Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp vùng Tây Nguyên Những năm gần đây, khí hậu Tây Nguyên đang có những dấu hiệu chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu BĐKH toàn cầu
Trang 3ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG TÂY NGUYÊN - MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VÀ GIẢM NHẸ
Trương Hồng - Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên - WASI
1 Giới thiệu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là những thay đổi theo thời gian của các yếu tố khí hậu, trong đó bao gồm cả những hoạt động do con người gây ra Hiện nay BĐKH đã
và đang gây ra tác động xấu đến môi trường và sản xuất nông nghiệp của con người
Theo dự báo của các nhà khoa học nếu như tình hình phát thải khí nhà kính không giảm thì vào năm 2030 nồng độ của khí CO2 trong khí quyển sẽ tăng gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp, khoảng 700 ppm Hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ trái đất tăng lên kéo theo hàng loạt các yếu tố khí hậu khác như: lượng mưa, độ ẩm, bức xạ… thay đổi theo Tần suất và cường độ hiện tượng El – Nino tăng đáng kể, gây lũ lụt và hạn hán ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Mưa trở nên thất thường hơn, cường độ
thay đổi
Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam được xem là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng do biến đổi khí hậu toàn cầu BĐKH sẽ làm hạn hán xảy ra hàng năm ở hầu hết các khu vực của cả nước Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,10oC/thập kỷ Nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi sẽ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nguồn nước Mực nước biển có khả năng dâng cao 1m vào cuối thế kỷ, lúc đó Việt Nam sẽ mất hơn 12% diện tích đất đai, nơi cư trú của 23% số dân BĐKH làm gia tăng nhiệt độ, do vậy sẽ làm tăng mực nước biển Khi mực nước biển dâng từ 0,2 - 0,6m sẽ có từ 100.000 - 200.000ha đất bị ngập, làm thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp Hiện tượng xâm ngập mặn sẽ tăng lên đáng kể
Bộ Tài nguyên - Môi trường thông báo: trong thập kỷ tới, khoảng từ năm
2010-2020, nhiệt độ trung bình của Việt Nam sẽ tăng không dưới 1,5 độ C; số trận lũ lụt trên
cả nước sẽ tăng khoảng 20% Chương trình Phát triển Liên hiệp Quốc (UNDP) cũng cảnh báo: mực nước biển chỉ cần tăng lên 1m thì Việt Nam sẽ bị tác động tới 12,2 % diện tích đất đai; 19 % tổng dân số (17 triệu người); 7% nông nghiệp; giảm 10% GDP BĐKH làm thay đổi điều kiện sống của các loài sinh vật, phá vỡ cân bằng sinh thái, làm biến mất đi một số loài và nguy cơ xuất hiện nhiều loại bệnh dịch mới trong sản xuất nông nghiệp BĐKH tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa vụ, tác động xấu đến chăn nuôi, trồng trọt… cụ thể tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng và sự chuyển dịch về cơ cấu cây trồng, vật nuôi và diện tích
Trang 4cây trồng BĐKH cũng làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng, ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm Nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng cùng với hạn hán kéo dài sẽ tác động mạnh đến hệ sinh thái, đặc biệt hiện tượng cháy rừng
sẽ xảy ra nhiều hơn và làm suy giảm đa dạng sinh học
2 Biến đổi khí hậu đã và đang làm tăng nhiệt độ và suy giảm nguồn tài nguyên nước ở Tây Nguyên
2.1 BĐKH làm tăng nhiệt độ ở Tây Nguyên
Liên Hiệp Quốc dự báo BĐKH sẽ làm cho nhiệt độ tăng 2,39 oC vào năm 2100 Số ngày nóng ở Tây Nguyên dự báo sẽ tăng lên 134 vào năm 2050 và 230 vào năm 2100
Các nhà khoa học sử dụng số liệu quan trắc từ 30 năm đến 33 năm (1979 -2008)
để so sánh, đánh giá so với thập niên 1979 -1988, đã nhận thấy rằng nhiệt độ không khí trung bình thập niên 1999 - 2008 cao hơn rõ rệt, nhất là vào các tháng mùa Đông
và trên độ cao từ 100 mét đến 800 mét Nhiệt độ trung bình năm phổ biến cao hơn
từ 0,5oC đến 0,8oC; riêng Kon Tum, cao hơn 1oC Trong khi đó nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 0,5oC đến 0,7oC Nhiệt độ trung bình các tháng mùa Đông cao hơn hẳn so với các thời kỳ khác, tiêu biểu là tháng 1, phổ biến cao hơn từ 0,8oC đến 1,5oC, cá biệt có trạm ở Kon Tum cao hơn 1,7oC Trong 3 tháng chính Đông, nhiệt độ trung bình phổ biến cao hơn từ 0,8oC đến 1,4oC; riêng thành phố Pleiku cao hơn 1,76oC; trong các tháng mùa hè, nhiệt độ trung bình phổ biến cao hơn 0,23oC đến 0,7oC Điều này khẳng định sự tăng của nhiệt độ xảy ra ở tất cả các trạm quan trắc
và nhiệt độ mùa Đông tăng nhanh hơn mùa Hè rõ rệt
Theo kịch bản về BĐKH của Bộ tài nguyên Môi trường năm 2009 thì Tây Nguyên vào năm 2100, nhiệt độ sẽ tăng lên khoảng 2,39oC; thấp nhất trong 7 vùng sinh thái của cả nước
Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam (nhiệt độ tăng thêm 0 C so với năm 1990)
Bắc
Đông Bắc
Đồng bằng
BB
Bắc Trung
Bộ
Nam Trung
Bộ
Tây nguyên
Trang 5Trong điều kiện El Nino, nhiệt độ trung bình các tháng ở hầu hết các vùng trong cả nước có xu hướng cao hơn TBNN và xuất hiện nhiều hơn các kỷ lục về nắng nóng so với những năm trung tính hay La Nina Trong năm 2015, do tác động của El Nino, Việt Nam đã xảy ra 14 đợt nắng nóng diện rộng ở miền Trung, Tây Nguyên và Nam
Bộ từ tháng 5 đến tháng 9 và nhiệt độ cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5 - 1o C Trong những năm El Nino, đặc biệt là năm 2015, 2016 d ng chảy năm ở các sông thuộc Tây Nguyên nhỏ hơn TBNN từ 10% trở lên, có thể hụt tới 50-60% Lượng dòng chảy tháng nhỏ nhất ở hầu hết các trạm đều nhỏ hơn trị số trung bình nhiều năm và đạt khoảng 6070% Dòng chảy mùa lũ trong những năm El Nino thường nhỏ hơn trung bình nhiều năm và thường đạt 65 - 90% dòng chảy năm
2.2 BĐKH làm cho nguồn tài nguyên nước suy giảm
Tài nguyên nước mặt trên các sông suối điển hình ở lưu vực Tây Nguyên như
Sê San, Sê rê pốk, sông Ba và Đồng Nai đã kiệt dần từ lưu lượng 173.863l/s của những năm 2004-2005 xuống c n trên dưới 125.000l/s hiện nay
Sự phân bổ không đồng đều của lượng mưa theo không gian và thời gian, nơi
có lượng mưa hằng năm lớn hơn 3000 mm như Kon Plong (Kon Tum) và nơi có lượng mưa chỉ trên dưới 1.500 mm như Krông Buk, Ea Súp… thì sự chênh lệch lưu lượng nước ở đỉnh lũ lớn nhất với lưu lượng kiệt nhỏ nhất là rất cao Những năm gần đây rừng Tây Nguyên bị chặt phá nghiêm trọng, cộng với những yếu tố bất lợi như mùa khô kéo dài, sự biến đổi thất thường của thời tiết làm cho lũ lụt, hạn hán trở nên trầm trọng hơn Ngoài ra, Tây Nguyên là nơi thượng nguồn của 3 hệ thống sông lớn (Sê rê pốk - Sê San nằm ở phía Tây Bắc và sông Đồng Nai ở phía Nam), người dân tận lực khai thác nước ngầm ngay tại đầu nguồn để tưới cà phê, hoa màu khiến mực nước dưới l ng đất không ngừng bị hạ thấp, dẫn đến quá trình sản xuất tại các vùng hạ lưu gặp khó khăn do thiếu nước
Từ năm 1997, tổng trữ lượng nước ngầm (ở trạng thái tĩnh, không có sự tác động bất thường của môi trường tự nhiên) tại Đăk Lăk là 120,9 x 109 m3 đến nay chỉ còn khoảng 30-35% Ngoài lượng mưa hàng năm có xu hướng ít đi, do mùa khô kéo dài, cùng với tình trạng mất rừng nghiêm trọng đã làm thay đổi nhanh chóng của lớp phủ bề mặt, tăng nguy cơ xói m n, suy thoái đất và mực nước ngầm sụt giảm Theo Đoàn Địa chất 704 thì một số vùng như ở huyện Krông Pách, Lăk, Krông Buk và vùng phía Đông Buôn Ma Thuột… mực nước ngầm tiềm năng không c n nhiều như 10 năm trước Ví dụ vùng Krông Pách, Lăk…năm 2004 có thể khai thác tối đa 0,4 - 0,6 triệu
m3/ngày, thì nay c n chưa đầy 400 nghìn m3/ngày
Trang 6Theo báo cáo khảo sát của Bộ Tài Nguyên Môi trường thì mực nước ngầm tại các khu vực như: huyện Krông Pách, Krông Búk, Lắk (tỉnh Đak Lak), Đắk Min, Đắk Song, Cư Jút (tỉnh Đắk Nông), Chư Sê (tỉnh Gia Lai) đang đứng trước tình trạng suy giảm nghiêm trọng, giảm từ 3 - 5m so với trước đây
Theo Đài Khí tưởng Thủy văn tại khu vực Tây Nguyên, tính đến hết ngày 23/09/2015, lượng mưa chỉ đạt từ 65 đến 75% so với trung bình nhiều năm Cụ thể ở Kon Tum 64%; thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai 75%; Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk 61% Lượng nước trên các sông ở khu vực này cũng chỉ đạt từ 60-70% Đặc biệt, mùa mưa năm 2015 ở Đắk Lắk lượng mưa thấp hơn các năm, chỉ đạt 60-80% và phân bố không đồng đều, có nơi chỉ đạt trên 40% so với cùng kỳ năm trước Trong 770 hồ chứa trên địa bàn, chỉ mới có 250 hồ tích được 60-80% lượng nước, c n lại đều tích dưới 60% dung tích Như vậy nguy cơ thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk năm 2016 là hiện hữu
Ngoài yếu tố nhiệt độ có xu hướng tăng, nguồn nước giảm, diễn biến thời tiết ở Tây Nguyên đang ngày càng có xu thế cực đoan hơn Thiên tai xảy ra thường xuyên;
lũ lụt, lũ quét vào mùa mưa; hạn hán, nắng nóng vào mùa khô; các hiện tượng thời tiết cực đoan khác như dông, lốc xoáy, mưa đá xuất hiện ngày càng nhiều và bất thường hơn Sự gia tăng biên độ nhiệt, ẩm ngày đêm, khiến một số nơi đang mất dần tính ổn định, tính uy luật về thời tiết khí hậu vốn có của vùng Trong một vài tháng của mùa khô, hiện tượng nhiệt độ tăng cao, gây nắng nóng hơn bình thường đã xuất hiện ở một vài nơi Sự phân bố mưa theo không gian và thời gian cũng có những dấu hiệu thay đổi Trong đó, đáng lưu ý nhất là hiện tượng mưa lớn gia tăng khiến lũ quét xuất hiện nhiều hơn BĐKH cũng được xem là tác nhân chính làm cho d ng chảy sông suối ở Tây Nguyên mất đi sự hiền h a vốn có, thể hiện nhiều qua mức độ cạn kiệt nghiêm trọng trong mùa khô, và đỉnh lũ ngày càng nhọn hơn, cao hơn, cường suất lũ cao hơn trong mùa lũ
3 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp vùng Tây Nguyên
Những năm gần đây, khí hậu Tây Nguyên đang có những dấu hiệu chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu BĐKH đang làm cho các hiện tượng khí hậu và thời tiết ở Tây Nguyên diễn biến ngày càng phức tạp, những hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan gia tăng về mức độ tác động, qui mô ảnh hưởng và tần suất xuất hiện; thêm vào đó, các áp lực khác bao gồm sự suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm nơi cư trú tự nhiên, ô nhiễm môi trường càng làm gia tăng mức độ rủi
ro và khả năng dễ bị tổn thương của con người trước tác động tiêu cực của BĐKH
Trang 7BĐKH không chỉ là tăng nhiệt độ, tăng hàm lượng CO2, mà c n làm thay đổi quy luật thời tiết, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm của cây trồng Tác động của BĐKH gây ra nhiều hậu quả khác nhau Mưa lũ xuất hiện nhiều làm tăng nguy cơ ngập lụt đối với các vùng đất canh tác cây lương thực mức độ rủi ro trong sản xuất cao hơn Bên cạnh đó, những đợt hạn hán trầm trọng kéo dài cũng đe dọa các ngành sản xuất nông – lâm nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, sản lượng của hầu hết các loại cây công nghiệp chủ lực của Tây Nguyên như cà phê, cao
su, điều, hồ tiêu Biến động của yếu tố nhiệt ẩm và các yếu tố khí hậu thời tiết khác cũng khiến năng suất, sản lượng của cây trồng và vật nuôi bị giảm; sức đề kháng của vật nuôi kém đi, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển bùng phát, gây ra nhiều loại dịch bệnh trên gia súc, gia cầm như bệnh cúm gia cầm, bệnh dịch heo tai xanh Mưa lũ lớn, hạn hán và nắng nóng làm cho đất đai bị rửa trôi, cằn cỗi, tình trạng sa mạc hóa diễn ra nhanh hơn Rừng mất dần, hệ sinh thái rừng, kiểu rừng thay đổi, tăng nguy cơ tiệt chủng của động thực vật, mất đi những nguồn gen quí hiếm
Năm 1998, hiện tượng khô hạn xảy ra nghiêm trọng ở Tây Nguyên đã làm giảm năng suất cà phê so với năm 1997 và 1999 từ 20-30%; chất lượng cà phê nhân giảm,
cụ thể tỷ lệ hạt trên sàng 16 giảm 45-50% so với các năm có lượng mưa bình thường Ngoài ra trong năm 1998 do hạn nặng nên số lần tưới cho cà phê đã tăng lên trung bình từ 3 lần lên 5 lần, từ đó làm tăng chi phí và tăng khí phát thải nhà kính
Cũng trong đợt hạn năm 1998 ở Tây Nguyên, trong tổng số 24.000 ha lúa Đông
- Xuân, có 7.800 ha bị thiệt hại; 110.000 ha diện tích cây công nghiệp và cây ăn quả bị hạn và có 20.000 ha bị chết Khoảng 800.000 người bị thiếu nước ngọt
Năm 2009, 2010 nhiệt độ cao hơn các năm trước, nắng nóng kéo dài làm khô hạn rất nhiều nơi trên khu vực Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng Ví dụ vào cuối tháng 8/2009 đúng vào tháng có nhiều mưa nhất ở những năm trước, nhưng ở xã Đak Tơ Pang (huyện Kông Chro) lại c n nắng nóng Theo báo cáo của UBND huyện Kông Chro thì các loại cây trồng vụ mùa của huyện đã có hơn 1.000 ha khô cháy, mất trắng, con sông Đak Hway trơ ra toàn đá
Do ảnh hưởng của hạn hán, vụ Đông - Xuân 2014-2015 của Đắk Lắk đã bị thiệt hại gần 2.000 tỉ đồng, vụ Hè - Thu vừa qua (2016) thiệt hại 171 tỉ đồng do và chính quyền sở tại phải đề nghị Chính phủ hỗ trợ kinh phí khắc phục thiệt hại
Lượng mưa bình quân có xu hướng thay đổi, đặc biệt là từ tháng 4 - 7 giai đoạn cây cà phê cần nhiều nước để đáp ứng cho nhu cầu sinh trưởng cây và phát triển của
Trang 8quả cà phê, song gần đây vào các tháng này, lượng mưa có xu hướng thấp, tần suất mưa ít, gây thiếu nước, làm quả cà phê bị khô và rụng, hoặc nhân nhỏ, dẫn đến thiệt hại về năng suất và giảm chất lượng cà phê nhân Năm 2015 lượng mưa bình quân năm chỉ bằng 60% so với bình quân nhiều năm và là năm có mức độ hạn khốc liệt nhất trong những năm trở lại đây Do tác động của hiện tượng El Nino cũng đã làm cho kích cỡ hạt cà phê nhân giảm so với năm 2013 khoảng 30%, đặc biệt là ở vùng khô hạn nặng thì giảm đến 45%
Sự thay đổi về thời tiết, nhất là phân bố mưa, lượng mưa ở Tây Nguyên trong
v ng 10 năm trở lại đây là rất rõ Tần suất xuất hiện mưa vào các tháng 12, 1 là khá phổ biến Điều này đã làm cho các loại cây trồng như điều, cà phê gặp trở ngại trong quá trình thụ phấn thụ tinh Vào những tháng cuối năm 2015 do có những cơn mưa nhỏ bất thường cũng đã làm cho hoa cà phê nở ở nhiều vùng như Đăk Nông, Lâm Đồng, một số nơi tỷ lệ hoa nở lên đến 20 %, gây khó khăn cho sản xuất cà phê của nông dân
Cây điều là cây ra hoa, thụ phấn trong mùa khô (tháng 1 - 3), song trong những năm từ 2006 - 2012 quy luật mưa đã thay đổi, vào các tháng này thường có những đợt mưa phùn xảy ra ở các vùng trồng điều, vì vậy hoa điều không thể thụ phấn thụ tinh được Nếu cây điều ra hoa nhiều đợt thì có thể có các đợt khác đậu quả, song nếu chỉ
ra hoa 1 đợt tập trung, gặp mưa phùn thì tỷ lệ đậu quả gần như bằng không Và như vậy điều sẽ không cho năng suất, nông dân thu nhập thấp Trong v ng khoảng 5 năm trở lại đây, năng suất điều giảm dần do tác động bất lợi của thời tiết Điều tra, nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho thấy có tới 85,7% nông dân cho rằng thời tiết bất thường (mưa, nắng, nhiệt độ cao lúc ra hoa và đậu quả)
đã làm cho năng suất điều giảm sút nghiêm trọng Năng suất điều thấp, đời sống người trồng điều gặp khó khăn, vì vậy ở tỉnh Gia Lai, đặc biệt ở các huyện Kon Chro, Krông
Pa, Đăk Lăk người dân đã phá bỏ cây điều và chuyển sang trồng sắn và các loại cây khác có hiệu quả kinh tế cao hơn
Năng suất điều giảm theo thời gian (tạ/ha)
Trang 92010 7,20 5,60
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đak Lak (2010),WASI (2009, 2013)
Sự thay đổi về thời tiết có xu hướng nóng lên cũng làm cho sâu bệnh hại phát triển nhanh và khó dự báo Rệp sáp hại cà phê đã thành dịch vào những năm 2000 - 2003, bệnh vàng lá do tuyến trùng và nấm đối với cà phê (2000 - 2004), ve sầu hại rễ cà phê (2007 - 2009), bệnh chết nhanh, chết chậm cây tiêu (2005 - nay), rầy nâu hại lúa, bọ xít muỗi hại điều, ca cao đã làm thiệt hại đến năng suất và chất lượng sản phẩm đáng
kể
Ngoài ra, do nhiệt độ tăng, thời gian khô hạn trong năm đến sớm và kéo dài cũng đã làm cho diện tích sản xuất vụ Đông - Xuân giảm mạnh do thiếu hụt nguồn nước, gây ảnh hưởng đến một bộ phận nông dân sản xuất cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, rau
Sự nóng lên do bức xạ nhiệt tăng thì nhu cầu nước của cây cũng tăng lên, vì vậy yêu cầu về lượng nước tưới sẽ tăng trong bối cảnh nguồn tài nguyên nước ngày càng cạn kiệt sẽ là thách thức cho sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới Chí phí đầu tư
để thu được 1 đơn vị sản phẩm tăng, đồng nghĩa với thu nhập giảm và đời sống của người nông dân càng khó khăn hơn
Tóm lại, BĐKH trước mắt đã gây ra nhiều tác động có hại đối với sản xuất nông nghiệp Thiên tai, đặc biệt là hạn hán, ngày càng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn cả về cường độ và quy mô; quy luật phân bố mưa cũng bị thay đổi Nguyên nhân của biến đối khí hậu rất phức tạp và đa dạng, bao gồm cả nguyên nhân do tự nhiên và nguyên nhân do con người Vì vậy, để giảm thiểu tác hại của BĐKH cần phải có những giải pháp đồng bộ mang tính đa ngành, đa lĩnh vực để đối phó và thích ứng
4 Các giải pháp đối phó và thích ứng với BĐKH
Hiện nay, cùng với việc tích cực nghiên cứu, đánh giá tác động của BĐKH ở Tây Nguyên, người ta cũng đang thực hiện các biện pháp ứng phó mà trước hết là các biện pháp chủ động ph ng tránh, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra
Để đối phó với biến đổi khí hậu, hiện ngành nông nghiệp đang tích cực áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn kết hợp với quy hoạch tổng thể vùng sản xuất cũng những giải pháp nhằm phát triển bền vững cho nền nông nghiệp Những biện pháp đã được triển
Trang 10khai như: chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với nước biển dâng và biến đổi khí hậu, bao gồm: xây dựng giải pháp quy hoạch đảm bảo 3,8 triệu ha diện tích đất lúa, trong đó 3,2 triệu ha đất canh tác 2 vụ, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; giảm phát khí thải nhà kính qua kỹ thuật 3 giảm, 3 tăng, 1 phải 5 giảm sử dụng tiết kiệm chi phí đầu vào; thúc đẩy quy trình VietG P trong chăn nuôi; cải tiến kỹ thuật và công nghệ trong hoạt động khai thác thủy hải sản; đẩy mạnh trồng rừng, phục hồi rừng, xúc tiến tái sinh và làm giàu từ rừng; xây dựng các hệ thống chống ngập, nước biển dâng tại các thành phố lớn
Ngoài ra, để ứng phó với biến đối khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xây dựng định hướng phát triển từ năm 2013 đến năm 2020 trên hầu hết các lĩnh vực của ngành, trong đó dự kiến sẽ triển khai các dự án đầu tư ứng phó với biến đổi khí hậu như: chương trình giảm phát thải, quản lý bền vững rừng ngập mặn, phát triển thủy lợi với tổng kinh phí hơn 900 triệu USD, ưu tiên kêu gọi các nguồn tài trợ
Ở Tây Nguyên, bảo vệ rừng, siết chặt công tác quản lý rừng, đầu tư trồng rừng cũng như các dự án trồng cây xanh, các biện pháp quản lý hệ thống thủy lợi và thoát lũ Rừng chính là “máy điều h a khí hậu” khổng lồ Các nhà khoa học cho biết: Tạm tính với diện tích 1.000.000 ha nếu chỉ 50% diện tích có rừng cây thân gỗ thì mỗi năm rừng ở dãy Trường sơn giữ được 22-25 triệu tấn CO2, góp phần đáng kể vào giảm hiệu ứng nóng lên toàn cầu mà không cần đầu tư gì ngoài bảo vệ rừng Bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là đảm bảo an ninh môi trường sẽ là một chiến lược thích ứng lợi hại của Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng trước tác động BĐKH
- Trong sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp, xây dựng các biện pháp kỹ thuật, tăng cường hệ thống tưới tiêu và các biện pháp chống chịu với ngoại cảnh khắc nghiệt; trong quá trình canh tác cần quan tâm đến các giải pháp quản lý xói m n, rửa trôi đất và thất thoát phân bón do sử dụng, bón phân không đúng cách, thiếu cân đối, gây ngộ độc đất Sử dụng các giống kháng, chịu hạn (cà phê, lúa, ngô ), giống ra hoa nhiều lần (đối với cây điều), bộ giống cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày; bố trí thời vụ thích hợp để tránh hạn,
né lũ Đặc biệt đối với cà phê cần quan tâm sử dụng bộ giống chín muộn để không những tăng năng suất, chất lượng mà c n giảm áp lực tưới nước, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và giảm chi phí đầu vào
Tăng cường đa dạng sinh học trên vườn cà phê như trồng cây che bóng, cây ăn quả, cây đai rừng sẽ là giải pháp thích ứng và giảm thiểu tác hại của BĐKH một cách hiệu quả do hệ thống cây trồng này có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau trong việc điều
Trang 11h a vi khí hậu, hạn chế bốc thoát hơi nước trên bề mặt đất và lá, cung cấp hữu cơ, cải tạo đất, hạn chế xói m n và rửa trôi đất giúp sản xuất cà phê bền vững hơn Tưới nước tiết kiệm hợp lý cho cà phê, hồ tiêu cũng là giải pháp kỹ thuật nhằm thích ứng với sự BĐKH ở Tây Nguyên Chuyển một số diện tích đất trồng điều ở các vùng có điều kiện khí hậu bất thuận, sản xuất không hiệu quả sang trồng các loại cây khác có hiệu quả hơn như sắn, khoai lang, khoai môn là những loại cây có khả năng thích ứng cao với sự BĐKH và từng bước thay đổi khẩu phần lương thực của chúng ta từ gạo là chủ yếu sang một phần các loại củ để giảm áp lực về an ninh lương thực trong tương lai
Đối với cây tiêu cần khuyến cáo trồng trên cây choái sống để góp phần hạn chế phá rừng; tăng tính bền vững trong quá trình sản xuất; áp dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm và bón phân qua hệ thống tưới (Fertigation) để giảm chi phí đầu tư, đồng thời cũng góp phần sử dụng nguồn tài nguyên nước hợp lý, bảo vệ môi trường sinh thái
Bón phân cân đối, hợp lý; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng cũng góp phần thiết thực trong việc giảm thiểu phát thải nhà kính, từ đó làm hạn chế sự tăng nhanh nhiệt độ trái đất
Ngân hàng Thế giới (WB), các tổ chức quốc tế đang hỗ trợ Việt Nam xây dựng, tái cấu trúc ngành khí tượng thủy văn theo hướng hiện đại Ngoài xây dựng hệ thống quan trắc, dự báo thời tiết vĩ mô, tăng mật độ các đài, trạm khí tượng mặt đất, c n
hỗ trợ các tổ chức kinh tế xã hội xây dựng hệ thống các trạm thời tiết chuyên dụng, góp phần xây dựng nền nông nghiệp thông minh thích ứng với BĐKH Viện KHKTVN, Viện KHKTNLN Tây Nguyên đang hợp tác với Công ty CP Truyền thông Nông nghiệp Đa phương tiện ( griMedia JSC) xây dựng hệ thống Trạm quan trắc, cảnh báo thời tiết, môi trường, sâu bệnh thông minh cho từng tiểu vùng sinh thái Tây Nguyên; ứng dụng công nghệ truyền thông đa phương tiện, chuyển tải các thông tin thời tiết nông vụ, khuyến nông, kỹ thuật chăm sóc các loại cây trồng, vật nuôi, tưới tiêu tiết kiệm, chủ động ứng phó với các điều kiện bất lợi của BĐKH, góp phần giúp nông dân và doanh nghiệp chủ động trong sản xuất nông nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế
Nhà nước cần đầu tư nguồn kinh phí thỏa đáng và mang tính chiến lược cho nghiên cứu khoa học công nghệ nông nghiệp (thông qua các chương trình, dự án ) trong việc chọn tạo giống kháng, chịu hạn; giống kháng/chống chịu sâu bệnh; giống chín tập trung, hoặc rãi rác (tùy đối tượng cây trồng và tùy vùng sinh thái); xây
Trang 12dựng các phần mềm quản lý canh tác, dự tính, dự báo sâu bệnh, thiên tai (lũ lụt, cháy rừng), nghiên cứu về các giải pháp canh tác tổng hợp cho từng loại cây trồng, trên từng vùng sinh thái theo hướng thích ứng cao với BĐKH, trước mắt ưu tiên tập trung nghiên cứu canh tác cà phê, hồ tiêu thích ứng với biến đổi khí hậu./
Trang 13BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU – GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU, ỨNG PHÓ
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TẠI GIA LAI
TS Đặng Bá Đàn - Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây Hồ tiêu
Tóm tắt
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề toàn cầu đang được quan tâm hiện nay BĐKH đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Việt Nam được đánh giá là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH Bài viết này nhằm mục tiêu khái quát lại những tác động của BĐKH đến nông nghiệp tại Tây nguyên và tỉnh Gia Lai
1 Giới thiệu
Biến đổi khí hậu (BĐKH), mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới Nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra
BĐKH toàn cầu trong đó nguyên nhân được chính đó là: Chu kỳ nóng ấm của Trái đất mang tính tự nhiên được đẩy nhanh và trở nên nghiêm trọng hơn do những tác động của khí thải công nghiệp và hiệu ứng nhà kính
Theo dự báo của các nhà khoa học nếu như tình hình phát thải khí nhà kính không giảm thì vào năm 2030 nồng độ của khí CO2 trong khí quyển sẽ tăng gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp, khoảng 700 ppm Hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ trái đất tăng lên kéo theo hàng loạt các yếu tố khí hậu khác như: lượng mưa, độ ẩm, bức xạ… thay đổi theo Tần suất và cường độ hiện tượng El – Nino tăng đáng kể, gây lũ lụt và hạn hán ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Mưa trở nên thất thường hơn, cường độ
thay đổi
2 Những biểu hiện của BĐKH trên hành tinh của chúng ta
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC - Intergovermental Panel Climate Change) năm 2007, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,740C trong thời kỳ 1906 - 2005 và tốc độ tăng của nhiệt độ trong
50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó
Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu hướng tăng ở khu vực vĩ độ cao hơn 300 và giảm ở khu vực nhiệt đới từ giữa những năm 1970 Đồng thời, hiện tượng mưa lớn và tập trung theo mùa có dấu hiệu tăng ở nhiều khu vực trên thế giới
Mực nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỷ XX với tốc độ ngày càng lớn Số liệu quan trắc mực nước biển trong thời kỳ 1961- 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực
Trang 14nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8 ± 0,5mm/năm, trong đó đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12mm/năm và tan băng khoảng 0,70 ± 0,50mm/năm Số liệu đo đạc
từ vệ tinh TOPEX/POSEIDON trong giai đoạn 1993 - 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu là 3,1 ± 0,7mm/năm, nhanh hơn đáng kể so với thời kỳ
1961 – 2003
3 Tác động của BĐKH tại Việt Nam
Việt Nam được xem là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng do biến đổi khí hậu toàn cầu Theo dự báo thì BĐKH sẽ làm cho các trận bão ở Việt Nam thường xuyên xảy ra hơn với mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5-0,6oC/50 năm ở Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ Còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,3oC/50 năm (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Mức thay đổi nhiệt độ ( 0 C) trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu Việt Nam
Nguồn: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, 2013
Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương tự như lượng mưa vào mùa mưa, tăng
ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với
các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi tăng đến 20% trong 50 năm qua (bảng 3.2)
Bảng 3.2 Mức thay đổi lượng mưa (%) trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu
Vùng khí hậu Mùa khô (tháng 11-4) Mùa mưa (tháng 5-10) Năm
Trang 15Tây Nguyên 19 9 11
Nguồn: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, 2013
Bộ Tài nguyên - Môi trường chính thức thông báo: trong thập kỷ tới, khoảng từ năm 2010-2020, nhiệt độ trung bình của Việt Nam sẽ tăng không dưới 1,5 độ C; số trận lũ lụt trên cả nước sẽ tăng khoảng 20% Theo thông báo của UNDP, nếu mực nước biển ở Việt nam tăng lên 1m thì sẽ tác động tới 5% đất đai; 11% tổng dân số; 7% nông nghiệp; giảm 10% GDP Ở mức tăng 3m-5m có nghĩa là “thảm hoạ có thể xảy ra”
4 Biến đổi khí hậu tại Tây Nguyên
BĐKH đang hiện hữu rất rõ ở Tây Nguyên, thể hiện ở việc nhiệt độ có xu hướng tăng, nguồn nước giảm, dường như diễn biến thời tiết ở Tây Nguyên đang ngày càng có xu thế cực đoan hơn Thiên tai xảy ra thường xuyên; lũ lụt, lũ quét vào mùa mưa; hạn hán, nắng nóng vào mùa khô; các hiện tượng thời tiết nguy hiểm khác như dông, lốc xoáy, mưa đá xuất hiện ngày càng nhiều và bất thường hơn Trong một vài tháng của mùa khô, hiện tượng nhiệt độ tăng cao, gây nắng nóng hơn bình thường đã xuất hiện ở một vài nơi Sự phân bố mưa theo không gian và thời gian cũng có những dấu hiệu thay đổi Trong đó, đáng lưu ý nhất là hiện tượng mưa lớn gia tăng khiến lũ quét xuất hiện nhiều hơn BĐKH cũng được xem là tác nhân chính làm cho d ng chảy sông suối ở Tây Nguyên mất đi sự hiền h a vốn có, thể hiện nhiều qua mức độ cạn kiệt nghiêm trọng trong mùa khô, và đỉnh lũ ngày càng nhọn hơn, cao hơn, cường suất lũ lên lớn hơn trong mùa lũ
Theo Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk, tính đến giữa tháng 3/2013, tổng diện tích cây trồng bị hạn là hơn 25.000 ha, trong đó có hơn 7.000
ha lúa và hơn 17.000 ha cà phê Đã có hơn 2.000 ha cây trồng mất trắng C n theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, khu vực Tây Nguyên gồm các tỉnh Kon Tum, Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắk và Gia Lai đã có trên 50.000 ha cây trồng bị thiếu nước và hạn hán (trong đó diện tích lúa hơn 14.000 ha, cà phê hơn 34.000 ha, cây trồng khác hơn 2.000 ha) Trong đó số diện tích bị hạn nặng, bị mất trắng hơn 4.000 ha
Tài nguyên nước mặt (chỉ xét đến lượng nước hiện hữu trên các sông suối điển hình như Sê San, Sê rê pốk, sông Ba và Đồng Nai) đã kiệt dần từ lưu lượng 173.863,54 lít/s của những năm 2004-2005 xuống c n trên dưới 127.000 lít/s hiện nay
Từ năm 1997, tổng trữ lượng nước ngầm (ở trạng thái tĩnh, không có sự tác động bất thường của môi trường tự nhiên) tại Đak Lak là 120,9 x 109 m3 đến nay chỉ
Trang 16c n khoảng 30 - 35 % Theo báo cáo khảo sát của Bộ Tài Nguyên Môi trường thì mực nước ngầm tại các khu vực như: huyện Krông Pách, Krông Búk, Lắk (tỉnh Đắk Lắk), Đắk Min, Đắk Song, Cư Jút (tỉnh Đắk Nông), Chư Xuê (tỉnh Gia Lai) đang đứng trước tình trạng suy giảm nghiêm trọng, giảm từ 3-5m so với trước đây
5 Biến đổi khí tại Gia Lai
BĐKH tác động đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Gia Lai thể hiện rõ nhất qua sự thay đổi nhiệt độ và chế độ mưa hàng năm
* Về Nhiệt độ
Phân tích số liệu thu thập tại ba trạm ở tỉnh Gia Lai (trạm Pleiku, An Khê và yun Pa) trong 30 năm qua cho thấy: Nhiệt độ trung bình (NĐTB) ở tỉnh Gia Lai tăng khoảng từ 0,2 – 0,30C/10 năm (bảng 5.1), nói cách khác mỗi năm nền NĐTB ở tỉnh Gia Lai tăng khoảng 0,02 – 0,030C
Bảng 5.1 Nhiệt độ TB ( 0 C) trong các thời kỳ tại một số địa điểm ở tỉnh Gia Lai
Bảng 5.2 Lượng mưa trung bình (mm) trong các thời kỳ ở tỉnh Gia Lai
Lượng mưa Trạm
Nguồn : Số liệu tổng hợp từ Đài KTTV khu vực Tây Nguyên, 2014
Gia Lai trong các giai đoạn tới, tổng lượng mưa năm nhìn chung không có biến động lớn Tuy nhiên, lượng mưa sẽ tập trung, hạn hán ngày càng nghiêm trọng hơn: xảy ra trên diện rộng hơn, thời gian hạn kéo dài hơn, tập trung chủ yếu vào mùa khô Điều này có nghĩa là sự tăng lượng mưa thường xảy ra vào các tháng mùa mưa (vụ hè
Trang 17thu), còn các tháng mùa khô (vụ đông xuân) thì lượng mưa lại giảm đáng kể Điều này
đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai năm
2013, toàn tỉnh có hơn 1.560 ha cây trồng bị hạn hán, trong đó cây lúa nước là hơn 1.100 ha Theo Sở Lao động Thương binh và Xã hội Gia Lai, đến cuối tháng 2/2013, trên địa bàn có 8.430 hộ (33.850 khẩu) bị thiếu đói
*Dự báo kịch bản BĐKH tỉnh Gia Lai theo kịch bản BĐKH của Việt Nam và khu vực Tây Nguyên
Trên cơ sở NĐTB của chuỗi số liệu từ năm 1984 đến năm 2013 và dựa vào Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam đối với khu vực Tây Nguyên và tỉnh Gia Lai NĐTB ở tỉnh Gia Lai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030 đều có xu hướng tăng từ 0,5 – 0,7 oC, (bảng 5.3), lượng mưa tăng từ 0,3 – 0,4% (bảng 5.4)
Nguồn: Võ Văn Phú, 2015 “Nghiên cứu ứng phó với Biến đổi khí hậu cho ngành
Nông nghiệp Gia Lai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”
Nguồn: Võ Văn Phú, 2015 “Nghiên cứu ứng phó với Biến đổi khí hậu cho ngành
Nông nghiệp Gia Lai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”
6 Biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp tại Gia Lai
BĐKH tác động lên các yếu tố thời tiết, khí hậu theo hướng ngày càng bất lợi cho việc sản xuất nông nghiệp truyền thống Các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, lũ lụt,… gây nên nhiều tác động và đã để lại hậu quả không mong muốn đối với ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai Nó không chỉ làm thay đổi thời vụ, mất
Trang 18mùa hoặc giảm năng suất nghiêm trọng mà c n kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi Đó là một sự chuyển dịch thụ động nhằm thích ứng với BĐKH Trên tầm vĩ mô, tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan c n ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình thu hoạch, bảo quản và luân chuyển nông sản, gián tiếp gây tác động lên ngành nông nghiệp của tỉnh
* BĐKH làm thay đổi lịch thời vụ
Bảng 6.1 Sự thay đổi lịch thời vụ một số cây trồng ngắn ngày
Nguồn: Võ Văn Phú “Nghiên cứu ứng phó với Biến đổi khí hậu cho ngành
Nông nghiệp Gia Lai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, 2015
Lịch thời vụ trên địa bàn tỉnh đang có dấu hiệu chuyển dịch, mức độ thay đổi tùy thuộc vào từng năm, từng địa phương và từng nhóm cây trồng khác nhau Sự chuyển mùa
vụ kéo theo việc gieo trồng, chăm sóc cũng như thu hoạch bị thay đổi theo rõ rệt
Nhìn chung, trên địa bàn toàn tỉnh chủ yếu sản xuất 2 vụ chính: vụ Đông Xuân và
vụ Mùa Nhiều năm trở lại đây, thời vụ gieo trồng vụ mùa thường trễ lịch 10 - 20 ngày Điển hình như năm 2009, nắng hạn kéo dài, mưa đến muộn nên hầu hết diện tích lúa đến tháng 7 mới gieo trồng được (bảng 6.1)
* BĐKH làm thay đổi cơ cấu cây trồng
BĐKH gây tác động tiêu cực đến quá trình sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng tạo nên sự thay đổi tích cực trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng thích nghi hơn Quá trình chuyển đổi biểu hiện khá rõ đối với nhóm cây ngắn ngày như: tăng diện tích trồng sắn, mía và giảm diện tích lạc, thuốc lá;… tăng diện tích trồng lúa nước và giảm diện tích lúa rẫy; Các cây chịu hạn - năng suất cao được đưa vào trồng và dần thay thế các cây trồng bản địa - năng suất thấp
Trang 19Nhìn chung, sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng là xu thế tất yếu trong quá trình sản xuất nông nghiệp nhằm hướng tới một nền nông nghiệp bền vững trước những tác
động của biến đổi khí hậu
* BĐKH làm gia tăng tình hình dịch bệnh trên cây trồng
Sự thay đổi thất thường của thời tiết (nóng - ẩm; biên độ dao động nhiệt ngày - đêm, giữa mùa mưa - mùa khô) không chỉ tác động trực tiếp lên cây trồng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sâu hại, dịch bệnh phát sinh, phát triển nhanh và khó
dự báo gây ảnh hưởng đến diện tích, năng suất, sản lượng Rệp sáp hại cà phê đã thành dịch vào những năm 2000 - 2003, bệnh vàng lá do tuyến trùng và nấm đối với cà phê (2000 - 2004), ve sầu hại rễ cà phê (2007 - 2009), bệnh chết nhanh, chết chậm cây tiêu (2005 - nay), rầy nâu hại lúa, bọ xít muỗi hại điều, ca cao đã làm thiệt hại đến năng suất và chất lượng sản phẩm đáng kể Bệnh thường phát triển theo mùa, có khả năng phát triển thành ổ dịch gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng
* BĐKH làm giảm diện tích, năng suất và sản lượng
Theo kết quả điều tra tình hình thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra đối với lĩnh vực trồng trọt ở tỉnh Gia Lai, cho thấy các hiện tượng thời tiết cực đoan tác động đến lĩnh vực trồng trọt theo hướng tăng dần mức độ thiệt hại
Hạn hán năm 2013 gây ảnh hưởng đến 1.353 ha lúa ruộng trong đó có 618 ha mất trắng gây giảm năng suất 75% Tương tự cây ngô cũng dễ bị ảnh hưởng do tác động của thời tiết cực đoan Năm 2008, hạn hán đã gây thiệt hại 8.917 ha ngô các loại trong đó 6.549 ha bị mất trắng, năng suất giảm 80% ước tính thiệt hại 114,1 tỷ đồng
Năm 2009 lũ lụt xảy ra nhiều nơi trên địa bàn tỉnh đã gây thiệt hại 8.891,8 ha lúa ruộng, 6.511,7 ha lúa nương, 6.247,5 ha ngô, thiệt hại hàng chục tỷ đồng Lũ lụt cũng gây tác động đến diện tích lớn cây dài ngày như cà phê (1.062 ha), cao su (842 ha), hồ tiêu (91 ha)
Năm 2013 lũ lụt làm ảnh hưởng và thiệt hại đến 11.881,7 ha lúa ruộng, 7.531,7
ha lúa nương, 6.257,4 ha ngô, 15.530 ha cây trồng các loại, 1.074 ha cà phê, 745 ha cao su và 83 ha hồ tiêu Những cây công nghiệp dài ngày thường ít chịu tác động của thời tiết, tuy nhiên biến đổi khí hậu đã làm thay đổi các qui luật chung của thời tiết Hậu quả là các đợt lũ diễn ra trên địa bàn ngày càng tăng cả về cường độ, tần suất và quy mô kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng
* Dự báo tác động của hạn hán và lũ lụt đến nhóm cây ngắn ngày
Cây ngắn ngày (CNN) đang được trồng phổ biến ở Gia Lai Tập trung nhiều nhất
ở các huyện phía Đông và Đông Nam của tỉnh Bao gồm 4 nhóm cây chính: cây lương
Trang 20thực như lúa nước, lúa rẫy, ngô; cây tinh bột như sắn, khoai lang, dong riềng; cây thực phẩm như đậu, rau các loại và một số cây công nghiệp ngắn ngày như mía, lạc, thuốc lá, Đây là nhóm cây chịu nhiều tác động bởi yếu tố thời tiết, đặc biệt là thiếu nước do hạn hán và lũ lụt gây nguy cơ mất trắng
Dựa vào diễn biến và sự biến động của nhiệt độ và lượng mưa ở Gia Lai đến năm
2020 và 2030, kết hợp với tình hình thiệt hại do hạn hán, lũ lụt, ngập úng gây ra đối với nhóm cây ngắn ngày trong những năm qua (2000-2013), các nhà khoa học đã đưa
ra dự báo diện tích cây trồng ngắn ngày sẽ bị ảnh hưởng (bảng 6.2)
Bảng 6.2.Dự báo diện tích (ha) CNN bị ảnh hưởng do hạn hán và lũ lụt
Bảng 6.3 Dự báo diện tích (ha) CDN bị ảnh hưởng do hạn hán và lũ lụt
Trang 21Qua bảng 6.3 ta có thể nhận thấy, diện tích bị ảnh hưởng được dự báo ngày càng tăng từ đây cho đến năm 2030 Do đó, qua những dự báo này chúng ta cần đề xuất những giải pháp phù hợp để phát triển trồng trọt nhằm giảm thiểu tối đa những tác động không đáng có do BĐKH gây ra đối với Nông nghiệp tỉnh Gia Lai
7 Giải pháp ứng phó với BĐKH và phát triển nông nghiệp bền vững
7.1 Hạn chế tác động của con người đến môi trường
Bảo vệ rừng, siết chặt công tác quản lý rừng, đầu tư trồng rừng cũng như các dự
án trồng cây xanh trên lãnh thổ của mình, các biện pháp quản lý hệ thống thủy lợi và
thoát lũ Rừng chính là “máy điều hòa khí hậu” “bể hấp thụ khí nhà kính” khổng lồ
Các nhà khoa học cho biết: Tạm tính với diện tích 1.000.000 ha nếu chỉ 50% diện tích
có rừng cây thân gỗ thì mỗi năm rừng ở Trường sơn hấp thụ được 22-25 triệu tấn CO2, góp phần đáng kể vào giảm hiệu ứng nóng lên toàn cầu mà không cần đầu tư gì ngoài bảo vệ rừng Bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là đảm bảo an ninh môi trường sẽ là một chiến lược thích ứng lợi hại của Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng trước thảm họa BĐKH
Giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc sử dụng các nguồn năng lượng xanh như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thay thế dần các nguồn năng lượng như than đá, dầu mỏ,
7.2 Các nhóm giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với BĐKH
* Nhóm giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải theo hướng tăng diện tích trồng cây công nghiệp dài ngày có hiệu quả kinh tế cao như cao su, cà phê, hồ tiêu, chè, điều, và giảm diện tích đất trồng cây hàng năm kém hiệu quả Đồng thời chuyển dịch các diện tích cây ngắn ngày theo hướng tăng cường thâm canh cây lúa, nhất là lúa nước, mở rộng diện tích đối với các cây ngắn ngày chịu hạn, hình thành các vùng chuyên canh, chăn nuôi tập trung có sử dụng công nghệ cao để ứng phó với sự tác động biến đổi khí hậu đến sản xuất
- Đối với cây ngắn ngày
Bảng 7.1 Chuyển đổi cơ cấu diện tích (ha) một số cây trồng ngắn ngày
Diện tích một số cây chủ
yếu (ha) 2013 (a) 2020 (b) 2030 (c)
Tốc độ tăng bình quân (%) 2013-2020 2020-2030
Trang 22Nguồn: a) Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai, 2014 b) Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Gia Lai đến năm 2020
c) Dự báo dựa trên chuỗi số liệu thu thập được
- Đối với cây công nghiệp dài ngày (CDN)
Định hướng trong thời gian tới, tiếp tục tăng mạnh diện tích các loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao như cây cà phê, cây điều, cây tiêu Đối với các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, chè, sẽ giảm nhẹ diện tích trồng đến năm 2020 và sau đó ổn định đến năm 2030 Hồ tiêu là cây trồng có tốc độ tăng diện tích nhiều nhất
do khả năng chống chịu với thời tiết khô nóng và là loại cây trồng mang hiệu quả kinh
tế cao, thị trường đang được cải thiện
Bảng 7.2 Chuyển đổi cơ cấu diện tích (ha) một số loại CDN
Diện tích một số cây CN
chủ yếu (ha) 2013 (a) 2020 (b) 2030 (c)
Tốc độ tăng trưởng (%) 2013-2020 2020-2030 + Cây cao su 105.064 103.736 103.736 -1,2 0
c) Dự báo dựa trên chuỗi số liệu thu thập được
* Nhóm giải pháp về điều chỉnh lịch thời vụ
Điều chỉnh lịch thời vụ sản xuất phù hợp với tình hình BĐKH, tránh thiên tai như: hạn hán, bão, lũ, Với mức BĐKH đã được dự báo đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Gia Lai cho thấy, có khả năng mùa khô kéo dài, mùa mưa
sẽ đến muộn hơn và kết thúc sớm hơn, do đó, lịch thời vụ sẽ dịch chuyển phù hợp với
sự thay đổi trên
Đối với nhóm cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, điều, hồ tiêu, Dự báo đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, sự biến động của thời tiết chưa tác động lớn đến lịch gieo trồng, có thể diễn ra chậm hơn khoảng 5 ngày so với hiện tại
Đối với nhóm cây ngắn ngày, Dự báo đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, BĐKH có ảnh hưởng lớn đến thời vụ gieo trồng Vì vậy lịch thời vụ sẽ có nhiều dịch chuyển theo sơ đồ 7.3
Trang 23Bảng 7.3 Sự chuyển dịch thời vụ đối với cây ngắn ngày
Nguồn: Võ Văn Phú “Nghiên cứu ứng phó với Biến đổi khí hậu cho ngành Nông nghiệp Gia Lai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, 2015
* Nhóm giải pháp về sử dụng các giống theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu
Các hiện tượng thời tiết cực đoan của xu thế biến đổi khí hậu ở tỉnh Gia Lai trong thời gian tới tác động lên lĩnh vực trồng trọt chính là hạn hán và lũ lụt thông qua nhiệt
độ cao, mưa tập trung, hạn kéo dài Do đó, việc lựa chọn sử dụng các giống kháng, chịu hạn (cà phê, hồ tiêu, lúa, ngô ), giống ra hoa nhiều lần (đối với cây điều), bộ giống cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày được ưu tiên hơn cả
* Hình thành các vùng chuyên canh
- Hình thành các vùng cây chuyên canh theo hướng thích ứng với BĐKH:
+ Đối với cây ngắn ngày
Ưu tiên phát triển ở những vùng có khả năng đáp ứng cung cấp nước tưới tiêu gồm các huyện Kbang, Kông Chro, Phú Thiện, Krông Pa, Đăk Pơ, Ia Pa, thị xã n Khê và thị xã yun Pa
+ Đối với cây công nghiệp dài ngày
Định hướng phát triển ở thành phố Pleiku và các huyện Mang Yang, Đăk Đoa, Chư Pưh, Chư Păh, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê Tập trung phát triển vùng cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, chè, tiêu… gắn với phát triển công nghiệp chế biến
* Nhóm giải pháp công trình cho nền nông nghiệp
Xây dựng một nền nông nghiệp ở Gia Lai theo hướng sinh thái gắn với thích ứng BĐKH, ứng dụng các công nghệ mới nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp