1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu ôn thi Môn học Quan điểm, đường lối kinh tế chính trị LỚP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH

15 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 247,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Nghị Quyết Đại hội lần thức 11, Đảng ta cũng đã xác định: Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 - 2015 là phải ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ

Trang 1

Câu hỏi 1: Quan điểm, phương hướng và giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong thời gian đến:

1 Phần đặt vấn đề:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng và phát triển kinh tế, vừa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn nhất định vừa là yếu tố cực kì quan trọng thúc đẩy phát triển nền kinh tế xã hội quốc gia lên một trình độ mới Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện tại và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong một giai đoạn dài, cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch của nó cần phải được xem xét tổng quát để rút ra các ưu nhược điểm, phát hiện các điểm mạnh, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý hiệu quả của nhà nước nện kinh tế của nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ Nếu trước đây Nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và chiếm một tỷ lệ lao động vào nông nghiệp rất lớn, thì nay nền kinh tế của ta đã có sự phát triển đồng đều hơn, tỷ trọng Công nghiệp và Dịch vụ trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân đã chiếm một khối lượng đáng kể và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước

2 Phần nội dung của vấn đề:

2.1 Chuyển dịch cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Theo C.Mác, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất Mác đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành

Phân tích cơ cấu phải theo 2 phương diện:

Phương diện thứ nhất, mặt vật chất kĩ thuật của cơ cấu, bao gồm:

Cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế

Cơ cấu theo quy mô, trình độ kĩ thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế

Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế-xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất

Phương diện thứ hai, xét theo cơ cấu kinh tế về mặt kinh tế-xã hội, bao gồm:

Cơ cấu theo các thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên xã hội

Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá tiền tệ Nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các ngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất

2.2 Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta thời gian đến:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo sự ổn định tạo sự cân đối trong phát triển ngành, lĩnh vực, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác tốt tiềm năng kinh tế trong và ngoài nước, đảm bảo chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải phát huy sức mạnh của mọi thành phần kinh tế Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức

Trong Nghị Quyết Đại hội lần thức 11, Đảng ta cũng đã xác định: Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước

5 năm 2011 - 2015 là phải ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất

lượng, hiệu quả của nền kinh tế, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền

kinh tế; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Quyết định 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Các định hướng ưu tiên nhằm phát triển bền vững trong giai đoạn 2011-2020 cũng đã xã định: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, phát huy thế mạnh của từng vùng; phát triển sản xuất nông sản hàng hóa có chất lượng và hiệu quả; gắn sản xuất với thị trường trong nước và thị trường quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên (đất đai, nước, rừng, lao động và nguồn vốn); nâng cao thu nhập trên một đơn vị hecta đất canh tác, trên một ngày công lao động; cải thiện đời sống của nông dân; phát triển bền vững các làng nghề Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật

và công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học để tạo nhiều giống cây

Trang 2

trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạt năng suất, chất lượng cao Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư nghiệp trong từng vùng kinh tế và liên vùng theo hướng phát triển bền vững, gắn sản xuất với thị trường, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến

Phát triển nông thôn bền vững phải bao gồm 4 quá trình: công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đô thị hóa; kiểm soát dân số; bảo vệ môi trường sinh thái Chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn xét trên các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và dân chủ Quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nông thôn phải theo các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, giảm thiểu sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn về mức sống vật chất và tinh thần

- Phát triển bền vững các vùng và địa phương Tập trung ưu tiên phát triển trước các vùng kinh tế trọng điểm, có khả năng bứt phá và dẫn dắt sự phát triển, đồng thời chú ý tới việc hỗ trợ các vùng kém phát triển và có điều kiện khó khăn hơn, nhằm tạo ra một sự cân đối nhất định trong phát triển không gian, từng bước thu hẹp khoảng cách về xã hội và tiến tới giảm bớt sự chênh lệch về kinh tế giữa các vùng và địa phương Các vùng phát triển kinh tế trọng điểm sẽ đóng vai trò là đầu tàu, lôi kéo các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn hơn Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát triển, phát huy lợi thế của từng vùng, tạo sự liên kết giữa các vùng

2.3 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta thời gian đến:

Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải phát huy vai trò của ngành, lĩnh vực theo hướng phát triển bền vững, cụ thể:

- Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ Thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế, đảm bảo chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

- Phương hướng chuyển dich cơ cấu kinh tế ngành, lĩnh vực kinh tế:

+ Chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tạo bước chuyển mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh

tế nông thôn thúc đấy kinh tế nông nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển dịch mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và có hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh thâm canh cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, xây dựng vùng chuyên canh nông nghiệp và thủy sản quy mô lớn…

+ Chuyển dich cơ cấu kinh tế công nghiệp theo hướng hiện đại hóa trên cơ sơ phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế Phát huy các ngành công nghiệp mới có giá trị gia tăng cao, hạm lượng công nghệ cao, đủ sức hội nhập quốc tế trong phát triển công nghiệp

+ Chuyển dich cơ cấu ngành dịch vụ theo hướng hiện đại, nhằm đảm bảo phát triển dịch vụ truyền thống phục vụ sản xuất và đời sống vừa tạo mở những dịch vụ mới; có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, đảm bảo chủ động hội nhập quốc tế trong phát triển

2.4 Những giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta thời gian đến:

2.4.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam:

Có thể nói, trong hơn 25 năm đổi mới, hội nhập và phát triển, nhất là trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội 2001-2010, Đảng ta đã có bước đổi mới rõ nét về tư duy phát triển, đã sớm nhìn nhận vai trò của đổi mới cơ cấu kinh tế, thực hiện nhất quán chủ trương dịch chuyển cơ cấu kinh tế trên nguyên tắc phát huy tối đa các lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh quốc gia; tôn trọng các nguyên tắc thị trường và kiên định bảo đảm định hướng XHCN; coi đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế như một phương thức để tận dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó, những thành công của Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế là rất căn bản, đã trở thành nền tảng quan trọng, tạo thế

và lực mới cho đất nước để thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng trong giai đoạn tới

Tuy nhiên, cùng với thời gian, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhận thức rất sâu sắc các hạn chế, bất cập trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế Cụ thể là:

Thứ nhất, cơ cấu lại nền kinh tế chưa gắn liền với đổi mới mô hình tăng trưởng trong khi bản thân mô

hình tăng trưởng kinh tế lại thiên về chiều rộng, dựa nhiều vào việc tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng nhiều lao động ít kỹ năng, trong khi các nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu như: Đổi mới công nghệ, tổ chức quản lý, năng suất lao động… chưa được coi trọng đúng mức

Thứ hai, cơ cấu kinh tế vẫn còn bất hợp lý cả về ngành, vùng lãnh thổ và thành phần kinh tế; không gian

kinh tế xét trên tổng thể quốc gia còn chưa đạt tới sự kết nối, phối hợp, bổ sung lẫn nhau một cách có hiệu quả; môi trường kinh doanh chưa thật sự bình đẳng, tình trạng kém hiệu quả của khu vực doanh nghiệp Nhà nước còn tương đối phổ biến

Thứ ba, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chậm được hoàn thiện, thiếu tính đồng bộ và hiệu

quả chưa cao Các yếu tố của kinh tế thị trường chưa hình thành đầy đủ

Trang 3

Thị trường hàng hóa trong nước chưa được khai thác hiệu quả; thị trường lao động chưa linh hoạt; thị trường đất đai còn sơ khai; thị trường tài chính phát triển chưa cân đối, nhất là về thị trường vốn dài hạn; thị trường khoa học -công nghệ phát triển chưa cao

2.4.2 Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta thời gian đến:

Nhận thức được các hạn chế, bất cập trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, trong thời gian đến cần có những giải pháp sau:

Một là, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững

Hai là, điều tra nắm vững tiềm năng thế mạnh của từng ngành, từng lãnh thổ, từng thành phần kinh tế,

nhằm khai thác tốt nguồn nội lực phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Đồng thời dự báo xu thế phát triển của ngành kinh tế thế giới, dựa vào lợi thế trong nước tận dụng thời cơ, huy động nguồn lực bên ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng hiện đại, bền vững

Ba là, thực hiện tốt quy hoạch phát triển kinh tế ngành, kinh tế vùng và thành phần kinh tế Nghiêm chỉnh

triển khai thực hiện tốt quy hoạch đã vạch ra

Bốn là, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, chú trọng năng lực cạnh tranh quốc gia của từng

ngành, lĩnh vực; của từng loại hàng hóa – dịch vụ

Năm là, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào từng ngành nghề, sản phẩm.

Sáu là, tăng cường đầu tư tài chính và điều chỉnh cơ cấu đầu tư đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành, vùng lãnh thổ và thành phần kinh tế

Bảy là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, vùng lãnh thổ

và thành phần kinh tế

Tám là, tạo lập mối quan hệ giữa các thành ngành, thành phần, vùng kinh tế nhằm hỗ trợ tích cực cho

chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chín là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật, chính sách; kết hợp giữa nhà nước và thị trường trong việc hoạch

định, chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2 Phần kết thúc vấn đề:

Việt Nam đang đi vào thời kỳ CNH, HĐH đất nước trùng với thời điểm thế giới đang diễn ra những thay đổi lớn về chính trị và kinh tế Xu thế hòa bình và hợp tác để phát triển giữa các nước ngày càng trở thành một quy luật phổ biến trong quan hệ quốc tế hiện đại Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hóa và hợp tác giữa các quốc gia làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hóa ngày càng cao Những tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành tin học, đã dẫn tới hình thành những mạng lưới toàn cầu như “xa lộ thông tin”, “thương mại điện tử” Đặc điểm này đòi hỏi các nước đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa Chúng ta cũng nhận thức rõ hội nhập khu vực và quốc tế thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triển kinh tế, củng cố an ninh chính trị, giữ gìn bản sắc dân tộc Quá triệt đặc điểm này là yếu tố quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng và hiệu quả

Câu hỏi 2: Đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta Quan điểm, phương châm

và giải pháp để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế tốt ?

1 Phần đặt vấn đề:

Ngày nay quốc gia nào tách ra khỏi dòng thác của lịch sử là tự huỷ diệt mình Tất cả các quốc gia, dù lớn,

dù nhỏ, mạnh hay yếu đều tìm cách để hội nhập kinh tế quốc tế một cách hiệu quả nhất Việt Nam đã và đang bước vào nền kinh tế hội nhập với những lợi thế và thách thức, chúng ta hội nhập theo những quan điểm riêng của mình Do đó nắm vững các quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế là hết sức cần thiết…

2 Phần nội dung của vấn đề:

2.1 Đường lối, quan điểm chung của Đảng ta về đổi mới đất nước và phát triển kinh tế:

Để tìm hiểu quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế, trước tiên chúng ta phải nắm vững đường lối, quan điểm chung của Đảng ta về đổi mới đất nước và phát triển kinh tế Đặc biệt phải nắm vững quan điểm

về đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là:

Một là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá

các quan hệ quốc tế; Việt Nam muốn làm bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển

Hai là: Tiếp tục tạo môi trường hoà bình và điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế

-xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Ba là:

Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực theo nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào

Trang 4

công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe doạ vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình; chống mọi hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền

Kế thừa đường lối đối ngoại của 25 năm đổi mới, đường lối đối ngoại Đại hội XI(1-2010) có những bổ sung, phát triển phù hợp với tình hình mới

Về mục tiêu của đối ngoại, văn kiện Đại hội XI nêu: “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” Cùng với lợi ích quốc gia, dân tộc, Đại hội XI cũng khẳng định mục tiêu đối ngoại là “vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” Hai mục tiêu này thống nhất với nhau Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ sở để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh là phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc và là điều kiện để thực hiện các lợi ích đó Lần đầu tiên, mục tiêu đối ngoại “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” được nêu rõ trong phần đối ngoại của Cương lĩnh và Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng Việc nêu rõ lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu đối ngoại trong văn kiện Đại hội XI của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định rõ hơn định hướng: Đảng ta hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc, từ đó tái khẳng định sự thống nhất và hòa quyện giữa lợi ích của giai cấp và lợi ích của dân tộc Khẳng định lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu đối ngoại cũng có nghĩa là đặt lợi ích quốc gia, dân tộc là nguyên tắc cao nhất của các hoạt động đối ngoại Về hội nhập quốc tế, Đại hội XI chuyển từ chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác” được thông qua tại Đại hội

X thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Với chủ trương này, hội nhập quốc tế không còn bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra tất cả các lĩnh vực khác, kể cả chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa-xã hội

2.2 Quan điểm chỉ đạo hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta:

Một là: Hội nhập kinh tế quốc tế là do yêu cầu nội sinh, do yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,

công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

Hai là: Hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn liền với việc giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước.

Ở đây chúng ta cần hiểu rõ, cần có tư duy mới về kinh tế độc lập tự chủ Kinh tế độc lập tự chủ khác với kinh tế

tự cung tự cấp Độc lập tự chủ về kinh tế trong hội nhập là khẳng định mở cửa hội nhập để khai thác các mặt có lợi cho sự phát triển kinh tế của ta từ nền kinh tế thế giới Do đó muốn bảo đảm độc lập tự chủ phải mở cả về cơ cấu kinh tế và cả về cơ chế kinh tế, phải đa phương hoá không để cho một nước nào, một nền kinh tế nào, một tập đoàn nào giữ vị trí độc quyền, chi phối bất cứ một lĩnh vực, một sản phẩm thiết yếu nào của nền kinh tế chúng ta Phải tìm mọi cách tạo ra sự cạnh tranh giữa các đối tác và cũng đề phòng sự lợi dụng cạnh tranh của các tổ chức kinh tế quốc tế với chúng ta Muốn giữ được độc lập tự chủ trong hội nhập phải giữ vững ổn định kinh tế, đối phó kịp thời với những tác động bất lợi từ bên ngoài Bởi vậy cần xây dựng những sợi dây an toàn cho nền kinh tế quốc gia: chẳng hạn như xây dựng và thực hiện các mối quan hệ hợp lý trong tỷ lệ tích luỹ tối thiểu trong GDP, tỷ lệ vốn vay, tỷ lệ trả nợ hàng năm, tỷ lệ vay ngắn hạn và trung hạn, dài hạn, mức thâm hụt tối

đa trong cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế, tỷ lệ đầu tư trực tiếp của nước ngoài và đầu tư gián tiếp của nước ngoài qua cổ phiếu và trái phiếu, bảo đảm an toàn lương thực Muốn giữ vững độc lập tự chủ trong hội nhập còn phải ra sức nâng cao năng lực làm chủ khoa học kỹ thuật, phải nhanh chóng đào tạo đội ngũ các nhà kinh doanh giỏi và đội ngũ cán bộ hành chính thạo việc Và điều cốt lõi là phải phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho toàn dân, thực hiện công bằng, xã hội Đây chính là nền tảng vững chắc nhất bảo đảm cho chúng ta vừa hội nhập kinh tế quốc tế vừa giữ được quyền độc lập tự chủ

Ba là: Chúng ta chủ động hội nhập, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa

nguồn lực bên ngoài Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả Ở đây chúng ta cần nắm vững mối quan hệ biện chứng tuy hai nhưng là một của nội lực và ngoại lực Nội lực là chính, là quyết định Nhưng muốn phát huy tốt nội lực thì phải có sự tham gia của ngoại lực Ngoại lực tham gia càng nhiều, càng mạnh thì càng xuất hiện nhiều và nhanh các khả năng tối đa để phát huy “nội lực” Và ngược lại để tranh thủ được ngoại lực nhất thiết phải biết động viên tối đa nội lực

Bốn là: Chúng ta phải nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu thị trường, xây dựng đồng bộ thị trường trong

nước (thị trường hàng hoá, thị trường nhân lực, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản), để đủ sức hội nhập với khu vực và hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta và các đối tác

Năm là: Song song với việc xây dựng sự phát triển đồng bộ thị trường, chúng ta phải nhanh chóng xây

dựng các doanh nghiệp vững mạnh Doanh nghiệp là đội quân xung kích vô cùng quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế Doanh nghiệp được nói tới ở đây là bao gồm các doanh nghiệp, các công ty, tổng công ty của tất cả các thành phần kinh tế ở tất cả các lĩnh vực sản xuất hàng hoá thiết bị, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, tiếp thị và nhân lực

Sáu là: Chúng ta phải chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, tích cực tham gia đàm phán

thương mại, tham gia các diễn đàn, các tổ chức, các hiệp định định chế quốc tế một cách chọn lọc với những bước đi tỉnh táo và thích hợp

Trang 5

Về các nguyên tắc phải tuân thủ khi tiến hành các hoạt động đối ngoại, trên cơ sở khẳng định lại các nguyên tắc của đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ Đổi mới, Đại hội XI nêu: “Bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, “tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc”

2.3 Phương châm hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta:

Tại các Văn kiện của Đại hội khẳng định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế Điểm mới trong phương châm đối ngoại của Đại hội XI là “hội nhập quốc tế” và “thành viên có trách nhiệm”

Thực tiễn những năm qua cho thấy chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng qua các Đại hội VIII, IX,

X và XI đã thường xuyên được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam và thích ứng với tình hình quốc tế Chính vì vậy, quá trình thực hiện chính sách đối ngoại chủ động hội nhập quốc tế

từ năm 1996 đến nay đã đạt được những thành tựu quan trọng Nhờ đó, nước ta đã ra khỏi thế đối đầu thù địch,

mở rộng, phát triển quan hệ song phương và đa phương với khu vực và thế giới, chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế, thu hút được một khối lượng khá lớn vốn từ bên ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến; góp phần đưa đất nước có những bước phát triển mới; thế và lực của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên thương trường và chính trường quốc tế./

2.4 Giải pháp cơ bản để Việt Nam hội nhập KTQT đạt kết quả tốt:

- Thứ nhất, xây dựng chiến lược phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Mục tiêu của giải

pháp này là tăng cường sức mạnh của nền kinh tế Do đó, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

- Thứ hai, tổ chức lại doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Doanh nghiệp là chủ thể thực hiện hội nhập, là động lực hết sức quan trọng và then chốt Do đó, yêu cầu cấp bách là phải đẩy mạnh sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước Xây dựng những doanh nghiệp và ngành nghề mới có có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, đi đôi với sắp xếp, cải tạo các doanh nghiệp hiện có về kinh tế,

kỹ thuật

- Thứ ba, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường, kiện toàn hệ thống pháp luật.

- Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ.

- Thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với các hoạt động hội nhập kinh tế quốc

tế Đây là biện pháp có ý nghĩa quyết định đảm bảo hội nhập đúng hướng và thành công

Đồng thời phải tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, các ngành nhằm tạo sức mạnh tổng hợp đảm bảo thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc, mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế

3 Phần kết thúc vấn đề:

Trong một thế giới toàn cầu hóa, những tiến bộ của VN cần phải được đặt trong khung cảnh của một cuộc tranh đua,VN tiến trong khi các nước cũng tiến, riêng trong khu vực Đông Á, có thể các nước láng giềng còn đi nhanh hơn Vì vậy cần hiểu rõ những thách thức, khó khăn cũng như những lợi ích của việc hội nhập kinh tế để

có thể đưa ra những đường lối, biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của quá trình hội nhập

Câu hỏi 3 Tính tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Các giải pháp để phát triển kinh tế thị trường.

Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập trung bao cấp, mọi chức năng kinh tế xã hội của nền kinh tế đều được triển khai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp độ quốc gia Nhưng kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đến nay, theo đường lối đổi mới, chúng ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Điều đó có ý nghĩa to lớn được thể hiện qua những thành quả mà chúng ta đã đạt được như: kinh

tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Với những thành tựu đó cho phép chúng ta vững tin

về con đường đã lựa chọn để tiếp tục điều chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan niệm về XHCN ngày càng

cụ thể cả về đường lối, chủ trương, chính sách sao cho ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa học và cơ sở thực tiễn

Kinh tế thị trường như chúng ta đã biết, là một kiểu quan hệ kinh tế xã hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn chặt với quan hệ hàng hoá - tiền tệ, với quan hệ cung- cầu… Trong nền kinh tế thị trường, nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ hàng hoá: mọi hoạt động đều phải tính đến quan

hệ hàng hoá hay ít nhất cũng phải sử dụng quan hệ hàng hoá như là mắt xích trung gian

Kinh tế thị trường là nền kinh tế dựa trên sản xuất- trao đổi hàng hóa ở trình độ cao (chủ nghĩa tư bản) Cần lưu ý rằng sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường không phải là một Có nền kinh tế hàng hóa chưa phải là nền kinh tế thị trường, ví dụ sản xuất hàng hóa giản đơn Và cũng không phải cứ có quan hệ hàng hóa - tiền tệ là

Trang 6

có kinh tế thị trường: trước chủ nghĩa tư bản đã có quan hệ tiền tệ Hay như Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây, Việt Nam trước đổi mới, Trung Quốc trước cải cách mở cửa tuy có quan hệ tiền- hàng, nhưng không phải kinh tế thị trường Nhưng đã là kinh tế thị trường thì có quan hệ hàng hóa- tiền tệ Kinh tế thị trường có mục đích

là ''lợi nhuận" đôi khi bất chấp thủ đoạn để đạt mục đích Kinh tế thị trường có mặt tốt là làm tăng năng suất lao động, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh

Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường (đó là các qui luật như: qui luật giá trị qui luật giá trị thặng dư, có tranh theo kiểu ''cá lớn nuốt cá bé''), thương trường là chiến trường nên có thua người thắng, có người phất lên nhanh chóng và cũng có người khánh kiệt, bần cùng

Còn nội hàm của định hướng xã hội chủ nghĩa có những dấu hiệu như hợp tác, nhân đạo; lợi nhuận chỉ là

phương tiện để đạt được mục đích vì loài người Nền sản xuất theo định hướng XHCN cần phải:

- Khuyến khích làm giàu chính đáng đồng thời tích cực xóa đói, giảm nghèo (vì nghèo thì không phải chủ nghĩa xã hội);

- Phát triển kinh tế song song với thực hiện các chính sách, phúc lợi xã hội, bảo đảm công bằng và an sinh xã hội, chú trọng phát triển nông thôn, vùng sâu, vùng xa, làm cho khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng gần lại;

- Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo có một trong những chức năng là điều tiết định hướng nền kinh tế: chủ yếu tầm vĩ mô, ví dụ như ở các lĩnh vực tiền tệ, tài chính, ngân hàng, các nguồn lực

Định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là quá trình phát triển phải nhắm tới một đích (dù xa và cho dù thời gian khá dài) là xã hội xã hội chủ nghĩa, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa Chính theo nghĩa này của ''định hướng xã hội chủ nghĩa'', nhà hoạt động chính trị Khả Tri Chính, ủy viên Trung ương Đảng cộng sản Nhật Bản nói: ''con đường thông qua kinh tế thị trường đi tới chủ nghĩa xã hội là có tính phổ biến trong phạm vi toàn thế giới'' Về vấn đề này, và theo nghĩa này của định hướng xã hội chủ nghĩa, Văn kiện

đại hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam có ghi rõ: ''Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là

xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc''.

Xung quanh khái niệm ''kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa'' có không ít quan điểm hoài nghi Những quan điểm còn hoài nghi đó cho rằng không thể gắn kinh tế thị trường vào với chủ nghĩa xã hội, vì kinh

tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội không có kinh tế thị trường Tuy nhiên quan điểm đó đã ngộ nhận là đã đồng nhất hai khái niệm khác nhau: ''định hướng xã hội chủ nghĩa'' và ''xã hội chủ nghĩa'' Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì, chủ nghĩa xã hội-giai đoạn đầu của hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa khi được xây dựng xong thì cơ sở kinh tế của nó chỉ còn hai hình thức sở hữu: toàn dân và tập thể, do vậy không còn kinh tế thị trường theo đúng nghĩa của nó, tuy vẫn còn hai hình thức sở hữu khác nhau: nhà nước và tập thể

và do đó còn cần trao đổi trên cơ sở tính toán giá trị “định hướng xã hội chủ nghĩa” là quá trình hướng tới những tiêu chí của chủ nghĩa xã hội chứ bản thân nó chưa phải chủ nghĩa xã hội, mà đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

Trước Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, do mắc sai lầm chủ quan duy ý chí, muốn có ngay chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã vi phạm qui luật khách quan là qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã rập khuôn theo mô hình Liên

Xô (một nước đi lên chủ nghĩa xã hội với một xuất phát điểm cao hơn nước ta rất nhiều), thủ tiêu kinh tế thị trường với nền kinh tế đóng kín – chỉ quan hệ trong phe xã hội chủ nghĩa Kết quả là: kinh tế suy thoái nghiêm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh một dấu mốc lớn trong nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đó thực sự là một Đại hội ĐỔI MỚI Tại Đại hội này Đảng ta đã xác định kinh tế thị trường là thành tựu của văn minh nhân loại mà chúng

ta cần sử dụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội: ''Trong nhận thức cũng như trong hành động chúng ta chưa thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta đang tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và

sử dụng đúng qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất'' Tuy nhiên, từ Đại hội VI đến Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm ''kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa'' vẫn chưa được sử dụng Chỉ đến Đại hội IX, Đảng ta mới lựa chọn mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa: ''Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển hàng hóa nhiều thành phần nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội''3 Và cũng chính tại Đại hội IX, Đảng cũng nhấn mạnh mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là: ''phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối''4 Tại sao chúng ta cần kinh tế thị trường? Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta phải sử dụng kinh tế thị trường là vì nước ta đi lên chủ

nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng nền sản xuất xã hội của chủ nghĩa tư bản mà trong đó kinh

Trang 7

tế thị trường là nền tảng thì phải sử dụng để phát triển lực lượng sản xuất, làm tăng sự giàu có cho xã hội, mà chủ nghĩa xã hội đích thực phải là một xã hội giàu có và ở trình độ cao hơn chủ nghĩa tư bản

Thành tựu của hơn 20 năm đổi mới vừa qua ở nước ta đã có tác dụng làm cho chúng ta quen dần với các quan hệ hàng hoá Hàm lượng kinh tế trong các hoạt động xã hội ngày càng được chú ý Thế nên trong bước chuyển sang cơ chế thị trường này đương nhiên chúng ta không tránh khỏi những sai lầm, , nhưng dẫu sao nó cũng nói lên sức sống và khả năng tác động của quan hệ thị trường đối với đời sống kinh tế - xã hội Về thực chất của bước nhảy này, một số nhà nghiên cứu cho rằng: ở Việt Nam dù nền kinh tế thị trường chỉ mới vừa được hình thành, còn đang trong những bước chập chững ban đầu và được Nhà nước điều tiết một cách có ý thức theo định hướng XHCN, song cũng đã tác động khá rõ đến mọi mặt của đời sống xã hội và để lại ở đó những dấu ấn của mình…

Trên thực tế, các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam, trong tiến trình phát triển của mình, đều gặp phải những khó khăn trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là sự thách thức đối với bất kỳ nền kinh

tế nào Đây cũng là một tất yếu, cho nên chúng ta phải chấp nhận những mặt trái của kinh tế thị trường Vấn đề

là để từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền sản xuất xã hội, chúng ta phải có chính sách và biện pháp cho phù hợp với từng lĩnh vực như giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, hay lĩnh vực bảo vệ môi trường, đặc biệt là các vấn đề xã hội đang nổi cộm hiện nay như phân hoá giàu nghèo, gia tăng tệ nạn xã hội, vấn đề xuống cấp về đạo đức…Tuy nhiên, đây cũng là bài toán khó, không thể được giải quyết ngay trong một sớm một chiều

Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc chúng ta bước đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, một phương thức, trên thực tế đã đem lại những kết quả tích cực cả về phương diện thực tiễn và cả về phương diện nhận thức Một hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng ta là sản xuất hàng hoá cùng với “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường”, đã được hiểu là không đối lập với CNXH Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại “một cơ hội để các cộng đồng mở cửa tiếp xúc với bên ngoài”, kinh tế thị trường rõ ràng là cái khách quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta

Tuy nhiên nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, thì chúng ta hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã hội Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát triển xã hội, nó có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội Nhưng tăng trưởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội Do vậy, trong quan niệm của Đảng ta, để thực hiện sự nghiệp xây dựng CNXH với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì kinh tế nhất thiết phải có

sự quản lý chặt chẽ của nhà nước theo định hướng XHCN

Các giải pháp:

- Thực trạng: Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kém phát triển mang nặng

tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường Đây thể hiện thực trạng nền kinh tế yếu kém của nước ta khi chuyển sang kinh tế thị trường Điều đó được biểu hiện :

+ Cơ sở vật chất, kĩ thuật còn ở trình độ thấp bên cạnh một số lĩnh vực, một số cơ sở kinh tế đã được trang bị kĩ thuật và công nghệ hiện đại thì vẫn còn nhiều ngành kinh tế máy móc cũ kĩ, công nghệ lạc hậu, lao động thủ công vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội Do đó, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất của nước ta còn thấp so với khu vực và thế giới

+ Kết cấu hạ tầng đường giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc… vẫn còn lạc hậu, chưa phát triển dẫn đến sự giao lưu giữa các vùng , các dịa phương bị chia cắt, tách biệt nhau nên không thể khai thác hết được tiềm năng, thế mạnh của các vùng, các địa phương

+ Do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao động kém phát triển, chuyển dịch

cơ cấu chậm Nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn lực lượng lao động, khoảng 70%, nhưng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP, các ngành công nghệ cao chiếm tỉ trọng thấp

+ Kả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp còn yếu ở thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài Do cơ sở vật chất, kĩ thuật và công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp Do đó, khối lượng hàng hoá nhỏ

bé, chủng loại hàng hoá chưa nhiều, chất lượng hàng hoá chưa cao, giá cả cao, vì thế khả năng cạnh tranh yếu

- Giải pháp:

+ Thực hiện nhất quán lâu dài, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

+ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

+ Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường: thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường tài chính, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ

+ Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước

+ Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 8

Câu hỏi 4: Nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc?

Đảng ta đã khẳng định nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền văn hoá yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là nền văn hoá mang tính dân chủ và nhân văn sâu sắc, tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đồng thời, đây cũng là nền văn hoá hiện đại, hiện đại về nội dung, hình thức thể hiện cũng như hiện đại về cơ sở vật chất kỹ thuật để chuyển tải nội dung Tính chất tiên tiến phải thống nhất hữu cơ với tính chất dân tộc Bản sắc văn hoá dân tộc là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của nền văn hoá, thống nhất giữa trình độ tư duy, cách cảm nhận, cách suy nghĩ, triết lý sống, ý chí và bản lĩnh, cốt cách, nhân cách, phẩm chất của nền văn hoá với hình thức biểu hiện bên ngoài của nó

Bản sắc văn hóa dân tộc không phải nhất thành bất biến mà nó mang tính lịch sử - cụ thể, luôn luôn tự đổi mới trên cơ sở loại bỏ những yếu tố tiêu cực và lạc hậu, sáng tạo và xây dựng các giá trị văn hóa mới thích ứng với yêu cầu biến đổi của thời đại Vì vậy, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc phải gắn liền với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc phải đi liền với việc chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục tập quán, lề thói cũ

Để xây dựng thành công nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta đã chỉ ra mười nhiệm vụ

cụ thể như sau:

Nhiệm vụ thứ nhất: Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.

Xây dựng con người Việt Nam hiện đại đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa hiện nay Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Xây dựng con người và các thế hệ gắn bó với sự nghiệp cách mạng là một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực của từng cá nhân, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, gắn liền với các thiết chế

và thể chế văn hóa của đất nước Vì vậy, cần phải huy động sức mạnh tổng hợp và toàn diện của các nguồn lực văn hóa để giáo dục và xây dựng con người, bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, tạo điều kiện và

cơ hội cho con người phát triển toàn diện và cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển đất nước

Nhiệm vụ thứ hai: Xây dựng môi trường văn hóa.

Môi trường văn hóa là môi trường chứa những giá trị văn hóa và những quan hệ văn hóa của con người từ quá khứ đến hiện tại và hướng tới tương lai Môi trường văn hóa là nơi đồng thời diễn ra các hoạt động văn hóa

từ hoạt động sáng tạo, sản xuất, bảo quản, lưu giữ, truyền bá, thưởng thức và đánh giá các giá trị văn hóa Môi trường văn hóa được hiện diện bằng sự tồn tại của các giá trị văn hóa vật thể, các giá trị văn hóa phi vật thể, các hoạt động văn hóa cá nhân và cộng đồng trong những mối quan hệ đa dạng và sinh động, từ hành vi của cá nhân tới gia đình, họ hàng, làng xóm và cộng đồng xã hội cùng với sự ứng xử của họ với quá khứ, hiện tại và tương lai, với con người và tự nhiên

Môi trường văn hóa chính là hệ sinh thái văn hóa, nuôi dưỡng đời sống tinh thần của xã hội Xây dựng môi trường văn hóa góp phần ổn định chính trị - xã hội, tạo bầu không khí tinh thần lành mạnh làm tiền đề để xây dựng con người, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh Đảng ta đã nhấn mạnh: "Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể,

cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội ), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi ) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hoá trọng điểm tầm quốc gia Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hóa, nghệ thuật"9 Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa; xây dựng trường học, cơ quan, đơn vị văn hóa; xây dựng làng bản, khối phố văn hóa là những nội dung quan trọng để xây dựng môi trường văn hóa ở cơ sở

Nhiệm vụ thứ ba: Phát triển sự nghiệp văn học và nghệ thuật.

Văn học, nghệ thuật là bộ phận tinh tế và nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng vươn tới các giá trị Chân - Thiện - Mỹ của nhân dân Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp văn học, nghệ thuật là sáng tạo những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ sâu sắc, có ý nghĩa giáo dục, bồi dưỡng tinh thần, tình cảm, nhân cách và bản lĩnh cho các thế hệ công dân hiện nay Khuyến khích các tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, phong cách sáng tạo, đáp ứng mọi nhu cầu tinh thần lành mạnh

Trang 9

của nhân dân Nâng cao trách nhiệm của đội ngũ nghệ sĩ trước nhân dân, dân tộc và thời đại Đồng thời bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính Đấu tranh chống lại các khuynh hướng sáng tác trái với đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ nghệ thuật cho nhân dân, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên, nhi đồng Khuyến khích các hoạt động văn nghệ quần chúng, tạo điều kiện để nhân dân tham gia sáng tạo, hưởng thụ các giá trị nghệ thuật cao của dân tộc và nhân loại

Nhiệm vụ thứ tư: Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa.

Di sản văn hóa là tài sản, của cải quý báu kết tinh sự sáng tạo lâu dài của dân tộc do lịch sử để lại, bao gồm các di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa còn là cơ sở để liên kết cộng đồng,

là nền tảng để sáng tạo các giá trị văn hóa mới, là tiền đề để mở rộng giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trên thế giới Di sản văn hóa không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của nhân dân, góp phần khẳng định niềm tự hào dân tộc, mà còn là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng qua hệ thống di sản văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay Vì vậy, đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ và phát huy vai trò của di sản văn hóa dân tộc là công việc vừa cơ bản, vừa cấp bách, cần phải được tiến hành nghiêm túc, kiên trì và thận trọng

Nhiệm vụ thứ năm: Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực, nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo dục và đào tạo Giáo dục và đào tạo cần tập trung bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tinh thần tự hào dân tộc, có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng khoan dung, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm với hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà quản lý và kinh doanh giỏi Có chính sách tốt trong việc sử dụng nhân lực và nhân tài để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa

Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ cũng được coi là chìa khoá cho sự phát triển Do

đó, cần tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước Phát huy vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong việc tổng kết thực tiễn và đi sâu nghiên cứu những vấn đề lớn của đất nước, khu vực và toàn cầu, giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phát huy nhân tố con người và văn hóa Việt Nam Khoa học tự nhiên chú trọng việc nghiên cứu thực tiễn, nghiên cứu cơ sở khoa học của việc phát triển công nghệ trọng điểm, khai thác tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, dự báo phòng tránh thiên tai Khoa học và công nghệ tập trung nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng Coi trọng việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá vào trong sản xuất và dịch vụ Mở rộng giao lưu và hợp tác khoa học giữa các địa phương, các ngành trong nước và quốc tế Các địa phương, các ngành cần chú trọng xây dựng các luận cứ khoa học cho các dự án, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, có cơ chế để phát huy vai trò dân chủ của nhân dân tham gia đóng góp vào các chương trình, dự án này Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn người lao động sử dụng đúng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, tránh tình trạng lạm dụng hoặc thiếu hiểu biết khi sử dụng những thành tựu này (thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường và gây độc hại cho người tiêu dùng)

Nhiệm vụ thứ sáu: Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng.

Các phương tiện thông tin đại chúng bao gồm sách, báo, tạp chí, các đài phát thanh và truyền hình ở Trung ương và địa phương…, đóng vai trò to lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội tới nhân dân và phản ánh nguyện vọng của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, góp phần to lớn vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc Bên cạnh phát triển chiến lược truyền thông quốc gia, các địa phương, các ngành, các cấp ở

cơ sở cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, tạo điều kiện để phát triển mạnh mạng lưới thông tin văn hóa ở cơ sở Phấn đấu đến năm 2010, hoàn thành cơ bản việc phổ cập các phương tiện phát thanh, truyền hình đến mỗi gia đình Phát triển các điểm văn hóa kết hợp với hệ thống bưu cục khắp các xã trên phạm vi cả nước Dùng tiếng nói dân tộc và chữ viết của các dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng ở vùng đồng bào dân tộc Sớm phát hiện và xử lý kiên quyết đối với việc tuyên truyền các thông tin phản động và phản văn hóa

Nhiệm vụ thứ bảy: Bảo tồn và phát huy, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số.

Trang 10

Nước ta gồm có 54 dân tộc anh em từng đoàn kết, gắn bó với nhau trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Những thành tựu văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng và phong phú trong sự thống nhất; bổ sung và hỗ trợ, tạo điều kiện để mỗi dân tộc phát triển bình đẳng trong cộng đồng quốc gia Việt Nam Vì vậy, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc không thể không chú ý tới nhiệm vụ hết sức quan trọng là bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa độc hại”

Cần nâng cao trình độ dân trí, trình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chú trọng xây dựng đội ngũ trí thức và những nhà quản lý người dân tộc, khuyến khích họ công tác tại địa phương mình Tăng cường công tác điều tra, sưu tầm, tôn tạo, bảo vệ và phát huy các công trình văn hóa mới, xây dựng lối sống, tác phong, phong tục và tập quán mới phục vụ yêu cầu phát triển hiện nay, mở rộng hợp tác giao lưu, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc để cùng tiến bộ

Nhiệm vụ thứ tám: Chính sách văn hóa đối với tôn giáo.

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và đang tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng

và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật

và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng, có giá trị định hướng để đoàn kết, gắn bó các tôn giáo vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ở những vùng đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, có những đặc điểm văn hóa khác nhau, cần nêu cao tinh thần công bằng, bác ái, hướng thiện của các tôn giáo vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống tốt đẹp của cộng đồng Đồng thời chăm lo phát triển kinh tế và văn hóa, nâng cao trình độ dân trí, trình độ khoa học-công nghệ, hỗ trợ đồng bào xóa đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa Nâng cao tinh thần trách nhiệm của đồng bào theo các tôn giáo khác nhau với nhân dân, với Tổ quốc và với

sự nghiệp đổi mới hiện nay Kiên quyết đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự nghiệp đổi mới

Nhiệm vụ thứ chín: Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa.

Giao lưu, hợp tác quốc tế là một yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Để thực hiện nhiệm vụ này, công tác quản lý nhà nước về văn hóa cần chú trọng các nội dung chính sau:

- Làm tốt việc giới thiệu văn hoá đất nước và con người Việt Nam với thế giới, để nhân dân thế giới hiểu biết, chia sẻ, đồng cảm và ủng hộ nhiều hơn nữa sự nghiệp đổi mới của Việt Nam

- Tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học tiến bộ của nước ngoài; phổ biến những kinh nghiệm tốt về xây dựng và phát triển văn hoá của các nước trên thế giới

- Chú trọng giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn và bảo vệ văn hóa dân tộc, hiểu biết hơn về đất nước và sự nghiệp đổi mới, tạo điều kiện để họ tham gia vào xây dựng, phát triển văn hóa dân tộc

Mở rộng giao lưu văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại phải gắn liền với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển văn hóa Việt Nam lên tầm cao mới để góp phần đóng góp cho nền văn hóa nhân loại Đồng thời phải nâng cao cảnh giác, chống xu hướng “lai căng” và sự xâm nhập các loại sản phẩm phản văn hóa, đồi trụy, phản động vào đời sống tinh thần của nhân dân

Nhiệm vụ thứ mười: Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá.

Thể chế văn hoá là hệ thống các quy định về quản lý, xây dựng và phát triển văn hoá, bao gồm:

- Hệ thống tổ chức, bộ máy cán bộ trên lĩnh vực văn hoá

- Cơ chế hoạt động và phối hợp của các tổ chức văn hoá

- Hệ thống chính sách văn hoá

- Hệ thống các thiết chế văn hoá từ Trung ương đến cơ sở xã, phường

Cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý có hiệu quả của cơ quan nhà nước ở các cấp, phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội và của nhân dân trong việc xây dựng đời sống văn hóa Ở cấp cơ sở, nhiệm vụ củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá cần tập trung giải quyết một số nội dung sau:

- Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các thiết chế hiện có

- Thực hiện chủ trương "Nhà nước và nhân dân cùng làm" và xã hội hóa các hoạt động văn hoá

- Xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa ở cơ sở như nhà văn hóa, thư viện, trạm phát thanh, truyền hình, trạm bưu điện văn hóa, sân chơi, sân thể thao, trung tâm văn hóa giải trí cho thanh, thiếu niên

Ngày đăng: 29/03/2015, 12:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w