MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh thực hiện CNH - HĐH đất nước với mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Quá trình CNH, đô thị hóa đòi hỏi phải chuyển mục đích sử dụng một phần không nhỏ quỹ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu đất xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp và nhà ở; đồng thời thu hút một lượng lớn lao động từ nông thôn vào thành thị; mặt khác CNH - HĐH cũng đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi ruộng đất, phân công lại lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn; quá trình đó đã, đang và sẽ tác động sâu sắc đến nông thôn, nông dân, nông nghiệp, trong đó có các làng nghề. Khôi phục, phát triển và mở rộng các làng nghề đặc biệt là các làng nghề truyền thống được xác định là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình thực hiện CNH - HĐH nông thôn. Đó là hướng đi đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của các nước trên thế giới. Hiện nay, hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới đều chú trọng phát triển ngành nghề ở nông thôn và coi đó là một giải pháp hữu hiệu để tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn, tạo cơ sở để nông thôn phát triển ổn định. Việc phát triển các làng nghề ở nước ta trong những năm qua đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân địa phương; đồng thời tăng nguồn xuất khẩu, thu hút đầu tư trong và ngoài nước góp phần tăng trưởng kinh tế của các địa phương; tuy nhiên các làng nghề với sự đa dạng về ngành nghề, sản xuất phân tán, thiếu cơ sở hạ tầng: mặt bằng sản xuất, hệ thống giao thông, năng lượng, thông tin liên lạc, cấp thoát nước, xử lý nước thải, rác thải... cũng tác động không nhỏ đến việc quản lý, sử dụng đất, bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp, nông thôn và đời sống của nông dân. Tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng Châu thổ sông Hồng, có tổng diện tích tự nhiên là 822,7 km 2 , dân số là 1.038.229 người với 4 dân tộc, chủ yếu là dân tộc Kinh. Toàn tỉnh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 06 huyện (Quế Võ, Yên Phong, Tiên Du, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài); phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và Hà Nội; phía Đông giáp tỉnh Hải Dương; phía Tây giáp Hà Nội. Bắc Ninh cách Thủ đô Hà Nội 30km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km; cách cảng biển Hải Phòng 110km; có các tuyến trục giao thông lớn, quan trọng như quốc lộ 1A-1B, quốc lộ 18 (Thành phố Hạ Long - sân bay Quốc tế Nội Bài), quốc lộ 38, đường sắt Hà Nội - Lao Cai đi Trung Quốc; hệ thống Sông Cầu tạo mạng lưới giao thông thủy nối Bắc Ninh với cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân; Với vị trí đắc địa, kết nối với tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ và cả nước, Bắc Ninh có nhiều lợi thế phát triển Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, tỉnh Bắc Ninh đã đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực tăng trưởng cao; công nghiệp, dịch vụ, nhất là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn được phát triển đều cả về quy mô và chất lượng, thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bắc Ninh có hệ thống 62 làng nghề, với 31 làng nghề truyền thống nổi tiếng trong và ngoài nước như: đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ; tái chế sắt thép Đa Hội; tái chế giấy Dương Ổ; ... kết hợp với hàng loạt địa danh gắn liền với di tích lịch sử - văn hoá và con người Kinh Bắc, đang ngày càng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước tới tham quan du lịch, phát triển thành thế mạnh và tiềm năng lớn, góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Bắc Ninh. Xác định đất đai là nguồn nội lực phát triển, trong quá trình thực hiện CNH - HĐH, Bắc Ninh đã chú trọng đến công tác quản lý, sử dụng đất, quy hoạch xây dựng các CCNLN nói chung và khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống nói riêng; đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 21 CCNLN được hình thành. Tuy nhiên, việc quản lý, sử dụng đất trong các làng nghề còn mang tính tự phát, phân tán, lãng phí đất trong khi cơ sở hạ tầng và mặt bằng sản xuất còn thiếu, môi trường còn bị ô nhiễm. Việc quy hoạch tổng thể làng nghề, đầu tư cơ sở hạ tầng, mở rộng mặt bằng sản xuất, phát triển hệ thống giao thông, đảm bảo môi trường sinh thái cho các làng nghề phát triển đang là vấn đề đặt ra cấp thiết. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chính sách đất đai đối với làng nghề cũng như việc quản lý, sử dụng đất tại làng nghề còn nhiều vướng mắc, chưa được nghiên cứu, giải quyết. Để việc quản lý, sử dụng đất làng nghề hợp lý, khắc phục được những tồn tại trên, cần đánh giá đúng thực trạng của các làng nghề làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất đai bền vững trên cả 3 phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong quá trình thực hiện CNH - HĐH. Vì vậy, chúng tôi chọn thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững”
Trang 1NGUYỄN THỊ NGỌC LANH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
SỬ DỤNG ĐẤT TẠI CÁC LÀNG NGHỀ TỈNH BẮC NINH THEO QUAN ĐIỂM
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2013
Trang 2NGUYỄN THỊ NGỌC LANH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
SỬ DỤNG ĐẤT TẠI CÁC LÀNG NGHỀ TỈNH BẮC NINH THEO QUAN ĐIỂM
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Những kết quả được trình bày trong luận án chưa từng được công bố ở nơi nào khác
Người cam đoan
Nguyễn Thị Ngọc Lanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- CVCC TS Nguyễn Đình Bồng, Phó Chủ tịch Hội khoa học Đất Việt Nam; PGS TS Nguyễn Thanh Trà, Chủ nhiệm Bộ môn Quản lý đất đai, Khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội là những người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện hoàn thành luận án này
- Các thày giáo, cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Đào tạo, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý kiến
và tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian tôi thực hiện và hoàn thành luận án này
- Lãnh đạo, cán bộ, công chức Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công nghiệp, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, Ủy ban nhân dân các xã của tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và cung cấp thông tin, tài liệu, số liệu để tôi thực hiện hoàn thành luận án này
- Lãnh đạo Tổng cục Quản lý đất đai, Lãnh đạo Cục Kinh tế và Phát triển quỹ đất, các bạn đồng nghiệp, các bạn cùng là nghiên cứu sinh và đặc biệt là các thành viên thân yêu trong gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, cổ vũ động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ngọc Lanh
Trang 51.1.3 Vai trò, tác động của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước
1.2.1 Các yếu tố tác động đến việc quản lý, sử dụng đất làng nghề 15
1.2.3 Quản lý, sử dụng đất tại làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững ở Việt
1.3.1 Kinh nghiệm về quản lý, sử dụng đất làng nghề của một số nước trên thế giới 29
1.3.2 Kinh nghiệm về quản lý, sử dụng đất làng nghề của một số địa phương 39
1.3.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý, sử dụng đất làng nghề đối với tỉnh Bắc Ninh 44
Trang 61.4.MỘTSỐCÔNGTRÌNHNGHIÊNCỨUVỀLÀNGNGHỀ 46 1.4.1 Một số công trình nghiên cứu về làng nghề có liên quan đến đề tài 46
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.2.2 Thực trạng phát triển và quản lý, sử dụng đất làng nghề toàn tỉnh 50 2.2.3 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất làng nghề tại địa bàn nghiên cứu 51 2.2.4 Định hướng phát triển và quản lý, sử dụng đất tại làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo
2.2.5 Một số giải pháp quản lý, sử dụng đất tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan
2.3.7 Phương pháp lựa chọn tiêu chí quản lý, sử dụng đất đai để làng nghề phát triển
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Ninh tác động đến việc quản lý,
3.1.2 Chủ trương, chính sách của tỉnh Bắc Ninh về quản lý, sử dụng đất và phát triển
Trang 73.3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường từ hoạt động sản xuất của các
3.4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 107 3.4.2 Quan điểm phát triển bền vững làng nghề của tỉnh Bắc Ninh 110 3.4.3 Quan điểm quản lý, sử dụng đất để phát triển bền vững làng nghề của tỉnh
3.4.4 Định hướng sử dụng đất để phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh 112
3.5.1 Giải pháp về quy hoạch làng nghề và giải quyết mặt bằng SXKD cho các
Trang 8: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa : Công nghiệp, xây dựng cơ bản : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp : Cơ sở sản xuất kinh doanh
: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất : Hội đồng nhân dân
: Làng nghề : Mặt nước chuyên dùng : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn : Liên hợp quốc
: Quy chuẩn Việt Nam : Quy hoạch
: Chứng nhận quyền sử dụng : Trách nhiệm hữu hạn : Thành phố
: Thành phố Hồ Chí Minh : Tiểu thủ công nghiệp : SXKD
: Ủy ban nhân dân : Đô la Mỹ
: Xã hội chủ nghĩa : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Số lượng làng nghề theo hai loại tiêu chí xác định làng nghề 8
1.3 Tổng hợp số làng nghề và số xã có làng nghề theo vùng và cả nước 9
3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2010 59
3.4 Ngành nghề công nghiệp khu vực nông thôn phân theo thành phần kinh
tế năm 2010 65
3.5 Tổng hợp hoạt động ngành nghề công nghiệp khu vực nông thôn Bắc Ninh 66
3.6 Tổng hợp hoạt động trong các làng nghề tỉnh Bắc Ninh năm 2010 67
3.7 Hiện trạng và biến động sử dụng đất năm 2010 tỉnh Bắc Ninh 68
3.9 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 tại xã nghiên cứu 70
3.10 Tổng hợp diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm 2010 theo các xã 72
3.12 Tình hình sử dụng đất ở tại làng nghề theo loại nghề năm 2010 75
3.14 Tổng hợp diện tích, ý kiến của các hộ sản xuất nghề về mặt bằng SXKD
năm 2010 81
3.15 Tình hình quy hoạch làng nghề đến năm 2010 tại địa bàn nghiên cứu 85
3.16 Tổng hợp quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề đến năm 2010 (tiếp) 87
3.17 Tình hình cấp giấy chứng nhận QSD đất tại các địa bàn nghiên cứu 91
Trang 103.20 Biến động giá trị tăng trưởng GDP giai đoạn 2006-2010 94 3.21 Thực trạng cơ sở sản xuất, lao động làng nghề giai đoạn 2006 - 2010 95
3.23 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại cống chung giữa khu dân cư làng
nghề tái chế Giấy Dương Ổ (Phong Khê) 100
3.24 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại cống chung giữa khu dân cư làng
nghề sắt thép Đa Hội (Châu Khê) 101
3.25 Ảnh hưởng của sản xuất nghề đến môi trường không khí xung quanh
khu dân cư xen lẫn khu vực sản xuất của làng nghề 102
3.26 Tổng hợp ý kiến người dân về ô nhiễm môi trường làng nghề 103
3.27 Dự báo một số chỉ tiêu tăng trưởng của tỉnh đến năm 2020 108
3.28 Nhu cầu mở rộng mặt bằng SXKD đến năm 2020 112
3.29 Dự kiến mở rộng diện tích đất làm nghề đến năm 2020 115
3.30 Đất chuyển mục đích sử dụng làm mặt bằng SXKD 116
3.31 Dự kiến diện tích đất SXKD nghề tại các làng nghề đến năm 2020 117
3.32 Danh mục cụm công nghiệp làng nghề giai đoạn 2011 - 2015 117
3.33 Cơ cấu sử dụng đất trong cụm công nghiệp làng nghề 121
3.34 Phân khu, diện tích lô đất trong cụm công nghiệp làng nghề 122
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BẢN ĐỒ
1.1 Tỷ lệ làng nghề theo loại hình sản xuất của cả nước năm 2011 11
3.4 Một số hình ảnh về giao thông khu vực làng nghề nghiên cứu 83 3.5 Ý kiến của người dân về quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề 88 3.6 Cụm công nghiệp làng nghề Đồng Kỵ trở thành khu dân cư mới 89 3.7 Tổng hợp ý kiến về thời gian thuê đất và nhu cầu thuê đất năm 2010 90 3.8 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh qua các năm 94
3.10 So sánh thu nhập lao động làm nghề với lao động SXNN năm 2010 98
3.12 Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất đến môi trường làng nghề 106 3.13 Dự kiến cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh năm 2020 108 3.14 So sánh cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh năm 2010 - 2020 108
Trang 12Cơ cấu, biến động đất đai tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2010
Hiện trạng sử dụng đất tại xã điều tra
Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp năm 2010 tại địa bàn điều tra Tình hình sử dụng đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất ở năm 2010tại địa bàn điều tra
Tình hình sử dụng đất CSSXKD, đất công cộng năm 2010 địa bàn điều tra Tình hình quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch CCNLN năm 2010 tại địa bàn điều tra
Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2010 tại địa bàn điều tra
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh thực hiện CNH - HĐH đất nước với mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Quá trình CNH, đô thị hóa đòi hỏi phải chuyển mục đích sử dụng một phần không nhỏ quỹ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu đất xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp và nhà ở; đồng thời thu hút một lượng lớn lao động từ nông thôn vào thành thị; mặt khác CNH - HĐH cũng đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, chuyển đổi ruộng đất, phân công lại lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn; quá trình đó đã, đang và sẽ tác động sâu sắc đến nông thôn, nông dân, nông nghiệp, trong đó có các làng nghề
Khôi phục, phát triển và mở rộng các làng nghề đặc biệt là các làng nghề truyền thống được xác định là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình thực hiện CNH - HĐH nông thôn Đó là hướng đi đúng đắn, phù hợp với
xu thế chung của các nước trên thế giới Hiện nay, hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới đều chú trọng phát triển ngành nghề ở nông thôn và coi đó là một giải pháp hữu hiệu để tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn, tạo cơ sở để nông thôn phát triển ổn định
Việc phát triển các làng nghề ở nước ta trong những năm qua đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân địa phương; đồng thời tăng nguồn xuất khẩu, thu hút đầu tư trong và ngoài nước góp phần tăng trưởng kinh tế của các địa phương; tuy nhiên các làng nghề với sự đa dạng
về ngành nghề, sản xuất phân tán, thiếu cơ sở hạ tầng: mặt bằng sản xuất, hệ thống giao thông, năng lượng, thông tin liên lạc, cấp thoát nước, xử lý nước thải, rác thải cũng tác động không nhỏ đến việc quản lý, sử dụng đất, bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp, nông thôn và đời sống của nông dân
Trang 14Tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng Châu thổ sông Hồng, có tổng diện tích tự nhiên là 822,7 km2, dân số là 1.038.229 người với 4 dân tộc, chủ yếu là dân tộc Kinh Toàn tỉnh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Bắc Ninh, thị
xã Từ Sơn và 06 huyện (Quế Võ, Yên Phong, Tiên Du, Thuận Thành, Gia Bình,
Lương Tài); phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và Hà
Nội; phía Đông giáp tỉnh Hải Dương; phía Tây giáp Hà Nội
Bắc Ninh cách Thủ đô Hà Nội 30km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km; cách cảng biển Hải Phòng 110km; có các tuyến trục giao thông lớn, quan trọng như quốc lộ 1A-1B, quốc lộ 18 (Thành phố Hạ Long - sân bay Quốc tế Nội Bài), quốc lộ 38, đường sắt Hà Nội - Lao Cai đi Trung Quốc; hệ thống Sông Cầu tạo mạng lưới giao thông thủy nối Bắc Ninh với cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân; Với vị trí đắc địa, kết nối với tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ và cả nước, Bắc Ninh có nhiều lợi thế phát triển
Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, tỉnh Bắc Ninh đã đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực tăng trưởng cao; công nghiệp, dịch vụ, nhất là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn được phát triển đều cả về quy mô và chất lượng, thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Bắc Ninh có hệ thống 62 làng nghề, với 31 làng nghề truyền thống nổi tiếng trong và ngoài nước như: đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ; tái chế sắt thép Đa Hội; tái chế giấy Dương Ổ; kết hợp với hàng loạt địa danh gắn liền với di tích lịch
sử - văn hoá và con người Kinh Bắc, đang ngày càng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước tới tham quan du lịch, phát triển thành thế mạnh và tiềm năng lớn, góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Bắc Ninh
Xác định đất đai là nguồn nội lực phát triển, trong quá trình thực hiện CNH - HĐH, Bắc Ninh đã chú trọng đến công tác quản lý, sử dụng đất, quy
Trang 15hoạch xây dựng các CCNLN nói chung và khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống nói riêng; đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 21 CCNLN được hình thành
Tuy nhiên, việc quản lý, sử dụng đất trong các làng nghề còn mang tính tự phát, phân tán, lãng phí đất trong khi cơ sở hạ tầng và mặt bằng sản xuất còn thiếu, môi trường còn bị ô nhiễm Việc quy hoạch tổng thể làng nghề, đầu tư cơ
sở hạ tầng, mở rộng mặt bằng sản xuất, phát triển hệ thống giao thông, đảm bảo môi trường sinh thái cho các làng nghề phát triển đang là vấn đề đặt ra cấp thiết
Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chính sách đất đai đối với làng nghề cũng như việc quản lý, sử dụng đất tại làng nghề còn nhiều vướng mắc, chưa được nghiên cứu, giải quyết
Để việc quản lý, sử dụng đất làng nghề hợp lý, khắc phục được những tồn tại trên, cần đánh giá đúng thực trạng của các làng nghề làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất đai bền vững trên cả 3 phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong quá trình
thực hiện CNH - HĐH Vì vậy, chúng tôi chọn thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất tại một số làng nghề của tỉnh Bắc Ninh; định hướng và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng cơ sở
lý luận và thực tiễn về làng nghề và quản lý, sử dụng đất làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ việc nghiên cứu hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai đối với phát triển các làng nghề ở nước ta
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham
Trang 16khảo cho tỉnh Bắc Ninh và các địa phương có điều kiện tương tự áp dụng trong việc quản lý, sử dụng đất làng nghề nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong quá trình thực hiện CNH-HĐH
4 Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài đã hệ thống hoá, làm sáng tỏ về lý luận cơ bản; kinh nghiệm của một số địa phương trong nước và quốc tế về phát triển làng nghề; quản lý,
sử dụng đất tại các làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững;
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đánh giá được thực trạng từ đó đưa ra được định hướng và đề xuất được các giải pháp quản lý, sử dụng đất đai đối với một số loại làng nghề của tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 THỰC TRẠNG VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ VIỆT NAM
1.1.1 Nhận thức chung về làng nghề Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm chung
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôm,
phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau (Thủ tướng Chính phủ, 2006) [75] Làng nghề Việt Nam đã xuất hiện và phát triển rất phong phú và đa dạng về lịch sử hình thành, về ngành nghề và qui
mô Cho nên theo lịch sử hình thành và phát triển thì có làng nghề truyền thống
và làng nghề mới Trong nghiên cứu này Làng nghề được hiểu là một cụm dân
cư sinh sống trong một làng (thôn, tương đương thôn) thuộc các xã, phường, thị trấn, có hoạt động SXKD các ngành nghề ở từng hộ gia đình hoặc các cơ sở trong làng, sử dụng các nguồn lực trong và ngoài địa phương, SXKD một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau, phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của một bộ phận người dân trong làng
Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản
phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền (Thủ tướng Chính phủ, 2006) [75]
Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ
lâu đời, trải qua thử thách của thời gian, vẫn được duy trì, phát triển và được lưu truyền từ đời này sang đời khác (Thủ tướng Chính phủ, 2006) [75] Mỗi làng nghề truyền thống xưa nay, tự nó đã chứa đựng hai yếu tố chủ yếu: truyền thống nghề nghiệp và truyền thống văn hoá Nó là nơi hội tụ những thuần phong mỹ tục, đoàn kết cộng đồng, tinh hoa nghề nghiệp, tài năng nghệ nhân, nếp sinh hoạt quần cư chúng hoà quyện vào nhau làm nên làng nghề truyền thống
Trang 18Làng nghề mới được hiểu là các làng nghề không phải là làng nghề truyền
thống Các làng nghề này được hình thành trong thời gian gần đây, chủ yếu xuất phát từ việc tổ chức gia công cho các xí nghiệp lớn, các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu; việc học tập kinh nghiệm của vài hộ gia đình nhạy bén thị trường và có điều kiện đầu tư sản xuất hoặc của các làng nghề lân cận; tự hình thành do nhu cầu
mới của thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường nguyên liệu sẵn có trong làng
1.1.1.2 Tiêu chí công nhận làng nghề
(i) Tiêu chí công nhận là làng nghề:
Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí: (1) Có tối thiểu 30% tổng
số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn (2) Hoạt động SXKD ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
(ii) Tiêu chí công nhận là nghề truyền thống:
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí: (1) Nghề
đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận (2) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc (3) Nghề gắn với tên của nghệ nhân hay địa danh của làng nghề
(iii) Tiêu chí công nhận là làng nghề truyền thống: Phải đạt tiêu chí làng
nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo khái niệm nói trên Nếu chưa đạt tiêu chuẩn số hộ tối thiểu và số năm tối thiểu như đã quy định tại tiêu chí công nhận làng nghề thì cũng phải có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống (Thủ tướng Chính phủ, 2006) [75]
1.1.1.3 Phân loại, đặc trưng của làng nghề
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo 6 dạng như: (1) theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới; (2) theo ngành sản xuất,
loại hình sản phẩm; (3) theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ; (4) theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; (5) theo mức độ sử dụng nguyên/nhiêu liệu; (6)
Trang 19theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2008) [7]
Với 6 cách phân loại trên, mỗi cách có những đặc điểm riêng và tùy theo mục đích tiếp cận mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp Trên cơ sở tiếp cận vấn đề về đất đai làng nghề thì cách phân loại theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả
Phân loại làng nghề theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm:
Theo ngành sản xuất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) [9], làng nghề được chia thành 8 loại hình như: Loại hình thủ công mỹ nghệ; loại hình gia công
cơ kim khí; loại hình tái chế chất thải; loại hình chế biến lương thực, thực phẩm; loại hình dệt nhuộm, thuộc da; loại hình sản xuất vật liệu xây dựng; loại hình chăn nuôi; loại hình khác còn lại Theo sản phẩm đầu ra (Nguyễn Trí Dĩnh, 2005) [21], làng nghề được chia thành các nhóm như: nhóm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ (khảm gỗ, vàng bạc, thêu thùa); nhóm phục vụ sản xuất và đời sống (nghề mộc, đúc đồng, sản xuất vật liệu xây dựng); nhóm sản xuất hàng tiêu dùng thông thường (khâu nón, dệt chiếu); nhóm chế biến lương thực, thực phẩm (xay xát, nấu ruợu, làm bánh)
1.1.1.4 Số lượng làng nghề Việt Nam
Cho đến nay, tuy đã có số liệu thống kê về số lượng, loại hình của các làng nghề, làng nghề truyền thống và làng có nghề cũng như mật độ và phân bố trên quy mô toàn quốc nhưng chưa đầy đủ, chưa thống nhất và toàn diện do tiêu chí công nhận làng nghề tại các địa phương chưa thống nhất, thời điểm thống kê, phương pháp thống kê còn khác nhau
(i) Theo kết quả Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công phục vụ CNH nông thôn Việt Nam của Bộ NN&PTNT và JICA [3] với tiêu chí hơn 20% số hộ trong làng tham gia sản xuất nghề được gọi là làng nghề thì Việt Nam có 2.017 làng nghề (bảng 1.1; 1.2)
Trang 20Bảng 1.1: Số lượng làng nghề theo hai loại tiêu chí xác định làng nghề
Có trên 20% số
hộ làm nghề phi nông nghiệp
Có trên 20% số hộ làm nghề phí nông nghiệp Vùng
Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2004 [3]
Trang 21(ii) Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm
2006 (Tổng cục Thống kê, 2006) [82], với tiêu chí có tối thiểu 30% tổng số hộ trong làng tham gia sản xuất nghề và hoạt động SXKD ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận được gọi là làng nghề, thì Việt Nam có 1.091 làng nghề, trong đó làng nghề truyền thống là 965 làng (chiếm 88.45%) (bảng 1.3)
Số làng
Tỷ lệ (%)
Truyền thống
Tỷ lệ (%)
Trang 22Bảng 1.4: Số lượng làng nghề được công nhận, làng có nghề
được công nhận
Làng có nghề chưa được công nhận
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011 [9]
1.1.2 Xu thế phát triển của làng nghề Việt Nam
1.1.2.1 Về sự phân bố của các làng nghề ở Việt Nam
(i) Các làng nghề ở nước ta chủ yếu tập trung tại những vùng nông thôn,
vì vậy, khái niệm làng nghề luôn được gắn với nông thôn Tuy nhiên, hiện nay
do xu thế đô thị hóa, nhiều khu vực nông thôn đã trở thành đô thị, nhưng vẫn duy trì nét sản xuất văn hóa truyền thống, chính điều này đã tạo ra “lỗ hổng” trong chính sách phát triển và hành lang pháp lý về quản lý làng nghề Trên bình diện cả nước, làng nghề phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền
Tính chất của làng nghề theo vùng, miền cũng không giống nhau Làng nghề tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, chiếm khoảng 60%, trong đó Đồng bằng sông Hồng chiếm khoảng 50%, chủ yếu tập trung tại các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định,…; ở miền Trung chiếm khoảng 23,6%, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế…; miền Nam chiếm khoảng 16,4%, tập trung chủ yếu tại các tính Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ… Về loại hình sản xuất cũng rất đa dạng, được phân thành 08 nhóm ngành nghề (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) [9] (hình 1.2)
Trang 23Hình 1.1: Tỷ lệ làng nghề theo loại hình sản xuất của cả nước năm 2011
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011 [9]
(ii) Do đặc điểm phân bố nêu trên, tại các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, với đặc điểm diện tích chật hẹp, mật độ dân cư cao, hoạt động sản xuất quy mô công nghiệp và bán công nghiệp gắn liền với sinh hoạt, nên các hậu quả của ô nhiễm môi trường là rõ rệt nhất Trong khi đó, tại các tỉnh miền Trung và miền Nam, do phân bố các làng có nghề khá thưa thớt, diện tích đất rộng, nên tuy vẫn nằm xen kẽ trong các khu dân cư nhưng hậu quả môi trường là chưa đáng báo động Hơn nữa, do đặc điểm phát triển nên tại các tỉnh miền Trung và miền Nam, làng nghề vẫn mang đậm nét thủ công truyền thống, tận dụng nhân công nhàn rỗi tại chỗ và nguyên vật liệu địa phương, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cộng đồng dân cư quanh vùng, nên thực chất, phát triển làng nghề một cách
có định hướng tại các khu vực này là hết sức cần thiết
1.1.2.2 Xu thế phát triển của làng nghề Việt Nam trong thời gian tới
Số lượng các làng nghề ở các vùng nói chung có xu hướng tăng lên, chỉ có ngành khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng có xu thế giảm do chính sách của nhà nước cũng như hậu quả của ô nhiễm môi trường đến cộng đồng dân cư, và quan trọng hơn cả là chất lượng không cạnh tranh được với các sản phẩm sản
Loại hình dệt nhuộm, thuộc da, 5%
Loại hình sản xuất vật liệu xây dựng, 3%
Trang 24xuất công nghiệp Tuy nhiên, tại khu vực Đồng bằng sông Hồng là nơi có số lượng làng nghề lớn nhất trên cả nước thì số lượng vẫn tiếp tục tăng so với các khu vực khác nên khu vực này được coi là đại diện nhất của bức tranh về ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam Trong khi đó, tại các vùng Đông Bắc và Tây Bắc số lượng có chiều hướng giảm dần trong những năm gần đây Dự báo cho xu thế phát triển làng nghề trong những năm tiếp theo (bảng 1.5)
Bảng 1.5: Các xu thế phát triển chính của làng nghề đến năm 2015
Vùng
Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da
Chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ
Tái chế phế liệu
Thủ công
mỹ nghệ
Sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác
Ghi chú: -1: suy thoái; 0: duy trì nhưng không phát triển; 1: phát triển vừa; 2: phát triển mạnh
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011 [9]
1.1.3 Vai trò, tác động của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn
Trang 25dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội đồng thời chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Hạn chế việc chuyển dịch lao động không có việc làm từ nông thôn ra thành thị
(ii) Phát triển làng nghề góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Theo báo cáo điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn và JICA (2004) [3] trong những năm qua, làng nghề đã tạo việc làm cho hơn 60 vạn lao động thường xuyên ở nông thôn, khoảng 30 vạn lao động làm việc theo thời vụ chiếm 39,5% lực lượng lao động ở nông thôn Có làng nghề thu hút đến 60% lao động địa phương Cả nước có 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất nghề và có nguồn thu nhập chính từ nghề thủ công, đã phần nào giải quyết được tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn Thu nhập của người lao động trong làng nghề ngày càng tăng lên, đời sống, tinh thần được cải thiện Thu nhập bình quân của 1 lao động làm nghề gấp 2 - 3 lần lao động thuần nông, thu nhập bình quân đầu người khoảng từ 300.000 - 500.000 đồng/tháng Tỷ lệ hộ nghèo trong các làng nghề chỉ còn 3,7%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước (10,4%)
(iii) Phát triển làng nghề đã thu hút mạnh mẽ nguồn vốn dư thừa trong nhân dân để đầu tư cho sản xuất Cả nước có khoảng 40.500 cơ sở, trong đó
80,1% là các cơ sở có quy mô hộ gia đình, 5,8% cơ sở có quy mô hợp tác xã, còn lại dưới các hình thức doanh nghiệp tư nhân, xí nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn,
(iv) Phát triển làng nghề góp phần phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông thôn Các làng nghề của vùng Đồng bằng Bắc
bộ đã đạt 100% số làng có đường ô tô về tận trung tâm Các công trình điện đã được đầu tư nâng cấp và phát triển; sản lượng điện tiêu thụ hàng năm tăng lên nhanh chóng, thông tin liên lạc thường xuyên được đầu tư, nâng cấp Hệ thống
cơ sở hạ tầng, dịch vụ ngày càng phát triển
Trang 26(v) Phát triển làng nghề truyền thống đã góp phần phát triển dịch vụ du lịch, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc: Lợi ích của phát triển làng nghề không chỉ
là ở kinh tế, giải quyết việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng mà nó còn góp phần bảo
tồn giá trị văn hóa lâu dài Gắn với việc phát triển làng nghề, nhiều phong tục
truyền thống được phục hồi như hội làng, giỗ tổ của nghề, Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm, tuyến du lịch lữ hành trong và ngoài nước Với lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hóa truyền thống đặc sắc, hệ thống di tích lịch sử lâu đời đã tạo nên sự hấp dẫn khách du lịch đến đây
vì không chỉ được tham quan, ngắm cảnh mà còn được tham gia vào các khâu sản xuất nghề Đó là điểm rất thú vị của các tua du lịch làng nghề
1.1.3.2 Những tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề
(i) Phần lớn các cơ sở sản xuất được hình thành ngay trong khu dân cư, gắn liền với nơi sinh sống của các hộ gia đình Mặt bằng sản xuất và nhà xưởng chật hẹp, liền kề với nhà ở và các công trình phục vụ sinh hoạt của các hộ Nhiều
hộ gia đình, cơ sở sử dụng một phần diện tích nhà ở để làm mặt bằng sản xuất hay làm kho chứa nguyên liệu và thành phẩm có ảnh hưởng lớn đến đời sống, sức khoẻ của người dân
(ii) Nhiều cơ sở sản xuất ở các làng nghề sản xuất đồ gỗ, cơ kim khí, sản xuất gốm sứ, không có mặt bằng để tập kết nguyên vật liệu Do đó việc lấn chiếm đất công, lấn chiếm ao hồ, kênh mương, đường giao thông để tập kết vật
tư, nguyên vật liệu, nhiên liệu rất phổ biến
(iii) Môi trường sống nông thôn trong các làng nghề truyền thống ngày càng bị huỷ hoại, thậm chí rất nghiêm trọng do sự phát triển quá mức và bất hợp
lý của các ngành nghề trong khu dân cư và do thiếu các công trình xử lý, tiêu thoát nước thải Việc quản lý, kiểm soát tình trạng này đang là một thách thức lớn đối với nhiều địa phương
(iv) Sự phát triển của các ngành nghề trong các làng nghề diễn ra dưới tác
Trang 27động ngày càng mạnh mẽ của thị trường, của phát triển công nghiệp và làn sóng
đô thị hoá trong vùng, diện tích đất vườn, ao hồ và diện tích cây xanh trong làng ngày càng bị thu hẹp
(v) Phần lớn các làng nghề chưa được quy hoạch cụ thể, việc quản lý đất đai, xây dựng còn yếu kém, còn thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, bảo đảm môi trường nên tình trạng phát triển các ngành nghề sản xuất diễn ra tự phát, lẫn lộn, chen chúc trong khu dân cư ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khoẻ của con người làm giảm hiệu quả đầu tư phát triển và gây trở ngại cho sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn
(vi) Sự phát triển cơ sở hạ tầng của các làng nghề vẫn ở trong tình trạng thấp kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất ngày càng tăng của làng nghề, của sự nghiệp CNH - HĐH nông thôn
Hơn nữa trong những năm tới, dưới tác động của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn thì việc phát triển các ngành nghề, làng nghề sẽ diễn ra trên phạm vi và mức độ rộng hơn Các vấn đề về mặt bằng sản xuất, cơ sở hạ tầng và môi trường ở đây sẽ trở nên gay gắt, trầm trọng hơn nếu ngay từ bây giờ không có các biện pháp giải quyết mạnh mẽ vấn đề này
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT LÀNG NGHỀ THEO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.2.1 Các yếu tố tác động đến việc quản lý, sử dụng đất làng nghề
1.2.1.1 Các yếu tố tự nhiên tác động đến việc quản lý, sử dụng đất làng nghề
a) Vị trí địa lý là một điều kiện quan trọng có ảnh hưởng lớn tới sự hình
thành và phát triển các làng nghề, nhất là trong điều kiện xây dựng nền kinh tế
mở, tăng cường và mở rộng các quan hệ hợp tác, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Vị trí địa lý thuận lợi cho sự giao lưu kinh tế tạo thành một lợi thế quan trọng cho sự phát triển của các nghề thủ công truyền thống ở mỗi địa phương Để làng nghề ngày càng phát triển, mở rộng thì việc chọn địa điểm có điều kiện
Trang 28thông thương, giao lưu hàng hoá là điều rất cần thiết Điều này được quyết định bởi việc quy hoạch và bố trí hợp lý quỹ đất để mở rộng và phát triển làng nghề Các làng nghề có được những vị trí gần đường giao thông thuỷ, bộ, đường sắt sẽ rất thuận lợi cho việc mở rộng, giao lưu, thông thương hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm và thu hút khách tham quan, du lịch
b) Đất đai, địa hình, khí hậu, các nguồn tài nguyên thiên nhiên là những
nguồn lực và là cơ sở lợi thế so sánh của mỗi địa phương và của mỗi vùng Các nhân tố này hoặc trở thành đối tượng lao động để phát triển hoặc trở thành điều kiện để xây dựng và phát triển các làng nghề; nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển nguồn nguyên liệu, việc mở rộng mặt bằng sản xuất, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và sự phát triển khoa học công nghệ,
Tình hình giảm sút quỹ đất nông nghiệp đang tạo ra sức ép rất lớn trong việc giải quyết sự dư thừa lao động nông thôn, đòi hỏi phải phát triển ngành nghề nông thôn; Mặt khác sự phát triển sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn cũng có bất cập do bình quân diện tích đất ở thấp nhất cả nước, nếu tiếp tục phát triển ngành nghề trong khu dân cư sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống và sức khoẻ dân cư Đây là vấn đề khó khăn cần phải được xem xét kỹ đối với từng địa bàn
cụ thể để có hướng giải quyết hợp lý
1.2.1.2 Các yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến việc quản lý, sử dụng đất làng nghề
a) Các yếu tố kinh tế
Sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và
bố cục sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đây là những nhân tố trực tiếp thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các làng nghề
Thực tế cho thấy ở những nơi ruộng đất canh tác ít, mật độ dân số cao, đất
Trang 29chật người đông, chất đất xấu hoặc khí hậu không phù hợp cho sản xuất làm cho nghề nông khó phát triển, thu nhập và đời sống của cư dân trong làng có nhiều khó khăn Điều đó sẽ tạo nên sức ép, buộc cư dân của làng phải tìm các ngành nghề phi nông nghiệp để đảm bảo cuộc sống Cho nên các tỉnh vùng Đồng bằng Bắc bộ nơi mật độ dân số cao, diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp lại phân bố không đều giữa các địa phương, đã trở thành nơi xuất hiện sớm nhất
và tập trung nhiều nhất các làng nghề
b) Các yếu tố xã hội
Nhân tố dân số và lao động được coi là nguồn lực quan trọng để phát triển làng nghề Trình độ dân trí, trình độ tay nghề của người lao động, khả năng đáp ứng lực lượng lao động và tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành nghề Một lực lượng lao động có tay nghề cao, nắm
rõ yếu tố văn hoá truyền thống để tạo ra các sản phẩm truyền thống có giá trị Trình độ học vấn có ảnh hưởng sâu sắc đến sự tồn tại và phát triển của làng nghề Trình độ học vấn của cộng đồng dân cư đồng đều sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, tạo ra năng lực sáng tạo mới và sự năng động trong quá trình hoạt động SXKD, nó giúp cho người dân nhận thức đúng và thực hiện các chính sách pháp luật của nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy nghề và truyền nghề để tạo ra những lao động có tay nghề cao và duy trì nghề
c) Các yếu tố kết cấu hạ tầng
Nhân tố về kết cấu hạ tầng như đường giao thông, điện, cấp thoát nước, dịch vụ bưu chính viễn thông, có ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến sự hình thành, tồn tại và phát triển làng nghề Ngày nay, khi giao lưu kinh tế phát triển, khi thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề không chỉ ở địa phương mà vươn tới các thị trường rộng lớn trong cả nước hoặc nước ngoài thì yêu cầu về hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng cao Hơn nữa ngày nay các làng nghề không chỉ đơn thuần là cung cấp các sản phẩm ra thị trường mà còn là nơi phát triển các dịch vụ du lịch để thu hút khách tới thăm quan
Trang 30d) Các yếu tố vốn và thị trường
Nhân tố vốn và thị trường là nhân tố quan trọng đối với bất kỳ quy trình SXKD nào Nó tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của làng nghề Hạt nhân cơ bản của sản xuất nghề trong nông thôn là hộ và các cơ sở SXKD nhỏ
Hộ SXKD phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ của thị trường để có kế hoạch kinh doanh của mình Ngành nghề truyền thống nào nắm bắt được thị trường, tìm được thị trường thì sẽ tồn tại và phát triển nhanh Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường cạnh tranh khốc liệt thì nhu cầu về vốn ngày càng lớn Vốn là một trong những nhân tố có vai trò quyết định hàng đầu trong việc tồn tại và phát triển của làng nghề
đ) Các yếu tố về nguồn nguyên liệu sản xuất
Dường như không một làng nghề nào hình thành mà không gắn liền với một nguồn cung cấp nguyên liệu chủ chốt cho sản xuất của làng nghề đó Về mặt lịch sử, một số làng nghề được hình thành xuất phát từ nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương Nhiều làng nghề như gốm sứ, mây tre đan, lụa, đã được phục hồi
do những đặc trưng văn hoá phong phú và mẫu mã đa dạng dựa trên các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương hay trong nước Nguồn nguyên liệu tạo ra sản phẩm đặc trưng riêng của từng làng nghề Nguyên liệu đầu vào tốt sẽ cho sản phẩm có giá trị cao
e) Các yếu tố văn hoá truyền thống
Nhân tố văn hoá truyền thống có tác động tích cực đến phát triển, bảo tồn những nét đặc trưng văn hoá của ngành nghề và của dân tộc, làm cho sản phẩm
có tính độc đáo và giá trị kinh tế cao, tạo cơ sở cho sự tồn tại bền vững trước những biến động của cơ chế thị trường Những quy ước (hương ước) ràng buộc của các luật nghề, lệ làng đề ra những tiêu chuẩn đạo đức và ý thức nghề nghiệp cao, đòi hỏi những người SXKD trong làng nghề phải đảm bảo chất lượng, giữ gìn uy tín sản phẩm
Trang 311.2.1.3 Yếu tố môi trường tác động đến việc quản lý, sử dụng đất làng nghề
Việc duy trì phát triển làng nghề và quản lý, sử dụng đất không thể không tính tới yếu tố môi trường Một làng nghề muốn tồn tại và phát triển không chỉ đòi hỏi phải có hiệu quả kinh tế, xã hội cao mà còn đòi hỏi phải đảm bảo các điều kiện về môi trường (gồm môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất)
Làng nghề truyền thống vốn dĩ nó đã hoạt động từ nhiều thế kỷ nay, và
cơ chế, chính sách của nhà nước đã tạo điều kiện cho hoạt động của làng nghề ngày càng được phát triển và mở rộng Trước đây, do mật độ dân số thưa, số hộ làm nghề ít hơn nhiều so với bây giờ, đồng thời khối lượng sản phẩm làm ra ít,
tự tiêu thụ trong vùng hoặc tự cung tự cấp là chính; mặt khác lúc bấy giờ trình độ dân trí cũng như mức sống thấp, mọi người chỉ tập trung giải quyết cái ăn, cái đói và muốn thoát ra khỏi sự bần cùng nên không chú ý đến môi trường sống cũng như môi trường làng nghề
Bên cạnh việc tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động nông nhàn ở nông thôn có thu nhập ổn định, cải thiện đời sống, một bộ phận giàu lên do phát triển làng nghề thì người dân làng nghề, xã có nghề phải đối mặt với những thách thức môi trường nghiêm trọng Điều khó khăn trong vấn đề giải quyết mặt bằng sản xuất và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề là bản thân làng nghề hoạt động tại gia đình, gắn liền với khu dân cư, nên sản xuất phân tán, không có hệ thống quy hoạch, đặc biệt khi động chạm đến xử lý môi trường các chủ cơ sở sản xuất không chịu đầu tư kinh phí
1.2.2 Chính sách đất đai đối với phát triển làng nghề
1.2.2.1 Chủ trương của Đảng về phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề
Nghị quyết VIII (1996) đã chủ trương Khôi phục và phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề, làng nghề mới Đặc biệt Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương Đảng Nghị quyết Hội nghị
Trang 32Trung ương 5 (khoá IX) ra Nghị quyết về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010, trong đó đã xác định rõ việc phát
triển kết cấu hạ tầng và đô thị hoá nông thôn cũng như vạch ra giải pháp "Quy
hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn phải đặt trong tổng thể chung của cả nước, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ Quản lý, cập nhật thông tin và kịp thời điều chỉnh quy hoạch; Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội; quy hoạch phát triển khu dân
cư, xây dựng làng xã, thị trấn giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc”
Đại hội XI (2011) đã chỉ rõ đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại kinh
tế, đẩy mạnh CNH - HĐH, phát triển nhanh, bền vững trong đó chỉ rõ xây dựng
nông thôn mới Quy hoạch phát triển nông thôn và phát triển đô thị và bố trí các
điểm dân cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn
và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động Triển khai có hiệu quả Chương trình đạo tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm"
1.2.2.2 Cơ sở pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai phát triển làng nghề
(i) Luật Đất đai 2003 đã quy định “Việc sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở SXKD phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt
và các quy định về bảo vệ môi trường” (Điều 93) Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định "Đất nông nghiệp trong làng nghề truyền thống được
ưu tiên sử dụng vào mục đích mở rộng cơ sở SXKD phi nông nghiệp và cơ sở xử
lý chất thải" và “người sử dụng đất được miễn giảm tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ” (Điều 88)
Trang 33(ii) Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã quy định cụ thể về bảo vệ môi trường làng nghề như ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái, chú trọng bảo vệ môi trường trong các khu dân cư (Điều 5); Quy hoạch, xây dựng, cải tạo và phát triển làng nghề phải gắn với bảo
vệ môi trường; khuyến khích phát triển khu, CCNLN có chung hệ thống kết cấu
hạ tầng bảo vệ môi trường để di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư (Điều 38)
(iii) Luật Hợp tác xã 2003 đã tạo điều kiện cho việc quy hoạch, xây dựng các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tại các làng nghề, làng nghề truyền thống hình thành và phát triển trở thành hợp tác xã sản xuất nghề truyền thống; cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh
và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại các làng nghề
(iv) Quyết định 132/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ [74] về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, đặc biệt là cơ chế, chính sách về đất đai đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển mở rộng sản xuất trong các làng nghề như "Hàng năm, theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Nhà nước cho phép chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp để phát triển ngành nghề nông thôn" "Đối với địa phương có nhiều cơ sở ngành nghề nông thôn, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện hoặc cấp xã quy hoạch đất đai, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm tiểu thủ công nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở ngành nghề nông thôn thuê đất đầu tư xây dựng
cơ sở sản xuất" "Các cơ sở ngành nghề nông thôn có nhu cầu sử dụng đất để di dời các cơ sở sản xuất cũ chật hẹp, ô nhiễm môi trường hoặc có nhu cầu thuê đất
để xây dựng cơ sở sản xuất mới, để bảo vệ, chăm sóc, phục hồi, gây trồng vùng nguyên liệu thì được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền ưu tiên cho thuê đất
Trang 34với mức giá thuê đất thấp nhất" Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn [14] và Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ NN& PTNT [75] về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định nói trên đã xác định các tiêu chí về làng nghề, làng nghề truyền thống, trên cơ sở
đó các địa phương tùy vào từng điều kiện cụ thể, tính chất ngành nghề đưa ra các tiêu chí để xác định ngành nghề tại địa phương mình Chỉ thị số 11/2006/CT-TTg ngày 27/3/2006, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị các địa phương trực thuộc Trung ương khẩn trương tổ chức rà soát, điều chỉnh quy hoạch các dự án sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của từng vùng và cả nước, gắn quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp với phát triển các ngành nghề, đặc biệt quan tâm đến việc khôi phục các ngành nghề truyền thống, tạo quỹ đất tái định cư, quy hoạch đất dịch vụ và đất liền kề các khu công nghiệp
1.2.2.3 Cơ chế, chính sách chung ưu đãi đối với sử dụng đất làng nghề hiện nay
(i) Nhà nước tạo điều kiện cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng quyền sử dụng đất thuê:
- Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm có các quyền bán, để thừa kế, tặng cho tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân; góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài để hợp tác SXKD;
- Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê thì trong thời hạn đã trả tiền thuê đất có các quyền như hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê;
- Hộ gia đình, cá nhân thuê lại đất trong khu công nghiệp thì có các quyền
Trang 35và nghĩa vụ như hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm;
(ii) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân không thuộc trường hợp thuê lại đất trong khu công nghiệp thì có quyền
theo quy định của pháp luật về dân sự
- Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở SXKD bao gồm đất để xây dựng cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; xây dựng cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ và các công trình khác phục vụ cho SXKD
- Việc sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở SXKD phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt và các quy định về bảo vệ môi trường
- Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở SXKD được lựa chọn hình thức nhận giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất của Nhà nước; nhận chuyển quyền sử dụng đất, thuê đất, thuê lại đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thuê lại đất gắn với kết cấu hạ tầng của tổ chức, cá nhân nước ngoài
Tuy nhiên cho đến nay các chính sách này mới chỉ được thể hiện thông qua nhiều chính sách chung khác nhau mà chưa có chính sách đồng bộ, cụ thể dành riêng cho việc quản lý, sử dụng đất đai làng nghề Dẫn tới việc vận dụng chính sách, việc tổ chức, triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn và còn khác nhau ở các địa phương
1.2.3 Quản lý, sử dụng đất tại làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam
1.2.3.1 Chiến lược toàn cầu về phát triển bền vững
(i) Thuật ngữ “phát triển bền vững” được sử dụng lần đầu tiên vào đầu
thập niên 80, trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên
Trang 36và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO Tuy nhiên khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundrland (1987) (dẫn theo Nguyễn Đình Bồng, 2008) [10]
(ii) Tuyên bố Stockholm về môi trường con người: “Bảo vệ và cải thiện môi
trường con người cho các thế hệ hôm nay và mai sau đã trở thành mục tiêu cấp bách của nhân loại Mục tiêu mà chúng ta mưu cầu phải phù hợp, hài hòa với những mục tiêu và phát triển kinh tế, xã hội trên toàn thế giới” (Liên hợp quốc, 1972) [39]
(iii) Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển: “Con người là trung tâm
của những mối quan hệ về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh hài hòa với thiên nhiên… để thực hiện phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét, tách rời quá trình đó” (Liên hợp quốc, 1992) [40]
(iv) Tuyên bố Johannesburg về phát triển bền vững:
- Quan điểm “Nhận thức rằng nhân loại đang đứng trước bước ngoặt lịch
sử, chúng tôi đã thống nhất cùng quyết tâm, nỗ lực một cách tích cực nhu cầu về việc cần có một kế hoạch rõ ràng và khả thi để xóa bỏ nghèo khó và phát triển con người… chúng tôi công nhận rằng xóa bỏ nghèo khó, thay đổi các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế, xã hội là những mục đích có tính bao quát và là những yêu cầu thiết yếu
để phát triển bền vững” (Liên hợp quốc, 2002) [41]
- Kế hoạch thực hiện Johannesburg
(1) Xóa nghèo khó là thách thức mang tính toàn cầu lớn nhất mà ngày nay thế giới đang phải đối mặt và là một yêu cầu không thể thiếu được vì sự phát triển bền vũng, nhất là đối với các nước đang phát triển… Điều này sẽ bao gồm
Trang 37hành động ở các cấp khác nhau nhằm giảm một nửa tỷ lệ số người trên thế giới
có thu nhập ít hơn 1 USD/ngày và tỷ lệ số người phải chịu nạn đói, đồng thời giảm một nửa tỷ lệ số người không được cung cấp nước an toàn đến 2015
(2) Làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất và tiêu thụ hiện có của các xã hội là rất cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững toàn cầu…
(3) Khuyến khích, thúc đẩy việc xây dựng khuôn khổ 10 năm các chương trình hỗ trợ sáng kiến quốc gia và khu vực làm tăng sự chuyển đổi hướng đến sản xuất và tiêu dùng bền vững nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong khả năng chịu tải của các hệ sinh thái, bằng cách giải quyết ở những nơi có thể, loại trừ mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường thông qua cải thiện tính hiệu quả và bền vững trong việc sử dụng các nguồn lực và các quá trình sản xuất, giảm sự suy thoái tài nguyên, ô nhiễm và chăn thả …
(4) Hoạt động của con người ngày càng có nhiều tác động đến tính thống nhất của các hệ sinh thái cung cấp các nguồn tài nguyên căn bản, dịch vụ cho phúc lợi và các hoạt động kinh tế của con người Quản lý cơ sở tài nguyên thiên nhiên theo phương thức bền vững và tổng hợp là quan trọng đối với sự phát triển nền vững Về khía cạnh này, để đảo ngược xu thế hiện tại càng sớm càng tốt về
sự suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì cần thiết phải thực hiện các chiến lược bao gồm các mục tiêu đã được thông qua ở cấp quốc gia, và có thể ở cấp khu vực để bảo vệ các hệ sinh thái và đạt được sự quản lý tổng hợp về đất đai, nước và các nguồn tài nguyên sống đồng thời tăng cường năng lực ở cấp địa phương, quốc gia và khu vực…
(5) Một phương pháp tiếp cận mang tính lồng ghép nhiều rủi ro, tổng hợp nhằm giải quyết sự dễ bị tổn hại, đánh giá rủi ro và quản lý các thảm họa, kể cả việc phòng ngừa, giảm nhẹ, sẵn sàng, ứng phó và khôi phục là nhân tố căn bản của một thế giới an toàn hơn trong thế kỷ thứ 21…” (dẫn theo Nguyễn Đình Bồng, 2008) [10]
Trang 381.2.3.2 Chiến lược quốc gia của Việt Nam về phát triển bền vững
a) Tham gia các công ước quốc tế về môi trường và phát triển bền vững
(i) Năm 1992 Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham gia Hội nghị LHQ
về Môi trường và Phát triển Rio de Janeiro, Brazil từ ngày 3-4/6/1992, ký các văn kiện và công ước chính về môi trường đã thông qua tại Hội nghị;
(ii) Năm 2002, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham gia Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững Johannesburrg, Nam Phi, 26/8- 4/9/
2002, ký các văn kiện và công ước chính về Môi trường và Phát triển bền vững
đã thông qua tại Hội nghị; (dẫn theo Nguyễn Đình Bồng, 2008) [10]
b) Pháp luật về môi trường và phát triển bền vững
(i) Luật Bảo vệ môi trường (1993) ban hành theo Nghị quyết Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX ngày 27/12/1993
(ii) Luật Bảo vệ môi trường (2005), ban hành theo Nghị quyết Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI Kỳ họp thứ 8 từ ngày 18/10 đến 29/11/2005;
(iii) Quyết định số 256/2003/QĐ/TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ở Việt Nam
(iv) Quyết định 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam)
(v) Quyết định số 432/2003/QĐ/TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến 2020 và tầm nhìn đến 2030 ;
(vi) Quyết định 1206 QĐ-TTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn
2011-2012
Nội dung Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam:
Trang 39- Phát triển bền vững con đường tất yếu của Việt Nam;
- Những lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững;
- Những lĩnh vực xã hội cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững;
- Những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững;
- Tổ chức thực hiện phát triển bền vững
1.2.3.3 Quản lý, sử dụng đất tại làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững
Quản lý, sử dụng đất đai tại làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững
là việc quản lý, sử dụng đất đai để làng nghề ngày càng được bảo tồn, phát triển
và đáp ứng tốt được các quan điểm phát triển bền vững làng nghề về mặt kinh tế
- xã hội và môi trường Trên quan điểm phát triển bền vững, cần xây dựng được
hệ thống các cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nước, trong đó đặc biệt là cơ chế, chính sách về đất đai tạo điều kiện cho việc quản lý, sử dụng đất đai tại các làng nghề, đảm bảo làng nghề ngày càng phát triển
a) Quản lý, sử dụng đất đai làng nghề bền vững với mục tiêu kinh tế
Quản lý, sử dụng đất làng nghề gắn với mục tiêu kinh tế Những mục tiêu kinh tế trong sử dụng đất đai giữa chủ sử dụng đất thực tế và cộng đồng dân cư lớn hơn, có lúc trùng với nhau và có lúc không trùng nhau
Các hộ gia đình, cơ sở SXKD tại các làng nghề luôn đặt ra mục tiêu trước mắt là khai thác tối đa việc sử dụng đất của mình, khai thác các quyền sử dụng đất của mình để đem lại cho mình lợi nhuận, thu nhập, hiệu quả kinh tế cao nhất
Trong khi đó để phát triển bền vững làng nghề, trước hết là đảm bảo các mục tiêu kinh tế lâu dài và cần thiết cho cả cộng đồng, đó là đảm bảo mặt bằng
để các cơ sở SXKD tồn tại và phát triển; đảm bảo cho các chủ sử dụng đất thuận lợi trong việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất; đảm bảo có đất để mở rộng khu dân cư, đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu vui chơi, giải trí
Như vậy, các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể
Trang 40mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng
b) Quản lý, sử dụng đất đai làng nghề bền vững với mục tiêu xã hội
Sử dụng đất đai trước tiên là liên quan tới những người sống trên mảnh đất đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu xã hội rõ rệt của bất cứ một Nhà nước nào, nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà nó có tác dụng giúp thoả mãn những nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững làng nghề là một phương pháp hữu hiệu, nhằm cùng một lúc đạt được 3 mục tiêu là kinh tế, xã hội và môi trường Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm các cơ sở vật chất công cộng hoặc các phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu nhập Ngoài ra, còn tạo ra một ý thức về công bằng xã hội và kiểm soát chính tương lai của họ
Một mục tiêu xã hội nữa cần phải kể đến là mâu thuẫn giữa các thế hệ về việc sử dụng đất đai Đó là việc sử dụng đất đai của thế hệ hiện tại không nghĩ đến lợi ích của các thế hệ con cháu mai sau
Tóm lại, mục tiêu xã hội luôn thay đổi và biến động theo từng thời kỳ, điều đó dẫn đến sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất để đáp ứng các nhu cầu mới của xã hội về nông sản, thực phẩm và các dịch vụ xã hội khác
c) Quản lý, sử dụng đất đai làng nghề bền vững với mục tiêu môi trường
Đối với bất kỳ vùng nào, một quốc gia nào trong sử dụng đất đai gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung
và mục tiêu riêng Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và mục tiêu về môi trường Các tiêu chuẩn và mục tiêu này thường được thành lập dựa trên thuật ngữ hoá học, vì nó liên quan đến sức khoẻ và thế hệ mai sau Việc nhìn nhận "môi trường" không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học, đất nước phong cảnh thiên nhiên là các tài sản có giá trị Vì thế, những vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệu quả nếu nó được thực hiện kết hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội