1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tài liệu ôn thi môn Quan hệ quốc tế có đáp án

32 2,7K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 251,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu ôn thi môn Quan hệ quốc tế có đáp án Câu 1. Hãy phân tích và chứng minh: Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng XHCN tháng Mười Nga năm 1917. Câu 2. Hãy phân tích nội dung sau đây trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản VN: Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh CNHHĐH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới (Đảng CSVN: Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị QG Hà Nội 2011)....

Trang 1

Câu 1 Hãy phân tích và chứng minh: Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng XHCN tháng Mười Nga năm 1917.

Trước những diễn biến vô cùng phức tạp của thế giới sau sự sụp đổ của chế độXHCN ở Đông Âu và Liên Xô, vấn đề thời đại vẫn tiếp tục trở thành một trong nhữngtiêu điểm nóng bỏng, gay gắt của cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận ở đây đó đã xuất hiệnquan điểm cho rằng không cần xác định thời đại ngày nay vì CNXH trên toàn thế giớicòn xa vời, khẳng định thời đại lúc này không giúp ích gì, trái lại dễ gây ảo tưởng chủquan, phi thực tế trong hành động (!) Thậm chí, có quan điểm còn phủ nhận thời đạingày nay là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH mở đầu bằng cách mạng tháng MườiNga viện lẽ CNXH thực tế đã sụp đổ và sụp đổ ngay tại Liên Xô - quê hương cách mạngtháng Mười Đây là những quan điểm mơ hồ, sai trái về chính trị Sự nghiệp cách mạng

và con đường đi lên của các dân tộc sẽ không thể giành thắng lợi nếu thiếu tầm nhìn xatrông rộng và không được đặt vào đúng quỹ đạo thời đại Cho nên, hơn bất kỳ khi nào,việc xác định đúng nội dung, tính chất, những đặc điểm chủ yếu và các mâu thuẫn cơ bảntrong giai đoạn hiện nay của thời đại, trên cơ sở nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạoquan điểm, phương pháp tiếp cận macxit về thời đại, càng trở nên có ý nghĩa cấp bách xéttrên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn đối với tất cả các đảng cộng sản (ĐCS) vàcông nhân, đặc biệt đối với các ĐCS cầm quyền như Đảng ta

Trong trường sử tiến hoá, cho đến nay, nhân loại đã từng trải qua những thời kỳphát triển khác nhau Giới học giả thuộc các ngành triết học, sử học, xã hội học, tương laihọc,…đã sử dụng khái niệm thời đại để phân kỳ sự phát triển lịch sử Tuy nhiên, dophương pháp tiếp cận, lợi ích giai cấp, tiêu chí xác định hoặc góc độ nhìn nhận khônggiống nhau, nên đã từng xuất hiện cách phân chia thời đại khác nhau, hàm chứa nhữngquan niệm phong phú về phạm trù thời đại

Chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét một cách khoa học vấn đề thời đại trên cơ sởphương pháp luận duy vật biện chứng và học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội Cácnhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học chỉ rõ rằng loài người tiến lên theo quyluật của sản xuất vật chất, thực chất vận động lịch sử, xét cho cùng, chính là sự pháttriển không ngừng của nền sản xuất vật chất xã hội, trong đó lực lượng sản xuất trởthành yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định Đương nhiên, tương ứng với trình độ củalực lượng sản xuất ở mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể luôn xác lập các quan hệ sản xuấtnhất định, chi phối và quyết định mọi quan hệ xã hội Phép biện chứng của lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất là động lực cơ bản của sự vận động lịch sử, là nguồngốc sâu xa của các cuộc cách mạng xã hội đưa đến sự chuyển biến từ hình thái kinh

tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn N hìn nhận tiến trình của xãhội loài người như một dòng chảy lịch sử - tự nhiên của sự phủ định biện chứng giữa cáchình thái kinh tế - xã hội, C Mác và Ph Ăngghen xác định mỗi hình thái kinh tế - xã hội,với quá trình phát sinh, phát triển và bị thay thế của nó, đánh dấu một thời đại lịch sử Ph.Ăngghen từng nhấn mạnh: “Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sảnxuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đãcấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệcủa thời đại, cái cơ sở mà chỉ xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử "(1)

(1) C Mác, Ph Ănghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, T 21, tr 523.

1

Trang 2

Quan niệm thời đại của các nhà kinh điển mácxít được hiểu theo nghĩa rộng baohàm quá trình kéo dài hàng nhiều thế kỷ của các hình thái kinh tế - xã hội Theo đó, nhânloại đã, đang và sẽ trải qua 5 thời đại lịch sử là: thời đại nguyên thuỷ, thời đại chiếm hữu

nô lệ, thời đại phong kiến, thời đại tư bản chủ nghĩa và thời đại của chủ nghĩa cộng sản

Kế thừa và phát triển lý luận mácxít về thời đại, V.I Lênin quy về hiểu theo nghĩa hẹp,chia mỗi thời đại lớn theo cách phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội của Mác và Ăngghenthành nhiều thời đại nhỏ, tương ứng với từng giai đoạn lịch sử nhất định Tuy nằm trongmột hình thái kinh tế - xã hội, các thời đại nhỏ có sự khác nhau về đặc điểm, động lực, tínhchất, nội dung và phương hướng vận động

Việc xây dựng nhận thức về thời đại trên nền tảng học thuyết mácxít về các hìnhthái kinh tế - xã hội và với quan niệm của V.I Lênin về thời đại là một cách tiếp cận chânxác và khoa học Với tính cách một khái niệm triết học, thời đại là một phạm trù cơ bảncủa chủ nghĩa duy vật lịch sử Với tính cách một phạm trù lịch sử, thời đại là một giaiđoạn lịch sử được phân biệt với các giai đoạn lịch sử khác bởi đặc điểm bối cảnh, mâuthuẫn, động lực, nội dung, tính chất và phương hướng vận động cơ bản Cách tiếp cậnmácxít về thời đại cũng vạch rõ một trong những tiêu chí cơ bản hàng đầu để nhận biếtmột thời đại cụ thể là xác định giai cấp nào đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử, có vai tròchủ yếu quyết định lôgíc vận động của xã hội loài người và mâu thuẫn giữa giai cấp đóvới giai cấp đối kháng với nó tạo thành động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận động của thờiđại

Dựa trên quan niệm mácxít về thời đại, hoàn toàn có thể khẳng định: Cáchmạng XHCN Tháng Mười Nga nổ ra thắng lợi ngày 7/11/1917 đã đánh dấu bước đột phá

vĩ đại mở đầu thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH Lênin từng chỉ rõ:

“Chúng ta có quyền tự hào và quả thật chúng ta tự hào là đã có cái hân hạnh được bắt đầuxây dựng nhà nước Xô-viết và do đó mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thờiđại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ởkhắp nơi đều đang tiến tới một cuộc đổi mới, tới chỗ chiến thắng giai cấp tư sản, tới chỗthành lập chuyên chính vô sản, tới chỗ giải phóng khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiếntranh đế quốc chủ nghĩa” Với tầm vóc lịch sử lớn lao đó, cách mạng Tháng Mười khôngchỉ làm đảo lộn sâu sắc bức tranh toàn cảnh nền chính trị thế giới đương đại, mà còn đặtnền móng hiện thực cho xu hướng đi lên CNXH như một tất yếu khách quan, không thể

bị đảo ngược Hơn 9 thập niên đã trôi qua, mặc dù thế giới luôn vận động thăng trầmphức tạp; song lý tưởng và con đường Cách mạng Tháng Mười vẫn ngời sáng, địnhhướng cuộc đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của các dân tộc vìnhững mục tiêu mang tính thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã phá tan mắt khâu yếu nhất của hệ thống

đế quốc thế giới, mở đầu thời đại mới với sự xác lập của hình thái kinh tế - xã hội xã hộchủ nghĩa như cấu thành vật chất cơ bản Từ sau Cách mạng Tháng Mười, CNXH đượcxây dựng, củng cố ở nước Nga và Liên Xô; sau đó được mở rộng thành hệ thống thế giới.Đồng thời, Cách mạng Tháng Mười lan toả ảnh hưởng sâu rộng đến các dân tộc thuộcđịa, thức tỉnh và tiếp thêm sức mạnh cho họ trong cuộc đấu tranh vì nền độc lập dân tộc.Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc từ sau chiến tranh thế giới thứ hai liên tiếp giànhthắng lợi, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa - một vết nhơ của văn minh nhân loại, vốn tồntại gần nửa thiên niên kỷ; khai sinh một thực thể quốc tế mới, bao gồm hơn một trămquốc gia đang phát triển mới giành được độc lập dân tộc Phong trào đấu tranh vì hòa

2

Trang 3

bình, dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội cũng được đẩy mạnh trên toàn thế giới Trướcsức tiến công của các lực lượng cách mạng này vào CNTB, sự quá độ lên CNXH của thờiđại ngày nay được kiểm chứng về mặt lịch sử như những bước vận động hiện thực

Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc liên tục bị tấn công từ nhiều phía, phải chịunhiều thất bại nặng nề và đã hơn một lần lâm vào khủng hoảng sâu sắc Dù có điều chỉnhmạnh mẽ không chỉ cơ cấu sản xuất, cơ chế bóc lột và công nghệ thống trị như thế nào,song CNTB cũng không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn gay gắt vốn có trong lòng

nó mà trước hết là mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, giữa tính chất xã hội hoá ngàycàng phát triển cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếmhữu tư nhân TBCN về những tư liệu sản xuất chủ yếu Bởi vậy, ngay cả khi chế độXHCN ở Đông Âu và Liên Xô không còn nữa, thì từ trong lòng các nước tư bản, hàngloạt học giả liên tiếp đưa ra các luận cứ, sự kiện gián tiếp phủ định CNTB, bằng cách dựbáo sẽ có “sự chia tay đau đớn” với CNTB để tiến sang một xã hội mới của “làn sóng thứba”, hoặc “hậu tư bản” Thực tiễn thế giới “sau Liên Xô” đã không hề vận động theođường hướng như F Fykuyma trông đợi về một thắng lợi hoàn toàn và vĩnh viễn củaCNTB đối với CNXH “Sự kết thúc của lịch sử” đã không diễn ra ở CNTB trong tư cáchmột xã hội đạt tới “tột đỉnh” của văn minh loài người CNTB vẫn ra sức duy trì sự tồn tạicủa mình trước tình thế đã thực sự ngày càng chín muồi các tiền đề đòi hỏi phải thay thế

nó, theo quy luật lịch sử, bằng một chế độ xã hội mới công bằng và nhân đạo là CNXH.Những rung chuyển và chuyển động mang tầm vóc thời đại hơn 9 thập niên sau Cáchmạng tháng Mười vừa là những tiền đề, vừa là những bước vận động thực tế của lịch sửhướng tới tương lai của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

Thời đại quá độ lên CNXH được mở ra từ Cách mạng tháng Mười là thời đại củagiai cấp công nhân và với giai cấp công nhân đứng ở vị trí trung tâm của sự vận độnglịch sử, theo quan điểm Leenin, mới chỉ "mở đầu", hoặc đang "tiến tới” Tính chất quá

độ này của thời đại mới được Lênin lĩnh hội và quán triệt ngày càng sâu sắc trong lãnhđạo cách mạng XHCN ở nước Nga và trên thế giới Thời đại là cả một thời gian lịch sửdài hàng trăm năm Với CNTB đã là vậy, với CNXH càng như vậy Tiến trình cáchmạng đi lên xây dựng thành công CNXH - một sự nghiệp vĩ đại, chưa từng có tiền lệ -với mục tiêu thủ tiêu chế độ người bóc lột người, sự bất bình đẳng xã hội, tiến tới giảiphóng giai cấp, giải phóng nhân loại thì tất yếu sẽ không chỉ có thuận lợi, mà còn xuấthiện những thời kỳ khó khăn, trắc trở, thoái trào Lênin từng viết: “Sự xuất hiện mộtgiai cấp mới trên vũ đài lịch sử với tư cách là người lãnh đạo xã hội, không bao giờ diễn

ra mà lại không có một thời kỳ “tròng trành” hết sức dữ dội, một thời kỳ chấn động, đấutranh và bão táp, đó là một mặt; mặt khác, không bao giời diễn ra mà không có một thời

kỳ mà mẫm, thí nghiệm, do dự, ngả nghiêng trong việc lựa chọn những phương phápmới đáp ứng đúng với tình thế khác quan mới” Quan điểm được Lênin nhắc lại nhiềulần là: nếu hình dung lịch sử như một con đường thẳng tắp trơn tru, không có nhữngbước gập ghềnh, khúc khuỷu, quanh co, không có những thất bại tạm thời, thậm chínhững bước lùi đôi khi rất lớn thì không khoa học, không biện chứng, không đúng vềmặt lý luận

Nhãn quan biện chứng nêu trên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng khi nhận thức về vậnmệnh lịch sử của CNXH và thời đại ngày nay Quá độ từ CNTB lên CNXH là một quátrình lịch sử lâu dài, gồm nhiều thời kỳ vận động dích dắc, phức tạp Từ nhận thức này nhấtthiết phải đoạn tuyệt với những ảo tưởng giản đơn trước đây để không nóng vội, chủ

3

Trang 4

quan; đồng thời cũng không hoài nghi, dao động, bi quan trước những biến động đổ vỡ

và bước thoái trào tạm thời của CNXH giai đoạn hiện nay Cũng chính trên quan điểmtiếp cận đó, đồng thời kiên định quan điểm Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ (1991), văn kiện Đại hội IX của Đảng ta đã khẳng định: “CNXH trên thế giới, từnhững bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dântộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới Theo quy luật tiến hoá của lịch

sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”

Với chặng đường chỉ mới hơn 9 thập niên, thời đại lớn quá độ từ CNTB lênCNXH, theo lôgic biện chứng của lịch sử, nhất định sẽ còn trải qua những thời kỳ vậnđộng khác nhau, phụ thuộc những bước tiến triển sau này của lịch sử Tuy nhiên, cho đếnnay, có thể chia thời đại ngày nay thành 3 thời kỳ (thời đại nhỏ) kể từ cột mốc Cách mạngtháng Mười năm 1917: Thời kỳ thứ nhất (1917-1945) là thời kỳ cách mạng XHCN thắnglợi ở một nước; chế độ XHCN được xây dựng và củng cố; phong trào giải phóng dân tộcphát triển rộng khắp và chiến thắng của loài người tiến bộ đôí với chủ nghĩa phát xít.Thời kỳ thứ hai (1945 - 1991) là thời kỳ CNXH trở thành hệ thống thế giới; phong tràogiải phóng dân tộc phát triển thành cao trào; đồng thời cũng dần dần xuất hiện những khókhăn và sai lầm, thậm chí ngày càng nghiêm trọng khiến CNXH lâm vào khủng hoảngkéo dài, chế độ XHCN sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô Thời kỳ thứ ba (từ sau 1991) làthời kỳ các nước XHCN và phong trào cộng sản quốc tế (PTCSQT) khắc phục khủnghoảng, thoái trào để từng bước hồi phục, cải cách, đổi mới và phát triển

Mặc dù thế giới đã trải qua những biến động rất sâu sắc sau thất bại lớn củaCNXH, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất và nội dung của thời đại ngày nay

Đó vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH mở đầu bằng Cách mạng Tháng MườiNga Vận động trong những điều kiện lịch sử mới, với những đặc điểm mới khác về cơbản so với trước năm 1991, thời đại quá độ vẫn tiếp tục hướng tới mục tiêu đấu tranh vìhòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, gắn liền với cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ hiện đại, đang tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủcho việc chuyển lên chủ nghĩa xã hội

Giai đoạn hiện nay của thời đại, được tính từ sau năm 1991, chứa đựng nhiều bướcvận động quanh co, phức tạp của lịch sử Nhìn từ nền tảng vật chất, kỹ thuật của xã hộiloài người, giai đoạn này được đặc trưng bằng sự phát triển mang tính bùng nổ của cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại, từng bước hình thành nền kinh tế tri thức, toàn cầuhoá nổi lên trong tư cách một xu thế chủ đạo tác động nhiều chiều đến đời sống quốc tế

Từ góc độ chính trị quốc tế, giai đoạn hiện nay của thời đại là giai đoạn đấu tranh giai cấp

và đấu tranh dân tộc vẫn diễn ra gay gắt, phức tạp với những hình thức biểu hiện mới.Lợi dụng ưu thế trong so sánh lực lượng, CNTB, chủ nghĩa đế quốc ráo riết chống pháphong trào cách mạng thế giới nhằm tái lập sự thống trị toàn cầu của tư bản độc quyềnquốc tế Các quốc gia dân tộc trên thế giới đang triển khai hàng loạt cuộc đấu tranh chốngcường quyền đế quốc, chống tự do hoá tư bản chủ nghĩa, tư bản tài chính lũng đoạn,chống độc quyền tư bản toàn cầu, chống toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa… với nhiều hìnhthức phong phú

PTCSQT đã có bước phục hồi và củng cố nhất định CNXH tiếp tục được xâydựng ở nhiều nước, ngày càng tỏ rõ khả năng tự đổi mới để phát triển, có thêm sinh lựcmới thông qua cải cách, đổi mới Các ĐCS từng bước xác lập lại vai trò, vị trí trong đờisống chính trị ở các nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Âu, ở các nước tư bản phát triển và

4

Trang 5

các nước đang phát triển á - Phi - Mỹ Latinh Bước phát triển mới của trào lưu cánh tả

Mỹ Latinh nhiều năm qua đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong thực tiễn chính trịthế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh và đang tạo ra chuyển biến có lợi cho cuộc đấu tranh

vì dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội ở khu vực cũng như trên thế giới Tuy PTCSQTvẫn chưa hoàn toàn vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối thập niên 80 của thế

kỷ XX và hiện còn đứng trước nhiều khó khăn thử thách nan giải, song phong trào vẫntiếp tục hiện diện trong tư cách một lực lượng tiên phong đấu tranh vì những mục tiêuthời đại Nhìn tổng quát, trong giai đoạn lịch sử hiện nay, thế giới từ diện mạo bề ngoàicho đến những tầng sâu bên trong của nó đã và đang bộc lộ thêm nhiều đặc điểm mới, thểhiện qua sự vận động của CNTB, CNXH, PTCS và công nhân quốc tế, phong trào độclập dân tộc và hệ thống các mâu thuẫn lớn của thế giới đương đại

Từ sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh đến nay, thế giới nổi lên các đặc điểm chủ yếusau:

Một là: Cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra nhanh, mạnh, đạt được những kỳ

tích, tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống mỗi quốc gia và toàn nhân loại Điểmnổi bật của cách mạng khoa học và công nghệ là từ phát minh chuyển hóa thành công nghệ

và đưa nó vào sản xuất không tách rời nhau về không gian và thời gian, ngày càng thốngnhất trong một quá trình Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại chủ yếu diễn ratrên 4 lĩnh vực sau đây: khoa học và công nghệ sinh học, khoa học và công nghệ về sứcbền, khoa học và công nghệ về năng lượng, khoa học và công nghệ về thông tin

Cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra lực lượng sản xuất mới làm thay đổi cănbản cơ cấu kinh tế, tác động sâu sắc đến các nước đang phát triển và các nước đang xâydựng CNXH Một mặt nó tạo cho các nước nói trên cơ hội rút ngắn khoảng cách về trình

độ phát triển đối với các nước phát triển thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằngphương thức mới Mặt khác, cách mạng khoa học và công nghệ cũng tạo ra thách thức lớn

Đó là do từ trình độ khoa học, công nghệ lạc hậu hàng thế kỷ bắt kịp trình độ thế giớikhông phải vấn đề đơn giản Hơn nữa những thành tựu khoa học công nghệ chủ yếu lại docác nước tư bản phát triển chi phối, mà mục đích chuyển giao công nghệ của các nước này

là lợi nhuận kinh tế và lợi ích chính trị chứ không vì mục đích nào khác Tình hình trên đâyđòi hỏi các nước XHCN và các nước đang phát triển phải có chiến lược khoa học, côngnghệ đúng đắn

Hai là: Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, nhưng đang bị CNTB chi

phối Toàn cầu hóa kinh tế là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại,đặc biệt là công nghệ thông tin Toàn cầu hóa là một quá trình phức tạp đầy mâu thuẫn,chứa đựng cả mặt tích cực cả mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với sự phát triểncủa các quốc gia, trong đó các nước đang phát triển phải chịu những thách thức gay gắthơn cả Toàn cầu hóa làm tăng tính phụ thuộc của các nước nghèo vào các nước giàu vềvốn, công nghệ, thị trường Các nước đang phát triển đứng trước những thách thức lớntrong cuộc cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt Toàn cầu hóa tác động tiêu cựcvào quyền lực nhà nước dân tộc, chủ quyền quốc gia, bản sắc dân tộc Các thế lực tư bảnđộc quyền, đặc biệt là tư bản độc quyền Mỹ, đã lợi dụng toàn cầu hóa để bành trướng thếlực, thực hiện chủ nghĩa bá quyền

Ba là: Đấu tranh giai cấp và xung đột dân tộc, tôn giáo tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó

lường, tiếp tục diễn ra gay gắt Sau các sự kiện ở Đông Âu, Liên Xô đấu tranh giai cấp vàđấu tranh dân tộc không kết thúc mà tiếp tục diễn ra gay go, quyết liệt dưới những hình

5

Trang 6

thức mới, tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường Đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc gay

go, phức tạp bởi hai lý do chính: Một là, lợi dụng việc Liên Xô và các nước XHCN Đông

Âu sụp đổ, CNXH lâm vào thoái trào, chủ nghĩa đế quốc chuyển từ thế thủ sang thế công.Chúng tăng cường chống phá độc lập dân tộc và CNXH bằng nhiều thủ đoạn như bao vâycấm vận kinh tế, diễn biến hòa bình, gây bạo loạn, lật đổ, trực tiếp gây chiến tranh xâmlược Hai là, cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hóa do CNTB chi phối khônglàm giảm mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, giữa các nước tư bản phát triển và các nướcđang phát triển mà còn làm cho các mâu thuẫn ấy sâu sắc thêm

Đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc có những biểu hiện mới Đó là phong tràođấu tranh chống các chính sách của chủ nghĩa tự do mới; phong trào "chống toàn cầu hóa"đang lôi cuốn hàng triệu người tham gia Mục tiêu của các cuộc đấu tranh không chỉ là yêucầu cải thiện đời sống, bảo đảm an sinh xã hội, chống tư hữu hóa ồ ạt, mà còn là hòa bình,dân chủ, chống chiến tranh, chống áp bức dân tộc, bảo vệ môi trường

Bốn là: Nhân loại đứng trước những vấn đề toàn cầu hóa hết sức bức xúc phải có sự

hợp tác đa phương để giải quyết Đó là các vấn đề bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổdân số, đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế, chống chiến tranhhạt nhân

Năm là: Quan hệ giữa các nước lớn là nhân tố rất quan trọng đối với sự phát triển

của thế giới Nước lớn là nước có sức mạnh tổng hợp quốc gia vượt trội trong cộng đồngthế giới Vì vậy, các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn chi phối rất mạnh mẽ đối với

sự phát triển của tình hình thế giới Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức,Italia, Canada, ấn Độ chiếm 1/3 diện tích, hơn 1/2 dân số và 70% GDP của thế giới Đây làcác cường quốc kinh tế, khoa học, quân sự, tài chính, chính trị mà không quốc gia nàotrong hoạch định chiến lược phát triển không thể không tính đến Tất cả quan hệ hợp tác,liên minh, mâu thuẫn, xung đột, phân chia ảnh hưởng giữa các nước lớn tác động trực tiếpđến lợi ích quốc gia và quan hệ quốc tế Tuy nhiên, ảnh hưởng của các nước lớn đến cácnước, nhóm các nước không cố định mà thường xuyên biến đổi tùy theo sự thay đổi tươngquan lực lượng, theo sự biến đổi chính trị, xã hội của mỗi nước ở những thời điểm cụ thể

Thực tiễn vận động của lịch sử mười năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầucủa thế kỷ XXI còn cho thấy những mâu thuẫn cơ bản của thời đại ngày nay vẫn cònnguyên vẹn trong giai đoạn hiện nay, cho dù tình hình đã có những thay đổi trong từng mặtđối lập cấu thành mâu thuẫn, trong hình thức biểu hiện và mức độ gay gắt của nó Các mâuthuẫn đó là:

* Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Đây là mâu thuẫn cơ bản

xuyên suốt của thời đại trong tiến trình vận động của lịch sử nhân loại xét cả từ góc độ lýluận thực tiễn Đây là mâu thuẫn giữa hai hình thái kinh tế - xã hội mang bản chất đối lậpnhau không thể điều hòa được Vì vậy cho dù chủ nghĩa xã hội dù bị đổ vỡ một bộ phận,không còn là một hệ thống nhưng vẫn còn tồn tại các nước xã hội chủ nghĩa và đặc biệt hệ

tư tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong niềm tin của giai cấp công nhân và nhân dânlao động trên thế giới Vấn đề "ai thắng ai" giữa CNXH và CNTB vẫn tiếp tục hiện diệnnhư là một vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh hiện nay trên thế giới

* Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động Chủ

nghĩa tư bản không thể tồn tại nếu không duy trì bóc lột giá trị thặng dư đối với giai cấpcông nhân và nhân dân lao động Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã có sự ổn định tạm thời vàphát triển do nắm bắt và làm chủ cách mạng khoa học và công nghệ, có những điều

6

Trang 7

chỉnh mới trong phương thức thống trị và bóc lột giá trị thặng dư một cách tinh vi vàthực thi chính sách phân tầng dẫn đến những biến đổi trong cơ cấu giai cấp công nhânnhưng những mâu thuẫn giữa công nhân và tư bản không vì lẽ đó mà giảm sút hoặc đãmất đi Mâu thuẫn giữa tư bản và công nhân vẫn là mâu thuẫn cơ bản tồn tại Nó đang

có nguy cơ bùng phát khi thất nghiệp tăng lên, khi chủ nghĩa tư bản hiện đại và cáccông ty xuyên quốc gia thực hiện sự áp đặt, khống chế đối với giai cấp công nhân vànhân dân lao động các nước

* Mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển và chậm phát triển với các nước tư bản phát triển trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, ổn định, phát triển đang có nguy

cơ ngày càng trở nên gay gắt hơn Thế kỷ XX đã qua đi, đánh dấu sự toàn thắng của cáchmạng giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa tư bản hiện đại không còn

hệ thống thuộc địa Chủ nghĩa thực dân cũ đã bị loại bỏ hoàn toàn Chủ nghĩa thực dân mới

đã bị đánh sập một bước quan trọng Các dân tộc đã giành được độc lập dân tộc ở nhữngmức độ khác nhau Tuy nhiên, sau năm 1991, cục diện thế giới đã thay đổi căn bản, sosánh lực lượng trở nên có lợi hơn đối với CNTB, CNĐQ, bất lợi đối với CNXH và các lựclượng cách mạng tiến bộ Mỹ mưu toan sắp đặt lại trật tự thế giới do Mỹ làm bá chủ Đặcbiệt, sau sự kiện 11/9/2001 Mỹ tăng cường việc tập hợp các nước lớn, tiến hành điều chỉnhchiến lược, tự cho phép "đánh đòn phủ đầu" tất cả các quốc gia dân tộc nào không theo cáigậy chỉ huy của Mỹ Quan hệ giữa các dân tộc trên những nguyên tắc đã được thiết lậpnhiều năm trước đây đã bị phá vỡ Hòa bình, độc lập dân tộc, không can thiệp vào côngviệc ội bộ vì sự phát triển của mỗi quốc gia đã bị xâm phạm Mâu thuẫn giữa các dân tộcvới chủ nghĩa đế quốc trở nên gay gắt và tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường

* Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau trong giai đoạn hiện nay của thời đại

vẫn là mâu thuẫn cơ bản đang tồn tại Đây là mâu thuẫn nảy sinh một cách tất yếu do quyluật tự do cạnh tranh kiểu cá lớn nuốt cá bé và do sự phát triển không đều của chủ nghĩa tưbản Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc Mỹ đang mưu toan làm bá chủ thế giới bất chấp luậtpháp quốc tế đã làm các nước đế quốc khác bất bình Đặc biệt chính sách cường quyềnngạo mạn, áp đặt của Mỹ trong chủ trương "đánh đòn phủ đầu" không chỉ đe dọa độc lậpdân tộc của các nước đang phát triển, chậm phát triển mà còn đe dọa chính các nước tư bảnphát triển khác Với việc tự cho phép mình chạy đua vũ trang Mỹ đã làm cho mâu thuẫngiữa các nước đế quốc có nguy cơ tăng lên Con đường giải quyết mâu thuẫn giữa cácnước lớn trước mắt bằng thương lượng song phương hoặc đa phương đã có những lúc lâmvào bế tắc do mâu thuẫn quyền lợi của các nước lớn Các tập đoàn tư bản độc quyền lũngđoạn xuyên quốc gia tiếp tục theo đuổi lợi nhuận tối đa, ra sức cạnh tranh và đấu tranh gaygắt với nhau Ba trung tâm kinh tế tư bản hàng đầu là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản gia tăngcạnh tranh ảnh hưởng, giành gật thị trường Nhiều cuộc chiến tranh thương mại, nhữngcăng thẳng về lợi ích giữa các nước tư bản đế quốc đã nổ ra tác động sâu rộng đến thế giới.Điều nhân loại đang chăm chú dõi theo những diễn biến giữa các cường quốc đế quốc làđây là các cường quốc hạt nhân và các quốc gia có một nền kinh tế mạnh Ngăn chặn chiếntranh đế quốc trở thành một đòi hỏi cấp bách của nhân loại tiến bộ

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay của thời đại đang nổi lên một mâu thuẫn giữa một bên là các thế lực cực đoan nhất, hiếu chiến nhất của chủ nghĩa đế quốc bá quyền ngạo mạn, áp đặt với một bên là các lực lượng đấu tranh chống lại các thế lực đó vì hòa bình, độc lập dân tộc, ổn định và phát triển bền vững cho sự tiến bộ xã hội và phẩm giá con người Đây là xu thế tất yếu của sự tập hợp lực lượng rộng rãi phát huy tinh thần đấu

7

Trang 8

tranh quyết liệt, liên tục, sáng tạo để ngăn chặn, làm thất bại tính chất hiếu chiến, áp đặt,ngạo mạn của chủ nghĩa đế quốc cường quyền.

Nhận thức đúng đắn những đặc điểm mới và những biểu hiện mới trong các mâuthuẫn cơ bản trong giai đoạn hiện nay của thời đại là một nhiệm vụ cấp thiết của công tác

lý luận hiện nay ở nước ta, để từ đây có thể lựa chọn đường lối, chính sách và nhữngphương sách hành động thích hợp, đưa sự nghiệp cách mạng nước nhà tiến lên phía trướctheo những mục tiêu phù hợp với xu thế không thể đảo ngược của thời đại mà Đảng vànhân dân ta đã lựa chọn

Việt Nam thực hiện các cuộc cải cách thể chế chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN, thúc đẩy nền dân chủ XHCN phát triển là tất yếu và là một nhiệm vụ trọng tâm trongcông cuộc đổi mới, cải cách, hiện đại hóa của các nước XHCN hiện nay, trong đó có VN Dânchủ hóa là mục tiêu và động lực phát triển của CNXH

Kết luận: Qúa độ lên CNXH vẫn là con đường tất yếu và thời đại ngày nay là thời đại đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

8

Trang 9

Câu 2 Hãy phân tích nội dung sau đây trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản VN:

"Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh CNH-HĐH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới" (Đảng CSVN: Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị QG Hà Nội 2011).

Trong thời kỳ đổi mới, việc xác định mục tiêu đối ngoại của Đảng và Nhà nước

Việt Nam luôn dựa trên cơ sở lợi ích quốc gia dân tộc, đồng thời quan tâm đúng mức đếnnghĩa vụ quốc tế của Đảng với tư cách một đảng cộng sản cầm quyền Đối với Việt Namhiện nay, lợi ích quốc gia dân tộc cơ bản và cao nhất về đối ngoại là giữ vững hoà bình đểphát triển Do đó, mục tiêu đối ngoại là phải tạo lập được môi trường quốc tế hòa bìnhthuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội theo định hướng xã hội chủnghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Giữ vững hòa bình, tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi, một mặt sẽ góp phần bảo

vệ độc lập, chủ quyền an ninh quốc gia, mặt khác tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ, hợptác của quốc tế cho sự phát triển của đất nước Đây cũng là điều kiện thuận lợi để ViệtNam nâng cao uy tín quốc tế, đồng thời đóng góp nhiều hơn đối với phong trào cáchmạng thế giới

Tư tưởng chỉ đạo và nguyên tắc đối ngoại

Xuất phát từ lợi ích và mục tiêu đối ngoại đã được xác định, Đảng Cộng sản ViệtNam đề ra tư tưởng chỉ đạo đối ngoại là giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủnghĩa xã hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện

và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực,phù hợp với từng đối tượng mà Việt Nam có quan hệ Trước những diễn biến phức tạp củatình hình thế giới sau sự kiện 11-9-2001, Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) đã bổ sung vàlàm sâu sắc thêm tư tưởng chỉ đạo đối ngoại với quan điểm: trong bất kỳ tình huống nàocũng tránh không để rơi vào thế đối đầu, cô lập hay lệ thuộc, củng cố hoà bình, an ninh, tạomôi trường thuận lợi cho phát triển đất nước

Đại hội X của Đảng tiếp tục làm sâu sắc thêm tư tưởng chỉ đạo đối ngoại với việckhẳng định quan điểm: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình

và hợp tác phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan

hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc

tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồngquốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”1 Quan điểm của Đạihội X được Đại hội XI của Đảng kế thừa, bổ sung và phát triển toàn diện hơn khi xác định:

“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tỏc và phát

triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nângcao vị thế của đất nước; vỡ lợi ích quốc gia, dõn tộc, vỡ một nước Việt Nam xã hội chủnghĩa giầu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồngquốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xó hội trờn

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: ng C ng s n Vi t Nam: ộng sản Việt Nam: ảng Cộng sản Việt Nam: ệt Nam: V n ki n ăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X ện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X ội đại biểu toàn quốc lần thứ X đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X i h i i bi u to n qu c l n th X ểu toàn quốc lần thứ X àn quốc lần thứ X ốc lần thứ X ần thứ X ứ X , Nxb CTQG, H 2006, tr.112

9

Trang 10

thế giới”2 Quán triệt các quan điểm nêu trên là cơ sở quan trọng để bảo vệ lợi ích quốc gia,dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế, trước hết là giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyềnquốc gia và định hướng xã hội chủ nghĩa Mặt khác, Việt Nam có thể tiếp tục mở rộngquan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế quốc tế, tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài như:vốn đầu tư, khoa học - công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, phục vụ cho xâydựng và phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ Tổ quốc

Trên cơ sở thế và lực mới của đất nước, Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam nhấnmạnh quan điểm tăng cường sự chủ động, tích cực của Việt Nam đối với quá trình hộinhập quốc tế ngày càng đầy đủ và toàn diện, không chỉ hội nhập trong lĩnh vực kinh tế,

mà còn trong các lĩnh vực khác Việt Nam cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trongviệc tham gia giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế, từ đó có thể đóng vai trò là thànhviên tích cực của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, hợp tác và phát triển

Đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn dựa trên

sự kiên trì giữ vững nguyên tắc đối ngoại cơ bản, bao trùm là vì hòa bình, độc lập, thốngnhất và chủ nghĩa xã hội, bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên hàngđầu Cụ thể hóa nguyên tắc này, Đảng và Nhà nước Việt Nam nêu 4 nguyên tắc đối ngoại

chủ yếu: Một là, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Hai là, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế Ba là, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình Bốn là, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi Trong giai đoạn hiện nay, Việt

Nam xác định rõ cơ sở của sự hợp tác là hợp tác bỡnh đẳng, cùng có lợi với tất cả cácnước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật phápquốc tế3

Nhiệm vụ đối ngoại

Trong suốt thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định một cáchnhất quán nhiệm vụ đối ngoại, mà nội dung cơ bản của nó tiếp tục được khẳng định lạitrong văn kiện Đại hội XI là: “Giữ vững môi trường hoà bình, thuận lợi cho đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh

vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”4 Nhiệm vụ này chỉ

rõ yêu cầu đối với công tác đối ngoại trước hết phải bảo vệ được lợi ích dân tộc, tạo đượcmôi trường hòa bình để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội vàbảo vệ Tổ quốc Song, đặt cao lợi ích dân tộc không có nghĩa từ bỏ chủ nghĩa quốc tếchân chính, mà còn góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Đảng, Nhà nước Việt Namtrong điều kiện và khả năng thích hợp đối với các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thếgiới, đấu tranh vì những mục tiêu mang tính thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ

và tiến bộ xã hội

Đại hội XI cũng nêu rõ một số nhiệm vụ cụ thể trong công tác đối ngoại:

- Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tếvào chiều sâu toàn diện, ổn định, bền vững

- Chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: ng C ng s n Vi t Nam: ộng sản Việt Nam: ảng Cộng sản Việt Nam: ệt Nam: V n ki n ăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X ện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X ội đại biểu toàn quốc lần thứ X đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X i h i i bi u to n qu c l n th XI ểu toàn quốc lần thứ X àn quốc lần thứ X ốc lần thứ X ần thứ X ứ X , Nxb CTQG, H 2011, tr.83-84

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: ng C ng s n Vi t Nam: ộng sản Việt Nam: ảng Cộng sản Việt Nam: ệt Nam: V n ki n ăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X ện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X ội đại biểu toàn quốc lần thứ X đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X i h i i bi u to n qu c l n th XI ểu toàn quốc lần thứ X àn quốc lần thứ X ốc lần thứ X ần thứ X ứ X , Nxb CTQG, H 2011, tr.84

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: ng C ng s n Vi t Nam: ộng sản Việt Nam: ảng Cộng sản Việt Nam: ệt Nam: V n ki n ăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X ện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X ội đại biểu toàn quốc lần thứ X đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X i h i i bi u to n qu c l n th XI ểu toàn quốc lần thứ X àn quốc lần thứ X ốc lần thứ X ần thứ X ứ X , Nxb CTQG, H 2011, tr.236

10

Trang 11

- Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các

cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiêntiến

- Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợiích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiếnchương Liên hợp quốc

- Thực hiện tốt các công việc tại các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc Tích cựchợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế đối phó với những thách thức an ninh phitruyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu

- Chủ động, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phũng, an ninh

- Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan vềvấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, hành độngcan thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnhthổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam

Phương châm chỉ đạo hoạt động đối ngoại

Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân

Thực chất phương châm này là nhằm xử lý mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc vàđoàn kết quốc tế trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam Đối ngoại phục vụ lợi ích chânchính của dân tộc và đó cũng là cách thực hiện tốt nhất nghĩa vụ quốc tế, là sự đóng gópđối với sự nghiệp cách mạng thế giới Lợi ích cao nhất của dân tộc mà cũng là của ĐảngCộng sản Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổquốc xã hội chủ nghĩa, ra sức phát triển nhanh về kinh tế - xã hội, làm cho dân giàu nướcmạnh, giữ vững độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Kiên trì sự nghiệp đổi mới theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa với những thành tựu quan trọng đạt được trong phát triểnkinh tế-xã hội, ổn định chính trị vững chắc, phát triển lý luận về con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam là sự đóng góp hiệu quả, thiết thực nhất của Đảng và nhân dânViệt Nam đối với cách mạng thế giới, nhất là trong bối cảnh phong trào cộng sản, côngnhân quốc tế và chủ nghĩa xã hội đang đứng trước những khó khăn, thử thách lớn trongthời kỳ sau chiến tranh lạnh

Trong khi tập trung nỗ lực tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi cho công cuộc xâydựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, thì Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng xác định rõ phảiluôn coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa, phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào độc lập dân tộc, với phong trào khôngliên kết và các lực lượng hoà bình, tiến bộ khác trên thế giới, theo khả năng thực tế củađất nước, phù hợp với sự chuyển biến của tình hình thế giới Đảng luôn kiên định quanđiểm coi cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dântộc với sức mạnh thời đại Đó là nhân tố làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại

Đây là sự phát triển sáng tạo bài học của cách mạng Việt Nam về kết hợp giữa sứcmạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế trong điềukiện lịch sử mới

Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh, độc lập tự chủ, tự lực tự cường, phát huysức mạnh bên trong là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là điều kiện

11

Trang 12

để mở rộng và nâng cao uy tín quốc tế của đất nước Mặt khác, Đảng cũng khẳng địnhđộc lập tự chủ không có nghĩa là biệt lập, mà đồng thời đa dạng hoá, đa phương hoá quan

hệ quốc tế để mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa cácđiều kiện bên ngoài thuận lợi cho công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Điều đó làtuyệt đối cần thiết đối với Việt Nam, một nước tiếp tục kiên định con đường đổi mới theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã sụp đổ

Sự kiên định độc lập tự chủ, tự lực tự cường là vấn đề có tính nguyên tắc để mởrộng quan hệ quốc tế theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, tránh được những tìnhhuống bất lợi về đối ngoại, củng cố và nâng cao vị thế đất nước ở khu vực cũng như trênthế giới Đối với Việt Nam hiện nay, sự kết hợp chặt chẽ yếu tố dân tộc và yếu tố truyềnthống với yếu tố hiện đại để đưa đất nước tiến lên trở thành một vấn đề có tính tất yếu

Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế

Trong điều kiện mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng

hóa, Việt Nam đứng trước những cơ hội mới, song nguy cơ và thách thức từ bên ngoàicũng gia tăng Do đó, cần phải nhận thức đúng và nắm vững vấn đề hợp tác và đấu tranh,coi đây là hai mặt gắn bó hữu cơ của quan hệ quốc tế, phải hết sức tránh hợp tác mộtchiều hoặc đấu tranh một chiều

Trong phương châm nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh, Đảng Cộng sản ViệtNam nhấn mạnh một nhận thức mới, đó là đấu tranh nhằm thúc đẩy hợp tác, tránh trựcdiện đối đầu, không để cho các thế lực thù địch đẩy vào thế bị cô lập, đặc biệt là tránh bịxung đột quân sự hoặc bị khiêu khích vũ trang Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranhcòn nhằm tranh thủ những lực lượng có thể tranh thủ được, phân hoá và thu hẹp đến mức

có thể đối với các thế lực thù địch hoặc không thân thiện Tiêu chí để xác định hướng hợptác hay đấu tranh chính là lợi ích dân tộc chân chính

Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước.

Phương châm này thể hiện chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam

mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần vào hoà bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trênthế giới Việt Nam đặc biệt chú trọng hợp tác khu vực, nhất là đối với các nước lánggiềng nhằm tạo một môi trường hoà bình, ổn định lâu dài chung quanh đất nước Việc tạolập được mối quan hệ hợp tác trên cơ sở tùy thuộc lẫn nhau về an ninh cũng như về pháttriển với các nước trong khu vực sẽ là bảo đảm hết sức quan trọng nhằm xác lập một vịthế có lợi hoặc chí ít là ít bất lợi nhất trong quan hệ quốc tế

Cùng với việc đặt cao quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng và khuvực, Đảng và Nhà nước Việt Nam đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải mở rộng quan

hệ với tất cả các nước, đặc biệt là các nước lớn, các trung tâm kinh tế lớn vì đó là nhữnglực lượng ảnh hưởng quan trọng đến an ninh và phát triển của khu vực và của Việt Nam

Bốn phương đối ngoại nêu trên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xử lý cácmối quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam Xử lý đúng các mối quan hệ quốc

tế sẽ tạo nên sự thông suốt trong tư tưởng và thành công trong hành động Ngược lại, nếu

xử lý không đúng sẽ gây lúng túng trong hoạt động đối ngoại cụ thể, gây ảnh hưởng tiêucực tới công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 13

nước ta, đồng thời mở rộng quan hệ với các quốc gia, kể cả các nước lớn và các trung tâm hàng đầu thế giới Trong giai đoạn từ 1986-1995, thông qua các hoạt động ngoại

giao tích cực như: phối hợp với tất cả các bên để đi tới một giải pháp chính trị cho vấn đềCampuchia Việc ký Hiệp định về Campuchia (10-1991) đã chấm dứt tình trạng căngthẳng, đối đầu giữa Việt Nam với một số nước lợi dụng vấn đề Campuchia để bao vây, côlập Việt Nam, góp phần khai thông quan hệ giữa Việt Nam với thế giới bên ngoài; đẩymạnh các hoạt động ngoại giao, trong đó có chuyến thăm không chính thức Trung Quốccủa đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam (1990), Việt Nam và TrungQuốc đã bình thường hóa quan hệ vào tháng 11-1991; chủ động khôi phục và mở rộngquan hệ với các nước ASEAN; đấu tranh đòi Mỹ phá bỏ cấm vận và tiến tới bình thườnghóa quan hệ với Việt Nam… Có thể nói, việc xác định đúng khâu then chốt là vấn đềCampuchia và với các bước đi cụ thể, tích cực, đến năm 1995, Việt Nam đã phá thế bịbao vây, cấm vận, cô lập, đồng thời mở rộng quan hệ với các nước và các tổ chức quốc

tế Riêng năm 1995, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN, kýHiệp định khung với EU, bình thường hóa quan hệ với Mỹ Đến năm 1996, Việt Nam cóquan hệ ngoại giao với hơn 160 nước, trong đó có quan hệ với tất cả các nước lớn trên thếgiới, có quan hệ buôn bán với trên 100 nước và vùng lãnh thổ, các công ty của hơn 50nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào Việt Nam

Thứ hai, đã tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế - xã hội Thông qua các hoạt động ngoại giao cụ thể, tích cực, đặc biệt là chú

trọng tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác chủ chốt, thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc

tế, bắt đầu hội nhập chặt chẽ vào nền kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã tranh thủđược nguồn ngoại lực to lớn phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội Cho đến năm

2013, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 179 nước, có quan hệ kinh tế - thương mạivới hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, trong đó đã ký Hiệp định thương mại song phươngvới trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ Năm 2013, tổng kim ngạch ngoại thương củaViệt Nam đã 132,135 tỷ USD, gấp hơn 1,5 lần GDP Nguồn FDI vào Việt Nam khôngngừng tăng Hiện nay, có hơn 16 nghìn dự án FDI được cấp phép với tổng số vốn đăng

ký là trên 244 tỷ USD Riêng năm 2013, tổng số vốn FDI vào Việt Nam là 22,35 tỷ USD.Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các nước và các tổ chức tài chính quốc tếcung cấp cho Việt Nam vẫn tiếp tục tăng với tổng số vốn cam kết trên 33 tỷ USD

Thứ ba, giữ vững được độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đồng

thời từng bước giải quyết được nhiều vấn đề về biên giới trên bộ và trên biển với cácnước có liên quan, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để quản lý biên giới, bảo vệchủ quyền, mở rộng hợp tác quốc tế, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực.Cho đến nay, thông qua các hoạt động ngoại giao, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệpđịnh biên giới trên bộ và hoàn thành việc phân giới cắm mốc trên bộ; ký Hiệp định phânđịnh vịnh Bắc Bộ và Hiệp định nghề cá Vịnh Bắc Bộ; ký Thỏa thuận về các nguyên tắc

cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Công tác phân giới cắm mốc giữa Việt Namvới Lào và Campuchia đang được tích cực triển khai trên cơ sở những Hiệp định biêngiới đã ký kết Ngoài ra, Việt Nam đã ký các thỏa thuận song phương về hợp tác giảiquyết vùng chồng lấn trên biển với từng nước trong khu vực như với Malaixia,Inđônêxia, Philíppin, Thái Lan trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, tạo điều kiện thuận lợicho việc mở rộng và tăng cường hợp tác

Thứ tư, có những đóng góp tích cực, đầy tinh thần trách nhiệm và mang tính xây

13

Trang 14

dựng cho xu thế hòa bình, hợp tác Thông qua các hoạt động cụ thể như tổ chức thành

công nhiều hội nghị quốc tế: Hội nghị cấp cao Pháp ngữ, Hội nghị cấp cao ASEM,APEC; Chủ tịch luân phiên của ASEAN năm 2010, Ủy viên không thường trực Hội đồngBảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, thành viên Ủy ban Nhân quyền Liên Hợpquốc nhiệm kỳ 2014-2017…, Việt Nam đã tham gia giải quyết nhiều vấn đề lớn của thếgiới và khu vực Với những đóng góp tích cực, đầy tinh thần trách nhiệm và mang tínhxây dựng (đặc biệt sáng kiến của Việt Nam về “Xây dựng niềm tin chiến lược” tại Diễnđàn an ninh Shanggrila năm 2013), tiếng nói của Việt Nam được cộng đồng quốc tế coitrọng, lắng nghe, qua đó mà không ngừng nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực vàtrên trường quốc tế

Hạn chế

Một là, yếu kém trong công tác nghiên cứu cơ bản và dự báo chiến lược Công tác

này trong những năm qua tuy có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng tốt yêu cầu, cólúc còn thiếu tính chủ động, thiếu sự phối hợp điều hành thống nhất

Hai là, chưa đưa các quan hệ được thiết lập đi vào chiều sâu, bền vững Cho đến

nay, Việt Nam đã mở rộng được đáng kể quan hệ với các nước và vùng lãnh thổ (quan hệngoại giao với 179 nước, quan hệ kinh tế - thương mại với trên 200 nước và vùng lãnhthổ, quan hệ đối tác chiến lược với 13 nước) nhưng chưa đưa mối quan hệ đó vào pháttriển chiều sâu, bền vững do chưa xây dựng được các khuôn khổ quan hệ hoặc chưa cụthể hóa các thỏa thuận đã ký kết

Ba là, những hạn chế trong công tác chỉ đạo, quản lý Trong những năm qua, hoạt

động đối ngoại là khá sôi động, song không ít các hoạt động tính hiệu quả thấp, thậm chícòn gây lãng phí Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp, sự quản lý công tác đối ngoạitrong nhiều trường hợp vẫn còn thiếu nhịp nhàng, ăn khớp…

14

Trang 15

Câu 3 Hãy phân tích nội dung sau đây trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản VN: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan

hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước

VN XHCN giàu mạnh" (Đảng CSVN: Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị QG Hà Nội 2011).

Đường lối, đối ngoại của một nhà nước, quốc gia là tổng thể các quan điểm xác địnhmục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và phương châm chỉ đạo các hoạt động đối ngoại mà quốcgia đó thể hiện trong quan hệ với các nhà nước, quốc gia và các chủ thể khác trong quan hệquốc tế nhằm mục đích thực hiện thắng lợi những lợi ích của quốc gia, dân tộc và của giai cấpcầm quyền trong từng giai đoạn lịch sử Như vậy, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nướcViệt Nam là hệ thống quan điểm về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, phươngchâm chỉ đạo hoạt động của nước ta với bên ngoài nhằm thực hiện thắng lợi những lợi íchquốc gia, dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì mụctiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã thông qua đường lối đổi mới toàn diện,

trong đó có đổi mới lĩnh vực hoạt động đối ngoại Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ViệtNam thời kỳ đổi mới được hoạch định trên những cơ sở chủ yếu sau đây:

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại

Trong quá trình hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nướcViệt Nam luôn kiên định lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, coi đây là cơ sở lý luận và là vấn đề có tính nguyên tắc, bởi vì:

- Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ namcho hành động của Đảng Những nội dung có tính khoa học, cách mạng trong học thuyếtMác-Lênin được Đảng chú trọng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo trong bối cảnh thế giớimới và điều kiện cụ thể của Việt Nam

- Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống các quan điểm về đường lốichiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế và quan hệ quốc tế, được thể hiện trêncác vấn đề lớn, mang tính chiến lược như:

Một là, độc lập dân tộc

Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Ba là, ngoại giao công tâm

Bốn là, ngoại giao hòa hiếu với các dân tộc khác

Năm là, ngoại giao dĩ bất biến, ứng vạn biến

Tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong nước

Những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thử thách tolớn: khủng hoảng kinh tế - xã hội Nền kinh tế nhiều năm tăng trưởng âm và siêu lạmphát (1986: 774,7%; 1987: 223,1%; 1988: 393,8%) khiến cho đời sống nhân dân hết sứckhó khăn Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam bị bao vây, cấm vận về kinh tế, bị cô lập vềchính trị Đây là thời kỳ khó khăn nhất của nước ta kể từ ngày thống nhất đất nước.Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng thông qua đường lối đổi mới toàn diện, trong đó

15

Trang 16

xác định rõ: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặngđường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền

đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp

theo Với chủ trương đó, Đại hội đã xác định nhiệm vụ có tính cấp bách trước mắt là giải

phóng sức sản xuất, tập trung phát triển kinh tế - xã hội để nhanh chóng thoát ra khỏi tìnhtrạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá thế bị bao vây, cấm vận, cô lập và mở rộng quan

hệ đối ngoại

Những Đại hội sau đó xác định nhiệm vụ cơ bản, lâu dài là sớm đưa Việt Nam

thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa, phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theohướng hiện đại

Là một bộ phận hợp thành đường lối chung của Đảng Cộng sản Việt Nam, đườnglối đối ngoại của Đảng phải góp phần đưa đất nước vượt qua những khó khăn thách thứcđang đặt ra nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của cáchmạng Việt Nam Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới của Đảng được hoạch định nhằmtranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, kết hợp một cách có hiệu quả sức mạnh dân tộc vớisức mạnh thời đại, phục vụ mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, dân giàunước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Tình hình khu vực và thế giới

Tình hình thế giới và khu vực từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay nổi lênmột số đặc điểm và xu thế vận động chủ yếu tác động đến việc hoạch định đường lối đốingoại của Việt Nam, cụ thể như sau:

Thứ nhất, sự thay đổi của cục diện thế giới và môi trường an ninh chính trị quốc tế

sau Chiến tranh lạnh.

Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ởcác nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã, trật tự thế giới hai cực chấmdứt đã làm đảo lộn các quan hệ liên minh kinh tế, chính trị, quân sự được thiết lậptrong thời kỳ Chiến tranh lạnh Tương quan lực lượng thế giới cũng có sự thay đổinghiêng hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫn thời đại giữa chủ nghĩa xãhội và chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục tồn tại, song không còn là nhân tố duy nhất chi

phối quan hệ quốc tế cũng như việc tập hợp lực lượng giữa các nước trên thế giới.

Trong thời kỳ quá độ hình thành trật tự thế giới mới, tất cả các nước trên thế giớituy ở các mức độ khác nhau đều đứng trước những thách thức mới như: xung đột khuvực, mâu thuẫn quốc gia, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; hố ngăn cách giàu - nghèo Bắc -Nam; sự bất bình đẳng trong quan hệ giữa các nước; nhu cầu phát triển kinh tế và ổn địnhchính trị ở mỗi nước; hoạt động ngày càng tăng của chủ nghĩa khủng bố Ngoài ra, giữacác nước lớn, các trung tâm kinh tế mới trỗi dậy còn diễn ra cuộc đấu tranh tranh giànhvai trò chủ đạo trong trật tự thế giới mới

Đứng trước những vấn đề nêu trên, các nước trên thế giới thời kỳ sau Chiến tranhlạnh đều tập trung ưu tiên nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội ở trong nước,đồng thời đấu tranh để tạo lập môi trường quốc tế và khu vực hòa bình, ổn định, giành lấynhững điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của đất nước mình Do đó, hòa bình, ổnđịnh, hợp tác để phát triển trở thành xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốcgia trên thế giới trong giai đoạn hiện nay của thời đại

Thứ hai, sự phát triển của khoa học, công nghệ và quá trình toàn cầu hóa.

16

Ngày đăng: 14/01/2015, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w