1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đền, chùa trong không gian văn hóa làng phấn vũ ( xã thụy xuân, huyện thái thụy, tỉnh thái bình)

131 594 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 3,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân xã Thụy Xuân, Ban Quản lý cụm di tích, các cụ cao niên trong làng xã và đặc biệt là ông Lê Xuân Hưng - Trưởng Ban Quản lý di tích lịch sử văn hó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

- -

LÊ THỊ MỸ HUYỀN

ĐỀN, CHÙA TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA

LÀNG PHẤN VŨ (XÃ THỤY XUÂN,

HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

Mã số: 60.22.01.13

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Văn Lợi

Hà Nội - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Lê Thị Mỹ Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Phạm Văn Lợi – người đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân xã Thụy Xuân, Ban Quản

lý cụm di tích, các cụ cao niên trong làng xã và đặc biệt là ông Lê Xuân Hưng - Trưởng Ban Quản lý di tích lịch sử văn hóa đền, chùa làng Phấn Vũ

và ông Nguyễn Văn Sang - Trưởng Ban Khánh Tiết di tích lịch sử văn hóa đền, chùa làng Phấn Vũ đã cung cấp cho tôi những tư liệu quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cùng các giảng viên, cán bộ Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt để tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, thầy cô và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả

Lê Thị Mỹ Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1:KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG PHẤN VŨ 11

1.1 Điều kiện tự nhiên 11

1.1.1 Vị trí địa lý 11

1.1.2 Địa hình 11

1.1.3 Khí hậu 12

1.1.4 Thủy văn 13

1.1.5 Thổ nhưỡng 14

1.1.6 Động thực vật 14

1.2 Một số vấn đề lịch sử và cư dân 15

1.2.1 Lịch sử hình thành làng 15

1.2.2 Quá trình phát triển cư dân 16

1.3 Các hoạt động kinh tế 19

1.3.1 Thủ công nghiệp 19

1.3.2 Nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản 20

1.3.3 Diêm nghiệp 22

1.3.4 Kết cấu hạ tầng 23

1.4 Một vài vấn đề về xã hội 24

1.4.1 Dân số, lao động và việc làm 24

1.4.2 Tổ chức xã hội 24

1.5 Đôi nét về văn hóa 26

1.5.1 Văn hóa ẩm thực 26

1.5.2 Văn hóa ở 28

1.5.3 Văn hóa mặc 30

1.5.4 Văn hóa ứng xử với môi trường biển 30

1.5.5 Tôn giáo, tín ngưỡng 32

Trang 5

Tiểu kết 38

CHƯƠNG 2:CỤM DI TÍCH ĐỀN, CHÙA LÀNG PHẤN VŨ 39

2.1 Lịch sử khu di tích 39

2.1.1 Chùa Phấn Vũ (Minh Đồng tự) 39

2.1.2 Đền Mẫu 39

2.1.3 Đền Quan Lớn Thống 40

2.2 Kiến trúc 40

2.2.1 Kiến trúc chùa Phấn Vũ 40

2.2.2 Kiến trúc đền Mẫu 41

2.2.3 Kiến trúc đền Quan Lớn Thống 42

2.3 Điêu khắc 44

2.4 Đối tượng thờ tự 44

2.4.1 Chùa Phấn Vũ 44

2.4.2 Đền Mẫu 45

2.4.3 Đền Quan Lớn Thống 49

2.5 Lễ hội 50

2.5.1 Phần lễ 50

2.5.2 Phần hội 53

Tiểu kết 61

CHƯƠNG 3:ĐỀN CHÙA LÀNG PHẤN VŨ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 63

3.1 Mối quan hệ giữa cụm di tích và không gian văn hóa làng 63

3.1.1 Vai trò của không gian văn hóa làng với cụm di tích 63

3.1.2 Vai trò của cụm di tích với không gian văn hóa làng 65

3.2 Một số vấn đề đặt ra 69

3.2.1 Hiện trạng di tích 69

3.2.2 Vấn đề khách tham quan 71

Trang 6

3.2.3 Vấn đề quản lý, tổ chức hướng dẫn/ phục vụ khách tham quan 73

3.2.4 Vấn đề tổ chức lễ hội 75

3.2.5 Hoạt động mê tín dị đoan tại cụm di tích 76

3.3.2 Nhóm giải pháp hoạt động thực tiễn 83

Tiểu kết 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 1

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn hoá là một thực thể sống động, có sự vận động cả trong không gian

và thời gian Nhìn theo chiều thời gian, văn hoá Việt Nam là một diễn trình lịch sử có những quy luật phát triển của nó Nhìn trong không gian, văn hoá Việt Nam có sự khác biệt qua các vùng miền Mỗi miền quê, mỗi vùng đất đều tự nó mang trong mình dấu ấn văn hoá riêng biệt, vừa có những nét đặc thù, lại vừa thống nhất trong tính chỉnh thể của nền văn hoá dân tộc Việt Nam Thụy Xuân – một miền quê biển, một quê hương giàu truyền thống cách mạng, một vùng đất đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử hình thành và phát triển, chứa đựng trong đó cốt cách bản chất của cư dân vùng ven biển Bên cạnh những nếp sinh hoạt văn hóa truyền thống của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thụy Xuân còn mang đặc trưng nếp sinh hoạt của cư dân vùng

biển, thể hiện sức mạnh“Chèo sóng, chém gió”, ý chí kiên cường bất khuất,

chinh phục cải tạo thiên nhiên, chống lại các thế lực cường quyền, áp bức và giặc ngoại xâm Mang những nét đặc trưng của vùng đất Thụy Xuân, Thái Thụy, Thái Bình, làng Phấn Vũ là linh hồn của vùng đất, là không gian văn hóa thu nhỏ của miền quê biển Thụy Xuân

Có thể thấy văn hoá làng xã có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn hoá Việt Nam Trong đó, đền, chùa lại

là nhân tố phổ biến góp phần tạo nên hệ thống văn hoá làng xã truyền thống của cộng đồng người Việt (Kinh), có tác động sâu sắc, toàn diện đến nhiều mặt của xã hội Đền, chùa ở Việt Nam không đồ sộ nguy nga như ở Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản hay Thái Lan, Campuchia nhưng ở nơi đâu cũng có Từ những thảo am trong thôn xóm hẻo lánh đến những ngôi chùa, ngôi đền kiến trúc bằng vật liệu kiên cố tại các đô thị, tất cả đều mang sắc thái gọn nhẹ,

Trang 8

thanh thoát và tĩnh mịch Chúng hòa quyện lại với nhau tạo thành những gam màu chủ đạo trong bức tranh văn hóa Việt sống động, đa dạng và phong phú Mỗi ngôi đền, ngôi chùa được xây dựng là quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật của các thế hệ cư dân, thể hiện từ những tảng đá kê chân cột đến những tàu đao lá mái Đối với người Việt, đền, chùa không chỉ là không gian tôn giáo, là nơi diễn ra các hoạt động tâm linh, thể hiện lòng thành kính của con người mà còn là nơi sinh hoạt cộng đồng, in dấu những giá trị văn hóa dân tộc, là nơi mỗi người con khi xa quê luôn hướng về:

“Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng

Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông”

(“Nhớ chùa” – Huyền Không)

Cũng như bao di sản văn hóa trong mỗi làng quê Việt Nam, những ngôi đình, đền, chùa trên địa bàn xã Thụy Xuân nói chung, làng Phấn Vũ nói riêng

đã được hình thành và đồng hành tồn tại với quá trình lập đất, giữ làng Trải qua bao thăng trầm lịch sử, cụm di tích đền chùa làng Phấn Vũ đã thực sự trở thành biểu hiện sinh động các giá trị văn hóa tinh thần của người dân Phấn Vũ; là nơi gặp gỡ của mỗi thành viên vào dịp hội hè, lễ tết, là sợi dây vô hình

cố kết con người trong làng, trong xóm Chùa Phấn Vũ, đền Mẫu, đền Quan Lớn Thống mang trong mình những giá trị văn hóa đặc sắc Sắc phong của các triều đại từ nhà Lê đến nhà Nguyễn cho thấy: Đền Mẫu làng Phấn Vũ phụng thờ Đức Nam Hải Thánh Mẫu - vị thần cai quản 12 cửa biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Đền Quan Lớn Thống là nơi người dân tổ chức cúng lễ cầu an mong Quan Lớn phù hộ cho mùa màng tôm cá bội thu Chùa Phấn Vũ đã gắn

bó mật thiết với người dân nơi đây với những sinh hoạt tôn giáo, sinh hoạt văn hóa cộng đồng qua các thời kỳ Chùa Phấn Vũ còn đóng góp quan trọng

Trang 9

trong công cuộc đấu tranh giải phóng quê hương, là nơi hoạt động của các bậc tiền bối cách mạng, của du kích làng Phấn Vũ góp phần tô thêm trang sử vẻ vang của quê hương đất biển Anh Hùng

Là một người con sinh ra trên mảnh đất Thụy Xuân, tôi chọn đề tài

“Đền, chùa trong không gian văn hóa làng Phấn Vũ (xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)” làm luận văn thạc sĩ với hi vọng hiểu rõ thêm về

những giá trị của cụm di tích; thấy được mối quan hệ giữa cụm di tích và không gian văn hóa làng Phấn Vũ; giúp người dân Thụy Xuân, đặc biệt là thế

hệ trẻ biết trân trọng văn hóa truyền thống ngay trên mảnh đất quê hương

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Từ lâu hệ thống đền, chùa Việt Nam nói chung và hệ thống đền, chùa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng đã trở thành đối tượng quan tâm của các nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ: văn hoá dân gian, kiến trúc, điêu khắc, tôn giáo, khảo cổ học, dân tộc học, lịch sử Có thể kể đến một số công trình sau:

Công trình nghiên cứu đầu tiên cần phải kể đến là cuốn “Chùa Việt”

của tác giả Trần Lâm Biền [8] Cuốn sách đã khái quát quá trình phát triển của ngôi chùa Việt, phân tích giá trị văn hoá, hướng, bố cục chung và khảo tả

về hệ thống tượng thờ trong chùa

Cuốn Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng ở Việt Nam của tác giả Trần Mạnh

Thường [59] giới thiệu về các công trình kiến trúc cổ, những thành, lũy, đền, tháp, đình, chùa, miếu… ở Việt Nam được xếp hạng cấp quốc gia trên phạm

vi cả nước

Cuốn 250 đình chùa nổi tiếng Việt Nam của tác giả Ngô Thị Kim

Doan [13] nghiên cứu về những ngôi chùa ở Việt Nam từ xưa đến nay, cùng với phong cách nghệ thuật chùa của Việt Nam từ thế kỷ X đến chùa đất, chùa gỗ cho tới phong cách nghệ thuật, chùa của người Khơ me, người Hoa, người Chǎm

Trang 10

Cuốn Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền chùa, miếu phủ của tác giả Trương

Thìn [53] tìm hiểu về việc thờ cúng gia tiên, về tín ngưỡng lên chùa lễ Phật, lễ Thánh thần ở các đình, đền, miếu phủ

Tiếp theo, cuốn Chùa Việt Nam của tác giả Hà Văn Tấn [46] đã giới

thiệu về 118 ngôi chùa trong cả nước, trong đó có hai dạng chùa mới ít thấy xuất hiện là chùa miền núi và chùa miền hải đảo Đây là công trình nghiên cứu kết tinh các hình ảnh và giá trị của khối di sản văn hoá và tôn giáo - tín ngưỡng, được các tác giả thể hiện tinh tế, súc tích qua bài dẫn luận công phu

về toàn cảnh chùa Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và quá trình du nhập đạo Phật từ Ấn Độ vào Việt Nam

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, tìm hiểu về đền chùa cụ thể ở một địa phương, một làng xã thì chưa có nhiều

Cụm di tích đền, chùa làng Phấn Vũ cũng đã được một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhưng chưa thật sự sâu sắc, cụ thể Các nhà nghiên cứu

đã đề cập đến cụm di tích đến chùa làng Phấn Vũ trên từng lĩnh vực và khía

cạnh khác nhau, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, như cuốn Địa chí Thái

Bình do Nguyễn Quang Ân và Phạm Minh Đức chủ biên[2] đã thống kê danh sách các di tích thuộc tỉnh Thái Bình được xếp hạng cấp tỉnh và cấp Quốc gia

Cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Thụy Xuân (1927 – 1975) [33], Lịch sử Đảng bộ

huyện Thái Thụy (1927 - 2005) [32]cung cấp thêm một số tư liệu khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội, truyền thống đấu tranh bất khuất quật cường của nhân dân làng Phấn Vũ, trong đó đề cập đến chùa làng Phấn Vũ là di tích lịch

sử, là nơi hoạt động cách mạng của các chiến sỹ yêu nước Năm 2012, một số

tư liệu nghiên cứu về cụm di tích của Ban Quản lý di tích tỉnh Thái Bình như:

Lý lịch di tích đền, chùa làng Phấn Vũ, xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình; Báo cáo điều tra giá trị lịch sử đền, chùa làng Phấn Vũ; Bản vẽ kiến trúc di tích đền, chùa làng Phấn Vũ nhằm đề nghị xếp hạng cụm di tích

Phấn Vũ là di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh Với những tư liệu đó, ngày 10

Trang 11

tháng 10 năm 2012, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Bình đã ra quyết định công nhận cụm di tích này là di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh Tuy nhiên, những tư liệu này chỉ mới tập trung vào khai thác giá trị lịch sử văn hóa cách mạng nhưng cũng chưa thực sự chuyên sâu, trong khi đó còn nhiều vấn đề chưa được đề cập đến hoặc đề cập còn ít và sơ sài như: Lịch sử hình thành làng, hình thành cụm di tích; lễ hội, kiến trúc; công tác bảo tồn, tôn tạo, Bên cạnh

đó, các nguồn tư liệu này mới chỉ nghiên cứu về cụm di tích; các nhà nghiên cứu chưa đặt cụm di tích trong mối quan hệ qua lại với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của cư dân làng Phấn Vũ (hay chính xác hơn) các công trình nghiên cứu đó chưa đặt cụm di tích (đền chùa) trong không gian văn hóa làng

Phấn Vũ Vì vậy, có thể thấy đề tài luận văn “Đền, chùa trong không gian

văn hóa làng Phấn Vũ (xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)” là

một công trình nghiên cứu hoàn toàn mới, cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng

Cụm di tích đền, chùa làng Phấn Vũ (bao gồm: chùa Phấn Vũ, đền Mẫu, đền Quan Lớn Thống) trong mối quan hệ với không gian văn hóa làng Phấn Vũ

Trang 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu

 Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu cụm di tích đền chùa

trong không gian làng Phấn Vũ, xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, nhưng có mở rộng ra trong mối quan hệ với một số làng, xã xung quanh

 Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu cụm di tích đền chùa

làng Phấn Vũtừ năm 1986 - 2014, nhưng có quan tâm đến các vấn đề lịch sử

từ khi đền, chùa được xây dựng cho đến hiện nay (2014)

 Phạm vi vấn đề: Luận văn nghiên cứu cụm di tích đền, chùa làng Phấn Vũ

trên các góc độ kiến trúc, điêu khắc, đối tượng thờ tự và các hoạt động thờ cúng, lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo… diễn ra tại cụm di tích trong mối quan hệ

qua lại với không gian văn hóa làng Phấn Vũ

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 Phương pháp tiếp cận khu vực học và liên ngành:

Luận văn đặt cụm di tích đền, chùa trong không gian văn hóa làng Phấn

Vũ - một không gian văn hóa có sự giao thoa giữa những yếu tố văn hóa Việt vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và những yếu tố văn hóa Việt vùng ven biển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay Luận văn

sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của các ngành sử học, dân tộc học, xã hội học,… để thu thập và xử lý tư liệu khi viết luận văn

 Phương pháp Lịch sử:

Nghiên cứu tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được công bố (xuất

bản) để xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận văn và xác định các tài liệu về đền, chùa, về không gian văn hóa làng Phấn Vũ trong quá khứ và hiện tại có thể sử dụng trong luận văn

 Phương pháp Dân tộc học/ Nhân học

Phương pháp khảo sát thực địa của ngành Dân tộc học bao gồm một

loạt phương pháp nghiên cứu cụ thể như quan sát (quan sát tham dự và không tham dự), phỏng vấn (phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố), thảo luận nhóm,

Trang 13

chụp ảnh, quay video,… được sử dụng để thu thập tư liệu trên thực địa về kiến trúc, điêu khắc, cách thức bố trí không gian thờ cúng của cụm di tích và các hoạt động thờ cúng, lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo diễn ra trong cụm di tích

và mối quan hệ giữa cụm di tích với không gian văn hóa làng Phấn Vũ trong lịch sử và hiện tại Đây là phương pháp khai thác và cung cấp nguồn tư liệu

định tính chủ yếu để hoàn thành luận văn

Phân tích, tổng hợp, đối chiếu các nguồn tư liệu Đây là phương pháp

được sử dụng để viết luận văn

6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

 Cung cấp nguồn tư liệu chi tiết, cụ thể và hệ thống về cụm di tích trên các góc độ kiến trúc, điêu khắc, đối tượng thờ tự và các hoạt động thờ cúng, lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo diễn ra tại cụm di tích, trong mối quan hệ, tác động qua lại với không gian văn hóa làng Phấn Vũ

 Chỉ ra những vấn đề đang đặt ra với cụm di tích trong quá trình tồn tại và phát triển

 Đưa ra một số khuyến nghị giải pháp góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát triển cụm di tích

Trang 14

CHƯƠNG 1:

KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG PHẤN VŨ

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Làng Phấn Vũ thuộc xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Nằm ở vị trí trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương, có điểm nút giao thông quan trọng của tuyến đường liên xã, liên huyện đi các tỉnh biên giới phía Bắc sang Trung Quốc và các vùng miền trên cả nước, thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi buôn bán: Phía Đông giáp với biển Phía Tây giáp thôn Xuân Bàng, làng Bình Lạng và đường đi đến xã Thụy An Phía Nam giáp làng Vạn Xuân, xã Thụy Xuân Phía Bắc giáp xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

Làng Phấn Vũ cách thị trấn Diêm Điền 7km, cách thành phố Thái Bình khoảng 40km, cách thành phố Hải Phòng 80km, cách thủ đô Hà Nội 120km

Từ làng đến biển chỉ khoảng 1km rất thuận lợi cho người dân ra biển đánh bắt hải sản Năm 2013, xã Thụy Xuân đã xây dựng xong đường đêpan càng tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho giao thông đường bộ Cùng với giao thông đường bộ thì đường thủy khá phát triển, tạo điều kiện cho Phấn Vũ trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội cũng như việc tiếp thu các thành tựu khoa học, công nghệ và tăng khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức trong và ngoài nước

1.1.2 Địa hình

Nền địa hình Thái Bình là đồng bằng được hình thành cách đây không

lâu "Đường bờ biển chỉ mới được bồi đắp trong vòng 100-200 năm trở lại

đây" [2, tr 30] Về tổng thể, Thái Bình là một tỉnh đồng bằng, không có đồi

núi, bao gồm các cánh đồng bằng phẳng, xen kẽ các khu dân cư, mạng lưới

Trang 15

sông ngòi chằng chịt, độ cao trung bình của tỉnh không quá 3m so với mực

nước biển Địa hình Thái Bình được chia thành các khu vực: "Loại hình ven

sông; loại hình đất cao phía Tây Bắc; loại hình đất thấp ven sông Hóa; loại hình đất trũng ở giữa tỉnh và loại hình đất tương đối cao ven biển" [2, tr 35]

Loại hình đất tương đối cao ven biển gọi là vùng tiếp giáp biển gồm các xã phía Đông Nam huyện Tiền Hải và Đông Nam huyện Thái Thụy, trong đó có

xã Thụy Xuân Theo đó, làng Phấn Vũ nằm trên vùng đất cao, chịu tác động trực tiếp của sóng gió biển Đông Bờ biển Thái Thụy luôn biến động theo thời gian, có sự bồi đắp và tiến ra xa biển nên diện tích có sự thay đổi theo chiều hướng tăng dần lên Đoạn bờ biển từ cửa sông Trà Lý đến cửa sông Diêm Hộ cho đến năm 1936 vẫn chưa được bồi đắp Đến những năm cuối của thế kỷ

XX, nhân dân đã chinh phục bờ biển ở đây và diện tích được bồi đắp tiến xa

ra biển khoảng 3km

1.1.3 Khí hậu

Khí hậu của làng Phấn Vũ nói riêng và Thụy Xuân nói chung mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa, với nhiệt độ trung bình năm là 23 - 24oC,

số giờ nắng 1600 - 1800 h, tổng lượng mưa trong năm 1700 - 2200 mm, độ

ẩm không khí 80 - 90% Gió mùa mang đến cho Phấn Vũ một mùa đông lạnh mưa ít, mùa hạ nóng mưa nhiều và hai thời kỳ chuyển tiếp ngắn

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chế độ nhiệt của Phấn Vũ đạt tiêu chuẩn nhiệt đới với nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,3oC Có sự phân hóa của chế độ nhiệt thành hai mùa rõ rệt Mùa hè, nhiệt độ trung bình trong tháng lớn hơn 25o C, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó tháng 7

là tháng nóng nhất với nhiệt độ trung bình là 29,2oC Trong mùa hè, có những ngày gió đông nam mát mẻ, có ngày có gió tây nam khô nóng Hoạt động của các dải hội tụ nhiệt đới gây mưa lớn và giông bão bất thường Mùa đông có nhiệt độ trung bình trong tháng dưới 20oC kéo dài từ tháng 12 năm trước đến

Trang 16

tháng 3 năm sau Tuy nhiệt độ có lúc thấp đến 4,1oC nhưng do ảnh hưởng của biển nên không xảy ra hiện tượng sương muối Trong mùa đông, thường gặp các kiểu thời tiết hanh khô, nồm, nắng ấm, lạnh ẩm và mưa phùn Sự điều hòa nhiệt ẩm ở vùng ven biển Thái Thụy rõ rệt hơn những vùng xa biển, biên

độ nhiệt trung bình trong năm là 12,8oC, trong khi ở thành phố Thái Bình

là 13,1oC

Khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo thuận lợi cho cây trồng vật nuôi Những tháng mùa đông, có thể gieo trồng các loại cây cận nhiệt đới và ôn đới, tạo sản phẩm tiêu thụ trong vùng và xuất khẩu Song vùng đất này cũng có những khó khăn do thời tiết đem lại, là nơi đầu sóng ngọn gió nên mùa bão nổi thường tràn qua Thụy Xuân, gây nhiều thiệt hại Tác động bất lợi của tự nhiên gây ra ngập lụt, vỡ đê, nước mặn xâm nhập vào sâu đất liền gây thiệt hại mùa

màng, nhà cửa, đôi khi còn cướp đi sinh mạng con người "Trận bão ngày

24/6/1929 còn ghi đậm dấu ấn sâu sắc trong lòng người dân Thụy Xuân; tiếp

đó là cơn bão tháng 7/1955 kèm theo gió lớn, mưa nhiều, sóng to, nước biển dâng tràn đã xóa đi dấu vết của nhiều xóm bãi ngoài đê Ngự Hàm, dọc bờ biển Thụy Xuân - Thụy Trường - Thụy Hải" [2, tr 49] Tuy vậy, để sống hòa

hợp với thiên nhiên, tận dụng các điều kiện thuận lợi và hạn chế tác hại của tự nhiên, người dân đã biết huy động trí tuệ, sức lực của mình đắp đê, đào hệ thống kênh mương chống úng ngập, tưới tiêu, dùng các biện pháp thủy lợi để thau chua, rửa mặn, cải tạo đất đai phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất

1.1.4 Thủy văn

Hàng năm đón nhận lượng mưa lớn (1700 - 2200 mm) Hệ thống sông ngòi dày đặc, các ao hồ, đầm nhỏ nằm rải rác, xen kẽ với với làng xóm hoặc ven đê, lại tiếp nhận một lượng nước lớn từ các sông: Sông Trà Lý, sông Hóa, sông Diêm Hộ, sông Hệ tạo nên một hệ thống thủy văn phong phú Lượng nước biển lớn với chế độ thủy triều ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông

Trang 17

nghiệp và vận tải, nhiều nhất vào các tháng 1, 2, 3 Các tháng này mực nước ngầm, nước mặt trong đất liền thấp Khi triều cường, nước mặn thâm nhập vào đồng ruộng làm cho đồng ruộng bị nhiễm mặn Mặt khác, thủy triều dâng

có tác dụng làm cho nguồn nước mặt dâng cao, có lợi cho các vùng lấy nước ngọt tưới cho đồng ruộng Về các tháng mùa mưa, khi triều thấp có thể tiêu nước từ các vùng ngập úng ra biển Khi tiêu úng ra biển, dòng nước đem theo nhiều tác nhân bất lợi cho mùa màng, giúp thau chua rửa mặn, giải phóng môi trường nước bị ô nhiễm

1.1.5 Thổ nhưỡng

Đất của làng Phấn Vũ là loại đất nhiễm mặn, đất thường chưa ổn định, phân tầng chưa rõ rệt, thường có tầng hữu cơ là xác thực vật Điều này do ảnh hưởng của nước biển ngầm và kênh rạch ven biển Mức độ nhiễm mặn thay đổi theo mùa lũ cạn và ở các độ sâu khác nhau Đất mặn có hàm lượng hữu cơ cao, dinh dưỡng khá Tuy nhiên độ mặn lại là yếu tố khống chế sản xuất, cũng chính vì thế nên Phấn Vũ trồng trọt rất ít, người dân chủ yếu làm nghề nuôi trồng và đánh bắt, khai thác thủy hải sản

1.1.6 Động thực vật

1.1.6.1 Thực vật

Phấn Vũ nói riêng và Thái Bình nói chung không có đồi núi nên các nhóm cây tự nhiên rất nghèo nàn, chủ yếu là cây trồng Trong đó, cây lương thực là nhóm cây chủ đạo, bao gồm lúa, ngô, khoai, sắn Rau quả bao gồm rau quả vụ đông như: Su hào, bắp cải, xà lách, súp lơ, cà chua, đậu, đỗ và rau quả vụ hè: Rau muống, cải xanh, rau đay, bí ngô, bí đao, cà, mướp Vụ đông

và vụ đông xuân rau rất phong phú Bên cạnh đó, thực vật ngập mặn như: Vẹt, bần, sú rất phát triển cùng với các loại sinh vật biển tạo nên hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng, phong phú

Trang 18

1.1.6.2 Động vật

Xã Thụy Xuân nói chung và làng Phấn Vũ nói riêng là nơi ít có quỹ đất cho thực vật tự nhiên phát triển, vì vậy chỗ trú ẩn cho các loài động vật tự nhiên cũng rất ít Chỉ có một số loại chim như: Cò, diệc, chích chòe; các loài động vật biển như: Tôm, cá, mực, cua, còng, cáy, don, día, ngao… Còn lại, động vật chủ yếu là động vật nuôi, bao gồm: Động vật nuôi trên cạn như trâu,

bò, lợn, gà, vịt, ngan; động vật nuôi dưới nước như ngao, cua, cá, tôm nước

lợ, nước ngọt: Tôm sú, cá song, cá bớp, cá vược

1.2 Một số vấn đề lịch sử và cư dân

1.2.1 Lịch sử hình thành làng

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Thái Thụy, cuốn Địa chí Thái Bình, có thể thấy cũng như các xã ven biển nằm ở phía Đông Bắc huyện Thái Thụy, làng Phấn Vũ, xã Thụy Xuân không nằm ngoài quá trình hình thành trải qua hàng chục vạn năm của vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ Trải qua quá trình lấn biển, đất đai xã Thụy Xuân nói chung, làng Phấn Vũ nói riêng đã nhiều lần chìm nổi Khoảng 2500 năm trước, địa chất khu vực mới ổn định, mực nước biển rút dần, để lộ ra các vùng đất với nhiều gò đống, đầm lầy, đất đai Thụy Xuân dần hình thành và bắt đầu xuất hiện luồng cư dân di cư theo đường biển về đây hội tụ sinh sống Tuy nhiên, do sự khó khăn hiếm hoi về mặt tư liệu nên chưa đủ điều kiện làm rõ được tên tuổi, địa bàn hành chính của Thái Thụy (trong đó có Phấn Vũ - Thụy Xuân) trong thời kỳ dựng nước trước công nguyên và nghìn năm Bắc thuộc

"Đến thế kỷ thứ X từ các triều đại Đinh - Lê - Lý - Trần trở đi cùng với thắng lợi

trong đấu tranh chống ngoại xâm, củng cố nền độc lập thì cương vực Thái Thụy mới dần rõ nét" [5, tr 8] Cuối thế kỷ XVIII, Thái Thụy nằm trong 3 huyện

của 2 phủ: "huyện Thụy Anh, huyện Đông Quan của phủ Thái Bình (đời Tây

Sơn gọi là phủ Thái Ninh) và huyện Thanh Lan (hoặc Thanh Quan) của phủ

Trang 19

Tiên Hưng" [5, tr 9] Tên tuổi, địa bàn hành chính của làng Phấn Vũ trải qua

các thời kỳ này đều nằm trong tên tuổi chung, địa giới hành chính chung của Thái Thụy với các tên gọi khác nhau qua tiến trình lịch sử

Theo cuốn “Các Tổng trấn xã danh bị lãm” thì Phấn Vũ nằm trong 9

tổng với 59 xã của huyện Thụy Anh với tên gọi xã Phấn Vũ thuộc tổng Vạn Xuân (cũng có lúc đổi thành làng Phấn Vũ hoặc xã Minh Vũ của tổng Vạn Xuân) và tên gọi đó được duy trì đến Cách mạng tháng 8/1945 Theo điều tra thực địa của một người Pháp có tên P.Gourou vào giữa năm 1930 thì tổng dân

số của xã Phấn Vũ là 1947 người, diện tích đất tự nhiên 0,28 km2

Tháng 4/1946, thực hiện chủ trương chung, Hội đồng nhân dân tỉnh xóa

bỏ đơn vị tổng, đổi phủ thành huyện Lúc này Minh Vũ có tên là làng Phấn

Vũ, thuộc xã Xuân Trường, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình Đến 1956, Xuân Trường được tách thành 2 xã Thụy Xuân và Thụy Trường Minh Vũ cùng 2 làng Vạn Xuân, Bình Lạng thuộc xã Thụy Xuân, huyện Thụy Anh,

tỉnh Thái Bình "Ngày 17/6/1969, huyện Thụy Anh được sáp nhập với huyện

Thái Ninh lấy tên gọi huyện Thái Thụy" [3, tr 2] Năm 1969, làng Phấn Vũ

gồm 5 xóm: 7, 8, 9, 10, 11 đến năm 2003 chỉ gồm hai xóm 8 và 9

Quá trình lịch sử lâu đời của đất và người làng Phấn Vũ xưa còn được khẳng định qua thực tế quá trình hình thành đất đai, dân cư và truyền thống khai hoang lấn biển Trong đó làng Phấn Vũ nằm trên dải cồn cát được dồn tụ sóng biển bắt đầu từ đỉnh Gồ Gai xã Thụy Trường gối nhau chạy qua các xã Thụy Xuân, Thụy Hải, Thụy Hà có chiều dài gần 15 km

1.2.2 Quá trình phát triển cư dân

Các cứ liệu về khảo cổ học đã chứng minh đậm nét về dấu vết cư trú từ rất sớm của con người trên vùng đất Tổng Vạn Xuân gồm: Vạn Xuân, Tam Tri, Lỗ Trường, Tri Trỉ, Chỉ Bồ, Bình Lạng, Phấn Vũ Năm 1973, Bảo tàng Thái Bình đã phát hiện được nhiều di chỉ khảo cổ học tại mép biển Thụy

Trang 20

Xuân như: Mũi tuyết đồng, ngôi mộ cổ có quan tài hình thuyền hay như ở các

khu gò đống của Phất Lộc (xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) cũng tìm được một số mộ gạch lớn kết cấu hình vòm mang đặc trưng của những ngôi mộ Hán, đó là những căn cứ có thể xác định ngôi mộ tìm thấy tại ven biển Thụy Xuân cũng là ngôi mộ có niên đại từ rất sớm vì dải đất đều nằm chung trong đất đai ven biển huyện Thụy Anh

Bên cạnh những dấu vết còn khiêm tốn trên sự hình thành đất đai, dân

cư của làng Phấn Vũ còn được minh chứng bổ sung sống động bằng nếp sinh hoạt văn hoá độc đáo mang sắc thái riêng của cư dân ven biển trong đó văn hoá tâm linh và tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của nhân dân

"Công cuộc khai khoang, trị thuỷ của các xã Bình Lãng, Phấn Vũ, Vạn

Xuân, Chỉ Bồ, Lổ Trường, Tam Chi, Tri Chỉ thuộc Tổng Vạn Xuân đặc biệt sôi động khi nhà nước phong kiến Đại Việt giành quyền tự chủ, từ thời Lý Bí hai cha con Lý Thiên Bảo, Lý Bảo Quốc đã lấy nơi đây lập trại, đóng đồn, lập

ấp để huấn luyện quân sỹ tích trữ lương thảo phục vụ cho cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương ra khỏi bờ cõi dựng lên nước Vạn Xuân" [5, tr.12]

Thời gian tiếp theo luồng cư dân di cư theo đường biển từ nhiều nguồn gốc, thành phần khác nhau: Có trường hợp đến đây do muốn thoát khỏi cảnh đè nén, tù túng ở quê cũ; có người phiêu bạt do loạn lạc chiến tranh; có người phải thay đổi tên họ để tránh sự truy bức của triều đình; có người là nô tì, gia nhân tự nguyện đi theo công thần về mở mang điền trang, thái ấp

Đến thời nhà Trần, tổng Vạn Xuân là hậu căn cứ quan trọng để nhà

Trần xây dựng tuyến phòng trữ tích trữ lương thảo, rèn luyện quân sỹ trấn giữ cửa Đại Bàng Khi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, Đốc Hậu đại tướng quân Ngô Đạt đã đem theo gia nhân, binh lính thuộc hạ và vận động

Trang 21

trai tráng đắp đê ngăn mặn và con trai cả của tướng quân Nguyễn Liệu Công

đã về tổng Vạn Xuân lập ấp

Cuối thế kỷ XIV, trước sự lấn át của Hồ Quý Ly, nhiều thân tộc nhà

Trần lánh về Thái Thụy núp dưới danh nghĩa khai khẩn vùng ven biển để chiêu mộ lực lượng chờ thời cơ khôi phục lại nhà Trần

Dưới thời Lê sơ, chính sách trị thủy của nhà nước có tác động thuận lợi

đến công cuộc khẩn hoang, mở mang làng xã, đắp đê biển để chắn lũ, ngăn nước mặn, tiêu biểu cho thời kỳ này là việc khẩn hoang những bãi bồi hoang hóa ven biển do ông nghè Nguyễn Công Định (Đỗ tiến sỹ khoa Quý Mùi - 1463) khởi xướng

Dưới triều Minh Mệnh (1820-1840) hoạt động bồi trúc đê ngăn lũ mặn,

khẩn hoang có qui mô lớn do Đinh điền sứ Nguyễn Công Trứ đề xuất và tổ chức Người dân tổng Vạn Xuân, đặc biệt vùng Ba Gia - Lỗ Trường đã truyền đời câu răn:

“Đã là con mẹ con cha Đừng sinh ở đất Ba Gia- Lỗ Trường”

Câu răn ấy để nói về nhiều lần thất bại, gian nan trong việc bám đất, lập làng, sự khắc nghiệt của miền đất đầu sóng ngọn gió, bão lũ luôn đe dọa ập đến bất ngờ chôn vùi những nỗ lực của con người Trong khi đó, nhiều ngư dân và thuyền bè vẫn chưa dứt khỏi nỗi ám ảnh về sóng dữ, vực sâu ở các

vùng cửa biển, cửa sông “Sóng cửa Trà, ma cửa Hộ” hoặc “Cửa Tuần Vường

phải nhường của Cun” Tuy nhiên không chịu lùi bước trước thiên nhiên,

quyết tâm trị thủy, quai đê, lấn biển người dân 7 xã thuộc tổng Vạn Xuân đã biến miền đất đầy rẫy gò đống và đầm lầy lau lách nhiễm mặn trở thành vùng đất trù phú như ngày nay

Hiện nay, làng Phấn Vũ có 298 hộ, 1054 khẩu, có 11 dòng họ bao gồm:

họ Hoàng, Trần, Hà, Nguyễn, Phạm, Lê, Bùi, Vũ, Đỗ, Trịnh, Khúc Những

Trang 22

dòng họ này phần nhiều từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Nam Định di cư đến

Cộng đồng cư dân Phấn Vũ qua nhiều lớp dân cư, nhiều thế hệ, nhiều cội nguồn đã kế tiếp nhau, kề vai sát cánh, hợp cư hòa bình cùng bám đất bám biển vượt qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên cải tạo vùng đất sình lầy, lau lách um tùm thành vùng đất cư trú đông đúc, giàu có như ngày nay

1.3 Các hoạt động kinh tế

1.3.1 Thủ công nghiệp

1.3.1.1 Nghề đan lát mây, tre

Hầu hết các làng xã ở Thái Bình đều có nghề đan lát mây tre "Theo ghi

chép của người Pháp, vào khoảng năm 1930 - 1932 số người làm nghề đan lát ở Thái Bình có khoảng 8800 người trong tổng số 42000 người trên toàn Bắc Bộ Gần như làng nào cũng có 10 - 15 người làm nghề đan lát" [2, tr

797] Dụng cụ của nghề này rất đơn giản, chỉ cần một con dao mác sắc và một

số cây tre, mây là có thể tạo nên các sản phẩm rổ, rá, nong, nia, sàng, quang gánh, các dụng cụ đánh bắt cá như lờ, nơm Những người già hoặc những lao động chính lúc rỗi việc cũng đều tranh thủ đan các thứ đồ để dùng trong nhà hoặc để bán Tuy nhiên, hiện nay nghề này hầu như không còn nữa vì thu nhập thấp, nhiều người đã chuyển sang nghề đan lưới đánh bắt cá hoặc buôn

bán nhỏ tại khu vực chợ Bàng

1.3.1.2 Nghề đan lưới đánh bắt cá

Trước cách mạng tháng 8/1945, theo ghi chép của người Pháp thì nghề đan lưới đánh bắt cá ở Thái Bình phát triển hơn so với các tỉnh khác thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, có 1200 thợ đan lưới trong số 3000 thợ của toàn Bắc

Kỳ Thợ đan lưới tập trung ở các làng Phú Lạc (Hưng Nhân), Nam Huân (Kiến Xương), Tu Trình, Vọng Hải, Vạn Đồn, Vạn Xuân, Đông Dương, Phương Man (Thụy Anh) Tuy nhiên, trước năm 1945, nghề đánh bắt cá ở

Trang 23

Thái Bình nói chung, ở các huyện ven biển (Tiền Hải, Thụy Anh, Thái Ninh)

nói riêng chỉ được xem là nghề phụ, "chưa nơi nào tỏ ra là một làng đánh cá

thực thụ" 1 Hiện nay, phát triển kinh tế biển được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của các huyện Thái Thụy, Tiền Hải trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Thái Bình Điều này góp phần tạo điều kiện cho nghề đan lưới đánh bắt cá phát triển

1.3.2 Nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản

Nghề chính của làng là nuôi trồng, đánh bắt và buôn bán hải sản Hiện nay, làng có 25 hộ gia với trên 48 ha diện tích đất nuôi trồng2 các loại hải sản xuất khẩu như: Tôm, cua, cá (cá vược, cá song, cá thu…) thu hút hàng trăm lao động cho thu nhập giá trị kinh tế cao, trên 400 triệu đồng/ha đầm nuôi, chiếm 35% tổng thu nhập kinh tế của thôn Diện tích nuôi trồng ngày càng được đầu tư mở rộng Nhiều đồng muối không còn, phần vì giá muối quá thấp

mà làm ra hạt muối rất vất vả, phần vì chuyển đổi diện tích sang nuôi trồng thủy hải sản Bên cạnh việc nuôi trồng thì hoạt động khai thác hải sản phát triển với 3 tàu đánh bắt hải sản tầm trung và hàng trăm lao động hàng ngày khai thác hải sản ven bờ

Các bô lão trong làng truyền lại rằng: Ngày xưa vùng biển Xuân Trường còn sâu, nước triều lên xuống tôm, cá rất nhiều, cả vùng bờ biển chạy dài từ sông Hóa lên tới sông Diêm Hộ rất thuận tiện cho nghề đánh cá Thời

kỳ đó dân cư ở đây còn rất thưa thớt, nghề đánh cá có xuất xứ từ những cư dân di cư theo đường biển về đây Lúc đầu, họ dùng mấy cây tre đóng thành

mảng để chở lưới và người rồi chèo ra thả lưới kéo vào bờ gọi là nghề “lưới

bồ”, làm xong hết ngày họ lại kéo mảng lên bờ

Trang 24

Đến sau này, từ những kinh nghiệm đi biển của các lão ngư, Mảng đã dần dần được thay thế bằng phương tiện thuyền (thuyền được đan bằng tre sơn vỏ cây sắn chét lại, dùng tranh cói để làm cánh buồm) Phương thức đánh bắt này gọi là Reo Kheo Nghề Reo Kheo đánh bắt cá ở mực nước sâu hơn, dựa theo chiều gió mà thả vây lưới (lưới được đan bằng tơ gai) phải cần tới trên 20 người cùng hợp sức Khi đánh cá họ thả người xuống nước chia từng khoảnh thành vòng tròn Mỗi người đi Kheo có một cây sào dài khoảng 3 mét vừa lội vừa reo đập sào đuổi cá về phía thuyền lưới Phương thức này có thể giúp 20 ngư dân thu hoạch 5 -7 tấn cá/ngày Càng đánh bắt xa bờ càng được nhiều tôm cá, từ đó đã phát triển sang nghề Reo Khua Nghề Reo Khua yêu cầu phải có nhiều người, nhiều thuyền, đặc biệt lưới phải to, dài và rộng Ngoài 2 thuyền lưới ra phải có 8 – 12 thuyền Khua Phương thức đánh bắt này cho phép đánh được các loại cá to như cá Thủ, cá Gúng, cá vàng Kép, có mẻ lưới thu được trên chục tấn cá Những ngày biển động nghề Reo Khua không làm được các bạn thuyền tập trung lại 2 thuyền cái để đi đánh Lưới Hà Nghề Lưới Hà là nghề lưới thả rê bắt các loại cá Chim, Thu, Nhụ, Đé Hai nghề

“Lưới hà” và “Reo khua” chỉ khai thác vào thời vụ từ tháng giêng đến trung

tuần tháng 4 (âm lịch), ngoài thời gian này cá đẻ xong nuôi ra ngoài khơi xa

vì thế chỉ đánh cá có thời vụ [3, tr.4] Năm 1958 đã hình thành các tập đoàn đánh cá, phương tiện khai thác được cải tiến, thuyền gỗ to buồm vải lưới nghề làm bằng Ny lon, cải tiến lối đánh bắt, xây dựng phương thức khai thác đa dạng, phát triển ngư cụ tạo điều kiện để đánh cá quanh năm với nghề lưới rê, giả đôi, giả tôm, lưới vó mành đánh bằng ánh sáng vào giữa thập niên 60 Đầu thập kỷ 60 thành lập hợp tác xã đánh cá Vũ Tiến, đến năm 1982 chia tách thành 02 Hợp tác xã là Xuân Thành và Xuân Tiến Hiện nay nghề khai thác thuỷ hải sản được tổ chức quy mô hiện đại hơn với hệ thống tàu to, máy lớn

để vươn ra khơi xa và do các cá nhân đầu tư

Trang 25

Dù đánh bắt bằng phương thức nào thì cuộc sống của ngư dân nơi đây cũng đầy gian lao Người đàn ông ra khơi lênh đênh trên biển, phải đối mặt với sóng to gió lớn, đối mặt với chuyện sinh tử thường ngày Còn những

người vợ, người mẹ ở nhà luôn phải chịu cảnh: “Ăn với chồng một bữa, ngủ

với chồng nửa đêm” Nhưng những gian lao đó không khuất phục được ngư

dân nơi đây, họ vẫn ra khơi mang theo những kinh nghiệm được đúc kết qua nhiều thế hệ:

“Con ơi giữ lấy lời cha Đôi mươi tháng chín thật là bão rươi Mùng năm của những tháng Mười Thì con vào lộng ra khơi mặc lòng” 3

Dân làng kể lại vào trước năm 1890 có cụ Lê Văn Ưng là người đánh

cá rất giỏi Khi đi đánh cá, cụ Ưng nhìn trời đất mà đoán biết được mưa gió hoặc có bão để tránh Căn cứ vào thời tiết, hướng gió và tính theo con nước,

cụ sẽ tìm ra đúng bãi cá, đoán biết hướng di chuyển của cá Ví dụ: Hôm nay

chầu 3 con nước, gió nam cấp 2, cá sẽ di chuyển lui vào và lên phía Bắc Những kinh nghiệm đi biển đó vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay

1.3.3 Diêm nghiệp

Xã Thụy Xuân có nghề làm muối từ năm 1958 bao gồm 2,14 ha đất làm muối, mỗi năm cho thu hoạch hàng trăm tấn4 Những hạt muối mặn mà thơm trắng được kết tinh từ biển, phơi cùng nắng gió cũng tăng thêm thu nhập cho người dân trong xã nói chung và người dân làng Phấn Vũ nói riêng Tuy nhiên, làm muối là nghề hết sức vất vả Để sản xuất ra hạt muối, người dân phải làm sân, ruộng phơi và hệ thống kênh mương dẫn nước vào đồng muối

Trang 26

Ruộng muối nằm ngoài đê biển, được thiết kế theo ô, dùng cát rải trên mặt ruộng để lấy nước biển vào phơi Nước biển từ kênh mương được tát vào các ruộng muối và thường phải tát nhiều lần trong ngày để phơi cho nước bay hơi, muối đọng lại lẫn vào cát được gọi là chạt Khi chạt được phơi đủ lượng muối, dùng trang vun gọn lại thành đống Sau đó, xúc chạt vào bể lắng, cho nước vào khuấy đều và gạn lấy nước trong đem ra sân phơi Bể lắng được xây bằng gạch hình trụ có đường kính khoảng 1,5m, cao 1m, trên có mái che thường được lợp bằng cói để che mưa Sân phơi được làm bằng xi măng, xung quanh có bờ để giữ nước muối Muối được phơi trên sân cho đến khi khô, dùng trang vun gọn thành đống, đóng vào bao để đưa vào kho hoặc đem

đi tiêu thụ

Cùng với ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thì các ngành nghề buôn bán hải sản xuất khẩu, thương mại dịch vụ, buôn bán lớn nhỏ phát triển khá đồng đều thu hút hàng trăm lao động tạo thu nhập ổn định Nhiều hộ gia đình buôn bán tại chợ Bàng - chợ lớn của xã và là chợ đầu mối buôn bán của các xã lân cận như: Thụy Hải, Thụy Trường Trong thôn phát triển nhiều dịch

vụ, các đại lý lớn, nhỏ buôn bán các loại hàng hóa đa dạng, phong phú tạo nên khu giao lưu, thông thương buôn bán sầm uất của địa phương và tiểu vùng

1.3.4 Kết cấu hạ tầng

Hệ thống điện chiếu sáng trong thôn được hoàn thiện, hai bên đường đều chiếu sáng, 100% số hộ dân trong làng sử dụng điện lưới quốc gia Hiện tại địa phương đã tiếp nhận dự án RE2 nâng cấp, cải tạo lưới điện sinh hoạt của điện lực Thái Bình, chất lượng điện cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt đã được nâng cao5 Mạng Internet cũng đã được các hộ sử dụng rộng rãi chiếm khoảng 30%

5

Đề án xây dựng nông thôn mới xã Thụy Xuân giai đoạn 2011 - 2015, định hướng 2020 (tr.6)

Trang 27

Đường thôn ngõ xóm được cứng hóa, hệ thống cống rãnh thoát nước được người dân tự nguyện đóng góp tu sửa nâng cấp Công tác vệ sinh môi trường đảm bảo thường xuyên, có 01 vệ sinh viên thu gom rác thải, nhân dân làm vệ sinh công cộng vào ngày 24 hàng tháng

Nhà văn hóa thôn được xây dựng kiên cố, khang trang với tổng diện tích 572m2, phục vụ hội họp, sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân và đáp ứng hoạt động văn hóa, văn nghệ, Thể dục Thể thao như: Luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, tập dưỡng sinh, đánh cầu lông, hoạt động hè của thanh thiếu niên

1.4 Một vài vấn đề về xã hội

1.4.1 Dân số, lao động và việc làm

Dân số có 1054 người, trong đó nam là 485 người (chiếm 46,1%),

nữ có 569 người (chiếm 53,9%) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,01%/ năm Tất cả đều là người Kinh Trong đó, 100% trẻ em đến độ tuổi đều được đến trường

Lao động trong độ tuổi chiếm khoảng 61,5 % dân số; trong đó có 7% người lao động không có việc làm ổn định Người dân chủ yếu làm nghề nuôi trồng và khai thác thủy hải sản (chiếm khoảng 85%), còn lại là Tiểu thủ công nghiệp và buôn bán hàng hóa tại chợ Bàng Bình quân thu nhập đầu người khoảng 2.586.000 đồng/tháng, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt từ 11 - 16% Lao động không trong độ tuổi chiếm khoảng 38,5 % Người già chiếm 17%, trẻ em chiếm khoảng 21,5%

Trang 28

phật giáo thực hiện nhiệm vụ xây dựng các phong trào, tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên cùng toàn thể nhân dân nêu cao tinh thần đoàn kết xóm làng, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, nội quy quy định của địa phương Trong làng có công an viên, trật tự an toàn xã hội ổn định, không có hiện tượng khiếu kiện, tình hình an ninh chính trị luôn được giữ vững; người dân trong thôn sống hoà thuận, cùng giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo Nhân dân tích cực tham gia các phong trào xã hội, luôn chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Phấn Vũ có một vị trí địa lý thuận lợi nên hàng ngày lượng người cùng lượng hàng hóa đến trao đổi, buôn bán tại trung tâm sầm uất chợ Bàng rất lớn

Vì vậy làng Phấn Vũ có điều kiện xã hội khá phức tạp bởi những tiêu cực của nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn các tệ nạn xã hội, các luồng văn hóa không lành mạnh xâm nhập vào đời sống nhân dân Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, của chính quyền địa phương, sự vào cuộc tích cực của các ban ngành đoàn thể trong thôn, nhân dân luôn nêu cao tinh thần cảnh giác trước

những âm mưu của các thế lực thù địch, tích cực tham gia phong trào "Toàn

dân bảo vệ an ninh Tổ quốc", cùng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn

vùng biên giới biển

Hàng năm thôn làng đều thực hiện đủ chỉ tiêu khám tuyển nghĩa vụ quân sự và kêu gọi thanh niên lên đường nhập ngũ Phấn Vũ duy trì tốt mọi hoạt động, tham gia tích cực huấn luyện dân quân tự vệ Các chính sách hậu phương quân đội đều được quan tâm giải quyết có hiệu quả, đảm bảo công khai, dân chủ, hợp thời, đúng đối tượng theo các quyết định số 47/2002/QĐ - TTg ngày 11/4/2012, Quyết định số 290/2005/QĐ - TTg ngày 8/11/2005, Quyết định số 142/2008/QĐ - TTg ngày 27/10/2008, Quyết định số 62/2011/QĐ - TTg ngày 9/11/2011… đối với những người là dân quân, du

Trang 29

kích, thanh niên xung phong, bộ đội, công an tham gia các cuộc kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ Quốc tế

Phấn Vũ còn là một trong những làng đi đầu trong phong trào xây dựng nông thôn mới tại xã Thụy Xuân Hàng năm có trên 90% gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hoá và qua bình xét cuối năm 2012 có trên 82% số hộ đạt tiêu chuẩn Phong trào xây dựng thôn làng văn hóa, khu dân cư tiên tiến, thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội ngày một phát triển cả bề rộng và chiều sâu Năm 2007, 2008, 2010 Phấn Vũ đã đạt danh

hiệu “Khu dân cư tiên tiến” 6 Tháng 4/2012, thực hiện sự chỉ đạo của Ủy ban

nhân dân huyện Thái Thụy về phong trào đăng ký xây dựng "Xã đạt chuẩn

văn hóa nông thôn mới", cùng với thôn Bình An, Phấn Vũ được công nhận là

thôn làng văn hóa lần đầu Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ngày một phát triển thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Nhà văn hóa thôn đã cơ bản đáp ứng yêu cầu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng

1.5 Đôi nét về văn hóa

Làng Phấn Vũ nằm trong vùng Bắc Bộ, mang đặc điểm của vùng đồng bằng châu thổ, nhưng do nằm gần biển nên cũng chứa đựng những nét rất riêng mang yếu tố văn hóa biển thể hiện trong cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần

1.5.1 Văn hóa ẩm thực

Phấn Vũ là làng quê có nhiều món ăn ngon, từ những món ăn dân dã trong ngày thường đến những món ăn cầu kì trong ngày Tết Món ăn của làng Phấn Vũ không quá cay, quá ngọt, quá chua hay quá thiên về lựa chọn nguyên

6

Báo cáo thực trạng kết quả xây dựng nông thôn mới, UBND xã Thụy Xuân (2013), tr 5

Trang 30

liệu, gia vị, công đoạn chế biến mà sức hấp dẫn chủ yếu đến từ hương vị tươi ngon thuần khiết của sản vật tự nhiên

1.5.1.1 Món ăn thường ngày

Lương thực chính là gạo, bao gồm cả gạo tẻ và gạo nếp Thức ăn hàng ngày chủ yếu được chế biến từ các loại cá biển, tôm, canh don, canh ngao, riêu cua… Canh don, canh ngao như đặc tính của người Phấn Vũ, không cầu

kỳ, không đắt đỏ, cái ngon tự nhiên đến từ vị ngọt thanh lạ trên mảnh đất quê hương đã tạo nên một đặc sản, một niềm tự hào của ẩm thực Phấn Vũ Vì gần biển nên các món ăn ở đây được nấu khá mặn, hương vị rất đậm đà Đặc biệt, nước mắm là gia vị không thể thiếu vì theo thói quen ăn uống của người vùng biển, một khúc cá rán, một miếng thịt hay một đĩa rau luộc mà lại vắng nước mắm thì thật kém ngon Chính vì vậy, có một số gia đình đã tự mình làm nước mắm đựng trong chum vại làm gia vị hay nước chấm để phục vụ bữa ăn hàng ngày

Ngày thường mà có khách quý đến chơi hay khách từ phương xa về, người dân sẽ chế biến thêm những món ăn ngon, đặc sản của vùng quê như: Gỏi nhệch, bún cá, sứa biển chấm mắm tôm, cua biển hấp Những món ăn này được chế biến khá lâu, cần nhiều gia vị và khi được thưởng thức những món

ăn này, thực khách sẽ không dễ gì quên được bởi ẩn chứa trong đó là cả sức sáng tạo tài tình trong ẩm thực của con người làng Phấn Vũ Dù có khách đến hay chỉ những người trong gia đình với nhau thì mọi người đều ngồi quây quần trên chiếu, ăn uống rất vui vẻ, thoải mái, cùng nhau trao đổi về cách chế biến các món ăn

1.5.1.2 Món ăn ngày lễ, Tết

Người dân Phấn Vũ rất coi trọng việc ăn uống trong dịp Lễ, Tết, nhất là tết Thanh minh, rằm Tháng bảy và tết Nguyên đán Đây là các kỳ nghỉ lao động, sản xuất Do vậy, bà con thường chuẩn bị thực phẩm hết sức công phu,

Trang 31

cách chế biến món ăn cũng đa dạng và cầu kỳ Một số món ăn trong dịp này như món nộm sứa biển, sam biển Đây còn là những món ăn không thể thiếu trong dịp cưới hỏi Sam biển chế biến ra rất nhiều món ăn ngon và lạ khác nhau như: Tiết canh sam, gỏi sam, chân sam xào chua ngọt, sam xào xả ớt, trứng sam chiên giòn, trứng sam xào lá lốt… Tuy nhiên, không phải dễ dàng bắt được sam như bắt cá, vì chúng có mùa, ngư dân phải tính con nước và định ngày ra khơi, từ tháng 3 đến tháng 9 sẽ có nhiều sam nhất

Trong các món ăn mừng năm mới, bên cạnh bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành, họ còn chế biến thêm nhiều đồ ăn ngon mà ngày thường không có thời gian để làm như: chả cá, chả mực, nem día Ngày Tết ăn nhiều đồ mỡ, nhiều thịt nên người dân rất thích ăn những thức ăn có vị ngọt thanh, thơm mát như các loại lẩu cá, riêu cá Trong đó, cá khoai là lựa chọn hàng đầu Cá khoai có thể chế biến thành nhiều món ăn đơn giản mà lại bổ dưỡng và hấp dẫn như cháo cá khoai, lẩu cá khoai, và nhất là canh cá khoai Ăn bát canh cá khoai ngày Tết sẽ thấy vị chua thanh mát của cà chua lẫn với vị ngọt bùi nhuốm mùi mặn mòi của biển cả trong từng miếng cá khoai, thêm chút vị cay rân rân, tê

tê đầu lưỡi của ớt Tất cả hoà quyện vào nhau thành món ăn dân dã mà say lòng người

1.5.2 Văn hóa ở

Do nằm cạnh biển, trước bão gió thường xuyên nên nhà ở của cư dân thường thấp, nhỏ, chắc chắn như bám chặt vào đất Một vài ngôi nhà lớn có tới 5 gian, còn đa số các ngôi nhà thường chỉ có 3 gian Trong nhà chỗ trang trọng nhất ngay gian giữa vẫn là ban thờ gia tiên Phía trước ban thờ thường dành làm nơi tiếp khách, nơi gia đình ngồi bàn việc hay sum họp hàng ngày

Từ dáng dấp bên ngoài mặt nhà, mái nhà… cho đến cửa, đều thể hiện ý thức tránh hướng gió bão Nhà thường quay hướng Nam - Tây Nam hoặc Nam - Đông Nam chính là tránh hướng gió đông từ biển vào Tường bốn mặt

Trang 32

nhà thường chia hai lớp, lớp trên đã dày, lớp dưới còn dày hơn và là tường đất Nền nhà thấp, các cửa ra vào, cửa sổ nằm sâu vào bề dày của tường Mái nhà cũng chắc chắn và kín đáo như vậy Nếu là mái ngói thì ngói được chít vữa các mạch cho gắn chặt với nhau Có nơi còn đắp thêm những tấm đá lên mái để gió không làm tốc mái được Nếu là mái rạ hay cói bổi thì trên đỉnh nóc còn chặn thêm những ụ rạ thật to nhưng phủ ngoài thật trơn tròn để gió trượt qua chứ không bóc lên được Bên trong bộ khung mái cũng được làm chắc chắn với những giằng tre khóa lại với nhau và ghì chặt mái rạ vào khung nhà Mái lợp cỏ hay cói dày tới 0,4 - 0,5 mét, độn thật nhiều vào chân mái Nước mưa từ nóc mái chảy xuống rất nhanh, vì mái dốc, đến chân mái đổi chiều vọt ra xa để đỡ hại nhà, nhất là không vào chân tường đất

Ngày xưa, mái được lợp bổi (là cây cói được trồng nhiều ở các vùng đất bãi mặn, lợ ven biển) Khi thu hoạch, những cây cói thân nhỏ nuột, dài 1,50-1,60m được dùng để dệt chiếu Nhưng cây cói thân to, ngắn người ta cắt, phơi trên bờ bãi cho khô rồi đem về dùng để lợp nhà Nhà lợp bằng mái bổi mát về mùa hè và ấm về mùa đông do thân cây bổi xốp, chứa không khí bên trong tạo thành lớp cách nhiệt [2, tr.143] Hơn nữa người dân nơi đây thường lợp mái bổi khá dầy Đa số mái nhà lợp bổi dầy từ 0,70 - 1,0m; trọng lượng mái bổi thường khoảng vài ba chục tấn Hệ thống các đòn tay, dui, mè bằng luồng đều được lựa chọn kỹ lưỡng, dây buộc đều bằng mây Nhà lợp bổi càng nặng thì càng chắc chắn, không sợ mưa, gió Quá trình tồn tại gắn bó với đời sống, sinh hoạt của người dân, nhà mái bổi đã vượt lên công dụng che mưa, che nắng, trở thành nét văn hóa đặc sắc của cư dân vùng biển, đọng lại trong tâm thức những người con xa quê một nét hồn quê sâu lắng Ngày nay, nhà mái bổi đã không còn, phần vì không còn diện tích để trồng cói, phần vì người dân đã dựng những ngôi tường xây, mái ngói chắc chắn và ở lâu dài hơn

Trang 33

1.5.3 Văn hóa mặc

Trang phục giống như trang phục của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ Trước đây, đàn ông mặc áo cánh nâu, xẻ ngực, cổ tròn, xẻ tà và có hai túi phía dưới Đây là loại áo ngắn mặc với quần lá tọa ống rộng hoặc loại quần có cạp, dùng dây rút Trong các ngày lễ, tết, trang phục chủ yếu mà Nam giới thường mặc là áo dài đen hoặc vải the có lót trắng ở bên trong, đầu đội khăn xếp, quần tọa màu trắng Đó là loại áo dài, xẻ nách phải, không trang trí hoa văn, nếu có chỉ là loại hoa văn dệt cùng màu tinh tế trên vải Chân đi guốc mộc Phụ nữ mặc váy (loại váy kín, váy ống), áo là áo cánh cách ngắn vải nâu - loại

áo cổ tròn, viền nhỏ, tà mở, phía trong mặc yếm Khi ra đường họ thường

mang khăn vuông đội theo lối "mỏ quạ" hoặc các loại nón: thúng, ba tầm

Chiếc váy đã gắn với phụ nữ Phấn Vũ nói riêng, phụ nữ Thái Bình nói chung trong suốt thời gian rất dài, mãi tới kháng chiến chống Pháp, khi chị em tham gia du kích thì chiếc quần thuận tiện hơn trong sinh hoạt và là lựa chọn của chị em

Ngày nay, trang phục của cả nam giới và phụ nữ rất phong phú về kiểu dáng, chất liệu: quần bò, áo sơ mi, áo phông… Váy của phụ nữ cũng rất đa dạng như váy nơi công sở, váy cưới cô dâu với màu sắc trang nhã, lịch sự Người dân Phấn Vũ khi lao động, đi biển hay làm muối, họ còn đội nón chóp vành rộng, cứng Đặc biệt, người đi te có nón chóp vành to, cứng để đeo thêm nắm cơm, đèn dùng ban đêm Nón chóp có khung tre, mái dốc, chóp nhọn, khâu bằng sợi móc chắc Giữa hai lần lá cọ lợp còn lót mo nang cho bền Loại nón này một phần do người dân Phấn Vũ tự làm, còn lại chủ yếu mua tại các xã thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

1.5.4 Văn hóa ứng xử với môi trường biển

"Hải tính" trong tâm thức người dân Phấn Vũ đậm dần, cuộc sống của

họ ngày một thiết tha hơn với biển Họ thể hiện sự linh hoạt của mình trong

Trang 34

thế ứng xử với thiên nhiên Biển hiện hữu trong tâm thức ngư dân suốt chu kì một đời người Biển vừa là nguồn sống, vừa là nơi gửi gắm biết bao tâm tư tình cảm của cộng đồng Biển gắn bó với con người từ khi sinh ra đến khi từ

biệt cõi trần:

"Lắng tai nghe mẹ giãi bày Cha sinh mẹ dưỡng sánh tày bể Đông"

So sánh công ơn cha mẹ không gì rõ hơn bằng cách đặt tương quan với

độ mênh mông, rộng lớn của biển cả Và biển cũng đem lại nguồn sống, đáp ứng nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người dân Phấn Vũ

Biển là môi trường để con người sống và lao động, biển cũng là nơi con người gửi gắm tâm tư, tình cảm và khát vọng của cộng đồng Biển trở thành triết lý sống, là nơi con người trải nghiệm và hun đúc bản lĩnh, là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận Văn hoá biển của người dân Phấn Vũ đậm nét trong những câu hò, những làn điệu dân ca Biển là hình ảnh con tàu diễn tả nỗi nhớ day dứt, khắc khoải đợi chờ của cô gái đợi người yêu, của những người vợ đợi chồng nơi bến đậu Biển là tiếng hát ru của mẹ dành cho con; là tiếng giao duyên, đối đáp của tình yêu đôi lứa; là nỗi nhớ của những người con đi xa luôn hướng về Sống trong môi trường biển, người dân Phấn Vũ tận dụng mọi nguyên liệu lấy từ biển để chế tác những sản phẩm văn hoá vật chất phục vụ cho đời sống của mình Và ngay trong lúc thực hiện những sản phẩm đó, người dân nơi đây đã đưa hình ảnh của biển vào kỹ thuật lúc làm nhà ở hay kín đáo hơn là trong các nét hoa văn, màu sắc thể hiện Biển chính là phần hồn của các sản phẩm vật chất được chế tạo qua bàn tay tài hoa của người dân Phấn Vũ Chính vì vậy, biển đã tác động và tạo nên những giá trị trong văn hoá Phấn Vũ, phản ánh văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, quan niệm nghệ thuật, nhân sinh quan của cộng đồng Phấn Vũ trong quá trình tồn tại và phát triển ở vùng đất Thái Thụy, Thái Bình

Trang 35

Một cách vô thức, yếu tố biển góp phần kiến tạo nên tâm hồn cư dân, trong đó tinh thần nhân văn trong ứng xử giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, biển cả là một biểu hiện bao trùm, tiêu biểu nhất Đó chính là tình yêu thương con người, tinh thần tương thân, tương ái, hướng tới điều thiện, lên án cái ác, nuôi dưỡng mối giao cảm giữa các cư dân; đó còn là đạo lý uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa, gắn kết cộng đồng trong quan

hệ xã hội Trong quan hệ với biển, con người thể hiện rõ tinh thần tôn trọng,

đề cao và bảo vệ Đây là nét đẹp tâm hồn, văn hóa truyền thống cao quý, làm nên giá trị lớn trong bản sắc văn hóa Việt Người dân Phấn Vũ nói riêng và người dân Thụy Xuân nói chung đã tiếp thu và bồi đắp truyền thống hướng biển, vừa có cái nhìn sâu sắc về biển, vừa có thái độ e dè trước thiên nhiên

cùng cách nói bộc trực, thẳng thắn mà dân gian vẫn quen gọi là "Ăn sóng nói

gió” Tính biển đã tạo cho người dân nơi đây bản lĩnh lao động cần cù và

thông minh "Có cứng mới đứng trước gió", không cần cù và thông minh thì không thể đứng trụ được ở miền đất cửa biển - nơi mà nước và trời vừa là

bạn, là môi trường sống, lại vừa là đối thủ phải chống chọi hàng ngày Không cần cù và thông minh thì không thể có được một hệ thống đê điều, sông đào, mương máng chằng chịt ở khắp nơi và cũng không thể có miếng ăn trong nghề biển với những đòi hỏi cao về kinh nghiệm và đầu tư sức lao động Môi trường biển và quá trình ứng xử với môi trường đó không chỉ tạo nên tính cộng đồng, cộng cảm, cộng mệnh mà còn làm cho cư dân Phấn Vũ nói riêng,

cư dân Thụy Xuân nói chung sớm hình thành và định hình truyền thống bất khuất, sáng tạo, nhạy cảm với những biến động lịch sử

1.5.5 Tôn giáo, tín ngưỡng

1.5.5.1 Thờ Phật

Phật giáo là một thành tố quan trọng trong dòng chảy lịch sử Việt Nam Gần hai ngàn năm có mặt ở nước ta, tư tưởng triết lý Phật giáo đã thấm sâu

Trang 36

vào đời sống của đông đảo nhân dân Ngôi chùa càng ngày càng phổ biến ở

những làng quê Việt: “Đất vua chùa làng, phong cảnh Bụt”

Phật giáo đã thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt nói chung, người làng Phấn Vũ nói riêng nên dấu vết Phật giáo trong văn hóa của người dân nơi đây cũng khá đậm nét Họ tiếp thu những giá trị đạo đức

hợp với tinh thần Việt Nam Nói về "Thập nhị nhân duyên", dân gian chỉ còn quan niệm: "Tham thì thâm, Bụt bảo thì thầm rằng chớ có tham" Nói về luật nhân quả thì: "Ở hiền gặp lành", "Gieo gió gặt bão", "Ác giả ác báo'' Phật khuyên đủ mọi điều nhẫn thì dân chỉ tổng kết: "Một sự nhịn là chín sự lành" Phật dạy phải từ bi thì dân tổng kết "Thương người như thể thương thân",…

Có thể thấy, người dân nơi đây đã sùng Phật theo tâm thức Việt và nhiều người theo lệ ăn chay vào những ngày mồng một hay ngày rằm

Do tính nhân văn, khoan dung và phù hợp với lối sống của người Việt, ngay từ đầu khi Phật giáo truyền vào nước ta đã được người dân chấp nhận và càng ngày ngôi chùa càng trở nên yêu dấu hơn, gắn bó với người dân mỗi làng quê Chùa Phấn Vũ đã gắn bó mật thiết với người dân làng Phấn Vũ, trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt tôn giáo, sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người dân Phấn Vũ

1.5.5.2 Thờ Mẫu

Cùng với việc thờ phụng đức Nam Hải Thánh Mẫu tại đền Mẫu - vị thần cai quản 12 cửa biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ; tại chùa Phấn Vũ còn phối thờ cả Thánh Mẫu Liễu Hạnh Thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt, có lịch sử lâu đời, biến chuyển thích ứng với sự thay đổi của xã hội Việt Nam

Tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe, tài lộc, là một nhu cầu trong đời sống tâm linh của người Việt, mang lại cho họ sức mạnh, niềm tin và có sức thu hút mọi tầng lớp trong

Trang 37

xã hội Người đi lễ cầu mong đạt được những điều nằm ở chính cuộc sống này, là tài lộc, thành công, may mắn và đều thể hiện tấm lòng thành kính từ khi dâng lễ vật đến khi chắp tay vái lạy khẩn cầu Chính vì thế, tín ngưỡng thờ Mẫu thu hút được đông đảo người dân làng Phấn Vũ nói riêng và người dân Thụy Xuân nói chung Mẫu là đại diện của sự che chở, bao bọc Mẫu cũng là đại diện của sự sinh sôi, nảy nở, trù phú Bởi thế, mỗi khi con người cảm thấy cô đơn, thấy bơ vơ, không có nơi nương tựa, việc họ tìm về mẫu để nhận được sự quan tâm, cứu giúp như một phản ứng rất đỗi tự nhiên

Những giá trị của đạo Mẫu được gói gọn trong ba chữ “Tâm – Đẹp –

Vui” Tâm là giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu Mẫu dạy con người sống

hướng thiện, có cái tâm trong sáng, biết đối nhân xử thế, thờ phụng ông bà tổ tiên và biết ơn những người có công với dân, với nước Còn Đẹp và Vui trong tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện qua chính lễ hầu đồng Lễ hầu đồng đẹp ở

âm nhạc, mỗi khi nhạc chầu cất lên là người lên đồng như được tiếp thêm sinh

lực để “nhập đồng”, còn người đi xem hầu cũng thêm vui vẻ, hứng khởi Lễ

hầu đồng còn đẹp ở những bộ trang phục của các ông đồng, bà đồng, đẹp ở tượng Mẫu, đẹp ở chính cảnh lên đồng biểu diễn của các nghệ sĩ dân gian nhưng rất chuyên nghiệp Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, hầu đồng là nghi lễ chính mang tính nghệ thuật sân khấu Hầu đồng của người dân Phấn Vũ diễn

ra tại đền Mẫu vào ngày lễ hội của cụm di tích hoặc vào dịp lễ cuối năm và đầu năm Những người lên đồng hóa thân thành các vị Thánh Mẫu, thể hiện sắc diện và động thái đặc trưng trong không gian văn hóa linh thiêng Người đến tham dự trải nghiệm, cảm nhận được vẻ đẹp của các vị Thánh Mẫu, ngắm nhìn những bộ trang phục lộng lẫy, nghe hát Văn kể về sự tích công trạng của các vị Thánh Mẫu trong không gian nghi lễ với nhiều sắc màu rực rỡ Sự tương tác giữa người hầu đồng, cung văn và những người tới dự trong không gian buổi lễ khiến con người thăng hoa, quên đi phiền muộn trong cuộc sống

Trang 38

hàng ngày Họ rất vui mừng khi nhận được lộc Thánh Mẫu ban phát Sau nghi

lễ hầu đồng, người đi lễ được thụ lộc ngay tại chỗ, được phát lộc là những vật phẩm quen thuộc, gần gũi của cuộc sống

Thờ Mẫu không chỉ là một tín ngưỡng tôn giáo, đó còn là văn hóa Thông qua nghi lễ lên đồng, qua lễ hội, phong tục gắn liền với nó, nó trở thành một bảo tàng sống của văn hóa Việt Nam Đó là các phong tục tập quán

có từ lâu đời từng hun đúc lên sức mạnh của nhân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước; là nền tảng đạo đức trong cách thức ứng xử giữa con người với con người, được thể hiện ở sự kính trọng với những người đã sinh thành

ra mình, những người có công với dân, với nước Tất cả những nghi lễ, tập tục cổ truyền tốt đẹp cần phải được giữ gìn và phát huy trong xu thế toàn cầu hóa trên mọi lĩnh vực đang phát triển nhanh, mạnh và rộng khắp nhưng không làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống

Đạo Mẫu cũng vẫn chịu ảnh hưởng của đạo Phật cho nên trên cùng của điện thờ Mẫu có tượng phật để thờ thêm Trong quá trình tín ngưỡng thờ Phật

du nhập vào nước ta, các bộ phận quan trọng của tín ngưỡng này đã phát triển theo khuynh hướng dân gian hóa giữa tín ngưỡng thờ Phật và tín ngưỡng thờ Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau Điều dễ nhận biết nhất

là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay ở nông thôn đều có điện thờ Mẫu Trong

đó phổ biến nhất là dạng “tiền Phật hậu Mẫu” Người dân Phấn Vũ đi chùa

vừa để lễ Phật, vừa để cúng Mẫu Sự thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau giữa đạo Phật và tín ngưỡng thờ Mẫu theo khuynh hướng dân gian hóa là điều dễ hiểu bởi lẽ, đó là tín ngưỡng dân dã của người dân, cùng hướng về cái từ bi bác ái, tinh thần cộng đồng, khuyến thiện trừ ác vốn là nền tảng trong nguyên tắc ứng xử của xã hội cổ truyền Hai thứ tín ngưỡng này bổ sung cho nhau đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân: Theo Phật để tu nhân tích đức cho đời, kiếp sau được lên cõi Niết Bàn để cuộc sống tươi sáng hơn, tự do hơn,

Trang 39

còn theo đạo Mẫu là mong được sự phù hộ độ trì đem lại sức khỏe, tài lộc, may mắn cho đời sống thường ngày

1.5.5.3 Tín ngưỡng của cư dân vùng biển

Biển và những sự kiện liên quan đến cuộc sống mưu sinh của con người trên biển luôn hiện hữu trong tâm thức cư dân Phấn Vũ suốt chu kỳ một đời người Trong nghề lưới đăng, tàu thuyền, ngư dân quan niệm mọi việc đều phải hết sức cẩn trọng và mang tính linh thiêng Xưa nay, ngư dân kiêng

cữ lời nói, những điều cấm kỵ trong sinh hoạt với niềm tin nhờ đó việc hành nghề được suôn sẻ, may mắn Họ kiêng không gọi đích danh các vị thần linh biển cả trước khi đi biển Khi bưng thúng đựng lưới hay dây câu, họ tránh không đi qua dưới dây cột võng hoặc dây phơi quần áo Dù ở nhà hay trên ghe, thúng đựng lưới hay dây câu phải để ở chỗ không ai bước ngang qua được Họ không để người lạ chạm vào hai con mắt vẽ trước mũi thuyền vì sợ

bị ếm đối Họ kiêng kỵ trong việc ăn cá, ăn xong một bên không được lật lại

mà phải gỡ xương rồi ăn tiếp (để tránh lật tàu thuyền); nấu cơm không để bị khê, khét hoặc cháy Người có tang hoặc có vợ đang mang thai không thể là người đầu tiên vịn tay đẩy thuyền hoặc lưới Trong khi hành nghề, nếu có gì bất thường xảy ra, như trong nhiều ngày liền không đánh được cá thì họ phải nhuộm lại lưới hoặc xông lưới, sắc thuốc bắc tưới lên lưới hoặc dọn rửa thuyền và cúng kiếng để giải trừ

Về tinh thần, những giá trị văn hoá tinh thần đặc trưng của ngư dân nơi đây được lắng đọng trong nhiều tín ngưỡng dân gian đi kèm với các lễ hội đặc trưng và có sức lan tỏa mạnh mẽ Lễ hội cầu ngư, đua thuyền, bơi chải,… không chỉ thể hiện văn hóa tín ngưỡng của cư dân miền biển, sự tôn vinh nghề nghiệp mà còn thể hiện khát vọng bình yên trong đời sống và lao động sản xuất

Trang 40

Từ bao đời nay, trong các cộng đồng ngư dân trên cả nước nói chung và ngư dân Thụy Xuân nói riêng luôn lưu truyền những truyền thuyết, giai thoại

về ông Nam Hải (cá Voi) Cốt lõi của những truyền thuyết ấy là cá Voi thường cứu giúp người bị nạn ngoài biển khơi khi sóng to gió lớn, đồng thời cho ngư dân được mùa biển Các lão ngư kể lại rằng, khi lâm nạn hoặc khi thuyền giăng lưới ngoài khơi, người ta thường van xin "Ông" giúp đỡ "Ông" như nghe được lời khẩn cầu mà phun nước phì phì, lùa cả bầy cá vào lưới Từ đức tin ấy, cá Voi đã trở thành một vị Phúc Thần trong đời sống tâm linh của

cư dân ven biển, được dân gian thành kính gọi bằng nhiều danh xưng trân trọng như: ông Khơi, ông Lộng, ông Nam Hải, Lúc biển đói, ngư dân cúng cầu Ông, khi biển no họ lại làm lễ cúng tạ Ông

Cư dân Phấn Vũ rất tôn thờ các linh vật như: cá Ông, hà bá, bà chúa xứ,

bà chúa muối Họ thờ Đức Nam Hải Thánh Mẫu, thờ Quan Lớn Thống và nhận thấy các ngài rất linh ứng Đến mùa làm ăn sông nước, các chủ tàu thuyền đều về đền tổ chức cúng lễ cầu an mong Quan Lớn Thống, Đức Nam Hải phù hộ cho trời yên, biển lặng, cho tàu thuyền ra khơi thuận buồm xuôi gió, tôm cá đầy khoang, cuộc sống dân làng ngày càng sung túc Trước khi ra khơi đánh cá họ đều làm lễ cúng cầu cho chuyến đi an toàn, thu được thành quả tốt Đó trở thành tập tục sinh hoạt, thành tín ngưỡng dân gian trước biển

cả trùng khơi Thông qua đó, còn thắt chặt thêm tình đoàn kết gắn bó giữa các ngư dân làng chài ven biển để thuyền bè đi khơi về lộng an toàn

Ngày đăng: 27/10/2015, 19:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Hiện trạng đường chính của các Thôn - Đền, chùa trong không gian văn hóa làng phấn vũ ( xã thụy xuân, huyện thái thụy, tỉnh thái bình)
Bảng 1.1. Hiện trạng đường chính của các Thôn (Trang 109)
Bảng 1.2. Hiện trạng nhà văn hoá các Thôn - Đền, chùa trong không gian văn hóa làng phấn vũ ( xã thụy xuân, huyện thái thụy, tỉnh thái bình)
Bảng 1.2. Hiện trạng nhà văn hoá các Thôn (Trang 109)
Bảng 1.3. Giao thông trục chính của xã - Đền, chùa trong không gian văn hóa làng phấn vũ ( xã thụy xuân, huyện thái thụy, tỉnh thái bình)
Bảng 1.3. Giao thông trục chính của xã (Trang 110)
Bảng 1.4. Hệ thống trạm biến áp của xã - Đền, chùa trong không gian văn hóa làng phấn vũ ( xã thụy xuân, huyện thái thụy, tỉnh thái bình)
Bảng 1.4. Hệ thống trạm biến áp của xã (Trang 110)
Bảng 3.1. Các thành viên trong Ban Khánh tiết - Đền, chùa trong không gian văn hóa làng phấn vũ ( xã thụy xuân, huyện thái thụy, tỉnh thái bình)
Bảng 3.1. Các thành viên trong Ban Khánh tiết (Trang 111)
Bảng 3.2. Các thành viên trong Ban Quản lý - Đền, chùa trong không gian văn hóa làng phấn vũ ( xã thụy xuân, huyện thái thụy, tỉnh thái bình)
Bảng 3.2. Các thành viên trong Ban Quản lý (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w