xuất khẩu không cao Hoạt động sản xuất chưa thực sự tuân theo các quy luật của thị trường Do đó việc xác định bài học kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp phải gắn với các quy luật của thị trường là bài học có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Trang 32CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO XU HƯỚNG
BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA
2.1 Tổng quan về sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
2.1.1 Vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học cây trồng, vật nuôi, chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng gắn lợi ích của họ với quá trình sử dụng sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận dân cư sống bằng nghề nông Tuy nhiên ngay
cả những nước có nền kinh tế phát triển, có nền công nghiệp phát triển cao, mặc
dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống của con người những sản phẩm cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào thay thế được Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về
số lượng, chất lượng và chủng loại Điều đó là do sự tác động của các nhân tố:
sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người Các nhà kinh
tế học đều thống nhất rằng điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung
Trang 33lương thực cho nền kinh tế quốc dân bằng sản xuất, hoặc nhập khẩu lương thực
Có thể chọn con đường nhập khẩu lương thực để giành nguồn lực cho các việc khác có lợi hơn Nhưng điều này chỉ phù hợp với những nước có dân số ít và không có điều kiện phát triển ngành nông nghiệp như Xingapo, Arập Xêút… mà không phù hợp với các quốc gia đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam Các nước đông dân này muốn nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân được ổn định thì phần lớn lương thực tiêu dùng phải được sản xuất trong nước Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và
ổn định về kinh tế - xã hội
Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị Nông nghiệp và nông thôn còn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà thị trường trong nước, trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển
Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại nông, lâm, thuỷ sản dễ dàng ra nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hoá công nghiệp Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại
tệ chủ yếu dựa vào các xuất khẩu các loại nông, lâm, thuỷ sản Xu hướng chung ở các nước trong quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó
sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế Tuy nhiên xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá các sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá cánh kéo giữa hàng nông sản và hàng công nghệ ngày càng mở rộng, làm cho nông nghiệp, nông thôn luôn bị thua thiệt
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân hoá học, thuốc trừ sâu, các chất bảo quản…sẽ làm ô nhiễm đất và nguồn nước Trong quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng núi và khai hoang mở rộng diện tích rừng…Vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp,
Trang 34cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường
2.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Việt Nam
2.1.2.1 Sản xuất nông nghiệp tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các yếu tố đầu vào phần lớn là các yếu tố thuộc về tự nhiên
Đối với ngành công nghiệp, hoạt động sản xuất thường diễn ra tập trung ở những địa điểm thuận lợi Ngược lại, thì đối với sản xuất nông nghiệp, quá trình sản xuất được diễn ra trong một không gian rộng lớn, gắn liền với các điều kiện tự nhiên sinh thái Đối với Việt Nam, do điều kiện địa lý nên hoạt động sản xuất nông nghiệp được trải rộng trên cả 4 vùng địa bàn rộng lớn: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển Trên cơ sở của 4 vùng địa bàn sản xuất, Việt Nam đã hình thành lên các vùng sản xuất nông nghiệp khác nhau
Bảng 1: Phân bố đất nông nghiệp giữa các vùng trong cả nước
năm 2007
Đất nông nghiệp % so với diện tích
tự nhiên của vùng Diện tích
(1.000 ha)
% so với diện tích đất nông nghiệp cả nước
Trang 35Việc hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp dựa trên các điều kiện địa
lý tạo lên tính đa dạng của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam Dưới tác động của điều kiện tự nhiên nên ở mỗi vùng sẽ hình thành lên các sản phẩm nông nghiệp mang tính chất đặc trưng Ví dụ như vùng núi phù hợp với việc phát triển cây lâm nghiệp; vùng trung du phù hợp với việc phát triển các cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc lớn; vùng đồng bằng phù hợp với việc trồng cây lương thực, thực phẩm, chăn nuôi gia súc, gia cầm; vùng ven biển phù hợp với việc phát triển ngành thuỷ sản Từ cơ sở đó hình thành lên các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp Tính
đa dạng trong sản phẩm nông nghiệp đã tạo điều kiện cho nông nghiệp Việt Nam
có rất nhiều sản phẩm có thể xuất khẩu ra thị trường quốc tế, tăng tính cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường
Bảng 2: Sự biến động diện tích các loại đất nông nghiệp
nghiệp lâu năm
- Cây ăn quả
Trang 363 Diện tích nuôi
trồng thuỷ sản
266.8 326.9 367.8 553.4 672.3 786.1
Nguồn: Tóm tắt niên giám thống kê giai đoạn 1990 - 2007, Tổng cục thống kê
Tuy nhiên việc sản xuất diễn ra trên một địa bàn rộng lớn, đa dạng, phức tạp như vậy cũng đang gây ra rất nhiều trở ngại cho quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp Do hoạt động sản xuất được phân bố trên 4 địa bàn, quy mô của mỗi vùng sản xuất lại không lớn Diện tích đất nông nghiệp trong tổng diện tích đất tự nhiên chỉ chiếm một phần nhỏ Năm 1990 diện tích đất nông nghiệp là 6.933,214 ha chiếm 21% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 1995 là 7.933,748 ha chiếm 24% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2000 là 9.394,97 ngàn ha, chiếm 28,38% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2002 là 9.406.783 ha chiếm 28,57% tổng diện tích đất tự nhiên Theo kết quả tổng điều tra nông nghiệp năm 2006 tổng diện tích tự nhiên của nước ta là 32.929.722 ha, trong đó đất nông nghiệp
là 9.436.783 ha chiếm 28,49% tổng diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp có rừng là 14514,23 nghìn ha chiếm 43,82%, đất nuôi trồng thuỷ sản 715,11 nghìn
ha chiếm 2,16%
Quy mô của mỗi địa bàn sản xuất không lớn đã làm trở ngại tới quá trình thuỷ lợi hoá, cơ khí hoá, điện khí hoá hoạt động sản xuất Hiện nay chỉ có ở đồng bằng sông Cửu Long thì việc đưa các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất được thực hiện một cách đại trà còn ở các vùng sản xuất khác về cơ bản hoạt động sản xuất vẫn mang tính manh mún, nhỏ lẻ Với đặc điểm sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, có nhiều sự khác biệt đã đem lại cho nông nghiệp Việt Nam nhiều thuận lợi, do tính đa dạng đồng thời cũng có những khó khăn rất lớn trong quá trình xây dựng, phát triển nông nghiệp theo hướng nền nông nghiệp hàng hoá
Hoạt động sản xuất nông nghiệp liên quan trực tiếp tới yếu tố thời tiết Nếu điều kiện thời tiết thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra thuận lợi và ngược lại nếu điều kiện thời tiết không thuận lợi sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản lượng, chất lượng của sản phẩm nông nghiệp
Nước ta hằng năm có lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt rất phong phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào (cường độ, ánh sáng, có nhiệt độ trung bình hằng năm là 230c…), tập
Trang 37đoàn cây trồng vật nuôi rất phong phú đa dạng Nhờ những thuận lợi đó mà chúng ta có thể gieo trồng và thu hoạch nhiều vụ trong năm, với nhiều loại cây trồng vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao như cây công nghiệp, cây ăn quả, lúa gạo, nuôi trồng thuỷ sản…
Bên cạnh những mặt thuận lợi, điều kiện thời tiết khí hậu nước ta cũng có nhiều khó khăn như: mưa nhiều và lượng mưa lại tập trung vào những tháng nhất định trong năm gây ra hiện tượng lũ lụt, xói lở; nắng nóng nhiều thường gây nên khô hạn, thiếu nước phục vụ cho hoạt động tưới tiêu của hoạt động sản xuất nông nghiệp Khí hậu nhiệt đới với đặc điểm là nóng ẩm tạo điều kiện cho sâu bệnh, dịch bệnh phát sinh trong cây trồng vật nuôi Ngày nay dù cho khoa học - công nghệ có phát triển nhưng chúng ta vẫn chưa loại trừ được hoàn toàn các tác động xấu của các điều kiện thời tiết khí hậu tới hoạt động sản xuất nông nghiệp Hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn chịu sự tác động rất lớn của các điều kiện tự nhiên Trong quá trình phát triển nông nghiệp thì việc phát huy những mặt lợi thế và hạn chế được những khó khăn khắc nghiệt do thiên nhiên gây ra sẽ là điều kiện đảm bảo cho nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, bền vững
2.1.2.2 Trong nông nghiệp có sự tồn tại nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, nhiều thành phần kinh tế Trong đó kinh tế hộ nông dân có vai trò đặc biệt quan trọng
Hiện nay trong sản xuất nông nghiệp có sự tham gia đầy đủ các thành phần kinh tế với vốn sở hữu của nhà nước, tập thể, tư nhân Tiêu biểu ở đây là các hợp tác xã nông nghiệp, các nông trường quốc doanh, kinh tế của các hộ gia đình
Từ năm 1955 đến 1980 hợp tác xã đóng vai trò là đơn vị kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp, đặc trưng bởi phương thức tổ chức và quản lý tập trung ở nông thôn.Việc phát triển một cách nóng vội, trái với quy luật đã đẩy các hợp tác xã nhanh chóng rơi vào tình trạng khủng hoảng, các hợp tác xã làm ăn thua
lỗ, đời sống của xã viên lâm vào tình trạng khó khăn Chỉ thị 100 của Ban Bí thư năm 1981 sau đó là Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị năm 1988 đã từng bước thay đổi mô hình quản lý hợp tác xã theo hướng nâng cao vai trò của hộ gia đình
xã viên Năm 1996, Luật Hợp tác xã ra đời, tiếp theo đó là một loạt các chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành đã giúp cho kinh tế hợp tác xã
Trang 38chuyển hẳn sang bước phát triển mới Hợp tác xã chuyển từ quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh sang làm dịch vụ theo nhu cầu của xã viên Đến ngày 31-03-2005 cả nước có 8.595 hợp tác xã nông nghiệp với khoảng 7,3 triệu
xã viên Trong đó có 6.115 hợp tác xã cũ chuyển đổi (71,2%), 2.196 hợp tác xã mới thành lập [30,Tr 88] Đến năm 2004, số hợp tác xã khá, giỏi, làm tốt một số khâu dịch vụ thiết yếu, vốn và quỹ được bảo toàn chiếm tỷ lệ 34 % tổng số hợp tác xã Nhìn chung tuy có nhiều mô hình hợp tác xã hoạt động có hiệu quả nhưng việc phát triển kinh tế hợp tác xã vẫn diễn ra hết sức chậm chạp, trong quá trình phát triển cũng đang nảy sinh rất nhiều trở ngại cần giải quyết
Trong các doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực nông nghiệp phải kể đến các nông, lâm trường quốc doanh Năm 1960 cả nước có 56 nông trường quốc doanh được thành lập và hoạt động Đến cuối năm 2007 cả nước có 314 nông trường quốc doanh, quản lý một diện tích đất khổng lồ gần 700 nghìn ha đất nông nghiệp, 174 nghìn lao động, tổng số vốn là 6.056 tỷ đồng; 368 lâm trường quốc doanh quản lý trên 5 triệu ha đất, trong đó có 3,5 triệu ha đất có rừng, gần 27 nghìn lao động, tổng số vốn là 6.790 tỷ đồng [30, Tr 101-102] Trong thời kỳ đổi mới, các nông, lâm trường đã áp dụng rộng rãi cơ chế khoán đất đai, cây cối, gia súc, rừng cho người dân Các nông trường đã chuyển từ sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt nhiều loại cây trồng sang tập trung phát triển các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu…các lâm trường đã chuyển từ khai thác và bảo vệ sang khoanh nuôi, bảo vệ và trồng, phát triển rừng Quá trình đổi mới trong 20 năm qua của các nông, lâm trường đã thu được nhiều thành tựu nhưng cũng đang tồn tại những yếu kém hết sức lo ngại Bộ máy quản lý cồng kềnh, năng suất lao động thấp Nhiều chủ trương khoán đất đai, rừng lâu dài cho các hộ thành viên của các nông, lâm trường chậm được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, làm thất thoát tài sản của nhà nước Các nông, lâm trường dần mất đi vai trò của mình và thay vào đó là vai trò của kinh tế hộ gia đình
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là quá trình nuôi trồng, chăm sóc các đối tượng sống (cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản) đòi hỏi sự chủ động cao độ của người sản xuất Nếu từ vị thế của người làm thuê tham gia vào quá trình sản xuất thì sẽ không thể đạt kết quả tốt cho sản xuất nông nghiệp Mặt khác do địa bàn sản xuất rộng, thời gian chu kỳ sản xuất dài, các tổ chức giám sát, kiểm tra sẽ
Trang 39tốn kém đến mức vượt quá lợi nhuận sản xuất đem lại Do đó trong các tổ chức sản xuất kinh doanh thì kinh tế hộ gia đình tỏ ra phù hợp hơn cả Hiện nay kinh
tế hộ gia đình đang phát triển mạnh mẽ và đóng góp chủ yếu vào sản lượng của ngành nông nghiệp Quá trình đổi mới chính sách trong sản xuất nông nghiệp đã xác lập vị trí số một của kinh tế hộ ở nông thôn Hộ gia đình nông dân được giao đất, giao rừng với quyền sử dụng ngày càng được mở rộng, được chủ động đưa
ra quyết định về sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, được hỗ trợ về vốn, khoa học - công nghệ nên ngày càng vững mạnh và hoạt động có hiệu quả Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Trung ương tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản tại thời điểm 1-7-2006 cả nước có 13,78 triệu hộ nông thôn tăng 5,45
so với năm 2001; tính trung bình giai đoạn 2001-2006 mỗi năm tăng 1,07% Số người trong độ tuổi lao động ở các vùng nông thôn cả nước tại cùng thời điểm
là 33,24 triệu người (tăng 6,1% so với năm 2001) chiếm tới 77,8% trong tổng lực lượng lao động của cả nước
2.1.2.3 Nền nông nghiệp Việt Nam đang trong tình trạng lạc hậu tiến lên xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ thực trạng chung của nền kinh tế, xuất phát điểm của nền nông nghiệp Việt Nam vẫn là ở trong tình trạng lạc hậu Hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính chất thủ công, kỹ thuật lạc hậu Về cơ bản, hiện nay hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu được thực hiện với sức kéo của trâu, bò và lao động chân tay của con người Quá trình cơ giới hoá các khâu của sản xuất mới chỉ được thực hiện ở một số khâu, và ở một số nơi có điều kiện thuận lợi Nông nghiệp Việt Nam không chỉ lạc hậu trong khâu sản xuất mà còn ngay ở trong khâu thu hoạch, bảo quản Đến nay việc bảo quản các sản phẩm nông nghiệp về cơ bản vẫn dựa trên kinh nghiệm truyền thống là chủ yếu Việc
áp dụng các công nghệ hiện đại vào sản xuất, bảo quản các sản phẩm nông nghiệp mới chỉ được áp dụng trong phạm vi nhỏ Hệ quả dẫn đến các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam có năng suất và chất lượng thấp, hiệu quả kinh tế thấp
Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng đang từng bước đổi mới và phát triển Kinh tế thị trường với các quy
Trang 40luật vốn có của nó đang tác động mạnh tới toàn bộ nền kinh tế, trong đó có hoạt động sản xuất nông nghiệp Bên cạnh việc mở rộng thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp thì nền kinh tế thị trường cũng đang đặt ra những yêu cầu cao hơn cho việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá Với xuất phát điểm thấp, nền nông nghiệp Việt Nam đang trong tình trạng lạc hậu tiến lên xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá Trong những năm qua, ngành nông nghiệp của Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định Vấn đề an ninh lương thực đã được đảm bảo Nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất và chất lượng cao được đưa vào sản xuất Các vùng sản xuất chuyên canh đang từng bước hình thành và phát triển mạnh mẽ Cơ cấu ngành và nội bộ ngành đang có bước chuyển mới tuân theo những quy luật của thị trường Hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam ra thị trường thế giới ngày càng được mở rộng Hoạt động sản xuất nông nghiệp đã bước đầu tuân theo những những nguyên tắc của thị trường, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên bên cạnh những mặt đã đạt được thì hiện nay trong hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn là sự đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái lạc hậu… của nền nông nghiệp truyền thống với những đặc trưng của nền nông nghiệp hàng hoá hiện đại Điều này cho thấy nông nghiệp của Việt Nam đang từng bước chuyển từ một nền nông nghiệp lạc hậu sang nền nông nghiệp hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tính định hướng xã hội chủ nghĩa là điểm làm nên sự khác biệt giữa quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta so với các nước, thể hiện rõ trong mục tiêu phát triển Mục tiêu phát triển của nông nghiệp Việt Nam là mang lại lợi ích cho toàn bộ người dân trong xã hội, trên cơ sở đó nâng cao mức sống cho người dân, đặc biệt là người nông dân Thể hiện cho mục tiêu đó, trong những năm vừa qua Đảng ta luôn xác định nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải đổi mới và nâng cao năng suất, chất lượng của hoạt động sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở đó nâng cao mức sống cho người dân
2.2 Những chuyển biến trong phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững
2.2.1 Đảm bảo giữ vững được nhịp độ tăng trưởng ổn định và có hiệu quả trong thời gian dài