1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian văn hóa Hồ Tây qua nguồn tư liệu văn học

196 649 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những ý nghĩa như thế, luận văn triển khai nhằm có được một cái nhỡn tương đối đầy đủ và trọn vẹn về vùng văn học Hồ Tây, về không gian văn hóa Hồ Tây trong suốt chiều dài lịch sử dâ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

====***====

NGUYỄN THỊ LÊ

KHÔNG GIAN VĂN HOÁ HỒ TÂY

QUA NGUỒN TƯ LIỆU VĂN HỌC

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 8

4.1 Đối tượng nghiên cứu 8

4.2 Phạm vi nghiờn cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 8

6 Kết quả đóng góp của luận văn 9

7 Bố cục của luận văn 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIấN CỨU VÀ CÁC KHÁI NIỆM 10

1.1 Khái niệm văn hóa, không gian văn hóa và xu hướng tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học 10

1.2 Giới hạn khu vực Hồ Tõy 16

CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN VĂN HÓA VẬT THỂ VÙNG HỒ TÂY QUA VĂN HỌC 19

2 1 Lao động sản xuất các sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống và sinh hoạt 19

2.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới không gian lao động sản xuất vùng Hồ Tây xưa 19

2.1.2 Một số hoạt động lao động sản xuất của người dân vùng Hồ Tây xưa 29

a) Nghề dệt 29

b) Nghề làm giấy 34

c) Nghề đúc đồng 42

2.2 Lao động cải tạo môi trường sống, cảnh quan thiên nhiên, xõy dựng những cụng trỡnh kiến trỳc phục vụ cuộc sống của người dân vùng Hồ Tây xưa 45

Trang 4

CHƯƠNG 3: KHÔNG GIAN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÙNG HỒ TÂY

QUA VĂN HỌC 59

3 1 Phong tục, lễ hội vựng Hồ Tõy 59

3.2 Đời sống tâm linh, tín ngưỡng vùng Hồ Tây 62

3.3 Khụng gian sinh hoạt văn chương vùng Hồ Tây 70

3.3.1 Hỡnh tượng Hồ Tây trong văn học 70

a) Vẻ đẹp, sức hấp dẫn của văn hóa Hồ Tây trong văn học 70

b) Hồ Tây qua cuộc chiến luận văn chương 84

3.3.2 Hồ Tây - nơi gặp gỡ văn chương 90

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Khụng bao giờ, ai mà cú thế núi hết được về Hồ Tây - tôi ngỡ thế”,“nghĩ về Hồ Tây, tưởng như cả cuộc đời cũng chưa thể thấu hiểu được cuộc sống trước sau của người, của cảnh một vũng hồ ấy”{21; tr 171-172}

Hồ Tây là một thắng cảnh của Thăng Long, từ khi Thăng Long được chọn làm kinh đô của nước Đại Việt, vùng Hồ Tây đó tham gia tớch cực vào quỏ trỡnh kiến tạo văn hóa Thăng Long Hồ Tây là một vùng đất cổ, một không gian đặc biệt của thủ đô

Hà Nội Hồ Tây nằm sát khu vực Hoàng thành - trung tâm chính trị và khu vực 36 phố phường - trung tâm buôn bán của kinh thành Thăng Long xưa nên muốn hiểu lịch sử văn hóa Thăng Long - Hà Nội dứt khoát không thể bỏ qua khu vực Hồ Tây Giữa cái

ồn ào, sầm uất của chốn phồn hoa đô hội, Hồ Tây giống như một “khoảng lặng”, một điểm nhấn để tạo nên sự cân bằng, tạo nờn sự hài hũa cõn đối cho tổng thể không gian văn hóa Thăng Long - Hà Nội Quá trỡnh phỏt triển hay quỏ trỡnh văn hóa hóa Hồ Tây gắn liền với các triều đại phong kiến Hồ Tây là nơi du ngoạn, thưởng lóm, xõy dựng hành cung của cỏc bậc vua chỳa, nơi lưu giữ những dấu ấn văn hóa cung đỡnh, nơi đó từng đọng lại và xếp lớp biết bao huyền thoại, in dấu tích của biết bao tao nhân mặc khách, của những danh nhân chốn phồn hoa thứ nhất Long thành Hồ Tây vẫn, đó, đang và sẽ mói cũn là nguồn đề tài vô tận của thi ca, nhạc họa…

Nghiên cứu không gian văn hóa Hồ Tây là một cách tiếp cận không gian văn hóa Thăng Long Cấu trúc và lịch sử hỡnh thành, phỏt triển của khụng gian văn hóa Hồ Tây phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cấu trúc và lịch sử không gian văn hóa Thăng Long - Hà Nội Hồ Tây là nơi hội tụ và lan tỏa những tinh hoa văn hóa của đất Thăng Long ngàn năm văn vật, nơi hun đúc lên “hùng khí Thăng Long” lẫm liệt Mỗi tên đất, tên làng, tên đền, tên miếu thậm chí mỗi gốc cây, gũ bói nơi đây đều gắn với những con người, những truyền thuyết ly kỳ, hấp dẫn, gợi cho chúng ta chút hoài niệm, luyến tiếc, tự hào… Lịch sử không ngừng đi tới có một nguồn mạch thơ ca dài theo năm tháng Xó hội ngày càng phỏt triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiờn tiến, con người ngày càng văn minh hiện đại thỡ càng cú xu hướng trở về nguồn cội, trở về với những giá trị tư tưởng của dân tộc Thủ đô đang từng ngày thay da đổi thịt, Hồ Tây với một vốn liếng văn hóa dân gian phong phú có một vai trũ đặc biệt quan trọng

Trang 6

Không gian văn hóa Hồ Tây vừa mang những nét đặc thù của văn hóa Thăng Long -

Hà Nội, vừa mang những nét riêng biệt

Mặt khác, trong những năm gần đây, khuynh hướng nghiên cứu văn hóa theo vùng đang ngày càng trở nên phổ biến trong các công trỡnh nghiờn cứu về văn hóa

Nú khụng chỉ là những cảm nhận, những ý niệm sơ khai nữa mà đó mang tớnh chất lý thuyết và phương pháp luận khoa học Thăng Long - Hà Nội chính là một trong những vùng được các nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý nhiều nhất Và khi nghiờn cứu về Thăng Long - Hà Nội có một khu vực mà người nghiên cứu không thể không nhắc tới,

đó là Hồ Tây

Văn học thuộc loại văn hóa phi vật thể, nó ghi lại những quan sát, tư tưởng, ấn tượng, cảm xúc của con người trong hoạt động sống, lao động, sinh hoạt Đến lượt mỡnh cỏc hoạt động sống, kể cả hoạt động tác động thế giới tự nhiên và xó hội của con người thực chất mang tính chất văn hóa Vỡ thế, văn học có giá trị tư liệu to lớn để tỡm hiểu văn hóa Nhưng cách tiếp cận văn hóa Việt Nam qua dẫn liệu văn học hiện chưa được chú ý đúng mức Luận văn này có ý nghĩa xỏc lập thờm một hướng tiếp cận văn hóa qua tư liệu văn học

Với những ý nghĩa như thế, luận văn triển khai nhằm có được một cái nhỡn tương đối đầy đủ và trọn vẹn về vùng văn học Hồ Tây, về không gian văn hóa Hồ Tây trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, thấy được vai trũ, vị trớ của nú đối với tổng thể vùng văn hóa Thăng Long - Hà Nội Thủ đô của chúng ta sắp nghỡn năm tuổi, đang phát triển mạnh mẽ không ngừng, chúng ta phải làm thế nào để lưu giữ và bảo tồn được những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của khu vực

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nói đến các tác phẩm nghiên cứu về Hồ Tây, về không gian văn hóa vùng Hồ Tây, trước tiên chúng ta phải nhắc tới các tác phẩm địa chí Năm 1435, Nguyễn Trói

viết Dư địa chí Trong tỏc phẩm này Nguyễn Trói nhắc đến địa danh Hồ Tây với một

số sản vật tiêu biểu của các làng vùng ven

Một số tác phẩm dư địa chí nổi tiếng khác như Bắc thành địa dư chí lược do tổng

trấn Lê Công Chất và các danh nho đó tập hợp biờn soạn vào khoảng đời Minh Mệnh

triều Nguyễn; Hoàng Việt nhất thống dư địa chí được biên soạn vào năm Gia Long thứ

5 (1806); Đại nam nhất thống chí được biên soạn trong khoảng thời gian từ sau năm

Trang 7

Tự Đức thứ 18 (1864) đến trước năm Tự Đức thứ 29 (năm 1875); Đồng Khánh dư địa chí được hoàn thành dưới thời Đồng Khánh (1886 – 1887) Trong các tác phẩm địa chí

này đều ít nhiều nói về vùng Hồ Tây chủ yếu là về cương giới, sự tích, tên gọi, thổ sản, phong tục tập quán

Ở thể loại địa chí, Tõy Hồ chớ là tập địa chí khảo về vùng Hồ Tây cùng những

làng xó lõn cận khỏ chi tiết Nội dung khảo cứu ngoài phần Địa dư bao gồm 14 mục

hỡnh thế, nguồn gốc, nỳi sụng, cổ tớch, phần mộ, từ viện, tự am, đệ trạch, sản vật, nghề nghiệp, tiểu truyện, nhân vật, tiên thích và văn chương Mặc dù vẫn cũn nhiều ý kiến xung quanh giá trị khoa học của tác phẩm này song thực sự đây vẫn là công trỡnh khảo cứu về lịch sử, văn hóa Hồ Tây một cách khá toàn diện và đầy đủ

Ngoài các tác phẩm địa chí thỡ cũn một khối lượng lớn các tác phẩm văn học viết

về vùng Hồ Tây Hồ Tây là chủ thể khơi nguồn sáng tác cho vô số các bài ca dao, tục ngữ, thành ngữ, truyền thuyết, giai thoại Có thể nói Hồ Tây là một vùng văn học độc đáo trong tổng thể vựng văn học Thăng Long – Hà Nội Đây là nguồn cảm hứng vô tận cho các thi nhân như Nguyễn Mộng Tuõn, Sỏi Thuận, Phựng Khắc Khoan, Nguyễn Quý Đức, Đoàn Nguyên Tuấn, Vũ Quỳnh, Hải Thượng Lón ễng, Nguyễn Huy Lượng, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du Hồ Tõy cũn là nơi gặp gỡ của các cuộc văn chương kỳ ngộ: Nguyễn Trói – Nguyễn Thị Lộ, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan – Liễu Hạnh, Nguyễn Du – Hồ Xuân Hương Một số tác phẩm

văn xuôi tiêu biểu viết về Hồ Tây như Vũ trung tựy bỳt của Phạm Đỡnh Hổ, Thượng kinh ký sự của Lờ Hữu Trỏc, Chuyện trong phủ chỳa của Nguyễn Án

Vũ trung tựy bỳt của Phạm Đỡnh Hổ là tập bỳt ký ghi chộp về đời sống xó hội

nước ta vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu XIX trong đó ghi chép về cuộc sống sinh hoạt xa hoa của các bậc vua chúa xưa ở khu vực Hồ Tây qua đó mà thấy được vẻ đẹp, sức cuốn hút của Hồ Tõy

Lờ Hữu Trỏc với tỏc phẩm Thượng kinh ký sự đó cho chỳng ta một cỏi nhỡn đầy

đủ, chân xác về cảnh sắc một vùng trời nước Hồ Tây vào những năm ở thế kỷ XVIII

với những “lâu đài cao ngất, uy nghi rải suốt đông tây, hoàng cung bày ra khí thế {54;

tr 8}; búng cõy ở ly cung um tựm, thấp thoỏng, khi ẩn khi hiện Trờn bói một dóy lõu đài Cỏ hoa đua tươi, khoe hồng phô biếc”{54; tr 452}

Trang 8

Về những cuốn sỏch, những cụng trỡnh sưu tầm, nghiên cứu về Hồ Tây hoặc là viết riêng về Hồ Tây hoặc là một phần trong những cụng trỡnh viết về Hà Nội thỡ

phần lớn đều xuất hiện sau năm 1945 Tiêu biểu có Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội của Đinh Gia Khánh và Trần Tiến; Tỡm lại dấu vết thành Thăng Long của Phạm Hõn; Mặt gương Tây Hồ của Nguyễn Vinh Phỳc; Gương mặt

Hồ Tây của Trần Lê Văn, Ngô Quân Miện và Quang Dũng; Hồ Tõy – Phủ Tõy Hồ của

Nguyễn Vinh Phỳc; Truyền thuyết ven Hồ Tõy của Bùi Văn Nguyên, Vũ Tuấn Sán, Chu Hà Tác phẩm Truyền thuyết ven Hồ Tõy tập hợp một số truyền thuyết về lịch sử

hỡnh thành Hồ Tây; các địa danh làng xó, gũ, nỳi, ao, vườn (gũ Phượng Chủy, Ao Quà, Ao Quan, vườn Tỏi ); các di tích tiêu biểu (như đền Mục Thận, viện Châu Lâm, chùa Bà Đanh ); các vị tổ nghề, nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc được thờ phụng ở những làng ven hồ (như Sóc Thiên Vương, ông tổ nghề giấy Thái Luân, công chúa Bảo Hoa, Phùng Hưng ) Đây là một trong những tác phẩm nghiên cứu một cách khá

cụ thể, chi tiết và toàn diện về khu vực Hồ Tây Hồ Tõy – phủ Tõy Hồ do Ngô Văn

Phú biên soạn và sưu tầm cũng viết khá kỹ về khu vực Hồ Tây và phủ Tây Hồ Tác giả khảo về sự tích Hồ Tây, các nhân vật Hồ Tây, cảnh đẹp và các thú chơi, đặc sản của

Hồ Tây; chùa chiền, chợ và các làng xó ven Hồ Tõy; Phủ Tõy Hồ và cỏc lễ hội Ngoài

ra, tỏc giả cũn trớch dẫn một số ca dao, thơ văn và câu đối có liên quan đến khu vực

Hồ Tây

Một trong những cụng trỡnh khảo cứu khỏ cụng phu và chi tiết về khu vực Hồ

Tõy là tỏc phẩm Mặt gương Tây Hồ của Nguyễn Vinh Phúc Tác phẩm chia làm 8

chương gồm các nội dung: Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, Kẻ Bưởi, sông Thiên Phù Tứ Tổng, Tây Hồ - nguồn cảm hứng thơ văn, chuyện kể dân gian, các di tích, lễ hội vùng Hồ Tây, các làng nghề Qua công trỡnh này chỳng ta cú được một hỡnh dung khỏi quỏt về cỏc làng xó ven Hồ Tõy, trong đó có nhiều địa danh đó bị xúa nhũa trong quá khứ, tên gọi của Hồ Tây qua các thời kỳ lịch sử, hệ thống di tích quanh Hồ Tây; một số lễ hội tiêu biểu khu vực này Đây là một nguồn tư liệu quý hiếm cho những ai quan tõm, muốn tỡm hiểu về lịch sử, văn hóa của khu vực Hồ Tây

Năm 2000, UBND quận Tõy Hồ xuất bản cuốn sỏch Danh tớch Hồ Tõy Cuốn

sách bao gồm những bài viết được biên soạn công phu về các di tích lịch sử văn hóa

đó được nhà nước xếp hạng và một số di tích khác ở khu vực Hồ Tây Trong đó trỡnh bày khỏi quỏt cỏc phương diện địa lý, lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, điêu khắc, tôn

Trang 9

giáo và truyền thuyết có kèm theo phần chú dịch các tư liệu Hán Nôm hiện cũn lưu giữ

ở các di tích

Nói đến nguồn tài liệu nghiên cứu về khu vực Hồ Tây không thể không kể đến một khối lượng lớn các công trỡnh nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạp chí Những công trỡnh này đi sâu khảo cứu nhiều mặt về khu vực Hồ Tây như: truyền

thuyết, lễ hội, thành hoàng Năm 2000, trên Tạp chớ Khảo cổ học nhà sử học Trần Quốc Vượng có bài Đôi lời về Hồ Tây Với vốn tri thức dân gian, tri thức lịch sử

phong phú kết hợp với phương pháp nghiên cứu liên ngành địa – văn hóa, tác giả đó giỳp người đọc có được một cái nhỡn sỏng rừ về tờn gọi, lịch sử hỡnh thành Hồ Tõy, quan hệ giữa Hồ Tõy với sụng Tụ Lịch, sụng Thiờn Phự và những hồ khỏc

Trờn Tạp chớ Lịch sử, nhà nghiên cứu Vũ Văn Luân có một loạt bài nghiên cứu

về các làng nghề vùng Hồ Tây Những khảo cứu của tác giả về các làng Hồ Khẩu, Đông Xó, Yờn Thỏi đó giỳp chỳng ta hiểu thờm về ba làng ven đô với nhiều nghề thủ

công truyền thống Ngoài ra, tỏc giả cũn cú bài viết về Truyền thuyết một số vị thần khu vực Hồ Tõy, qua đó khẳng định vùng đất quanh Hồ Tây là một vùng văn hóa lâu

đời, nơi lưu giữ nhiều thần thoại truyền thuyết

Như vậy, không gian văn hóa vùng Hồ Tây mặc dù đó được các nhà nghiên cứu quan tâm tỡm hiểu từ nhiều gúc độ như địa lý, văn học, lịch sử, tôn giáo, song có thể thấy văn hóa vùng Hồ Tây được nghiên cứu từ việc khảo sát các tác phẩm, các sáng

tác văn học cũn rất mờ nhạt Cỏc nhà nghiờn cứu như Nguyễn Vinh Phỳc (Mặt gương Tây Hồ), Ngô Văn Phú (Hồ Tõy - Phủ Tõy Hồ), Bùi Văn Nguyên (Truyền thuyết ven

Hồ Tõy) chủ yếu nghiên cứu về Hồ Tây dưới góc độ địa lý, lịch sử, văn hóa tuy có

sử dụng nguồn tư liệu văn học (văn học dân gian và văn học bác học) để phác dựng lại không gian văn hóa Hồ Tây nhưng cũn sơ sài, thực chất các cứ liệu văn học mới chỉ được các tác giả khai thác như một dẫn chứng minh họa một cỏch hết sức chung chung hoặc chỉ là một sự thống kê đơn thuần Cũn nghiờn cứu văn hóa Hồ Tây từ những dẫn liệu văn học một cách đầy đủ thỡ hầu như là chưa có tác phẩm nào đáp ứng được Các tác phẩm thông sử, địa chí, các tác phẩm văn học dân gian, cổ trung đại cùng với những công trỡnh nghiờn cứu trong thời kỳ hiện đại sẽ là cơ sở, là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để người viết hoàn thành luận văn này

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

- Sưu tầm các tư liệu văn học dân gian và văn học viết về Hồ Tây từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, bước đầu hỡnh thành được một bộ hồ sơ tư liệu về văn học vựng Hồ Tõy

- Trờn cơ sở những tư liệu có được, luận văn sẽ tiến hành khảo cứu một cách toàn diện và cụ thể những đặc trưng văn học vùng Hồ Tây, văn hóa vùng Hồ Tây, từ

đó đưa ra những đánh giá chính xác và hợp lý về mảng văn học này, về vai trũ và những đóng góp của nó đối với văn hóa Thăng Long - Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là không gian văn hóa Hồ Tõy (qua những tác phẩm văn học dân gian (truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ…) và văn học viết (thơ, văn xuôi, giai thoại…) từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX viết về khu vực Hồ Tây

4.2 Phạm vi nghiờn cứu

Luận văn chỉ khảo cứu những tác phẩm văn học dân gian và văn học viết về Hồ Tây đến thế kỷ XIX để từ đó nghiên cứu về không gian văn hóa Hồ Tõy ở hai phương diện văn hoá vật thể và phi vật thể (văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) Việc phõn chia này chỉ cú ý nghĩa tương đối, tiện cho sự mụ tả và phân tích chứ không có ý nghĩa tuyệt đối

Khu vực Hồ Tây mà luận văn nghiên cứu không đồng nhất với không gian hành chính mà được hiểu rất linh hoạt Lấy Hồ Tây làm trung tâm, luận văn nghiên cứu những khu vực nằm sát và chịu ảnh hưởng, chịu sự lan tỏa của văn hóa Hồ Tây

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp thống kê: Thống kê các nguồn tài liệu liên quan đến luận văn, thống kê đối tượng nghiên cứu của luận văn - hệ thống tác phẩm văn học dân gian và văn học viết (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX) về khu vực Hồ Tây

- Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu

- Phương pháp liên ngành, đa ngành được sử dụng để tiếp cận đối tượng từ nhiều góc độ khác nhau

Trang 11

- Phương pháp lịch sử, văn hóa: Từ tư liệu văn học thông qua phương pháp lịch

sử, văn hóa tỡm hiểu khụng gian văn hóa Hồ Tây, tỡm hiểu người dân vùng Hồ Tây xưa tổ chức không gian sống, không gian sinh hoạt, sản xuất của mỡnh như thế nào?

6 Kết quả đóng góp của luận văn

- Lần đầu tiên có được một tập hợp thống kê những tác phẩm văn học dân gian

và văn học viết (thế kỷ X đến thế kỷ XIX) về khu vực Hồ Tây tương đối cụ thể và đầy

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về khu vực nghiên cứu và các khái niệm

Chương II: Khụng gian văn hóa vật thể vùng Hồ Tây qua văn học

Chương III: Không gian văn hóa phi vật thể vùng Hồ Tây qua văn học

Ngoài ra cũn cú phần Phụ lục và Mục lục tham khảo

Trang 12

- Từ góc độ miêu tả các thành tố: văn hóa là đạo đức, phong tục, tắn ngưỡng, luật phápẦ

- Từ góc độ lịch sử: nhấn mạnh sự trao truyền, kế thừa văn hóa giữa cỏc thế hệ song lại không chú ý sự biến đổi của văn hóa

- Từ góc độ giá trị chuẩn mực: văn hóa là lối sống, là giá trị của một cộng đồng người

- Từ góc độ tâm lý học: văn hóa là những hỡnh thức tõm lý có quy định về mặt

xó hội, những hỡnh thức hành vi quen thuộc

- Từ góc độ cấu trúc, văn hóa được xem là một hệ thống mà mỗi thành tố thực hiện một chức năng riêng

- Từ góc độ nhân học: văn hóa là sản phẩm hoạt động tinh thần của con người, phân biệt người với động vật

Phõn tớch một nền văn hóa, một vùng văn hóa cần xuất phát từ chức năng của

văn hóa Theo sách Culturologia 1

của Drach chủ biên, văn hóa có mấy chức năng sau:

- Văn hóa là sự thực hiện những mục tiêu mang tắnh lý tưởng và giá trị, theo quan niệm này thỡ văn hóa là tổng số những giá trị tinh thần và vật chất, là trật tự phức tạp của những lý tưởng có ý nghĩa đối với một tổ chức xó hội cụ thể Tất nhiên cần lưu

ý, giá trị là khái niệm rất tương đối trong khụng gian và thời gian

1

à  Ảđàữ, ấúởỹũúđợởợóốỮ (Văn húa học) , M 2003, tr 95-101

Trang 13

- Văn hóa là phương thức điều chỉnh, bảo tồn, tái sản xuất và phát triển xó hội,

là kỹ thuật sản xuất và tỏi sản xuất con người trong xó hội Quan điểm này nhấn mạnh vào phương diện kỹ thuật của văn hóa

- Văn hóa thực hiện bản chất thông tin qua biểu tượng, qua cỏc ký hiệu ngữ nghĩa

- Văn hóa là tổng số những yếu tố xó hội điều chỉnh hoạt động của con người (hôn nhân, gia đỡnh, văn bản, tượng trưng…)

- Văn hóa là thiết chế xó hội cấp cho xó hội tớnh hệ thống nhờ đó mà xó hội cú tớnh chỉnh thể bền vững, khỏc tự nhiên (văn hóa vật chất, văn hóa chính trị, văn hóa tinh thần), nó qui định chuẩn mực hành vi con người trong xó hội

- Văn hóa hoàn thiện con người như là chủ thể đạo đức - tinh thần của văn hóa Những khái quát về chức năng của văn hóa nói trên giúp ta chú ý đến vai trũ và

ý nghĩa của khụng gian văn hóa Hồ Tây đối với văn hóa Thăng Long

Hiểu một cỏch nụm na thỡ văn hóa là những gỡ đối lập với tự nhiên; những giá trị mà con người tạo ra không có sẵn trong tự nhiên thỡ là văn hóa Âm nhạc là văn hóa, chữ viết là văn hóa, đền đài, miếu phủ là văn hóa, con đường, công viên là văn hóa

Theo cỏc sỏch nghiờn cứu lý luận về văn hóa, văn học ở Nga thỡ “sự mâu thuẫn giữa tự nhiên và văn hóa được khắc phục thường là qua phạm trù hoạt động Nhiều nhà khoa học nhận xét rằng văn hóa như là hiện tượng trở thành văn hóa chỉ do khả năng của con người như khả năng hoạt động” {7; tr 180} hay: “Văn hóa, đó là tự nhiên được con người tái tạo, con người tái tạo tự nhiên đồng thời bằng cách này, nó khẳng định mỡnh với tư cách là con người Chỉ có con người là thực thể duy nhất có khả năng đổi mới không ngừng Con người là người sáng tạo văn hóa độc đáo, nó cấp cho nó ý nghĩa thụng qua sự thay đổi không ngừng các biểu tượng” {7; tr 97} “Văn hóa đó trước hết là thế giới các sự vật xung quanh ta, mang trong chúng dấu ấn của lao động, trí tuệ, nguyện vọng của con người Văn hóa đó là thế giới của những nhu cầu và nguyện vọng hoàn toàn mang tính con người, đó được thỏa món hay chưa được thỏa món” {7; tr 102}

Xung quanh khái niệm văn hóa lại có khái niệm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể hay cũn gọi là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Cũng theo tỏc giả G.V

Dracha trong cuốn “Cultorologia” thỡ văn hóa tinh thần “thuộc về văn hóa tinh thần có

hệ tư tưởng, khoa học, đạo đức, giao tiếp tinh thần, sáng tạo nghệ thuật và tôn giáo”

Trang 14

{7; tr 124-125} và “văn hóa tinh thần là hoạt động hướng đến sự phát triển tinh thần của con người và xó hội, sỏng tạo tư tưởng, tri thức, các giá trị tinh thần - các kiểu ý thức xó hội” {7; tr 180} Và tác giả chia văn hóa tinh thần ra thành hai tiểu hệ thống

quan trọng là văn hóa đạo đức và văn hóa nghệ thuật Cũn về văn hóa vật chất tỏc giả

cũng viết: “Công cụ lao động, phương tiện sản xuất, quần áo, đời sống, nhà ở, phương tiện giao thông - tất cả những gỡ được gọi là phương tiện nhân tạo để cư trú của con người và là quá trỡnh và kết quả của hoạt động vật chất của con người” {2; tr 120}

Như vậy, văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hỡnh thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất trong tự nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và giá trị thẩm

mĩ phục vụ đời sống con người Văn hóa phi vật thể là một dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hỡnh khối tồn tại khỏch quan trong khụng gian và thời gian mà nú thường tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xó hội, trong hoạt động tư tưởng văn hóa, nghệ thuật mà thể hiện ra, khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó Sự phân chia khái niệm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể chỉ là tương đối, nên hiểu một ranh giới mềm dẻo không nên quá cứng nhắc và rạch rũi

Nếu như trước đây, văn hóa chỉ được xem như một yếu tố phụ thuộc vào kinh tế chính trị thỡ ngày nay với một quan niệm mới văn hóa đó trở thành động lực và mục tiêu của phát triển kinh tế chính trị, xó hội núi chung Văn hóa đó cú mặt ở khắp mọi nơi, thâm nhập mọi lĩnh vực của đời sống xó hội và thực sự văn hóa đó trở thành một

Một định nghĩa mới được tiếp cận với bản chất của văn hóa cũng dần dần hỡnh thành Nếu trước đây, khái niệm văn hóa chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp trong giới hạn các hoạt động văn học, nghệ thuật thỡ ngày nay văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng, là tổng thể các hệ thống giá trị bao gồm các mặt tỡnh cảm, tri thức, vật chất và tinh thần của xó hội Văn hóa không chỉ đơn thuần bó hẹp trong các hoạt động sáng tác nghệ thuật mà bao hàm cả phương thức sống, truyền thống, tín ngưỡng

Nhằm đưa ra một định nghĩa mới về văn hóa, tại lễ phát động “Thập kỷ văn hóa”

ngày 21/01/1998, Tổng giám đốc UNESCO F Mayor nói: “Văn hóa phản ánh và thể

Trang 15

quỏ khứ và cũng đang diễn ra trong hiện tại; qua hàng bao thế kỷ văn hóa đó cấu thành nờn một hệ thống cỏc giỏ trị, truyền thống, thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mỡnh”{64; tr 5}

Bên cạnh khái niệm văn hóa chúng ta lại có khái niệm văn hóa học và nhân học

văn hóa Có thể nói “văn hóa học chủ yếu nghiên cứu những giá trị văn hóa đó được

cả một cộng đồng nhất định thừa nhận, đó được đúc kết qua những châm ngôn, tục ngữ, những kinh sách, những tập tục khá ổn định Nhân học văn hóa lại chủ yếu chú ý

mụ tả sự trỡnh diễn, sự biểu hiện của cỏc quan niệm văn hóa trong đời sống hiện thực với phương pháp khảo sát điền dó, quan sỏt thực địa hoặc thông qua các tài liệu khảo

cổ học, thư tịch ghi chép có tính chất miêu tả thực địa” {66; tr 15} Trong một hệ

thống văn hóa khác nhau, những yếu tố, thành phần khác nhau có vai trũ khỏc nhau Chẳng hạn, những gỡ thuộc về chớnh trị thỡ thường dễ thay đổi, cũn những gỡ thuộc

về văn hóa lại có sức sống bền vững, dai dẳng, có sự chi phối tinh vi, sâu sắc hơn Việc tiếp cận văn học đồng thời có thâm nhập vào nền tảng văn hóa sẽ đem đến cho chúng ta cái nhỡn toàn diện hơn, đa chiều hơn khi tỡm hiểu những giỏ trị văn học Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học là mối quan hệ gần gũi, biện chứng, từ lâu

đó được các nhà nghiên cứu quan tâm, tỡm hiểu

Trước đây, khi nghiên cứu văn hóa thỡ văn học thường được coi như một nguồn tài liệu, cũn nghiên cứu văn học thỡ lại tỡm thấy ở tự bản thõn nú những chủ đề văn hóa, ở một góc độ nào đó cũng có thể coi như là một nguồn tài liệu Như vậy, rừ ràng mối quan hệ này là mối quan hệ tương hỗ, văn hóa và văn học làm tài liệu nghiên cứu cho nhau

Trong thời gian gần đây, khi mà khái niệm văn hóa học và nhân học văn hóa được phổ biến rộng rói thỡ mối quan hệ giữa văn học và văn hóa được chú ý nhiều hơn Văn hóa bắt đầu được coi là nhân tố chi phối văn học, một số tác giả đi theo hướng nghiên cứu này như Trần Đỡnh Hượu, Trần Nho Thỡn, Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thúy,.v.v

Ai cũng thừa nhận văn hóa là một tổng thể, một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố trong đó có văn học Như vậy, văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận Tuy nhiờn, so với cỏc yếu tố khỏc thỡ văn học

có thể coi là một yếu tố mạnh và năng động Văn học không phải là một yếu tố tĩnh mà

Trang 16

luôn luôn có sự sáng tạo, sáng tạo những yếu tố mới cho bản thân nó và cho hệ thống

Và văn học luôn phản ánh hiện thực thông qua lăng kính văn hóa, và nói như các nhà

lý luận phờ bỡnh văn học thỡ đó là phương thức phản ánh hiện thực một cách nghệ thuật Như vậy, nghiên cứu văn học từ góc nhỡn văn hóa là một phương pháp nghiên cứu có nhiều thuận lợi bởi nó đưa người ta đi từ cái tổng thể đến cái bộ phận, cái khái quát đến cái cụ thể Chẳng hạn như nghiên cứu không gian văn hóa Hồ Tây qua tư liệu văn học thỡ rừ ràng chỳng ta đó coi văn học vùng Hồ Tây là sản phẩm của văn hóa vùng Hồ Tây nói riêng và Thăng Long - Hà Nội nói chung Văn hóa vùng Hồ Tây chính là cái phông chung cho bức tranh văn học Hồ Tây và ngược lại văn học vùng Hồ

Tây lại thấm đẫm những đặc điểm văn hóa vùng này “Phương pháp tiếp cận tác phẩm

từ quan điểm văn hóa học ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học đó ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mĩ, quan niệm về con người, cũng như sự chi phối của các phương diện khác nhau trong đời sống sinh hoạt xó hội sống động hiện thực từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ, hỡnh tượng, cảm xúc, ngôn ngữ ”, phương pháp này

“thiờn về giải mó cỏc hỡnh tượng nghệ thuật, tỡm ra nền tảng văn hóa lịch sử của chúng, đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự liên tục, đến tính chất mở của chúng trong không gian và thời gian”{66; tr 9-10} Như vậy, rừ ràng tiếp cận văn học từ góc nhỡn

văn hóa có thể cho ta cái nhỡn khỏi quỏt hơn, lý giải hợp lý hơn những yếu tố khác nhau của văn học từ đề tài, chủ đề, các yếu tố thi pháp

Luận văn của chúng tôi nghiên cứu “Không gian văn hóa Hồ Tây qua nguồn tư liệu văn học” cũng chính là nghiên cứu mối quan hệ giữa không gian văn hóa vùng Hồ

Tây và văn học vùng Hồ Tây Chúng ta vẫn thường nói văn học là nhân học, văn là người Nói đến văn hóa thực ra cũng là nói đến con người Bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng đều thể hiện con người và hoạt động của nó trong không gian và thời gian xác định Con người trong văn học của mỗi một thời kỳ lịch sử lại có một diện mạo riêng chịu sự quan niệm về con người lý tưởng của thời đại ấy Con người là sản phẩm

xó hội, đó và khụng ngừng được văn hóa hóa, tức là con người đó xõy dựng được những định chế quy định hành vi ứng xử xó hội và ứng xử bản thân Khái niệm không gian được đề cập ở đây không phải là không gian vật lý mà là khụng gian xó hội,

Trang 17

khụng gian văn hóa Xét con người trong không gian xó hội tức là xột cỏch cảm nhận

xó hội của con người trong một thời đại lịch sử nào đó Có nhiều dạng thức không gian khác nhau, có không gian của lao động, cư trú và sinh hoạt, không gian văn hóa dân gian (lễ hội), không gian tôn giáo (đền, chùa, miếu), không gian cá nhân, không gian

kỹ thuật trong đó diễn ra các hoạt động sống của con người Thời gian là phạm trù thể hiện cách con người cảm nhận sự vận động của dũng đời

Không gian văn hóa là một khái niệm mềm dẻo bao gồm một phạm vi trong đó

có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống với những mối quan hệ

về nguồn gốc và lịch sử, những tương đồng về trỡnh độ phát triển kinh tế hỡnh thành nờn những đặc trưng văn hóa chung thể hiện cả ở trong lĩnh vực văn hóa đảm bảo đời sống, văn hóa tâm linh cũng như các loại hỡnh thuộc văn hóa quy phạm Không gian văn hóa không đơn thuần là một lónh thổ địa dư nhất, nó là một môi trường thống nhất, rộng lớn do con người sống trong không gian ấy sáng tạo ra Chúng ta cần phải hiểu khái niệm không gian ba chiều (quảng tính, chứa vật thể) và các vật thể trong đó (pho tượng, ngôi nhà, cánh đồng, con đường, con người với tất cả mọi loại hỡnh lao động, phong tục, lối sống, các sản phẩm văn hóa của con người ) Cần phân biệt khái niệm không gian địa lý tự nhiờn và khụng gian văn hóa Một cái hồ ở trên mặt trăng không thể gọi là không gian văn hóa vỡ khụng cú sự sống của con người quanh nó Nơi nào có con người cư ngụ mới thành không gian văn hóa Một cái hồ ở trên miệng núi lửa không thể gọi là không gian văn hóa nhưng khi có bàn tay con người biến nó thành khu du lịch nó trở thành không gian văn hóa Con đường do con người đắp để đi cũng là một sản phẩm văn hóa vỡ tự nhiờn vốn khụng cú đường

Về vấn đề lịch sử của không gian văn hóa: không gian văn hóa liên tục thay đổi

do hoạt động của con người cũng không ngừng đổi mới Vớ dụ, quỏ trỡnh định đô chắc chắn là một sự kiện khiến cho Hồ Tây thay đổi nhiều so với trước đó Việc tiếp nhận các luồng văn hóa bốn phương (Nho, Phật, Đạo hay văn hóa Chămpa ) cũng khiến cho không gian văn hóa Hồ Tây có một bộ mặt mới (đền, chùa, quán ) Các biến cố chính trị tác động mạnh đến không gian văn hóa Rồi khi nhà Nguyễn chuyển kinh đô vào Huế, hay cuộc xâm lược và khai thác thuộc địa của Thực dân Pháp tất nhiờn cũng làm ảnh hưởng, làm thay đổi khụng gian văn hóa Hồ Tõy

Trang 18

Như vậy, tỡm hiểu khụng gian văn hóa Hồ Tây (luận văn của chúng tôi nghiên cứu không gian văn hóa Hồ Tây thời trung đại) qua tư liệu văn học suy cho cùng là người viết muốn thông qua tư liệu văn học phục nguyên lại không gian sống của cư dân vùng Hồ Tây xưa, tỡm hiểu xem họ tổ chức khụng gian sống như thế nào từ không gian lao động sản xuất, không gian tâm linh đến không gian chính trị xó hội Tuy nhiên, luận văn của chúng tôi nghiên cứu không gian văn hóa qua tư liệu văn học song không phải xuất phát từ một khung lý thuyết có sẵn về văn hóa mà là xuất phỏt từ thực

tế văn học, dùng tư liệu văn học để làm sáng rừ những vấn đề về văn hóa Nghiên cứu không gian văn hóa dưới góc độ văn học không những chúng ta tiếp cận, khôi phục được dáng dấp hiện thực cuộc sống vùng Hồ Tây xưa mà quan trọng hơn qua đó chúng

ta cũn hiểu được những tâm tư, tỡnh cảm, những niềm vui cũng như nỗi buồn của con người nơi đây với tư cách chủ thể của không gian văn hóa này Bởi, văn học là tiếng nói tâm hồn con người, văn học phản ánh hiện thực nhưng không phải là một hiện thực khô cứng mà vô cùng sinh động, có hồn

1.2 Giới hạn khu vực Hồ Tõy

Như trên đó núi, giới hạn khu vực Hồ Tõy mà luận văn nghiên cứu không đồng nhất với khu vực hành chính Khu vực Hồ Tây được hiểu rất linh hoạt, tất cả chỉ mang tính chất tương đối Về mặt địa giới hành chính, lấy Hồ Tây làm trung tâm, khu vực

Hồ Tây được hiểu là những vùng đất nằm sát cạnh Hồ Tây hoặc gián cách với mặt nước Hồ Tây nhưng chịu sự chi phối của mặt nước Hồ Tây trong sản xuất cũng như trong đời sống Gọi theo tên làng thỡ hiện nay ven hồ có 13 làng: Chỏm đỉnh Bắc là làng Nhật Tân Theo bờ phía Đông là làng: Quảng Bá, Tây Hồ, Nghi Tàm, Yên Phụ

Bờ Nam là các làng: Thụy Khuê, Đông Xó, An Thọ, Yờn Thỏi Bờ Tõy là làng: Vệ

Hồ, Trớch Sài, Vừng Thị Tất cả những làng này hiện thuộc quận Tõy Hồ Đó là 13 làng nằm kề sát mặt nước Hồ Tây, nhưng nói đến Hồ Tây chúng ta không thể không nói đến một vùng đất tuy gián cách với hồ nhưng từ xưa đến nay nhắc đến Hồ Tây người ta thường nhớ ngay đến nó: đó là vùng Bưởi Vùng Bưởi là một khái niệm dùng

để chỉ chung một dải đất trải dọc phía Tây Nam Hồ Tây bao gồm gần chục làng như: Đông Xó, An Thọ, Trung Nha, Tiờn Thượng, Vạn Long, An Phú, Bái Ân, Vừng Thị, Trớch Sài Những làng này do cú quan hệ mật thiết với mặt nước Hồ Tây đặc biệt là

Trang 19

trong nghề sản xuất thủ cụng truyền thống nờn chỳng vẫn thuộc quần thể khu vực Hồ Tõy

Cũng tương tự như vậy, khi nói đến vùng ven Hồ Tây không thể không nói đến Ngũ Xó, Phỳ Gia và Phỳ Thượng

Mặt khác, khu vực Hồ Tây mà luận văn nghiên cứu là Hồ Tây của cách đây hơn một thế kỷ trở về trước Do đó, giới hạn khu vực rất linh hoạt qua các thời kỳ

Căn cứ vào Tõy Hồ chớ, khu vực Hồ Tây bao gồm 36 phường, thôn, trại thuộc

huyện Vĩnh Thuận và huyện Từ Liêm {30; tr 56}

Đời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), khi quy hoạch lại kinh đô Thăng Long với hai huyện, 36 phường thỡ cả vựng Hồ Tõy (lỳc này vẫn bao gồm hồ Trỳc Bạch và

hồ Mó Cảnh) thuộc đất kinh thành Thời kỳ này, chung quanh hồ có 12 phường trong

số 18 phường của huyện Quảng Đức (sau đổi là Vĩnh Thuận) Mười hai phường đó nay là 12 làng thuộc khu Ba Đỡnh và huyện Từ Liờm như: Yên Phụ, Nghi Tàm, Nhật Chiêu, Tây Hồ, Quảng Bá, Xuân La, Bái Ân, Vừng Thị, Trớch Sài, Hồ Khẩu, Yờn Thỏi, Thụy Chương

Sang thời Nguyễn chia nhỏ các phường thành các thôn trại mới song 11 phường ven Hồ Tây vẫn giữ y nguyên cho đến thời Pháp thuộc {50; tr 36}.

Thời Pháp thuộc từ năm 1889 đến 1915, vùng Hồ Tây thuộc khu vực ngoại thành, đến năm 1915 có tên huyện Hoàn Long

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, các làng ven hồ trở thành các xó trong số 120

xó thuộc ngoại thành Hà Nội, đến kháng chiến chống Pháp thỡ thuộc một trong 3 quận ngoại thành

Sau ngày hũa bỡnh lập lại (1954) thành phố Hà Nội thuộc 4 quận nội thành (từ quận 1 – 4), và 5 quận ngoại thành ( quận 5 – 8) thỡ vựng Hồ Tõy thuộc quận 5 Năm

1961, thành phố Hà Nội mở rộng địa giới, gồm 4 khu phố và 4 huyện thỡ vựng này thuộc huyện Từ Liờm, cho tới tận 1995 mới trở về nội thành Núi chung, trước năm

1946, phần lớn những làng trên thuộc 6 xó trong số hơn 20 xó của huyện Từ Liờm và

4 phường của quận Ba Đỡnh Ngày 28 thỏng 10 năm 1995, theo Nghị định số 69/CP của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập quận Tây Hồ thỡ về mặt hành chớnh phần lớn những làng trờn thuộc 8 phường của quận Tây Hồ Cũn lại thuộc một phường của

Trang 20

quận Ba Đỡnh và thuộc một phường của quận Cầu Giấy Cụ thể đó là các phường: Quảng An, Tứ Liên, , vỡ xưa kia hai hồ vốn liền nhau; về sau vỡ Hồ Tõy rộng quỏ, nhõn dõn ba làng Trỳc Yờn, Yờn Phụ, Yờn Quang mới đắp con đê chắn ngang để giữ phần cá về phía mỡnh Con đê đó có tên là Cố Ngự, nay là đường Thanh Niên Phú Thượng, Nhật Tân, Xuân La, Yên Phụ, Bưởi, Thụy Khuê (quận Tây Hồ); Trúc Bạch (quận Ba Đỡnh); Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy) Hồ Tây thuộc quận Tây Hồ, cũn hồ Trỳc Bạch và khu vực hồ Mó Cảnh thuộc quận Ba Đỡnh, tương đương với các phường Nói đến Hồ Tây là phải nói đến hồ Trúc Bạch

Một số địa danh của các làng thuộc vùng ven Hồ Tây trong lịch sử cũng có sự thay đổi nhiều lần Chẳng hạn như Nhật Tân trước đây gọi là Nhật Chiêu1; Yên Phụ trước đây gọi là Yên Hoa2; Thụy Khuê trước đây gọi là Thụy Chương

Từ một vùng đầm hồ hoang vu, thông qua quá trỡnh định đô, mở rộng kinh thành Thăng Long, Hồ Tây ngày càng được các vua chúa quan lại nhà Lý đặc biệt quan tâm Qua con mắt tinh tường của các ông vua nhà Lý, Hồ Tây được phát hiện không chỉ là mảnh đất màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, các ngành nghề thủ công

mà cũn được nhỡn nhận, đánh giá như một vùng danh thắng, một vùng đất thiêng Phải chăng vỡ thế mà khụng biết bao nhiờu chựa chiền, đền miếu nguy nga, bao nhiêu công trỡnh kiến trúc được xây dựng xung quanh hồ vào đời Lý Cựng với sự vận động của lịch sử, lớp trầm tích văn hóa Hồ Tây ngày càng dày hơn Trải qua bao cuộc bể dâu, qua sự hưng vong của các triều đại phong kiến, Hồ Tây vẫn cũn đó, vẫn mang nét đẹp riêng mà hiếm một vùng hồ nào trên đất Việt có thể sánh kịp

(1) Thời vua Lờ Hiển Tụng (1740 - 1786) Nhật Tõn được gọi là phường Nhật Chiờu, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiờn, thành Thăng Long Đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX) Nhật Chiờu thuộc tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, thành Hà Nội Sang thời Bảo Đại (1926 - 1945), Nhật Chiêu được đổi thành Nhật Tân (Đảng ủy - Ủy ban Nhân dân phường Nhật Tõn (2004), Lịch sử cỏch mạng phường Nhật Tõn, NXB Hà Nội)

Trang 21

CHƯƠNG 2

KHÔNG GIAN VĂN HÓA VẬT THỂ VÙNG HỒ TÂY

QUA VĂN HỌC

2 1 Lao động sản xuất cỏc sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống và sinh hoạt

Người nghiờn cứu văn học quan tâm đến cỏc loại khụng gian xó hội được thể hiện trong tỏc phẩm văn học, khụng gian xó hội cũn được cỏc nhà nghiờn cứu gọi một cách khác đầy hỡnh tượng là khụng gian nghệ thuật Khụng gian nghệ thuật bao gồm tất cả cỏc kiểu khụng gian tồn tại của con người Đến lượt mỡnh cỏc dạng thức khụng gian này lại chịu sự quy định của quan niệm chung về xó hội lý tưởng Nhỡn chung, trong văn học truyền thống cú cỏc kiểu không gian sau: không gian lao động sản xuất, không gian văn hóa tâm linh, không gian xó hội

Lao động sản xuất chớnh là sự sống, là cơ sở tồn tại của một cộng đồng Chỳng

ta thấy ở khu vực Hồ Tõy nổi bật lên là văn hóa thủ cụng nghiệp (xúm làng) với không gian định hỡnh sinh tồn và phỏt triển của nú là một miền hồ ao, yếu tố nước chiếm ưu thế đặc biệt Đây chính là một đặc điểm nổi bật của văn hóa Thăng Long nói chung và đặc biệt là của vựng Hồ Tõy núi riờng

Trong văn học dân gian, không gian lao động sản xuất thường xuyờn xuất hiện với những cảnh như cảnh cày cấy, tát nước, gieo mạ, thu hoạch, cảnh được mựa, mất mựa, hạn hỏn, lụt lội So với văn học dân gian như ca dao, dân ca thỡ trong văn học viết hỡnh tượng khụng gian này rất mờ nhạt, lại thường mang tớnh chất ẩn dụ Ngư tiều canh mục chỉ là khụng gian ẩn dật thuần tỳy chứ khụng cú tớnh chất tỏi hiện hiện thực lao động Và văn học vựng Hồ Tõy cũng khụng phải là một ngoại lệ

2.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới không gian lao động sản xuất vựng Hồ Tây xưa

- Nhị hà quanh bắc sang đông Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này

Trang 22

Cõu ca dao này chắc hẳn khụng cũn xa lạ gỡ với mỗi người Tràng An thanh lịch,

đó là sự đúc kết vẻ đẹp đặc trưng nhất của kinh thành Thăng Long xưa Một đô thị cổ với yếu tố nước chiếm ưu thế đặc biệt, nổi trội

Trong dân gian truyền thống, Thăng Long xưa luôn được phác họa gắn với vẻ đẹp sông nước:

- Khen ai khéo họa dư đồ Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm

Và nói đến Hà Nội không thể không nhắc đến Hồ Tây - một biểu tượng văn hóa của Thăng Long - Hà Nội Hồ Tây là hồ rộng nhất ở Hà Nội nằm ở phía tây bắc của thành phố:

Ngoài đường quai có hồ sâu Tõy Hồ rộng rói ngay đầu phía tây

Như vậy, bản chất địa văn hóa của một vùng Hà Nội cổ là thành phố của sông hồ Thực đúng là như vậy, nhỡn trờn cỏc bản đồ Hà Nội cổ, ta thấy địa lý tự nhiờn của Hà Nội được giới hạn bởi ba con sông mà Giáo sư Trần Quốc Vượng đó khỏi quỏt thành tam giỏc nước Giáo sư Trần Quốc Vượng cũng đó tỡm ra cỏi “mộc” rất vững chắc của Hà Nội là cụm nỳi Voi, nỳi Cung (đây cũng là điểm cao nhất của Hà Nội, có cốt 12m) là địa hỡnh dương quy định địa hỡnh õm là Hồ Tõy cựng cỏc sụng Thiờn Phự (nay đó bị lấp), Tụ Lịch, Kim Ngưu Mô hỡnh Hà Nội cổ được giáo sư Trần Quốc Vượng dựng như sau:

Trang 23

Từ mụ hỡnh này chỳng ta thấy cỏc cửa ụ ngày trước đều là cửa nước: ô Cầu Giấy nằm ở ngó ba sụng Tụ Lịch - Kim Ngưu, ô Đống Mác nằm ở ngó ba sụng Kim Ngưu – sông Hồng, ô Bưởi nằm ở ngó ba Tụ Lịch - Thiờn Phự Và cũng từ mụ hỡnh này chỳng ta thấy Hồ Tõy nằm trọn trong tam giỏc nước ở phía trên của tam giác châu Hà Nội Ba cạnh của tam giác này chính là ba con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Thiên Phù (nay đó bị lấp) Ba con sụng này gắn bú chặt chẽ với Hồ Tõy khụng chỉ về điều kiện tự nhiên mà cũn cú vai trũ ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống, văn hóa, tín ngưỡng của cư dân vùng Hồ Tây Với tư cách là địa hỡnh õm của Hà Nội, Hồ Tõy đó đóng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế, văn hóa của Thăng Long xưa và Hà Nội nay Từ xưa, nơi đây đó là khu vực quần cư của những cư dân nông nghiệp bản địa trong nền văn minh lúa nước sông Hồng Các nhà khoa học cho rằng

Hồ Tây là một đoạn sông Hồng cũ sau khi dũng sụng đó đổi dũng Hồ cong cong hỡnh múng ngựa theo chiều Bắc – Nam, ở giữa là dải đất gồm hai làng Nghi Tàm và Tây

Hồ Từ phía nam và phía tây, con đường Hoàng Hoa Thám bao quanh hồ đi thẳng mói cho tới chõn đê sông Hồng ở Nhật Tân (vốn là con đê bao quanh hồ Tõy khi hồ cũn là một khỳc sụng Ở vựng Quảng Bỏ, sụng và hồ rất gần nhau – đó là cửa sông vào Qua doi đất Tây Hồ, Nghi Tàm – tức bán đảo Hồ Tây – hồ và sông lại giáp với nhau Đấy

là cửa sông ra Cửa bị đất cát sông xói lở bồi đắp Hồ Tây vỡ vậy mà được hỡnh thành

Hồ xưa kia rộng từ tây qua bắc sang đông, người Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội qua thời gian đó ngăn đắp và lấp thành từng đoạn thành hồ Cổ Ngựa (ở vào quóng Hàng Than, bị lấp thời Phỏp thuộc), hồ Trỳc Bạch, Hồ Tõy

Như vậy, đặc điểm nổi bật của Hồ Tây là địa hỡnh sụng nước, Hồ Tây nằm trọn trong một tam giác mà ba cạnh là ba con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Thiên Phù Ba con sông này gắn bó với Hồ Tây không chỉ ở điều kiện tự nhiên mà trong suốt lịch sử hỡnh thành, tồn tại đó cú những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế sản xuất, văn hóa của cư dân vùng Hồ Tây Yếu tố nước chính là yếu tố chính chi phối hoạt động của các ngành nghề thủ công truyền thống nơi đây Nói một cách hơi cực đoan là nếu không có yếu tố nước (Hồ Tây) thỡ sẽ khụng cú nghề giấy, khụng cú trồng dõu nuụi tằm cũng như đúc đồng Ngũ Xó

Xin nói thêm về các con sông xung quanh Hồ Tây Trước hết là sông Hồng Sông Hồng đoạn chảy qua khu vực Hồ Tây thuộc địa phận các làng Nhật Tân, Quảng Bá,

Trang 24

Tây Hồ, Nghi Tàm, Yên Phụ Đê sông Hồng được đắp từ năm 1108, đoạn từ Nghi Tàm đến Thanh Trỡ cú tờn là Cơ Xá Hồ Tây cũng chính là một khúc của sông Hồng sau khi con sông này đổi dũng

Về sụng Tụ Lịch, sỏch Đại Nam nhất thống chí cú ghi:“Sông Tô ở phía đông thành Hà Nội là phân lưu của sông Nhị, chảy theo phía Bắc tỉnh thành vào cửa cống thôn Hương Bài, chuyển sang phía Tây đến xó Nghĩa Đô ở phía Đông huyện Từ Liêm

và các tổng huyện thuộc huyện Thanh Trỡ, quanh co gần 60 dặm, rồi đổ sang sông Nhuệ” {55; tr 186} Năm 1889, thực dân Pháp đó lấp nhỏnh sụng Tụ từ chỗ cửa sụng

Hồng (Hà Khẩu) qua Hàng Cỏ, Hàng Lược tới Thụy Khuê lập ra các phố Nguyễn Siêu, Ngừ Gạch, Hàng Cỏ, Hàng Lược chỉ cũn lại nhỏnh từ đầu phố Thụy Khuê lên chợ Bưởi, rẽ xuống phía Nam qua Cầu Giấy, Láng, Ngó Tư Sở, Đại Kim, Thanh Liệt rồi đổ vào sông Nhuệ Sông Tô Lịch là một sông cổ của Thăng Long Xưa kia, hai bên

bờ sông buôn bán sầm uất, khách buôn từ Bắc có thể theo sông Hồng qua cửa Hà Khẩu vào sông Tô; từ phía Nam ra cũng có thể theo sông Đáy, sông Nhuệ vào kinh thành bằng sụng Tụ

Sụng Thiờn Phự là một nhỏnh của sụng Hồng, tỏch ra vào quóng Phỳ Xỏ, chảy xuụi theo đường Lạc Long Quân, rồi sông chảy qua cánh đồng làng Cáo, đến cánh đồng Xuân La thỡ một nhỏnh chảy về phớa tõy nối với sụng Nhuệ; một nhỏnh chảy tiếp qua Bái Ân đến Bưởi thỡ nối với sụng Tụ (tấm bản đồ Thăng Long thế kỷ XV cũn ghi lại rất rừ) tạo nờn một ngó ba sụng nước mà theo dân gian thỡ nước xói lở vào thành nhà Lý khiến vua bị đau mắt Theo lời thần mộng, ông bà Dầu đó nhảy xuống sụng để hiến linh thần, làm cho góc thành không bị nước cuốn xói lở, giúp vua khỏi đau mắt Vua nhớ ơn, phong thần và sai lập miếu thờ Hiện nay các làng Yên Thái, Bái

Ân, Xuân Đỉnh đều có đỡnh, miếu thờ phụng Cũng núi về con sụng này, trong Tõy Hồ chớ mục sụng nỳi cũng vẫn thấy ghi tờn dũng sụng này: “Sông Già La cũng là nhánh của sông Nhị Xưa thuộc động Già La nên có tên như vậy Động này nay là ấp Quán

La Triều Lý gọi là sụng Thiờn Phự Triều Trần đổi là Thiên Hán” {30; tr 243} Sông

Thiên Phù cạn dần, đến khoảng cuối thế kỷ XVIII, sông cạn trở thành ruộng cấp cho dân cày cấy và được nhà nước công nhận Đôi câu đối ở chùa Thiên Niên, làng Trích Sài dựng từ thời vua Lê Thánh Tông bên Hồ Tây cũng là một bằng chứng về sự hiện diện của dũng sụng ấy

Trang 25

Trang cảnh hương truyền lóng bạc tõy”

(Dịch là: Tiếng mừ nơi đỡnh Sài cũn vang vọng sụng Thiờn Phự bờn phải

Hương thơm trang Thiên Niờn vang khắp hồ Lóng Bạc phớa tõy)

Ngoài ra, dù không nằm trong tam giác nước thuộc Hồ Tây nhưng sông Kim Ngưu cũng có những mối liên hệ mật thiết với Hồ Tây cả về tự nhiên và lịch sử Sông

Kim Ngưu là một nhánh của sông Tô Sách Đại Nam nhất thống chí cú chộp: “ ở

phớa Bắc huyện Thanh Trỡ, xưa thông với Hồ Tây, sau bị bồi lấp dần”{55; tr 189}

Theo truyền thuyết, lịch sử hỡnh thành sụng Kim Ngưu cũng gắn với Hồ Tây Một

trong những truyền thuyết minh chứng điều này chính là truyền thuyết Khổng lồ đúc chuông

Đặc điểm nổi bật của khu vực Hồ Tây là diện tích mặt nước khá lớn Nằm ở giữa khu vực là Hồ Tây và hồ Trúc Bạch, phía Đông và Đông Bắc là sông Hồng, ngoài ra cũn cú nhiều ao, đầm, hồ phân bố rộng khắp trong vùng Với diện tích trên 500 ha, Hồ Tây là hồ lớn nhất không chỉ đối với khu vực nghiên cứu mà cũn lớn nhất đối với toàn

bộ nội ngoại thành Hà Nội Sau đó là hồ Trúc Bạch (gần 30 ha), như một bộ phận cấu thành cảnh quan hồ trong khu vực

Ngoài Hồ Tây và hồ Trúc Bạch, hệ thống ao, đầm, hồ ở khu vực ngoài đê và các khu vực Phú Thượng, Xuân La được hỡnh thành theo cỏc nguyờn nhõn khỏc nhau như: khu vực ngoài đê do các quá trỡnh tự nhiờn, số cũn lại do hoạt động của con người Khu vực Hồ Tây mà luận văn nghiên cứu có thời gian cách ngày nay gần một thế kỷ trở về trước nên hệ thống sông ngũi, đầm hồ cũn khỏ dày đặc Ngày nay, các hồ này đó bị lấp đi nhiều để xây dựng nhà ở, khách sạn và nhà hàng phục vụ cho cuộc sống và nhu cầu kinh doanh của nhân dân vùng Hồ Tây

Một điều đáng chú ý là hàng năm, hoạt động bồi tụ, xói lở của sông Hồng có tác động mạnh tới việc khai thác và mở rộng đất đai khu vực ngoài đê Những năm nước

lũ lên cao tràn ngập khu vực ngoài đê Hai quá trỡnh xúi lở, bồi tụ và ngập lụt cú ảnh hưởng nhiều tới đời sống lao động sản xuất của nhân dân trong vùng

Hệ thống sông hồ dày đặc ở vùng Hồ Tây có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đời sống sản xuất Ngoài các bến sông Hồng thỡ cỏc bến ven hai bờn bờ sụng Tụ Lịch cũng cú một ý nghĩa quan trọng Nhiều bến đồng thời cũng là các chợ, chúng ta

Trang 26

thấy có rất nhiều chợ được thiết lập ở hai bên con sông này như chợ Gạo, chợ Hàng

Cá, chợ Cầu Đông, chợ Bạch Mó Thuyền bố ngược xuôi sông Hồng khi ghé vào Thăng Long - Kẻ Chợ, thường rẽ vào cửa sông Tô Lịch, dỡ một phần hàng hóa lên các bến để mua bán Có những thuyền kho lưu trú lại, đó theo dũng Tụ Lịch vào tận sõu cỏc phố phường Thuyền bè từ sụng Hồng và sụng Tụ cũn vào tận cả đến Hồ Tây Thuyền bè đậu chen chúc ở các phường ven hồ như Nhật Chiêu, Tây Hồ

Trong kết cấu kinh tế của Thăng Long - Kẻ Chợ nói chung và vùng ven Hồ Tây nói riêng thỡ hệ thống sụng bến đó giữ một chức năng hết sức đặc biệt Đó là những mạch máu giao thông không thể thiếu, những địa điểm tập kết thuyền bè và trung chuyển hàng hóa Nửa sau thế kỷ XVII, ngoại thương phát triển, cảng Kẻ Chợ đó là một đầu mối giao thông quan trọng cho các thuyền bè qua lại với phố Hiến, rồi từ đó

Vùng đất Hồ Tây được khai phá từ rất sớm Đây quả thực là một vùng đất cổ

Một loạt các thư tịch cổ và các tài liệu khảo cổ học đó chứng minh điều này Theo Dư địa chí của Nguyễn Trói viết năm 1435, đầu thế kỷ XV, khu vực xung quanh Hồ Tây

đó là một vựng đất trù phú, với nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng, nhiều sản vật

tiêu biểu như: “ phường Yên Thái làm giấy, phường Nghi Tàm và phường Thụy Chương dệt vải nhỏ và lụa Tây Hồ có cá to Tây Hồ tức là hồ Dâm Đàm xưa: nhà

Lý, nhà Trần lập hành cung ở đấy để xem cá ” Xung quanh khu vực Hồ Tõy là một

hệ thống các di tích lịch sử được phân bố với mật độ dày đặc, có nhiều di tích có lịch

sử lâu đời như chùa Khai Quốc có từ thời tiền Lý Nam Đế Sách Tõy Hồ chớ cú chộp

“ chùa đặt tên là Khai Quốc do đời tiền Lý Nam Đế nhân chựa cũ Yờn Trỡ mà xõy dựng lại {30; tr 105} Chùa trước ở ngoài đê, sau vỡ đê vỡ, dân làng mới dời về

Trang 27

dựng chùa ở phía bắc Hồ Tây, nay là chùa Trấn Quốc Ngoài ra cũn một loạt cỏc ngụi chựa nổi tiếng khỏc như: Chùa Chân Giáo, đền thờ Đồng Cổ, miếu thờ thần Cẩu Mẫu, miếu thờ thần Cẩu Nhi, chựa Hoằng Ân, chựa Bỏo Ân, chựa Kim Liờn, chựa Tào Sỏch, chựa Phổ Linh

Thăng Long từ lâu đó trở thành nơi hội tụ của nhân tài bốn phương khiến cho nơi

đây trở thành Thăng Long tứ chiếng Với nhà Lý (thế kỷ XI), dõn tài xứ Bắc tập trung

về đây Rồi đến nhà Trần, tuy phát tích từ miền biển phía Nam nhưng sau khi vương triều được thiết lập, dân tài xứ Nam cũng lũ lượt kéo về đua nghề; kế đó là nhà Lê, rồi

Lê - Trịnh, đây là nơi tụ cư của dân Thang Mộc đất Thanh Nghệ; nhà Mạc lên nắm quyền thế kỷ XVI cũng tạo điều kiện cho dân tài xứ Đông được thêm phần thuận lợi

mở mang nghề nghiệp đua tài chốn kinh thành Nhỡn chung, những người được gọi là thợ này có thể là những người đi theo một người trong dũng họ ở làng mỡnh ra kinh

đô ở vỡ cú cụng tớch, đi làm quan hay đi học như dân Thập tam trại, dân Nhược Công hoặc cũng có thể là những người phải đi ra hành nghề theo lệnh của triều đỡnh như dân Đông Các, Ngũ Xó Nhưng chiếm số đông có lẽ vẫn là những người vỡ mưu sinh mà tỡm đến như phần lớn dân ở các phố phường, thôn, trại Thăng Long - Hà Nội như sách

Thượng kinh ký sự có đoạn chép “ Mọi người đua nhau dồn về ở quanh kinh đô, cố nhanh chân rảo bước mà đến như tranh nhau đến thành nước Yên ngày xưa vậy” {54;

tr 61}

Nằm ngay sát cạnh một Thăng Long đô hội, Hồ Tây có một thị trường để cung cấp các sản phẩm thủ công nghiệp phong phú, đa dạng của mỡnh Hay núi một cỏch khác sự tương tác về mặt tiêu thụ sản phẩm thủ công nghiệp với đô thị Thăng Long là một yếu tố quan trọng kích thích sự phát triển của các ngành nghề thủ công nghiệp ven

Hồ Tây Chẳng hạn như nghề làm giấy, chúng ta đều hiểu rằng hơn ở đâu hết, kinh đô

là nơi có nhu cầu lớn nhất về loại sản phẩm này Chính vỡ thế mà khụng ở đâu các sản phẩm giấy lại phong phú và đa dạng như ở nơi đây, từ những loại giấy bỡnh dõn (giấy

Xề, giấy Moi ) cho đến những loại giấy cao cấp như giấy Nghè, giấy Sắc, giấy Lệnh Ở đây, không những cung cấp nhu cầu về giấy cho các hoạt động học hành, giáo dục, thi cử mà cũn phục vụ cho nhu cầu viết chiếu, sắc, lệnh của Nhà nước phong kiến Hoặc như nghề đúc đồng ở Ngũ Xó cũng được hỡnh thành do nhu cầu đúc tiền, đúc tượng và những đồ thờ khác phục vụ nhu cầu của triều đỡnh phong kiến lỳc bấy

Trang 28

giờ Do đó, triều đỡnh phong kiến đó triệu tập những người thợ giỏi của các làng nghề thủ công đến đây để phục vụ tại chỗ cho những nhu cầu trên

Đặc trưng lớn nhất của kinh tế Thăng Long - Hà Nội không phải là yếu tố nông nghiệp mà là thương nghiệp và thủ công nghiệp Chất “thị” của Thăng Long - Hà Nội xưa được thể hiện qua một hệ thống chợ đa dạng và phong phú Đây là thị trường rộng lớn cho đầu ra những sản phẩm của các nghề thủ công nghiệp ven Hồ Tây nói riêng và

cả vùng Thăng Long - Hà Nội cũng như rộng hơn là vùng Bắc Bộ

Nói đến không gian lao động sản xuất vùng Hồ Tây không thể không nhắc đến

hệ thống chợ - nơi thể hiện rừ nhất thành quả lao động sản xuất của những người thợ tài hoa:

Vui nhất là chợ Đồng Xuân Thứ gỡ cũng cú xa gần bỏn mua

Hay:

Bán mít chợ Đông, bán hồng chợ Tây Bán mây chợ Huyện, bán quyến chợ Đào

Chợ Đông tức là chợ Cầu Đông, ngày nay là khu vực ngó tư phố Hàng Đường và Ngừ Gạch Chợ Tõy cú người cho rằng đó là khu vực bến xe ô tô Kim Mó trước kia Chợ Huyện ở vào khu vực Nhà thờ lớn bây giờ và chợ Đào là phố Hàng Đào phía bắc

hồ Hoàn Kiếm

Cũng có khi đó chính là chợ vùng làng nghề như chợ Bưởi:

Chợ Bưởi một tháng sáu phiên Ngày tư tháng chín như duyên đèo bũng

Chợ Bưởi nằm bên chốn hợp lưu giữa hai con sông tự nhiên là sông Tô Lịch và Thiên Phù nên thuận lợi trong việc giao lưu buôn bán trên bến dưới thuyền Chợ lại nằm kề vũng tường thành bao quanh kinh đô Thăng Long nên dân cư tập trung qua lại khá đông đúc Chợ Bưởi từ xưa đó là nơi buôn bán hàng hóa của dân các làng nghề trong vùng Theo các thư tịch cũ cũn lại, chợ Bưởi từng có tới 15 gian hàng buôn bán các loại giấy do dân các làng nghề Kẻ Bưởi làm ra Đó là giấy bản của làng Yên Thái,

Trang 29

giấy moi của làng Hồ Khẩu, giấy quỳ của làng Đông Xó, giấy xề của làng Yờn Hũa Ở chợ Bưởi cũn cú cỏc hàng nụng cụ phục vụ cho bà con nụng dõn cỏc vựng xung quanh Chợ cũn là nơi buôn bán các loại hàng hóa do dân trong vùng sản xuất như mạch nha An Phú, bánh kẹo Xuân Đỉnh, cốm Vũng (Dịch Vọng)

Ngoài những chợ nằm trong nội thành Thăng Long, bao quanh khu vực Hồ Tây cũn cú một hệ thống cỏc chợ lõn cận Mỗi vựng hầu như đều có các chợ địa phương: Chợ Keo (làng Giao Tất, Gia Lâm), chợ Trôi (Hoài Đức), chợ Vừng Nội, chợ Triệu, chợ Cốc (Phỳc Thọ) Xa hơn nữa là chợ Nghệ, chợ Mía (Sơn Tây), chợ Phùng (Đan Phượng), chợ Nủa (Thạch Thất) Đây chính là một thị trường tiêu thụ rộng lớn cho những sản phẩm thủ cụng nghiệp của khụng chỉ riờng vựng Hồ Tõy mà cũn của cả Thăng Long - Hà Nội xưa

Như trên chúng ta đó núi, vị trớ đắc địa của Hồ Tây, nằm cạnh đô thành, là nơi hợp lưu giữa những con sông lớn nên nơi đây có điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu buôn bán trên bến dưới thuyền Khu vực Hồ Tây là đầu mối của các luồng giao thông đường thủy Hệ thống sông Tô Lịch - Kim Ngưu, trong nhiều thế kỷ vẫn ăn thông với sông Hồng và Hồ Tây, có tác dụng vừa là một hào lũy thiên nhiên phũng ngự trực tiếp, vừa là một hệ thống giao thụng nội thị hữu hiệu Giỏo sĩ Richard cú ghi

chộp về sụng Hồng thời Lờ - Trịnh như sau: “Số lượng thuyền bè rất lớn đến nỗi khó

mà lội xuống bờ sông Những sông bến buôn bán sầm uất của chúng ta, kể cả Vơnidơ với tất cả những thuyền lớn nhỏ của nó cũng không thể làm người ta hỡnh dung được đúng sự hoạt động buôn bán và dân cư đông đúc trên sông Kẻ Chợ {62; tr 47}

Nói đến các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống ở Hồ Tây ngoài yếu tố thị trường chúng ta không thể không nhắc tới yếu tố sự cạnh tranh mạnh mẽ của một hệ thống “phố nghề” thủ công ngay tại kinh đô và các làng nghề truyền thống vùng phụ cận Các “phố nghề” này, các làng nghề thủ công ở các vùng phụ cận này cùng với các làng nghề truyền thống ở Hồ Tây đó tạo nờn một khụng gian lao động sản xuất thủ công nghiệp sôi động, cực kỳ phát triển ở Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội suốt thời phong kiến

Thăng Long - Hà Nội là nơi hội tụ tinh hoa của bốn phương, rồi cũng chính nơi đây nét tài hoa ấy lại được lan tỏa khắp trăm vùng Như vậy, thị trường nơi đây tự thân

nó đó tạo nờn quỏ trỡnh hội tụ, chọn lọc, đào thải và thăng hoa Nhân tài khắp nước nô

Trang 30

nức kéo nhau về kinh thành những mong tỡm được nơi “dụng vừ” Song tớnh gay gắt của sự cạnh tranh nơi đô hội cùng với thị hiếu tinh xảo của người Tràng An khiến những “thợ vụng”, “thợ vườn” không thể đáp ứng được Chỉ có những bàn tay tài hoa

và khối óc tinh tế mới trụ lại được mảnh đất này và tiếp tục sáng tạo, phát triển Bên cạnh các làng nghề thủ công truyền thống vùng Hồ Tây, Thăng Long - Hà Nội cũn tập trung cỏc nghề khỏc như: nghề đúc bạc, kim ngân ở phố Hàng Bạc có “gốc” ở ba làng nghề nổi tiếng là Trâu Khê (Hải Dương), Đồng Sâm (Thái Bỡnh) và Định Công (Thanh Trỡ, Hà Nội ngày nay); nghề nhuộm điều ở phố Hàng Đào phát tích từ làng Đan Loan (Hải Dương), phố Hàng Đồng là sự góp mặt tranh tài của các thợ Ngũ Xó (ven Hồ Tõy), của làng Đại Bái (Gia Lương, Hà Bắc) với nghề gũ đồng tinh xảo

Ngoài ra, cỏc vựng phụ cận quanh kinh thành cũng thật phong phú với các làng nghề truyền thống như:

The La, lĩnh Bưởi, chồi Bùng Lụa võn Vạn Phỳc, nhiễu vũng Mỗ bờn

Hệ thống các làng nghề ở đô thành và ở các vùng lân cận chính là một yếu tố kích thích sự phát triển của các làng nghề truyền thống ven Hồ Tây Bởi nếu sản phẩm làm ra không thực sự tinh xảo, không thực sự có chất lượng cao để đáp ứng được nhu cầu của thị trường thỡ đương nhiên sẽ không thể cạnh tranh tồn tại được Chính điều này buộc những người thợ nghề phải phát huy cao độ khả năng sáng tạo, sự tài hoa của mỡnh thỡ mới mong cú được chỗ đứng vững vàng nơi “phồn hoa thứ nhất” này

Từ xa xưa Hồ Tây và khu vực phụ cận đó là một miền nụng nghiệp trự phỳ bờn cạnh đô thành Ở đây, sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp kết hợp hài hũa với nhau Đặc điểm chung của các làng nghề ven Thăng Long vào lúc này là các hàng hóa được sản xuất tập trung và hàng loạt với một số lượng lớn hơn nhiều so với các cửa

Trang 31

hiệu nội thị Không gian lao động sản xuất ở đây có đặc trưng là luôn luôn gần các nguồn nước lớn (sông Hồng, sông Tô Lịch, Hồ Tây) có lẽ do nhu cầu chế biến cần sử dụng nhiều nước Có thể kể như: cụm làng dệt - nhuộm ven Hồ Tây – hồ Trúc Bạch; thôn đúc đồng Ngũ Xó bờn bờ hồ Trỳc Bạch; cụm cỏc làng làm giấy ở vựng Bưởi – Nghĩa Đô ven bờ Hồ Tây và sông Tô Lịch Một điều dễ nhận thấy là vùng Hồ Tây rất

có điều kiện (đất, nước, giao thông, lao động ) cho việc hỡnh thành và phỏt triển của

cỏc ngành nghề thủ cụng nghiệp

Các nghề thủ công truyền thống ở vùng Hồ Tây xưa thường được tổ chức sản xuất theo mô hỡnh cỏc làng nghề Ở vựng Hồ Tõy cú hai loại làng nghề truyền thống Loại thứ nhất là loại làng nghề truyền thống chỉ cú một nghề truyền thống duy nhất, tỏch hoàn toàn khỏi cỏc hoạt động khác chủ yếu gắn với hoạt động buôn bán Đó là làng nghề đúc đồng Ngũ Xó Loại thứ hai là loại làng nghề truyền thống bao gồm nhiều nghề thủ cụng truyền thống, cú nghề gắn với sản xuất nụng nghiệp, cú nghề tỏch khỏi sản xuất nụng nghiệp, tiờu biểu là những làng nghề thuộc vựng Bưởi Trong các làng nghề việc tổ chức sản xuất được tiến hành theo hỡnh thức hộ gia đỡnh, người lao động chủ yếu là các thành viên trong gia đỡnh, mọi thành viờn trong gia đỡnh đều tham gia Mỗi gia đỡnh là một tổ chức sản xuất riờng Người đàn ông thường đảm nhận những công việc nặng nhọc đũi hỏi sức lực nhiều, cũn phụ nữ thường đảm nhận những công việc mang tính chất khéo léo, kiên nhẫn

2.1.2 Một số hoạt động lao động sản xuất của người dân vùng Hồ Tây xưa

a) Nghề dệt

Vựng Hồ Tõy ngày nay vẫn cũn lưu giữ rất nhiều những truyền thuyết về các vị

tổ nghề Công chúa Quỳnh Hoa ra đây lập cung Thúy Hoa (sau này là chùa Kim Liên)

để giúp nhân dân nghề nuôi tằm dệt vải Do đó, khi bà chết, nhân dân suy tôn bà trở thành thành hoàng làng của thôn Nghi Tàm Có khoảng gần sáu chục nơi thờ bà, Nghi Tàm là nơi bà mất

Nếu như Quỳnh Hoa được nhân dân suy tôn là tổ sư nghề tằm tang thỡ bà chỳa Thiờn Niờn lại được người đời suy tôn làm Bà chúa dệt lĩnh Bà Phan Thị Ngọc Đô vốn là tỡ thiếp cũ của vua Chiờm, nhõn khi vua Lờ Thỏnh Tông đi đánh Chiêm Thành thắng trận được vua Chiêm hiến cho gái đẹp, đó chính là bà Phan Thị Ngọc Đô Vua ban cho bà về ở Trích Sài cùng với 24 thị tỡ mang từ Chiờm Thành sang Trong thời

Trang 32

gian ở đây, bà đó đem nghề dệt lĩnh ở Chiêm Thành truyền cho nhân dõn trong vựng Đây là một trong những sự kiện chứng tỏ Thăng Long- Hồ Tây là nơi hội tụ những nền văn hóa độc đáo Từ đó, nhân dân làng Trích Sài chuyển sang nghề dệt lĩnh (trước

đó họ làm nghề bán củi đúng như tên gọi Trích Sài) Và lĩnh Bưởi bao gồm vùng Bái

Ân, Nghĩa Đô, Trích Sài đó nổi tiếng một thời trong lịch sử Để nhớ công ơn bà, nhân dân Trích Sài đó lập miếu thờ Chựa Trớch Sài cũng làm trờn đất của bà chúa nên gọi

là chùa Thiên Niên Ngày mồng năm tháng giêng âm lịch hàng năm, nhân dân tổ chức

lễ tế bà Khi tế người ta đọc bài Chầu văn, trong đó có đoạn nói về công lao truyền

nghề của bà như sau:

Nhờ đức thiên tôn dạy nết cửi canh Chân giày, tay dệt đó nhanh

Văn chương có chữ rành rành bởi ai?

Việc cung chức thiên tài đủ vẻ Dạy nữ cụng vốn nghệ cho tường Quay tơ lụa chỉ nhiều đường Dọc theo dậm mắt, dệt ngang cú mành Đến sợi gốc phải dành một ống

Mốt đó to để dụng gàng biên

Tuy là bài hát nghi lễ ghi công tích, song bài chầu văn này lại đó cú những thụng tin cú giỏ trị về “cụng nghệ dệt” thời xưa, theo đó, người ta có thể dựng lại quy trỡnh dệt, hiểu được các từ ngữ chuyên môn…Nói khác đi, một tác phẩm văn học- nghi lễ cũn cú giỏ trị nhận thức

Lại cú truyền thuyết về Bà chỳa dệt vải ở đời Lý Huệ Tông Bà là cụng chỳa Thụ

La, vốn quờ ở Ái Châu (Thanh Hóa), theo gia đỡnh ra Thăng Long làm nghề dệt lụa vào dầu thế kỷ XIII

Tập trung quanh Hồ Tõy và hồ Trỳc Bạch là cỏc nghề dệt – nhuộm Thế kỷ XV,

Nguyễn Trói ghi trong Dư địa chí: “Các phường Thụy Chương, Nghi Tàm, dệt vải nhỏ

và lụa” Lụa làng Trúc Bạch là một đặc sản nổi tiếng của Kẻ Chợ, từng đi vào ca dao:

Lụa làng Trỳc vừa thanh vừa búng

Trang 33

May ỏo chàng cựng súng ỏo em Chữ tỡnh sỏnh với chữ duyờn Xin đừng thay áo mà quên lời thề

Hỡi cô thắt bao lưng xanh

Có về kẻ Bưởi với anh thỡ về 1

Làng anh cú ruộng tứ bề

Cú hồ 2 tắm mát có nghề quay tơ Quay tơ ra mắc ra mành

Mắc thời mắc cửi cũn mành đan ngang Mốt son anh dệt đầu hàng

Mốt cục đem bán cho nàng kẻ Đơ

Thực ra, motip chàng trai mời gọi cụ gỏi thắt bao xanh về quờ mỡnh khỏ phổ biến trong ca dao, khụng riờng gỡ của một vựng nào Song điều quan trọng là không gian văn hóa Hồ Tây hội đủ những yếu tố để chàng trai nơi đây “núi cú sỏch, mỏch cú chứng” Trong bài ca dao, cảnh quan của một vùng quê trồng lúa và dệt lụa được nhấn mạnh đầy tự hào, nó cũng thể hiện một công thức đơn giản mà rất bản chất của văn hóa truyền thống: ăn và mặc Đáp ứng nhu cầu ăn và mặc, con người Hồ Tây bằng sức lực, trí tuệ và tài năng đó cải tạo cảnh quan tự nhiên, đó chiếm lĩnh những kỹ thuật dệt tiờn tiến thời bấy giờ Bài ca dao cũng cho ta biết thêm, một vùng đất trù phú, đáng để chàng trai “khoe” và đủ sức hấp dẫn một cụ gỏi khụng thể chỉ thuần nụng mà phải cú

(1) Kẻ Bưởi: chỉ chung mấy xó Tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận trước đây gồm những làng Hồ Khẩu, Yên Thái, Trích Sài, Bái Ân cũ Bưởi xưa có hai nghề dệt lĩnh và làm giấy

(2) Hồ ở đây là Hồ Tõy

Trang 34

thờm nghề phụ - trong trường hợp cụ thể này là nghề dệt NGhề dệt đó õm thầm núi lờn niềm tự hào của người dân vùng Hồ

Chạy dọc theo bờ sông Hồng và bao quanh Hồ Tây xưa là một vùng đất bói màu

mỡ, trự phỳ rất thớch hợp với nghề trồng dõu nuụi tằm Một số phường thôn chuyên trồng dâu nuôi tằm như làng Nghi Tàm, làng Dâu thuộc xó Nghĩa Đô ở phía bắc Gần khu vực đó cũn cú cỏc làng Thanh Trỡ và Thỳy Ái ở phớa nam Suốt thời kỳ phong kiến nghề dệt ở vựng Hồ Tõy đó chuyờn cung cấp, phục vụ việc ăn mặc của triều đỡnh

và dõn chỳng kinh thành Nghề dệt ở vùng Bưởi nói riêng và Thăng Long nói chung phát triển thịnh đạt nhất là vào những thế kỷ XVI – XVII Nghi Tàm và Thụy Khuê trên bờ Hồ Tây từ lâu đó nổi tiếng về cụng nghệ dệt lụa tơ nừn Về quy trỡnh sản xuất nhỡn chung cú năm công đoạn: quay tơ, mắc cửi, làm hồ, đánh suốt và dệt Nhân dân

kẻ Bưởi xưa vẫn cũn truyền tụng rộng rói kinh nghiệm dệt lụa qua cõu ca dao:

Hồ trơ ngang nhỏ dệt đan Thõn mỡnh cũng sướng như quan phủ Hoài

Hồ to ngang sẵn dệt dày Cầm bằng cha mẹ bắt đày biển Đông

Trong mấy câu ca dao, người dệt lụa đưa ra cái nhỡn đầy kinh nghiệm và cả xúc cảm về công việc dệt Yếu tố con người thấp thoáng qua vài câu ca đơn sơ

Nói về sản phẩm dệt lụa ở kẻ Bưởi, có một số câu thành ngữ, tục ngữ quen thuộc như:

- Lĩnh Sài nhiễu Giấy

- Lĩnh Bưởi, lụa Nga, là Sốm 1

- Nhất hồ nhỡ hoa thứ ba dệt

- Nộo thẳng tay là thày khụn khộo

- Lĩnh tốt xem biên người hiền xem mặt

- The La lĩnh Bưởi chồi Bùng

Trang 35

- Phỏo Bỡnh Đà, lĩnh Bưởi, lụa La, thêu hoa Ngũ Xó

Hồ Tây xưa kia nước rất sâu, giặt lụa rất tốt nờn dõn Tõy Hồ chuyờn làm nghề này Hiện nay giỏp thụn Tõy Hồ và Quảng Bỏ cũn cú khu hồ gọi là hồ giặt lụa

Sang thời Nguyễn, đặc biệt là dưới thời Pháp, nghề chuội lụa không cũn Dõn Tõy Hồ chuyển sang nghề se chỉ, nhuộm chỉ đi bán (kèm theo cả kim) Họ thường dùng bị cói để đeo hàng kể cả nghề chuội lụa và bán kim và phần lớn đều do phụ nữ hành nghề Con gái làng Tây Hồ xưa kia có nghề đi bán hàng xén Do đó, mà có câu tục ngữ:

Ba tiền bỏ bị là chị Tõy Hồ

Hoặc:

Làm người thỡ phải cú ý Những người mang bị là chị Tây Hồ

Ca dao cũng cú cõu:

- Tụi là con gỏi Tõy Hồ Bỏn kim bỏn chỉ những nghề vỏ may Hựng hoàng bồ kết trong tay

Phẩm lam phẩm tớm cho hay mọi nghề

- Kim thằng quỉ, chỉ Tõy Hồ

Ai yờu thỡ lấy chẳng vồ lấy ai

Tương truyền những cô gái Tây Hồ làm nghề bán kim chỉ thường dùng câu này vừa là để giới thiệu mặt hàng, vừa để đùa cợt và chống lại những lời trêu ghẹo

Đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự xâm nhập của các hàng vải, tơ, lụa dệt bằng máy, nghề dệt thủ công nói chung và dệt lĩnh nói riêng ngày càng tàn lụi dần, một vài cải tiến lẻ tẻ về máy móc và kỹ thuật dệt thủ công không lấn át được hàng ngoại, giá cả vừa rẻ, mẫu mó lại đa dạng Nghề dệt lụa mai một dần The La, lĩnh Bưởi nổi tiếng ở kinh thành Thăng Long xưa giờ không cũn nữa nhưng vẫn cũn lưu mói trong ca dao, tục ngữ, thơ văn, trong lịch sử các nghề thủ công truyền thống ở nước ta Và những

Trang 36

câu ca điệu hũ luụn thấm đượm yếu tố cảm xúc, trí tuệ, phảng phất bóng dáng những con người, nhất là những chàng trai, cô gái Hồ Tây trong tiến trỡnh lịch sử

tư cách là một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả nước nên nhu cầu về giấy không ngừng tăng lên, giấy dùng trong các công việc hành chính giấy tờ - quan liêu, buôn bán đóng gói hàng hóa, viết các bằng sắc ở đỡnh chựa, gia phả trong gia đỡnh, đặc biệt trong việc viết, in sách cổ trong giáo dục - khoa cử Thế kỷ XV, ở Thăng

Long đó cú những phường chuyên làm giấy Trong Dư địa chí, khi nói về Thượng

Kinh, Nguyễn Trói đó viết: “Phường Yên Thái (vùng Bưởi ngày nay) làm giấy” {40; tr 43} Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên cũng chép năm 1598, triều đỡnh “hạ lệnh cho huyện Quảng Đức mở cục làm thứ giấy đạo phong kiểu mới để nộp quan không được bán riêng” {35; tr 221}

Ở Thăng Long - Kẻ Chợ, nghề làm giấy chủ yếu vẫn là nghề thủ công nghiệp dân gian Triều đỡnh chỉ kiểm soỏt và can thiệp trong cỏc khõu gia cụng, trưng mua cũng như thu thuế thổ sản

Theo truyền thuyết thỡ ụng tổ của nghề giấy là Thỏi Luõn người Trung Quốc Ông dạy nghề làm giấy đầu tiên cho làng Yên Hũa, từ đó làng này có tên là làng Giấy Sau đó ông tới làng Hồ Khẩu, rồi chuyển sang làng Đông, làng Thọ (tức làng Đông Xó

và Yờn Thỏi), cuối cựng ụng sang Nghĩa Đô Yên Hũa làm giấy thụ, Hồ Khẩu làm giấy moi hạng tốt, Đông Xó làm giấy quỡ, Yờn Thỏi làm giấy lệnh Sau khi sang Nghĩa Đô ông gặp người họ Lại, truyền cho nghề làm giấy sắc Loại giấy này sử dụng nguyên liệu tốt khổ lớn, khi làm xong lại phải “nghè” tức là dùng vồ đập vào giấy đặt trên đá cho mặt giấy được mịn và bền chắc Do đó, làng này có tên Nôm là làng Nghè Truyền thuyết này phản ánh kỹ thuật khác nhau giữa các làng nằm trên bờ sông Tô Lịch từ góc tây nam Hồ Tây đến vùng ô Cầu Giấy hiện nay nên có thể cho rằng truyền

Trang 37

thuật này Truyền thuyết cũn ghi lại sự phõn cụng khỏ rành rọt giữa cỏc thụn, xó cựng học chung một tổ nghề Hàng năm, cứ đến ngày 16 tháng 3 âm lịch, những làng làm giấy lại cùng tổ chức cúng vị tổ sư chung

Nghề làm giấy xuất hiện ở nước ta từ khá sớm “Cỏch chỳng ta hai nghỡn năm về trước, người Trung Hoa đó phỏt minh ra giấy từ vỏ cõy cú xơ gọi là “Ma chỉ”, từ vải

từ, lưới đánh cá cũ gọi là “Vừng chỉ”, và từ vỏ cõy dú làm ra thỡ gọi là “Cốc chỉ” Người Việt đó sớm tiếp thu thành tựu đó của người Trung Hoa nên chỉ ít lâu sau ở nước ta đó sản xuất ra được một loại giấy đặc biệt khiến người Trung Quốc phải ngạc nhiờn khõm phục” {9; tr 129} Đó là “một loại giấy trầm hương màu trắng rất thơm và bền, gặp nước không bị rữa nát” {9; tr 130}

Nghề làm giấy đó đi vào ca dao một cách sinh động:

- Bóng đèn là bóng đèn hoa

Ai về vùng Bưởi với ta thỡ về Vựng Bưởi có lịch có lề

Cú sụng tắm mỏt cú nghề seo can

Từ xưa nhân dân ta đó biết dựng vỏ cõy dú để làm giấy Nguyên liệu được vận chuyển từ các vùng rừng núi phía bắc như Phú Thọ, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang chủ yếu bằng đường thủy về tập kết ở vùng Hồ Tây Vỏ dó tươi phải ngâm trong nước nên công việc ngâm dó, nấu cách thủy vỏ dó thường làm ở địa điểm ven sông Dân làng Yên Thái đặt vạc nấu dó trên một lũ lớn ven sụng Tụ Lịch và ở ngay quóng sụng làm địa điểm ngâm dó đó có một giếng sâu trên bờ nước trong xanh nổi tiếng đó được

ca dao ghi lại:

Ai ơi đứng lại mà trông Kỡa vạc nấu dú kỡa sụng dói bỡa Kỡa giếng Yờn Thỏi như kia Giếng sau chín trượng nước thỡ trong xanh

Quang cảnh lao động sản xuất đông vui, tấp nập như một công trường

Nghề làm giấy thu hỳt sức lao động của nhiều người ở mọi lứa tuổi, lớn, bé, già, trẻ, trai, gái đều có khả năng tham gia sản xuất tùy theo sức khỏe và năng lực lao động

Trang 38

Trai tráng thỡ làm hàng, đàn bà con gỏi thỡ seo giấy, búc uốn, già thỡ lột giấy, can giấy, trẻ con thỡ nhặt lề Cũng như nhiều ngành nghề thủ công khác, nghề giấy ở đây lúc đầu được tiến hành gọn trong quy mô một hộ gia đỡnh, cú tàu seo (bể ngâm, tráng giấy ) nhỏ, việc nấu dó cũng tự nấu lấy bằng những thùng nhỏ Sau dần nghề được phát triển, mở rộng, nhiều hộ đó liờn kết với nhau gúp tiền mua và sử dụng chung một

số phương tiện như những cây ép uốn, cùng đào ao chung để tiện nước đặt bể seo lớn hơn

Nghề làm giấy không những thu hút được lao động trong vùng mà cũn tạo cụng

ăn việc làm cho các làng xó lõn cận Để phục vụ cho nghề giấy vùng Bưởi, các làng chung quanh chuyên làm thuê hoặc chuyên làm các công cụ khác như làng Vũng chuyờn làm liềm, làm thộp can giấy, làng Xuõn Đỉnh, Xuân La chuyên đan sọt, làm giá đói bỡa, làm bỡa và đạp bỡa thuờ Riờng việc ăn uống, rau quả thỡ do người làng Thụy cung cấp Có thể nói, các làng giấy phường Bưởi thịnh vượng đó thu hỳt khụng chỉ sức lao động của cộng đồng làng mỡnh mà cũn tạo cụng ăn việc làm cho lao động nhiều làng lân cận Làng giấy phường Bưởi trở thành một trung tâm lao động sản xuất

là vỡ thế

Có thể nói, để có được những tờ giấy trắng trẻo, mịn màng, thơm tho ấy những người thợ phải trải qua những công đoạn lao động vô cùng vất vả Bởi nghề làm giấy thủ công trước đây ở vùng Hồ Tây chủ yếu làm bằng sức người, bằng đôi tay trần của người thợ Quả thực, để có được những sản phẩm giấy nổi tiếng ấy là sự lao động cần

cù, vất vả của những người thợ yêu nghề Những câu ca chất chứa đầy tâm sự của những chàng trai cô gái làm giấy, một công việc nặng nhọc, cơ cực.

Tàu seo nước giá như đồng Tay đưa liềm giấy mà lũng nhớ ai Nhớ người tuổi ngoại đôi mươi

Da xanh mai mái miệng cười đưa duyên

“Gió nay rồi lại gió mai Đôi chân tê mỏi dó ơi vỡ mày”

hay:

Trang 39

“Seo đêm rồi lại seo ngày Đôi tay nhức buốt vỡ mày giấy ơi”

Công việc ở đây thường bắt đầu từ 4 giờ sáng với nam giới Tiếng chày gió dú từ cỏc cối gió bỡa vang lờn rồi tiếng thạng nước ỡ oạp, tiếng đũn kộo kộo tàu như sôi động lờn suốt xung quanh cỏc ao làng tạo thành những õm thanh rõm ran và rộn ró lũng người:

Tiếng chày gió dó trong sương Tiếng ai seo giấy để vương vấn lũng Cho người chắp bút chép kinh Đẹp vần thơ lại đẹp mỡnh đẹp ta

Ca dao xưa đó ca ngợi cỏi vui, cỏi đẹp của làng nghề này là thế Giấy là một sản phẩm có chức năng thỏa món nhu cầu văn hóa rất rừ ràng Đây không cũn là nhu cầu

ăn, mặc nữa mà là nhu cầu văn hóa tinh thần thuần túy Chép kinh tức là học hành,

“sôi kinh nấu sử” Chép thơ là sáng tạo, là ghi lại tiếng lũng của con người Nghề làm giấy quả là đặc sắc, là nét văn hóa riêng vùng không gian Hồ Tây

Đến 7 giờ sáng là xong công việc của nam giới, sau đó đến công việc seo giấy của nữ giới Công việc này cũng khó nhọc không kém gỡ cụng việc của nam giới Họ phải đứng đốn seo suốt từ sáng cho đến khuya mới được nghỉ Suốt ngày đứng tráng giấy ngâm tay trong nước nhớt Nóng đó vậy, rột thỡ tờ cứng đôi tay, sần sẹo, chai cứng, thâm đen lại bởi vết sẹo này chưa kịp lành thỡ lớp sẹo khỏc lại đè lên “Gái thâm tay, trai thâm đùi”, người dân địa phương đó đúc kết đặc điểm lao động của trai gái làng này là thế Đó là cái duyên nghề nghiệp đó để lại trên đôi tay nuột nà của người con gái:

Người ta buôn vạn bán ngàn Nghề em seo giấy cơ hàn lắm anh Núng thỡ ngồi ấp lũ nung

Rét ngâm trong nước giá băng lạnh lùng

Đó là lời than thở của những cô gái trong làng nghề Khụng phải nghề làm giấy khụng cực nhọc bằng làm ruộng Cô gái thoáng nghĩ đến nghề buôn bán, so sánh để

Trang 40

mà thấy mỡnh cực nhọc Những cõu ca này cú thể xuất hiện trong một hai thế kỷ trở lại đây, khi buôn bán đó trở nờn phổ biến ở Thăng Long và người sống bằng những nghề thủ công xưa đó phải suy nghĩ

Cỏc làng nghề làm giấy tập trung ở khu phớa tõy và phớa bắc kinh thành, ven dũng sụng Tụ Lịch và Hồ Tõy như Yên Hũa, Đông Xó, Hồ Khẩu, Yờn Thỏi, Nghĩa Đô Ở khu vực Bưởi làm giấy có các làng Yên Thái, Đông Xó, Hồ Khẩu, Yên Quyết, Nghĩa Đô tập trung nhiều nhất và có quy mô, thời gian thịnh vượng lâu hơn cả là làng Yên Thái, cho nên “nhịp chày Yên Thái” từ lâu đó là tượng trưng cho cả mấy làng Bưởi làm giấy Ngày xưa, dù chỉ đi qua ngoài các làng này, người ta đó dễ dàng nhận thấy được đây là một vùng làng nghề nhờ những âm thanh rộn ró ngày đêm của tiếng chày gió dú và khụng khớ tấp nập của bốn phương đổ về các chợ ngày của làng vào các 9 ngày chẵn chợ phiên trong tháng Có lẽ, không một người Việt Nam nào không

biết đến câu ca dao quen thuộc: “Gió đưa cành trúc la đà – Tiếng chuông Trấn Vừ canh gà Thọ Xương – Mịt mù khói tỏa ngàn sương – Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ” Câu ca dao này thực ra là của Dương Khuê Trong cuốn Tâm trạng Dương Lâm, Dương Khuê của Dương Thiệu Tống (cháu ba đời của Dương Lâm) có cho biết điểm này) Và mấy câu này cũng có một dị bản Huế tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương Nhưng điều quan trọng là không gian văn hóa đặc sắc (chựa, làng, nghề

làm giấy) cộng với cảnh trớ thiờn nhiờn riêng (sương mù- Dâm Đàm) đó gợi hứng cho nhà thơ say mê hát nói Dương Khuê, rồi cũng là nền để mấy câu này lan truyền đi thật

xa, nhanh chóng được dân gian hóa Truyền thống làm giấy cũng cũn được ghi lại trong một vài địa danh: Cầu Giấy (bắc qua sông Tô Lịch), làng Giấy (Yờn Hũa)

Nghề làm giấy được tập trung ở các làng ven sông Tô Lịch và Hồ Tây cũng có lý

do của nó Đó là một vùng đất thoáng rộng và có nguồn nước thật dồi dào trước hết là thuận lợi cho việc sản xuất, chế biến giấy đồng thời cũng thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên liệu từ các vùng miền núi trung du về Chúng ta đều biết nguyên liệu chủ yếu để làm giấy là vỏ cây dó, được chở từ các vùng núi Tuyên Quang xuôi theo dũng sụng Hồng về Thăng Long thời đó cũn cú lối ăn thông vào Hồ Tây Mặt khác, kỹ thuật làm giấy phải trải qua nhiều khâu chế tác cồng kềnh và phức tạp, đũi hỏi một hiện trường rộng và một nguồn nước xử lý rất lớn (đặc biệt trong khâu ngâm, rửa vỏ dó) mà vùng này có thể cung cấp Riêng làng Yên Thái (Bưởi) lại có ưu điểm hơn các

Ngày đăng: 23/03/2015, 17:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992)-bản in lại, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thuận Húa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thuận Húa
Năm: 1992
3. Bựi Hạnh Cẩn (2000), Thăng Long thi văn tuyển, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng Long thi văn tuyển
Tác giả: Bựi Hạnh Cẩn
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2000
4. Cục lưu trữ Quốc gia (2000), Lịch sử Hà Nội qua tài liệu lưu trữ (T1: Địa giới hành chính Hà Nội 1873 – 1954), Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hà Nội qua tài liệu lưu trữ" (T1: "Địa giới hành chính Hà Nội 1873 – 1954
Tác giả: Cục lưu trữ Quốc gia
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2000
5. Lý Khắc Cung (2000), Hà Nội văn hóa và phong tục, Nxb Thanh niờn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội văn hóa và phong tục
Tác giả: Lý Khắc Cung
Nhà XB: Nxb Thanh niờn
Năm: 2000
6. Danh nhõn Hà Nội (1976), Hội Văn nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhõn Hà Nội
Tác giả: Danh nhõn Hà Nội
Năm: 1976
8. Chu Xuõn Diờn (2005), Mấy vấn đề về văn hóa văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn hóa văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Chu Xuõn Diờn
Nhà XB: Nxb Văn nghệ TP HCM
Năm: 2005
9. Phan Đại Doón, Nguyễn Quang Ngọc (1988), Những bàn tay tài hoa của cha ụng, Nxb Giỏo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bàn tay tài hoa của cha ụng
Tác giả: Phan Đại Doón, Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Giỏo dục
Năm: 1988
10. Triều Dương, Tảo Trang, Chu Hà (1971), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội, Hội Văn nghệ Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội
Tác giả: Triều Dương, Tảo Trang, Chu Hà
Năm: 1971
12. Bùi Xuân Đính, Nguyễn Viết Chúc (đồng chủ biên) (2004). Cỏc làng khoa bảng Thăng Long, Hà Nội, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cỏc làng khoa bảng Thăng Long
Tác giả: Bùi Xuân Đính, Nguyễn Viết Chúc (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2004
13. Lê Quang Định (không đề năm xuất bản), Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Nxb Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
14. Trương Thị Hương Giang (2000), Nghề trồng đào ở Nhật Tân, Luận văn Đại học KHXH&NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề trồng đào ở Nhật Tân
Tác giả: Trương Thị Hương Giang
Năm: 2000
15. Phan Hồng Giang (Chủ biờn), (2005), Văn hóa phi vật thể ở Hà Nội, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phi vật thể ở Hà Nội
Tác giả: Phan Hồng Giang (Chủ biờn)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
16. Chu Hà, Trần Lê Văn, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Hữu Thu (1981), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội, Hội Văn nghệ Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội
Tác giả: Chu Hà, Trần Lê Văn, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Hữu Thu
Năm: 1981
17. Đoàn Thị Thu Hà, Phạm Thương Thương (2007), Đặc điểm kinh tế - xó hội khu vực Hồ Tõy và phụ cận (Đề tài cấp ĐHQG), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm kinh tế - xó hội khu vực Hồ Tõy và phụ cận
Tác giả: Đoàn Thị Thu Hà, Phạm Thương Thương
Năm: 2007
18. Dương Quảng Hàm (1998), Việt Nam thi văn hợp tuyển, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn hợp tuyển
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1998
19. Hội Ngụn ngữ học Hà Nội (2000), Hà Nội những vấn đề ngôn ngữ văn hóa, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội những vấn đề ngôn ngữ văn hóa
Tác giả: Hội Ngụn ngữ học Hà Nội
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2000
20. Nguyễn Thị Hằng (1994), Nghề trồng hoa cõy cảnh ở làng Ngọc Hà - Hữu Tiệp (Khóa luận tốt nghiệp, ĐHTHHN), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề trồng hoa cõy cảnh ở làng Ngọc Hà - Hữu Tiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 1994
21. Tụ Hoài (1998), Bỳt ký Tụ Hoài, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bỳt ký Tụ Hoài
Tác giả: Tụ Hoài
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1998
22. Nguyễn Thừa Hỷ (1993), Thăng Long – Hà Nội thế kỷ XVII, XVIII và XIX, Hội Sử học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng Long – Hà Nội thế kỷ XVII, XVIII và XIX
Tác giả: Nguyễn Thừa Hỷ
Năm: 1993
23. Phạm Đỡnh Hổ (2001) – bản in lại, Vũ trung tựy bỳt, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ trung tựy bỳt
Nhà XB: Nxb Văn học

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w