1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian văn hóa làng Tam Á

153 425 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số chuyên luận không những có ý kiến nhận xét về di sản của làng xã, về các mặt kinh tế - xã hội, văn hóa; mà còn nêu lên những điểm tích cực và cả những tiêu cực của làng xã trong q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

========================

HÀ THỊ LOAN

KHÔNG GIAN VĂN HOÁ LÀNG TAM Á

LUậN VĂN THạC Sỹ Ngành Việt Nam học

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

========================

HÀ THỊ LOAN

KHÔNG GIAN VĂN HOÁ LÀNG TAM Á

Mã số: 60 22 01 13

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huế

Hà Nội – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học “Không gian văn

hóa làng Tam Á” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Huế là hoàn

toàn mới, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học khác

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, các kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014

TÁC GIẢ

Hà Thị Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý Thầy Cô ở Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới tất cả các Thầy Cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Việt Nam học khóa 8 niên khóa 2012 – 2014, cùng toàn thể các cán bộ, giảng viên Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học thạc sỹ này trong suốt quá trình học tập vừa qua

Thứ hai, Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Huế đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, nhiệt tình hướng dẫn, nghiên cứu giúp tôi hoàn thành luận văn này

Thứ ba, trong thời gian làm luận văn, tôi cũng nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ, nhân dân thôn Tam Á, đặc biệt là cụ Dương An Khang Đồng thời, tôi cũng luôn nhận được sự động viên, tin tưởng và giúp đỡ của người thân, gia đình và bạn bè Đó là sự giúp đỡ và nguồn cổ vũ quý giá giúp tôi vượt qua khó khăn

để hoàn thành khóa học và luận văn này Vậy nên, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn và biết ơn chân thành nhất đến tất cả mọi người!

Mặc dù, tôi đã cố gắng hết sức, song do hạn chế về khả năng, trình độ, thời gian… khiến luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Vì thế nên, tác giả kính mong được sự góp ý của các quý Thầy Cô, gia đình, nhân dân thôn Tam Á và bạn bè giúp tôi khắc phục những hạn chế, tiếp tục phát triển đề tài của mình trong các công trình tiếp theo

Một lần nữa, tôi xin gửi lời cảm ơn, biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến tất cả mọi người!

Tác giả luận văn

Hà Thị Loan

Trang 6

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Nhiệm vụ của luận văn 11

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 11

7 Đóng góp của đề tài 11

8 Bố cục của đề tài 12

B PHẦN NỘI DUNG 13

Chương 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 13

1.1 Cơ sở lý luận 13

1.1.1 Khái niệm văn hóa 13

1.1.2 Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể 15

1.1.3 Khái niệm không gian văn hóa 16

1.1.4 Lý luận về văn hóa làng và làng văn hóa 17

1.2 Làng văn hóa và văn hóa làng ở Bắc Ninh 28

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2: LÀNG TAM Á VÀ NHỮNG YẾU TỐ CẤU THÀNH KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG TAM Á 31

2.1 Điều kiện tự nhiên của làng Tam Á 31

2.1.1 Vị trí địa lý 31

2.1.2 Giao thông 32

2.1.3 Địa hình 32

2.1.4 Khí hậu 34

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34

Trang 7

2.2.1 Điều kiện kinh tế 34

2.2.2 Điều kiện xã hội 44

2.3 Truyền thống khoa bảng và truyền thống hiếu học 55

2.3.1 Truyền thống khoa bảng xưa 55

2.3.2 Truyền thống hiếu học hiện nay 56

2.4 Truyền thống yêu nước, đấu tranh chống ngoại xâm của Tam Á 57

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3: NHỮNG YẾU TỐ VĂN HÓA VẬT THỂ, PHI VẬT THỂ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG TAM Á 62

3.1 Di sản văn hóa vật thể của làng Tam Á 62

3.1.1 Lăng và tẩm thờ Sĩ Nhiếp 62

3.1.2 Đình Tam Á 68

3.1.3 Chùa Tam Á 69

3.1.4 Ẩm thực Tam Á 70

3.1.5 Nhà ở 72

3.1.6 Mặc 75

3.1.7 Đi lại và vận chuyển 77

3.2 Một số di sản văn hóa phi vật thể 77

3.2.1 Lễ hội làng Tam Á 77

3.2.2 Phong tục, tôn giáo và tín ngưỡng 82

3.2.3 Văn học dân gian làng Tam Á 90

3.2.4 Dân ca 93

3.3 Phương hướng bảo tồn, phát triển không gian văn hóa làng Tam Á 96

Tiểu kết chương 3 98

C KẾT LUẬN 100

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

E PHỤ LỤC 107

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tô thuế áp dụng cho làng xã ở Bắc Hà thời Tự Đức 35

Bảng 2.2 Bảng thống kê các hộ gia đình làm nghề phụ ở làng Tam Á 44

Bảng 2.3 Số lượng hội viên các đoàn thể chính trị xã hội của thôn Tam Á năm 2014 50

Bảng 2.4 Số học sinh đỗ Đại học và Cao đẳng của làng Tam Á từ năm 57

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Suy nghĩ của người dân Tam Á về vấn đề diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp 36

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu thành phần kinh tế ở làng Tam Á hiện nay 39

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu diện tích trồng trọt của làng Tam Á 40

Biểu đồ 2.4 Tình hình chăn nuôi ở làng Tam Á hiện nay 41

Biểu đồ 2.5 Cơ cấu nguồn thu nhập chính của người dân làng Tam Á 42

Biểu đồ 3.1 Các điểm thờ tự được người dân Tam Á lựa chọn 70

Biểu đồ 3.2 Đồ nội thất trong các gia đình ở làng Tam Á 74

Biểu đồ 3.3 Cơ cấu phương tiện đi lại của làng Tam Á hiện nay 77

Trang 9

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với bề dày lịch sử hàng nghìn năm, làng Tam Á, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh không chỉ là vùng đất cổ lưu giữ những giá trị truyền thống và bản sắc văn hoá của dân tộc mà còn là quê hương của đình, chùa, đền, xứ sở của lễ hội và những nghề phụ Không chỉ thế, nơi đây còn là cái nôi sinh thành những ông nghè, ông cống nổi tiếng khoa bảng Ngày nay, những truyền thống ấy ngày càng được gìn giữ và phát huy Từ khi thành lập đến nay, trong chiều dài lịch sử, người Tam Á đã phải gian khổ và anh dũng lao động, đấu tranh với thiên nhiên và xã hội để

tồn tại và phát triển Vì vậy, nghiên cứu về Không gian văn hoá làng Tam

Á chính là nghiên cứu về một làng cổ điển hình ở Kinh Bắc nói riêng và

đồng bằng Bắc Bộ nói chung

Nét nổi bật trong những giá trị văn hoá của Tam Á là tinh thần cộng đồng gia tộc – làng xã Con người (hiện tại) đặt trong mối quan hệ với tổ tiên (quá khứ) và con cháu (tương lai) Họ gắn chặt thế giới bên này với thế giới bên kia Đó là mạch nguồn của thuần phong mĩ tục lâu đời, đồng thời cũng là cơ sở cho nhiều giá trị tinh thần về tình yêu quê hương đất nước, trọng đạo nghĩa và lối sống cần cù, chịu khó, giản dị Tinh thần sâu rễ bền gốc ấy đã cố kết các thành viên trong gia đình, dòng họ, trong làng lại với nhau và họ cùng nhau tự giác tôn trọng lệ làng, phép nước tạo nên sức mạnh giúp Tam Á trụ vững, vượt qua những thử thách của thiên tai địch hoạ và chiến tranh Những nét văn hoá tốt đẹp này cần được nghiên cứu, bảo tồn và phát triển

Đặc biệt, nơi đây có đền thờ Sĩ Nhiếp - người có công rất lớn trong việc truyền việc học vào nước ta và được nhân dân coi là vị Tiên Nho ghi

tên vào Văn Tế tiên hiền với các tôn hiệu và mỹ tự cao quý: “Sĩ Vương đem

Trang 10

thi thư đến hoá tục nước ta, đem lễ nhạc đến cảm hoá lòng người, văn hiến của cả nước bắt đầu từ đây” Thông qua lòng biết ơn đối với công lao của

Sĩ Vương, người dân nơi đây đã có những tín ngưỡng sinh hoạt văn hoá phong phú như lễ hội (7/1 Âm lịch), các tục lệ liên quan đến việc thờ cúng Ngài Vì thế, nét văn hoá đặc sắc này cũng cần được nghiên cứu để mọi người biết đến văn hoá của làng Tam Á nói riêng và văn hoá vùng Kinh Bắc nói chung

Ngày nay, Tam Á đang trên con đường phát triển kinh tế nông thôn mới theo hướng CNH, HĐH Diện mạo của làng quê này ngày càng thay đổi rõ rệt Song sự thay đổi đó không làm mất đi những giá trị văn hoá truyền thống mà những giá trị ấy ngày càng được bảo lưu và phát triển trên

cơ sở kế thừa những giá trị văn hoá truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn

hoá của nhân loại Bởi thế, nghiên cứu Không gian văn hoá làng Tam Á để

thấy được xu hướng phát triển, vận động không ngừng của người dân nơi đây đồng thời thấy được những yếu tố văn hoá truyền thống vẫn còn rõ nét trong đời sống của nhân dân Hơn nữa, trong chiến lược phát triển của đất nước, vấn đề nông nghiệp - nông thôn - nông dân có vị trí đặc biệt Các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX của Đảng đều xác định quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nước phụ thuộc rất lớn vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp - nông thôn và nông dân đã, đang và sẽ là bài toán then chốt tạo tiền đề cơ bản cho chúng ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH Trong bối cảnh này, nếu giải quyết tốt các vấn đề văn hóa ở nông thôn chúng ta sẽ có những tiền

đề và điều kiện cơ bản để giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa khu vực, bởi phát triển văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương, khu vực và cả nước

Trang 11

Tác giả luận văn là người được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Thuận Thành, từng được tai nghe mắt thấy nhiều sự kiện về làng Tam Á

Sự gắn bó, thân quen cùng tình yêu và niềm tự hào đối với mảnh đất và con người nơi đây đã là lý do thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu này

Tìm hiểu về làng Tam Á còn có ý nghĩa lí luận - thực tiễn quan trọng đối với một học viên ngành Việt Nam học Đặc biệt, khi nghiên cứu đề tài

Không gian văn hoá làng tam Á là một việc làm thiết thực và có ý nghĩa

cho sự nghiệp nghiên cứu văn hóa của tác giả sau này

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về làng xã Việt Nam

Làng xã ở Việt Nam là đề tài đã thu hút sự quan tâm ghiên cứu của nhiều học giả không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài Điển hình là công trình nghiên cứu về làng Bách Cốc của GS Sakurai (Nhật Bản) và nhiều công trình nghiên cứu về làng xã ở Việt Nam, có thể kể đến một số công trình chủ yếu như:

Năm 1984, tác giả Trần Từ cho ra đời cuốn sách Cơ cấu tổ chức của

làng Việt cổ truyền ở Bắc bộ, do nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản,

tác giả nghiên cứu cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền ở Bắc Bộ Ảnh hưởng của cơ cấu đó trong sự hình thành, phát triển nền kinh tế tiểu nông nghiệp,

sự ra đời của phường hội, chế độ công điền, công thổ và sự phân hoá giai cấp ở nông thôn Bắc Bộ Việt Nam trong lịch sử

Năm 1992, tác giả Phan Đại Doãn cho ra đời cuốn sách Làng xã Việt

Nam - Một số vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội, nhà xuất bản Khoa học xã

hội Cuốn sách này nói về kinh tế - xã hội làng Việt Nam trải qua những thời đại lịch sử Vấn đề ruộng đất, kinh tế tiểu nông, hàng hoá nông thôn truyền thống Cơ cấu xã hội học của làng Những nét chính về văn hoá truyền thống, tôn giáo của làng xã Việt Nam

Trang 12

Năm 1992, các tác giả Dương Kinh Quốc, Nguyễn Cảnh Minh, Đào

Tố Uyên cho ra đời cuốn sách với nhan đề Nông dân và nông thôn Việt

Nam thời cận đại, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Cuốn sách nghiên cứu về

việc sử dụng đất nông nghiệp và phương thức canh tác phân bố ruộng đất, công cuộc khẩn hoang thời cận đại Việt Nam Một số nghề thủ công, dân

số ở vùng nông thôn Việt Nam trong thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Năm 1993, các tác giả Phan Huy Lê, Từ Chi, Nguyễn Đức Nghinh

nhan đề The traditional village in Vietnam, Nhà xuất bản Thế giới Đây là

tuyển tập các bài viết về đặc điểm văn hoá truyền thống của làng thôn Việt Nam: Cơ cấu tổ chức chế độ ruộng đất, thị trường, quan hệ xã hội, sinh hoạt văn hoá…

Năm 2005, hai tác giả Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu cho ra đời cuốn

sách với mhan đề Phong tục làng xóm Việt Nam : Đất lề quê thói, Nhà xuất

bản Phương Đông Cuốn sách nghiên cứu đời sống văn hoá phong tục tập quán làng xóm của người Việt Nam như: Sinh con; tục xăm mình; nhuộm răng; đồ uống; thuốc thang; y phục

Năm 2006, cuốn sách Làng Việt Nam đa nguyên và chặt của các tác

giả Phan Đại Doãn, Yu Insun, Nguyễn Đăng Dung… do Đại học Quốc gia

Hà Nội xuất bản Cuốn sách này tuyển chọn một số bài viết tiêu biểu và tâm huyết của giáo sư Phan Đại Doãn cùng các đồng nghiệp, bạn bè và học trò của ông ở cả trong nước và ngoài nước về cấu trúc xã hội, phong tục tập quán làng xã Việt Nam

Năm 2009, cuốn sách Một số vấn đề làng xã Việt Nam của tác giả

Nguyễn Quang Ngọc, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản, đã nghiên cứu về lịch sử hình thành và những biến đổi của làng xã Việt Nam

Trang 13

trong tiến trình lịch sử, phân tích kết cấu kinh tế - xã hội, văn hoá của làng Việt cổ truyền và hiện nay Sự trở lại vị trí của thôn làng truyền thống trong nông thôn Việt Nam hiện nay qua nghiên cứu trường hợp làng Đan Loan

Năm 2012, Phan Thanh Tá với công trình Văn hoá cổ truyền trong

làng - xã Việt Nam hiện nay do nhà xuất bản Lao Động xuất bản, là sự

nghiên cứu tổng quan về văn hoá cổ truyền, nền tảng và đặc điểm của văn hoá cổ truyền, văn hoá làng - xã Đồng thời công trình giới thiệu không gian tự nhiên - xã hội và sinh hoạt văn hoá cổ truyền ở một số xã vùng đồng bằng Bắc Bộ như xã Đa Tốn, xã Ninh Hiệp, xã Bát Tràng và những

xu hướng biến đổi văn hoá cổ truyền trong đời sống xã hội hiện nay

2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hoá Bắc Ninh

Ngoài những công trình tiêu biểu nghiên cứu về làng xã Việt Nam nói trên thì có thể kể đến một số cuốn sách viết về văn hoá Kinh Bắc và làng xã ở nơi đây, có một số công trình như:

Năm 1988, Hội xứ Bắc: Kỷ yếu Nơi xuất bản Hà Bắc Nhà xuất bản

Sở Văn hoá thông tin Hà Bắc Tập kỷ yếu của Hội thảo khoa học Hội ở Kinh Bắc (Hà Bắc) nói về lễ hội truyền thống, kịch bản lễ hội, kinh nghiệm lịch sử về chỉ đạo tổ chức lễ hội…

Năm 1997, Nguyễn Hữu Kim, Lê Doãn Cấp, Lê Nho Bảo… cho ra

đời cuốn sách với nhan đề Đại Mão làng quê văn hiến do nhà xuất bản Văn

hoá dân tộc xuất bản, cuốn sách nói về truyền thống và phong tục, làng nghề dệt nổi tiếng Đại Mão, những trang sử cách mạng và câu đối, thơ ca, sáng tác về quê hương

Cũng trong năm 1997, nhà xuất bản Hội Nhà văn cho xuất bản cuốn

sách Văn hoá Luy Lâu và Kinh Dương Vương của Đặng Văn Lung, Trần

Gia Linh, Nguyễn Thị Huế Cuốn sách nghiên cứu về văn hoá Luy Lâu và

Trang 14

Kinh Dương Vương, Họ Hồng Bàng trong lịch sử, về tổ tiên Vua Hùng và Lạc Long Quân - Âu Cơ Đồng thời giới thiệu những câu chuyện tham khảo về nguồn gốc dân tộc

Năm 1997, tác giả Trần Đình Luyện với công trình Văn hiến Kinh

Bắc, do Sở Văn hoá Thông tin Bắc Ninh xuất bản, cuốn sách giới thiệu một

số di tích lịch sử văn hoá, làng quê tiêu biểu và các danh nhân khoa bảng của tỉnh Bắc Ninh

Năm 1999, hai tác giả Huy Cờ và Trần Đình Luyện Danh nhân Kinh

Bắc do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản, cuốn sách giới thiệu về các

vị nhanh nhân nổi tiếng của xứ Kinh Bắc

Năm 2001, Nguyễn Duy Hợp cho ra đời cuốn sách Phong thổ Mão

Điền do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản Cuốn sách nói về những

nét đẹp văn hoá của Mão Điền (Bắc Ninh) qua mảnh đất, con người, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán làm nên bản sắc làng quê Việt Nam

Năm 2004, Vương Xuân Tình với công trình Tập quán ăn uống của

người Việt vùng Kinh Bắc do Hội Khoa học Xã hội xuất bản Cuốn sách nói

về tập quán ăn uống của người Việt vùng Kinh Bắc, xem xét món ăn và kỹ thuật chế biến và nhìn nhận thế ứng xử của một cộng đồng dân cư trong ăn uống, kể từ kiếm tìm nguồn lương thực đến đặc điểm chế biến, cung cách thụ hưởng món ăn và vị thế con người qua ăn uống

Năm 2007, Nguyễn Sĩ với nhan đề Quá trình công nghiệp hoá, hiện

đại hoá nông nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay: thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp Nơi xuất bản Luận văn, luận án Đại học

Kinh tế Quốc dân Phụ chú thư mục Thư mục: tr 188-191 Nghiên cứu lí luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và kinh nghiệm trong và ngoài nước Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ 1986 đến nay Phương hướng và

Trang 15

giải pháp đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015

Năm 2012, Nguyễn Đình Chế với nhan đề Làng quê yêu dấu: Sưu

tầm và sáng tác do nhà xuất bản Dân trí in ấn Cuốn sách trình bày một số

nét khái quát về lịch sử xây dựng và phát triển của làng Mỹ Duệ, xã Phú Hoà, huyện Lương Tài - Bắc Ninh Giới thiệu các sáng tác thơ ca về làng quê Mỹ Duệ và các bản chữ Hán về thần tích, sắc phong của địa phương

Ở những công trình trên, các tác giả đã bàn về văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất ở các làng xã Nhiều tác giả đã đề cập đến hội làng, nếp sống, phong tục, tôn giáo, sân khấu dân gian, văn hóa nghệ thuật dân gian Một số chuyên luận không những có ý kiến nhận xét về di sản của làng xã, về các mặt kinh tế - xã hội, văn hóa; mà còn nêu lên những điểm tích cực và cả những tiêu cực của làng xã trong quá trình dựng nước và giữ nước

Trong những công trình kể trên và một số công trình khác thì chưa

có một công trình tổng hợp nào nghiên cứu về làng Tam Á Nhưng những công trình ấy đã giúp ích cho tác giả rất nhiều trong quá trình thực hiện đề

tài Không gian văn hoá làng Tam Á

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu các giá trị văn hoá của Làng Tam Á nhằm thông qua đó

để thấy được văn hoá của một làng điển hình trong văn hoá làng xã Kinh Bắc nói riêng và đồng bằng Bắc Bộ nói chung

- Khẳng định được những nét văn hoá tiểu biểu của làng Tam Á so với các làng xã khác

- Góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở làng Tam Á hiện nay

Trang 16

- Cung cấp những thông tin, số liệu cơ bản về làng Tam Á: về dân

số, diện tích, nghề nghiệp, đặc điểm cư trú, các dòng họ, về số lượng đền miếu, đình, chùa; về các vị thần, thành hoàng, các vị khoa bảng và danh nhân thời cổ; về các số liệu về văn hoá giáo dục, xã hội; về quá trình hình thành làng và xuất xứ tên gọi của làng

4 Nhiệm vụ của luận văn

- Xác định rõ khái niệm văn hóa làng và làng văn hóa, khái niệm

không gian văn hóa và không gian văn hóa làng làm cơ sở lý luận chung

cho việc nghiên cứu đề tài

- Khảo sát, nghiên cứu không gian văn hóa làng Tam Á thông qua các thành tố cấu thành (trong điều kiện cho phép có thể sẽ có so sánh với không gian văn hóa các làng phụ cận trong khu vực), chỉ ra những nét đặc trưng của không gian văn hóa làng Tam Á

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển và bảo tồn không gian văn hóa làng Tam Á, hướng tới công cuộc vận động xây dựng làng văn hóa hiện nay

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu là làng Tam Á,

xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp nghiên cứu khu vực học, phương pháp điều tra, điền dã, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu,…

7 Đóng góp của đề tài

- Chỉ ra một cách hệ thống, toàn diện về không gian văn hóa làng Tam Á

- Đề tài nhằm đáp ứng nhu cầu của những ai quan tâm, tìm hiểu văn hoá truyền thống cũng như hiện đại của làng Tam Á

Trang 17

- Đề tài nhằm góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát triển các giá trị văn hoá của làng quê Tam Á nói riêng và làng quê của Việt Nam nói chung

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội

dung luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tổng quan những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Làng Tam Á và những yếu tố cấu thành không gian văn hóa làng Tam Á

Chương 3: Những yếu tố văn hóa vật thể, phi vật thể và phương hướng bảo tồn, phát triển không gian văn hóa làng Tam Á

Trang 18

B PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Vì thế, đã có rất nhiều định nghĩa về

“Văn hóa” Ở đây, tác giả chỉ xin đưa ra một số định nghĩa cơ bản về văn hóa như sau:

Thứ nhất, theo cách hiểu rộng nhất: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Theo khái niệm này, có thể

thấy văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần, cả kinh tế lẫn xã hội

Thứ hai, trong bản tuyên bố chung tại Hội nghị quốc tế ở Mêhicô do

UNESCO chủ trì họp từ 26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta chấp nhận một

quan niệm về văn hóa như sau: "Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng

thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín

ngưỡng" [58] Theo Tổng giám đốc UNESCO F.May-ơ (Federico Mayor

Zaagoza) cũng có quan niệm về văn hóa nêu ra trong một bài viết của ông

như sau: "Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong

quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những

yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc" [7]

Trang 19

Thứ ba, ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan niệm về văn

hóa như sau: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người

mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày

về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng - Toàn bộ những sáng tạo và

phát minh đó tức là văn hóa" [32; tr 431]

Dưới góc độ tiếp cận xem lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa hướng về các giá trị nhân bản nhằm hoàn thiện con người, nhà

nghiên cứu Hoàng Vinh đã có quan niệm xác đáng rằng: "Văn hóa là toàn

bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn

xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng

xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và một họat động của

những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy" [64; tr 43]

Tóm lại, hoạt động sáng tạo văn hóa vật chất và tinh thần của con người là nhằm hình thành nên các giá trị văn hóa để từ đó cộng đồng người nói chung và mỗi con người nói riêng soi vào nó để chiêm nghiệm, đối chiếu và phấn đấu để đạt được những chuẩn mực giá trị cần thiết mà mỗi cá

nhân, gia đình, xã hội đòi hỏi Vì vậy, có thể hiểu: Văn hóa là quá trình vận

động đặc biệt làm biến đổi liên tục và sâu sắc đến năng lực sáng tạo của cá nhân và cộng đồng nhằm ngày càng hoàn thiện nhân cách và xã hội, vươn tới sự thống nhất cao giữa mỗi cá nhân - gia đình - cộng đồng làng xã và toàn xã hội vì sự tồn tại và phát triển tiến bộ của con người và xã hội

Đồng thời, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển

Trang 20

1.1.2 Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

1.1.2.1 Di sản văn hóa vật thể

Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm cả

di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

1.1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể

Theo Khoản 1 Điều 2 Mục 1 Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật

thể của UNESSCO năm 2003 đã ghi nhận “Di sản văn hóa phi vật thể được

hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa

có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận một phần di sản văn hóa là của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích

lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con

người ” [61; tr.3] Theo khái niệm này ta có thể hiểu văn hóa phi vật thể là

sự gắn bó chặt chẽ về đời sống tinh thần trong mỗi cộng đồng Nó được lưu truyền, tái tạo để tạo nên bản sắc của mỗi cộng đồng và sự đa dạng văn hóa trên thế giới

Chúng ta tiếp thu quan điểm văn hóa phi vật thể của UNESSCO, tại

Điều 1 của Luật di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Di

sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với mỗi cộng đồng hoặc

cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện sâu sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo

và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng,

truyền nghề, diễn trình và các hình thức khác” [44; tr.18] Ở khái niệm này

Trang 21

không liệt kê các hình thức của di sản văn hóa phi vật thể nhưng đến Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/9/2010 quy định chi tiết một số điều của Luật đã được sửa đổi và bổ sung, cụ thể hóa các hình thức biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể: Tiếng nói chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian

1.1.3 Khái niệm không gian văn hóa

Theo quan điểm của GS.TS Ngô Đức Thịnh, không gian văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: Cụ thể và trừu tượng

Theo nghĩa cụ thể: “Không gian văn hóa là không gian địa lý xác

định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống Trong đời sống xã hội của con người, ít khi một hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại

và biến đổi một cách độc lập, mà chúng thường liên kết với nhau thành những tổ hợp Có thể hiểu tổ hợp văn hóa như một hệ thống lớn nhỏ khác nhau, bao gồm nhiều hiện tượng liên kết với nhau như một thực thể hữu cơ… Với ý nghĩa như vậy, văn hóa tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa vùng, văn hóa làng, văn hóa nghề nghiệp, văn hóa đô thị, văn hóa nông thôn… đều là

những dạng khác nhau của tổ hợp văn hóa.” [52; tr.6]

Theo nghĩa trừu tượng: “Không gian văn hóa là một “trường” để chỉ

một hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian (trường) văn hóa rộng hay hẹp khác nhau.”

Như vậy, ta có thể hiểu không gian văn hóa như một tổ hợp văn hóa,

được cấu thành từ nhiều nhân tố, được hiểu cụ thể hơn thông qua các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở trong không gian ấy Đồng thời ở đó có sự giao thoa, tiếp xúc giữa không gian văn hóa này với không gian văn hóa

Trang 22

khác và giữa nền văn hóa bản địa và văn hóa ngoại sinh để hình thành nên một nền văn hóa riêng

Không gian văn hóa làng Tam Á chính là không gian để người Tam

Á tồn tại và phát triển Làng Tam Á có không gian vị trí, địa lý xác định, có nền kinh tế - xã hội ổn định, có quá trình lịch sử lâu dài, có truyền thống yêu nước nồng nàn, có đặc trưng văn hóa riêng trên cơ sở giao lưu tiếp xúc

với các nền văn hóa khác

1.1.4 Lý luận về văn hóa làng và làng văn hóa

1.1.3.1 Khái niệm về làng và làng văn hóa

* Khái niệm về làng

Trong đời sống xã hội Việt Nam cổ truyền, "làng xã có vị trí hết sức

đặc biệt: làng là đơn vị cơ bản hình thành quốc gia dân tộc Nước (quốc gia) chỉ là tổng số, là kết quả của sự liên kết các làng, xã, là "liên làng",

"siêu làng" Làng có vai trò gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc Làng là nhân tố giữ vai trò quyết định trong quá trình dựng nước và giữ

nước của dân tộc "còn làng thì còn nước” [15; tr 7]

Theo GS Phan Đại Doãn: “Làng là một cộng đồng dân cư tự nhiên

được tập hợp theo quan hệ huyết thống, quan hệ địa vực, quan hệ nghề

nghiệp…” [10; tr 18-19.]

Theo Bùi Xuân Đính: “Làng là đơn vị tụ cư truyền thống của người

nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng, các tục lệ (về cheo cưới, tang ma, khao vọng) thờ cúng riêng, tâm lý tính cách riêng

và cả “thổ ngữ” (tiếng làng) riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định trong

quá trình lịch sử” [14; tr 97]

Theo Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, làng là tiếng cổ của Việt

Nam dùng để chỉ đơn vị tụ cư của người Việt có từ lâu đời Xã là từ Hán -

Việt dùng để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở nông thôn Việt Nam [36; tr

Trang 23

368-706] Xã của người Việt có thể bao gồm từ một đến vài làng Trong

trường hợp xã là một làng thì phần lớn tên xã trùng với tên làng Trong trường hợp xã bao gồm nhiều làng thì trong ngôn ngữ hành chính làng được gọi là thôn Trong ngôn ngữ dân gian và trong cuộc sống đời thường

từ làng được sử dụng phổ biến hơn cả với nhiều hàm nghĩa tình cảm, phi

hành chính "làng ta", "làng mình", "người làng", "sống ở làng, sang ở

nước", "một miếng giữa làng” Vì làng có nguồn gốc bản địa sâu xa và

bền vững nên trong lịch sử, xã có thể bị thu hẹp hay phình to ra tùy theo các quyết định hành chính, nhưng làng là đơn vị khá ổn định không dễ thay

đổi Bởi vì, theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: "Làng là một đơn vị cộng cư

có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc, mặt khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình - tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy Làng được hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý cội nguồn và cùng chỗ Một mặt, làng có sức sống mãnh liệt; mặt khác, xét về cấu trúc, làng là một cấu trúc động, không có bất biến Sự biến đổi của làng là do sự biến đổi chung của đất nước qua tác động của những mối liên hệ làng và

siêu làng" [48; tr 130]

* Làng văn hóa

Làng văn hóa là sự phát huy và phát triển những giá trị của văn hóa làng trong thời đại mới Văn hóa làng chính là nền tảng để chúng ta xây dựng làng văn hóa một cách vững chắc trong bối cảnh hiện nay Thực tế đã chứng minh, trong quá khứ lịch sử cũng như hiện tại và tương lai, làng luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, là nơi lưu giữ trường tồn những giá trị vật chất, tinh thần và bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 24

Việc xây dựng làng văn hóa là nhằm phát huy cao độ những giá trị vốn có của văn hóa làng theo định hướng XHCN, đáp ứng được ước mơ, nguyện vọng chính đáng của mọi người dân Đây là cơ sở để hạn chế đẩy lùi những yếu kém đang tồn tại trong môi trường xã hội nói chung và môi trường văn hóa ở làng quê nói riêng Có thể nhất trí với quan niệm của nhà

nghiên cứu Hoàng Anh Nhân khi ông cho rằng: "Làng văn hóa được hiểu

như là một mô hình mang tính chủ quan, gắn bó với tính chủ quan của con người mà nội dung của nó bao hàm sự toàn vẹn về mọi mặt trên cơ sở những đặc điểm tích cực nhất Về mặt lý thuyết, nếu như văn hóa làng còn

có thể tồn tại những mặt hạn chế thì làng văn hóa phải được hiểu hoàn

toàn ngược lại" [41; tr 44]

Xây dựng nông thôn mới có kinh tế phát triển, đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh, có cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nông dân, có hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, tăng cường đoàn kết và ổn định trong nông thôn, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng an ninh cần phải đặc biệt chú trọng đến nội dung xây dựng làng văn hóa Bộ Văn hóa – Thể thao và

Du lịch mà trực tiếp là Cục văn hóa cơ sở đã đưa ra 4 tiêu chuẩn để công nhận làng văn hóa là:

"Một làng (thôn, bản, ấp) được công nhận là làng văn hóa cần phải

phấn đấu thực hiện các tiêu chuẩn sau:

a) Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển

b) Có đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú

c) Có môi trường cảnh quan sạch đẹp

d) Thực hiện tốt pháp luật và các chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước" [18; tr 66]

Trang 25

1.1.3.2 Văn hóa làng

Văn hóa làng, hàm chứa nhiều nội dung rất phong phú và đa dạng, tạo nên bức tranh đa sắc của văn hóa dân tộc Có thể coi văn hóa dân tộc Việt Nam là một đại lượng lớn được tạo nên bởi văn hóa làng - những đại lượng

nhỏ "Văn hóa làng xã Việt Nam có vị trí quan trọng trong diễn trình lịch

sử phát triển của văn hóa dân tộc Nó luôn luôn bảo tồn, giữ gìn bản sắc

văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng sức sống trường tồn của văn hóa dân tộc"

[15; tr 7]

Văn hóa làng Việt Nam qua hàng ngàn năm phát triển với các bản sắc có giá trị thực sự là một nền văn hóa của nhân dân và trở thành bộ phận

ổn định nhất của văn hóa dân tộc

Vậy, văn hóa làng là gì? Theo nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân

trong công trình Văn hóa làng và làng văn hóa thì "Văn hóa làng có thể

hiểu một cách khái quát nhất là bản sắc riêng của làng, là toàn bộ cuộc sống của làng với những đặc điểm mang tính truyền thống từ ăn, ở, đi lại, mọi hoạt động, cách tổ chức, những quy ước, lối ứng xử, những phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng cho đến cả tâm lý của mọi thành viên trong

làng với những đặc trưng riêng của nó" [41; tr 16]

Xét tổng thể ở nước ta không có sự đối lập văn hóa giữa làng với làng, giữa làng với nước Mặc dù, giữa làng này với làng khác có nhiều nét khác nhau trong tập quán, cả giọng nói song đó chỉ là sắc thái Giao lưu văn hóa đã làm cho văn hóa làng có nét chung, đồng dạng về tư tưởng, về tín ngưỡng, về kiến trúc, điêu khắc, giáo dục và thẩm mỹ Từng khu vực cư trú có những yếu tố, những sắc thái văn hóa khác nhau, vùng Nam Bộ khác vùng Bắc Bộ, nhưng cấu trúc tổng thể văn hóa làng tương đối giống nhau Chúng ta có thể tán thành quan điểm của nhà nghiên cứu Thu Linh, khi cho

rằng: "Văn hóa làng là một nền văn hóa thuộc về cộng đồng và mang tính

Trang 26

chất cộng đồng Chủ thể làng, tập thể làng chính là tác giả, là người tạo dựng, sáng lập nên nền văn hóa ấy Ở Việt Nam, một làng với tư cách là một làng, được xác định không chỉ qua địa bàn cư trú, hoạt động nghề nghiệp, lịch sử hình thành, kết cấu kinh tế, quan hệ xã hội, mà còn qua cả

sinh hoạt văn hóa có bản sắc riêng của nó nữa" [26; tr 46-48]

Do vậy, văn hóa làng là một trong những tiêu chí hàng đầu để xác định và phân biệt diện mạo của làng này với làng khác Người sáng tạo ra những giá trị của văn hóa làng chính là những thành viên của làng Họ chính là những người vừa tham gia sáng tạo, vừa tổ chức thực hiện và cũng đồng thời là người chiêm ngưỡng, hưởng thụ những giá trị văn hóa do chính bản thân mình gây dựng nên Chính vì vậy, tính nhân dân của văn hóa làng càng được tô đậm ở tính chất cộng đồng, tính tập thể của nó Làng

là chủ thể tập thể của văn hóa và thông qua văn hóa làng chúng ta có thể khám phá ra diện mạo văn hóa chung của cả làng Đây cũng chính là điều khá lý thú để phân biệt làng này với làng khác nhằm khẳng định "cái ta" của làng mình Sự khẳng định và phân biệt này chưa phải đã đạt tới một trình độ khác về chất Song, thông qua những biểu biện dù nhỏ vẫn có thể thấy rõ người nông dân đã có ý thức trong sự khẳng định và phân biệt này

Khi đưa ra quan niệm về văn hóa làng không thể không khẳng định tính truyền thống của nó Nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân đã nhấn mạnh:

"Trong nội dung văn hóa làng, chúng tôi rất lưu tâm đến tính chất truyền

thống Nói truyền thống ở đây, không nên hiểu đơn giản là những cái thuộc

về quá khứ, xa xưa và do đó đi đến chỗ cho rằng, nó trở nên lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với hiện tại mà chính là những cái đã được thử thách qua thời gian, là chuẩn mực toàn thể cộng đồng đã lựa chọn, bảo lưu, giữ gìn và phát triển nó Mọi sự vận động bao giờ cũng tuân theo quy luật Mà khi nói đến quy luật, tức là phải có sự lặp đi lặp lại Không như

Trang 27

xưa kia con người cần phải có nhân nghĩa, phải "uống nước nhớ nguồn"

còn bây giờ chúng ta không cần những thứ đó " [41; tr 33] Điều đó

khẳng định rằng, tính truyền thống tức là những giá trị có tính ổn định, những cái thuộc quy luật, xưa cũng như nay, cần được bảo vệ và trách

nhiệm là phải phát huy nó, "làm cho nó ngày một đa dạng và phong phú tốt

đẹp hơn" [15; tr 8]

Tổng thể những giá trị của văn hóa làng được biểu hiện qua hàng loạt các nhân tố vừa biểu hiện vừa trầm tích, vừa dễ bắt gặp vừa ẩn chứa trong mình chúng sự khúc xạ phong phú và đa dạng Chính vì thế, chúng ta có thể

có nhiều cách tiếp cận để phác họa được cấu trúc của văn hóa làng Trong luận văn này, tác giả tiếp cận văn hóa làng thông qua sự biểu hiện của các thành tố

Thành tố đầu tiên - nổi bật nhất cần đề cập đến trong văn hóa làng chính là thái độ nghiêm túc, cầu tiến trong việc tạo ra môi trường học tập thuận lợi cho con cháu trong làng Sự ra đời những lớp học, trường học do làng đứng ra thành lập và do một người có học vấn hoặc là thành viên của làng hoặc được mời từ nơi khác đến để dạy bảo cho con cháu trong rất nhiều làng để cho chúng biết làm người, biết ăn ở có nghĩa, có tình, có nhân, có đức đã in đậm tính nhân bản trong văn hóa làng Trình độ học vấn của làng này so với làng khác được thể hiện qua số người đi học và đỗ đạt, trở thành ông nghè, ông cống và những lễ đón họ vinh quy như những ngày hội tưng bừng náo nhiệt của cả làng Đây là một nội dung in đậm bản sắc văn hóa của làng Việt

Người dân làm nông nghiệp với trình độ kỹ thuật thô sơ như thời trước thì cần có nhiều nhân lực Gia tộc gồm nhiều người ở các thế hệ khác nhau trong một hoặc nhiều nhà, do đó có vai trò quan trọng hơn là gia đình hạt nhân Các cụ trước đây, và cả đến ngày nay, rất tự hào vì con đàn cháu

Trang 28

đống, nhất là có đến bốn thế hệ sống chung dưới một mái nhà (tứ đại đồng đường) Điều này phản ánh hai sở nguyện lớn; ngoài việc có nhiều nhân lực

để làm ruộng, còn có sở nguyện làm cho con cháu kế tục nền nếp gia phong, khẳng định và làm rạng danh tông tộc đến muôn đời Dân gian có câu:

"Con nhà tông

Không giống lông cũng giống cánh"

"Con hơn cha là nhà có phúc"

Đó là người ông, người bố muốn con cháu mình không chỉ là bản sao chân thực của chính mình mà còn muốn nó không ngừng tiến bộ để làm rạng danh cho tông tộc và để đời đời nối dõi tông đường Quan hệ gia tộc là quan hệ hàng dọc, tạo ra tính tôn ti nghiêm ngặt, khép kín Dù về sau, khi đại gia đình vỡ ra thành những gia đình hạt nhân thì ý thức gia tộc vẫn có một tác động quan trọng trong nếp ứng xử của con người vốn sống với đồng ruộng Nhà thờ họ, giỗ họ là những nơi, những lúc các thành viên trong gia tộc có dịp suy ngẫm sâu sắc về bản thân mình, tưởng nhớ đến công ơn, lời dạy của các bậc tiên tổ để giữ gìn, kế tục và phát triển gia phong

Trong tâm thức, người Việt luôn hướng về tổ tiên, những người có công trạng đối với gia đình mình, làng mình, đất mình Đình làng là nơi

"linh thiêng" nhất đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng người ở làng

Hướng đình, vị trí, qui mô to nhỏ, kiểu cách kiến trúc của nó được xác định

và xây dựng trên cơ sở của điều kiện phong thổ, điều kiện vật chất do các thành viên trong làng đóng góp và tài năng vận động, quyên góp tổ chức của lão ông, lão bà, của những nhóm, những cá nhân có điều kiện Đình

miếu tồn tại với cội rễ vững chắc: "Qua đình ngả nón trông đình Đình bao

nhiêu ngói ta thương mình bấy nhiêu" hay "Trúc xinh, trúc mọc đầu đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh"

Trang 29

Người Việt hướng về tổ tiên, biết ơn tổ tiên Vì "tin vào người

khuất mặt, dẫu là tạm thời, là điều tự nhiên Đón rước năm mới, đêm giao thừa người chủ nhà trong giây phút lạc quan, tin vào sự phò trợ của người khai sáng dòng họ và trời đất Ngày đầu năm, cổng đình miếu như là phận

sự mà không pháp luật nào bắt buộc, để thấy mình gắn liền với cộng đồng dân tộc, chè chén say sưa dịp tết chỉ làm thỏa mãn thể xác Muốn vươn đến tương lai, con người phải đứng vững trên cơ sở quá khứ Nhân hư đạo bất

hư " [33; tr 22-23] Triết lý này hướng con người tới thực hiện cái thiện

Và thông qua đó con người suy ngẫm về quá khứ nhằm mục đích "lo làm

ăn, buôn bán" ở hiện tại

Trong tổng thể văn hóa làng, đời sống văn hóa tinh thần luôn được duy trì và có khả năng thâm nhập vào mọi ngõ ngách sâu thẳm của mỗi con

người Đó là những buổi, những đêm hát đối của những thành viên của phường nón, phường vải, là những cảnh nông dân vừa làm cỏ lúa, vừa hát

cò lả, hát ví, hát trống quân, vừa chèo thuyền trên sông vừa hò hội, vừa

kéo gỗ, vừa dô ta Sinh hoạt văn hóa làng có tác dụng một mặt làm đẹp, làm vui, làm trẻ cho cả cộng đồng làng Song mặt khác, tính chất cộng đồng của văn hóa làng thể hiện là một nền văn hóa chưa được tách phân, chưa được chuyên môn hóa Nó hòa quyện, đan xen vào các lĩnh vực khác trước hết là hoạt động sản xuất vật chất, chứ không phải là sản xuất tinh thần với đầy đủ ý nghĩa của khái niệm này Những người tham gia biểu diễn, diễn xuất chính là những người dân trong làng lấy sản xuất nông nghiệp làm công việc chủ đạo Sinh hoạt văn hóa cũng chỉ là một dạng

"hoạt động kép" mang tính chất bổ sung chứ chưa phải là một công việc

chuyên nghiệp Những người tham gia các phường, các hội có liên quan đến sinh hoạt văn hóa cũng vẫn là những người dân trong làng Hát xoan, hát chèo, hát tuồng, tế lễ, rước sách, chạy cờ, đánh trống, khiêng kiệu cũng

Trang 30

Sinh hoạt mang tính trang trọng nhất, sinh động nhất ở làng chính là

hội làng Với ngày hội làng, cái đẹp của lời ăn tiếng nói, cái đẹp của khuôn

mặt, của quần áo mới có dịp được bộc lộ, những khác biệt vừa tinh tế, vừa sắc sảo của cá nhân mới có dịp được phô diễn trước cộng đồng Và, cũng chỉ qua hội làng, tất cả những gì còn ở dạng tiềm ẩn, hoặc vừa phôi thai mới có dịp được biểu hiện và thi thố Đó chính là giọng hát bổng trầm trong những làn điệu dân ca, là tài đối đáp; là tố chất nhanh nhẹn, mưu trí, dẻo dai trong những cuộc thi cờ, đấu vật Nếu ngày thường chúng được bộc lộ một cách thầm lặng thì trong ngày hội làng được biểu hiện với tất cả dáng vẻ riêng và bản sắc riêng

Những đêm hội trống chèo róng rả, nhặt khoan cũng là tiếng gọi cư dân các làng lân cận đến chia vui, thưởng thức lan tỏa ra khắp các làng quê Sân đình là nơi diễn ra lễ hội, ngoài phần tế lễ, chẳng bao giờ có ranh giới phân chia đâu là chỗ của người làng mình, của dân làng lân cận Tất cả đều hòa đồng trong niềm vui lễ hội, trong niềm vui văn hóa hào hùng và rực sáng Vì thế, những hội mà ý nghĩa của nó vượt ra khỏi ranh giới của làng thì có khả năng dần dần trở thành hội lễ của toàn quốc và được gọi là quốc

lễ Từ những hội ban đầu xuất hiện ở một làng thuộc một địa phương và từ các vị thần linh được thờ riêng ở một làng đã trở thành những sự kiện văn hóa có tính chất toàn quốc - Hội đền Hùng, Hội đền Gióng, hội đền Hai Bà, hội đền Kiếp Bạc, hội đền Hoa Lư là những bằng chứng như thế

Các truyện cổ dân gian được các làng bảo lưu, truyền tụng và bổ sung đều có quan hệ đến cương thường, phong hóa và thái độ hoặc ngợi ca, trân trọng, hoặc trách cứ, chê bai đối với tất cả những gì là đạo đức và vô đạo đức, góp phần làm cho phong tục thuần hậu, làm cho nhân dân được coi trọng Ứng xử theo tinh thần đạo đức ấy phải có trước, có sau, có trên, có dưới theo quan niệm huyết thống, quan hệ tuổi tác, quan hệ chức tước chẳng

Trang 31

những được ghi trong hương ước của từng làng, mà còn được cụ thể hóa, chi tiết hóa bằng những lễ thức và những hành động cụ thể

Mặt khác, văn hóa làng cũng phản ánh trình độ phát triển nhất định

về phương diện thẩm mỹ Cái đẹp ở đây thể hiện sự hài hòa của những quan hệ người với người, người với thiên nhiên, người với môi trường Các công trình công cộng như: đình chùa, miếu mạo, , các tượng Phật, tượng Thần, những chú voi, chú nghê, chú ngựa, những hình khối, những nét chạm khắc , vừa được thể hiện với nghệ thuật tinh vi, tượng trưng và cách điệu, lại vừa phản ảnh những nếp nghĩ, nếp cảm của một tâm hồn bình dị, hồn nhiên gắn kết với nhau và gắn kết với cuộc sống đời thường Tính chất bình dị, tự nhiên còn được thể hiện cả trong việc chế tác các nhạc cụ mà người nông dân thường tự tay làm lấy để sinh hoạt hát múa Bộ kèn hơi, bộ

gõ, mõ, thanh ba, bộ đàn dây, đàn tranh, đàn cò, đàn nguyệt cũng đều được làm ra từ gỗ, tre, nứa, từ kim loại sẵn có trong tự nhiên Những sắc màu được sử dụng trong các làng làm tranh dân gian cũng là những gam màu đẹp tự nhiên; là chất liệu lấy từ đất đá, cỏ cây, hoa lá Màu xanh lấy từ gỉ đồng, màu vàng của hoa hòe, màu đỏ của sỏi son, màu đen từ tro của lá tre đốt và màu trắng của sò, điệp… được đưa vào tranh để khắc họa nên đàn

gà, đàn lợn âm dương, những đám cưới chuột, hứng dừa Ý niệm và tính tưởng tượng, biểu cảm và tư duy về đất trời, về hạnh phúc, về sự sinh sôi

và phát triển, về nỗi đau và niềm vui sướng của con người thấp thoáng sau những âm thanh và màu sắc đầy dáng vẻ tự nhiên và dung dị

Nghiên cứu văn hóa làng - văn hóa ngôn từ, văn chương truyền miệng, phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo , nghiên cứu cơ cấu xã hội, môi trường xã hội Việt Nam trong văn hóa Việt Nam, nhiều học giả cho rằng chính "chủ nghĩa gia tộc" là cái giải thích tinh thần trọng đạo đức của người Việt Nam, là hệ quy chiếu của mọi giá trị, chuẩn mực Giá

Trang 32

trị tiềm tàng của hệ quy chiếu này giúp để chúng ta phát huy và phát triển những giá trị đạo đức mới trong thời đại ngày nay

Trong bức tranh toàn cảnh của văn hóa làng, hương ước là một thành tố không thể thiếu được Mỗi làng - xã Việt Nam có một bản sắc riêng làm nên tính đa dạng phong phú, nên hương ước cho chúng ta một bức tranh nhiều màu vẻ về sinh hoạt tại các làng xã Việt Nam cổ Mỗi hương ước đều ẩn chứa tính đa dạng, tính linh hoạt, tính đặc trưng trong tâm tính người Việt ở mỗi vùng đất khác nhau GS Đinh Gia Khánh cho

rằng, hương ước "là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến tổ chức xã hội

cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều lệ hình thành dần trong

lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết" [20; tr 62]

Hương ước gồm các điều hay qui ước về nhiều mặt của đời sống làng xã như: cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội, sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường, thờ cúng, khuyến học, bảo đảm nghĩa vụ với Nhà nước, bảo vệ an ninh Những qui ước đó được tuân thủ qua nhiều thế hệ, trở

thành những "thông lệ pháp lý" và là "cương lĩnh” về nếp sống của từng

cộng đồng cư dân Việt ở nông thôn, một công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, một tri thức dân gian về quản lý cộng đồng

Có thể nhận thấy trong bối cảnh hiện nay, sức sống tiềm tàng của văn hóa làng đang từng ngày được hồi sinh và phát triển phù hợp với nguyện vọng chính đáng của mỗi người dân nói riêng và cả cộng đồng dân tộc nói chung

Sức sống bền bỉ của văn hóa làng là dòng chảy không bao giờ cạn

trong tâm thức của mỗi con người, và vì thế có thể cho rằng: "Văn hóa làng

là một bộ phận tích hợp các năng lực, tính cách, tâm tư, nguyện vọng, hoài bão, thị hiếu của mọi người dân trong thiết chế làng và có sức sống mãnh liệt trong tâm thức của con người từ quá khứ đến hiện tại và tương lai của

Trang 33

dân tộc Việt Nam" Nó là nguồn nội sinh quan trọng trong việc xây dựng và

phát triển văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng XHCN ở nước ta

1.2 Làng văn hóa và văn hóa làng ở Bắc Ninh

Làng ở Bắc Ninh là đơn vị cư trú của người nông dân ở nông thôn

Đó là cộng đồng xã hội, được liên kết bằng mối liên hệ gia tộc (huyết thống) và quan hệ xóm giềng Câu nói thường ngày của người dân quê

“Trong họ ngoài làng, hàng xóm láng giềng” đã phản ánh hai mối quan hệ

truyền thống bền chặt và cơ bản đó

Trong quá trình tồn tại và phát triển, cư dân ngày một đông, làng càng lớn rộng ra, bao gồm nhiều xóm, ngõ Sang thời phong kiến nhiều làng trở thành đơn vị hành chính của Nhà nước ở cơ sở là xã Thường thì

“nhất xã nhị thôn” hoặc “tam thôn, tứ thôn’… nhưng vẫn có nguồn gốc chung, được phản ánh trong câu nói hàng ngày của người dân “Làng trên

xóm dưới” hay “Làng trên xã dưới, phi nội, tắc ngoại” Vì vậy, quan niệm

làng xã gắn liền với nhau và nhiều khi đồng nhất làng với xã

Nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, đất đai màu mỡ, cảnh quan sinh thái phong phú; có đồi gò, sông hồ, đồng bằng, giao thông thuận lợi ngược xuôi Nam – Bắc – Đông – Tây, khiến Bắc Ninh là vùng đất được con người tới khai phá, làm ăn, dựng lập làng xóm từ rất sớm, trở thành địa bàn có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc

Vùng đất Bắc Ninh với các xóm làng trù phú, chính nơi đây sinh thành dân tộc và quốc gia đầu tiên, nơi sinh thành văn hóa của người Việt ở vàng châu thổ Bắc Bộ Trong suốt trường kì lịch sử dựng nước và giữ nước, các làng xã Bắc Ninh đã tồn tại và phát triển liên tục hàng nghìn năm cho tới tận ngày nay Bắc Ninh là vùng đất của những làng quê có lịch sử lâu đời và cổ xưa nhất của Việt Nam

Trang 34

Làng ở Bắc Ninh xưa là những làng tiểu nông, đa canh, đa nghề, xứ

sở điển hình cửa nền văn minh lúa nước Canh tác nông nghiệp là nguồn sống chính của cư dân các làng xã Làm ruộng, cấy lúa nước, trồng rau màu, trồng dâu chăn tằm dệt vải, chăn nuôi gia cầm, gia súc trong phạm vi gia đình, đánh bắt tôm, cá… Ngay từ những thế kỉ trước Công Nguyên, cả một vùng phía Nam sông Đuống (nay là huyện Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài) là làng quê của những người nông dân thạo trồng lúa, khiến các nhà nghiên cứu đoán nhận là vùng của bộ lạc Dâu, với tín ngưỡng thờ bà

Dâu, thờ “Tứ Pháp” (Mây , Mưa, Sấm, Chớp) mà dấu tích còn lại là địa

danh vùng Dâu, sông Dâu, chợ Dâu, chùa Dâu, tổng Dâu và lễ hội Dâu vào ngày mồng 8 tháng tư Âm lịch hàng năm – lễ hội nông nghiệp điển hình ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Đây cũng là quê hương của Nguyên Phi Ỷ Lan – người phụ nữ nổi tiếng tài đảm trồng Dâu, chăn tằm, dệt lụa, trở thành vị Nguyên Phi triều Lý

Quả vậy, từ xưa xứ Bắc, tỉnh Bắc đã nổi tiếng là vùng đất của những làng quê trù phú, vựa lúa của vùng châu thổ Bắc Bộ, được mọi người trong nước tôn vinh, ca ngợi, đi vào câu ca dân gian:

“Ai lên xứ Bắc mà trông, Đất lành, gạo trắng, nước trong thay là.”

Hay:

“Tỉnh Bắc giá thóc mười hai, Tỉnh Đông mười tám, tỉnh Đoài hai mươi”

Làng quê nông nghiệp Bắc Ninh xưa hầu hết cũng là những làng nghề có

từ lâu đời phong phú và đa dạng Có thể nói, Bắc Ninh là quê hương của những làng thủ công truyền thống, mảnh đất của hàng trăm nghề nổi tiếng

Sang thiên niên kỉ thứ nhất sau Công Nguyên, Bắc Ninh giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và tôn giáo của nước ta trong nhiều thế kỉ

Trang 35

Các hoạt động nông nghiệp, thủ công nghiệp và giao thương ở vùng này có điều kiện phát triển Làng nông nghiệp kiêm làng nghề hoạt động nhộn nhịp

Sang thời phong kiến độc lập tự chủ, Bắc Ninh là quê hương của nhà

Lý, đất phên dậu của kinh thành thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, địa bàn quan trọng của các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn thi triển nhiều chính sách bảo vệ đất nước, xây dựng và phát triển văn hóa với nhiều thành tựu to lớn

Trên cơ sở nền kinh tế tiểu nông, đa canh, đa nghề, xứ sở điển hình của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, tồn tại và phát triển liên tục ở một vùng đất giữ vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc, văn hóa làng ở Bắc Ninh phản ánh những nét văn hóa tiêu biểu của dân tộc và nền văn hiến Kinh Bắc

Tiểu kết chương 1

Chương viết đã đi sâu tìm hiểu các vấn đề lý luận chung, các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài Cụ thể là thông qua một số khái niệm

như văn hóa, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, không gian văn hóa,

làng và làng văn hóa, chương viết nhằm chỉ ra những tri thức cơ bản,

chung nhất để nghiên cứu về không gian văn hóa làng

Đồng thời, các khái niệm nói trên sẽ là những công cụ cần thiết để có thể

sử dụng trong quá trình tiếp cận và nghiên cứu không gian văn hóa làng ở Bắc Ninh – Kinh Bắc nói chung và không gian văn hóa làng Tam Á nói riêng

Nghiên cứu trường hợp không gian văn hóa làng Tam Á sẽ được đặt trong không gian văn hóa vùng Bắc Ninh - Kinh Bắc, vùng đất của những làng quê có lịch sử lâu đời và cổ xưa nhất của Việt Nam, nơi sinh thành văn hóa của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ Từ đó nhằm hướng tới cái nhìn toàn cảnh về đặc trưng không gian văn hóa làng châu thổ Bắc Bộ trong thời đại CNH, HĐH hiện nay

Trang 36

Chương 2 LÀNG TAM Á VÀ NHỮNG YẾU TỐ CẤU THÀNH KHÔNG GIAN

VĂN HÓA LÀNG TAM Á 2.1 Điều kiện tự nhiên của làng Tam Á

2.1.1 Vị trí địa lý

Ngày nay, Tam Á là tên một làng thuộc xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Làng nằm ở khu vực trung tâm của huyện Thuận Thành, liền kề và có mối quan hệ về văn hóa rất chặt chẽ với trung tâm văn hóa Luy Lâu xưa Phía Bắc giáp tỉnh lộ 182 và xã Đại Đồng Thành, phía Đông giáp thôn Ngọc Khám, phía Nam giáp xã Nguyệt Đức Làng Tam Á

là một trong những làng có bình độ cao trong huyện, có địa thế thoáng rộng, có đường quốc lộ 182 đi qua, rất thuận tiện cho việc phát triển giao thông, buôn bán của nhân dân trong vùng

Giáp với phía Tây của thôn Tam Á là xã Thanh Khương Ở đó vẫn còn dấu tích thành Luy Lâu là trị sở của chính quyền đô hộ phương Bắc suốt nhiều thế kỉ đầu Công nguyên Trấn thành Luy Lâu tuy ở xã Thanh Khương nhưng rất nhiều mộ của quý tộc Hán lại được chôn trên cánh đồng quanh làng Tam Á Ngày nay vẫn còn những gò mộ Hán Sĩ Nhiếp đóng trụ

sở và ở trong thành Luy Lâu nhưng khi chết đã chôn cất và xây dựng lăng

mộ ở làng Tam Á Ta thấy rõ ràng biên giới văn hóa khác với biên giới hành chính ngày nay Điển hình như hệ thống chùa Tứ pháp tập trung ở xã Thanh Khương có lan sang xã Trí Quả (chùa Dàn) và gắn bó với chùa Tổ ở

xã Hà Mãn Như vậy, những sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa ở Luy Lâu xưa – Thanh Khương ngày nay đều có sự lan tỏa xung quanh, mà Tam Á lại là mảnh đất nằm liền kề nên có những ảnh hưởng đáng kể từ trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị Dâu - Luy Lâu

Hơn nữa, Tam Á nằm kề sát vùng Dâu, ở đó, trong làng Lũng Khê cũng thờ Sĩ Nhiếp (người dân quen gọi là đền Lũng) Mặc dù Tam Á không

Trang 37

có ngôi chùa Tứ Pháp nào, nhưng người dân nơi đây đều biết đến Phật Mẫu Man Nương sinh ra các bà Pháp Vân – Vũ – Lôi – Điện Điều đó cho thấy rằng

ở Tam Á có mối quan hệ về văn hóa rất chặt chẽ với vùng Dâu – Luy Lâu 2.1.2 Giao thông

Tam Á nằm ở khu vực có đường giao thông thuận lợi, những con đường cổ được nâng cấp thành quốc lộ dùng trong suốt quá trình lịch sử cho đến tận ngày nay Đầu tiên là đường 182 từ quốc lộ 5 tách ra ở ga Phú Thị, chạy qua chợ Sủi, chợ Keo, chợ Dâu và qua làng Tam Á và chạy hết

xã Gia Đông thì đến Đông Côi cắt ngang quốc lộ 38 sang Gia Bình và Lương Tài rồi vượt Lục Đầu nối vào quốc lộ 18 ra thành phố Hòn Gai rồi

về thành phố cảng Hải Phòng hoặc lên Móng Cái, tiếp tục men theo biên giới Việt – Trung đi Lạng Sơn, Cao Bằng Còn quốc lộ 38 từ quốc lộ 1 tách

ra ở thị xã Bắc Ninh chạy qua chợ (nay thuộc phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh) đến Tân Chi (huyện Tiên Du) vượt qua cầu Hồ sang huyện Thuận Thành, đến Đông Côi cắt ngang đường 182 ra ga Cẩm Giàng rồi vào quốc lộ 5 Ngoài ra, còn đường 181 chạy từ bờ đê sông Đuống ở Bút Tháp, qua phía Tây thành Luy Lâu xuống chợ Dâu rồi ngoặt về phía Đông Nam chạy qua Tam Á sang Gia Bình và Lương Tài, tới Trung Kênh lên đê sông Thái Bình Một số nhà nghiên cứu khảo cổ học cho rằng đường 182 là đường bộ chạy dọc con sông Dâu cổ và như thế đất Tam Á nằm trên đường thủy sông Dâu Thượng nguồn của nó nằm ở vùng núi Phật Tích thuộc huyện Tiên Du, lại gắn với con sông Tiêu Tương xuất phát từ đầm Phù Lưu

huyện Từ Sơn [3; tr 219 – 220] Như vậy với các đường giao thông trên,

Tam Á đã hòa mạng giao lưu kinh tế - văn hóa nối xứ Bắc với xứ Đông, về thủ đô, ra biển và lên biên giới

2.1.3 Địa hình

Tam Á là miền đất phù sa nằm trên tầng sét trầm tích biển trẻ, hình thành khoảng 2000 năm cách ngày nay Tầng sét này có bề mặt bằng

Trang 38

phẳng Trên tầng sét biển là tầng phù sa mới, tạo thành sự bồi đắp của sông Hồng, sông Đuống mang theo và trầm lắng lại, tạo điều kiện làm tăng độ phì của đất Đó là loại phù sa màu nâu tươi, giầu chất phì, kiềm yếu, thuận lợi cho việc cấy trồng các loại cây lương thực như lúa, ngô, khoai, đậu, lạc, vừng và các loại rau củ quả…

Địa hình của làng Tam Á tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao trung bình khoảng 4 -5m so với mực nước biển Các cánh đồng có độ nghiêng theo dạng lượn sóng Có khu vực nổi lên những cánh đồng cao trội vượt lên hàng mét Xen lẫn những khu cao trội là những dòng chảy nối những dải đồng cao với nhau Đó là hệ thống các sông nội đồng như sông Dâu, sông Đông Côi… Ở Tam Á trước kia có một con mương khá sâu Mùa mưa nước chảy từ cánh đồng Chằm qua cổng thành Ngọc (trên đường 182 hiện nay), chảy qua cửa đền thờ Sĩ Nhiếp rồi chảy về sông Cầu Gáy tạo thành mạng lưới sông ngòi dày đặc Tất cả các dòng chảy đều hướng về phía Đông qua vùng trũng Gia Lương (hai huyện Gia Bình và Lương Tài ngày nay) dồn nước về sông Lục Đầu, Thái Bình rồi đổ ra biển khiến cho cảnh quan của Tam Á cao thoáng, quang đãng hơn các vùng xung quanh

Có thể nói, Tam Á nằm ở giữa tam giác châu thổ Bắc Bộ Nơi đây là gạch nối giữa miền đồng bằng cao phía Tây Bắc và miền đồng bằng trũng phía Đông Nam, thuộc dải đồng bằng nằm giữa hai hệ thống sông Hồng ở phía Tây và sông Thái Bình ở phía Đông Theo trục chính Bắc Nam, nơi đây thuộc dải đồng bằng phù sa nằm đệm giữa châu thổ Cổ Loa – Tiên Sơn vùng Bắc sông Đuống với miền châu thổ thấp trũng Hưng Yên – Thái Bình Và nếu như xứ Bắc ngày xưa cũng như toàn bộ trung du và đồng

bằng Bắc Bộ căn bản là một miền rừng rậm, đầm lầy “sông ngòi nhiều đầm

hồ lắm ” [65; tr.39-45] thì Tam Á vẫn là vùng đất cao thoáng, phong quang

hơn cả Như vậy, về căn bản, Tam Á xưa là vùng đất cao, màu mỡ, giàu

Trang 39

nguồn nước, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và các hoạt động kinh tế, buôn bán

Tóm lại, đặc điểm nổi bật của địa hình làng Tam Á là đồng bằng chiếm

diện tích lớn trong tổng số diện tích đất tự nhiên của làng nên có nhiều điều kiện thuận lợi để sản xuất lương thực, thực phẩm và phát triển kinh tế

Như vậy, ta có thể thấy các yếu tố về vị trí địa lý, địa hình, giao thông, khí hậu… có ảnh hưởng nhất định đối với đời sống văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng ở làng Tam Á, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân gian vùng Kinh Bắc nói chung và vùng Dâu – Luy Lâu nói riêng với đặc điểm của vùng đất trồng lúa nước

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.1 Điều kiện kinh tế

2.2.1.1 Diện tích

Ngày xưa, ở Tam Á có nhiều ruộng bình quân theo nhân khẩu 2,5 sào/ 1 người Nhưng khi giảm tô (1955 – 1956) số ruộng này đã được san chia bớt cho một số thôn, xã lân cận như: Thanh Khương, Ngọc Khám, Hoài Thượng…

Trang 40

Dưới thời phong kiến, làng Tam Á có rất nhiều loại ruộng đất: Ruộng hậu đình, hậu chùa, ruộng phe giáp, ruộng họ, ruộng nghĩa thượng, đất bãi, đất tha ma… còn ruộng tư chiếm tỉ lệ hạn chế Dưới thời này, làng chỉ chia công điền công thổ cho các xuất đinh, còn đàn bà con gái không được chia Vì vậy, gia đình nào ít hoặc không có con trai, đàn ông thì có rất

ít ruộng hoặc không có ruộng để canh tác Đây là hạn chế lớn trong chính sách ruộng đất, phụ nữ bị phân biệt đối xử

Bên cạnh đó, chính sách thuế khóa nặng nề và ách phu phen tạp dịch, các nghĩa vụ đóng góp với phe giáp, với họ và tệ cho vay nặng lãi… đã đẩy người nông dân đến chỗ khốn cùng

Sử cũ chép rằng, thời Gia Long (1802 – 1819) nhà nước phong kiến

quy định vay một vốn phải trả một lãi [65; tr.39 - 45]

Về tô ruộng, sách Đại Nam thực lục chính biên còn ghi rõ biểu tô

thuế áp dụng cho các làng xã ở Bắc Hà thời Tự Đức (1848 – 1883) như sau:

Hạng Thuế tô ruộng từ 1 mẫu Thuế ruộng công 1 mẫu

Thóc Tiền phụ thu Thóc Tiền phụ thu Hạng nhất 26,6 thăng 1 tiền 40 80 thăng 1 tiền 25 Hạng nhì 20 thăng 1 tiền 40 56 thăng 1 tiền 25 Hạng ba 13,3 thăng 1 tiền 40 33,3 thằng 1 tiền 25

Bảng 2.1 Tô thuế áp dụng cho làng xã ở Bắc Hà thời Tự Đức [23; tr 16]

Ngày đăng: 16/03/2015, 17:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2006), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2006
2. Toan Ánh (1992), Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam, NXB Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXB Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1992
4. Bảo tàng Bắc Ninh (2010), Di tích lịch sử - văn hóa Bắc Ninh, NXB xưởng in báo Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hóa Bắc Ninh
Tác giả: Bảo tàng Bắc Ninh
Nhà XB: NXB xưởng in báo Bắc Ninh
Năm: 2010
5. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, NXB Văn hóa – Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin Hà Nội
Năm: 1996
7. Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao (1992), Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao
Năm: 1992
9. Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, Chu Hữu Quý... (1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, Chu Hữu Quý
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
10. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội, NXB chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 2001
11. Phan Đại Doãn, Yu Insun, Nguyễn Đăng Dung… (2006), Làng Việt Nam đa nguyên và chặt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt Nam đa nguyên và chặt
Tác giả: Phan Đại Doãn, Yu Insun, Nguyễn Đăng Dung…
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
12. Nguyễn Đức Dụ (1992), Gia phả khảo luận và thực hành, NXB Thời Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả khảo luận và thực hành
Tác giả: Nguyễn Đức Dụ
Nhà XB: NXB Thời Đại
Năm: 1992
13. Phạm Đức Dương( 2002), Từ văn hóa đến văn hóa học, NXB VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn hóa đến văn hóa học
Nhà XB: NXB VHTT
15. Lê Quý Đức, (2001), "Bản sắc văn hóa làng trong xây dựng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ", Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa làng trong xây dựng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Lê Quý Đức
Năm: 2001
16. Mai Văn Hai (2000), Phan Đại Doãn, Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng
Tác giả: Mai Văn Hai
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
17. Vân Hạnh (2009), Văn hóa dòng họ, NXB Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dòng họ
Tác giả: Vân Hạnh
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2009
18. Hỏi và đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa, tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống (1998), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa, tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống
Tác giả: Hỏi và đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa, tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
19. Hội xứ Bắc (1988): Kỷ yếu, NXB Sở Văn hoá Thông tin Hà Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu
Tác giả: Hội xứ Bắc
Nhà XB: NXB Sở Văn hoá Thông tin Hà Bắc
Năm: 1988
20. Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
21. Léopol Cadière, Văn hóa tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam, NXB TH, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam
Nhà XB: NXB TH
22. Phan Huy Lê (1993), The traditional village in Vietnam, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: The traditional village in Vietnam
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 1993
24. Ngô Sĩ Liên (2011), Đại Việt sử kí toàn thư, NXB Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2011
61. Unessco (2003), Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (bản dịch), Paris (Nguồn:http://www.unessco.org/culture/ich/doc/src/00009-VI-PDF.pdf) Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Bảng thống kê các hộ gia đình làm nghề phụ ở làng Tam Á - Không gian văn hóa làng Tam Á
Bảng 2.2. Bảng thống kê các hộ gia đình làm nghề phụ ở làng Tam Á (Trang 49)
Bảng 2.3. Số lƣợng hội viên các đoàn thể chính trị xã hội của thôn - Không gian văn hóa làng Tam Á
Bảng 2.3. Số lƣợng hội viên các đoàn thể chính trị xã hội của thôn (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w