1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu ôn thi môn Kinh tế phát triển

20 1,3K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 219 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển của một nền kinh tế được xác định thông qua các chỉ số cơ bản: Các chỉ số xã hội của phát triển đó là chăm sóc sức khỏe cộng đồng tuổi thọ trung bình của dân cư…; trình độ

Trang 1

Câu 1: Bằng lý luận thực tiễn về tăng trưởng, phát triển và phát triển bền vững, anh, chị hãy giải thích tăng trưởng, phát triển và phát triển bền vững là mục tiêu chủ yếu của Việt Nam hiện nay.

Ngày nay, khả năng, trình độ tăng trưởng, phát triển kinh tế là điều kiện quyết định

sự tồn tại của một quốc gia trong xu hướng phát triển chung của thế giới Mỗi quốc gia cần chọn cho mình hướng tăng trưởng, phát triển phù hợp với yêu cầu, điều kiện, phù hợp xu hướng quốc tế Vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng đáng lưu tâm cùng với sự phát triển của nền kinh tế Thu nhập của người dân được cải thiện, mức sống được nâng dần cả ở thành thị lẫn nông thôn, đồng thời khoảng cách giàu nghèo trong xã hội cũng tăng lên rõ rệt

Vì vậy phát triển bền vững là mục tiêu chủ yếu của sự phát triển, từ đó giúp mọi người

trong xã hội đều có quyền bình đẳng và gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm về quy mô sản lượng hàng hóa và dịch vụ

trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự mở rộng

sản lượng của một nền kinh tế hay một nước Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự tăng trưởng mức sống của một quốc gia thông qua sự tăng lên theo đầu người của sản lượng hay thu nhập của một nền kinh tế Các nước muốn thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu đều đặt cho mình mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, lâu dài và trên cơ sở đó, các nước tiếp tục thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội quan trọng khác Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

là vốn, con người, khoa học và công nghệ, cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị và quản lý nhà

nước Trong đó con người và thể chế chính trị là hai nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng.

Các nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần chứ chưa là điều kiện đủ cho giảm nghèo

Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến của nền kinh tế trên các mặt, bao gồm cả sự

tăng thêm về quy mô sản lượng, tiến bộ về cơ cấu kinh tế – xã hội Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn Sự phát triển của một nền kinh tế được xác định thông qua các chỉ số cơ bản:

Các chỉ số xã hội của phát triển đó là chăm sóc sức khỏe cộng đồng (tuổi thọ trung

bình của dân cư…); trình độ học vấn của dân cư là chỉ tiêu phản ánh chất lượng trí tuệ của

đội ngũ lao động và dân cư; mức sống về vật chất và tinh thần, trong đó gồm các chỉ số về tình trạng đói nghèo, mức thất nghiệp, bất bình đẳng về thu nhập

Các chỉ số về cơ cấu kinh tế bao gồm chỉ số về tỷ trọng ba ngành kinh tế nông

nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; chỉ số về tiết kiệm và đầu tư; và tỷ lệ dân số đô thị và nông

thôn Các chỉ số tổng hợp về trình độ phát triển bao gồm chỉ số phát triển con người, chỉ

số chất lượng vật chất cuộc sống, chỉ số nghèo của con người Tăng trưởng kinh tế không luôn đồng nghĩa với phát triển kinh tế, nhưng nhất thiết phải có tăng trưởng kinh tế mới có phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần đối với phát triển kinh tế, nhưng chưa phải là điều kiện đủ Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở vật chất, tài chính để giải quyết những yêu cầu, nội dung của phát triển Tăng trưởng kinh tế góp phần khai thác, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, đặc biệt là vốn, lao động để đưa vào hoạt động Tăng trưởng kinh tế có tác động dây chuyền: các ngành có mức tăng trưởng kinh tế thông qua các liên kết kinh tế với các ngành khác sẽ thúc đẩy lẫn nhau tăng trưởng, và toàn bộ nền kinh tế chuyển động theo hướng có tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế bản thân nó tạo vô số cơ hội tăng trưởng ổn định và cao, thúc đẩy các mối quan hệ nêu trên lên một trình độ, quy mô mới Phát triển kinh tế chi phối mục tiêu, phương thức đạt được sự tăng trưởng kinh tế, chi phối sự phân chia thành quả của tăng trưởng kinh tế Nói cách khác, phát triển kinh tế trả lời

cho câu hỏi: Tăng trưởng kinh tế vì ai? Tăng trưởng kinh tế do ai và bằng cách nào? Ai là người hưởng các thành quả của tăng trưởng và với quy mô, số lượng, chất lượng như thế

Trang 2

nào? Về lâu dài, phát triển kinh tế góp phần tái tạo các nguồn lực, củng cố các điều kiện để

phát triển

Có thể thấy, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế là mối quan

hệ biện chứng, là biểu hiện của quan hệ giữa số lượng và chất lượng Đó là mối quan hệ hai chiều đặt trong quá trình vận động không ngừng của nền kinh tế

Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao, liên tục trong

thời gian dài, dựa trên việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên mà vẫn bảo vệ được môi trường hệ sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả xã hội cho thế hệ tương lai

Kế thừa những thành quả lý luận và kinh nghiệm của các nước, khu vực trên thế giới, Đảng ta bước đầu đưa ra quan điểm về phát triển bền vững như là một quan điểm chỉ đạo, chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội, chứ không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực tăng

trưởng và phát triển kinh tế Đó là phát triển kinh tế - xã hội bền vững mà trong đó nội dung bền vững được hiểu là bền vững về các mặt kinh tế - tài chính, môi trường, chính trị - xã hội, quốc phòng – an ninh, và văn hóa.

Về kinh tế - tài chính, ngoài hiệu quả kinh tế, hiệu quả về tài chính cần được quan

tâm và xem xét thỏa đáng Thời gian qua có không ít dự án hiệu quả về kinh tế nhưng mức

độ rủi ro cao về tài chính, gây ra những sự đổ vỡ Bên cạnh đó, đối với những dự án vay vốn nước ngoài, việc cân đối tài chính của những dự án này cần được quan tâm đúng mức do liên quan đến khả năng trả nợ nước ngoài của đất nước, tránh để lại gánh nặng nợ nần cho các thế hệ sau

Về môi trường, đây là sự tái khẳng định sự thống nhất và quyết tâm theo đuổi việc

gắn tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường sống

ở nước ta

Về chính trị - xã hội, phát triển kinh tế phải gắn liền với ổn định CT – XH Ổn định

CT-XH là điều kiện tiên quyết, là tiền đề cho tăng trưởng và phát triển Tăng trưởng và phát triển tạo cơ sở vật chất và tinh thần cho sự ổn định CT-XH

Về quốc phòng – an ninh, tăng trưởng và phát triển không thể tách rời nhiệm vụ

đảm bảo QP-AN Đây là một nội dung căn bản trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Về văn hóa, “Văn hóa và kinh tế có quan hệ gắn bó hữu cơ, là mục tiêu, động lực

nhau Xây dựng và phát triển văn hóa lành mạnh nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển mạnh mẽ

và vững chắc…” “Phấn đấu đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, thì mới có điều kiện phát triển văn hóa mới Cả kinh tế và văn hóa phải hòa quyện vào nhau ”

Đại hội XI đã đánh giá những thành tựu, yếu kém qua 5 năm thực hiện Nghị quyết đại hội X, 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 và 20 năm thực hiện cương lĩnh năm 1991:

Về thành tựu: Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản

ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước

ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển; giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá

và các lĩnh vực xã hội có tiến bộ; bảo vệ tài nguyên, môi trường được chú trọng hơn; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện; chính trị - xã hội ổn định

Về hạn chế, yếu kém: Bên cạnh những thành tựu nói trên, một số chỉ tiêu, nhiệm vụ

Đại hội X đề ra chưa đạt được Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn chậm; các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc; chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ,

Trang 3

phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn, đẩy lùi Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm yếu cản trở sự phát triển

Việc đánh giá những thành tựu, tồn tại, yếu kém có thể coi đó là cơ sở thực tiễn để Đảng, Nhà nước lựa chọn mô hình tăng trưởng, phát triển trong bối cảnh phải thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ phát triển tiếp theo công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

Trong điều kiện như vậy, phát triển bền vững là xu hướng phát triển tất yếu của Việt Nam vì:

- Thứ nhất, như phân tích trên, vấn đề hướng đến phát triển bền vững ở Việt Nam có

đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để chứng minh tính khoa học, đúng đắn, hợp lý của nó

- Thứ hai, Trong bối cảnh VN tiến hành CNH – HĐH cần gắn tăng trưởng kinh tế,

phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sống, với ổn định chính trị và công bằng xã hội Đây chính là nội dung của phát triển bền vững và do vậy phát triển bền vững là điều kiện để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH – HĐH đất nước

- Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, phát triển kinh tế phải đi liền với

ổn định chính trị, đi đôi với phát triển văn hoá, giữ gìn bản sắc dân tộc

Hơn nữa, quá trình CNH – HĐH, hội nhập quốc tế hiện nay ở VN không thể không quan tâm đến vấn đề lấy con người làm trung tâm, đảm bảo hài hòa ba yếu tố kinh tế – xã hội – môi trường; đảm bảo tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ công bằng xã hội, khoa học – công nghệ là nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững

Trên cơ sở khoa học và thực tiễn của các mô hình tăng trưởng kinh tế, Việt Nam chúng ta đã chọn mô hình phát triển bền vững làm mô hình tăng trưởng phát triển của mình Đại hội XI đã cụ thể hoá sự lựa chọn này bằng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 –

2020 Với quan điểm: Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược; Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người

là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan

hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Nhận thức tầm quan trọng của phát triển bền vững, lãnh đạo tỉnh Long An đã thực hiện nhiều giải pháp để tỉnh có thể phát triển nhanh và bền vững Trước hết, lãnh đạo tỉnh đã

mời đơn vị tư vấn nước ngoài (Nhật) thực hiện quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội và xem

đây là định hướng chính trong phát triển kinh tế-xã hội tỉnh nhà; trong đó, phân địa giới Tỉnh thành ba khu vực, khu vực trọng điểm phát triển công nghiệp, khu vực trọng điểm phát triển nông nghiệp và khu vực sinh thái

Trong định hướng phát triển chung, nội dung trọng tâm là giải quyết tốt ba điểm

nghẽn trong phát triển, thứ nhất là phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thứ hai, nhà nước tăng đầu tư, kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng (trọng tâm là giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc ); thứ ba, tiếp

tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính

Trong nông nghiệp, chủ trương chung là đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá trong sản xuất, trước hết là cơ khí hoá; đổi mới phương thức sản xuất, đẩy mạnh liên kết,

hợp tác trong nông nghiệp Thực hiện tốt chương trình tam nông (nông nghiệp, nông thôn

và nông dân); vừa đảm bảo yêu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn, đảm bảo an ninh

Trang 4

ở nông thôn; chuyển dịch dần cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các loại hình phi nông

nghiệp Tăng đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ít nhất 25%/năm (nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh lần IX 2010-2015); xây dựng cánh đồng giá trị tăng thêm trên 25 triệu/héc

ta/năm

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp tại khu vực tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực thuận tiện về giao thông Thu hút các doanh nghiệp ít thâm dụng lao động, đất đai về đầu tư; ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của Tỉnh, công nghiệp cơ khí và công nghiệp hỗ trợ phát triển nông nghiệp

Tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp để phát triển dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông; hệ thống dịch vụ phục vụ phát triển công nghiệp và dân sinh

Trong từng bước phát triển luôn phải đảm bảo yếu tố môi trường, chủ trương chung của Tỉnh là “chưa bố trí tái định cư xong chưa khởi công xây dựng dự án; chưa có hệ thông

xử lý chất thải chưa đưa vào sử dụng” Bảo vệ nghiêm môi trường cặp 2 dòng sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây Quy hoạch, đầu tư và thu hút đầu tư các khu xử lý chất thải, đảm bảo

xử lý tốt chất thải từ sản xuất và sinh hoạt

Với nhiều giải pháp nêu trên, trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh luôn đạt ở mức cao tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2006-2010 của tỉnh Long An đạt 11,8% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, từng bước hình thành

cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao, nhưng chậm so với kế hoạch

Tóm lại, sự tồn tại của xã hội không thể thiếu sự phát triển kinh tế Song, đối với xã

hội văn minh thì sự phát triển kinh tế - xã hội không phải là mục đích duy nhất, không phải

là mục đích tự thân mà phải chính là để phục vụ con người, để phát triển con người Để đạt được một sự phát triển như vậy thì đối với mỗi quốc gia, trước hết, phải khắc phục hoặc giảm tới mức thấp nhất sự chênh lệch giàu nghèo quá mức nhằm tạo cho mọi người có cơ hội phát triển Nếu một sự phát triển chỉ lấy GDP làm thước đo duy nhất thì rất có thể đạt được sự tăng trưởng kinh tế lẫn sự phát triển xã hội nhưng chưa hẳn môi trường sống - cơ sở tồn tại tự nhiên của con người - đã được bảo vệ, chưa hẳn đã có sự tiến bộ xã hội và càng chưa hẳn đã có sự phát triển con người Do đó, cần phải gắn kết sự tăng trưởng kinh tế với

sự phát triển và tiến bộ xã hội, đặc biệt là với sự phát triển con người một cách bền vững, với những cơ hội được tạo ra để cho con người tự lựa chọn

Trang 5

Câu 2: Bằng lý luận và thực tiễn, phân tích vì sao phải kết hợp tăng trưởng kinh

tế với thực hiện tiến bộ và công bằng XH trong đổi mới, phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.

Theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước phải theo hướng phát triển bền vững với nhiều yêu cầu đặt ra phải quan tâm giải quyết Một trong những yêu cầu của phát triển bền vững là phải kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng XH

Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự tăng thêm về quy mô sản lượng hàng hóa và

dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Tăng trưởng kinh tế theo khái niệm vừa nêu biểu hiện ở 2 đặc điểm chủ yếu: TTKT thể hiện sự mở rộng sản lượng của một nền kinh tế hay một nước; TTKT thể hiện sự tăng mức sống của một quốc gia thông qua sự tăng lên theo đầu người của sản lượng hay thu nhập của một nền kinh tế

Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên của tổng sản phẩm trong nước (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) Mức tăng đó thường tính trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân hay tính theo bình quân đầu người của thời kỳ sau so với thời

kỳ trước đó Hai phương pháp để nhận dạng mức tăng trưởng kinh tế là tăng trưởng tuyệt

đối (mức tăng tuyệt đối sản lượng nền kinh tế) và tăng trưởng tương đối (tốc độ tăng trưởng kinh tế).

Mô hình TTKT có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước TTKT

có vai trò nhất định trong việc tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội của đất nước Tăng trưởng kinh tế biểu hiện đặc điểm cơ bản là số lượng hàng hóa tăng thông qua

mở rộng sản xuất kinh đoanh, có vai trò góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động Từ đó góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp, làm cho nền kinh tế của người dân và của đất nước ngày càng trở nên thịnh vượng

Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở vật chất, tài chính, khai thác và huy động các nguồn lực về vốn, lao động, KHCN cho sự phát triển kinh tế theo hướng phát triển bền vững TTKT chỉ thể hiệ sự biến đổi về lượng của nền KT theo thời gian

Phát triển kinh tế là khái niệm rộng hơn và bao hàm trong nó yếu tố TTKT Phát

triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao mức sống và cải thiện giáo dục, sức khoẻ

và bình đẳng về cơ hội là tất cả những thành phần của phát triển kinh tế TTKT là một cách

cơ bản để có thể có được phát triển, nhưng trong bản thân, nó là một đại diện rất không toàn vẹn của tiến bộ

Công bằng xã hội là một phạm trù chính trị – xã hội thể hiện mối quan hệ giữa các

thành viên trong XH dựa trên nguyên tắc ngang bằng giữa cống hiến và hưởng thụ được phản ánh chủ yếu thông qua phân phối thu nhập, thông qua khoảng cách giữa giàu và nghèo

Trong xã hội công bằng theo chiều ngang là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau, được điều tiết bởi cơ chế thị trường Công bằng theo chiều dọc là đối xử

khác nhau đối với những người có khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện, hoàn cảnh kinh

tế xã hội CBXH được thực hiện bởi cơ chế kinh tế, chế độ xã hội, pháp luật Nhà nước và sự điều tiết của chính phủ

TTKT, CBXH là những vấn đề mà bất cứ quốc gia nào trong quá trình phát triển cũng phải quan tâm đến nội dung, cách thức, giải pháp thực hiện và việc cụ thể hoá các vấn

đề trên trong điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ đều xuất phát từ nhận thức mối quan hệ giữa TTKT và CBXH TTKT thuộc phạm trù kinh tế CBXH thuộc phạm trù chính trị – xã hội và do vậy, quan hệ kinh tế - xã hội cần giải quyết trong quá trình phát triển và hơn nữa, các nhà khoa học từ phân tích lý luận và thực tiễn vấn đề TTKT và CBXH

ở một số nước đã chỉ ra rằng TTKT và CBXH có mối quan hệ biện chứng hoà quyện với

Trang 6

nhau trong sự mâu thuẫn tương tác thúc đẩy nhau cùng tiến lên Trong mối quan hệ này, TTKT tạo ra những điều kiện cho phép giải quyết các vấn đề XH ngày một tốt hơn và đến lượt nó khi CBXH được mở rộng và tốt hơn sẽ tạo ra được động lực mới thúc đẩy TTKT Vòng xoáy của sự tiến bộ đó vận dụng không ngừng, tạo thành sự phát triển kinh tế thống nhất và liên tục Sự phát triển càng cao xã hội càng có điều kiện để rút ngắn những khoảng cách chênh lệch, bất công giữa các vùng, các tầng lớp dân cư và giữa các thành viên trong

xã hội

Quá trình phát triển theo xu hướng bền vững ở VN hiện nay - tất yếu nảy sinh yêu cầu phải giải quyết vấn đề TTKT và CBXH Việc giải quyết vấn đề TTKT và CBXH trong PTBV dựa trên cơ sở nhận thức của chúng ta về CBXH, về quan hệ giữa TTKT và CBXH Trước đổi mới: quan niệm công bằng của nước ta là quá trình cắt và chia chiếc bánh GDP theo hướng cào bằng, bình quân chủ nghĩa, đã làm triệt tiêu sự hăng say sáng tạo trong SX, tăng trưởng kinh tế âm Sau đổi mới, quan điểm của Đảng và NN ta đã thay đổi theo hướng hiện đại, việc chia chiếc bánh GDP đã chú trọng theo hướng thuận lợi cho những ai chăm chút năng động, chú trọng yếu tố đầu ra trong SX, tạo cơ hội cho các hoạt động kinh tế, tiếp cận các nguồn lực, chú trọng cơ chế phân phối thu nhập cho người yếu thế hơn

Công bằng trong kinh tế được thể hiện ở các nội dung là, đảm bảo sự tương ứng

giữa cống hiến và hưởng thụ, nghĩa vụ và quyền lợi, lao động và trả công lao động Công bằng về cơ hội tham gia các hoạt động kinh tế Công bằng trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực; trong phân phối, thu nhập, cơ sở để phân phối là phân phối theo lao động, kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế; phân phối theo mức đóng góp các nguồn lực xã hội; phân phối theo phúc lợi xã hội

Chúng ta thấy rằng TTKT và CBXH là hai phạm trù khác nhau có quan hệ biện chứng, tương tác trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa mâu thuẫn.

TTKT giữ vai trò là điều kiện vật chất để thực hiện CBXH TTKT nâng khả năng tích luỹ của nền kinh tế, từ đó tăng khả năng tái sản xuất mở rộng và đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế giữa các vùng, miền TTKT còn tạo điều kiện tăng dự trữ quốc gia để thực hiện các chính sách xã hội đảm bảo cho CBXH

Đến lược mình, mức độ CBXH thực hiện sẽ tạo điều kiện kích thích TTKT với nhịp

độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn: CBXH trong phân phối thu nhập hợp lý sẽ tăng

thu nhập cho người nghèo, giảm nghèo từ đó tạo hai tác động tích cực đến TTKT: Thứ nhất

là, mở rộng khả năng tích luỹ đầu tư trong bộ phận dân cư để góp phần TTKT Thứ hai là,

khơi dậy tính năng động sáng tạo của người lao động, tạo điều kiện phát huy giá trị nguồn nhân lực thúc đẩy quá trình TTKT CBXH được thực hiện sẽ đảm bảo mức độ an sinh XH, tạo sự đồng thuận XH và từ đó tạo động lực XH cho quá trình TTKT

Giữa TTKT và CBXH không chỉ có quan hệ thống nhất mà giữa chúng còn có nẩy sinh những quan hệ mâu thuẫn Đó là quan hệ kiềm chế khả năng thực hiện, phát triển và thậm chí có trường hợp loại trừ, loại bỏ nhau Nói cách khác, TTKT và CBXH không thể tồn tại song cùng nếu quan hệ mâu thuẫn xuất hiện Song điều cần chú ý là

sự mâu thuẫn giữa TTKT và CBXH phát sinh từ các nguyên nhân:

Thứ nhất là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện để thực hiện CBXH, song do bản chất

của nó TTKT không tự phát đưa đến CBXH, không thể phân phối và đem thành quả TTKT công bằng đến cho mọi đối tượng theo lý thuyết thẩm thấu

Thứ hai là, quá trình tăng trưởng kinh tế trong kinh tế thị trường gắn với việc phân

bố tối ưu các nguồn lực sản xuất theo cơ chế thị trường Vì vậy sẽ xuất hiện tình trạng phân

bổ không công bằng nguồn lực sản xuất trong phát triển các vùng, các miền Nếu chúng ta

Trang 7

đáp ứng đúng, từ đó dẫn đến khả năng tăng trưởng, phát triển ở các vùng, các miền sẽ rất khác nhau và dẫn đến bất bình đẳng

Thứ ba là, trong điều kiện có hạn về năng lực tài chính, kinh tế Nếu các nhà quản lý

tập trung chiếm giữ cho tăng trưởng kinh tế thì nguồn lực thực hiện CBXH sẽ giảm, từ đó không khắc phục được tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng

Trên đây là những nguyên nhân từ việc nếu tập trung đầu tư thái quá cho TTKT thì trong kinh tế thị trường tất yếu khả năng thực hiện các nội dung CBXH sẽ suy giảm hoặc không thực hiện được Song, ngược lại nếu các nhà quản lý tập trung thái quá vào đảm bảo CBXH từ hoạt động đảm bảo phúc lợi XH thì khả năng TTKT sẽ suy giảm hoặc các nội dung TTKT không có cơ hội, điều kiện thực hiện do việc tập trung thái quá vào hoạt động

phúc lợi XH để đảm bảo CBXH sẽ dẫn đến các hệ quả đó là: Triệt tiêu động lực kinh tế cho quá trình TTKT; giảm khả năng đầu tư cho TTKT, giảm tốc độ TTKT; tạo cơ hội cho tham nhũng, quan liêu phát triển trong hoạt dộng của bộ máy quản lý và từ đó triệt tiêu khả năng tăng trưởng nhanh, bền vững.

Quan hệ mâu thuẫn giữa TTKT và CBXH trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là tất yếu khách quan, nhưng vấn đề cơ bản đặt ra đối với các nhà quản

lý là phải có các giải pháp tác động vào các nguyên nhân hình thành để giảm khả năng xuất hiện mâu thuẫn và từ đó đảm bảo điều kiện cho quan hệ thống nhất giữa TTKT và CBXH, hình thành phát triển cơ sở thực tiễn để giải quyết vấn đề TTKT và CBXH ở VN chính là những thành tựu, những yếu kém, tồn tại trong quá trình TTKT và thực hiện CBXH theo đánh giá của ĐH XI: Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, cơ bản giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, các ngành đều có bước phát triển, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện

Tuy nhiên, theo đánh giá của Đại hội, kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chậm; chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý, phân hoá giàu nghèo tăng lên

Quá trình tổ chức thực hiện TTKT và đảm bảo CBXH ở VN được thực hiện trên cơ

sở nhận thức sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa TTKT và CBXH, để tạo đà cho phát triển KTXH đến năm 2020 và những năm tiếp theo, Nghị quyết đại hội XI của Đảng chủ trương:

“ phải thật sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững Nâng cao

chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh

tế vĩ mô Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng thời xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp; củng cố và tăng cường các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế”

“ phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của

nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Nhận thức tầm quan trọng của phát triển bền vững, lãnh đạo tỉnh Long An đã thực hiện nhiều giải pháp để tỉnh có thể phát triển nhanh, bền vững kết hợp đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội Trong định hướng phát triển chung, nội dung trọng tâm là giải quyết tốt

Trang 8

ba điểm nghẽn trong phát triển, thứ nhất là phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thứ hai, nhà nước tăng đầu tư, kêu gọi các thành phần kinh

tế tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng (trọng tâm là giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc );

thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính.

Trong nông nghiệp, chủ trương chung là đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá trong sản xuất; đổi mới phương thức sản xuất, đẩy mạnh liên kết, hợp tác trong nông

nghiệp Thực hiện tốt chương trình tam nông (nông nghiệp, nông thôn và nông dân); vừa

đảm bảo yêu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực Xây dựng nông thôn mới; thu hút các loại hình doanh nghiệp phù hợp về đầu tư ở nông thôn; chuyển dịch dần cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các loại hình phi nông nghiệp Tăng đầu tư

cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ít nhất 25%/năm (nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh lần

IX 2010-2015); xây dựng cánh đồng giá trị tăng thêm trên 25 triệu/héc ta/năm.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp tại khu vực tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực thuận tiện về giao thông Thu hút các doanh nghiệp ít thâm dụng lao động, đất đai về đầu tư; ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của Tỉnh, công nghiệp cơ khí và công nghiệp hỗ trợ phát triển nông nghiệp

Tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp để phát triển dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông; hệ thống dịch vụ phục vụ phát triển công nghiệp và dân sinh

Trong từng bước phát triển luôn phải đảm bảo yếu tố môi trường, chủ trương chung của Tỉnh là “chưa bố trí tái định cư xong chưa khởi công xây dựng dự án; chưa có hệ thông

xử lý chất thải chưa đưa vào sử dụng” Bảo vệ nghiêm môi trường 2 dòng sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây Quy hoạch, đầu tư và thu hút đầu tư các khu xử lý chất thải, đảm bảo

xử lý tốt chất thải từ sản xuất và sinh hoạt

Tóm lại, từ lý luận và thực tiễn vừa trình bày ở phần trên cho thấy, trong đổi mới

phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay, vấn đề TTKT đi liền với tiến bộ và CBXH là chủ

trương đúng đắn của Đảng Qua phân tích mối quan hệ giữa TTKT và CBXH, từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước theo hương phát triển bền vững, có thể nói rằng cần phải kết hợp TTKT với tiến bộ và CBXH vì yêu cầu

khách quan của quá trình phát triển là phải giải quyết cùng lúc TTKT với tiến bộ và CBXH, không thể có việc chú trọng TTKT trước rồi mới giải quyết vấn đề CBXH mà phải giải quyết ngay từ đầu, kết hợp ngay từ đầu vấn đề TTKT và CBXH

Trang 9

Câu 3: Trình bày vai trò của nguồn lao động và nêu đặc điểm, định hướng và giải pháp nguồn lao động Việt Nam.

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nguồn lực lao động là một trong những nguồn lực có vai trò đặc biệt quan trọng mang tính quyết định Nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng tiên tiến đòi hỏi chất lượng nguồn lực lao động ngày càng cao, người lao động phải có đủ năng lực, trình độ, sức khoẻ để tham gia vào các hoạt động của xã hội Ngày nay, sự phát triển của khoa học công nghệ với những thành tựu của nó chi phối mọi lĩnh vực KT-XH nhưng cũng không thể thay thế vai trò của nguồn lực Lao động Hơn nữa, nguồn lực Lao động còn là nhân tố sáng tạo ra công nghệ, thiết bị và sử dụng chúng vào quá trình phát triển KT Nguồn lực lao động là tập hợp những người đang trong độ tuổi lao động, có điều kiện về thần kinh, cơ bắp đảm bảo điều kiện lao động, đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm

Lao động là một bộ phận của các yếu tố đầu vào của quá trình phát triển kinh tế, đồng thời là nhân tố quyết định việc tái tạo, sử dụng, phát triển các nguồn lực khác Do đó

để sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực khác cần quan tâm sự phát triển cao của nguồn Lao động, nhất là về thể chất, trình độ VH, kỹ thuật, trình độ quản lý và lòng nhiệt tình… nếu thiếu một nguồn lực Lao động chất lượng cao có thể làm lãng phí, cạn kiệt và hủy hoại các nguồn lực khác

Nguồn lao động trong phát triển cần được xem xét ở hai mặt số lượng, chất lượng

nguồn lao động Số lượng nguồn lao động được phân tích qua các chỉ tiêu phản ảnh quy mô nguồn lao động, cơ cấu nguồn lao động theo độ tuổi, giới tính, lãnh thổ Chất lượng nguồn lao động là trạng thái của nguồn lao động, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất của nguồn lao động như sức khoẻ, năng khiếu, kiến thức, phong cách, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn

Số lượng, chất lượng nguồn lao động xã hội trong từng thời kỳ có biến động và sự

biến động nguồn lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố: Quy mô và tốc độ tăng dân số,

Cơ cấu dân số theo độ tuổi (tháp tuổi), Quy định về độ tuổi lao động của từng quốc gia, Tỷ

lệ dân số trong độ tuổi lao động nhưng không tham gia vào hoạt động kinh tế Ngoài ra, còn

có các nhân tố ảnh hưởng khác đến nguồn lao động như tuổi thọ bình quân, thu nhập, điều kiện sống, phong tục tập quán, chiến tranh, dịch bệnh

Chất lượng nguồn lực lao động chịu ảnh hưởng tổng hợp bởi nhiều nhân tố: Các nhân

tố ảnh hưởng đến thể chất của nguồn lực lao động (gồm các nhân tố về di truyền, chăm sóc

y tế, các điều kiện về môi trường sống, mức sống vật chất và cơ cấu dinh dưỡng, ); các nhân tố ảnh hưởng đến trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp của lao động (giáo dục đào tạo, cơ chế chính sách, cơ chế quản lý kinh tế - xã hội); các nhân tố về cơ chế, chính sách;

các nhân tố tập quán, truyền thống, văn hóa của quốc gia; các nhân tố về nhu cầu việc làm của xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nguồn lực lao động

Mỗi bước phát triển của kinh tế, xã hội đều đòi hỏi sự tương xứng của chất lượng nguồn lao động Ngày nay việc phát triển kinh tế sẽ làm xuất hiện những ngành nghề mới, công nghệ mới, quản lý mới Đòi hỏi người lao động phải không ngừng tự hoàn thiện, phát triển để làm chủ quá trình phát triển kinh tế, xã hội

Vấn đề chất lượng nguồn lực lao động trong việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia là vấn đề cần phải được đặc biệt quan tâm, nó bao gồm sức khỏe, trình độ, kiến thức kỷ năng kinh nghiệm và thái độ tác phong của người lao động Ngày nay khi phát triển các bộ phận cấu thành nguồn lực phát triển KT, hầu hết các quốc gia đều khẳng định các nguồn lực chủ yếu là lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và KHCN nhưng cả lý luận

và thực tiễn đều khẳng định rằng nguồn lao động là nhân tố quyết định việc cải tạo, sử dụng,

Trang 10

phát triển các nguồn lực còn lại Không dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn lao động

về thể chất, trình độ VH, kỹ thuật, trình độ quản lý và lòng nhiệt tình…thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực trên Thậm chí thiếu 1 nguồn lực lao động chất lượng cao có thể làm lãng phí,cạn kiệt và hủy hoại các nguồn lực khác

Lao động là một bộ phận của các yếu tố “đầu vào” của quá trình phát triển KT Chi phí Lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của nguồn lực lao động trong hàng hóa, dịch vụ Như vậy, chi phí nguồn lực Lao động trở thành nhân tố cấu thành mức tăng trưởng, tham gia tạo cung của nền KT

Hơn nữa, là bộ phận của dân số, nguồn lao động đã tham gia tiêu dùng các sản phẩm

và dịch vụ XH Như vậy với tư cách là nguồn lực, lao động trực tiếp tham gia tạo cung của nền KT Với tư cách là bộ phận dân số thực hiện quá trình tiêu dùng, nguồn lao động trở thành nhân tố tạo cầu của nền KT Bên cạnh việc nhận thức vai trò của nguồn lực lao động với phát triển KT cần thấy rõ ảnh hưởng của trình độ phát triển KT đối với nguồn lao động Một quốc gia có năng suất Lao động cao, của cải nhiều, ngân sách dồi dào sẽ có những điều kiện về vật chất, tài chính để nâng cao mức dinh dưỡng, phát triển VH, GD, chăm sóc y tế… nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động Như vậy, mức phát triển của nền KT càng cao, vừa tạo điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn lao động, vừa bắt buộc nguồn lao động tự hoàn thiện mình Mỗi bước phát triển của nền KT sẽ tạo khả năng tốt hơn cho việc phát triển nguồn lao động, đồng thời cũng đòi hỏi mức độ cao hơn của nguồn lao động trong việc

tổ chức sử dụng các nguồn lực, tổ chức và vận hành nền KT

Ngày nay, kinh nghiệm phát triển của các quốc gia cho phép khẳng định vai trò quyết định của nhân tố nguồn lao động, nhân tố con người Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã khẳng định mục tiêu và động lực phát triển KT-XH là vì con người và do con người Sau 25 năm tiến hành đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực Việt Nam đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Về chất lượng, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia ở khu vực có tỷ lệ người lớn biết chữ và trẻ em trong độ tuổi đến trường khá cao; lực lượng lao động có trình

độ chuyên môn kỹ thuật ở nước ta từng bước tăng dần lên So với nhiều nước trong khu vực

và trên thế giới, người lao động Việt Nam nhìn chung có những phẩm chất vượt trội như:

thông minh, cần cù, chịu khó, sáng tạo, khả năng nắm bắt các kỹ năng lao động, đặc biệt là

kỹ năng sử dụng các công nghệ hiện đại tương đối nhanh Đây là lợi thế cạnh tranh quan

trọng của nguồn nhân lực nước nhà trong quá trình hội nhập và tham gia thị trường lao động quốc tế

Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực nước ta hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế Chất lượng nguồn lao động ở nước ta thấp kém trước hết là về mặt sức khỏe Vóc dáng con người Việt nam nhỏ bé là một hạn chế không nhỏ trong lao động Về mặt trí lực thì lao động nước ta vẫn không đảm bảo, mặc dù nhiều địa phương đã thực hiện xong chương trình phổ cập giáo dục cấp tiểu học cơ sở, trung học cơ sở v.v , nhưng thực tế chất lượng nền giáo dục ở nước ta còn đạt ở mức thấp

Một bộ phận khá lớn lao động nước ta chưa có việc làm hoặc có việc làm chưa thường xuyên và có nhiều người không làm đúng nghề mình đã được đào tạo, điều này đã làm hạn chế việc sử dụng nguồn lao động một cách tốt nhất

Cơ cấu lao động theo ngành và theo vùng chưa hợp lý, lực lượng lao động làm việc ở lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn lớn nhưng lại phân bố không đều giữa các vùng Việc quy hoạch, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực giữa các ngành, vùng và địa phương trong cả nước còn nhiều chồng chéo, thiếu các mục tiêu cụ thể… Điều đó dẫn đến tình trạng khá phổ biến hiện nay là vừa “thừa” vừa “thiếu” nhân lực trong các ngành, vùng, địa phương

Ngày đăng: 11/02/2015, 17:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w