1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ, XÃ YÊN NINH, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

96 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii DANH MỤC BẢNG v DANH MỤC HÌNH vi DANH MỤC BIỂU ĐỔ vii MỞ ĐẦU 8 1. Lý do chọn đề tài 8 2. Lịch sử nghiên cứu 9 3. Phương pháp tiếp cận và tính mới 11 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13 6. Phương pháp nghiên cứu 13 7. Đóng góp 13 8. Cấu trúc luậnvăn 13 CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NINH XÁ 14 1.1. Giới thuyết khái niệm 14 1.1.1. Khái niệm văn hóa 14 1.1.2. Khái niệm không gian văn hóa 16 1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành đặc trưng văn hóa làng Ninh Xá 18 1.2.1. Đặc trưng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ 19 1.2.2. Vị trí của Ý Yên trong vùng đồng bằng Bắc Bộ 21 1.2.3. Làng nghề truyền thống Ninh Xá, Ý Yên, Nam Định 23 1.3. Tiểu kết 28 CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH 30 2.2.1. Nghề nông trồng lúa nước 30 2.2.2. Nghề thủ công mỹ nghệ 31 2.3. Đặc trưng về văn hóa đảm bảo đời sống 38 2.3.1. Ăn 38 2.3.2. Mặc 40 2.3.3. Ở 41 2.3.4. Đi lại 42 2.3. Đặc trưng về văn hóa tâm linh, tín ngưỡng 42 2.3.1. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 42 2.3.2. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng và vị Tổ sư nghề 43 2.4. Văn hóa quy phạm 44 2.4.1. Hình thức tổ chức cộng đồng 44 2.4.2. Phong tục, lễ tiết trong một năm của làng 46 2.4.3. Lễ tiết chung làng xã 53 2.4. Tiểu kết 58 CHƯƠNG 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 59 3.1. Những biến đổi trong không gian văn hóa làng Ninh Xá 59 3.1.1. Mặt tích cực 59 3.1.2. Mặt tiêu cực 65 3.2. Một số biện pháp khắc phục 69 3.2.1. Về phát triển kinh tế: Nông nghiệp – thủ công nghiệp 69 3.2.2. Về không gian văn hóa làng 70 3.3. Tiểu kết 71 KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC 78 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii DANH MỤC BẢNG v DANH MỤC HÌNH vi DANH MỤC BIỂU ĐỔ vii MỞ ĐẦU 8 1. Lý do chọn đề tài 8 2. Lịch sử nghiên cứu 9 3. Phương pháp tiếp cận và tính mới 11 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13 6. Phương pháp nghiên cứu 13 7. Đóng góp 13 8. Cấu trúc luậnvăn 13 CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NINH XÁ 14 1.1. Giới thuyết khái niệm 14 1.1.1. Khái niệm văn hóa 14 1.1.2. Khái niệm không gian văn hóa 16 1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành đặc trưng văn hóa làng Ninh Xá 18 1.2.1. Đặc trưng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ 19 1.2.2. Vị trí của Ý Yên trong vùng đồng bằng Bắc Bộ 21 1.2.3. Làng nghề truyền thống Ninh Xá, Ý Yên, Nam Định 23 1.3. Tiểu kết 28 CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH 30 2.2.1. Nghề nông trồng lúa nước 30 2.2.2. Nghề thủ công mỹ nghệ 31 2.3. Đặc trưng về văn hóa đảm bảo đời sống 38 2.3.1. Ăn 38 2.3.2. Mặc 40 2.3.3. Ở 41 2.3.4. Đi lại 42 2.3. Đặc trưng về văn hóa tâm linh, tín ngưỡng 42 2.3.1. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 42 2.3.2. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng và vị Tổ sư nghề 43 2.4. Văn hóa quy phạm 44 2.4.1. Hình thức tổ chức cộng đồng 44 2.4.2. Phong tục, lễ tiết trong một năm của làng 46 2.4.3. Lễ tiết chung làng xã 53 2.4. Tiểu kết 58 CHƯƠNG 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 59 3.1. Những biến đổi trong không gian văn hóa làng Ninh Xá 59 3.1.1. Mặt tích cực 59 3.1.2. Mặt tiêu cực 65 3.2. Một số biện pháp khắc phục 69 3.2.1. Về phát triển kinh tế: Nông nghiệp – thủ công nghiệp 69 3.2.2. Về không gian văn hóa làng 70 3.3. Tiểu kết 71 KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC 78

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NHẬT

NINH THỊ PHƯỢNG

KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ,

XÃ YÊN NINH, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội, 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NHẬT

NINH THỊ PHƯỢNG

KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ,

XÃ YÊN NINH, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH: KHU VỰC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Vũ Minh Giang

Hà Nội, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung được trình bày trong luận văn là kết quả nghiên

cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GS TSKH Vũ Minh Giang.

Kết quả nghiên cứu này là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kìcông trình nào đã được công bố

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Ninh Thị Phượng

1

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong khoa Khu vựchọc – Việt Nam học, trường đại học Việt Nhật, ĐHQGHN cùng cán bộ, người dânlàng Ninh Xá, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đã nhiệt tình giúp đỡ, tạođiều kiện cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS TSKH Vũ Minh Giang đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả thực hiện và hoàn chỉnh luận

văn

Mặc dù đã cố gắng để hoàn thiện, xong luận văn không thể tránh khỏi thiếusót, rất mong nhận được góp ý quý báu của thầy cô

Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Ninh Thị Phượng

2

Trang 5

MỤC LỤ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC BIỂU ĐỔ vii

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử nghiên cứu 9

3 Phương pháp tiếp cận và tính mới 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

6 Phương pháp nghiên cứu 13

7 Đóng góp 13

8 Cấu trúc luậnvăn 13

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NINH XÁ 14

1.1 Giới thuyết khái niệm 14

1.1.1 Khái niệm văn hóa 14

1.1.2 Khái niệm không gian văn hóa 16

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành đặc trưng văn hóa làng Ninh Xá 18

1.2.1 Đặc trưng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ 19

1.2.2 Vị trí của Ý Yên trong vùng đồng bằng Bắc Bộ 21

1.2.3 Làng nghề truyền thống Ninh Xá, Ý Yên, Nam Định 23

1.3 Tiểu kết 28

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH 30

2.2.1 Nghề nông trồng lúa nước 30

2.2.2 Nghề thủ công mỹ nghệ 31

2.3 Đặc trưng về văn hóa đảm bảo đời sống 38

2.3.1 Ăn 38

2.3.2 Mặc 40

2.3.3 Ở 41

2.3.4 Đi lại 42

2.3 Đặc trưng về văn hóa tâm linh, tín ngưỡng 42

Trang 6

2.3.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 42

2.3.2 Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng và vị Tổ sư nghề 43

2.4 Văn hóa quy phạm 44

2.4.1 Hình thức tổ chức cộng đồng 44

2.4.2 Phong tục, lễ tiết trong một năm của làng 46

2.4.3 Lễ tiết chung làng xã 53

2.4 Tiểu kết 58

CHƯƠNG 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 59

3.1 Những biến đổi trong không gian văn hóa làng Ninh Xá 59

3.1.1 Mặt tích cực 59

3.1.2 Mặt tiêu cực 65

3.2 Một số biện pháp khắc phục 69

3.2.1 Về phát triển kinh tế: Nông nghiệp – thủ công nghiệp 69

3.2.2 Về không gian văn hóa làng 70

3.3 Tiểu kết 71

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 78

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các loại hình kinh doanh tại xã yên Ninh 37 Bảng 3.1 Thống kê các sản phẩm đồ gỗ hiện nay của làng và một số thay đổi 62 Bảng 3.2 Thống kê thay đổi trong phong tục ở làng Ninh Xá 65

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Vùng địa lý tự nhiên Nam Định 22

Hình 1.2 Hệ thống sông chảy qua Ý Yên, Nam Định 23

Hình 1.3 Vị trí của hành cung Ứng Phong 26

Hình 2.1 Sản phẩm bàn thờ của làng Ninh Xá 38

Hình 2.2 Tục rước đuốc đêm giao thừa 53

Hình 2.3 Nghi thức thi kéo lửa 56

Hình 3.1 Người lao động làng Ninh Xá 66

Hình 3.2 Các hộ sản xuất, kinh doanh lấn chiếm lòng đường làm xưởng 68

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỔBiểu đồ 3.1 Đánh giá chất lượng môi trường ở làng Ninh Xá hiện nay 67 Biểu đồ 3.2 Đánh giá chất lượng an ninh ở làng Ninh Xá hiện nay 69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Làng xã Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng nghiên cứu của nhiều nhà khoahọc Việt Nam bởi sự đa dạng phong phú của từng làng tạo nên những nét đặc trưngriêng, không trộn lẫn vào nhau Ngoài những đặc điểm chung của làng đồng bằngBắc Bộ như hình ảnh cây đa, giếng nước sân đình, văn hóa làng còn được tạo nên từ

bề dày lịch sử, phong tục tập quán, lễ hội v.v Chính vì vậy, nghiên cứu những nétđăc trưng riêng tạo nên bức tranh tổng quan về làng xã Việt Nam đồng thời thôngqua bức tranh đó, người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn, hiểu được giá trị của làng xã

và có cách ứng xử phù hợp với vấn đề làng xã Việt Nam trong truyền thống cũngnhư hiện tại

Làng Ninh Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định vốn là một làng nông - thủ côngnghiệp với nghề làm gỗ truyền thống có lịch sử lâu đời Bên cạnh sản xuất nôngnghiệp, nghề gỗ được coi là hoạt động sản xuất chính tạo ra của cải vật chất của làng.Những kĩ thuật cổ truyền được truyền từ đời này sang đời khác đã giúp cho Ninh Xátạo ra những sản phẩm đặc trưng riêng của làng

Vị trí địa lý thuận lợi của làng Ninh Xá, nơi có đường quốc lộ, đường sắt BắcNam chạy qua tạo điều kiện cho việc giao thương buôn bán giữa các vùng lân cận.Ngoài ra, Ninh Xá có hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, từng nằm trong khu vực của hànhcung Ứng Phong của nhà Trần giải thích lý do tại sao những sản phẩm trong làngmang yếu tố cung đình Vị trí tự nhiên cùng hoàn cảnh lịch sử đặc biệt đã hình thànhnên những đặc trưng văn hóa làng được biểu hiện thông qua yếu tố văn hóa sản xuất,văn hóa tâm linh, tín ngưỡng

Với phương pháp tiếp cận khu vực học, coi làng Ninh Xá, huyện Ý Yên, tỉnhNam Định như một không gian văn hóa Từ đó tác giả tập trung nghiên cứu đặctrưng văn hóa của làng thông qua các thành tố văn hóa bao gồm văn hóa sinh hoạt,văn hóa quy phạm, văn hóa sản xuất và văn hóa tâm linh Những đặc điểm củathành tố văn hóa đã tạo nên nét đặc trưng của làng truyền thống của đồng bằng châuthổ sông Hồng không chỉ mang những nét chung của làng quê Bắc Bộ mà còn cónhững đặc trưng riêng Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của thời gian, làng Ninh Xá

Trang 11

đang có những biến đổi để phù hợp với bối cảnh hiện tại Từ một làng quê truyềnthống với sản xuất nông nghiệp là chính và có làng nghề truyền thống được truyềnlại từ bao đời nay đang chuyển mình với sự thay đổi của đất nước Quá trình nôngthôn mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã tạo ra những thay đổi tronglàng quê - một xu hướng tất yếu của sự phát triển Biểu hiện của quá trình thay đổi

đó như việc tỷ trọng nông nghiệp bị thu hẹp, xuất hiện các khu công nghiệp với,biến đổi trong kiến trúc nhà cửa hay cách thức sinh hoạt của người dân trong làng.Qua đề tài nghiên cứu “Không gian văn hóa làng Ninh Xá, huyện Ý Yên, tỉnh NamĐịnh”, tác giả muốn làm rõ yếu tố tác động đến việc hình thành văn hóa làng,những đặc trưng của bốn thành tố văn hóa đã được đề cập ở trên đồng thời quá trìnhbiến đổi không gian văn hóa làng hiện nay tại làng

2 Lịch sử nghiên cứu

Có nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về không gian văn hóa làng xã ởViệt Nam Đầu tiên có thể kể đến khung lý thuyết cho việc nghiên cứu không gianvăn hóa của các tác giả như:

Ngô Đức Thịnh trong công trình nghiên cứu “Văn hóa vùng và phân vùngvăn hóa Việt Nam”, gồm những bài nghiên cứu về: những nét lớn của khuynhhướng nghiên cứu không gian văn hóa; phác thảo về phân vùng văn hóa ở Việt Nam

và trình bày một số vùng văn hóa tiêu biểu ở nước ta; cuối cùng, một số hiện tượngvăn hóa riêng lẻ coi đó như là sự bổ sung, cụ thể hóa tính vùng, tính địa phươngtrong văn hóa Việt Nam

Trần Quốc Vượng có công trình nghiên cứu về “Việt Nam cái nhìn địa vănhóa”, gồm những bài viết về văn hóa các vùng miền: Cao Bằng, Vĩnh Phú, Sơn Tây,

xứ Bắc - Kinh Bắc, Hà Nội, Hải Hưng, xứ Thanh trải dài đến đất Cà Mau

Ngoài những khung lý thuyết nghiên cứu làng xã, có nhiều đề tài nghiên cứu

về làng xã Việt Nam:

Trước hết có thể kể đến công trình nghiên cứu của Pierre Gourou “Ngườinông dân châu thổ Bắc Kỳ” (1963) Công trình nghiên cứu đã bao quát hết các vấn

đề về nông dân vùng châu thổ Bắc Kỳ từ nông dân học, về nông nghiệp gia đình và

về hệ thống nông nghiệp thông qua việc phân tích đất và người Bắc Bộ như địahình, khí hậu châu thổ, lịch sử di dân và sự vận động của dân số, nông nghiệp, công

Trang 12

nghiệp làng xã Những giá trị của nghiên cứu vẫn còn mang tính thời sự cho đếnngày nay như vấn đề về đất đai, dân số, di dân, công nghiệp v.v Quá trình vận động,biến đổi của làng xã từ sự biến thiên của địa hình, địa chất đến sự biến đổi của xãhội, cảnh quan, mạng lưới công nghiệp, thương mại diễn ra trong làng quê đồngbằng Bắc Bộ.

Nghiên cứu về làng không thể không kể đến học giả Lương Văn Hy vớinhững công trình nghiên cứu làng quê Việt bằng phương pháp thực địa Trong đó cócuốn “Cuộc cách mạng ở làng: Truyền thống và biến đổi miền Bắc Việt Nam”(1992) hay nghiên cứu “Cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi tại hai làng ở miềnBắc Việt Nam” (1992) tập trung vào những biến đổi nghi lễ nông thôn miền Bắc saucải cách

Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu như Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổtruyền Bắc Bộ (Nguyễn Từ Chi, 1984); làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế xãhội (Phan Đại Doãn, 1992); Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVIII

- XIX (Nguyễn Quang Ngọc, 1993); Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ(Nguyễn Hải Kế, 1996) hay chương trình nghiên cứu lớn của học giả Phan Huy Lê

và Vũ Minh Giang (1996): Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nayv.v Các công trình nghiên cứu trên đều mang tính khái quát về nông thôn, nêu lênnhững đặc trưng chung của làng xã Việt Nam từ cơ cấu tổ chức, hoạt động kinh tế,cấu trúc gia đình và xã hội hay các giá trị truyền thống được khái quát lên từ nhữngđặc trưng của làng xã Việt Nam

Từ những nghiên cứu về làng xã Việt Nam nói chung, cũng có các công trìnhnghiên cứu tập trung vào một làng xã cụ thể để nghiên cứu

Tiêu biểu có thể kể đến công trình nghiên cứu về làng Bách Cốc, xã ThànhLợi, huyện Vụ Bản với sự hợp tác của trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưuvăn hóa, Đại học Quốc Gia và các học giả đến từ Nhật Bản (được chủ trì bởi GS.Yumio Sakurai) dự án kéo dài 14 năm (1994 - 2008), thu hút nhiều học giả trong vàngoài nước tham gia Nghiên cứu là bức tranh tổng thể về đời sống kinh tế, văn hóa,chính trị và xã hội của làng Bách Cốc, một ngôi làng nhỏ nằm ở châu thổ sôngHồng Từ đó khái quát lên được mô hình làng, một đơn vị hành chính nhỏ nhấtnhưng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của người Việt Dự án đã mang

Trang 13

lại nhiều giá trị cho về mặt học thuật nói chung về ứng dụng thực tế trong việc sửdụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu làng xã.

Học giả Nguyễn Quang Ngọc trong công trình nghiên cứu “Một số vấn đềlàng xã Việt Nam” đã nghiên cứu các vấn đề về làng xã Việt Nam trong đó nghiêncứu cụ thể về làng Đan Loan dưới nhiều góc độ như lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội

từ khi hình thành cho đến khi phát triển và biến đổi

Tác giả Lê Hồng Lý - Phạm Thị Thủy Chung với nghiên cứu “Những sinhhoạt văn hóa dân gian của một làng ven đô (làng Đăm) đưa ra cái nhìn tổng thể vềlàng Đăm như hội làng, di tích lịch sử văn hóa, sinh hoạt văn hóa dân gian, kinh tế,văn hóa của làng trong quá trình đô thị hóa

“Không gian văn hóa xã Vĩnh Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định” – luận vănthạc sĩ Việt Nam học của Ngô Thanh Mai, nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, xã hội ,đưa ra những đặc trưng về văn hóa sản xuất, văn hóa tinh thần, kiến trúc của xã

Hoàng Thị Bích Quyên (2009), Tìm hiểu làng nghề chạm khắc gỗ mỹ nghệ LaXuyên tỉnh Nam Định, khóa luận tốt nghiệp, khoa địa lý, đại học sư phạm Hà Nội

3 Phương pháp tiếp cận và tính mới

3.1 Phương pháp tiếp cận

Trước đề tài luận văn này, phương pháp tiếp cận là khu vực học Trong mốitương tác với các thành tố khác, nghiên cứu không gian văn hóa làng đặt trong bốicảnh môt làng nông nghiệp – thủ công nghiệp với nghề gỗ truyền thống tạo nên đặctrưng trong không gian văn hóa làng Đặc biệt trong không gian văn hóa tại làng cụthể là Ninh Xá, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, rộng hơn là không gianvăn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ

Với tiếp cận khu vực học, phương pháp liên ngành giữa các lĩnh vực khác đểtìm ra đặc trưng trong không gian văn hóa làng: văn hóa học, lịch sử, xã hội học v.v.Bên cạnh đó là phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát và điều tra xã hội học

3.2 Tính mới của đề tài

Đóng góp mới của đề tài là cung cấp những thông tin sâu và phân tích từ tiếpcận khu vực học, chỉ ra những sắc thái đặc trưng của một làng nông nghiệp – thủ

Trang 14

công nghiệp trên tương quan đối sánh với đặc trưng chung của đồng bằng Bắc BộViệt Nam.

Dưới cách tiếp cận khu vực học, nghiên cứu về làng xã Việt Nam đặc biệtđối với làng nông nghiệp – thủ công nghiệp để tìm ra những đặc trưng cơ bản củaloại hình làng nghề phổ biến này ở Việt Nam thì chưa có nhiều

Qua quá trình nghiên cứu về làng nghề Ninh Xá, tác giả hi vọng tìm ra nhữngđặc trưng tiêu biểu của làng nghề và những biến đổi hiện nay ở làng nghề Ninh Xá nóiriêng và làng nghề Việt Nam nói chung đồng thời đưa ra những kiến nghị, giải phápbảo tồn và duy trì không gian văn hóa làng hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.2 Nhiệm vụ:

Để đạt được những mục đích trên, trong luận văn, tôi cần hoàn thành cácnhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu yếu tố tác động đến việc hình thành làng nghề truyền thống

- Tìm ra những đặc trưng trong không gian văn hóa làng Ninh Xá

- Chỉ ra những biến đổi hiện nay trong không gian văn hóa làng Ninh Xá baogồm yếu tố tích tực và tiêu cực đồng thời đưa ra một số giải pháp, kiến nghị

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: những yếu tố địa lý, sinh thái nhân văn, lịch sử, con người tạo thànhkhông gian văn hoá và những yếu tố tác động tới biến đổi không gian văn hóa

- Phạm vi: không gian văn hóa làng Ninh Xá - quá trình hình thành và biến đổi

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 15

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, để thu thập được tài liệu, số liệu,phương pháp sử dụng là phương pháp điền dã, phỏng vấn, điều tra xã hội học

Để tiến hành nghiên cứu, phương pháp khu vực học được sử dụng trong đóchọn một không gian làng xã cụ thể đặt trong một không gian lớn hơn là đồngbằng Bắc Bộ để so sánh, đối chiếu, đòng thời trong không gian đó có thể quan sátđược các lĩnh vực hoạt động của con người, sự tương tác giữa con người với điềukiện tự nhiên, hoàn cảnh xã hội làm đối tượng nghiên cứu

7 Đóng góp

- Bước đầu, luận văn có một bức tranh tương đối toàn diện về không gian vănhóa làng Ninh Xá thông qua việc phân tích điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái,hoàn cảnh lịch sử

- Chỉ ra những biến đổi trong làng nghề Ninh Xá hiện nay

- Dưới tác động của điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch

sự sẽ tạo ra những đặc trưng cho làng xã Việt Nam nói chung và làng nghề truyềnthống Ninh Xá nói riêng

8 Cấu trúc luậnvăn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về làng Ninh Xá

Chương 2: Đặc trưng trong không gian văn hóa của làng Ninh Xá, huyện Ý

Yên, tỉnh Nam Định

Chương 3: Những biến đổi trong không gian văn hóa làng nghề: Kiến nghị

và giải pháp

Trang 16

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NINH XÁ1.1 Giới thuyết khái niệm

1.1.1 Khái niệm văn hóa

“Văn hóa” là một khái niệm trừu tượng, khó có thể đưa ra một định nghĩa rõràng bởi đó là một phạm trù khoa học xã hội, được đưa ra bởi nhiều học giả trên cácphương diện, khía cạnh khác nhau Nếu nhìn theo phương diện này thì văn hóađược hiểu theo một nghĩa nhưng nếu theo phương diện khác thì văn hóa lại đượcđịnh nghĩa khác Nhìn chung, khi định nghĩa về “văn hóa” cần có sự tổng hòa, cânbằng trên nhiều khía cạnh

Đầu tiên chúng ta chia văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩahẹp, văn hóa được giới hạn bởi chiều sâu, chiều rộng, không gian hay thời gian.Như vậy chúng ta có thể định nghĩa như những giá trị tinh hoa chẳng hạn như nếpsống văn hóa, văn hóa nghệ thuật (chiều sâu), những giá trị trong từng lĩnh vực nhưvăn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh (chiều rộng), những giá trị đặc thù của từngvùng như văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ (không gian) hay là những giá trịtrong từng giai đoạn như văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn Có thể nói chiatheo cách này, văn hóa bao gồm nhiều cách bộ phận, lĩnh vực nhỏ gộp lại Tuynhiên hiểu một cách rộng hơn thì văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo ra

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh vàđộng, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trìnhhoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình[27, tr.10]

Còn theo định nghĩa của UNESCO, “Đối với một số người, văn hóa chỉ baogồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo, đối với nhữngngười khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộckhác, tù những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tậpquán, lối sống và lao động” (UNESCO, 1989) Nếu phân theo hệ thống, giá trị thìTrần Ngọc Thêm (2002) lại cho rằng “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trịvật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động

Trang 17

thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội củamình”.

Theo đại từ điển Tiếng Việt - Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam(1999), văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử:nền văn hóa các dân tộc, kho tàng văn hóa dân tộc; Đời sống tinh thần của conngười: phát triển kinh tế và văn hóa, chú ý đời sống của nhân dân; tri thức khoa học,trình độ học vấn, trình độ văn hóa, học các môn văn hóa; Lối sống, cách ứng xử cótrình độ cao: người có văn hóa, gia đình có văn hóa mới; Nền văn hóa một thời kìlịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểmchung: văn hóa Đông Sơn, văn hóa rìu hai vai

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy được ba khuynh hướng liênquan đến văn hóa Thứ nhất có thể kể đến là văn hóa là kết quả của những giá trịtruyền thống, nếp sống; thứ hai là những chuẩn mực, tư tưởng, thiết chế xã hội vàcuối cùng là những biểu trưng, kí hiệu, thông tin mà cộng đồng đã sáng tạo, thừa kế

và tích lũy Tuy nhiên, dù theo khuynh hướng nào, thì văn hóa đều nhấn mạnh đếnyếu tố con người, đều thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa

và con người Đặc trưng cơ bản của văn hóa: tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệthống và tính lịch sử

Với đặc thù của luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa “Văn hóa là tất cả những sáng tạo hữu thức của con người vì mục đích tồn tại và phát triển” theo hướng tiếp cận của khu vực học hiện đại [10, tr 24]

Ngoài ra, khi nhắc đến khái niệm văn hóa, chúng ta cũng cần chú ý đến kháiniệm văn minh Điểm giống nhau cơ bản của hai khái niệm này là đều nói lênnhững thành tựu sáng tạo của con người trong xã hội Chúng ta thường hay đề cập

“văn minh lúa nước”, “văn minh cơ khí”, nếu hiểu theo nghĩa đó thì “văn minhđược coi là nền văn hóa của một xã hội có tổ chức, đạt trình độ tương đối cao về kỹthuật sản xuất, thiết chế chính trị và trạng thái trí tuệ, đạo đức” [15, tr 11] Như vậy có

3 tiêu chí để đánh giá một xã hội văn minh đó là sự xuất hiện của nhà nước, xuất hiệnchữ viết và sự ra đời của đô thị

Để tìm hiểu về mục đích và bản chất của văn hóa, nhiều học giả đưa ra cáccách phân loại khác nhau Hai dạng thức phân loại văn hóa phổ biến là “văn hóa vật

Trang 18

chất và văn hóa tinh thần”; “văn hóa vật thể và phi vật thể” Cụ thể là, Vũ MinhGiang [10, tr 35] đã chia văn hóa thành 4 thành tố: văn hóa sản xuất, văn hóa đảmbảo đời sống, văn hóa quy phạm và văn hóa tâm linh, tín ngưỡng trong đó:

Văn hóa sản xuất là tất cả những hoạt động của con người để tạo ra của cảivật chất

Văn hóa sinh hoạt đảm bảo đời sống (ăn, mặc, ở, đi lại) là những hoạt động

cơ bản của con người để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cộng đồng

Văn hóa quy phạm: bao gồm các phong tục tập quán, thiết chế chính trị và hệthống pháp luật của cộng đồng đó

Văn hóa tâm linh, tín ngưỡng là những giá trị tinh thần mà con người muốngửi gắm lòng tin vào

Dựa trên cách chia như vậy, khi nghiên cứu về làng Ninh Xá, tôi muốn áp dụng

lý thuyết vào việc phân tích làm rõ các thành tố văn hóa tác động đến đời sống tinhthần cũng như vật chất của con người trong một không gian cụ thể

1.1.2 Khái niệm không gian văn hóa

Không gian văn hóa bao gồm một phạm vi cư trú của con người trong mốiquan hệ với điều kiện tự nhiên – xã hội và nguồn gốc lịch sử, từ đó hình thành nênnhững đặc trưng văn hóa chung thể hiện cả ở lĩnh vực văn hóa sản xuất, văn hóađảm bảo đời sống, văn hóa tâm linh cũng như văn hóa quy phạm Vì vậy, khônggian văn hóa không đơn thuần là một lãnh thổ địa vực nhất định, nó là một môitrường thống nhất, rộng lớn do con người sống trong không gian ấy sáng tạo nên

Về khái niệm không gian văn hóa, theo Ngô Đức Thịnh thì có thể hiểu khônggian văn hóa theo hai ý nghĩa, cụ thể và trừu tượng Theo ý nghĩa cụ thể, “coi vănhóa như là một không gian địa lý xác định, mà ở đó mỗi hiện tượng hay một tổ hợphiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệthống” [31, tr 37] Có rất ít các hiện tượng văn hóa trong đời sống xã hội khi nảysinh lại tồn tại và biến đổi một cách độc lập mà thường có xu hướng liên kết lại vớinhau tạo thành các tổ hợp Với ý nghĩa ấy, các loại văn hóa như văn hóa tín ngưỡngtôn giáo, văn hóa vùng, văn hóa làng, văn hóa nghề nghiệp, văn hóa đô thị đều lànhững dạng khác nhau của tổ hợp văn hóa Theo ý nghĩa trừu tượng, có thể hiểukhông gian văn hóa như một “trường”, để chỉ “một hiện tượng hay một tổ hợp các

Trang 19

hiện tượng (một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếpnhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian (trường) vănhóa rộng hay hẹp khác nhau” [31, tr 39] Theo đó, khi phân chia các dạng thứckhông gian văn hóa, Ngô Đức Thịnh (2002) chia không gian văn hóa thành 4dạng:Văn hóa cá nhân,văn hóa cộng đồng,văn hóa lãnh thổ và văn hóa sinh thái.Trong đó văn hóa cá nhân được hiểu là mỗi cá nhân dựa trên năng lực thể chất vàmôi trường xã hội thì cá nhân đó có khả năng tiếp nhận và thể hiện được văn hóacủa cộng đồng Văn hóa cộng đồng phụ thuộc nhiều và tính chất của cộng đồngkhác nhau thì tạo ra những giá trị văn hóa khác nhau chẳng hạn như cộng đồnglàng, dòng họ, gia tộc thì tạo ra văn hóa làng, dòng họ Văn hóa lãnh thổ có nghĩa làtrong không gian địa lý xác định, cộng đồng đó chung sống với môi trường tự nhiên

và điều kiện kinh tế nhất định Văn hóa sinh thái là dạng thức văn hoa ứng với mộtvùng sinh thái nhất định như văn hóa sinh thái biển, thung lũng, cao nguyên Cácphương pháp được sử dụng khi nghiên cứu về không gian cụ thể là phương pháp sosánh đồng đại, phương pháp loại hình và so sánh loại hình văn hóa, phương pháplập bản đồ và chồng xếp các bản đồ văn hóa

Để xác định không gian văn hóa của một làng, một địa phương, một vùng cụthể, ta phải xét các yếu tố đặc trưng liên quan Đó là các yếu tố:

- Tính trội văn hóa: Dân gian Việt Nam luôn có cảm nhận về tính trội trongtính cách con người, trong các sản vật thiên nhiên, trong nếp sống văn hóa giữa làngnày với làng kia, vùng kia tạo nên những đặc trưng văn hóa riêng của một địaphương đó [32, tr 46]

- Về tên gọi “xứ”: là một vùng đất có những tương đồng nhất định phươngdiện phong thổ, khí hậu, dân cư và sinh hoạt văn hóa [32, tr 49] Mỗi xứ có nhữngnét văn hóa tiêu biểu

- Vùng văn hóa: là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh

tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử,

có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra nhữnggiao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưngchung, thể hiện trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phânbiệt với vùng văn hóa khác [32, tr 10]

Trang 20

Vũ Minh Giang [10, tr 38] cho rằng không gian văn hóa là khái niệm tươngđối linh hoạt, không có giới hạn phạm vi cứng để chỉ một phạm vi có nhưng đặctính chung ở nhiều cấp độ khác nhau Theo đó, có thể chia không gian văn hóathành các bộ phận như khu vực, vùng, tiểu vùng và trường hợp Từ mỗi cấp độ cóthể tìm ra được những điểm tương đồng, cấp độ càng nhỏ thì tính tương đồng vănhóa càng cao Như vậy, trong nghiên cứu, không gian văn hóa được sử dụng ở đây ởcấp độ trường hợp (làng) từ đó tìm hiểu đặc trưng văn hóa trong không gian đó Vớimức độ phạm vi hẹp như làng xã cụ thể thì dễ dàng cho việc tìm hiểu văn hóa đặctrưng của làng, nét đặc trưng đó được thông qua nhờ quá trình nghiên cứu sâu cũngnhư sự so sánh những nét tương đồng và khác biệt với không gian lớn hơn, bao quáthơn.

Ở đây, khi nghiên cứu về không gian văn hóa làng nghề Ninh Xá, huyện ÝYên, tỉnh Nam Định để tìm ra được nét đặc trưng riêng thì có sự so sánh với khônggian văn hóa đồng bằng Bắc Bộ

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành đặc trưng văn hóa làng Ninh Xá

Con người là chủ thể của sáng tao ra văn hóa Con người nằm trong xã hộinên con người sẽ chịu sự ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội vàhoàn cảnh lịch sử

Khi đề cập đến các yếu tố tác động đến một không gian văn hóa, Vũ MinhGiang cho rằng đặc trưng văn hóa truyền thống được tạo thành bởi các yếu tố nhưđiều kiện tự nhiên - môi trường sinh thái, hoàn cảnh lịch sử và môi trường xã hội có

sự tác động qua lại lẫn nhau tạo ra dạng thức văn hóa Một ví dụ như dạng thức vănhóa gần hay trên sông nước quy định đặc trưng trong tính cách con người như sựcan đảm, linh hoạt, mềm dẻo dễ thích nghi và giỏi ứng xử với các tình huống Đặctrưng văn hóa người Việt được tạo thành bởi các yếu tố Thứ nhất có thể kể đến làmôi trường tự nhiên, điều kiện địa lý, như môi trường sông nước, một vùng đất mớiđược bồi đắp, một bên là núi cao một bên là biển, hệ thống sông ngòi thoát nướcdày đặc, hình thành trong văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần của người Việt,chất đạm chủ yếu trong thức ăn truyền thống là thủy sản, nhà ở chủ yếu là nhà sàn,

Trang 21

phương tiện đi lại là thuyền bè, trong văn hóa tinh thần có nhiều những tín ngưỡng,tập quán liên quan đến sông nước chẳng hạn như thờ thủy thần, lễ hội đuathuyền phát triển chủ yếu nông nghiệp lúa nước tạo nên một nền văn minh nôngnghiệp lâu đời, từ đó hình thành nên xã hội nông thôn “Những căn tính nông dân,những đặc trưng của một xã hội nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả mọitruyền thống Việt Nam” (Vũ Minh Giang, 2014); phải kể đó là tình cố kết cộngđồng, sức mạnh tập thể trước hết là vượt qua thử thách của thiên nhiên.

Đồng quan điểm với Vũ Minh Giang, Sakurai Yumio cũng cho rằng môitrường tự nhiên và môi trường nhân tạo có tác động qua lại với nhau tạo ra môitrường khu vực và ảnh hưởng đến tính đặc trưng của khu vực Văn hóa có tính đặctrưng do hai loại môi trường trên tác động lẫn nhau [42, tr 313 –324]

1.2.1 Đặc trưng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ

Với những đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu, thủy triều, đã tạo nên đặc trưngtrong văn hóa đồng bằng Bắc Bộ

Môi trường xã hội, với hệ thống sông ngòi dày đặc và khí hậu bốn mùa, nôngnghiệp trong đó trồng lúa nước là nghề chính của người dân đồng bằng Bắc Bộ.Nông dân gắn bó với cây lúa, thu hoạch vào hai vụ chính trong năm vụ chiêm và vụmùa Ngoài cây lúa, có nhiều loại cây khác phù hợp với chất đất từng vùng và khíhậu

Một đặc trưng khác đó là lượng đất đai Bắc Bộ không nhiều nhưng mật độ

cư dân sinh sống cao Vì vậy, tận dụng khoảng thời gian nhàn rỗi giữa hai vụ mùa,người dân tranh thủ làm những nghề thủ công khác như nghề dệt, luyện kim, có lịch

sử phát triển lâu dài

Không gian cư trú của người dân đồng bằng Bắc Bộ là làng – đơn vị xã hội

cơ sở Sở hữu ruộng đất trên cơ sở đất công, người nông dân tập trung ruộng đất đểcùng canh tác, sản xuất và thu hoạch sau đó được phân chia đều Sự gắn bó giữacon người với con người trong cộng đồng không chỉ trên quan hệ sở hữu ruộng đất

mà còn trong các không gian sinh hoạt chung của làng như cây đa, bến nước, sânđình Các làng xã hoạt động dựa trên hương ước của làng - được coi như văn bảnpháp luật sơ khai Ngoài ra, cộng đồng làng xã còn mang tính tự trị cao, biểu hiện

Trang 22

đầu tiên qua việc giới hạn không gian của làng như rặng tre, cổng làng để ngăn cáchvới các làng khác.

Đặc trưng về văn hóa sản xuất

Thể hiện thông qua văn hóa cư trú (nhà ở), văn hóa ẩm thực (ăn), văn hóatrang phục

Văn hóa cư trú: với vị trí địa lý tương đối bằng phẳng, núi thấp, và các thunglũng đan xen, vì vậy nhà cửa được thiết kế phù hợp với địa hình, khí hậu nhiệt đớigió mùa, được xây dựng kiên cố với các vật liệu bền như sắt, thép, xi măng

Văn hóa ẩm thực: theo công thức chung của các vùng khác trên cả nướccơm+rau+cá, trong đó các loại rau thường đa dạng phù hợp với từng mùa, trong đó

cá thường là các lọai cá nhỏ nuôi trong ao, hồ, đầm lầy, nước ngọt, chỉ một số vùngven biển thì chế biến bằng cá biển Để bổ sung thêm lượng thức ăn, người dân vùngBắc Bộ tăng thêm thành phần thịt và mỡ, gia vị không cay, chua, đắng như các vùngkhác

Văn hóa trang phục: trang phục màu nâu thường được sử dụng bởi người dânđồng bằng Bắc Bộ trong đó nam là chiếc quần lá tọa, áo cảnh màu nâu, nữ với chiếcváy thâm, chiếc áo nâu khi đi làm Vào những ngày hội hè, lễ tết, trang phục có sựthay đổi thiên về nhiều màu sắc hơn, đàn bà với áo dài mớ ba mớ bảy, đàn ông vớichiếc quần trắng, áo the và chít khăn đen Tuy nhiên, ngày nay trang phục có nhiều sựthay đổi phù hợp với nhu cầu của mọi người

Đặc trưng văn hóa tinh thần

Văn hóa lúa nước đã sản sinh ra nhiều loại hình văn hóa, nghệ thuật tínngưỡng ở đồng bằng Bắc Bộ Đầu tiên có thể kể đến là kho tàng văn học dân gianBắc Bộ bao gồm như thần thoại, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ hay truyện cười,truyện trạng v.v đã làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân vốn gắnliền với cây lúa Ngoài ra, nghệ thuật dân gian cũng vô cùng phát triển ở nhiềuvùng quê Bắc Bộ như làn điệu quan họ, hát xoan, hát trống quân, hát chầu văn, hátchèo, múa rối v.v Ở hầu hết các làng quê đều diễn ra sinh hoạt văn hóa tín ngưỡngnhư thờ Thành Hoàng, thờ mẫu, thờ các ông Tổ nghề Các lễ hội được tổ chức

Trang 23

trong làng là một hình thức tưởng nhớ, biết ơn đến những người đã có công xâydựng, bảo vệ và truyền nghề cho làng.

Song song với sự phát triển của văn học dân gian, văn hóa tri thức là đặcđiểm nổi bật của vùng đồng bằng Bắc Bộ, mà theo Đinh Gia Khánh (2009) “nơiphát sinh nền văn hóa bác học” được biểu hiện qua sự phát triển giáo dục từ rấtsớm Có thể kể đến trong thời kì tự chủ, Thăng Long được coi là một trung tâm giáodục, năm 1078, Văn Miếu đã được xây dựng, được coi là trường học đầu tiên, cóchế độ thi cử để kén chọn hiền tài

Với vị trí địa lý thuận lợi, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ diễn ra quá trìnhtiếp biến văn hóa lâu dài với quá trình giao lưu, tiếp thu văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ,văn hóa Pháp Có thể nói quá trình tiếp thu đó không phải diễn ra một chiều, thụđộng mà có sự biến tấu, sáng tạo cho phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh Một ví dụ

có thể kể đến là sự tiếp thu Phật giáo của Ấn Độ, chịu ảnh hưởng của văn hóa tínngưỡng dân gian bản địa đã trở thành Phật giáo dân gian ở Bắc Bộ

1.2.2 Vị trí của Ý Yên trong vùng đồng bằng Bắc Bộ

Nằm phía tây nam của tỉnh Nam Định, cách thành phố Nam Định khoảng 20

km, phía bắc tiếp giáp tỉnh Hà Nam, phía tây giáp tỉnh Ninh Bình, được ngăn cáchbởi con sông Đáy, phía đông giáp huyện Vụ Bản và phía nam giáp huyện NghĩaHưng

Trang 24

Hình 1.1 Vùng địa lý tự nhiên Nam Định(nguồn: namdinh.gov.vn/ubndnamdinh/4/467/37856)Xét về điều kiện tự nhiên, vùng đất Ý Yên thuộc vùng đồng bằng bãi bồisông không chịu tác động của biển, nằm trong vùng đất trũng hơn các huyện cònlại, địa hình không đồng đều, chủ yếu là đồng bằng, tuy nhiên có những vùng đấtcao, có vùng lại rất thấp và bị chia cắt bởi hệ thống kênh mường dày đặc Về đấtđai, huyện thuộc vùng đất phù sa cũ do hệ thống sông Hồng bù đắp từ lâu nên đấtđai có thành phần cơ giới thịt trung bình, pha cát thích hợp cho việc trồng cây nôngnghiệp và cây lâu năm.

Xét về chế độ thủy văn, Ý Yên là vùng có địa hình đồng bằng thấp trũng, có

hệ thống sông tương đối dày theo hướng Bắc Nam, có hai con sông lớn chảy qua làsông Đào (10km) và sông Đáy (30 km)

Trang 25

Hình 1.2 Hệ thống sông chảy qua Ý Yên, Nam Định(nguồn: namdinh.gov.vn/ubndnamdinh/4/467/37856)Với vị trí nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu của Ý Yênmang đặc trưng chung của khí hậu vùng đồng bằng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩmvới bốn mùa rõ rệt, có mùa đông lạnh khô do chịu tác động mạnh của gió mùa ĐôngBắc và có một số đặc điểm khí hậu chung của tỉnh Nam Định, nhiệt dộ trung bình

cả năm 250 C, lượng mưa trung bình lớn nhất cả tỉnh với lượng mưa trung bình cảnăm là khoản 1.750 mm, hướng gió chính là hướng Đông Nam và hướng Tây Bắc

1.2.3 Làng nghề truyền thống Ninh Xá, Ý Yên, Nam Định

1.2.3.1 Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái

Làng Ninh Xá thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Huyện ÝYên nằm giáp thành phố Ninh Bình, ba mặt phía Bắc, Tây và Nam giáp sông Đáy,sông Đào hay còn gọi là Sông Nam Định, phía đông giáp huyện Vụ Bản Huyện ÝYên có 1 thị trấn Lâm (huyện lỵ, thành lập ngày 1/4/1986 trên cơ sở 416.04 ha diệntích tự nhiên của xã Yên Xá; 30.37 ha diện tích tự nhiên của xã Yên Ninh; 24.50 ha

Trang 26

diện tích tự nhiên của xã Yên Tiến và 4.27 ha diện tích tự nhiên của xã Yên Hồng và

31 xã: Yên Bằng, Yên Bình, Yên Chính, Yên Cường, Yên Dương, Yên Đồng, YênHồng, Yên Hưng, Yên Khang, Yên Khánh, Yên Lộc, Yên Lợi, Yên Lương, YênMinh, Yên Mỹ, Yên Nghĩa, Yên Nhân, Yên Ninh, Yên Phong, Yên Phú, Yên Phúc,Yên Phương, Yên Quang, Yên Tân, Yên Thắng, Yên Thành, Yên Thọ, Yên Tiến,Yên Trị, Yên Trung, Yên Xá

“Thôn Ninh Xá với số hộ hơn 700 hộ Số nhân khẩu là khoảng 3200 nhânkhẩu Tổng diện tích hành chính là 176, 09 ha Diện tích đất canh tác là 155, 85 ha.Diện tích đất thổ cư là 20, 24 ha Diện tích đất trồng lúa là 148, 68 ha Nếu chỉ diệntích cấy lúa ít như vậy thì không đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địaphương và mỗi gia đình Nhưng Ninh Xá ngày nay nhờ có ông Tổ sư nghề mộcchạm khắc, truyền lại nghề qua các thế hệ mà nghề mộc càng ngày càng nổi tiếng.Nhân dân vừa kết hợp chạm khắc cổ truyền với chăn nuôi sản xuất nên thu nhậpkinh tế mỗi ngày một cao” (ông Ninh Viết Lý, bí thư thôn Ninh Xá xã Yên Ninhngày 6 /3 /1997)

Ninh Xá được chia thành Ninh Xá Hạ và Ninh Xá Thượng, 2 thôn cách nhaumột con đường Mỗi thôn chia ra thành các xóm, ngõ nhỏ, thôn Ninh Xá Hạ gồm 4xóm: xóm Hàng, xóm Giữa, xóm Chùa, xóm Trại; thôn Ninh Xá Thượng gồm 5ngõ: Ngòi, Đông, Giữa, Tây, Đập Việc đặt tên ngõ chủ yếu dựa trên vị trí của ngõhoặc gắn với địa danh Chẳng hạn Xóm Hàng hay Phố Hàng là dãy phố buôn báncủa làng Ninh Xá, xóm Chùa là nơi đặt chùa Phúc Lê v.v Tuy nhiên tên ngõ đượcdân làng quy định gọi, lâu dần thành tên ngõ Ngoài ra, do nhu cầu mở rộng khônggian sống, dân các vùng khác đến xuất hiện các xóm, ngõ mới, do người dân tự đặttên như xóm chợ Mới (hay cầu gừng), xóm Mả Già, Đình Hát

Trước đình Dâu có chợ hàng ngày gọi là chợ Hôm họp từ 4 giờ chiều đến 6 htối, chợ đông vui bán các thực phẩm hàng ngày Đến năm 1949, 1950 kháng chiếnchống Pháp là chợ tan

Đình Dâu ở đầu làng Ninh Xá Hạ thờ ông Khổng Tử và mạnh Tử, còn là trụ

sở của hội đồng dân biểu của làng Ninh Xá Hạ

Miếu thờ có 12 miếu: miếu trại, miếu cổng quán, đầu xóm trại, làng giữa,làng sau, làng chùa, bến, ngõ sông, xóm hàng, cầu đất - ngõ ngòi, cửa miếu, bóng

Trang 27

cây, miếu được đặt tên theo lệ của làng hoặc họ ví dụ làng sau có miếu họ Ninh,miếu làng quán là của họ Cao, miếu làng chùa của họ Tạ.

Theo tục lệ việc làng ở đình và giỗ hậu ở chùa phải có lễ ra miếu cúng, quanviên là ngày 7 tháng 3, quan viên giã bánh dày và tế

Theo Gia Long địa bạ, huyện Phong Doanh, tổng Cát Đằng 7 xã: Cát Đằng,

La Xuyên, Văn Cú, Lũ Phong, Đăng Chương, Tân Cầu, Ninh Xá Huyện PhongDoanh 21.010 mẫu, điền 19.393 mẫu, thổ 1.617 mẫu

Về giao thông, thôn Ninh Xá nằm ngay sát trục đường 10 và đường sắt Bắc Nam thuộc địa phận Nam Định có 6 ga Từ tỉnh đi về phía tây bắc có ga Đặng Xá,Đồng Văn đến Bình Lục, đi về phía tây nam có ga Trịnh Xuyên, Cát Thượng đếnsông Hát chỗ Cầu Cổ tiếp với hạt Ninh Bình, đường sắt và đường quan song songvới nhau

-1.2.3.2 Hoàn cảnh lịch sử và môi trường xã hội

Vào khoảng thế kỷ XI - XIV (giai đoạn Lý –Trần), Nam Định được coi làcửa ngõ quan trọng của vùng đồng bằng châu thổ nói riêng và nước Đại Việt nóichung Vùng đất được các vua Trần lựa chọn như kinh đô thứ hai và trị vì trong suốt

175 năm Có thể nói, Nam Định có vị trí chiến lược quan trọng trong quá trình xâydựng và cai trị của vi vua thời Lý, Trần

Vào thời nhà Lý, phủ Ứng Phong bao gồm các huyện Mĩ Lộc, Vụ Bản, ÝYên, Nam Trực và một phần của hai huyện Trực Ninh, Nghĩa Hưng hiện nay có haicửa biển là Ba Lạt và Đại An, trong đó Ba Lạt là nơi sông Hồng đổ ra biển, Đại Antên cửa sông Đáy nơi giao thoa của sông Đáy và sông Đào, có thể coi vùng đất này

là cửa ngõ đi vào châu thổ sông Hồng Khu vực chùa Cổ Lễ (Giao Thủy) hình thànhmột dải giao thoa văn hóa, là nơi diễn ra hoạt động trao đổi buôn bán với các thuyềnbuôn, nơi cư ngụ của những đoàn thuyền đánh cá, tất cả tạo nên sự nhộn nhịp, năngđộng trong hoạt động kinh tế và sự phong phú trong văn hóa vùng

Nằm ở vị trí địa lý đặc biệt, Nam Định dưới thời Lý được coi là một trungtâm kinh tế quan trọng của cả nước, các vua Lý luôn dành sự quan tâm cho vùng đấtnày Vì vậy, nhà Lý đã cho xây dựng ít nhất hai hành cung trên đất Nam Định xưa.Hành cung thứ nhất có thể ở khu vực gần chùa Keo, tuy nhiên do sông đổi dòng màphần lớn kiến trúc cổ từ thời Lý đã bị nước sông cuốn trôi Hành cung thứ hai được

Trang 28

xây dựng trên một “không gian thiêng” bao gồm những dãy núi cổ và là trung tâmsản xuất lúa gạo có tên là Ứng Phong Theo ghi chép của các chính sử, trong 56năm trị vì, có 19 lần vua ngự giá tới hành cung thì 11 lần ông tới xem cày hoặc xemgặt Có thể nói, hành cung Ứng Phong đóng vai trò quan trọng đối với vương triều

Lý, đặc biệt trong thời gian trị vì của vua Lý Nhân Tông

Vị trí của hành cung Ứng Phong trong quan hệ của hành cung với hệ thốnggiao thông cổ thời Lý

Hình 1.3 Vị trí của hành cung Ứng Phong(nguồn: Vũ Minh Giang (2004), Lịch sử Việt Nam: truyền thống và hiện đại, Nxb

Đại học quốc gia Hà Nội, tr 282)Như vậy có thể nói hành cung Ứng Phong đóng vai trò quan trọng dưới triềuđại nhà Lý - thời kì diễn ra các sự kiện trọng đại của nước Đại Việt Theo Đại Việt

sử kí toàn thư [14, tr 20], từ đời nhà Lý đã xuất hiện hành cung Ứng Phong, có thểnằm ở đất huyện Ý Yên

Trên không gian đó, Lý Nhân Tông cho xây dựng trên núi Chương Sơn tòabảo tháp Vạn Phong Thành Thiện, là một công trình kiến trúc Phật giáo quy mô lớn,được khởi dựng vào năm 1108 và khánh thành năm 1117 Điều này được ghi chéptrong Đại việt sử kí toàn thư ghi chép “Tháng 3, ngày Bính Thìn, vua ngự ở núiChương Sơn để khánh thành bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện, có rồng vàng xuấthiện” Trong sử sách, theo thống kê thì có ít nhất 12 lần địa danh Chuông Sơn đượcghi chép trong Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư, sách Việt sử thông giámcương mục ghi một loạt các sự kiện xảy ra quanh núi Chương Sơn như việc vua ngự

Trang 29

chơi Chương Sơn năm 1106, ba lần rồng vàng hiện lên ở đây vào những năm 1107,

1114, 1117 Sau khi thưởng ngoại ở khu vực này, vua lại trên đường đi tới hànhcung Ứng Phong để xem cày ruộng Vào thời Lý, Phật giáo phát triển mạnh mẽ vìvậy các kiến trúc của đền chùa hay tòa bảo tháp cũng mang âm hưởng Phật giáo, lànơi nhà vua thường lui tới Trong Việt sử lược và Đại Việt sử kí toàn thư, Lý ThánhTông (1023 - 1072) xây dựng 3 tháp; Lý Nhân Tông (1066 - 1127) xây dựng 9 tháptrong đó có bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện

Với vị trí cửa ngõ quan trọng của vùng châu thổ sông Hồng đồng thời là vịtrí chiến lược trên phương diện quan sự được nhà Lý, nhà Trần quan tâm tạo điềukiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế vùng, giao lưu kinh tế, văn hóa giữa cácvùng Kết quả là việc hình thành các làng nghề phát triển sớm ở khu vực này mộtphần phục vụ nhu cầu trong vùng, một phần là hàng hóa trao đổi buôn bán Chẳnghạn như, từ thời Lý, đã có những trung tâm chế tác đồng nổi tiếng tiêu biểu là làngTống Xá (nay thuộc xã Yên Xá, huyện Ý Yên) có truyền thống hơn 900 năm, làngnghề đồ gỗ mỹ nghệ, khảm trai ở làng Ninh Xá (nay thuộc xã Yên Ninh, huyện ÝYên), làng sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến, huyện Ý Yên) v.v Có thể nói việc hìnhthành nhiều làng nghề truyền thống là do vị trí địa lý thuận lợi đồng thời làng nghề

ra đời phục vụ nhu cầu của các vua thời Lí hay thời Trần

12 sứ quân, thống nhất đất nước và lập ra nhà nước Đại Cồ Việt, đã cho tuyển nhiềunhân tài về giúp triều đình trong đó có Ninh Hữu Hưng.Ông được nhà vua giao choviệc xây dựng cung điện trong kinh đô và nhiều công trình khác nhau như Hoa Lư

tứ trấn và các đình chùa ở Trường Yên, Ninh Hữu Hưng được phong chức Côngtượng lục phủ giám sát đại tướng quân (vị đại tướng trông coi nghề mộc của sáuphủ) Thời Tiền Lê, ông chịu trách nhiệm xây dựng các cung điện tại kinh đô như

Trang 30

Bách Thảo Thiên Tuế, Long Lộc Trường Xuân Ngày mùng 4 tháng 6 năm Kỷ Mùi(1019), ông qua đời tại Ninh Xá Con cháu và người làng đưa thi hài ông về quê antáng tại chân núi Xương Bồ (Ninh Bình), đồng thời tôn làm vị tổ dạy nghề, thờ tự tạiđền Ninh Xá (trước đó đền thờ 2 vị Lương Binh Vương và An Như Vương).

Đền Ninh Xá gọi là đền Voi Đá, Ngựa Đá, hiện còn lưu giữ 28 đạo sắcphong, trong đó 11 đạo thời Lê, sớm nhất là vào niên hiệu Vĩnh Thọ (1660) 2 đạothời Tây Sơn, 13 đạo thời nhà Nguyễn Trong số 28 đạo sắc phong còn lưu giữ thìchỉ còn giữ được 1 đạo sắc phong cho Lão La Đại Thần được ban ngày 25 tháng 7niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) “Sắc Nam Định tỉnh, Phong Doanh huyện, Ninh

Xá xã phụng sự Lão La Đại Thần tôn thần, hộ quốc tí dân nẫm trứ linh ứng Tứ kimchính trị trẫm tứ tuần đại khánh, tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật.Trứ phong vi dực bảo trung hưng linh phù tôn thần chuẩn kỳ phụng sự Phùng kỳtướng hự, bảo ngã lê dân Khâm tai! Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũnhật” Dịch nghĩa là “Sắc cho xã Ninh Xá, huyện Phong Doanh, tinh Nam Địnhphụng thờ Lão La Đại thần tôn thần, giúp nước giúp dân, thiêng liêng rõ rệt Nhânnay trẫm tứ tuần đại khánh từng ban chiếu để rõ hơn trên, long trọng việc lễ đăngtrật Vậy phong chức vị tôn thần thiêng liêng phò giúp cho nền trung hưng của quốcgia, cho phép phụng thờ Mong thần che chở cho dân ta Kinh vậy thay (ngày 25tháng7, niên hiệu Khải Định năm thứ 9)

1.3 Tiểu kết

Trong không gian văn hóa chung đồng bằng Bắc Bộ, làng Ninh Xá mangnhững đặc trưng chung tương đồng với đồng bằng Bắc Bộ trên các phương diệnnhư điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, một số các phong tục tập quán của cưdân nông nghiệp chẳng hạn như khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nguồn nước dồi dào,mật độ dân cư cao, môi trường văn hóa có bề dày lịch sử lâu đời với những sinhhoạt như lễ hội, tín ngưỡng dân gian, loại hình nghệ thuật độc đáo

Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung đó, làng Ninh Xá, huyện Ý Yêncũng có nét khác biệt Làng Ninh Xá là một làng nông - thủ công nghiệp với làngnghề truyền thống làm đồ gỗ mỹ nghệ, bên cạnh sản xuất nông nghiệp, ngành nghề

Trang 31

thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế vùng tạo nên nhữngđặc trưng văn hóa làng nghề.

Với hoàn cảnh lịch sử đặc biệt trong thời kì nhà Lý - Trần, với lịch sử làngnghề truyền thống mỹ nghệ với ông tổ nghề là ông Ninh Hữu Hưng tạo nên giá trịlịch sử cho làng nghề truyền thống Ngoài ra, huyện Ý Yên nói chung và làng Ninh

Xá nói riêng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong khu vực hành cung Ứng Phong hàng cung được vua Lý –Trần đặc biệt coi trọng, nằm trên khu vực đường thiên lý đãđem lại nhiều thuận lợi cho làng Ninh Xá phát triển giao thương, kinh tế Có thể nói

-sự tồn tại và phát triển của làng nghề Ninh Xá được tạo nên bởi nhiều yếu tố Trướchết là vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, có đường sắt Bắc - Nam chạy qua, đườngquốc lộ 10, cách thành phố Nam Định khoảng 20 km và thành phố Ninh Bình khoảng

10 km, đặc biệt có đường cao tốc mới Cầu Giẽ - Ninh Bình rút ngắn thời gian dichuyển giữa các vùng lân cận đồng thời tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa.Với vị trí này, làng Ninh Xá có thể sử dụng nhiều loại phương tiện vận chuyển khácnhau, nếu như trước kia việc vận chuyển nguyên liệu gỗ thông qua đường thủy, quasông cầu Tào trên chiếc bè trở về làng, thì ngày nay đường bộ, đường sắt được sửdụng chủ yếu Ngoài ra, Làng Ninh Xá nằm gần các nơi tiêu thụ sản phẩm tiềm năngnhư Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hải Phòng, Yên Bái v.v Những kỹ năng, taynghề khéo léo của người thợ thủ công, đặc trưng trong phong tục tập quán của làng lànhân tố duy trì sự tồn tại và phát triển của làng, tạo nên không gian văn hóa đặc trưngcủa làng Ninh Xá

Trang 32

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

2.1 Đặc trưng về văn hóa sản xuất

2.1.1 Nghề nông trồng lúa nước

Trồng lúa nước là một trong những nghề chính của người dân làng Ninh Xá.Với điều kiện khí hậu thuận lợi, nguồn nước dồi dào, nông nghiệp coi là nguồnlương thực chính cho cả làng

Cả thửa ruộng được phân chia với diện tích nhỏ, phân đều cho các hộ giađình trong làng Trước 1994, các thành viên trong gia đình được phân chia ruộng đểphục vụ sản xuất Cho đến nay, vẫn còn việc dồn điền đổi thửa diễn ra hàng nămcho nông dân

Nạn đói năm 1945 đã mang lại nhiều tổn thất về người và của cho ngườinông dân trên khắp cả nước trong đó xã Yên Ninh cũng bị chịu ảnh hưởng nặng nề

Cụ thể làng Ninh Xá có 226 người chết đói trong những năm 1945, La Xuyên có

194 người, Lũ Phong có 245 người và Trịnh Xá có 39 người (Sưu tầm) Sau đó làdiễn ra quá trình cải cách ruộng đất trên quy mô lớn với 2116 mẫu trong đó Ninh Xá

có 717 mẫu, La Xuyên 354 mẫu, Lũ Phong 598 mẫu, Trịnh Xá là 447 mẫu (sưutầm),

Một năm có một vụ chiêm và một vụ mùa Vụ chiêm ruộng được cày từtháng 6 khi nước trong ruộng dân cao, Sau khi máy cày san đều các thửa ruộng,người nông dân sẽ đo bờ đắp đất, phân chia các thủa ruộng của mình để thực hiệngieo mạ hay cấy Những thửa ruộng ở phần đất cao, nước không vào được, thì phảitát nước, tháo nước từ trên ruộng cao xuống, công việc này diễn ra trước khi thựchiện công cuộc cấy mạ

Mạ chiêm thường được gieo vào tháng 10 âm lịch, tuy nhiên lịch gieo mạ cóthể thay đổi tùy vào thời tiết có thể diễn ra sớm hoặc muộn hơn Loại lúa thườngđược người dân lựa chọn là những lúa ngắn ngày, có khả năng chịu đựng thời tiếtcao, có năng suất lớn Hình thức gieo mạ, nông dân có thể gieo mạ tại nhữngkhoảnh ruộng riêng hoặc có thể gieo mạ ngay trên sân nhà bằng cách trở bùn từ

Trang 33

ngoài ruộng đổ đầy và san phẳng sau đó gieo mạ Mạ được ngâm trong 12 tiếng vớinước ấm khi mạ mọc mầm Ngâm mạ đòi hỏi kỹ thuật cao thường những người lớntuổi trong gia đình đảm nhiệm việc ngâm mạ, đảm bảo cho lúa ra rễ đều, không bịủng Khi mạ đủ tuổi, cây đẻ nhánh thì bắt đầu nhổ, buộc thành từng túm hoặc lấynhững mảng mạ trên sân mang đi cấy Việc cấy lúa vụ chiêm thường bắt đầu trước tết

âm lịch tùy thuộc vào thời tiết để điều chỉnh lịch cấy cho phù hợp đảm bảo cho cây lúcsinh trưởng tốt, chống chịu được rét Tháng 5 là mùa thu hoạch lúa chiêm Khi thuhoạch lúa,nếu trước kia, người dân sau khi gặt sẽ mang về nhà sau đó máy sẽ đến tuốtlúa, tuy nhiên để giảm công sức lao động, người dân sẽ tuốt lúa ngay tại ruộng rồimang lúa về nhà Rạ sau khi tuốt lúa xong, sẽ được người dân đem phơi tại ruộng chođến khi khô sẽ được đốt để làm phân bón ruộng

Sau khi xong vụ chiêm, đất sẽ được nghỉ một thời gian bằng việc đan xentrồng cây đan xen như lạc đậu, khoai tạo dinh dưỡng cho đất sau đó người dân lạitiếp tục vụ mùa Vụ mùa nước thường dâng cao, người nông dân tập trung cấy trêncác đồng cao và năng suất thấp so với vụ chiêm

Một năm hai vụ lúa, đủ cung cấp lương thực cho người dân trong làng Tuynhiên, thời tiết thay đổi, mất mùa thường xuyên xảy ra, thu hoạch lúa không đủ ăn,

vì vậy nhiều người nông dân bỏ ruộng, khoán lại ruộng Người dân làng Ninh xá tìmđến làng nghề truyền thống của làng để tăng thêm thu nhập

2.1.2 Nghề thủ công mỹ nghệ

Sự ra đời của nghề thủ công mỹ nghệ

Theo ngọc phả của đền Ninh Xá:

Thời vua Lê Đại Hành đóng đô ở Hoa Lư, phải đối mặt với quân Tống từphương Bắc xâm chiếm nước ta Vua Lê Đại Hành đích thân đem quân chống giặc.Khi đi qua núi Dục Thúy thì gặp gió to, sóng lớn không thể di chuyển được, bỗngnhiên vua nhìn thấy 3 con rồng từ trên sông bay vào trong hang núi, lúc sao trờiquang mây tạnh, mặt nước phẳng lặng Cuối mùa xuân năm Tân Tỵ (981), quânTống thất bại, vua quay trở về kinh đô Vua Lê Đại Hành từ Hoa Lư đi cày tịch điền

ở núi Đọi, lăng Sơn Đọi, tổ nghề Ninh Hữu Hưng được vua cho đi hộ giá, trênđường trở về cung, vua Lê Đại Hành ghé qua làng Thiết Lâm (rừng gỗ lim) trên

Trang 34

dòng sông Sắt thờ Diêm La thiên tử và hai vị tướng thời Hùng Vương là LươngBình Vương và An Nhu Vương Thấy xóm làng khi ấy còn thưa thớt, hiu quạnh, vuacho lưu tổ Ninh Hữu Hưng ở lại xây dựng xóm làng và tôn tạo miếu chùa Vùng đất

2 bên bờ sông ông chiêu dân tụ hội, khuyến khích canh nông và phát triển thủ công,

hỗ trợ, giúp đỡ nhau chế tác các đồ dùng cần thiết Sau khi ông mất, để tưởng nhớcông ơn của người có công truyền nghề cho dân chúng, vì vậy đều lấy họ Ninh ởđầu, vì thế khu này có tên là Ninh Gia ấp, tức Yên Ninh ngày nay

“Tinh hoa non nước, tú khí biển rộng

Sinh quán ấp Chi Phong, tổ nghề làng Ninh Xá

Nối nghiệp nhà đã là thợ giỏi

Giúp Đinh Lê xây dựng điện đài

Đã có tài lại thêm chí dung

Cùng vua lê về đất thiết lâm

Biết tài năng vua sai ở lại

Sửa đền siêu, chiêu dân lập ấp

Cấp gạo tiền, dân nghèo hội tụ

Tứ xứ về phát triển nghề nông

Ăn đã đủ, tiền tiêu còn thiếu

Truyền nghề mộc làm kế sinh nhai

Công đức này sánh tày cha mẹ

Thay họ mình được lấy họ Ninh

Kể từ khi ấy đến nay

Tên làng, tên họ chữ Ninh đứng đầu”

(Trích văn tế tại làng Ninh Xá, Yên Ninh,Ý Yên, Nam Định)

Hơn 1000 năm nay, người dân trong làng đã trở thành làng nghề chạm khắc

gỗ nổ và có bề dài lịch sử lâu đời nhất Người dân trong khu vực Thiết Lâm, CáiNành đi khắp nơi trong cả nước xây dựng cung điện, đền chùa, miếu phủ và tạo ranhững sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ có độ tinh xảo và đòi hỏi kỹ thuật cao Trong ngọcphả của làng có lưu lại trong Bộ Lễ của triều Lê do tiến sỹ Nguyễn Hoàn viết năm

1749 “Chi lê triều phục hung Nguyên Hòa Giáp nọ niên, Lê Đế Hạnh từ quan dânnghệ nghiệp, kiến kỳ hương dân phong tục thuần phác, mộc tượng tinh thông tiệnđới ngũ nhân hồi kinh khai mộc phường chấn hưng thủ nghệ” dịch là Thời nhà Lêtrung hưng, niên hiệu Nguyên Hòa năm Giáp Ngọ (1534), vua Lê (Trang Tông) cóqua làng xem dân làm nghề Nhà vua thấy phong tục nơi đây thuần phác, nghềnghiệp tinh thông bèn đem 5 người về kinh đô mở rộng chấn hưng nghề mộc”

Trang 35

Ban đầu người dân làm những đồ dùng cần thiết, phục vụ đời sống hànghàng ngày Qua quá trình học hỏi, đi làm thuê ở khắp các vùng trên cả nước, taynghề của người dân ngày càng nâng cao, từ việc làm những sản phẩm đồ gỗ phục

vụ đời sống thường nhật, thì các sản phẩm có tinh xảo đòi hỏi kĩ thuật cao đã đượchoàn thành bởi bàn tay khéo léo của người thợ như các công trình kiến trúc mangtính tôn giáo, kiến trúc để phục vụ đời sống tâm linh như đền, chùa, miếu v.v Ngàynay, một cuộc sống tấp nập, nhộn nhịp ở làng quê Ninh Xá, một lượng lớn xe buôn

từ các tỉnh thành lân cận tụ tập để bốc, xếp hàng để chở đi buôn khắp nơi Một cuộcsống náo nhiệt nơi làng nghề truyền thống, người ra người vào, tiếng cười tiếng nói,tiếng mặc cả của người buôn kẻ bán Hàng ngày trung bình trăm xe khách buôn ghéqua, hàng trăm sản phẩm như bàn ghế, sập, đồ thờ được vận chuyển đi Giá cả hợp

lý, mẫu mã phong phú chất lượng tốt là những yếu tố thu hút lượng khách lớn đồ vềlàng

Trang 36

Để làm ra một sản phẩm hoàn thiện thì ở mỗi giai đoạn sử dụng những công

cụ phù hợp Chẳng hạn ở giai đoạn phác thảo ra hình thù sản phẩm thô, người thợ sẽdùng cưa để tạo khối Nếu như trước kia công cụ thô sơ, người thợ dùng cưa đơnhoặc cưa đôi cắt khúc gỗ ra các hình khác nhau Ngày nay, sự tiến bộ của côngnghệ, người thợ thực hiện thao tác đưa gỗ vào máy cưa được cài đặt sẵn Việc sửdụng máy giúp cho người thợ rút ngắn được thời gian kéo cưa bằng tay

Sau khi có khối gỗ như mình mong muốn, bước tiếp theo là dùng bút phácthảo ra hình hài, đường nét cần đục thông qua các mẫu vẽ đã chuẩn bị từ trước.Ngày nay thì công đoạn này được xử lí bằng máy móc hiện đại Người thợ chỉ cầnchọn mẫu tương ứng sau đó lập trình sẵn trên máy tính, Họa tiết trên gỗ thường lànhững điển tích cũ, hay hình long, ly, quy, phụng Như vậy sẽ đảm bảo được độchính xác cao hơn, các đường phác thảo rõ nét

Chạm được coi là công đoạn khó nhất, đòi hỏi tay nghề cao, sự khéo léo, làbước tạo nên linh hồn của sản phẩm, vì vậy chỉ có những người thợ lành nghề mớiđảm nhiệm công đoạn này Dựa trên những nét phác thảo, thợ mộc sẽ sử dụngnhững chiếc đục có hình thù khác nhau để chạm khắc gỗ

Trà lu và đánh giấy giáp là những bước cuối cùng trước khi sản phẩm hoànthiện, tạo cho sản phẩm trở nên mượt, sáng bóng, tôn lên những hoạt tiết của gỗ.Giai đoạn này không đòi hỏi kĩ thuật cao thường là những lao động phổ thổng thức

Trang 37

hiện Nếu trước kia, người dân thường trực tiếp dùng tay với giấy giáp để đánhbóng sản phẩm thì hiện nay có nhiều thiết bị hỗ trợ như mấy bào, máy đánh bóng.

Tuy nhiên, để đưa sản phẩm đến các giai đình sử dụng được, thì người thợ sẽthực hiện công đoạn cuối cùng là phun sơn, sơn son thiếp vàng để đảm bảo sảnphẩm có thể giữ được lâu, không mối mọt

Các sản phẩm chính

Ban đầu, những người thợ làng Ninh Xá đi khắp nơi để tham gia xây dựngcác công trình kiến trúc như đình, chùa miếu mạo Những công trình nổi tiếng cảnước hiện nay cũng một phần nhờ bàn tay khéo léo của thợ mộc làng Ninh Xá và cógiá trị lịch sử, văn hóa cao Theo lời kẻ của các cụ lão niên trong làng thì ban đầunhững người thợ Ninh Xá chỉ tham gia vào việc làm nhà, đóng thuyền, dựng chùa,tạc tượng, hay làm ra các sản phẩm phục vụ đời sống thường nhật Tận dụng nguồnnguyên liệu có sẵn, người thợ mộc sáng tạo ra những sản phẩm mới có giá trị kinh

tế, thẩm mỹ cao hơn khởi nguồn từ nghệ thuật trang trí trên đồ gỗ, Khi nhắc đếnlàng Ninh Xá, mọi người thường nhớ đến những thợ mộc tham gia xây dựng cáccông trình như Nhà thờ đá Kim Sơn, quần thể di tích phủ Dày v.v Tiếp theo đó làcác ẩn phẩm như sập gụ, tủ chè, giường, phản được làm ra đáp ứng thị yếu của mọingười Tiếp đến thời kì Pháp thuộc ở Đông Dương, chính quyền khuyến khích hoạtđộng giao thương giữa các vùng, khôi phục ngành nghề thủ công mỹ nghệ Vì vậy,người thơ có cơ hội học hỏi, giao lưu, nân cao tay nghề tạo ra sản phẩm mới phongphú hơn Như vậy có thể nói, ngoài việc vẫn còn duy trì các công việc như tạctượng, làm đình, chạm khắc phù điêu thì các đồ gia dụng như bàn ghế, kệ, khunggương được đẩy mạnh phát triển

Trang 38

Đầu tiên có thể kể đến đồ thờ được coi là sản phẩm chủ đạo của làng Ninh

Xá, được duy trì và gìn giữ nhiều năm Một phần do vùng đất Ninh Xá nằm trongkhu vực chịu ảnh hưởng của yếu tố cung đình (thời Lí và thời Trần), vì vậy các sảnphẩm làm ra mang hơi hướng cung đình, phục vụ nhu cầu tâm linh tín ngưỡng Cóthẻ kể đến các sản phẩm như cuốn thư, câu đối, bàn thờ, ngai thờ, ống hương, đại tựv.v Các sản phẩm này yêu cầu sự tỉ mỉ, sự chính xác cao, có sự tính toán kỹ lượng

để sản phẩm làm ra đều có cái hồn, thần sắc trong đó Chẳng hạn như tượng QuanThế Âm phải toát lên vẻ từ bi, phổ độ chúng sinh hay các tượng Trừng Ác toát lên

vẻ uy nghi, dũng mãnh, dữ tợn

Các sản phẩm đồ gia dụng như bàn ghế, sập gụ tủ chè được người dân làngNinh Xá chạm khắc tinh tế, khéo léo theo phong các cổ điển bằng các loại gỗ nhưlim, táu, hương, trầm, gụ Các họa tiết trên sản phẩm chủ yếu là hoa lá, tùng, cúctrúc mai, cầm kì thi họa, vinh quy bái tổ Trong tư gia của các gia đình khá giả ngàyxưa thường được đặt một bộ sập gụ - tủ chè ở ngay gian chính của ngôi nhà, bêntrên là các bức tranh gỗ với các đề tài: cầm kì thi họa, tùng cúc trúc mai hay tranhhình rẻ quạt

Tổ chức sản xuất

Mặc dù nghề mộc truyền thống ra đời từ lâu, tuy nhiên trong thời gian đầu,chỉ có một số hộ gia đình nhỏ lẻ duy trì nghề làm mộc còn lại người dân trong làngvẫn tham gia sản xuất nông nghiệp hoặc đi đến khắp nơi làm thuê

Khi nghề mộc bắt đầu phát triển, được nhiều người biết đến, nông nghiệpkhông mang lại một cuộc sống no đủ, người dân làng Ninh Xá quay lại tập trungvào nghề mộc Ban đầu, hoạt động nghề mộc dưới sự quản lý của hợp tác xã Sau

đó, do nhu cầu mở rộng kinh doanh sản xuất thì xuất hiện hình thức công ty tráchnhiệm hữu hạn, công ty tư nhân quản lý theo kiểu gia đình tức thành viên trong giađình tham gia vào các khâu sản xuất quan trọng, thuê nhân công là người dân tronglàng hoặc các làng lân cận làm việc Hiện tại, trong làng có sự phân công khu vực

để kinh doanh sản xuất Chẳng hạn đối với khu vực bên trong làng, khó tiếp cận vớikhách hàng thì tập trung vào sản xuất sản phẩm Sau khi sản phẩm hoàn thành sẽ

Trang 39

tập kết đến khu thương mại nơi có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh như đườngquốc lộ, xe buôn có thể dễ dàng di chuyển vào Đó là hình thức kinh doanh hộ giađình Còn đối với công ty tư nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn, thường sảnxuất tất cả các khâu từ việc bắt đầu chọn gỗ cho đến khi làm ra sản phẩm cuối cùng,theo mô hình khép kín và cuối cùng là tìm đầu ra cho sản phẩm.

Bảng 2.1 Các loại hình kinh doanh tại xã yên Ninh

Công ty trách nhiệm hữu hạn 9

(nguồn: Số liệu thống kê năm 2007 của UBND xã Yên Ninh)

Tác động của nghề gỗ đối với đời sống dân làng Ninh Xá

Nếu trước kia, người dân làng Ninh Xá, phụ thuộc nhiều vào trồng lúa là thunhập chính, thì với sự phát triển của làng nghề thủ công mỹ nghệ hiện nay đã manglại thu nhập cao cho người dân Hầu hết các gia đình trong làng tập trung vào việcsản xuất, chạm khắc các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Với lợi thế giao thông thuận lợi cho việc buôn bán khi có đường quốc lộ 10,đường sắt bắc nam và đường cao tốc chạy qua cùng với danh hiệu làng nghề truyềnthống, làng Ninh Xá đang ăn nên làm ra với nghề truyền thống được ông tổ NinhHữu Hưng truyền lại Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ không đơn thuần là các sảnphẩm tiêu dùng, phục vụ đời sống hàng ngày của người dân mà còn là các sản phẩm

có tính văn hóa mang ý nghĩa vùng miền độc đáo Cùng với làng nghề La Xuyên,ngành nghề thủ công mỹ nghệ này đã tạo công ăn việc làm cho hơn 2.500 - 3.000lao động làm việc cho hơn 20 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hàng trăm cơ sở nhỏgia công sản xuất ở các vùng lân cận, doanh thu từ làm nghề mộc 60-70 tỷ đồngchiếm hơn 60% cơ cấu kinh tế của toàn xã Yên Ninh

Trang 40

Hình 2.1 Sản phẩm bàn thờ của làng Ninh Xá

(nguồn: Ảnh tác giả chụp)Các mảng sản xuất gỗ chính: đục sản phẩm đồ thờ dùng cho Phật giáo Sảnxuất các mặt hàng đồ gỗ gia dụng như giường tủ, bàn ghế, cửa các loại, hàng trangtrí nội thất Không chỉ sản xuất các mặt hàng gia dụng, người dân cũng tập trung vànhững sản phẩm đồ gỗ cao cấp, cầu kỳ, sang trọng theo phong cách truyền thốngnhư tủ chè, sập gụ, sập lim, chạm trổ hoa văn các loại theo nhu cầu của khách hàng.Dưới bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, những mảng gỗ thô sơ đã được thổi hồn,mang giá trị thẩm mỹ cao, và có giá trị kinh tế cao

2.2 Đặc trưng về văn hóa đảm bảo đời sống

Ngày đăng: 07/11/2019, 12:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan Ánh (2000), Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua các nếp cũ gia đình, Nxb Văn nghệ, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toan Ánh (2000), "Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua các nếp cũ gia đình
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2000
2. Phan Gia Bền (1957), Sơ khảo phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, Nxb Văn sử địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ khảo phát triển thủ công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Phan Gia Bền
Nhà XB: Nxb Văn sử địa
Năm: 1957
3. Phan Kế Bình (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bình
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1990
4. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Biến đổi văn hóa tại các làng quê hiện nay, Nxb Văn hóa thông thin và viện văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hóa tại các làng quê hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông thin và viện văn hóa
Năm: 2009
5. Mai Ngọc Chừ (1999), Văn hóa Đông Nam Á, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Nam Á
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w