Quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế đang đặt sức ép lớn lên các trường đại học Việt nam nói chung và các trường đại học công lập nói riêng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo theo nhu cầu xã hội và đạt chuẩn quốc tế. Tự chủ tài chính, tính trách nhiệm, minh bạch và hiệu quả cao trong huy động và sử dụng nguồn lực tài chính là một trong những yếu tố quyết định để các trường đại học công lập có thể đạt được những mục tiêu kể trên. Chính vì vậy, đổi mới quản lý tài chính trong các trường đại học, tăng cường phân cấp quản lý tài chính, phân bổ ngân sách dựa trên kết quả, đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo coi là những nội dung quan trọng hàng đầu của đổi mới cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học. Điều này đòi hỏi phải xây dựng được hệ thống giám sát và đánh giá tài chính dựa trên kết quả có hiệu lực, trở thành một công cụ mạnh mẽ cho quản lý tài chính tại các trường đại học công lập; mặt khác là cơ sở thông tin cho quản lý nhà nước để tăng cường phân cấp quản lý tài chính.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH CÁC TỔ CHỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 6
1.1 Khái niệm và mục đích của hoạt động giám sát và đánh giá 6
1.1.1 Khái niệm giám sát và đánh giá 6
1.1.2.Mục đích của hoạt động giám sát và đánh giá 10
1.1.3 Hệ thống giám sát và đánh giá 10
1.2 Giám sát, đánh giá thực hiện và giám sát, đánh giá dựa trên kết quả 12
1.2.1 Giám sát và đánh giá sự thực hiện 12
1.2.2 Giám sát và đánh giá dựa trên kết quả 13
1.3 Giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học công lập dựa trên kết quả 15
1.3.1 Tài chính đại học công lập 15
1.3.2 Giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học dựa trên kết quả 18
1.3.3 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến giám sát tài chính đại học dựa trên kết quả 34
1.4 Kinh nghiệm giám sát, đánh giá tài chính tổ chức giáo dục đại học dựa trên kết quả của một số nước trên thế giới và các bài học rút ra cho Việt Nam 39
1.4.1 Giám sát và đánh giá tài chính đại học ở Nepal 39
1.4.2 Giám sát và đánh giá tài chính giáo dục đại học ở Mỹ 42
1.4.3 Giám sát và đánh giá tài chính giáo dục đại học ở Trung Quốc 43
1.4.4 Bài học rút ra cho Việt Nam trong giám sát, đánh giá tài chính tổ chức giáo dục đại học 45
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 47
Trang 22.1 Khái quát hoạt động quản lý tài chính tại các trường đại học công lập Việt Nam 47
2.1.1 Tài chính đại học công lập 47 2.1.2 Quản lý tài chính đại học công lập 51
2.2 Thực trạng giám sát và đánh giá tài chính tại các trường đại học công lập Việt Nam 60
2.2.1 Thực trạng giám sát và đánh giá tài chính đại học công lập 60 2.2.2 Nghiên cứu giám sát và đánh giá tài chính tại một số trường đại học công lập Việt Nam 69 2.2.3 Đánh giá về thực trạng giám sát và đánh giá tài chính đại học công lập ở Việt Nam 74
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH ĐẠI HỌC 80 3.1 Những định hướng cơ bản đổi mới giám sát và đánh giá tài chính đại học 80 3.2 Đề xuất quan điểm đổi mới giám sát đánh giá tài chính đại học theo định hướng kết quả 81 3.3 Những giải pháp đổi mới tài chính đại học theo định hướng kết quả
102 3.4.3 Đổi mới quản lý tài chính giáo dục theo định hướng kết quả 102 3.4.4 Đảm bảo thông tin cho hoạt động giám sát và đánh giá tài chính giáo dục đại học 103 3.4.5 Tăng cường năng lực giám sát và đánh giá tài chính giáo dục đại học
103
Trang 33.4.6 Đảm bảo sự cam kết và những nỗ lực của các nhà lãnh đạo cấp cao
104
KẾT LUẬN 105 PHỤ LỤC 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế đang đặt sức ép lớn lên cáctrường đại học Việt nam nói chung và các trường đại học công lập nói riêngtrong việc nâng cao chất lượng đào tạo theo nhu cầu xã hội và đạt chuẩn quốc
tế Tự chủ tài chính, tính trách nhiệm, minh bạch và hiệu quả cao trong huyđộng và sử dụng nguồn lực tài chính là một trong những yếu tố quyết định đểcác trường đại học công lập có thể đạt được những mục tiêu kể trên Chính vìvậy, đổi mới quản lý tài chính trong các trường đại học, tăng cường phân cấpquản lý tài chính, phân bổ ngân sách dựa trên kết quả, đang được Bộ Giáodục và Đào tạo coi là những nội dung quan trọng hàng đầu của đổi mới cơchế quản lý tài chính giáo dục đại học Điều này đòi hỏi phải xây dựng được
hệ thống giám sát và đánh giá tài chính dựa trên kết quả có hiệu lực, trở thànhmột công cụ mạnh mẽ cho quản lý tài chính tại các trường đại học công lập;mặt khác là cơ sở thông tin cho quản lý nhà nước để tăng cường phân cấpquản lý tài chính
Các trường đại học tại các nước phát triển đã có hơn 20 năm kinhnghiệm trong giám sát và đánh giá dựa trên kết quả, trong khi ở nhiều nướcđang phát triển, kể cả Việt Nam, việc áp dụng công cụ quản lý này mới chỉbắt đầu Do phải vượt qua nhiều thách thức về chính trị, tổ chức và kỹ thuật,tại các trường đại học công lập hiện nay, giám sát và đánh giá chủ yếu vẫn làgiám sát và đánh giá thực hiện trong khi nhu cầu xây dựng hệ thống giám sát
và đánh giá dựa trên kết quả đã trở nên rất cấp bách cả từ giác độ tổ chức vàquản lý nhà nước
Chính vì vậy, một nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng hoạt độnggiám sát, đánh giá tài chính tổ chức giáo dục đại học công lập và đưa ra cácgiải pháp cụ thể để hoàn thiện hoạt động giám sát và đánh giá tài chính tại
Trang 5trường đại học công lập, thông qua đề tài "Hoàn thiện hoạt động giám sát vàđánh giá tài chính tại các trường đại học công lập ở Việt Nam" có ý nghĩathiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước
Các nghiên cứu của nước ngoài: Do đòi hỏi ngày càng cao về tính
trách nhiệm và phải đạt được những kết quả thực sự để đáp ứng yêu cầu củacác tổ chức, cá nhân hữu quan, hoạt động giám sát và đánh giá nói chung,giám sát và đánh giá dựa trên kết quả nói riêng trở thành đòi hỏi bức thiếtnhằm quản lý tổ chức một cách hiệu quả Chủ đề này đã thu hút được sự quantâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều chuyên gia kinh tế Đặc biệt, Ngân hàngthế giới đã thành lập riêng một cơ quan giám sát và đánh giá - Cơ quan Đánhgiá độc lập Các chuyên gia, các nhà nghiên cứu của cơ quan này đã tiến hànhmột loạt nghiên cứu về giám sát và đánh giá đối với cả các nước phát triển vàcác nước đang phát triển Cụ thể là:
Nghiên cứu về “Giám sát và đánh giá: Một số công cụ, phương pháp
và cách tiếp cận” của Ngân hàng Thế giới năm 2004 đã giới thiệu và phântích các yếu tố liên quan đến giám sát và đánh giá như công cụ giám sát vàđánh giá, phương pháp và cách tiếp cận
Công trình “Mười bước tiến tới hệ thống giám sát và đánh giá dựa trênkết quả” của nhóm tác giả Jody Zall Kusek và Ray C.Rist năm 2005 trình bàykinh nghiệm các nước trong xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá dựa trênkết quả và nêu các bước nhằm xây dựng và phát triển một hệ thống giám sát
và đánh giá dựa trên kết quả
Nghiên cứu “Thể chế hóa các hệ thống giám sát và đánh giá để cảithiện quản lý khu vực công” của Keith Mackay năm 2006 phân tích các nhân
tố dẫn đến thành công trong việc xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá khuvực công cũng như các xu hướng ảnh hưởng đến quá trình thể chế hóa hệthống giám sát và đánh giá
Trang 6Nghiên cứu “Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá thế nào để hoànthiện công tác quản lý của nhà nước” của Keith Mackay năm 2007 phân tíchnhững đóng góp của giám sát và đánh giá đối với quản lý nhà nước, giớithiệu kinh nghiệm một số quốc gia xây dựng thành công hệ thống giám sát vàđánh giá dựa trên kết quả, các bài học rút ra từ thành công và những biệnpháp củng cố hệ thống giám sát và đánh giá
Ở trong nước hiện nay, quản lý tài chính đại học nói chung, giám sát
và đánh giá tài chính nói riêng đang thu hút được sự quan tâm của các cơquan quản lý giáo dục, các trường đại học, viện nghiên cứu Bộ Giáo dục vàđào tạo đã và đang tiến hành một loạt các đề tài nghiên cứu về quản lý tài
chính đại học Liên quan đến nội dung tài chính đại học và quản lý tài chính
đại học, đã có những công trình nghiên cứu sau:
“Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập ở Việt Nam” (2005), Đề tài cấp bộ B2005.38.125 do PGS.TS Vũ Duy
Hào chủ trì, đánh giá một cách tổng quát thực trạng và những bất cậptrong cơ chế quản lý tài chính hiện hành đối với các trường công lập, từ
đó đề xuất cơ chế quản lý tài chính mới phù hợp với xu hướng áp dụng
cơ chế tự chủ tại các trường đại học công lập ở Việt Nam
“Điều tra thực trạng và kiến nghị giải pháp đổi mới đầu tư tài chính đốivới các trường đại học Việt Nam phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhậpkinh tế quốc tế”, 2005, dự án do GS.TS Mai Ngọc Cường làm chủ nhiệm đãđánh giá được thực trạng đầu tư tài chính ở các trường đại học Việt Nam, chỉ
rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc đầu tư tàichính, từ đó đưa ra khuyến nghị về quan điểm phương hướng và giải pháp đổimới đầu tư tài chính của các trường Đại học Việt Nam trong những năm tớiphù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế
"Quản lý theo kết quả - những khái niệm vận dụng vào hệ thống giáodục Việt Nam", 2007, Vũ Minh Khương, Calla Wiemer, PGS TS Đỗ Minh
Trang 7Thụ, hệ thống hóa những nội dung then chốt trong xây dựng hệ thống quản lýtheo kết quả, xác định quy trình thiết lập chương trình quản lý theo kết quảhoạt động.
“Cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam”, 2008, luận án tiến sỹ của Hồ Thị Hải Yến đã hệ
thống hoá các vấn đề lý luận về tài chính và cơ chế tài chính đối với hoạtđộng khoa học và công nghệ trong các trường đại học, phân tích thực trạng và
đề xuất phương hướng, biện pháp hoàn thiện cơ chế tài chính đối với hoạtđộng khoa học và công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam
Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về giám sát
và đánh giá tài chính tổ chức đại học công lập Đề tài “Hoàn thiện hoạt độnggiám sát và đánh giá tài chính tại các trường đại học công lập ở Việt Nam” sẽ
là nghiên cứu đầu tiên về giám sát và đánh giá tài chính trường đại học cônglập ở nước ta
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận và thựctiễn về giám sát và đánh giá tài chính tại trường đại học công lập, trên cơ sở
đó đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát vàđánh giá tài chính cho các trường đại học công lập Việt Nam
4 Cách tiếp cận, Phương pháp nghiên cứu, Phạm vi nghiên cứu Cách tiếp cận của đề tài: Đề tài được tiếp cận nghiên cứu từ góc độ
ứng dụng
Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình giám sát và đánh giá của tổ chứcgiáo dục đại học và và tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng, phát triển hệ thốnggiám sát và đánh giá dựa trên kết quả của các nước trên thế giới, đề tài sẽ rút rabài học cho xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá tài chính tại trường đạihọc công lập Việt Nam Tiếp theo, đề tài sẽ phân tích thực trạng giám sát vàđánh giá tài chính của một số trường đại học công lập ở Việt Nam Nghiên cứu
Trang 8điển hình được tiến hành đối với một số trường đại học công lập như trườngĐại học Kinh tế Quốc dân, trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia) và Họcviện tài chính Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp xây dựng hệ thống giám sát vàđánh giá tài chính dựa trên kết quả cho các trường đại học công lập.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, sosánh để xây dựng khung lý thuyết cho phân tích thực tế và đề xuất các giảipháp hoàn thiện hoạt động giám sát và đánh giá tài chính tại các trường đạihọc công lập
Học hỏi kinh nghiệm các nước là phương pháp nghiên cứu quan trọngđược đề tài sử dụng nhằm tạo cơ sở thực tiễn cho các giải pháp Việc tìm hiểukinh nghiệm các nước được thực hiện thông qua các phương tiện truyềnthông như sách, báo, mạng Internet v.v
Với đặc thù là một đề tài phục vụ thực tiễn, phương pháp nghiên cứukhảo sát sẽ được tiến hành tạo cơ sở cho phân tích thực trạng và kiến nghị cácgiải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát và đánh giá tài chính cho các trườngđại học công lập ở Việt Nam
Đề tài sử dụng các phương pháp chuyên gia nhằm có được ý kiến đónggóp của các nhà khoa học, các nhà quản lý trong lĩnh vực quản lý tài chính đạihọc, đặc biệt là trong giám sát, đánh giá tài chính tổ chức giáo dục đại học
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: tập trung vào hoạt động giám sát và
đánh giá tài chính tại một số trường đại học công lập của Việt Nam giai đoạn
2006 - 2009
Trang 9CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH CÁC TỔ CHỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1 Khái niệm và mục đích của hoạt động giám sát và đánh giá
1.1.1 Khái niệm giám sát và đánh giá
Giám sát và đánh giá là một trong những nội dung thuộc chức năngkiểm soát của quy trình quản lý Hiện nay, giám sát và đánh giá là một kháiniệm được nghiên cứu tương đối thống nhất
“Giám sát và đánh giá là một công cụ quản lý được sử dụng trong quátrình xem xét một cách chính thức sự thực hiện và tác động của sự thực hiệnnày qua các chỉ số đo lường quá trình thực hiện so với các mục tiêu đã đặt ra
Hệ thống giám sát bao gồm các yếu tố cần thiết cho việc thu thập, phân tích
và báo cáo dữ liệu”1 Theo khái niệm này, giám sát và đánh giá là một hoạtđộng thống nhất nhằm cung cấp dữ liệu thực tế so với mục tiêu đã xác định
“Giám sát là một hoạt động theo dõi và báo cáo một cách thường xuyênnhững thông tin ban đầu về chương trình và những đầu ra và kết quả dự kiếncủa chương trình Đánh giá là hoạt động thu thập thông tin một cách hệ thống
về các hoạt động, những đặc điểm, những kết quả và tác động của mộtchương trình nhằm xác định giá trị của chương trình đó Những thông tin từhoạt động đánh giá được sử dụng để hoàn thiện, đổi mới chương trình, rút ranhững bài học kinh nghiệm và cải thiện việc phân bổ nguồn lực trong tươnglai”2 Khái niệm này đã phân biệt hai hoạt động giám sát và đánh giá Trong
đó, giám sát có vai trò cung cấp những thông tin ban đầu cho phép sơ quathực trạng thực hiện kế hoạch so với mục tiêu đặt ra ở từng thời điểm haytừng giai đoạn nhất định Đánh giá có vai trò cung cấp thông tin nhằm xácđịnh giá trị đóng góp của chương trình và những bài học kinh nghiệm cho cácchương trình tiếp theo
1 glossary of common terms, http://www.compass-malawi.com/cglossary.htm
2glossary of m&e terms , Prepared by the Evaluation Technical Working Group of the Joint United Nations Programme on HIV/AIDS (UNAIDS) Monitoring and Evaluation Reference GroupJune 2008
Trang 10Tổ chức OECD định nghĩa hai hoạt động giám sát và đánh giá mộtcách khá cụ thể.
“Giám sát là một chức năng liên tục được sử dụng để thu thập có hệthống dữ liệu về một số chỉ số nhất định nhằm cung cấp cho các nhà quản lý
và các bên hữu quan chủ yếu một phương thức can thiệp nào đó vào tiến trìnhphát triển đang diễn ra các chỉ báo về mức độ tiến bộ, mức độ đạt được cácmục tiêu và tiến độ trong sử dụng các nguồn lực được phân bổ”3
“ Đánh giá là việc xem xét một cách có hệ thống và khách quan vềmột dự án đang tiến hành và đã hoàn thành, bao gồm cả việc thiết kế, thựchiện và kết quả của nó” Như vậy, đánh giá là nhằm xác định tính hợp lý vàtính hiện thực của các mục tiêu, hiệu quả phát triển, tác động và tính bềnvững của dự án
Theo các khái niệm này, giám sát và đánh giá là hai hoạt động có tính
bổ trợ cho nhau Trong đó, hoạt động giám sát mang tính miêu tả nhằm cungcấp thông tin về tình trạng tương đối của việc thực hiện kế hoạch ở một thờiđiểm nào đó hoặc trong khoảng thời gian nhất định so với các mục tiêu và chỉtiêu đặt ra trong kế hoạch Còn hoạt động đánh giá cho phép nhận định cácmục tiêu và các chỉ tiêu có đạt được hay không và vì sao thông qua các bằngchứng nhất định Đánh giá có vai trò làm sáng tỏ những thực trạng và xuhướng mà hệ thống giám sát đã phát tín hiệu
Theo UNFPA, giám sát hay theo dõi là “quá trình liên tục xem xét việcthực hiện các hoạt động dựa theo kế hoạch đã được lập bằng cách thu thập vàphân tích các chỉ số đã được xây dựng Theo dõi cung cấp các thông tinthường xuyên về tiến độ nhằm đạt được kết quả (đầu ra, kết quả, mục tiêu)thông qua hệ thống lưu trữ các tài liệu và báo cáo”.4 Mục đích chủ yếu của
3 WB, 2005, Mười bước tiến tới hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả, tr 16
4 UNFPA, 2007, Bộ công cụ về lập kế hoạch, theo dõi và đánh giá dành cho cán bộ quản lý chương trình, tr.16
Trang 11giám sát là cung cấp cho các nhà quản lý và các đối tác những thông tin phảnhồi một cách thường xuyên, các dấu hiệu sớm của kết quả hay những kết quả
dự kiến chưa đạt được Hoạt động giám sát sẽ theo sát thực tế thực hiện cáccông việc dựa trên chuẩn mực hay kế hoạch đã được lập “Đánh gía là hoạtđộng có giới hạn về mặt thời gian dùng để lượng giá một cách có hệ thống vàkhách quan tính phù hợp, việc thực hiện công việc và những thành công, thấtbại trong các chương trình đang và đã hoàn thành Đánh giá được thực hiệnmột cách chọn lọc để trả lời câu hỏi nhằm hướng dẫn việc ra quyết định củacác nhà quản lý ” Đánh gía cung cấp thông tin về giá trị của các hoạt động,
sự tiến triển hay không tiến triển của các hoạt động và lý do Đánh giá là sựphân tích sâu và định kỳ quá trình hoạt động của tổ chức Đánh giá phụ thuộcvào số liệu được cung cấp từ hoạt động giám sát và các nguồn số liệu khác từđiều tra, phỏng vấn, nghiên cứu, khảo sát
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể thấy rằng giám sát và đánhgiá là những hoạt động nhằm cung cấp các thông tin phản hồi cho các nhàquản lý và các bên liên quan
Giám sát là một hoạt động của quản lý bao gồm việc thu thập, phân tích liên tục và thường xuyên các dữ liệu liên quan đến việc thực hiện nhằm sơ bộ xác định thực trạng và tiến độ thực hiện so với chỉ tiêu và mục tiêu đặt ra
Đánh giá là một hoạt động chuyển đổi những thông tin của hoạt động giám sát thành thông tin có ích cho các nhà quản lý trong điều chỉnh, hoàn thiện, và đổi mới các hoạt động hoặc rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc ra quyết định của các nhà quản lý.
Mặc dầu được định nghĩa một cách tách biệt, nhưng giám sát và đánhgiá là hai hoạt động bổ trợ cho nhau Sự khác biệt và bổ trợ cho nhau của haihoạt động này được thể hiện trong bảng 1
Bảng 1: So sánh hoạt động giám sát và đánh giá
Trang 12Giám sát Đánh giá
1 Mục đích Cung cấp thông tin ban đầu
về thực trạng thực hiện các
dự án, chương trình hay các
kế hoạch so với các chỉ tiêu
và mục tiêu; báo trước cho các nhà quản lý các vấn đề khó khăn và cung cấp cho họ các lựa chọn cho việc điều chỉnh
Cung cấp thông tin phân tích vì sao các kết quả, mong muốn đạt được hay không đạt được; cung cấp cho các nhà quản lý các lựa chọn chiến lược và chính sách
2 Nhiệm vụ Thường xuyên thu thập các
số liệu để tính toán các chỉ số
và mức độ đạt được so với chỉ tiêu đề ra:
và khách quan
3 Thời gian Thường xuyên Định kỳ hoặc khi cần thiết,
thường là giữa kỳ, giai đoạn cuối hoặc tổng kết
4 Các nội dung Chú trọng đến đầu vào, các
hoạt động, quá trình, đầu ra
và tính phù hợp liên tục:
-giám sát đầu vào (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin) -giám sát quá trình (những hoạt động hay những công việc được triển khai)
-giám sát đầu ra (các sản phẩm hay dịch vụ)
Chú trọng đến mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, kết qủ với chi phí; tính phù hợp; tác động và
- Tác động: Kế hoạch mang lại những kết quả gì? Kết quả đó có thể có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, theo dự kiến và ngoài
dự kiến.
- Tính bền vững: Lợi ích mà hoạt động mang lại có thể tồn tại lâu dài sau khi hoạt động đó kết thúc không?
Trang 13Giám sát và đánh giá cung cấp các thông tin phản hồi về các hoạt độngcủa tổ chức nhằm các mục đích sau:
- Xác định tính hợp lý của các mục tiêu đã đặt ra, từ đó có sự điều chỉnhkịp thời các mục tiêu đặt ra cho phù hợp với các mục đích của tổ chức và phùhợp với khả năng thực tế của tổ chức
- Giám sát và đánh giá nhằm phát hiện và điều chỉnh những sai lệch xảy
ra trong quá trình hoạt động của tổ chức, để đạt được mục tiêu của tổ chứcmột cách có kết quả và hiệu quả
- Giám sát và đánh giá nhằm xác định tính hiệu lực, hiệu quả, tác động
và tính bền vững của các hoạt động tổ chức từ đó rút ra những bài học kinhnghiệm cho quá trình ra quyết định trong tương lai như các quyết định phân
bổ nguồn lực, quyết định các dịch vụ cung cấp
- Hiểu về thực trạng và xu thế biến động của tổ chức nhằm đổi mới cáchoạt động của tổ chức trong tương lai
1.1.3 Hệ thống giám sát và đánh giá
Hệ thống giám sát và đánh giá tổ chức bao gồm (1) chủ thể giám sát vàđánh giá; (2) các công cụ giám sát và đánh giá; (3) các chỉ số giám sát vàđánh giá; (4) các phương pháp giám sát và đánh giá; (5) quy trình giám sát vàđánh giá
a Chủ thể giám sát và đánh giá
Giám sát và đánh giá là mối quan tâm của các chủ thể bên trong tổ chức
và các chủ thể bên ngoài tổ chức Các chủ thể bên trong tổ chức bao gồm cácchủ sở hữu, những người đứng đầu tổ chức, các nhà quản lý, kiểm soát nội bộ,
bộ máy kiểm tra chất lượng, người làm công Các chủ thể bên ngoài tổ chứcbao gồm các cơ quan quản lý trực tiếp các lĩnh vực mà tổ chức đang hoạtđộng, các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan, các cơ quan thanh tra,kiểm toán, kiểm sát, toà án, các nhà đầu tư, các tổ chức xã hội và khách hàng Mỗi chủ thể quan tâm đến những mục tiêu và nội dung giám sát đánh giá
Trang 14khác nhau phụ thuộc vào lợi ích liên quan của họ đến tổ chức Ngày nay, sốlượng các chủ thể giám sát và đánh giá có xu hướng gia tăng về số lượng.Trong quản lý nhà nước, giám sát và đánh giá các hoạt động của đối tượngquản lý có xu hướng được chuyển cho các tổ chức độc lập, làm dịch vụ giámsát và đánh giá
b Các công cụ giám sát và đánh giá
Các công cụ được sử dụng cho hoạt động giám sát và đánh giá bao gồm:các công cụ toán kinh tế; các báo cáo tài chính; các công cụ kỹ thuật
c Các chỉ số giám sát và đánh giá
Các chỉ số giám sát và đánh giá là những phương tiện để đo lường đầuvào, quá trình, đầu ra, kết quả hoạt động của một tổ chức và những tác độngcủa nó đến các khía cạnh cần quan tâm Chúng ta sử dụng các chỉ số nàytrong (1) xác định các mục tiêu và các chỉ tiêu, ước tính tiến trình thực hiện sovới các mục tiêu, chỉ tiêu; (2) xác định các vấn đề xảy ra đối với tổ chứcthông qua một hệ thống cảnh báo sớm từ đó có những giải pháp điều chỉnhkịp thời; (3) quyết định liệu có cần một hình thức đánh giá sâu rộng hơn tiếptheo hay không5
Tuy nhiên, muốn giám sát và đánh gía tốt hoạt động của một tổ chức,chúng ta cần xây dựng được một hệ thống các chỉ số giám sát và đánh giá tốt.Điều kiện của một hệ thống chỉ số tốt là (1) đủ đo lường các nội dung giámsát và đánh giá, không nên quá nhiều chỉ số; (2) có thể dễ dàng thu thập thôngtin để tính các chỉ số; (3) các chỉ số phải phản ánh được mục đích và mục tiêucủa giám sát và đánh giá của các cơ quan quản lý
d Các phương pháp giám sát và đánh giá
Các phương pháp giám sát và đánh giá có thể được phân loại theo nhiềutiêu chí khác nhau Nếu phân loại theo mục đích của hoạt động giám sát vàđánh giá thì có hai phương pháp (1) giám sát và đánh giá sự thực hiện và (2)
5 WB, Monitoring and evaluation: some tools, methods and approaches, trang 6
Trang 15giám sát và đánh giá dựa trên kết quả Sự phân biệt 2 phương pháp này sẽđược trình bày ở mục sau.
e Quy trình giám sát và đánh giá
Về truyền thống, giám sát và đánh giá nói chung được thiết kế theo mộtquy trình tương đối thống nhất bao gồm (1) Xác định mục tiêu, nội dung vàcác tiêu chuẩn giám sát và đánh giá; (2) Xác định chủ thể giám sát và đánhgiá; (3) Xác định phương pháp, các công cụ và kỹ thuật giám sát đánh giá; (4)Thu thập và phân tích dữ liệu; và (5) Báo cáo kết quả giám sát và đánh giá
1.2 Giám sát, đánh giá thực hiện và giám sát, đánh giá dựa trên kết quả
1.2.1 Giám sát và đánh giá sự thực hiện
Giám sát và đánh giá sự thực hiện là một quá trình liên tục thu thậpthông tin, phân tích số liệu về các chỉ số thực hiện công việc để so sánh liệucác kế hoạch, các chính sách các chương trình hay các dự án đang được thựchiện tốt như thế nào so với kết quả mong đợi
Là một phương pháp truyền thống, giám sát và đánh giá sự thực hiệnchủ yếu tập trung vào những câu hỏi về sự tuân thủ như “đã thực hiện điều đóchưa?”, “đã huy động các đầu vào cần thiết chưa?”, “đã thực hiện và đã hoànthành các hoạt động đã thống nhất chưa?”, “đã cung cấp các đầu ra như đãđịnh chưa?”
Giám sát và đánh giá sự thực hiện liên quan trực tiếp đến các hoạt độngđang diễn ra, vị trí, chất lượng, số lượng của các kết quả trực tiếp của các hoạtđộng này, cũng như các nguồn lực được phân bổ, được giao để tiến hành cáchoạt động Như vậy đặc trưng của giám sát và đánh giá sự thực hiện là (1) mô
tả vấn đề hoặc tình huống đang thực hiện; (2) định sẵn mẫu chuẩn so sánh cáchoạt động và đầu ra trước mắt”; (3) thu thập dữ liệu về đầu vào, các hoạt động
và đầu ra trước mắt; (4) báo cáo một cách hệ thống về việc cung cấp đầu vào;(5) liên hệ trực tiếp với từng can thiệp linh hoạt; (6)cung cấp thông tin về cácvấn đề hành chính, thực hiện và quản lý mà không đề cập đến các vấn đề rộng
Trang 16hơn như hiệu lực và sự phát triển của tổ chức.6 Sự khác nhau giữa giám sát vàđánh giá sự thực hiện và giám sát và đánh giá dựa trên kết quả được thể hiện
ở “chuỗi kết quả” (hình 1)
Hình 1: Chuỗi kết quả
1.2.2 Giám sát và đánh giá dựa trên kết quả
Giám sát và đánh giá dựa trên kết quả (RBME- Results basedmanagement) là một giai đoạn không thể thiếu trong quá trình quản lý dựatrên kết quả (RBM- Results based management) RBM hoạt động nhằm cảithiệu hiệu quả quản lý và trách nhiệm giải trình bằng việc (1) xác định rõ cáckết quả mong đợi; (2) giám sát tiến độ và quá trình đạt đến kết quả mong đợi;(3) sử dụng các kết quả này cho quá trình ra quyết định quản lý và (4) báo cáotình hình thực hiện
Trọng tâm của RBM là “chuỗi kết quả” – đó là chuỗi quan hệ nhân quảcần thiết nhằm đạt được các mục tiêu mong đợi – bắt đầu từ đầu vào, qua cáchoạt động, tạo nên đầu ra và dẫn đến các kết quả và tác động (hay còn gọi làmục tiêu tổng thể) Chuỗi kết quả là cơ sở để xây dựng các chỉ số giám sát và
6 WB, 2005, Mười bước tiến tới hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả, tr 21
Tác động (mục tiêu tổng thể)
Các kết quả (kết cục)
Trang 17đánh giá
RBM tập trung vào mở rộng phạm vi giám sát và đánh giá theo chuỗikết quả Đồng thời, các kế hoạch theo RBM cần bao gồm các kết quả trunghạn và các ảnh hưởng nhằm đo lường tiến độ và sự thực hiện để đạt được cáckết quả trung hạn và các ảnh hưởng này
RBME là một quá trình liên tục thu thập và phân tích số liệu để so sánhvới kết quả dự định xem các kế hoạch, các quyết định của tổ chức được thựctốt đến mức độ nào
Những vấn đề mà RBME quan tâm chính là sự tác động và sự ảnhhưởng Trọng tâm của RBME là “các hoạt động đã được hoàn thành, rồi saonữa”; “các đầu ra đã được tạo ra, rồi sao nữa” Những câu hỏi cần trả lời củaRBME bao gồm:
-Các mục đích và mục tiêu của tổ chức là gì?
-Các mục đích và mục tiêu này có đạt được không?
-Kết quả thực hiện có thể được chứng minh bằng cách nào?
Đặc trưng của RBME là sử dụng các dữ liệu gốc để mô tả hoạt động,tình huống trước khi có sự điều chỉnh, can thiệp; tính toán các chỉ số kết quả;thu thập các dữ liệu đầu ra và xác định liệu đầu ra này có đóng góp vào việcđạt kết quả không; báo cáo một cách hệ thống về tiến độ đạt tới các kết quả;phản ánh sự thành công hay thất bại của kế hoạch, các quyết định; có các bênđối tác và liên quan tham gia
RBME là phương pháp giám sát và đánh giá để đảm bảo các nguồn lựcđược huy động, sử dụng, các hoạt động được tiến hành và các đầu ra dự kiến
sẽ hướng tới đạt được những kết quả, những tác động mong muốn Chính vìvậy RBME có vai trò ngày càng quan trọng trong việc khắc phục những hạnchế của PME và tiến tới xây dựng một hệ thống giám sát và đánh giá hiệu lực
và hiệu quả hơn
-RBME rất cần thiết cho mục đích GSĐG của các cơ quan quản lý nhànước, GSĐG trong nội bộ tổ chức và GSĐG của các bên liên quan Thông tin
Trang 18từ RBME được sử dụng để báo cáo tốt hơn cho các nhà lãnh đạo chủ chốt,cho các cơ quan quản lý và các bên liên quan.
-Trái với giám sát và đánh giá quá trình (PME), RBME chú ý vào việcđạt được những kết quả và những tác động quan trọng đối với tổ chức cũngnhư các bên liên quan và trong nội bộ tổ chức RBME hỗ trợ cho việc làm rõcác mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức Các cơ quan quản lý nhà nước
và các bên liên quan có thể sử dụng từ RBME cho những lập luận về ngânsách cho các tổ chức
-RBME giúp phát hiện những kế hoạch, những quyết định có tiềm năngqua phát hiện những kết quả không dự kiến RBME cũng giúp phát hiệnnhững điểm yếu của các kế hoạch và các quyết định và điều chỉnh các điểmyếu này
-RBME hỗ trợ tăng cường tính minh bạch và tính trách nhiệm trong tổchức, và trách nhiệm của tổ chức đối với môi trường Xã hội thông tin ngàycàng phát triển đòi hỏi tổ chức cần phải xây dựng một hệ thống GSĐG đểchứng minh được các kết quả ngày càng tích cực của tổ chức
1.3 Giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học công lập dựa trên kết quả
1.3.1 Tài chính đại học công lập
a Tài chính đại học công lập
Tài chính đại học công lập (hay tài chính các trường đại học) là tổng hợp cácquan hệ kinh tế được biểu hiện bằng tiền tệ, gắn liền với việc hình thành và sửdụng các quĩ tiền tệ của các trường đại học để phục vụ cho mục đích đào tạo,giảng dạy, nghiên cứu và ứng dụng của các trường
Đặc trưng cơ bản của tài chính đại học là bao gồm những quan hệ tài chínhtheo cơ chế hướng đến mục tiêu phúc lợi xã hội và sau đó mới là mục tiêu lợinhuận Ở các trường đại học, nhờ quá trình thu hút vốn, phân bổ vốn cho hoạtđộng đào tạo và nghiên cứu mà các trường có được nguồn tài chính phục vụ
Trang 19những mục đích về đào tạo của các trường.
Các quan hệ tài chính của các trường đại học công lập bao gồm
(1) quan hệ tài chính của trường với cơ quan quản lý nhà nước:
(2) quan hệ tài chính của trường với các tổ chức và cá nhân đầu tư vốn; (3) quan hệ tài chính của trường với người học
(4) quan hệ tài chính của trường với các trung gian tài chính;
(5) quan hệ tài chính của trường với thị trường lao động;
(6) quan hệ tài chính của trường với thị trường đầu vào;
(7) quan hệ tài chính bên trong của các trường
Các quan hệ tài chính bên trong trường bao gồm (1) các quan hệ trong phân
bổ các nguồn vốn tạo nên tài sản, cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo và giảng dạy;(2) các quan hệ trong sử dụng các nguồn vốn; (3) các quan hệ trong hình thànhcác quỹ; (4) các quan hệ trong phân phối thu nhập cho cán bộ, giáo viên
b Các nguồn tài chính của các trường đại học công lập
Nguồn tài chính của các trường đại học trong giai đoạn hiện nay càng pháttriển theo hướng đa dạng hóa, bao gồm các nguồn cơ bản:
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp
- Nguồn thu từ tập đoàn (nếu trường là tổ chức thuộc sự quản lý của các tậpđoàn hay các tổng công ty)
- Nguồn thu từ chương trình dự án
- Nguồn tài trợ, viện trợ, quà biếu của các tổ chức và cá nhân trong vàngoài nước
- Nguồn tài chính đóng góp của các cổ đông và cán bộ nhân viên
- Nguồn đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân
- Nguồn thu sự nghiệp của nhà trường, bao gồm nguồn thu từ học phí,các loại phí và lệ phí; nguồn thu từ các hợp đồng liên kết đào tạo trong vàngoài nước; nguồn thu từ các đơn vị có thu; nguồn thu từ các hoạt động sản
Trang 20xuất kinh doanh; nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học; các hoạtđộng dịch vụ, khai thác cơ sở vật chất; lãi ngân hàng, lãi từ các hoạt động liênkết sản xuất kinh doanh
c Các hoạt động tài chính của các trường đại học côn lập
Xét theo sự vận động của các nguồn tài chính, hoạt động tài chính củacác trường đại học có thể được phân loại thành các hoạt động:
- Hoạt động thu hút và huy động các nguồn tài chính: đây là nhóm cáchoạt động đảm bảo các nguồn tài chính cho nghiên cứu và đào tạo của cáctrường đại học
- Hoạt động phân bổ các nguồn tài chính: đây là nhóm các hoạt độngđảm bảo các khoản mục chi tiêu đã được dự toán sẽ có được các nguồn tàichính để hoạt động
- Hoạt động sử dụng các nguồn tài chính: đây là nhóm hoạt động có tínhchất chuyển tài chính sang các dạng vật chất khác để đảm bảo cho hoạt độngnghiên cứu và đào tạo của các trường đại học
- Hoạt động cân đối thu chi và trích lập các quỹ trong các trường đạihọc: đây là các hoạt động đảm bảo các quỹ cần thiết để tái đầu tư và đổi mới
cơ sở vật chất cho các trường đại học
d Mối quan hệ giữa tài chính đại học công lập và các mục đích của các trường đại học
Tài chính đại học liên quan, quyết định và bị chi phối bởi ba mục tiêucủa một trường đại học, đó là mục tiêu chất lượng, tiếp cận và hiệu quả7
- Mục tiêu chất lượng: nguồn tài chính cho các trường đại học bị ảnhhưởng rõ rệt bởi chất lượng đào tạo của các trường và ngược lại
- Mục tiêu tiếp cận: giải quyết công bằng xã hội, ai là người được hưởnglợi từ giáo dục đại học và ai là người phải chi trả cho giáo dục đại học
- Mục tiêu hiệu quả: giải quyết mối quan hệ giữa các khoản chi phí của
7 Jonestone, D.B, 2009, financing higher education: who pays and other issues, trang 1
Trang 21nhà nước, của sinh viên, người học, của các gia đình và những người đóngthuế (chính là thu nhập của các trường) với đầu ra của các trường (số lượngsinh viên được tuyển vào trường; số sinh viên tốt nghiệp; các kết quả hoạtđộng chuyên môn của các khoa, các đơn vị trong trường)
Chính vì vậy, tài chính đại học trả lời các câu hỏi cơ bản sau:
- Các khoản học phí mà sinh viên phải đóng có thể thấp hơn đến mức
độ nào mà không ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, tiếp cận giáo dục vàtham gia ?
- Tỷ lệ sinh viên/khoa đào tạo, tỷ lệ sinh viên/giáo viên, tỷ lệ sinhviên/nhân viên hành chính như thế nào là hợp lý? Năng lực, khả năng đào tạocủa một trường đại học?
- Các nguồn tài trợ cho các cơ sở giáo dục đại học được sử dụng như thếnào để hoặc là đạt mục tiêu thu hút những sinh viên có chất lượng, những sinhviên có những thuộc tính mà trường quan tâm hoặc là mục tiêu tối đa hoá thunhập từ học phí của sinh viên?
- Những khoản phân bổ ngân sách của khu vực công cho các trường đạihọc được sử dụng để giữ mức học phí thấp cho sinh viên hay những khoảnngân sách này được phân bổ theo nhu cầu?
- Các nguồn tài trợ công nên chăng dựa trên những cam kết về học thuật,chất lượng đào tạo cũng như nhu cầu tài chính của gia đình người học?
1.3.2 Giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học dựa trên kết quả
1.3.2.1 Đặc điểm giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học dựa trên kết quả
Giám sát đánh giá tài chính theo định hướng kết là một giai đoạn khôngthể thiếu của quản lý tài chính đại học theo định hướng kết quả Đó là mộtquá trình liên tục thu thập và phân tích số liệu tài chính, số liệu về đầu ra, kếtquả và những tác động có tính tài chính đối với việc đạt mục đích của trườngđại học nhằm xem xét các mục tiêu dự định, các kế hoạch và các quyết định
Trang 22tài chính được thực hiện tốt đến mức độ nào, những tác động và những ảnhhưởng của chúng ra sao trong tương lai Các thông tin từ giám sát đánh giá tàichính đại học là cơ sở cho các quyết định quản lý của nhà nước đối với tàichính các trường đại học
Từ "kết quả" thể hiện rằng giám sát đánh giá tài chính đại học tập trungvào các kết quả/các ảnh hưởng của các hoạt động tài chính mà không tậptrung vào bản thân các hoạt động tài chính như phạm vi của giám sát và đánhgiá tài chính đại học truyền thống8
Vì vậy giám sát tài chính đại học theo định hướng kết quả là một hoạtđộng theo dõi và báo cáo một cách thường xuyên những thông tin về tài chínhcủa các trường đại học bao gồm: thông tin về nguồn tài chính, các hoạt độngthu hút, phân bổ, sử dụng các nguồn tài chính, những đầu ra và những kết quả
dự kiến của các hoạt động tài chính của các trường Còn đánh giá tài chính đạihọc theo định hướng kết quả là hoạt động thu thập và phân tích thông tin mộtcách hệ thống về các hoạt động tài chính, những đặc điểm, những kết quả vàtác động của các hoạt động tài chính nhằm xác định giá trị của các hoạt độngtài chính ở các trường đại học Những thông tin từ hoạt động đánh giá tàichính đại học được sử dụng để hoàn thiện, đổi mới các chính sách của các cơquan nhà nước đối với tài chính giáo dục đại học
Hệ thống giám sát đánh giá tài chính dựa trên kết quả là một tập hợpcác yếu tố bao gồm các mục tiêu và các tiêu chuẩn giám sát đánh giá tàichính, các chỉ số giám sát và đánh giá tài chính, quá trình, các công cụ, cácphương pháp và hệ thống thông tin giám sát đánh giá giám sát và đánh giá tàichính, các kế hoạch giám sát và đánh giá, bộ máy tổ chức, các mối quan hệquyền hạn, trách nhiệm và phối hợp nhằm đảm bảo cho các tổ chức, các cơquan nhà nước hoàn thành chức năng giám sát và đánh giá tài chính một cáchmột cách hiệu lực và hiệu quả nhất
1.3.2.2 Vai trò của giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học dựa
8 Results Based Monitoring and Evaluation, Toolkit, 2nd Edition 2009
Trang 23trên kết quả
Giám sát và đánh giá tài chính đại học dựa trên kết quả có vai trò ngàycàng quan trọng trong việc khắc phục những hạn chế của giám sát đánh giátruyền thống và tiến tới xây dựng một hệ thống giám sát và đánh giá tài chínhđại học hiệu lực và hiệu quả hơn:
-Giám sát và đánh giá tài chính đại học dựa trên kết quả là công cụ quản
lý hữu hiệu trong lập kế hoạch và lập dự toán của các cơ quan quản lý nhànước nhằm cải thiện các can thiệp đối với tài chính đại học và đạt được nhữngkết quả mong muốn Giám sát và đánh giá tài chính đại học giúp chứng minhcác thành tích đạt được và cảnh báo những điều chỉnh cần thiết trong các dự
án, chương trình hoặc chính sách hiện tại của nhà nước đối với tài chính đạihọc Giám sát và đánh giá tài chính đại học giúp phát hiện những kế hoạch,những quyết định có tiềm năng của các cơ quan nhà nước thông qua phát hiệnđược những kết quả tích cực không dự kiến từ các hoạt động tài chính của cáctrường đại học
-Giám sát và đánh giá tài chính đại học dựa trên kết quả giúp đánh giánhững thành công của các trường đại học, là cơ sở để các cơ quan nhà nước,các tổ chức tài trợ, cộng đồng xã hội đóng góp các khoản đầu tư, các nguồnviên trợ, các nguồn học phí cho các trường đại học nhằm cải thiện chất lượng,công bằng và hiệu quả giáo dục đại học trong tương lai Giám sát và đánh giátài chính đại học dựa trên kết quả chú ý vào việc đạt được những kết quả vànhững tác động quan trọng đối với các trường đại học, tác động đối với ngườihọc, với gia đình người học và với các bên liên quan Các cơ quan quản lýnhà nước, người học, gia đình họ có thể sử dụng từ RBME cho những lậpluận về ngân sách cho các trường đại học
- Giám sát và đánh giá tài chính đại học dựa trên kết quả hỗ trợ tăng
Trang 24cường tính minh bạch và tính trách nhiệm trong các cơ quan nhà nước, vàtrách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với môi trường trong việc quản lýtài chính các trường đại học Xã hội thông tin ngày càng phát triển đòi hỏi cơquan nhà nước cần phải xây dựng một hệ thống giám sát và đánh giá đểchứng minh được các kết quả ngày càng tích cực của các can thiệp của nhànước, đó là cơ sở để tăng cường sự ủng hộ của cộng đồng xã hội đối với quản
lý tài chính đối với các trường đại học
-Những thông tin công bố công khai, minh bạch của nhà nước về tàichính của các trường đại học và những ảnh hưởng của chúng đối với chấtlượng, công bằng và hiệu quả của giáo dục đại học có vai trò chứng minh uytín, vị thế của các trường Sự công nhận này như là một "hộ chiếu" để cáctrường đại học nhận được sự ủng hộ của người học và có thể thâm nhập sâuhơn vào "thị trường người học", từ đó tăng cường tiềm lực tài chính của cáctrường trong tương lai
1.3.2.3 Mục tiêu của giám sát và đánh giá tài chính đại học dựa trên kết quả
Mục tiêu của giám sát và đánh giá tài chính đại học là đảm bảo cácnguồn lực tài chính được huy động, được sử dụng, các hoạt động tài chínhđược tiến hành và các đầu ra dự kiến sẽ hướng tới đạt được những kết quả,những tác động mong muốn về chất lượng, công bằng và hiệu quả trong giáodục đại học
1.3.2.4 Chủ thể giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học
Giám sát và đánh giá tài chính đại học là một trong những nội dung củaquản lý của nhà nước đối với tài chính các trường đại học vì vậy chủ thểgiám sát chủ yếu là các cơ quan quản lý nhà nước đối với tài chính cáctrường đại học
- Các cơ quan quản lý trực tiếp các trường đại học: các trường đại học
Trang 25công lập có sử dụng một phần vốn ngân sách nhà nước cho hoạt động đàotạo và nghiên cứu Vì vậy các cơ quan quản lý nhà nước đối với các trường
sẽ giám sát và đánh giá các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng nguồntài chính này nhằm đạt được các mục tiêu của giáo dục đại học Các cơquan quản lý trực tiếp về tài chính đại học công lập có thể là Bộ quản lý vềgiáo dục, Bộ quản lý ngành (nếu trường đại học thuộc ngành), Chính phủ(nếu trường thuộc Chính phủ); Ủy ban nhân dân (nếu các trường đại họcthuộc địa phương)
- Các cơ quan có thẩm quyền chung về quản lý tài chính ở trung ương vàđịa phương: đây là những cơ quan không chỉ quản lý tài chính giáo dục đạihọc mà quản lý chung về vốn ngân sách nhà nước
- Giám sát và đánh giá có sự tham gia của các chủ thể liên quan: các chủthể có liên quan đến tài chính các trường đại học sẽ trở thành các chủ thểgiám sát và đánh giá khi cơ chế khuyến khích sự tham gia trong giám sát vàđánh giá phát triển Các chủ thể liên quan bao gồm người học, gia đình củangười học, các tổ chức tài trợ, các nhà đầu tư, và cộng đồng xã hội
- Giám sát và đánh giá của các tổ chức độc lập: để đảm bảo tính minhbạch về tài chính, đảm bảo những kết quả tích cực của hoạt động tài chính đạihọc và đảm bảo tính khách quan và độc lập của các kết quả đánh giá, các cơquan nhà nước chuyển sang xu hướng sử dụng các tổ chức tư vấn thực hiệncông tác giám sát và đánh giá các trường đại học Việc sử dụng này cũng khắcphục được những hạn chế chuyên môn trong công tác giám sát và đánh giá tàichính đại học
1.3.2.5 Nội dung giám sát và đánh giá tài chính đại học công lập dựa trên
Trang 26kết quả
a Chuỗi kết quả của tài chính đại học
Bảng 2: Chuỗi kết quả của tài chính đại học
- Huy động các nguồn tài chính?
- Phân
bổ các nguồn tài chính
- Sử dụng các nguồn tài chính?
Các đầu ra:
- Các nguồn được huy động? Cơ cấu?
Số lượng? Thời gian? Mục đích chi?
- Kết quả chi cho các khoản mục chi thường xuyên (chi lương, chi chuyên môn nghiệp vụ)?
- Kết quả chi không thường xuyên (cho đầu tư, chi cho nghiên cứu khoa học)
- Khả năng chi trả
và cân đối thu chi của các trường đại học?
- Cơ cấu nợ của các trường?
- Quỹ để tái đầu tư?
- Việc tuân thủ những quy đinh nhà nước đối với các khoản thu và chi?
- Sự minh bạch tài chính của các trường đại học?
Các kết quả
- Chất lượng giáo dục:
+ Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp bằng khá trở lên?
+ Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hoặc sớm hơn thời hạn?
+ Trình độ chuyên môn của giáo viên?
+ Cơ sở vật chất, học liệu cho dạy và học?
- Công bằng giáo dục
+ Cơ cấu sinh viên trúng tuyển?
+ Cơ cấu sinh viên tốt nghiệp theo vùng miền?
+ Mức học phí và trợ cấp cho các đối tượng khác nhau?
- Hiệu quả:
+ Chi phi xã hội/sinh viên tốt nghiệp
+Chi phí của người học/sinh viên tốt nghiệp
+ Chi phí của trường đại học/sv
Các ảnh hưởng
- Việc làm cho sinh viêKiểm toán nhà nước bình sau khi tốt nghiệp khoảng 3 năm
- Khả năng nâng cao bằng cấp (học thạc sĩ)
và các khóa học khác?
- Uy tín của trường?
- Sự tín nhiệm của cộng đồng, người học
và gia đình họ?
- Khả năng thu hút tài chính dài hạn?
- Huy động các nguồn tài chính?
- Phân bổ các nguồn tài chính
- Sử dụng các nguồn tài chính?
Các đầu ra:
- Các nguồn được huy động? Cơ cấu?
Số lượng? Thời gian? Mục đích chi?
- Kết quả chi cho các khoản mục chi thường xuyên (chi lương, chi chuyên môn nghiệp vụ)?
- Kết quả chi không thường xuyên (cho đầu tư, chi cho nghiên cứu khoa học)
- Khả năng chi trả và cân đối thu chi của các trường đại học?
- Cơ cấu nợ của các trường?
- Quỹ để tái đầu tư?
- Việc tuân thủ những quy đinh nhà nước đối với các khoản thu và chi?
- Sự minh bạch tài chính của các trường đại học?
Các kết quả
-Chất lượng giáo dục +Tỷ lệ SV tốt nghiệp bằng khá trở lên + Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hoặc sớm hơn thời hạn?
+ Trình độ chuyên môn của giáo viên?
+ Cơ sở vật chất, học liệu cho dạy và học?
- Công bằng giáodục + Cơ cấu sinh viên trúng tuyển?
+ Cơ cấu SV tốt nghiệp theo vùng miền?
+ Mức học phí và trợ cấp cho các đối tượng khác nhau?
- Hiệu quả:
+ Chi phi xã hội/sinh viên tốt nghiệp +Chi phí của người học/SV tốt nghiệp + Chi phí của trường đại học/sv
+ Thời gian đào tạo trung bình?
Các ảnh hưởng
- Việc làm cho sinh viên
- Thu nhập trung bình sau khi tốt nghiệp khoảng 3 năm
- Khả năng nâng cao bằng cấp (học thạc sĩ) và các khóa học khác?
- Uy tín của trường?
- Sự tín nhiệm của cộng đồng, người học
và gia đình họ?
- Khả năng thu hút tài chính dài hạn?
Trang 27c Nội dung giám sát và đánh giá tài chính đại học theo chuỗi kết quả
Bảng 3: Nội dung của giám sát và đánh giá tài chính đại học (khung giám sát và đánh
các trường đại học có thể đảm bảo được những ảnh hưởng tích cực trong dài hạn này hay không?
Sự ảnh hưởng:
Việc làm, thu nhập của sinh viên sau khi tốt nghiệp đã thay đổi như thế nào?
Uy tín, vị thế của trường đại học? Tiềm lực tài chính của các trường đã thay đổi ra sao? Có những thay đổi nào đã xảy ra ngoài kế hoạch? Các kết
quả - Các trường đang vàsẽ đạt được các kết
- Khả năng cân đối
tài chính của trường
Sự phù hợp
Các mục tiêu đã đạt về chất lượng, công bằng và hiệu quả của các trường đại học được
có phù hợp với nhu cầu của các bên liên quan và phù hợp với chính sách của chính phủ?
Tính hiệu lực
- Các mục tiêu chất lượng, công bằng và hiệu quả của các trường đại học đã đạt được theo kế hoạch?
- Đầu ra của hoạt động tài chính ở các trường đại học đã đưa đến kết quả mong đợi về chất lượng, công bằng và hiệu quả trong giáo dục đại học?
Các
đầu ra
Các đầu ra:
- Các nguồn được huy động? Cơ cấu?
Số lượng? Thời gian? Mục đích chi?
- Kết quả chi cho các khoản mục chi thường xuyên (chi lương, chi chuyên môn nghiệp vụ)?
- Kết quả chi không thường xuyên (cho đầu tư, chi cho nghiên cứu khoa học)
- Khả năng chi trả
và cân đối thu chi của các trường đại học?
- Cơ cấu nợ của các trường?
- Quỹ để tái đầu tư?
- Việc tuân thủ những quy đinh nhà nước đối với các khoản thu và chi?
- Sự minh bạch tài chính của các trường đại học?
Các kết quả
- Chất lượng giáo dục:
+ Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp bằng khá trở lên?
+ Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hoặc sớm hơn thời hạn?
+ Trình độ chuyên môn của giáo viên?
+ Cơ sở vật chất, học liệu cho dạy và học?
- Công bằng giáo dục
+ Cơ cấu sinh viên trúng tuyển?
+ Cơ cấu sinh viên tốt nghiệp theo vùng miền?
+ Mức học phí và trợ cấp cho các đối tượng khác nhau?
- Hiệu quả:
+ Chi phi xã hội/sinh viên tốt nghiệp
+Chi phí của người học/sinh viên tốt nghiệp
+ Chi phí của trường đại học/sv + Thời gian đào tạo trung bình?
Các ảnh hưởng
- Việc làm cho sinh viêKiểm toán nhà nước bình sau khi tốt nghiệp khoảng 3 năm
- Khả năng nâng cao bằng cấp (học thạc sĩ)
và các khóa học khác?
- Uy tín của trường?
- Sự tín nhiệm của cộng đồng, người học
và gia đình họ?
- Khả năng thu hút tài chính dài hạn?
Trang 28sử dụng các nguồn tài chính dẫn đến đến những đầu ra dự kiến của hoạt động tài chính của các trường không thực hiện được, và vì vậy các trường có thể phải điều chỉnh lại các kế hoạch đầu ra và dự toán ban đầu?
Tính hiệu quả:
- Các đầu ra của hoạt động tài chính ở các trường đã được tạo ra một cách kinh tế?
- Các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng nguồn vốn ở các trường đã được thực hiện theo đúng tiến độ và chi phí?
- Các đầu vào cho hoạt động tài chính đã được đảm bảo đúng số lượng, chất lượng, thời gian và địa điểm?
Các
hoạt
động
Trang 301.3.2.5 Quy trình giám sát và đánh giá tài chính đại học dựa trên kết quả Bước 1: Xây dựng khung lôgic về tài chính đại học cần được giám sát
và đánh giá Khung logic là một công cụ hữu ích trong giám sát và đánh giá
nói chung và giám sát đánh giá tài chính đại học nói riêng Khung logic giámsát và đánh giá làm rõ các mục đích, mục tiêu và các đầu ra của tài chính đạihọc theo các kế hoạch cần giám sát và đánh giá Đây chính là những kết cụccần giám sát và đánh giá, là những kết cục mong muốn đối với hoạt động tàichính đại học Xác định các mục đích, mục tiêu và các đầu ra của tài chính đạihọc theo khung logic cần có sự tham gia của các bên hữu quan đặc biệt làngười học, gia đình họ và các tổ chức góp vốn
Bảng 4: Khung logic về tài chính đại học
Mô tả tóm tắt về các mục đích, mục tiêu, đầu
ra, hoạt động và đầu vào của tài chính đại
học
Các chỉ số có thể đo lường các mục đích, mục tiêu, đầu ra, hoạt động và đầu vào của tài chính đại học
Các phương tiện thu thập thông tin
Các giả định cơ bản
Trang 31đánh giá quan trọng, cho biết chúng ta đã đạt được các mục đích, mục tiêu vànhững đầu ra mong muốn chưa Chỉ số giám sát là các biến số định tính vàđịnh lượng về kết quả tài chính đại học, cho chúng ta các phương tiện đơngiản để đo lường kết quả hoạt động tài chính đại học Chỉ số phản ánh đượccác thay đổi liên quan đến một kế hoạch tài chính hoặc dùng để đánh giá kếtquả hoạt động tài chính so với các kết cục đã tuyên bố
Các mục đích, mục tiêu và các đầu ra mong muốn của tài chính đại họccần được chuyển thành những chỉ số để giám sát và đánh giá Các chỉ số giámsát kết cục tài chính đại học cũng cần phản ánh được mối quan tâm của từngbên hữu quan đối với các kết cục cần giám sát và đánh giá
Việc lựa chọn các chỉ số giám sát kết cục tài chính đại học có thể tuântheo tiêu chuẩn CREAM, trong đó chỉ số cần rõ ràng (Clear); phù hợp(Relevant); tiết kiệm (Economic); đầy đủ (Adequate); và giám sát được(Monitorable)
Bước 3: Xác định dữ liệu ban đầu về các chỉ số
Các dữ liệu ban đầu này có vai trò trả lời câu hỏi về tình trạng tài chính
và các kết quả tài chính đại học hiện tại Tình trạng ban đầu này được dùng đểxác định sự thay đổi các chỉ số trong tương lai Tình trạng ban đầu này chophép các cơ quan quản lý nhà nước và các bên liên quan thông tin để dự báo
và xác định chỉ tiêu (kỳ vọng) của họ về những kết quả tài chính đại học
Thu thập số liệu về tình trạng ban đầu cần phải trả lời được những câuhỏi cơ bản:
- Nguồn số liệu: Nguồn số liệu về tài chính đại học có thể là nguồn thứcấp hoặc sơ cấp Các nguồn thông tin thứ cấp về tài chính đại học thường có
độ tin cậy thấp Nguồn sơ cấp bao gồm các số liệu báo cáo do các trường đạihọc cung cấp, số liệu điều tra, khảo sát và phỏng vấn, số liệu do các tổ chức(như WB hay UNDP cung cấp), cá nhân người học, gia đình họ cung cấp
- Các phương pháp thu thập số liệu: Để thu thập số liệu thứ cấp về tàichính đại học, cơ quan quản lý nhà nước có thể sử dụng các phương pháp
Trang 32khác nhau Mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế riêng và thích hợpvới các chỉ số nhất định Các phương pháp thu thập số liệu bao gồm: (1) nóichuyện với cá nhân (cán bộ quản lý nhà nước, người học, sinh viên tốtnghiệp, phụ huynh, các nhà đầu tư, cán bộ tài chính của các trường); (2)phỏng vấn cộng đồng; (3) khảo sát số liệu tài chính đại học của trường; (4)phỏng vấn các nhóm trọng điểm; (5) bảng câu hỏi; (6) điều tra chọn mẫu.
- Mức độ thường xuyên của việc thu thập số liệu: các số liệu về tài chínhđại học cần được thu thập một cách thường xuyên thì sẽ cho kết quả chính xác
và hệ thống hơn
- Mức độ khó khăn và chi phí thu thập số liệu: có những phương phápthu thập tốn kém chi phí và thời gian thu thập thông tin, và không thể đolường được các chỉ số đã xác định
Lựa chọn các phương pháp thu thập số liệu nào phụ thuộc vào khả năngthường xuyên thu thập số liệu, chi phí thu thập số liệu
Bước 4: Lựa chọn các chỉ tiêu phản ánh kết quả tài chính giáo dục đại học
Xác định chỉ tiêu phản ánh kết quả tài chính giáo dục đại học là bước cuối trong xác định khung kết quả hoạt động Chỉ tiêu được xây dựng dựa trên các kết cục mong muốn, các chỉ số và tình trạng ban đầu của tài chính đại học theo nguyên tắc:
Kết quả tài chính đại học theo
các chỉ số (mức kết quả hoạt
động tài chính đại học mong
muốn sau khoảng thời gian nhất
định)
=
Mức chỉ số tài chính đại học kỳ gốc
+
Mức cải thiện kết quả tài chính đại học mong muốn (giả định có mức đầu vào, hoạt động và đàu ra có hạn như dự kiến)
Các chỉ tiêu tài chính giáo dục đại học thường được thiết lập trong ngắnhạn hoặc trung hạn, thường là ít hơn từ 3 - 4, có thể hàng quý, hàng thánghoặc hàng năm Thiết lập các chỉ tiêu trong khoảng thời gian dài hơn thường
Trang 33sẽ không tính đến hết các rủi ro xảy ra trên con đường tiến tới các chỉ tiêunày Chỉ tiêu tài chính đại học liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau từ bảnthân các trường, đến người học, đến gia đình người học, các tổ chức đầu tư,tài trợ và chính phủ Vì vậy, xác định các chỉ tiêu phải phản ánh mong muốncủa các bên liên quan cũng như tính đến ảnh hưởng của các yếu tố chính trị
Bước 5: Xây dựng khung giám sát đánh giá và kế hoạch giám sát đánh giá Khung giám sát đánh giá
Xây dựng khung giám sát và đánh giá cần trả lời được đầy đủ các câu hỏi:
- Mục tiêu và các chỉ số giám sát và đánh giá tài chính đại học?
- Các dữ liệu giám sát và đánh giá sẽ được thu thập và phân tích ra sao,các chỉ số sẽ được tiến hành đo lường như thế nào?
- Ai sẽ tiến hành đo lường?
- Các kết quả đo lường sẽ báo cáo cho ai và ai sẽ sử dụng thông tin củagiám sát và đánh giá, sử dụng cho mục đích gì và sử dụng như thế nào?
Kế hoạch giám sát và đánh giá
Kế hoạch giám sát và đánh giá cần trả lời được các câu hỏi:
- Mục tiêu và phạm vi giám sát đánh giá tài chính đại học?
- Phương pháp tiếp cận giám sát đánh giá tài chính đại học?
- Khung lôgíc được điều chỉnh, và các chỉ số về giám sát đánh giá tàichính đại học?
- Hệ thống thông tin quản lý và báo cáo giám sát đánh giá tài chính đại học?
Bước 6: Xác định nhiệm vụ của các cấp GS-ĐG và chuẩn bị các công
cụ giám sát đánh giá và
Xây dựng cơ cấu tổ chức hỗ trợ công tác GS-ĐG tài chính đại học cầntrả lời được các câu hỏi được đặt ra là:
-Ai sẽ là người thu thập, phân tích và báo cáo các dữ liệu GS-ĐG?
-Nhóm GS-ĐG sẽ được tổ chức như thế nào và họ sẽ báo cáo kết quảGS-ĐG cho ai?
Trang 34-Các dữ liệu GS-ĐG sẽ được thu thập và phân tích ra sao?.
-Các chủ thể giám sát và đánh giá sẽ sử dung các công cụ nào để tiếnhành thu thập và phân tích thông tin
Bước 7: Tiến hành thu thập thông tin và giám sát kết quả hoạt động tài chính đại học
Sau khi đã lựa chọn các chỉ tiêu giám sát và đánh giá tài chính đại học, ởbước này chúng ta sử dụng thông tin để giám sát nhằm đạt được kết quả Các
số liệu thu được sẽ là bằng chứng cho thành tích đạt được của hoạt động tàichính đại học cũng như những cảnh báo về những điều chỉnh cần thiết trongcác hoạt động tài chính các trường đại học
Để theo dõi kết quả tài chính đại học một cách liên tục, có thể thực hiệnhai loại hình giám sát: (1) giám sát thực hiện và (2) giám sát kết quả
Giám sát để đảm bảo kết quả tài chính đại học bao gồm cả giám sát thựchiện và giám sát kết quả
Bước 8: Tiến hành thu thập thông tin và đánh giá kết quả tài chính giáo dục đại học
Đánh giá tài chính đại học là một quá trình xác định mức độ phù hợp,hiệu quả, hiệu lực, tác động bền vững của các kế hoạch tài chính các trườngđại học đang được thực hiện hoặc đã hoàn thành Mục đích của đánh giá tàichính đại học là để cải thiện những kế hoạch tài chính đại học hiện tại và rút
ra những bài học để đưa vào những quyết định tài chính đại học trong tươnglai Đánh giá kết quả tài chính đại học bao gồm đánh giá tình phù hợp, tínhhiệu lực, tính hiệu quả, tính công bằng của hoạt động tài chính đại học
Về hình thức đánh giá
Đánh giá tài chính đại học có thể sử dụng một số các hình thức sau:
-Đánh giá chuỗi logic kết quả hoạt động tài chính đại học: phương pháp
đánh giá này xác định các kết quả tài chính đại học mong muốn hợp lý đếnmức nào Mục đích giúp điều chỉnh các thiết kế logic kém về đầu vào - hoạt
Trang 35động tài chính - đầu ra - kết quả, những thiết kế mà không đưa đến những kếtquả tài chính đại học mong muốn
-Đánh giá trước khi thực hiện: phương pháp đánh giá này được sử dụng
khi cần trả lời các câu hỏi: (1) Liệu mục tiêu tài chính đại học có được thiết kế
rõ ràng để từ đó định hình được các kết quả tài chính đại học mà có thể đolường được hay không? (2) Liệu có một kế hoạch học rõ ràng về cách thứcthực hiện hoạt động tài chính đại học và phân biệt thế nào là hoạt động đạt vàchưa đạt hay không? (3) Lý do sử dụng các nguồn lực cho hoạt động tài chínhđại học có rõ ràng và tương xứng với yêu cầu đặt ra để có kết quả tài chínhđại học mong muốn đã xác định?
-Đánh giá thực hiện theo quá trình: Loại hình đánh giá này tập trung cụ
thể vào quá trình thực hiện các kế hoạch hoạt động tài chính đại học Các câuhỏi có thể được giải đáp từ loại hình đanh giá này là (1) Những gì trong kếhoạch tài chính đại học của các trường đã được thực hiện và những gì chưathực hiện? (2) Sự thống nhất giữa kế hoạch tài chính đại học và thực tế xảy ra?(3) Những yêu cầu về nguồn lực cần thiết cho thực hiện các kế hoạch tài chínhđại học có được đảm bảo? (4) Các đầu ra và kết quả tài chính đại học khônglường trước đã phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động tài chính cáctrường đại học? Các thông tin này là cơ sở cho các cơ quản lý duyệt diều chỉnh
kế hoạch tài chính của các trường đại học để tiến đến các kết quả mong muốn
-Thẩm định nhanh: Thẩm định nhanh là hình thức đánh giá cung cấp
thông tin tức thời cho các nhà quản lý về tiến độ của các kế hoạch tài chínhđại học cụ thể Để thẩm định nhanh, chúng ta có thể sử dụng các phương phápthu thập số liệu như phỏng vấn đối tượng chính cung cấp thông tin; phỏng vấncộng đồng; phỏng vấn nhóm các nhà quản lý tài chính; quan sát trực tiếp; điêutra Thẩm định nhanh được sử dụng khi cần hiểu rõ ý kiến và thái độ củangười học, gia đình họ và một số bên liên quan về tài chính đại học và nhữngảnh hưởng của nó nhằm đưa ra những đề xuất để cải thiện các kế hoạch tài
Trang 36chính đại học
-Nghiên cứu tình huống điển hình: Hình thức này nghiên cứu theo chiều
sâu, cụ thể vào một điển hình về tài chính đại học Hình thức này được sửdụng để nhằm giải thích một trường hợp thành công hay thất bại của một kếhoạch tài chính đại học nào đó của một trường đại học để rút ra những bài họccho các trường đại học khác
-Đánh giá tác động: Đây là hình thức đánh giá nhằm chỉ ra những thay
đổi và tìm ra nguyên nhân Hình thức này xác định phần nào của những thayđổi dài hạn như thay đổi về việc làm, thu nhập sinh viên, thay đổi về sự tínnhiệm của các trường là do tác động của kế hoạch tài chính các trường đạihọc Khó khăn lớn nhất của loại hình đánh gía này là thời điểm đánh giá, cóthể xác định thời điểm đánh giá quá sớm khi mà các kế hoạch tài chính cáctrường đại học được thực hiện chưa đủ thời gian để gây ra những hiệu ứng
Bước 9: Báo cáo về những phát hiện sau đánh giá
Các thông tin từ giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học sẽđược sử dụng như một công cụ quản lý tài chính đối với các trường, vì vậy,báo các các kết quả phát hiện là bước quan trọng làm rõ báo cáo cái gì, báocáo cho ai và khi nào? Báo cáo nhằm nhiều mục đích khác nhau như minhhọa cho tính trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý tài chính đốivới các trường đại học; để thuyết phục và nâng cao sự hiểu biết của người học
và gia đình họ về các yếu tố trong kế hoạch tài chính các trường đại học sắptới như kế hoạch về học phí; để rút ra những bài học kinh nghiệm thành công
và thất bại trong quản lý tài chính đối với các trường đại học; để tranh thủđược sự hậu thuẫn về mặt chính trị về các chính sách tài chính đại học Vớicác mục đích đó, báo cáo các phát hiện giám sát và đánh giá tài chính đại họccần được trình bày rõ ràng, dễ hiểu và công khai
1.3.1.6 Các công cụ giám sát và đánh giá tài chính đại học dựa trên kết
quả
Các công cụ giám sát và đánh giá tài chính đại học bao gồm:
Trang 37-Khung logic trong giám sát và đánh giá tài chính đại học (đã phân tích ở trên)
-Các chỉ số giám sát và đánh giá tài chính đại học (đã phân tích ở trên)
-Các công cụ tổng hợp và phân tích dữ liệu: đây là những công cụ hỗ trợviệc nhập và chiết xuất dữ liệu về tài chính các trường đại học sẵn có hay cácbảng tính Excel đơn giản đến các bảng câu hỏi hoặc mẫu điều tra, các cơ sở
dữ liệu và hệ thống quản lý thông tin
-Các công cụ giám sát chuyên dụng về tài chính đại học: đây là nhữngcông cụ giám sát được thiết kế để sử dụng riêng cho lập kế hoạch và giám sát
tài chính đại học
-Chương trình giám sát - đánh giá tiến độ công việc (VD: Lotus Notes)
-Hệ thống thông tin quản lý giáo dục (EMIS)
-Các báo cáo tài chính của các trường đại học
-Các báo cáo giám sát kỹ thuật
-Các công cụ kỹ thuật: như máy tính cá nhân – máy tính để bàn hoặcmáy tính xách tay để chuẩn bị báo cáo, liên lạc bằng email và truy cập các dữliệu và hệ thống báo cáo qua mạng;
1.3.3 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến giám sát tài chính đại học dựa trên kết quả
1.3.3.1 Yếu tố văn hóa quản lý của nhà nước đối với tài chính đại học
Văn hóa lãnh đạo và quản lý hướng vào kết quả của các cơ quan quản
lý tài chính đối với các trường đại học là yếu tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến sựthành công của giám sát và đánh giá tài chính đại học dựa trên kết quả Nếumột hệ thống không có khả năng chuyển từ một nền văn hóa không coi trọng
sự đánh giá sang một nền văn hóa hướng vào sự thực hiện và sau đó là thayđổi sang nền văn hóa hướng vào kết quả, hệ thống đó không thể xây dựng vàthực thi RBME
Giá trị cốt lõi của văn hóa hướng vào kết quả là tập trung vào thành quả,
sự giám sát và báo cáo kết quả cuối cùng của các trường đại học Văn hóa
Trang 38hướng vào kết quả đòi hỏi các nhà quản lý liên tục phát hiện ra các vấn đề,chấp nhận rủi ro và phát triển các cách thức can thiệp phù hợp vào các hoạtđộng tài chính của các trường nhằm đạt được kết quả mong muốn Văn hóahướng vào kết quả đòi hỏi việc sử dụng thông tin của giám sát đánh giá tàichính của các trường cần gắn chặt vào quá trình hoạt động của các cơ quanquản lý nhà nước đối với các trường đại học và được thể chế hóa Nhiềunghiên cứu cho rằng, muốn thực hiện giám sát và đánh giá tài chính cáctrường đại học, các cơ quan quản lý nhà nước cần phải xây dựng một môitrường định hướng kết quả và phải được coi như một nghĩa vụ bắt buộc, dosức ép từ bên trong và bên ngoài (áp lực từ các sinh viên, từ gia đình của họ,những lời hứa đối với các bên liên quan, cam kết chính trị của chính phủ…).Tuy nhiên, sự duy trì bền vững của giám sát và đánh giá tài chính các trườngđại học phụ thuộc vào việc những định hướng theo kết quả trở thành nhữnggiá trị chung được chia sẻ và ủng hộ như thế nào trong quản lý nhà nước Khikhông sở hữu được văn hóa định hướng theo kết quả, thì các cơ quan quản lýnhà nước không có khả năng cung cấp các thông tin cần thiết cho giám sát vàđánh giá, thiếu đi vai trò trách nhiệm rõ ràng và động lực thực thi các hoạtđộng giám sát và đánh giá tài chính đối với các trường đại học
1.3.3.2 Chiến lược quản lý tài chính đại học theo kết quả của nhà nước
"Quản lý theo kết quả là một chiến lược quản lý tổng thể nhằm có đượcnhững hoạt động và các kết quả tốt hơn một cách rõ ràng"9 Quản lý theo kếtquả thành công là một quá trình phát triển không ngừng thông qua luồngthông tin phản hồi liên tục, học hỏi và hoàn thiện Những chính sách và kếhoạch tài chính đại học hiện thời và tương lai luôn được cải thiện bởi nhữngbài học rút ra từ giám sát và đánh giá Giám sát và đánh giá tài chính đại học
là hệ thống đảm bảo đạt được các mục đích, các mục tiêu và các đầu ra củacác kế hoạch tài chính theo kết quả Nói cách khác, giám sát và đánh giá tài
9 UNEG, 2007, "The Role of Evaluation in Results-based Management’"
Trang 39chính đại học theo kết quả là một bộ phận không thể thiếu của quản lý tàichính đại học theo kết quả và do vậy giám sát và đánh giá tài chính đại họctheo kết quả không thể thực thi nếu không có môi trường hoạt động của nó,
đó là quản lý theo kết quả đối với tài chính đại học
Thay đổi sang hệ thống RBME trước hết quản lý nhà nước đối với cáctrường đại học cần chuyển sang chiến lược quản lý theo kết quả Sự quan tâmtới những ảnh hưởng của các kế hoạch, chính sách cũng như phân bổ ngânsách theo các kết quả kỳ vọng đạt được sau những hành động can thiệp sẽ các
cơ quan quản lý nhà nước có những nhu cầu thiết thực để tiến đến hệ thốnggiám sát và đánh giá tài chính đại học theo kết quả
1.3.3.3 Thông tin của các cơ quan quản lý nhà nước về tài chính các trường đại học
Đây là điều kiện sẵn sàng cho việc xây dựng hệ thống giám sát và đánhgiá tài chính đại học theo kết quả Thông thường, để có thể tiến hành đượcRBME, bản thân tài chính đại học đã từng được đánh giá bởi hệ thống giámsát và đánh giá sự thực hiện Các thông tin đầu vào, các hoạt động tài chính
và các đầu ra của chúng đã được thu thập và xử lý bởi hệ thống giám sát vàđánh giá sự thực hiện hay chưa là câu hỏi quan trọng trước khi xây dựng hệthống RBME Nếu các thông tin này chưa sẵn sàng thì khó có thể xây dựng
và thực thi hệ thống giám sát và đánh giá tài chính đại học theo kết quả Thông tin quan trọng nhất phục vụ cho RBME là thông tin về đầu ra, vềnhững kết quả và những ảnh hưởng trung và dài hạn của tài chính đại học.Những thông tin này không chỉ được cung cấp bởi bản thân các trường đại học
và thông tin từ bản thân các cơ quan quản lý nhà nước Vì vậy, trong quá trìnhvận hành RBME, thông tin cần phải được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau.Các nguồn cung cấp thông tin cơ bản bao gồm thông tin từ các tổ chức xã hội,các tổ chức phi chính phủ và những đối tượng thụ hưởng Theo nghiên cứu củaNgân hàng thế giới thì ở Bangladesh, rào cản lớn cho việc xây dựng và vận
Trang 40hành RBME trong giáo dục nói chung và tài chính giáo dục nói riêng là các hệthống tham nhũng đã không cung cấp thông tin cần thiết về giáo dục Các tổchức phi chính phủ tại Bangladesh đã giúp thu thập các số liệu về giáo dục vìnăng lực thu thập và báo cáo số liệu này của Chính phủ rất hạn chế10
1.3.3.4 Năng lực của chủ thể giám sát đánh giá tài chính đại học dựa trên kết quả
Năng lực giám sát và đánh giá tài chính đại học là yếu tố ảnh hưởngquan trọng đến sự thành công của hệ thống RBME Năng lực của chủ thểgiám sát và đánh giá tài chính đại học được thể hiện ở những kỹ năng cơ bảnnhư kỹ năng quản lý tài chính nói chung và kỹ năng giám sát và đánh giá nóiriêng Kỹ năng giám sát và đánh giá tài chính bao gồm, kỹ năng phân tích tàichính, kỹ năng phân tích mục tiêu tài chính, kỹ năng kiểm toán các hoạt động,
kỹ năng đo lường và đánh giá đầu vào, hoạt động, đầu ra, các kết quả và ảnhhưởng tài chính Nói chung, ở các nước đang phát triển, năng lực giám sát vàđánh giá tài chính đại học của các cơ quan nhà nước còn rất hạn chế Điều nàyđòi hỏi sự quan tâm của Chính phủ, Chính quyền địa phương, các viện, cáctrung tâm nghiên cứu, các trường đại học và các tổ chức tư nhân trong xâydựng năng lực đánh giá
1.3.3.5 Các nguồn lực tài chính cần thiết và tạo động lực thúc đẩy
Nguồn lực tài chính cho là một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xâydựng và cho quá trình vận hành hệ thống giám sát và đánh giá tài chính đạihọc Thiếu các nguồn lực tài chính độc lập, các chủ thể giám sát và đánh giátài chính đại học không thể chủ động về ngân sách cho hoạt động của hệthống Kinh nghiệm ở các nước đang phát triển, muốn áp dụng hệ thốngRBME, cơ quan quản lý giáo dục đại học cần có sự cam kết lâu dài về cácnguồn tài chính cho xây dựng và thực thi hệ thống này
Mặt khác, động lực thúc đẩy đối với những cán bộ và nhân viên tham
10 WB, Mười bước tiến tới hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả