1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng Graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 cho học viên bổ túc văn hóa - Trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh Lạng Sơn

113 799 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 864,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên tiếp sau đó, vào những năm 1981, 1983, ông công bố những bài báo Phương pháp graph trong dạy học và Sự chuyển hoá phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học như một sự minh hoạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ NGÀ

SỬ DỤNG GRAPH ĐỂ DẠY HỌC ÔN TẬP TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12 CHO HỌC VIÊN BỔ TÚC VĂN HÓA

- TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ BAN

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Giả thuyết khoa học 11

7 Cấu trúc luận văn 11

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG GRAPH ĐỂ DẠY HỌC ÔN TẬP TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12 12

1.1 Cơ sở lí luận 12

1.1.1 Khái quát lí thuyết graph 12

1.1.2 Bài ôn tập 27

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Nội dung ôn tập tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ văn lớp 12 29

1.2.2 Thực trạng dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi chương trình ngữ văn lớp 12 ở Trung tâm GDTX Tỉnh Lang Sơn 39

Chương 2: CÁCH THỨC SỬ DỤNG GRAPH ĐỂ DẠY HỌC ÔN TẬP TÁC PHẨM VĂN XUÔI CHO HỌC VIÊN LỚP 12 BỔ TÖC VĂN HÓA - TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH LẠNG SƠN 43

2.1 Lí do chọn PP graph để chuyển hóa thành phương pháp dạy học 43

2.1.1 Về mặt nhận thức luận 43

2.1.2 Về mặt tâm lí học 43

2.1.3 Về mặt lí luận dạy học 43

2.2 Lí do sử dụng graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 44

2.2.1 Xét dưới góc độ dạy học của giáo viên 45

2.2.2 Xét dưới góc độ học tập của học sinh 46

2.2.3 Nguyên tắc sử dụng graph để dạy học 47

Trang 3

2.3 Lựa chọn cách thức sử dụng graph 48

2.3.1 Sử dụng graph như một phương tiện dạy học 48

2.3.2 Sử dụng graph như một phương pháp dạy học 50

2.4 Tác dụng của việc sử dụng graph để dạy học bài ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 52

2.4.1 Trong tóm tắt nội dung tác phẩm 52

2.4.2 Trong việc hệ thống hóa nội dung kiến thức cơ bản nhất của tác phẩm 54

2.5 Quy trình lập graph nội dung bài ôn tập 55

2.6 Quy trình sử dụng graph nội dung bài ôn tập để dạy học 62

2.6.1 Giáo viên triển khai graph ôn tập trên lớp 63

2.6.2 Sử dụng graph để tổ chức luyện tập thực hành và ôn tập 66

2.7 Một số lưu ý khi sử dụng graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 cho học viên bổ túc văn hóa 70

2.7.1 Lưu ý khi soạn giáo án 70

2.7.2 Lưu ý cách sử dụng graph để tổ chức dạy học ôn tập 71

Chương 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Mục đích thể nghiệm 73

3.2 Đối tượng và địa bàn thể nghiệm 73

3.3 Nội dung và cách thức tiến hành thể nghiệm 73

3.3.1 Nội dung 73

3.3.2 Cách thức tiến hành 74

3.4 Tiêu chí đánh giá và kết quả thể nghiệm 74

3.4.1 Tiêu chí đánh giá 74

3.4.2 Kết quả thể nghiệm 75

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nội dung dạy học ở trường phổ thông là hệ thống kiến thức phổ thông,

cơ bản, hiện đại, toàn diện về tự nhiên, xã hội và nhân văn, về công nghệ và nghệ thuật…, cùng với hệ thống kĩ năng tương ứng, được giảng dạy ở các trường phổ thông, nhằm giúp học sinh nắm vững, để hình thành năng lực sáng tạo và có thể tiếp tục học ở các bậc cao hơn hoặc bước vào cuộc sống lao động Nội dung dạy học là một trong những thành tố quan trọng của quá trình dạy học, song để đảm bảo chất lượng giáo dục ở trường phổ thông cũng rất quan trọng với sự tham gia của thành tố phương pháp dạy học ở trường phổ thông Vì, phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp, tương tác giữa giáo viên và học sinh, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo, thực hành sáng tạo và thái đội chuẩn mực theo mục tiêu của quá trình dạy học Làm thế nào để người dạy và học đáp ứng được nguồn nhân lực, yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa Nhất là giai đoạn này, hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam rất phong phú, một hệ thống cần được chú trọng hơn cả có lẽ là hệ thống giáo dục thường xuyên

1.1 Đặc thù loại hình khối bổ túc văn hóa trung học phổ thông-trung tâm giáo dục thường xuyên và yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi cho học viên chương trình lớp 12

Đặc thù của hệ thống khối Bổ túc văn hóa trung học phổ thông -Trung

tâm GDTX là đầu vào thấp, các học sinh từ cấp học trung học cơ sở không thi vào được cấp trung học phổ thông chính quy, vì thế các em phải xin xét tuyển để được học tập ở trung tâm giáo dục thường xuyên do yêu cầu của gia đình và đáp ứng yều của xã hội, với mục đích để cải thiện chất lượng cuộc sống, có khả năng tìm được việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời

Trang 5

mà chương trình học tập của lớp 12 hiện nay khá nặng, cộng với việc phải qua một kì thi tốt nghiệp để được công nhận thì đây là một nhiệm vụ cao cả, khiến tâm lí học viên hết sức lo ngại Việc tiếp thu kiến thức mới đã là khó

mà để ôn tập nhất là để phục vụ cho kì thi tốt nghiệp, thâu tóm kiến thức có

hệ thống còn khó hơn Vì thế, việc quan tâm rèn cho các em có ý thức và phương pháp tiếp nhận-có kiến thức là vấn đề thiết yếu

Vậy, giáo viên và học viên phải làm gì để nâng cao chất lượng ôn tập kiến thức tác phẩm văn xuôi lớp 12?

1.2 Tầm quan trọng của việc ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 cho học viên

Bổ túc trung học phổ thông-Trung tâm giáo dục thường xuyên

Tuy mỗi giáo viên có một cách truyền đạt kiến thức riêng cho học viên, nhưng có điểm chung là bất kì giáo viên nào cũng mong muốn cung cấp khối lượng kiến thức đầy đủ với một cách thức dễ tiếp thu nhất đến học viên Nhất là khi ôn thi tốt nghiệp, học viên cần nắm kiến thức một cách tổng quát

và đầy đủ nhất mà thời gian ôn tập ít Làm thế nào để giải quyết mâu thuần giữa một bên là khối lượng kiến thức lớn với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, một bên là thời gian học ít, người học có khó khăn về tâm lí, về năng lực nhận thức và các ảnh hưởng xã hội khác Chính mâu thuẫn đó là nguyên nhân quan trọng làm cho kết quả học tập và thi tốt nghiệp của học viên bổ túc văn hóa mấy năm gần đây

Trước tình hình đó, Bộ GD, Sở GD&ĐT tỉnh Lạng Sơn đã không ngừng chỉ đạo về chương trình cũng như phương pháp giảng dạy mới ở khối

Bổ túc trung học phổ thông, từng bước áp dụng các biện pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, nhằm phát huy tính tích cực chủ động, tư duy, sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê sáng tạo và ý chí vươn lên của học sinh nói chung và học viên Bổ túc trung học phổ thông nói riêng các thế hệ giáo viên đã và đang tham gia giảng dậy tại trung tâm đã

cố gắng vận dụng nhiều phương pháp dạy học nhằm giúp học viên tiếp thu

Trang 6

kiến thức nhưng một phần do sức ỳ của các em quá lớn nên kết quả học tập của các em vẫn chưa được cao

1.3 Thực tế dạy học ở khối Bổ túc văn hóa trung học phổ thông- Trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh Lạng Sơn

Trung tâm giáo dục thường xuyên với nhiệm vụ là giúp cho tất cả mọi người đều có điều kiện học tập, cho nên hệ thống giáo dục thường xuyên có mặt ở khắp tỉnh thành trên cả nước Song, Thành phố Lạng Sơn là một thành phố miền núi phía bắc, cơ bản dân cư vẫn còn thưa thớt Học viên đã vào học tại Trung tâm GDTX đa số là đối tượng vùng sâu, vùng xa ít tiếp xúc rộng rãi với môi trường xã hội nên sự tiếp nhận kiến thức và giao tiếp còn nhiều hạn chế Có những học viên đọc còn chưa thông thạo thì yêu cầu cảm nhận và phân tích tác phẩm văn học tốt thì đó là một việc khá khó khăn Hầu hết các học viên với tâm lí chung là ngại học, một số đi học do cha mẹ ép buộc Vì vậy, khi đến lớp hay ở nhà đều ít tập trung, ít đầu tư cho việc học Chính vì những lẽ trên mà làm thế nào để giúp học viên hiểu, nắm bắt được nội dung

và tư tưởng tác phẩm là niềm vui của giáo viên dạy Ngữ Văn nơi đậy Vì vậy, mỗi giáo viên giảng dạy bên khối TTGDTX ở Tỉnh Lạng Sơn đều tạo dựng cho mình một công trình nghiên cứu nhìn từ mọi góc độ khác nhau, khai thác những yếu tố khác nhau để giải quyết vấn đề, trong đó có phương pháp ôn tập, tất cả đều hướng vào làm thế nào để học viên biết nắm bắt, khái quát kiến thức một cách khoa học có chọn lọc, dễ hiểu và dễ nhớ Là một giáo viên giảng dạy tại Trung tâm GDTX miền núi, luôn băn khoăn và trăn trở trước tình trạng ngày một giảm sút về mặt tiếp nhận kiến thức của một số đông học viên Đó là lí do chọn đề tài này cho luận văn với mong muốn thực nghiêm mong đóng góp tiếng nói nhỏ bé vào nhiệm vụ chung đầy khó khăn, cao cả trong việc giáo dục rèn luyện kiến thức cho học viên trung tâm GDTX ở Tỉnh Lạng sơn Trong đó đặc biệt quan tâm vấn đề hướng

Trang 7

cho kì thi tốt nghiệp lớp 12, một kì thi luôn tạo nhiều áp lực cho các phụ huynh và học viên

lý thuyết graph là một bộ phận nhỏ của toán học và chủ yếu nghiên cứu giải những bài toán có tính chất giải trí Đến những năm 30 của thế kỷ XX cùng với sự phát triển của toán học, lý thuyết graph đã có bước phát triển nhảy vọt

và được xem như một ngành toán học riêng biệt được trình bày trong cuốn Lý thuyết các các đồ thị định hướng và vô hướng của Kơníc - nhà toán học

Hunggari - xuất bản năm 1936 tại Lép Zích

Năm 1965, tại Liên Xô (cũ) A.M.Xokhor là người đầu tiên vận dụng một số quan điểm của lý thuyết graph để mô hình hoá nội dung của một tài liệu giáo khoa ( một khái niệm, một định luật…) hay nói cụ thể hơn là tác giả

đã xây dựng được graph của một kết luận hay của lời giải thích cho một đề tài dạy học mà ông gọi là "Cấu trúc lôgic của kết luận hay của lời giải thích"

Để đưa ra được cấu trúc này A.M Xokhor đã xuất phát từ ba quan điểm cho rằng: a)Trong dạy học, khái niệm là phần tử cơ bản hợp thành tài liệu giáo khoa; b) Những mối liên hệ bên trong giữa các khái niệm chứa trong đoạn tài liệu giáo khoa tạo thành một chỉnh thể và là cấu trúc của đoạn tài liệu giáo khoa đó; c) Cấu trúc của tài liệu giáo khoa có thể diễn tả một cách trực quan bằng một graph và gọi là "cấu trúc lôgic của tài liệu" Để làm rõ quan điểm này, A.M Xokhor đã diễn tả mỗi khái niệm trên bằng một hình chữ nhật trong đó có ghi ký hiệu của khái niệm và mối quan hệ giữa các khái niệm đó

Trang 8

được thể hiện bằng những mũi tên có chiều đi từ khái niệm trước đến khái niệm sau Với cách diễn tả như vậy A.M Xokhor đã lập được một graph mà

đỉnh là những khái niệm cơ bản dẫn đến kết luận, còn cung graph là những

mối liên hệ dẫn từ khái niệm này tới khái niệm kia và dẫn tới kết luận A.M Xokhor gọi sự diễn tả đó là" Công thức cấu tạo của kết luận." Ưu điểm nổi bật của cách mô hình hoá nội dung một tài liệu giáo khoa bằng graph do

A.M.Xokhor đưa ra là trực quan hoá được mối liên hệ, quan hệ bản chất và tiềm ẩn giữa các khái niệm tạo nên tài liệu giáo khoa đó Nhờ đó, nó giúp học

sinh cấu trúc hoá được một cách dễ dàng nội dung tài liệu giáo khoa và hiểu bản chất, nhớ lâu hơn, vận dụng hiệu quả hơn nội dung của tài liệu đó

Đến năm 1972, trong công trình Dạy học nêu vấn đề như là một phương tiện đẩy mạnh hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình giảng dạy hoá học V.P.Garkumôp tiếp tục dùng graph để mô hình hoá các

tình huống dạy học nêu vấn đề rồi trên cơ sở đó tiến hành phân loại các tình

huống ấy Theo V.P.Garkumôp "Trong việc tạo ra các mẫu của tình huống nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, thì việc sử dụng lý thuyết graph có thể giúp ích rất nhiều cho các nhà lý luận dạy học Lý thuyết graph cho phép xác định trình tự hành động trong tiến trình giải thích tình huống có vấn đề đặt ra và chọn những kiểu nhất định của nó"[11]

Sau này các nhà nghiên cứu và các giáo viên kinh nghiệm lâu năm trong nghề đã đưa graph vào kiểm nghiệm trong thực tiễn giảng dạy Qua thực tiễn đã chứng minh được ưu thế của graph và sự ứng dụng lý thuyết graph vào quá trình dạy học là hoàn toàn hợp lý Lý thuyết graph có thể ứng dụng được ở tất cả các môn học, cấp học Ta có thể kể đến các công trình

khác như: Graph và mạng lưới hữu hạn của R.Baxep, T.Xachi; Lý thuyết graph của V.V.Belop, E.M.Vôpôbôep, V.E.Xatlôp; Sự ứng dụng của graph trong việc nghiên cứu kế hoạch dạy học và kế hoạch hoá quá trình dạy học

Trang 9

ứng dụng graph vào nghiên cứu và giảng dạy các môn học trong nhà trường như: Văn học, Vật lý, Sinh học, Giáo dục học…

2.2 Các công trình nghiên cứu và ứng dụng graph vào dạy học ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trong quá trình dạy học đã có nhiều nhà giáo dục bằng kinh nghiệm của mình đã dùng sơ đồ, bảng biểu trong bài giảng coi đó là một phương tiện trực quan trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học Nhưng nhà sư phạm đầu tiên nghiên cứu vận dụng phương pháp graph khoa học thành một phương pháp dạy học mở ra một hướng đi mới cho những nhà nghiên cứu lý luận dạy học là giáo sư Nguyễn Ngọc Quang Giáo sư đã cùng với các cộng tác viên tiến hành thể nghiệm đưa lý thuyết graph vào dạy học một số bộ môn trong nhà trường phổ thông và đại học như: Địa lý, Hoá học, Vật lý… Kết quả thể nghiệm cho thấy những ưu thế nổi trội của graph trong dạy học so với những phương pháp khác Năm 1979, ông gửi đến bạn đọc

cuốn sách Lý luận dạy học - khoa học về trí dục và dạy học như một lời tuyên

ngôn cho việc "tìm cách vận dụng những phương pháp thâm nhập khoa học (như thể nghiệm, dự đoán, mô hình, algorit, sơ đồ mạng… ) vào thực tiễn dạy học ở trường phổ thông" Liên tiếp sau đó, vào những năm 1981, 1983, ông

công bố những bài báo Phương pháp graph trong dạy học và Sự chuyển hoá phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học như một sự minh hoạ và

làm sáng rõ hơn cho việc sử dụng graph trong dạy học mà ông đã đưa ra

trong công trình đầu tiên của mình

Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu khoa học của Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, năm 1984 nhà giáo Phạm Tư với công trình nghiên cứu

của mình Dùng graph nội dung của bài lên lớp để dạy học chương Phốt pho” ở lớp 11 trường THPT, tác giả đã nghiên cứu việc dùng phương

“Nitơ-pháp graph với tư cách là phương “Nitơ-pháp dạy học (biến phương “Nitơ-pháp graph trong toán học thành phương pháp dạy học hoá học) Đồng thời, tác giả cũng

Trang 10

đã xây dựng quy trình áp dụng phương pháp này cho giáo viên và học sinh qua các khâu: chuẩn bị bài, lên lớp, tự học ở nhà, kiểm tra đánh giá khi dạy môn hoá học Gần đây, vào năm 2003 Tiến sỹ Phạm Tư lại ra mắt bạn đọc tiếp hai bài báo nhằm mục đích khẳng định hiệu quả của graph trong việc

nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới phương pháp dạy học: Dạy học

bằng phương pháp graph góp phần nâng cao chất lượng giờ giảng [24]; và Dạy học bằng graph góp phần nâng cao chất lượng học tập, tự học [25]

Bên cạnh những công trình vừa kể trên, các bài viết về sử dụng graph dạy học trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có những biến chuyển nhất định Các vấn đề nghiên cứu trở nên phong phú, đa dạng và đội ngũ tác giả ngày một đông đảo hơn Ngày nay, việc ứng dụng lý thuyết graph cũng được

mở rộng ở nhiều bộ môn khác nhau trong nhà trường Có thể kể đến những

tác giả sau: Hà Thúc Quảng với Dùng sơ đồ trong việc dạy toán để phát huy tác dụng của sách giáo khoa [23]; Nguyễn Chính Trung với Dùng phương pháp sơ đồ hoá (graph) lập chương tình tối ưu và dạy học môn: Sử dụng thông tin trong chiến dịch ở Học viện Quân sự cấp cao; Phạm Thị Trinh Mai với Dùng graph dạy tổng kết hoá học theo chủ đề; Nguyễn Phúc Chỉnh với

Sử dụng graph nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Sinh thái học [7]; Phạm Bội Chương với Sử dụng graph trong dạy

học các môn kỹ thuật tại các trường dạy nghề [8]

Như vậy, qua những bài viết trên, chúng ta thấy việc vận dụng lý thuyết graph vào từng bộ môn, từng quá trình dạy học ở Việt Nam đã được các nhà giáo dục quan tâm, nghiên cứu và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn giảng dạy Tuy nhiên, đến nay việc sử dụng graph để dạy học vẫn chưa được ứng dụng trên diện rộng và chưa thực sự trở thành phương pháp dạy học phổ biến Đặc biệt ứng dụng lý thuyết graph vào dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi còn hạn chế Tuy vậy một số nhà nghiên cứu những cũng đã có bước

Trang 11

Người đi tiên phong trong lĩnh vực này là PGS.TS Nguyễn Quang Ninh với

bài viết Sử dụng phương pháp graph trong dạy học tiếng Việt (Trong kỷ yếu

hội thảo khoa học toàn quốc - tập I, năm 1996) [17] Đây là một bài viết đầu tiên trực tiếp bàn tới việc sử dụng graph trong dạy học tiếng Việt Trong bài viết của PGS đã giới thiệu sơ lược về phương pháp, những yêu cầu và cách tiến hành lập graph nội dung một bài lên lớp môn tiếng Việt Tác giả kết luận

"Lập được graph nội dung của một bài học có nghĩa là ta đã nắm vững được

cả nội dung kiến thức lẫn lôgic phát triển của một bài học đó Về phía giáo viên, việc lập được graph nội dung bài học giúp cho việc giảng dạy đạt kết quả tối ưu: chủ động trong việc trình bày kiến thức, mạch lạc trong việc lập luận và rõ ràng trong việc dẫn dắt học trò Còn về phía học sinh, nhờ có graph nội dung mà các em biết đây là kiến thức chốt, cơ bản và nắm bắt được những mối quan hệ giữa các kiến thức đó một cách trực quan Nếu như học sinh tự mình lập được graph nội dung một bài học thì điều đó có nghĩa là học

sinh đã nắm bắt được chắc chắn nội dung bài học đó"[17]

Năm 2004, TS Nguyễn Thị Ban đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ

của mình với đề tài Sử dụng graph trong dạy học tiếng Việt cho học sinh

trung học cở sở [6] Trong luận án tác giả đã xây dựng quy trình lập graph

nội dung bài học và hướng dẫn sử dụng graph đó trong dạy học tiếng Việt ở một số dạng bài quen thuộc trong nhà trường như: dạng bài lý thuyết, dạng bài ôn tập hoặc trong việc luyện tập thực hành Quy trình đó phù hợp với đặc điểm của ngôn ngữ tiếng Việt, đơn giản, dễ sử dụng để giáo viên có thể thực hiện một cách thuận lợi trong những giờ lên lớp Như vậy, việc sử dụng lý thuyết graph trong dạy học các môn học ở nhà trường, trong đó có môn Ngữ Văn nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh không còn là một vấn đề mới mẻ Nhưng để cụ thể hoá phương pháp này trong giảng dạy tác phẩm văn xuôi và ứng dụng triển khai nó trên diện rộng là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Trang 12

Tất cả những công trình trên đã góp phần quan trọng gợi mở, định hướng cho người thực hiên luận văn lựa chọn đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ bản chất dạy học ôn tập

- Khảo sát nội dung các tác phẩm văn xuôi lớp 12 trên cơ sở đó đánh giá thực trạng dạy học của khối Bổ túc THPT - Trung tâm GDTX ở Tỉnh Lạng Sơn

- Đề xuất cách thức sử dụng graph vào ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 cho học viên bổ túc văn hóa

- Tổ chức thể nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất về phương pháp sử dụng lí thuyết graph vào việc ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Lí thuyết graph và việc sử dụng graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn

Trang 13

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu phần tác phẩm văn xuôi trong chương trình lớp 12 bộ chuẩn

để dạy học ở Trung Tâm GDTX Tỉnh Lạng Sơn và việc sử dụng graph để dạy học ôn tập có hiệu quả

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được những nhiệm vụ mà luận văn đề ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây trong ciệc hoàn thành luận văn

5.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Phân tích là chia nhỏ một chỉnh thể ra thành từng mặt, từng khía cạnh, từng đặc tính khác nhau để xem xét Trong luận văn đã dùng phương pháp phân tích lưỡng phân để từ một yếu tố ngôn ngữ, một vấn đề để chia thành các mặt, các yếu tố, các bình diện, các tính chất nhỏ hơn; sau đó lại tiếp tục chia từng mặt,các yếu tố, các bình diện nhỏ hơn nữa cho đến khi kết thúc vấn đề

Nhưng nếu muốn hiểu sâu sắc về đối tượng mà chỉ dựa vào phân tích thì chưa đủ Để có cái nhìn đầy đủ, thấy được tất cả mối quan hệ giữa các thành phần riêng lẻ, bộ phận được phân chia khi phân tích, chúng ta cần sử dụng phương pháp tổng hợp vì tổng hợp nhằm mục đích sâu chuỗi và khái quát những cái đã có khi phân tích

Vậy có thể thấy, phân tích và tổng hợp là hai thao tác có liên quan mật thiết với nhau, không tách rời nhau

5.2 Phương pháp thống kê

Để phát hiện được bản chất của sự vật, hiện tượng trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã tiến hành thống kê Đây là phương pháp dùng các phép tính toán để có những con số phản ánh một cách vật chất mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong một phạm vi nhất định nào đó, nhằm tìm ra thuộc tính chung, bản chất của sự việc, hiện tượng đó Và, đây còn là phương pháp giúp chúng ta có đầy đủ cơ sở vật chất để đánh giá, để rút ra những kết luận, bản chất của sự vật, hiện tượng khi có những chỉ số cụ thể

Trang 14

Vì lẽ trên, trong luận văn đã được sử dụng phương pháp thống kê khi khảo sát thực tiễn, khi tiến hành thực nghiệm, nhằm minh họa cho một quan niệm hay đề xuất kết luận nào đó

5.3 Phương pháp thực nghiệm

Việc thực nghiệm thường được sử dụng khi chúng ta cần khẳng định

tính chân thực cue một giả thuyết hay một sự phỏng định nào đó Trong thực nghiệm, các nhà nghiên cứu chủ động tác động vào đối tượng thực nghiệm và quá trình diễn biến để hướng dẫn việc thực nghiệm diễn ra theo đúng mục đích dự kiến Việc thực nghiệm sẽ làm tăng thêm chất lượng của quá trình nghiên cứu khoa học Kết quả thực nghiệm sẽ được xử lí bằng sự phân tích, thống kê, phân loại để từ đó có cơ sở khẳng định giả thuyết và đề xuất khả năng ứng dụng vào thực tiễn

6 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được biện pháp sử dụng Graph trong dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 một cách hợp lí thì sẽ giúp học viên biết cách hệ thống, khái quát hóa kiến thức để từ đó nắm chắc được kiến thức cơ bản, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn xuôi lớp 12 nói riêng và dạy học ngữ văn nói chung

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc sử dụng graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12

Chương 2: Sử dụng Graph trong dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 (khối Bổ túc văn hóa – Trung tâm giáo dục thường xuyên ở Tỉnh Lạng Sơn) Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG GRAPH ĐỂ DẠY HỌC ÔN TẬP TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái quát lí thuyết graph

1.1.1.1 Khái niệm graph

Graph là một lý thuyết có nguồn gốc từ toán học Trong toán học, lý thuyết graph là một lý thuyết khoa học độc lập, trưởng thành, có nhiều ứng dụng trong khoa học và thực tiễn Đến nay, lý thuyết graph đã được sử dụng rộng rãi

và trở thành một tên gọi chung khá quen thuộc của nhiều ngành khoa học như: Tâm lý học, Xã hội học, Xây dựng, Giao thông, Quản lý và dạy học…

Trong việc chuyển hoá graph toán học thành phương pháp graph dạy học, ta chỉ căn cứ vào vận dụng tư tưởng cơ bản của lý thuyết graph - đó là nguyên lý về cấu trúc của graph

Theo tiếng Anh: graph (danh từ) có nghĩa là: sơ đồ, đồ thị, mạng, mạch Graph (động từ) có nghĩa là: vẽ sơ đồ, vẽ đồ thị, mạng, mạch

Theo tiếng Pháp cũng có nghĩa tương tự chỉ có hơi khác ở ký hiệu Khi

là danh từ graphe có nghĩa là: sơ đồ, đồ thị, mạng, mạch Còn khi là phó từ, graphiquement có nghĩa là: bằng sơ đồ, bằng đồ thị, bằng mạng, mạch

Các nhà khoa học khi nghiên cứu về lý thuyết graph đã thống nhất quan niệm vẫn giữ nguyên tên gọi của lý thuyết này là "graph" chứ không dịch sang tiếng Việt và đều được dịch nghĩa là sơ đồ hay mạng, mạch

Tuy nhiên, điều cần phải lưu ý không phải bất kỳ sơ đồ nào cũng được gọi là graph

Trang 16

Ví dụ các sơ đồ sau không phải là sơ đồ graph:

Trong đời sống hàng ngày, nhiều khi chúng ta cần phải vẽ một sơ đồ để

biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố, các đối tượng một cách trực quan bằng hình ảnh, bằng đường nét Ví dụ, ta phải vẽ sơ đồ cơ cấu tổ chức của một cơ quan, một trường học; vẽ sơ đồ hướng dẫn đường đi trong một thành phố; hoặc vẽ sơ đồ trong một khu dân cư; hay vẽ sơ đồ cho một khu công nghiệp…Để vẽ được nó, chúng ta cần phải dùng kí hiệu nào đó để thay thế

cho đối tượng cần xem xét Những lúc ấy ta thường dùng các điểm (hoặc các

ô vuông, các đường tròn hay những hình trữ nhật…) ứng với một đối tượng

hoặc một yếu tố Ví dụ, điểm A, B, C, D, F…được sử dụng để thay cho một

vấn đề hay đối tượng nào đó mà chúng ta đang định tìm hiểu Lúc này, trên

sơ đồ ta có thể kí hiệu đối tượng cần xem xét thành từng điểm cụ thể, chẳng hạn thành A, B, C, D, E, F:

A B F

C D E

Nhưng nếu dừng ở đây, ta mới chỉ có được số lượng các yếu tố, các

đối tượng cần tìm hiểu mà chưa thấy được mối quan hệ giữa chúng Muốn thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượng đó, ta phải gắn, phải nối các yếu tố

có mối quan hệ lại với nhau Khi thể hiện mối quan hệ như vậy, chúng ta có thể dùng những đoạn thẳng, đoạn cong hay một đoạn gấp khúc bất kì nào đó

Trang 17

Điều quan trọng là, khi ta đã dùng kí hiệu loại nào, thì cần dùng thống nhất một loại cho toàn bộ sơ đồ đó

Ví dụ, với sáu đối tượng A, B, C, D, E, F như đang xem xét trên, ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa chúng như sau:

Những sơ đồ như vừa lập trên chính là graph Mỗi điểm biểu thị đối

tượng A, B, C, D, E, F khi đi vào graph sẽ lập thành một đỉnh của graph; còn các đoạn nối từng cặp đỉnh đó sẽ lập thành cung của graph, như đoạn nối cặp

đỉnh A và B hoặc C và D sẽ lập thành cung AB, cung CD trong graph, bất kể đường tạo cung đó cong hay thẳng

Như vậy, theo cách hiểu của lí thuyết toán, graph là một tập hợp số lượng hữu hạn các đỉnh và các cung có đầu mút tại các đỉnh đó

*Đỉnh:

Trang 18

- Mỗi điểm thể hiện một đối tượng xem xét, khi đi vào graph sẽ lập

thành một đỉnh của graph đó Tên của đỉnh được thể hiện hoặc kí hiệu như thế nào do dụng ý của người vẽ

- Đỉnh cô lập: là đỉnh không có đầu mút của một cạch nào cả (đỉnh A)

- Đỉnh kề nhau: là đỉnh ở hai đầu mút của cùng một cạnh (đỉnh C,B)

Ví dụ:

A

C B

-Bậc của graph: Bậc của đỉnh graph được xác định bằng số lượng cạnh

có đầu mút tại đỉnh đó Một đỉnh của đỉnh đó được gọi là một cạch của đỉnh n nếu nó là đầu mút của n cạnh

A B

C D E

Như hình vẽ trên thì đỉnh C, E là đỉnh bậc 1, đỉnh A, D, B là đỉnh bậc 2

*Cung (cạnh của graph)

Đường nối hai đỉnh của graph, biểu hiện quan hệ của yếu tố hay đối tượng được thể hiện ở hai đỉnh đó Đường nối dài hay ngắn, thẳng hay cong đều không quan trọng trong cấu tạo của graph

1.1.1.2 Bản chất, đặc điểm của graph

* Bản chất của graph

Qua cách trình bày trên, chúng ta thấy graph được định nghĩa dựa trên

hai tập hợp Trước hết đó là tập hợp của các đỉnh, và sau nữa là tập hợp của các cung Mỗi cung lại là một tập hợp của một cặp đỉnh có quan hệ với nhau,

những cặp đỉnh không có mối quan hệ với nhau không lập thành một cung

Trang 19

Thước hết, xét về tập hợp các đỉnh, chúng ta thấy trong graph, đỉnh

được kí hiệu theo cách nào không quan trọng, không quyết định bản chất của

nó Đỉnh có thể kí hiệu bằng một dấu chấm, cũng có thể là một vòng tròn,

một ô vuông hay một hình chữ nhật Cái quyết định của bản chất graph là ở

số lượng các đỉnh có trong graph đó

Số lượng các đỉnh có trong graph đó: Một graph có bốn đỉnh sẽ khác

về bản chất với graph có ba, năm hoặc sáu đỉnh với số lượng đỉnh khác nhau,

ta sẽ có những graph khác nhau Ví dụ, hai graph dưới đây khác nhau về bản

chất vì số lượng đỉnh trong hai graph này khác nhau:

A B A B

E

D C D C

Graph 1 Graph 2 Tập hợp các cung: Số lượng đỉnh của hai graph bằng nhau, nhưng mối quan hệ giữa các đỉnh ở hai graph khác nhau thì bản chất của hai graph đó sẽ khác nhau Ví dụ: B D B D

A C A C

Graph 1 Graph 2

Qua ví dụ trên ta có hai graph với số lượng đỉnh như nhau, đều cùng

có bốn đỉnh Nhưng ở graph 1 đỉnh B chỉ có quan hệ với hai đỉnh A và C;

Trang 20

trong khi đó, ở graph 2, đỉnh b lại có quan hệ với những ba đỉnh: A,C và B Vậy, bậc của đỉnh B ở hai graph này là khác nhau nên bản chất của hai graph cũng khác nhau

Điều quan trong tạo nên bản chất của 1 graph là :

+ Có bao nhiêu đỉnh

+ Có bao nhiêu cạnh

+ Đỉnh nào được nối với nhau

* Những đặc điểm của graph

Dạy học là một hoạt động phức tạp, lý thuyết graph có thể giúp giáo viên quy hoạch được quá trình dạy học trong toàn bộ cũng như từng mặt của

nó, bằng cách đó có thể tiến đến chỗ công nghệ hoá một cách hiện đại quá trình dạy học trong nhà trường

Dạy học bằng graph ngày nay đã trở thành một phương pháp ổn định,

cụ thể, khái quát Có thể ứng dụng cho nhiều bộ môn, cho nhiều dạng bài trong các bậc học từ tiểu học cho đến đại học bởi vì graph còn có những đặc điểm cơ bản sau:

- Tính hệ thống khái quát

Graph là sơ đồ thể hiện toàn bộ nội dung cơ bản của một bài học hay một chương, một mục Khi nhìn vào graph ta sẽ thấy được toàn bộ nội dung kiến thức chọn lọc nhất, chủ yếu nhất, quan trọng nhất được thể hiện trong các đỉnh đã làm nổi bật trọng tâm của từng phần hay toàn bộ nội dung vấn đề trong bài lên lớp hay sách giáo khoa Mặt khác ta còn nhận ra mối quan hệ ẩn tàng giữa chúng được thể hiện qua các cung của graph Do đó, graph là cơ sở

để học sinh tái hiện lại những kiến thức cụ thể trong bài giảng của giáo viên hoặc sách giáo khoa

Sơ đồ graph chủ yếu là sơ đồ hình cây, graph là một cây kiến thức được sắp xếp theo thứ tự, tầng bậc, nêu lên trình tự kiến thức của bài, từ mục

Trang 21

đề), nêu lên logíc phát triển của bài Trong mỗi một graph, chỉ có một đỉnh xác định đề tài của graph còn lại là các đỉnh chính, đỉnh phụ, đỉnh nhánh Các đỉnh này thuộc các tầng bậc khác nhau như: đỉnh chính - đỉnh bậc 1, đỉnh phụ

- đỉnh bậc 2, đỉnh nhánh - đỉnh bậc 3… Sự phân chia thành các tầng bậc, đỉnh như vậy đã tạo nên tính hệ thống của graph Nhìn vào graph ta thấy được tổng thể lôgic phát triển của nội dung kiến thức bài học Học sinh vừa có thể nhận thức tách biệt được những đơn vị kiến thức trong bài học một cách dễ dàng, nhưng đồng thời lại vừa có thể xâu chuỗi chúng lại trong mối quan hệ hữu cơ giữa các đơn vị kiến thức ấy Học sinh sẽ có được cái nhìn bộ phận, riêng biệt, đồng thời có được cái nhìn tổng thể, khái quát, cái nhìn trong mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị kiến thức.Vì vậy việc nhận thức nội dung bài học cũng sâu sắc hơn, đó cũng là điều kiện để học sinh nắm bắt hoặc nhớ kiến thức tốt hơn

rẽ, nhánh giữa các đơn vị kiến thức Qua graph, người học có thể thấy lôgic

sự phát triển các nội dung (vấn đề bắt đầu từ đâu và phát triển như thế nào) Tính lôgic của graph giúp cho tư duy của học sinh sáng rõ và khúc triết hơn khi tiếp thu vấn đề

Trang 22

dụng đúng quy trình, phù hợp đặc trưng bộ môn sẽ trở thành một phương tiện trực quan đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin học tập, tạo ra nhiều khả năng để giáo viên trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi và học sinh nhận thức nhanh chóng được vấn đề đồng thời góp phần hình thành

ở học sinh những phương pháp học tập tích cực, chủ động

- Tính ổn định và chuyển tải cao

Graph có tính ổn định vì được sinh ra từ phương pháp khoa học ổn định Nó thuộc phương pháp riêng, rộng, có thể áp dụng trong nhiều môn khoa học và dễ kết hợp với các phương pháp dạy học khác như: diễn giảng, đàm thoại, nêu vấn đề… Đồng thời có thể sử dụng nó trong các hình thức dạy học khác nhau như: bài lên lớp, ôn tập, kiểm tra… Nhờ tính trực quan, khái quát, hệ thống, lôgic nên graph có tính chuyển tải cao Trong một thời gian ngắn có thể cung cấp cho người học một lượng kiến thức lớn, tạo thuận lợi cho việc giảng dạy, tự học, tự nghiên cứu nội dung bài học, môn học

Vậy, Graph là sự tập hợp của các yếu tố, những yếu tố cấu thành graph bao gồm:

Điểm: Mỗi đối tượng nghiên cứu được xác định thành một điểm của

graph

Đoạn: Biểu thị mối quan hệ của các điểm

Đỉnh: Biểu thị chóp cao nhất của các mối quan hệ

Sơ đồ:

A (đỉnh)

(đoạn)

B(*) C(*) D(*) (điểm)

Trang 23

Như vậy, hai yếu tố quan trọng nhất tạo thành graph là đoạn và điểm, nhưng điều cốt lõi để cấu thành graph là phải có sự sắp xếp Sự sắp xếp nói lên bản chất đối tượng cần nghiên cứu (gián tiếp, trực tiếp, tầng bậc, rẽ nhánh) Chính trật tự sắp xếp bộc lộ mối quan hệ của các yếu tố

Về hình thức thể hiện:

Điểm có thể biểu thị bằng kí hiệu: (*)

Đoạn có thể biểu thị bằng kí hiệu: Đường thẳng, đường cong, vòng

tròn, mũi tên

1.1.1.3 Các loại graph

Căn cứ vào đặc điểm, tính chất của đối tượng nghiên cứu và mục đích

sử dụng, chúng ta có thể phân graph ra thành những loại khác nhau

* Graph định hướng và graph vô hướng

Graph định hướng: là graph có sự xác định rõ đỉnh nào là đỉnh xuất

phát trong graph ở loại graph này, mối liên hệ giữa các đỉnh của graph sẽ được định rõ đi theo hướng nào, chiều nào, đi từ đỉnh nào đến đỉnh nào? Các đoạn nối đỉnh của graph định hướng đều được thể hiện bằng những đoạn nối

có chiều mũi tên Chiều mũi tên chính là chiều quan hệ, chiều phân chia hoặc chiều vận động của các yếu tố

Ví dụ:

Hai graph trên đều là graph định hướng

Trang 24

Graph vô hướng: Là graph không chỉ rõ đâu là chiều liên hệ, chiều

vận động của các yếu tố Các đoạn để nối các đỉnh với nhau không cần có mũi tên Hai graph dưới đây là graph vô hướng

B

A

C

Trong hai loại graph trên, người ta thường sử dụng graph định hướng

để biểu thị mối quan hệ động, mối quan hệ trong sự phát triển của các yếu tố được đưa vào graph Còn graph vô hướng được sử dụng để biểu thị mối quan

hệ tĩnh của các yếu tố Trong dạy học ôn tập văn học, chúng ta chủ yếu sử dụng loại graph định hướng Bởi vì tác phâm văn xuôi là một hệ thống mang tính đa nghĩa Đây là hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống nhỏ của các đơn

vị, các cấp độ cảm xúc trước yếu tố ngôn ngữ khác nhau Để nghiên cứu hệ thống ấy, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp đặc trưng của mình - phương pháp phân tích ngôn ngữ, đặc biệt là phương pháp lưỡng phân Phương pháp này cũng được sử dụng trong việc dạy học văn trong nhà trường, thông qua việc xử lý sư phạm của giáo viên Việc sử dụng graph định hướng sẽ giúp học sinh trực quan, cụ thể được các mối quan hệ trừu tượng của hệ thống ngôn ngữ Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh trong việc nhận thức các yếu tố, các khái niệm, sự kiện và hiện tượng ngôn ngữ

Trang 25

Ví dụ: Ta sử dụng graph sau để diễn tả hệ thống bài học (xét về mặt cấu tạo)

thông với nhau ta gọi graph đó là graph liên thông

Hai đỉnh đƣợc gọi là treo trong graph là những đỉnh chỉ có quan hệ trực tiếp với một đỉnh khác trong graph hay còn gọi là đỉnh treo của graph đó

Nhƣ vậy, graph khép là graph trong đó mọi cặp đỉnh đều có sự liên thông với

nhau

Trang 26

(graph khép)

Graph mở là graph trong đó không phải tất cả các đỉnh đều có quan hệ liên

thông với nhau mà ít nhất phải có hai đỉnh treo

(Graph mở - có 4 đỉnh treo)

Graph khép thường được sử dụng trong việc biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu tố trong một tổng thể hoàn chỉnh, nhìn các yếu tố trong sự chuyển đổi tuần hoàn tạo ra một chu trình khép kín Trong khi đó, graph mở lại được sử dụng thiên về việc biểu diễn mối quan hệ bao hàm, quan hệ phân chia hoặc quan hệ mang tính tầng bậc Sử duungj graph vào dạy học ngữ văn, chủ yếu sử dụng graph mở vì loại này phù hợp với đặc tính hệ thống, hệ thống tầng bậc của các vấn đề cần trình bày, và đặc biệt đối với vấn đề về hệ thống ngôn ngữ

* Graph đủ, graph câm, graph khuyết

Graph đủ là graph mà tất cả các đỉnh của nó đều được ghi chú hoặc ghi

Trang 27

Ví dụ graph:

(Graph có bốn đỉnh thì cả bốn đỉnh đều được lấp đầy bằng các ghi chú, giải thích do vậy đó là graph đủ.)

Graph câm là graph mà tất cả các đỉnh của nó đều rỗng, không có

bất kỳ một sự lấp đầy nào bằng ngôn từ, bằng ký hiệu hoặc sự ghi chú nào ở mọi đỉnh

Ví dụ:

(Cả bốn đỉnh trong graph đều rỗng do đó đây là graph câm.)

Gắn bó với sông nước

Tài hoa Trữ tình

Hung bạo

Tác phẩm “Người lái đò Sông Đà”

Đà

Trang 28

Graph khuyết là graph trong đó có một hoặc một số đỉnh rỗng, các

đỉnh còn lại không rỗng

(Đây là graph khuyết vì trong bẩy đỉnh có bốn đỉnh rỗng.)

Graph câm và graph khuyết là những loại graph được sử dụng một cách có hiệu quả trong việc ôn tập kiến thức cho học sinh người viết sẽ trình bày kỹ phần này trong nội dung của chương sau

1.1.1.4 Cách lập graph

Cùng một graph có thể biểu diễn thành hai hay nhiều hình vẽ khác nhau Nói một cách khác, hai graph được coi như nhau, có cùng bản chất với nhau khi hai hình vẽ đó đủ ba điều kiện sau:

Trang 29

Ví dụ, thoạt nhìn vào hai graph dưới đây, ta tưởng chúng là những

graph khác nhau, nhưng thực ra chúng có cùng bản chất vì có đủ ba điều

kiện: Cùng 5 đỉnh; 6 cung; mối quan hệ giữa các đỉnh tương ứng với nhau

Ngược lại, ta có hai graph nhìn hình thức có vẻ giống nhau như dưới

đây nhưng nếu đi sâu tìm hiểu về bản chất của chúng, ta lại thấy chúng khác

nhau bởi chúng không đủ ba điều kiện: số đỉnh, số cung bằng nhau và mối

quan hệ giữa các đỉnh tương ứng với nhau như vừa nêu trên

Hai graph này khác nhau vì ở graph 1, đỉnh A quan hệ với bốn

đỉnh khác; còn graph 2, đỉnh a chỉ quan hệ với ba đỉnh khác Số lượng

các mối quan hệ ở đỉnh khác nhau như vậy khiến cho bản chất của hai

graph khác nhau

Trang 30

1.1.2 Bài ôn tập

Trước tiên, chúng tôi xin trình bày thêm quan niệm về cách gọi “ôn tập” được sử dụng trong luận văn Có thể nói việc ôn tập kiến thức tác phẩm văn xuôi cho học viên lớp 12 được thể hiện tập trung nhất trong những giờ ôn tập kiến thức chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp THPT (theo chương trình ôn tập của Sở GD&ĐT chỉ đạo) Ở tiết ôn tập này, nội dung duy nhất là ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học cho học viên

Chính vì lẽ trên mà chúng tôi nhận thấy việc ôn tập là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quá trình dạy học Đây là thời điểm giáo viên chốt lại kiến thức, định hướng cho học viên tiếp thu những kiến thức đã được học một cách khái quát nhất Vì vậy, bài ôn tập có một số nhiệm vụ nhất định

Trước tiên, bài ôn tập phải đưa ra được bản danh mục những kiến thức

cơ bản nhất học viên đã được học trước đó Có thể nói đậy là những kiến

thức chốt Vì là ôn tập nên dung lượng của bài ôn này không thể chứa đựng hết mọi nội dung đã học và thời lượng trên lớp cũng không nhiều, chỉ cho phép giáo viên nhắc lại tất cả những điều học viên đã học, nên việc lựa chọn kiến thức cơ bản đưa vào nội dung ôn tập là cần thiết

Nhiệm vụ tiếp theo là bài ôn tập phải nêu lại một cách tóm tắt nội dung kiến thức theo danh mục đã đưa ra, như vậy, bài ôn tập không phải chỉ là một

bản danh mục rỗng, không phải chỉ là một bản kê những tên gọi dưới dạng các thuật ngữ, các hiện tượng, sự kiện ngôn ngữ mà kèm theo đấy là sự giải thích, minh họa ngắn gọn làm sáng rõ danh mục đã lập

Có thể coi nhiệm vụ của bài ôn tập là lập bản tóm tắt nội dung cơ bản

về những kiến thức đã học Bản tóm tắt này có thể chỉ là một vài từ ghi chú hoặc những kí hiệu, những chữ tắt cần thiết để thể hiện cách hiểu về từng đề mục trong bản danh mục đã được lập kia Ôn tập nhất thiết phải có sự nhắc lại nội dung cơ bản về các khái niệm, các sự kiện, hiện tượng ngôn ngữ Chỉ

Trang 31

khi được nhắc lại, lặp lại như vậy, sự tiếp nhận kiến thức của học viên mới trở nân bền chặt

Nhiệm vụ thứ ba của bài ôn tập là phải hệ thống hóa được toàn bộ những nội dung kiến thức đã học Giúp các em có được cái nhìn tổng thể, trong sự so sánh, đối chiếu cũng như mối quan hệ lẫn nhau giữa các nội dung kiến thức đã học Vì thế bài ôn tập giúp cho các em sâu chuỗi được kiến thức, nối mạch kiến thức và nhìn các nội dung ấy trong cái nhìn chung nhất, khái quát nhất và được sắp xếp theo từng bình diện, từng hệ thống

Tóm lại nhiệm vụ của việc ôn tập là phải đưa ra được bản danh mục những kiến thức cơ bản nhất với những sự giải thích tóm tắt cần thiết và được

hệ thống hóa lại theo từng khía cạnh, từng mặt, từng bình diện nòa đó cần phải ôn tập Đẻ thực hiện nhiệm vụ ôn tập, việc sử dụng graph có nhiều lợi thế, cũng bởi, graph một mặt vừa nêu được danh mục kiến thức cũng như nội dung tóm tắt ngắn gọn dưới dạng các kí hiệu thông qua các đỉnh graph, một mặt khác vừa hệ thống hóa được kiến thức đó trong một graph mang tính khái quát cao

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nội dung ôn tập tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ văn lớp 12

1.2.1.1 Thống kê các tác phẩm văn xuôi trong chương trình ngữ văn 12 - ban

cơ bản (Theo phân phối chương trình dành cho khối Bổ túc văn hóa - Trung tâm GDTX)

Trang 32

thể loại

Tiết dạy Tiết

ôn tập (thi TN)

Trong PPCT

Ghi chú

7 Ai đã đặt tên

cho dòng

sông

Hoàng Phủ Ngọc

Trang 33

1.2.1.2 khái quát nội dung bài ôn tập

STT Tên tác

phẩm

Tên tác giả

+ Bối cảnh ra đời của bản tuyên ngôn

+ Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của mĩ năm 1776 và Pháp năm

1791

- Cơ sở thực tế cuả bản tuyên ngôn

+ Tác giả đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt và những tội ác của Thực dân Pháp

+ Về phía nhân dân Việt Nam, tác giả đã có những khẳng định không ai có thể trối cãi đƣợc về quyền độc lập của dân tộc Việt Nam

- Lời tuyên ngôn độc lập

* Nghệ thuật

- Ngôn ngữ: trong sáng, ngắn gọn, chan chứa tình cảm

Trang 34

có Thống Lí Pá Tra một tên cường hào áp bức và ASử ăn chơi, độc ác

+ Đại diện các nhân vật bị bóc lột là

Mị một cô gái mèo trẻ, đẹp,

có tài, nhà nghèo, cuộc đời với kiếp làm dâu gạt nợ xong luôn tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt

A Phủ là trẻ mồ côi, sống tự lập, khỏe, đẹp, tính cách mạnh

mẽ, đã phải sống cuộc đời nô lệ, luôn khát khao tự do

- Về giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Khắc họa nhân vật sinh động;ngôn ngữ giàu chất thơ; các tình huống chặt chẽ, hợp lí

* Nội dung

- Tình huống truyện: éo le, độc đáo, đau xót và thấm đẫm tình người

- Nhân vật Tràng Xuất thân: con nhà nghèo, là dân ngụ cư, làm nghề kéo xe

Trang 35

xí; ngôn ngữ: cộc cằn, thô kệch; chuyện Tràng nhặt được vợ; cảnh Tràng đưa vợ về nhà; tâm trạng Tràng sau đêm tân hôn

- Giá trị nhân đạo: Tác phẩm là bài ca ca ngợi sự sống; chỉ ra con đường giải phóng cho những con người nghèo khổ

+ Dòng sông trữ tình

- Hình tượng người lái đò Sông

Đà + Vẻ đẹp vạm vỡ của người dân lao động + Ông lái đò tài hoa

* Nghệ thuật

Ngôn ngữ, hình ảnh, câu văn sáng tạo mới mẻ; vốn từ vựng phong phú, ngôn ngữ chính xác

* Nội dung

Trang 36

5 Rừng xà

Nu

Nguyễn Trung

Thành

- Hình tượng cây xà nu, rừng xà

nu + Loài cây thuộc họ thông, có mặt xuyên suốt tác phẩm

+ Có một sức sống quật cường mãnh liệt, gắn bó mật thiết với dân Xô Man

+ Là hình ảnh tiêu biểu cho bản chất, số phận của người dân Xô Man

- Tiêu biểu chân dung tập thể các anh hùng

+ Anh Quyết một cán bộ cách mạng

+ Cụ Mết già làng là tượng trưng cho lịch sử, cho truyền thống quật cường, bất khuất, cho sức sống bền bỉ của người dân xô Man; tiêu biểu cho phẩm chất yêu nước, lòng tự hào dân tộc + Tnú một nhân vật độc đáo mang chất sử thi: gan góc, táo bạo và trung thực, trung thành tuyệt đối với cách mạng

+ Dít và bé Heng; thế hệ tiếp nối thế hệ tiếp bước cha anh kiên cường chiến đấu chống kẻ thù xâm lược

Trang 37

Căm thù giặc sâu sắc; giàu tình nghĩa, rất mực thủy chung, son sắt với quê hương và cách mạng

- Nhân vật chú Năm: Là người lao động chất phác nhưng giàu tình cảm

- Má của Việt: tiêu biểu hình tượng người phụ nữ Việt nam thời kháng chiến

- Chiến: Sớm trưởng thành, mang những nét đẹp của mẹ

- Việt: Hiếu động, vô tư, trong sáng, yêu quý đồng đội nhưng giấu việc có chị; chững trạc trong tư thế chiến đấu

* Nghệ thuật

Xây dựng nhân vật qua hành động, lời nói mang đậm tính chất Nam Bộ

7 Ai đã đặt

tên cho

dòng sông

Hoàng Phủ Ngọc

Tường

* Nội dung

- Vẻ đẹp Sông Hương qua cảnh sắc thiên nhiên: Khi chảy ở thượng nguồn, Khi chảy ở đồng bằng, khi chảy trong thành phố Huế

- Sông Hương với những vẻ đẹp

về văn hóa: là dòng sông âm nhạc, dòng sông thi ca, dòng sông gắn với vẻ đẹp tâm hồn, những phong tục của người dân

xứ Huế

- Dòng Sông Hương với lịch sử

Trang 38

hào hùng của mảnh đất cố đô: là một dòng sông anh hùng, cùng thành phố Huế chịu nhiều đau thương mất mát

* Nghệ thuật

Phong cách viết kí: phóng túng, tài hoa thể hiện am hiểu kiến thức văn hóa, địa lí, lịch sử

thuyền

ngoài xa

Nguyễn Minh

Châu

* Nội dung

- Hai phát hiện của người nghệ

sĩ Phùng + Bức tranh thứ nhất hiện lên cảnh biển như bức tranh mực tàu của họa sĩ thời cổ, ở đó nghệ sĩ thấy tâm hồn trở nên trong trẻo, tinh khôi

+ Bức tranh thứ hai là một gia đình trên chiếc thuyền chài của ngư dân với cảnh tượng của người đàn ông, người đàn bà và hai đứa con Tất cả tạo nên nghịch lí của thiên truyên

- Nhân vật người đàn bà: không tên tuổi, cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ; thầm lặng chịu đựng mọi đớn đau; giàu lòng nhân hậu, vị tha, đức hi sinh

- Nhân vật người đàn ông: dữ dội, độc ác, thô bạo; đói nghèo, vất vả quẩn quanh, bao lo toan

- Hai đứa con

-Phùng- người nghệ sĩ

Trang 39

Cách xây dựng cốt truyện của tác giả và ngôn ngữ tác phẩm

- Ông Bằng: trọng đạo đức gia đình và các chuẩn mực xã hội truyền thống nhưng đang phải gánh chịu cơn lốc thị trường tàn phá vào giá trị gia đình

- Khung cảnh tết trong gia đình ông Bằng và truyền thống văn hóa dân tộc

- Chân dung những con người

Hà Nội khác: Dũng, bà mẹ Tuốt

Là những con người có cốt cách, tinh thần người Hà Nội, cũng như phẩm giá con người Việt Nam

- Một góc khác của Hà Nội hôm nay: còn có một góc khuất của

Hà Nội ngổn ngang bề bộn, điều

đó đã làm mất đi sự tao nhã, thanh lịch của đất Tràng An

Trang 40

ngàn năm văn hiến

* Nghệ thuật

- Tư duy nghệ thuật mới của Nguyễn Khải là dảm nhìn thẳng vào sự thật, với ngòi bút khá lạnh lùng, tỉnh táo với cái nhìn phân tích mổ xẻ mang tính kiêm nghiệm

Qua đó có thể thấy bài ôn tập đã tập hợp đầy đủ những kiến thức tác phẩm văn xuôi đề cập Tuy nhiên, đó mới chỉ là những mảng kiến thức được liệt kê ra, còn bản liệt kê đó có tạo được tính liên kết và hấp dẫn hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp mà người giáo viên sử dụng

1.2.1.3 Cấu trúc bài ôn tập

Khi ôn tập một tác phẩm văn xuôi cần xác định được các vấn đề sau

Ngày đăng: 17/03/2015, 08:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Ban, Sử dụng graph trong dạy học Tiếng Việt, Chuyên đề cao học, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng graph trong dạy học Tiếng Việt
3. Nguyễn Thị Ban, Khả năng sử dụng graph trong việc dạy học Văn-tiếng Việt. Kỉ yếu “Đổi mới phương pháp dạy học Văn - Tiếng việt trong các trường sư phạm”- Đà Lạt, 2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sử dụng graph trong việc dạy học Văn-tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Ban
Nhà XB: Kỉ yếu “Đổi mới phương pháp dạy học Văn - Tiếng việt trong các trường sư phạm”
Năm: 2000
4. Nguyễn Phúc Chỉnh, “Sử dụng graph nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học sinh thái học”, Tạp chí giáo dục, số 4 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng graph nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học sinh thái học"”
5. Phạm Bội Chương, “Sử dụng graph trong dạy học các môn kỹ thuật tại các trường dạy nghề”, Tạp chí Giáo dục, số 5 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng graph trong dạy học các môn kỹ thuật tại các trường dạy nghề
Tác giả: Phạm Bội Chương
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2003
6. Hồ Ngọc Đại, Tâm lý học dạy học. Nxb Giáo Dục. H, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dạy học
Nhà XB: Nxb Giáo Dục. H
8. Nguyễn Minh Hạc (chủ biên), Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Ẩn, Tâm lý học. Nxb Giáo Dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Minh Hạc, Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Ẩn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1996
9. Phan trọng Luận (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 12. Nhà xuất bản Giáo Dục, tháng 6 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 12
Tác giả: Phan trọng Luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 2008
10. Phan Trọng Luận (chủ biên), Phương pháp dạy học văn, tập 1. Nxb Giáo Dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
11. Phan Trọng Luận (chủ biên), Phương pháp dạy học văn, tập 2. Nxb Giáo Dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
12. Nguyễn Quang Ninh, “ Nâng cao năng lực cho giáo viên trung học phổ thông về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn”, Tài liệu bồi dƣỡng tháng 10 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cho giáo viên trung học phổ thông về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: Tài liệu bồi dưỡng
Năm: 2005
13. Nguyễn Quang Ninh - Nguyễn Thị Ban, Lí thuyết graph và việc dạy học tiếng Việt, Tạp chí Giáo dục, số 10 năm1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí thuyết graph và việc dạy học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 1999
14. Nguyễn Ngọc Quang, “Phương pháp graph trong dạy học”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 4 và 5 năm 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp graph trong dạy học"”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
15. Nguyễn Ngọc Quang, “Sự chuyển hoá phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 2 năm1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyển hoá phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học”", Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
16. Nguyễn Ngọc Quang, “Phương pháp graph dạy học. Khái niệm về phương pháp dạy học”, Tạp chí thông tin KHGD, số 5 năm 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp graph dạy học. Khái niệm về phương pháp dạy học”", Tạp chí thông tin KHGD
17. Phạm Văn Tƣ, “Dạy học bằng graph góp phần nâng cao chất lƣợng giờ giảng”, Báo GD&TĐ, số 124 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học bằng graph góp phần nâng cao chất lƣợng giờ giảng”," Báo GD&TĐ
18. Phạm Văn Tư, “Dạy học bằng phương pháp graph góp phần nâng cao chất lƣợng học tập, tự học”, Báo GD&TĐ, số 155 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học bằng phương pháp graph góp phần nâng cao chất lƣợng học tập, tự học”", Báo GD&TĐ
19. Khuất Thế Khoa, “Chuyên đề ôn tập và luyện thi Ngữ Văn 12” tài liệu tham khảo. Nhà xuất bản Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề ôn tập và luyện thi Ngữ Văn 12
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
20. Phạm Viết Vƣợng, “Giáo dục học”. Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm, mã số: 01.01.33/175 - ĐH 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ ta có thể kí hiệu đối tƣợng cần xem xét thành từng điểm cụ thể, chẳng  hạn thành A, B, C, D, E, F: - Sử dụng Graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 cho học viên bổ túc văn hóa - Trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh Lạng Sơn
Sơ đồ ta có thể kí hiệu đối tƣợng cần xem xét thành từng điểm cụ thể, chẳng hạn thành A, B, C, D, E, F: (Trang 16)
Hình tượng Sông Đà   Hình tượng người lái đò Sông - Sử dụng Graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 cho học viên bổ túc văn hóa - Trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh Lạng Sơn
Hình t ượng Sông Đà Hình tượng người lái đò Sông (Trang 27)
Bảng 1.1: Tình hình sử dụng phương pháp dạy học trong dạy học ôn tập tác - Sử dụng Graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 cho học viên bổ túc văn hóa - Trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh Lạng Sơn
Bảng 1.1 Tình hình sử dụng phương pháp dạy học trong dạy học ôn tập tác (Trang 86)
Hình  tƣợng  Sông - Sử dụng Graph để dạy học ôn tập tác phẩm văn xuôi lớp 12 cho học viên bổ túc văn hóa - Trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh Lạng Sơn
nh tƣợng Sông (Trang 106)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w