1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC SỬ DỤNG TỔNG HỢP NGUỒN NƯỚC HỆ THỐNG THỦY LỢI ĐỒNG MÔ NGẢI SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

131 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 6,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hệ thống thuỷ lợi đã cung cấp nước tưới và tiêu thoát nước cho các cây trồng nông nghiệp là chủ yếu và cây trồng lâm nghiệp Nhiều nước trên thế giới đã đảm bảo được an ninh lương th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

Người hướng dẫn khoa học

1 PGS.TS HOÀNG THÁI ĐẠI

Hà Nội – 2011

Trang 3

MỞ ĐẦU

A TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nước luôn giữ một vai trò quan trọng mang tính sống còn trong lịch sử phát triển loài người và phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia Việt Nam là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời, gần 80% dân số sống ở nông thôn, ngành sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, nhu cầu nước cho nông nghiệp rất cao Mặt khác, hiện nay quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đang diễn ra với tốc độ ngày càng cao, các làng nghề mọc lên nhiều, nhu cầu khai thác nguồn nước ngầm ngày càng cao, nhưng nguồn nước ngầm này ngày càng cạn kiệt, bị ô nhiễm và ngày càng trở nên khan hiếm Do đó các công trình thủy lợi cấp nước nông nghiệp có ý nghĩa ngày càng to lớn không những đối với việc cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn đối với việc cấp nước sinh hoạt, phát triển công nghiệp, thủy sản, du lịch, cải tạo và bảo vệ môi trường

Công trình thủy lợi đã xây dựng ở đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) trong nhiều năm qua mới chỉ hướng vào mục tiêu chính là đảm bảo yêu cầu cho nông nghiệp, chưa chú trọng đến yêu cầu cấp thoát nước cho các khu vực đô thị, công nghiệp và nuôi trồng thủy sản Bởi vậy khi có thêm nhu cầu dùng nước của các ngành cùng với yêu cầu về chất và lượng nước thay đổi thì mâu thuẫn giữa nhu cầu nước với khả năng cấp nước của các công trình này càng trở nên căng thẳng hơn Do đó biện pháp nâng cao hiệu quả tổng hợp của các công trình thuỷ lợi (CTTL), luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách

Để có cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của các CTTL, cần thiết có sự nghiên cứu, khảo sát đánh giá toàn diện, đầy đủ, định tính, định lượng về tác dụng, hiệu quả, và phương thức các công trình thuỷ lợi phục vụ tổng hợp đa mục tiêu cho phát triển kinh tế - xã hội, tìm ra nguyên nhân của các tồn tại, thiếu sót rồi đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phục - phát triển làm cơ sở khoa học

- thực tiễn vững chắc cho quy hoạch, xây dựng và quản lý các công trình thuỷ lợi đạt hiệu quả cao, phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, vùng trên quan điểm sử dụng

tổng hợp, bền vững tài nguyên nước

Hồ Đồng Mô - Ngải Sơn với 3 nhiệm vụ chính là cấp nước tưới cho nông nghiệp, đảm bảo mực nước phục vụ du lịch và thủy sản và cũng chịu những tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, sự phát triển của các các tổ chức dùng nước đòi nhu cầu cấp nước ngày càng cao cả số lượng lẫn chất lượng nước

Trang 4

Hồ Đồng Mô - Ngải Sơn được xây dựng từ năm 1969, đến năm 1974 thì bắt đầu đưa vào khai thác với dung tích ứng với mực nước dâng bình thường là 86 (106

m3) và mực nước dâng bình thường là +23,25 (m), cao trình đỉnh đập +26,00 (m), nhiệm vụ để phục vụ tưới cho 12.000 ha đất nông nghiệp của các huyện Thạch Thất, Quốc Oai nằm bên hai bờ sông Tích Hồ nước nằm trên địa bàn 3 xã Kim Sơn, Sơn Đông và Cổ Đông (thị xã Sơn Tây, Hà Nội) Ban đầu chỉ là vùng thung lũng triền đồi, sau đó được tạo thành hồ bởi việc đắp đập ngăn 2 con sông Măng và Ngải Sơn, chu vi hồ vào khoảng 17km

Tuy nhiên, cho đến ngày 2/4/2010, cao trình nước hồ chỉ còn ở mức 13,97m và cho đến ngày 6/4/2100 thì rút xuống chỉ còn vỏn vẹn 13,51m; lượng nước trong hồ chỉ còn 5,9 triệu m3 Tính từ ngày đưa vào khai thác đến nay, thì mức 13,51m là mức khô cạn nhất trong lịch sử 37 năm của hồ Đồng Mô, với mức này chỉ còn 51cm nữa là xuống đến mực nước chết (không mở được cửa xả tưới tiêu) gây ảnh hưởng lớn đến diện tích đảm nhận tưới của hệ thống

Mặt khác, mực nước hồ hạ thấp cũng ảnh hưởng rất lớn đến nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các cá thể rùa sống trong hồ Các chuyên gia của Chương trình rùa Việt Nam cho rằng “cụ rùa” Đồng Mô cùng loài với “cụ rùa” Hồ Gươm là 2 trong số 4 cá thể còn tồn tại trên thế giới của loài rùa

Mực nước hồ hạ thấp còn ảnh hưởng lớn đến du lịch, làm thu hẹp phạm vi thăm quan du lịch lòng hồ, ảnh hưởng hoạt động của sân golf Đồng Mô

Đồng thời mực nước hồ xuống thấp còn gây nên mâu thuẫn giữa các đơn vị sử dụng nước Việc đáp ứng nhu cầu nước cho nông nghiệp càng làm mực nước hồ giảm gây mâu thuẫn với ngành du lịch và thủy sản, làm ảnh hưởng đến việc đi lại của tàu thuyền và hệ sinh thái trong lòng hồ

Với những mâu thuẫn nêu trên đòi hỏi năng lực, trình độ của đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi hồ Đồng Mô - Ngải Sơn để quản lý, khai thác tổng hợp nguồn nước hồ đảm bảo nhu cầu cấp nước cho các tổ chức dùng nước và đạt hiệu quả kinh tế cao

Vì thời gian có hạn, đề tài luận văn chỉ tập chung vào nghiên cứu đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng tổng hợp nguồn nước đảm bảo hài hòa nhu cầu dùng nước của các tổ chức sử dụng nguồn nước hồ Đồng Mô - Ngải Sơn

Trang 5

B MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đánh giá được thực trạng hệ thống thủy lợi Đồng Mô - Ngải Sơn đáp ứng nhiệm

vụ thiết kế và phục vụ đa mục tiêu so với yêu cầu mới

Đề xuất được một số giải pháp khai thác, sử dụng tổng hợp nguồn nước hệ thống thủy lợi Đồng Mô - Ngải Sơn

C ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sử dụng tổng hợp nguồn nước hồ Đồng Mô - Ngải Sơn phục vụ đa mục tiêu

Phạm vi nghiên cứu ứng dụng là hệ thống thủy Đồng Mô - Ngải Sơn Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được xem xét để vận dụng cho các hồ chứa Bắc Bộ và các vùng có điều kiện tự nhiên và xã hội tương tự

D CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Cách tiếp cận

a) Thu thập tài liệu

Thu thập số liệu địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, khí tượng, thủy văn

Thu thập tài liệu dân sinh kinh tế, định hướng quy hoạch phát triển của các ngành

Thu thập tài liệu về cơ cấu tổ chức, quản lý vận hành hệ thống

Thu thập tài liệu về hiện trạng công trình hồ Đồng Mô - Ngải Sơn

Thu thập các tài liệu, kinh nghiệm thể giới, chủ yếu của các nước châu Á, Đông Nam Á, các tổ chức quốc tế như FAO, ICID, IWMI và tài liệu trong nước

Nghiên cứu các sử dụng các phần mềm máy tính đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi như: Phương pháp đánh giá nhanh (Rapid Appraisal Process - RAP), Đánh giá tiêu chuẩn hoạt động của hệ thống (Benchmarking process) của các tổ chức IPTRID, ICID, FAO phối hợp với IWMI và phần mềm IMSOP của Australia

b) Khảo sát thực địa

Điều tra khảo sát thực địa để đánh giá khả năng hoạt động của công trình, phạm

vi ảnh hưởng của các tổ chức dùng nước đối với chất lượng và trữ lượng nước của hồ,

Trang 6

ảnh hưởng tới quá trình quản lý, vận hành hồ chứa; đánh giá các điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội liên quan và ảnh hưởng đến vùng nghiên cứu

c) Tổng hợp, phân tích và tính toán

Tổng hợp phân tích các số liệu, tài liệu điều tra, thu thập, nghiên cứu các vấn đề hiện trạng qua tính toán, từ đó đề xuất ra giải pháp khai thác sử dụng tổng hợp nguồn nước hệ thống thủy lợi Đồng Mô - Ngải Sơn

2 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa công tác nội nghiệp và thực địa hiện trường

Điều tra khảo sát thực địa, thu thập tài liệu

Phân tích thống kê: phân tích các tài liệu thu thập liên quan đến công trình

Phương pháp phân tích để đánh giá tài liệu đặc trưng vùng nghiên cứu

Dùng mô hình toán để tính toán cân bằng giữa nguồn nước đến và nhu cầu nước cho các tổ chức dùng nước

Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến các chuyên gia trong ngành, các cán

bộ có kinh nghiệm quản lý khai thác công trình thủy lợi

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THỦY LỢI ĐỒNG MÔ - NGẢI SƠN 1.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÙNG NGHIÊN CỨU

1.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Do phạm vi của khu vực nghiên cứu rộng nằm trên địa phận của bốn huyện thị xã là: Thị xã Sơn Tây, huyện Ba Vì, huyện Thạch Thất, huyện Quốc Oai nên có những đặc trưng chung của tỉnh Hà Tây (cũ)

Hà Tây là một tỉnh cũ của Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, từng tồn tại trong hai giai đoạn: 1965 - 1975 và 1991 - 1998 Tỉnh nằm bên bờ phải (bờ Nam) sông Hồng và bờ trái (bờ Đông) sông Đà Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố

Hà Đông nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội cũ 10km về phía tây nam, cách sân bay quốc tế nội bài 35km Trước tháng 8 năm 2008, Hà Tây có địa giới phía đông giáp thủ

đô Hà Nội cũ, phía đông nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía nam giáp tỉnh Hà Nam, phía tây giáp tỉnh Hòa Bình, phía bắc giáp hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ địa giới của Hà Tây được sát nhập vào thủ đô Hà Nội

Hà Tây (cũ) có diện tích 2196,3km2 nằm ở 20033’ - 21018’ vĩ bắc và 105057’ -

105059’ kinh đông với 5 cửa ngõ thủ đô qua các quốc lộ số 1A, 6, 32, cao tốc Láng - Hòa Lạc, cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ Hà Tây (cũ) nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là địa bàn tập trung nhiều dự án quan trọng của quốc gia như: chuỗi

đô thị Miếu Môn - Xuân Mai - Hòa Lạc - Thị xã Sơn Tây, làng văn hóa du lịch Việt Nam, Đại học quốc gia, khu công nghệ cao, khu đô thị mới An Khánh, Quốc Oai, Ngọc Hiệp, Vạn Ninh, Đồng Xuân, Phú Cát, đường vành đai 4, đường vành đai 5 của thủ đô

Hà Nội

Với vị trí địa lý - kinh tế - chính trị - thuận lợi, Hà Tây (cũ) nay sát nhập vào Hà Nội càng có nhiều điều kiện phát triển kinh tế đa dạng, mở rộng thị trường trong nước, khu vực quốc tế, tiếp thu khoa học công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Hà Tây (cũ) có địa hình đa dạng, phức tạp bao gồm vùng núi và vùng đồi gò tập trung ở phía Bắc tỉnh và vùng đồng bằng phía Nam

Trang 8

b Số giờ nắng

Nắng chịu ảnh hưởng bởi lượng mây trên khu vực và thay đổi theo mùa, là khu vực nằm trong vùng nhiệt đới, quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào

Bảng 1.2 Số giờ nắng trung bình các tháng trong năm (h)

Bảng 1.3 Đặc trưng độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm (%)

Bảng 1.4 Đặc trưng lượng mưa các tháng trong năm (mm)

Trang 9

làm ranh giới với tỉnh Phú Thọ Sông Hồng chảy ở phía Đông, từ Bắc xuống Nam, chiều dài khoảng 127km, đoạn sông phía Bắc ngăn cách Hà Tây (cũ) với Vĩnh Phúc, đoạn sông phía Nam ngăn cách Hà Tây cũ với Hưng Yên, đoạn sông ở giữa chảy xuyên qua lòng thành phố Hà Nội

Ngoài ra, trong phạm vi tỉnh Hà Tây (cũ) còn có các con sông khác như: sông Đáy (103km), sông tích (110km), sông Nhuệ (47km), sông Bùi (7km)

Ngoài các con sông tỉnh Hà Tây (cũ) còn có các hồ lớn như: hồ Đồng Mô - Ngải Sơn (rộng 1140ha), hồ Suối Hai (671ha), hồ Mèo Gù (113ha), hồ Xuân Khanh (104ha) thuộc huyện Ba Vì, các hồ Tuy Lai (259ha), hồ Quan Sơn (283ha) thuộc huyện Mỹ Đức, hồ Đồng Xương (90ha) thuộc huyện Chương Mỹ, hồ Tân Xã (80ha) thuộc huyện Thạch Thất

1.1.3 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội

1.1.3.2 Hiện trạng phát triển các ngành, lĩnh vực

a Nông, lâm nghiệp, thủy sản

Hà Tây (cũ) có diện tích đất nông nghiệp chiếm 56,3%, diện tích đất lâm nghiệp

có rừng chiếm 7,62%, diện tích đất chuyên dùng chiếm 18,02%, diện tích đất nhà ở chiếm 5,75% và diện tích đất chưa sử dụng, sông suối chiếm 12,32%

Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 104.270ha chiếm 84,49%, riêng đất lúa có 89,4% gieo trồng hai vụ, diện tích đất trồng cây lâu năm là 3.491ha chiếm 2,82%, diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản là 5.260ha chiêm 4,26%

Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ xanh là 3.849ha, đất có mặt nước chưa

sử dụng là 3.024ha

b Công nghiệp và thủ công nghiệp

Trang 10

Hà Tây (cũ) liền kề Thủ đô Hà Nội, có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi, đất đai phong phú, cảnh quan đẹp, rất có điều kiện phát triển để trở thành một khu vực vệ tinh phát triển trên cả 3 lĩnh vực: Nông nghiệp, công nghiệp và du lịch dịch vụ

Trong những năm qua, kinh tế Hà Tây có những bước tiến đáng khích lệ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỉ trọng công nghiệp từ 34,59% (năm 2002) lên 37,1% (năm 2004) và giảm dần tỉ trọng nông nghiệp từ 35,9% xuống còn 33,6%; dịch vụ giữ mức 29,5% Cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch quan trọng, từ 70% năm 2001, giảm xuống còn 65,8% năm 2004 Trong công nghiệp, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có tốc độ tăng 20%/năm, kinh tế Nhà nước tăng 27%/năm

Sau khi được sát nhập vào Hà Nội tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các nguồn lực bên trong và bên ngoài, nhất là vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ và nguyên liệu, phát triển mạnh và đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho quá trình trao đổi hàng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ

Hà Tây (cũ) có trên 200 làng nghề với những sản phẩm đặc sắc và được nhiều người ưa chuộng như Vạn Phúc, sơn mài - Duyên Thái, tiện gỗ - Nhị Khê, thêu - Quất Động, nón Chuông, quạt Vác, khảm trai Chuyên Mỹ, hàng mây tre Phú Vinh, đồ mộc Chàng Sơn, Sơn Đồng, may Trạch Xá, mộc Đại Nghiệp vv…

c Du lịch, dịch vụ

Hà Tây (cũ) là vùng đất có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, gắn liền với các dấu tích về lịch sử phát triển của dân tộc qua đấu tranh dựng nước và giữ nước như vùng núi cao Ba Vì với huyền thoại Sơn Tinh - Thuỷ Tinh nay là Rừng Quốc gia Ba Vì, dưới chân núi có nhiều cảnh đẹp, xây dựng các điểm du lịch: Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Tiên, Thác Mơ, Suối Hai, Đồng Mô…Dãy núi đá vôi trùng điệp phía Tây Nam tỉnh (Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức) có nhiều hang động độc đáo, kỳ thú, tiêu biểu là động Hương Tích tạo nên thắng cảnh Hương Sơn nổi tiếng trong nước và thế giới, hàng năm thu hút hàng vạn khách thập phương đến du lịch và trẩy hội

Hà Tây (cũ) còn có nhiều đình chùa có giá trị cao về mặt kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật và tôn giáo: chùa Hương trong động Hương Tích nổi tiếng với danh xưng Nam thiên đệ nhất động, chùa Đậu (Thường Tín), chùa Tây Phương (Thạch Thất) có kiến trúc độc đáo nổi tiếng với 80 vị La Hán, chùa Thầy (Quốc Oai) là nơi tu hành của cao tăng Từ Đạo Hạnh Cùng với hàng trăm di tích khác đều đã được xếp hạng quốc gia

Trang 11

như: chùa Bối Khê, chùa Trăm Gian, chùa Trầm, đền Và, chùa Mía, lăng Ngô Quyền, đền Nguyễn Trãi, thành cổ Sơn Tây…

Tỉnh có 3 cụm du lịch: cụm Sơn Tây - Ba Vì là du lịch văn hoá sinh thái, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, tham quan di tích lịch sử và văn hoá dân gian, nghỉ cuối tuần Cụm chùa Hương là du lịch tín ngưỡng, tham quan di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên, du lịch hang động Cụm Hà Đông và phụ cận là du lịch xanh, du lịch văn hoá trong các làng nghề và làng nông nghiệp truyền thống, du lịch thương mại

d Văn hóa, xã hội

Công tác giáo dục, đào tạo từ lâu đã được chú trọng đầu tư do đó phát triển rất tốt Với phương châm tất cả trẻ em đến tuổi đều được đi học, ở tất cả các xã đều có trường học từ trung học cơ sở trở xuống Tuyến huyện đều có các trường PTTH, ở một

số huyện vùng núi do điều kiện đi lại khó khăn nhà nước đã đầu tư xây dựng các ngôi trường nội trú dành cho con em các dân tộc, vùng sâu, vùng xa có điều kiện về học tập rèn luyện văn hoá và tạo điều kiện cho các em học tiếp ở các bậc cao hơn Với việc trú trọng phổ cập giáo dục và phát triến hệ thống đào tạo, dạy nghề đã tạo ra cuộc sống văn hoá cộng đồng ngày càng được nâng cao Tới nay 100% số xã đã được phủ sóng phát thanh truyền hình góp phần truyền tải các thông tin đến tận người dân, cùng với hoạt động tích cực của các ngành văn hoá địa phương, trung ương, phải nói rằng bộ mặt văn hoá xã hội của các địa phương trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ vượt bậc

Ngành Y tế: Đang được Đảng, nhà nước quan tâm đầu tư đúng mức đến nay gần 100% số xã đã có các trạm y tế, cùng với các chiến dịch tiêm phòng và tuyên truyền phòng chống các bệnh dịch đã ngày một phát huy hiệu quả bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân trong vùng

1.1.4 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu

1.1.4.1 Nông lâm, ngư nghiệp

a Nông nghiệp

Tập trung thâm canh cao các vùng sản xuất lúa có điều kiện tưới tiêu chủ động

để giải quyết ổn định sản xuất lương thực ở mức có hiệu quả, phấn đấu lương thực 400kg/người/năm Trong các loại cây màu và cây vụ đông trú trọng phát triển cây ngô

để giải quyết thức ăn tinh bột cho chăn nuôi

Trang 12

Khai thác lợi thế về đất đai, thời tiết, khí hậu trong lưu vực phát triển cầy trồng, vật nuôi có thế mạnh, tạo các vùng hàng hoá cho thị trường trong nước và tham gia xuất khẩu trọng tâm là cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, rau thực phẩm

Phát triển nhanh hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp và hệ thống dịch vụ

kỹ thuật nông nghiệp, đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời các dịch vụ cho sản xuất

Tăng cường bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường để đảm bảo cho quá trình phát triển bền vững Xây dựng phương thức canh tác nông - lâm kết hợp trên vùng đồi,

để vừa đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả về sinh thái

Hướng bố trí sản xuất trồng trọt đến năm 2015 và năm 2020 là tập trung thâm canh các vùng lúa để tăng năng suất, sản lượng Chuyển những diện tích trồng lúa trên chân ruộng cao năng suất quá thấp không hiệu quả sang trồng cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả, một số diện tích ruộng trũng sang nuôi cá và kết hợp một vụ lúa một vụ nuôi cá đồng thời tăng thời vụ và tăng diện tích nông nghiệp đặc biệt là đất cây trồng cạn

Hướng phát triển chăn nuôi của toàn khu vực là: Ưu tiên phát triển đàn lợn, bò,

gà ngoài ra phát triển các vật nuôi khác để tăng chất lượng bữa ăn và tăng thu nhập của các hộ gia đình

Đàn lợn: Phát triển với tốc độ tăng như hiện nay tập trung cải tạo chất lượng giống qua xây dựng đàn lợn nái ngoại sản xuất con giống Thực hiện chương trình nạc hoá đàn lợn Hướng sản xuất lợn thịt và lợn sữa cho xuất khẩu

Phương án tăng trưởng nhanh có thể đưa tốc độ tăng trưởng đàn lên 3-5%

Đàn bò: Tăng nhanh số lượng và cải tạo chất lượng đàn bằng cách tiếp tục chương trình sinh hoá đàn bò đến năm 2015 có ít nhất 60% bò lai trong tổng đàn Để tiến hành lai tạo với giống Zeba Mục tiêu chăn nuôi bò lấy thịt cần tạo được trọng lượng lớn và tỷ lệ thịt cao nên cải tiến chất lượng đàn có ý nghĩa lớn phát triển nhiều phương thức chăn nuôi, chăn dắt thường xuyên và kết hợp nuôi và có thức ăn hỗ trợ

Đàn trâu: Chức năng cày kéo của trâu đang được thay thế dần mặt khác khả năng cho thịt của đàn trâu không cao vậy hướng sẽ giảm dần quy mô đàn trâu và thế nuôi bò

Đàn gia cầm: Phương thức chăn nuôi chủ yểu trong các hộ gia đình với các giống

gà nội chủ yếu cung cấp thịt gia cầm cho vùng lân cận; thịt gia cầm có vai trò quan trọng nhờ năng suất cao, quay vòng nhanh Chăn nuôi gia cầm có ý nghĩa lớn trong cải thiện bữa ăn, cải thiện chế độ dinh dưỡng của dân cư nông thôn

Trang 13

Mặt khác hiện nay thực hiện tốt chương trình nông thôn mới có sợ liên kết của ba nhà: nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học đã hình thành nhiều khu trang trai chăn nuôi lớn với quy mô hàng nghìn con gia súc, gia cầm

b Lâm nghiệp

Tình trạng rừng hiện nay đã trở nên nghèo cả vệ sổ lượng và chất lượng, tỷ lệ che phủ của rừng thấp Biện pháp trước mắt thực hiện đóng cửa rừng, cấm khai thác gỗ, đặc biệt là các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu có độ dốc từ 30° trở lên Đến năm 2020 chủ yếu là khai thác các vùng rừng trồng, trồng và phát triển bền vững các vùng rừng phòng hộ Hướng phát triển lâm nghiệp trong những năm tới nhanh chóng khôi phục lại vốn rừng bằng hai phương thức: Khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng mới rừng trên đất núi trọc phấn đấu đến năm 2020 đưa độ che phủ rừng lên 50%

c Thủy sản

Diện tích mặt nước có thể nuôi trồng thủy sản lớn bao gồm ao, hồ, ruộng trũng

và sông suối Chuyển mạnh sang hướng thâm canh và bán thâm canh đưa giống cá nuôi

có năng suất cao, phục hồi các giống đặc sản đưa vào sản xuất nhằm tăng nhanh giá trị sản lượng thủy sản

Với phương châm tận dụng mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, đồng thời manh dạn chuyển dịch loại đất trũng cấy lúa vụ mùa bấp bênh sang cơ cấu l cá, 1 lúa để nuôi các loại cá tăng trọng nhanh và có chất lượng cao Nói chung giá trị sản xuất thủy sản chi chiếm 2,3% trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, nhưng nó tạo nguồn thu nhập hỗ trợ cho nông dân

Dự kiến đến năm 2020, năng suất 2,0 tấn/ha

1.1.4.2 Các ngành kinh tế khác

a Công nghiệp

Sau khi Hà Nội sát nhập Hà Tây, theo định hướng phát triển công nghiệp Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn 2030 thành phố sẽ tập trung phát triển nhanh hơn một số ngành, sản phẩm công nghiệp như công nghệ tin học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ chế tạo khuôn mẫu các ngành và sản phẩm công nghệ cao

Phát triển công nghiệp điện tử, cơ khí chính xác, dụng cụ y tế, công nghiệp dược, hoá, mỹ phẩm… Theo đó, thành phố sẽ bố trí các ngành theo xu hướng chuyển đổi cơ

Trang 14

cấu đầu tư và công nghệ nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, xây dựng các khu, cụm công nghiệp chuyên ngành

Hiện trong địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ) đã hình thành và phát triển rất nhiều khu công nghiệp: khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu công nghiệp Bắc Phú Cát, khu công nghiệp Phú Nghĩa, khu công nghiệp Thạch Thất- Quốc Oai, khu công nghiệp Phụng Hiệp, khu công nghiệp Bắc Thường Tín, khu công nghiệp An Khánh và còn một số cụm công nghiệp: cụm công nghiệp Hà Bình Phương, cụm công nghiệp Đồng Mai,

b Thủ công nghiệp

Với mục tiêu phát triển thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo ở khu vực thành thị và nông thôn, tránh tình trạng di dân tự do, giải quyết vấn đề xã hội, mặt khác đó còn là điều kiện để phát huy và khôi phục bản sắc văn hoá dân tộc

Từ những nhận định đó Nghị Quyết Đại Hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Phát triển

đa dạng công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, thị trấn, thị tứ liên kết với công nghiêp tập trung, phát triển các làng nghề truyền thống làm hàng xuất khẩu, mở mang cá loại hình dịch vụ "

Xuất phát từ đặc điểm cụ thể: Hà Tây (cũ) là một Tỉnh diện tích không rộng, dân

cư đông đúc, khu vực nông thôn chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh Nhưng cạnh đó lại

có ưu thế về phát triển Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp Đặc biệt là ưu thế phát triển các làng nghề thủ công truyền thống Đây là một hướng đi rất quan trọng nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng vạn lao động khu vực nông thôn, thị trấn, thị tứ và đô thị

c Du lịch, dịch vụ

Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thì Hà Tây (cũ) có vị trí quan trọng với tư cách là điểm du lịch phụ cận thủ đô Hà Nội, trong tam giác du lịch và kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh của vùng Bắc Bộ, có thế mạnh và thuận lợi phát triển du lịch Địa bàn có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp với các di tích lịch sử văn hóa, cách mạng, làng nghề là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển du lịch với các sản phẩm đa dạng phong phú, như tham quan di tích lịch sử, lễ hội, làng Việt cổ, nghỉ cuối tuần vui chơi giải trí leo núi, tham quan du lịch làng nghề Trong chương trình hành động quốc gia về du lịch toàn quốc có 22 khu, điểm du lịch tổng hợp, chuyên đề thì trong đó tỉnh ta có 2 khu du lịch chuyên đề là khu du lịch văn hóa thắng cảnh Hương

Trang 15

Sơn và khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Ba Vì - Suối Hai Bên cạnh đó nhiều địa phương có dày đặc các quần thể di tích lịch sử văn hóa danh lam thắng cảnh, điều này

đã khẳng định vị trí quan trọng của du lịch Hà Tây trong chiến lược phát triển du lịch cả nước Thực tế trong thời gian vừa qua trên địa bàn có các chương trình lớn của Quốc gia được triển khai như khu công nghệ cao Láng - Hòa Lạc, Đại học quốc gia, làng văn hóa các dân tộc Việt Nam sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động du lịch

Ngành đã xây dựng định hướng phát triển về thị trường, phương hướng đầu tư, chiến lược marketing… và phát triển sản phẩm chủ yếu, dựa trên các điều kiện tiềm năng, tài nguyên du lịch với các loại hình sản phẩm đặc trưng, đó là du lịch văn hóa với

lễ hội chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương… Mặt khác tăng cường khai thác thế mạnh du lịch làng nghề thủ công truyền thống thu hút khách du lịch và xúc tiến thương mại gắn với xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ hướng dẫn viên tại các điểm làng nghề phục vụ du lịch và đưa sản phẩm làng nghề thành hàng hóa lưu niệm Tổ chức tham quan di tích văn hóa dựa trên tiềm năng các đặc trưng văn hóa lâu đời của địa phương tạo cơ hội cho du khách khám phá môi trường văn hóa mới, đây là sản phẩm du lịch thu hút khách nước ngoài Sản phẩm du lịch sinh thái chủ yếu là nghỉ dưỡng có hệ sinh thái phong cảnh đẹp, khí hậu trong lành như: Đồng Mô, Suối Hai, Quan Sơn, rừng nguyên sinh Bằng Tạ… Du lịch thể thao vui chơi giải trí điền dã với các loại hình đa dạng như các chuyến tham quan dã ngoại leo núi có thể phát triển ở khu vực Ba Vì, Hương Sơn, Quan Sơn Các loại hình thể thao cao cấp như chơi gôn, đua thuyền, dù nước, đua ngựa, tập trung ở khu vực Đồng Mô, Suối Hai Thị trường du lịch văn hóa hiện chiếm 60% đang phát triển bền vững nhưng hiệu quả kinh doanh thấp nên cần có biện pháp thay đổi chất lượng, tập trung phát triển sản phẩm mới để thu hút khách quốc tế và khách nội địa

du khảo văn hóa, du lịch đồng quê, làng nghề…

1.2 TÌNH HÌNH KHAI THÁC SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC VÙNG NGHIÊN CỨU 1.2.1 Khảo sát thực tiễn công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu

1.2.1.1 Trên thế giới

Nghiên cứu nhận biết vai trò phục vụ đa mục tiêu của các hệ thống thủy lợi:

Các kết quả nghiên cứu do Viện quản lý nước quốc tế (IWMI) thực hiện tại nước Srilanca và tài liệu quốc tế khác của Ủy ban tưới tiêu quốc gia Thái Lan, của Cục thủy nông Thái Lan, của tổ chức Liên hợp quốc FAO, của Mạng lưới châu Á về quản lý nước, Uỷ ban Tưới tiêu quốc tế ICID, của Đại học HR Wallingford and DFID, Anh

Trang 16

quốc, và các kết quả của các nhà nghiên cứu tại các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Philippin, Mexico, Nam Phi, Australia cho thấy rõ hiệu quả CTTL phục vụ đa mục tiêu

+ Các hệ thống thuỷ lợi đã cung cấp nước và tiêu thoát nước cho nhiểu đối tượng khác bên cạnh việc nhiệm vụ chính là tưới, tiêu nước cho cây trồng

+ Cụ thể vai trò phục vụ đa mục tiêu của các HTTL gồm các lĩnh vực sau:

a Các hệ thống thuỷ lợi đã cung cấp nước tưới và tiêu thoát nước cho các cây trồng nông nghiệp là chủ yếu và cây trồng lâm nghiệp

Nhiều nước trên thế giới đã đảm bảo được an ninh lương thực (ANLT) quốc gia

và góp phần đảm bảo ANLT thế giới là nhờ phát triển nền nông nghiệp có tưới với diện tích cây trồng được tưới, tiêu nước ngày càng tăng, nhất là tại các nước sản xuất lương thực, nông sản lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Thái Lan, Việt nam, Nhật Bản, Mexico, Brazinlia, Philipin, Indonesia…ở đó, đã từ lâu thuỷ lợi - tưới tiêu nước đã được coi là giải pháp hàng đầu trong phát triển nông nghiệp, có tác dụng quyết định đến tăng

vụ, tăng năng xuất, sản lượng các cây trồng…

b Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước sinh hoạt

+ Phần lớn dân cư nông thôn sống gần cạnh các kênh mương dẫn nước của HTTL nên họ có điều kiện thuận lợi sử dụng nước miễn phí nguồn nước từ HTTL cho sinh hoạt gia đình, thông qua sử dụng trực tiếp nước chảy trên kênh mương, hoặc gián tiếp thông qua các giếng nước được nguồn cung cấp nước từ các kênh mương ngấm vào tầng đất chứa nước, nhất là trong mùa khô hạn, đặc biệt các vùng khan hiếm nước

+ Các hệ thống thủy lợi quy mô vừa và nhỏ thường cung cấp nước cho các nhu cầu sinh hoạt nông thôn, các hệ thống cỡ lớn và trung bình còn thêm cả cấp nước cho các khu đô thị, thị trấn, khu công nghiệp, thậm trí còn cấp nước cho các thành phố Tại Trung Quốc, các hệ thống thủy lợi lớn đã cung cấp 26 tỷ m3 nước/năm cho các nhu cầu sinh hoạt và công nghiệp (chiếm tới 15% tổng các nhu cầu nước sinh hoạt, công nghiệp của Quốc gia này, cho hơn 200 triệu dân cư)

+ Dân cư nông thôn, chủ yếu là nông dân mà nhà cửa của họ phần lớn nằm gần cạnh các kênh mương dẫn nước của hệ thống thủy lợi nên họ có điều kiện thuận lợi sử dụng nước từ kênh mương thủy lợi cho sinh hoạt gia đình, họ đã sử dụng trực tiếp nước chảy trên kênh mương, hoặc sử dụng gián tiếp thông qua các giếng nước được nguồn nước cấp từ các kênh mương ngấm vào đất - tầng chứa nước, nhất là trong mùa khô

Trang 17

+ HTTL cung cấp nước cho các hộ nông dân đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa thuộc miền đồi núi, ở đó chưa có được hệ thống cấp nước sạch công nghiệp cho sinh hoạt thì các gia đình nông dân thường tận sử dụng nguồn nước từ các hệ thống thủy lợi (hồ chứa nước, nước trên kênh mương) để cho sinh hoạt gia đình (nấu ăn, giặt, tắm, vệ sinh, chăn nuôi, tưới vườn…)

c Nuôi trồng thuỷ sản và thủy cầm được CTTL cấp, thoát nước

+ Hầu hết mặt nước các hồ chứa thủy lợi đã được tận dụng kết hợp nuôi trồng thủy sản tại các nước trên thế giới, kênh mương của các HTTL còn là nguồn cung cấp nước cho nhiều ao, hồ nhỏ nuôi trồng thủy sản của dân cư, các kênh mương còn thực hiện chuyển dẫn nước, hòa trộn nước mưa và nước ngọt cho nuôi trồng thủy sản nước mặn vùng ven biển

+ Tại các nước trồng lúa khu vực Đông Nam Á, nhiều cánh đồng trồng lúa thấp trũng được tưới ngập, người ta đã tận dụng kết hợp nuôi trồng thủy sản cho lợi nhuận khá cao Hơn nữa còn diệt trừ được sâu bọ phá lúa nhờ cá, tôm ăn chúng, còn làm tăng lượng phân bón cho lúa nhờ cá, tôm tiêu hóa thải ra

+ Còn chăn thả vịt, ngan, ngỗng trên các cánh đồng lúa trũng, trên các ao được kênh mương thủy lợi cấp nước Mô hình cơ cấu canh tác Lúa - Cá - Vịt, ngan ngỗng đã cho hiệu quả kinh tế trên cánh đồng lúa cao hơn 30-35% so với trồng thuần chỉ có lúa

d Hệ thống thủy lợi kết hợp cấp nước cho chăn nuôi

+ Tại các nước châu Á, vùng khô hạn và bán khô hạn chủ yếu tại các vùng phía Nam, Hệ thống hỗn hợp cây trồng - vật nuôi đã đóng vai trò quan trọng để tiết kiệm nước tưới, tăng hiệu quả sử dụng nước, tăng hiệu quả sản xuất chung do tận dụng các sản phẩm từ chăn nuôi (phân, nước thải…) phục vụ cây trồng, góp phần cải tạo đất Nguồn phân thải ra từ chăn nuôi còn được sử dụng làm năng lượng đun nấu phục vụ ăn uống.

+ Hệ thống thủy nông còn là môi trường, là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, thông qua việc lấy nước trực tiếp từ các hồ chứa, dùng nước kênh mương, từ các giếng nước được kênh mương thủy lợi làm tăng mực nước ngầm Hệ thống thủy lợi còn cấp nước tưới cho các đồng cỏ chăn nuôi, cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm…

+ Tại vùng cao nguyên Texas, nước Mỹ, các nhu cầu nước nông nghiệp đã khai thác tới 95% tổng lượng nước ngầm Do vậy sự thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi với

Trang 18

sự gia tăng ngành chăn nuôi (bao gồm vật nuôi và các cây thức ăn chăn nuôi) đã làm giảm lượng nước cung cấp cho nông nghiệp tới 25%, nhưng lại góp phần chống xói mòn đất, tăng độ phì nhiêu của đất, lại tăng hiệu quả kinh tế chung sản xuất

e Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn

Nhiều vùng ở nông thôn chưa được xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch, nên nguồn nước từ hệ thống kênh tưới đã cấp nước cho các hoạt động tiểu công nghiệp, dịch

vụ ở nông thôn như chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói và vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, các nhà hàng ăn uống,…

f Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho thủy điện và giao thông thủy

Những năm trước đây, một số hồ đập thủy lợi và nhiều bậc nước trên kênh mương được tận dụng để phát triển thủy điện, nhưng giảm dần cùng với sự phát triển của mạng lưới điện quốc gia (bao gồm nhiệt điện và các nhà máy thủy điện lớn) Về giao thông thủy trên các HTTL hiện nay cũng giảm dần do sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới giao thông đường bộ Tuy nhiên tại nhiều vùng ở Campuchia, Philippin, Thái Lan, Malaysia và vùng đồng bằng sông Mê Kông của Việt Nam, các hệ thống kênh mương thủy lợi đã được tận dụng nhiều cho giao thông đường thủy

g Hệ thống thủy lợi tác động tích cực đến môi trường và chu trình thủy văn và cải thiện tiểu khí hậu

+Các hệ thống thủy lợi cấp, thoát nước có tác dụng phòng chống khô hạn,

phòng chống úng ngập, lũ lụt và cải tạo đất, chống xói mòn, lầy thụt, mặn hóa đất canh tác…

+ Lượng nước gây úng ngập, lũ lụt đã được tiêu thoát bởi các hệ thống tiêu thoát nước có công trình đầu mối là các trạm bơm, cống tiêu nước… hơn nữa lượng nước gây úng ngập còn được chứa trữ tại các khu ruộng trũng trồng lúa có khả năng chịu ngập nước để rồi tiêu sau đó Kết quả khảo sát cho thấy 20% lượng nước gây ngập úng ở vùng hạ lưu sông Mê Kông trong thời gian 1999 - 2000 đã được tạm thời giữ chứa tại

các cánh đồng lúa trũng, để rồi được kênh mương thủy lợi tiêu thoát sau đó

+ Nhiều hệ thống tưới nông nghiệp có vai trò tích cực đến chu trình thủy văn và

hệ sinh thái như các tác dụng điều hòa dòng chảy, làm tăng mực nước ngầm, phòng chống khô hạn, chống úng ngập

Trang 19

+ HTTL bổ sung nguồn nước ngầm Các hệ thống kênh mương tưới đã làm tăng mực nước ngầm do nước ngấm xuống từ lòng kênh mương, thêm nữa lượng nước ngấm xuống từ các cánh đồng trồng lúa nước cũng làm tăng mực nược ngầm của các giếng lân cận

+ Tại hệ thống tưới cho lúa Kumamoto của Nhật Bản, 85% nguồn nước nhập vào nước ngầm là do lượng nước ngấm xuống từ các cánh đồng lúa, tại các vùng đất cao nguyên ở Đài Loan 21 - 23% lượng nước ngấm xuống từ cánh đồng lúa đã nhập vào nguồn nước ngầm

+ Cải thiện tiểu khí hậu: Sự bốc thoát hơi nước từ các cánh đồng lúa rộng lớn có tác dụng làm giảm nhiệt độ nóng bức trong mùa hè và làm tăng nhiệt độ, gây ấm áp vào mùa đông lạnh giá Đặc biệt ở các vùng lân cận các hồ chứa thủy lợi có khí hậu luôn mát mẻ trong mùa hè và ấm áp trong mùa đông, chính vì vậy mà nhiều khu vực có hồ chứa và hồ chứa nước thủy lợi được kết hợp xây dựng các khu du lịch

+ Tác dụng làm sạch nước của các hệ thống thủy lợi:

Khối lượng nước trên các cánh đồng lúa có tác dụng làm tăng tính hấp phụ của đất đối với các kim loại nặng và làm tăng khả năng vận chuyển chất hữu cơ của nó, các cánh đồng lúa như là các vùng đất ướt nhân tạo có tác dụng chuyển hóa các nguyên tố Nitogen và Photpho có lợi cho đất và cây trồng Tỷ lệ khử Nitogen này là từ 0.02 đến 0.8 g/m2/d

Các lượng bùn cát lắng đọng trên kênh mương trong quá trình chuyển nước và bùn cát lắng đọng trên các cánh đồng lúa tưới ngập đã có tác dụng làm sạch nước (trong hơn) và còn cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho cây trồng phát triển, cải tạo đất thoái hóa

h Bảo tồn đa dạng sinh học nhờ các HTTL

Các HTTL cấp, thoát nước và điều hoà dòng chảy, cải tạo đất đã có tác dụng rõ rệt để giữ gìn, phát triển các loại cây trồng, quần thể thực vật tự nhiên, các động vật,

sinh vật trên khu vực để bảo tồn đa dạng sinh học

i Giá trị du lịch sinh thái và giải trí của các hệ thống thủy lợi

Nhiều hệ thống thủy lợi, nhất là các hồ chứa nước đã là nơi du lịch sinh thái, giải trí rất tốt do cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ, nguyên sơ, do khí hậu ôn hòa, do bản thân các công trình của hồ chứa được thiết kế xây dựng đẹp

Trang 20

Nhiều CTTL đập dâng, các cống lớn cũng có cảnh quan đẹp và đươc thiết kể đẹp phục vụ tốt cho du lịch

k Hệ thống thủy lợi tác động tích cực đến phát triển văn hóa, xã hội

Các cánh đồng trồng lúa, các hệ thống tưới lúa có vai trò quan trọng trong phát triển xã hội, làm tăng tính cộng đồng cho những người dân sử dụng nước, góp phần nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhất là tại các nước sản xuất nhiều lúa gạo ở vùng Đông Nam Á và Châu Á, từ hàng nghìn năm trước đây đã hình thành nền văn minh, văn hóa lúa nước trong đó có Việt Nam

+ Nhờ hệ thống điện năng cung cấp cho các trạm bơm, hoặc cấp cho sinh hoạt và làm việc của các cơ quan quản lý CTTL mà những người dân ở gần đó được hưởng theo, làm tăng đời sống văn hóa, tinh thần của họ

+ Để thực hiện quản lý khai thác các CTTL, đã có nhiều người được cung cấp việc làm mới, nhiều người được đào tạo chuyên môn để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần

+ Việc thành lập và hoạt động của các Hội dùng nước (WUA), của mạng lưới PIM đã làm tăng tính cộng đồng, giáo dục ý thức tập thể cho người dân, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội

+ Các ngành nghề mới phát triển nhờ được cấp nước từ HTTL sẽ tuyển dụng nhân công, tạo thêm việc làm cho người lao động

Tuy nhiên, sự xây dựng và hoạt động của các HTTL cũng có thể ở nơi này, nơi khác đã gây ra một số tác động tiêu cực như: Phải thực hiện di dân và tái định cư để có diện tích xây dựng công trình và làm mất đi một số phần trăm diện tích canh tác, đa dạng sinh học bị thay đổi, tập quán canh tác thay đổi Các tác động tiêu cực là nhỏ, có thể giảm thiểu đến mức tối đa nhờ công tác quy hoạch, thiết kế, xây dựng và quản lý khai thác hợp lý và tối ưu, do vậy nó hầu như không đáng kể so với các lợi ích to lớn thu được từ hiệu quả phục vụ của các HTTL

1.2.1.2 Hệ thống thủy lợi phục vụ đa mục tiêu ở Việt Nam

a Các thành tựu chung

Những thành tựu do thủy lợi đạt được như sau:

Năm 1945 cả nước mới có 13 hệ thống thủy nông vừa và lớn tập trung ở các tỉnh Trung du, đồng bằng Bắc bộ, khu 4 cũ, Duyên Hải miền Trung cùng với một số kênh

Trang 21

lạch tạo nguồn ở đồng bằng sông Cửu Long với tổng năng lực tưới mới đạt 324.900 ha, tiêu mới đạt 77.000 ha Tính đến nay cả nước đã xây dựng được gần 100 hệ thống thủy nông vừa - lớn và hàng nghìn công trình thủy lợi nhỏ, trong đó có:

+ Trên 500 hồ đập lớn có dung tích trên 1 triệu m3 nước hoặc có đập cao trên 10m hoặc công trình xả lũ trên 2000 m3/s (phân loại theo tiêu chuẩn của IOCLD) Với

số lượng này Việt Nam đứng thứ 15 trên thế giới, sau Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Canada, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Pháp, Nam Phi, Mêxico, Italia, Anh Trong số hồ đập lớn trên có: 72 hồ đập có dung tích trên 10 triệu m3, 41 hồ đập có dung tích trên 20 triệu m3

+ Trên 2.000 trạm bơm lớn và vừa với tổng công suất lắp máy về tưới là 250

MW, tiêu là 300 MW để tiêu úng vụ mùa cho 1,5 triệu ha ruộng và 0,5 triệu ha đất tự nhiên (làng mạc, đường sá, thành thị )

+ Trên 5.000 cống tưới tiêu lớn và vừa được xây dựng trên các sông lạch, kênh trục cũng như dưới các đê sông, đê biển

b Các công trình thủy lợi mang lại thành tựu nổi bật to lớn

Về tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp

+ Góp phần ổn định tăng năng suất sản lượng cây trồng, đặc biệt là cây trồng lúa, tính đến năm 2008, trên phạm vi cả nước, các hệ thống thủy lợi lớn, vừa và nhỏ đã đảm bảo tưới trực tiếp cho hơn 3,45 triệu ha đất nông nghiệp, tiêu úng vụ mùa cho khoảng 1,7 triệu ha, ngăn mặn cho gần một triệu ha, cải tạo 1,6 triệu ha đất chua phèn ở đồng bằng sông Cửu Long Góp phần đưa sản lượng lương thực đạt 36 triệu tấn

+ Các công trình thuỷ lợi còn tưới trên 1 triệu ha rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả Nhờ các biện pháp thuỷ lợi và các biện pháp nông nghiệp khác trong vòng

10 năm qua sản lượng lương thực tăng bình quân 1,1 triệu tấn/năm Đưa Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới với mức

4 triệu tấn/năm

CTTL góp phần phát triển du lịch sinh thái

+ Các CTTL, nhất là các hồ chứa nước đã được tận dụng để phát triển du lịch (như các hồ Núi Cốc, Tuyền Lâm, Cửa Đạt, Kẻ Gỗ, Đồng Mô, Suối Hai, Đại Lải, Xạ Hương, Làng Hà, Đầm Vạc, Lạc Ý ), một số sân đánh gôn, các nhà nghỉ cũng được xây dựng quanh các hồ thuỷ lợi Đại Lải, Xạ Hương, Đồng Mô Một số khu cụm công trình đầu mối nhủ đập dâng Liễn Sơn, Cống Liên Mạc, Đập Đáy, đập Thác Huống, Bái Thượng,

Trang 22

dòng chảy kiệt Bổ sung cho nước ngầm, tác dụng này được thể hiện rõ ràng hơn ở những vùng cao Nước từ các kênh mưong và nước tưới từ ruộng lúa ngấm xuống làm tăng nước ngầm

Tác dụng đến môi trường đất: Tất cả các CTTL không gây xói mòn đất, giúp cải tạo đất, giúp đất có độ ẩm cần thiết để không bị bạc màu, đá ong hoá, chống cát bay, cát nhảy và thoái hóa đất, còn cải tạo đất, mở rộng diện tích canh tác

Tác dụng đến tiểu khí hậu khu vực: Các hồ chứa đều có tác động tích cực cải tạo

điệu kiện vi khí hậu của một vùng Làm tăng độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tạo nên các thảm phủ thực vật chống xói mòn, rửa trôi đất đai Mùa hè không khí mát mẻ, dễ chịu

có tiềm năng phát triển du lịch

1.2.1.3 Hiệu quả hệ thống thủy lợi phục vụ đa mục tiêu vùng trung du, miềm núi phía Bắc

Các công trình thuỷ lợi tại các tỉnh vùng miền núi, Trung du phía Bắc đã và đang thực hiện được nhiệm vụ chủ yếu là tưới, tiêu nước cho cây trồng, còn kết hợp phục vụ

đa mục tiêu để cấp nước, thoát nước cho các ngành chăn nuôi, sinh hoạt, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch, lâm nghiệp và phát điện như:

a Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển trồng trọt

+ Hệ thống công trình thủy lợi có tác động rất lớn, thực hiện được vai trò biện pháp hàng đầu phát triển ngành trồng trọt, nhờ có công trình thuỷ lợi đã làm tăng đáng

kể năng suất, tăng vụ, góp phần phát triển đa dạng hóa sản xuất và tăng sản lượng cây trồng, vật nuôi Nhìn chung nhờ các công trình thủy lợi mà hệ số quay vòng ruộng đất nâng từ 2 lên 2,5 lần, năng suất lúa được tăng lên: Vụ chiêm xuân đạt 5,03 ÷ 6 tấn/ha,

vụ mùa đạt 4 ÷ 5 tấn/ha và ngô đông đạt 5 ÷ 6 tấn/ha, khoai tây 11 ÷ 14 tấn/ha, đậu tương

từ 5,4 ÷ 13 tạ/ha, chè tăng từ 29 ÷ 41 tạ/ha

Bắc Kạn là tỉnh miền núi rất nghèo nhất miền Bắc, nhưng nhờ có các công trình thủy lợi nên diện tích tưới được mở rộng, đạt tưới chắc 85% đất canh tác canh tác được hai vụ lúa, sản lượng lúa tăng từ 5 tấn lên 8 tấn/ha/năm

Yên Bái là tỉnh miền núi khó khăn, do có CTTL được đảm bảo nước tưới chắc cho gần 80% đất canh tác nên trồng cấy được cả 2 vụ ổn định, các cây trồng đều tăng cả

về diện tích, năng suất (NS) sản lượng (NS lúa tăng từ 6 lên 9 tấn/ha/năm, NS ngô vụ đông tăng 70 %)

Trang 23

Tỉnh Phú Thọ gần 82% đất canh tác được tưới nhờ có hệ thống công trình thuỷ lợi, làm tăng hệ số quay vòng đất từ 1,6 lên 2,1 lần, NS lúa Vụ chiêm xuân tăng lên 5,03 tấn/ha, vụ mùa đạt 4,48 tấn/ha và NS ngô đông đạt 3,41tấn/ha

Tỉnh Vĩnh Phúc 80% đất canh tác được tưới nhờ CTTL đảm bảo gieo trồng cả năm 3 vụ, NS lúa vụ chiêm gần 5.5 tấn/ha, lúa vụ mùa 4,5 tấn/ha, vụ đông 3,5tấn/ha, cây vụ đông 2,8 t/ha

Thái Nguyên nhờ có CTTL mà NS ngô là 3,5 tấn/ha (tăng 70%), NS chè là 0,85 tấn/ha (tăng 60%), NS rau các loại 11tấn/ha (tăng 75%)

Tỉnh Lào Cai tưới chắc 86,2% DT, NS lúa đông xuân là 4,5 tấn/ha (tăng 50%),

NS lúa mùa là 3,8 tấn/ha (tăng 60%) NS ngô là 2,6 (tăng 40%)

Điện Biên, nhờ có hệ thống CTTL Nậm Rốm mà cả cánh đồng Mường Thanh trước đây chỉ trồng cấy được 1.500 ha lúa mùa đến nay diện tích lúa, màu 2 vụ tăng lên 3.734 ha

Tỉnh Lạng Sơn: Nhờ có tưới nước mà năng xuất cây trồng tăng cao: Lúa Xuân 5,5-6,0 t/ha, lúa mùa 4,5 T/ha, Ngô 5,0- 6,0 T/ha, Khoai tây 11- 14 tấn/ha

Tỉnh Tuyên Quang: Trong những năm gần đây, các công trình thủy lợi trong tỉnh

đã dần dần đảm bảo tưới chắc cho các diện tích yêu cầu, trong 5 năm từ 2002 ÷ 2006 tỷ

lệ tưới chắc chỉ là 60,4% đã nâng lên 75,5% và dự kiến sang năm 2008 sẽ là 78,2%

Tỉnh Quảng Ninh: Trước đây chỉ có 1 vụ sản lượng bấp bênh, hiện nay ngoài 2

vụ lúa chính còn thêm vụ màu Tổng sản lương thực quy ra thóc và bình quân đầu người ngày càng tăng, từ 188.976 năm 2000 lên hơn 230.619 năm 2008, Thủy lợi đã tạo điều kiện nâng hệ số quay vòng đất từ 1,5 lên gần 3 lần

+ Tuy nhiên hiệu quả cấp nước tưới tiêu nước chưa cao, còn thấp hơn nhiệm vụ – năng lực thiết kế đặt ra như ở tỉnh Lào Cai, vụ mùa đảm bảo từ 70 - 73% diện tích, vụ Đông – Xuân 80 - 85% so với năng lực thiết kế; tỉnh Hà Giang, tổng diện tích lúa được tưới cả năm đạt 69,1%; tỉnh Tuyên Quang diện tích CTTL đảm bảo tưới 75% DTTK; tại Vĩnh Phúc đạt 80 - 85%; Lạng Sơn đạt 75%; Cao Bằng đạt 70%; Bắc Giang đạt 70% và Thái Nguyên đạt 65 - 70% DTTK Trung bình toàn vùng các CTTL mới đảm bảo 70% - 75% năng lực thiết kế theo nhiệm vụ

b Hiệu quả CTTL phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ cầm

Trang 24

Hệ thống thủy nông còn là môi trường, là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, thông qua việc lấy nước trực tiếp từ các hồ chứa, dùng nước kênh mương, từ các giếng nước được kênh mương thủy lợi làm tăng mực nước ngầm Hệ thống thủy lợi còn cấp nước tưới cho các đồng cỏ chăn nuôi, cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm,…

Tỉnh Tuyên Quang: Hệ thống thủy lợi cấp nước cho trại chăn nuôi bò Phú Lâm với quy mô trên 3.000 con, cho trại bò Hoàng Khai, (khoảng 300 ÷ 400 con)

Hệ thống kênh mương còn là nơi cho trâu, bò ra uống nước và tắm rửa trực tiếp, do vậy một số hệ thổng thuỷ lợi ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn còn được xây dựng bến xuống tắm cho gia súc

Với gia cầm được chăn nuôi chủ yếu ở quy mô nhỏ, hộ gia đình, hầu như tận dụng nước mặt từ kênh mương chảy vào các ao, đầm (được đào mới hay có sẵn), hoặc nước từ

hệ thống kênh mương làm tăng mực nước ngầm để rồi được lấy phục vụ chăn nuôi

Lợi dụng mặt nước kênh mương để chăn thả vịt, ngan, ngỗng hay tháo nước từ kênh mương vào các ao chăn nuôi thủy cầm

Nước từ các hệ thống thủy lợi còn được dùng để tưới cho các đồng cỏ, cây thức ăn chăn nuôi như ở đồng cỏ lớn của Công ty nuôi bò Phú Lâm, Tuyên Quang, của công ty nuôi bò Mộc Châu, Sơn La, trại nuôi dê ở cạnh kênh chính hồ Núi Cốc Thái Nguyên

Tại Yên Bái, HTTL đập dâng19 tháng 5, Nghĩa lộ đã cấp nước cho chăn nuôi Đàn trâu là 2.527 con, đàn bò là 393 con, đàn lợn của thị xã là 13.337 Cấp nước cho gia cầm (gà, ngan, vịt, ngỗng, ) trên 30.000 con Số lượng ao chăn thả thủy cầm được lấy nước từ kênh mương trên 100 ao

Tại các nơi chăn nuôi vấn đề nước thải chưa được quan tâm, nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường của gia súc và con người Nước thải từ các khu chăn nuôi thường được đổ trực tiếp ra ao, đầm hoặc hệ thống kênh mương

c Công trình thủy lợi phục vụ cho ngành nuôi trồng thuỷ sản

Đánh giá chung

Nhìn chung các hệ thống công trình thuỷ lợi đã và đang tham gia tích cực vào cấp

và thoát nước cho nuôi trồng thuỷ sản: Các hệ thống thuỷ lợi hồ chứa đã cấp nước cho các ao, hồ trại thuỷ sản của vùng đồng thời diện tích mặt hồ còn trực tiếp dùng để nuôi

cá, nguồn nước từ hồ được người dân lấy vào các ao thông qua các kênh dẫn để nuôi

Trang 25

trồng thuỷ sản, hầu hết các loại hồ chứa nước trong các tỉnh không những được sử dụng trực tiếp nuôi trồng thủy sản mà còn trực tiếp cấp nước cho các ao, hồ, các vùng trũng của người dân để nuôi trồng thủy sản, Các công trình thuỷ lợi có đầu mối là các đập dâng, trạm bơm đều qua hệ thống kênh mương còn trực tiếp cấp nước cho các ao hồ, các vùng trũng để nuôi thủy sản

Nhiều nơi tận dụng các chân ruộng thấp được cấp nước từ kênh mương thuỷ lợi để chuyển sang nuôi cá

Tình hình thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh:

Tỉnh Bắc Giang: có khoảng 70 hồ chứa có mặt nước lớn với tổng diện tích 4.973ha, hiện nay có 3.614ha đã được đưa vào thả cá Hồ Cấm Sơn Bắc Giang thực hiện nuôi cá ngay tại mặt hồ đạt sản lượng 400 - 500 (tấn/năm)

Các hệ thống thủy lợi còn cung cấp nước cho ruộng trũng một vụ chuyển sang nuôi thuỷ sản là 1.503, ha Quy hoạch nuôi cá ruộng trũng được cấp nước từ các CTTL của tỉnh trên 5.000ha

Tỉnh Lạng Sơn có khoảng 251 hồ chứa với tổng diện tích mặt nước 1200 ha, hiện nay hầu hết các hồ chứa này đều được đưa vào thả cá

Tỉnh Thái Nguyên: Hồ Núi Cốc có khoảng 330,6 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản với sản lượng 800 (tấn/năm)

Tỉnh Tuyên Quang: Toàn tỉnh có 2.050 ha mặt nước hồ, ao để nuôi thả cá Tổng

số 472 hồ chứa và các ao gia đình khoảng 934 ha chủ yếu lấy nước từ kênh mương thủy lợi Hệ thống hồ Ngòi Là có diện tích mặt nước trên 50 ha đã được nuôi trồng thuỷ sản,

hệ thống kênh mương của hồ Ngòi Là còn cung cấp nước vào gần 200 ao, hồ gia đình được đào cạnh kênh mương để lấy nước, năng suất bình quân đạt 5 tấn/ha

Tỉnh Vĩnh Phúc: Đang hoàn thành dự án quy hoạch thủy lợi gần 6.000ha vùng ruộng lúa trũng kết hợp nuôi trồng thuỷ sản Hệ thống Liễn Sơn cung cấp nước cho trại thủy sản của tỉnh và nhiều ao, hồ nhỏ nằm rải rác trên hệ thống

Hồ chứa Xạ Hương cung cấp nước cho liên doanh nuôi cá Trình để xuất khẩu

Hồ Đầm Bài - huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình: có khoảng 50 ao dọc trên kênh tưới lấy nước để nuôi cá Tại các tỉnh nêu trên các kênh mương thủy lợi còn làm nhiệm vụ tiêu thoát nước cho các khu nuôi trồng thủy sản, hoặc dùng nước thải từ thủy sản, từ chăn nuôi để tiếp tục tưới ruộng

Trang 26

d Thuỷ lợi phục vụ công nghiệp các tỉnh Miền núi, Trung du phía Bắc

Nền công nghiệp của các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc đang trong thời kỳ đầu phát triển do đó vai trò của công trình thuỷ lợi đến cấp, thoát nước cho công nghiệp chưa mạnh, chỉ ở một số tỉnh có ngành công nghiệp phát triển hơn như Thái nguyên, Bắc Giang, Lào Cai… đã được CTTL cung cấp nước cho một số xí nghiệp, nhà máy còn lại chủ yếu cấp nước cho các dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhỏ lẻ như sản xuất gạch ngói và vật liệu xây dựng, chế biến thức ăn gia súc Bên cạnh đó các hệ thống thuỷ lợi còn phục vụ cho việc tiêu thoát nước cho các nhà máy, xí nghiệp và cơ sở

hạ tầng của địa phương

Tỉnh Lạng Sơn: Hệ thống thuỷ lợi hồ Tà Keo - Nà Cáy, huyện Lộc Bình đã cấp cho khu mỏ than Na Dương, khoảng 300.000m3/năm, hồ Bò Luồng cấp 100.000m3 nước cho nhà máy xi măng

Tỉnh Phú Thọ: Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao mỗi năm lấy từ 5 đến 6 triệu m3 nước từ trạm bơm Diên Hồng, Trạm Việt Trì: Cấp 1.392.000 m3 nước cho các nhu cầu công nghiệp

Tỉnh Vĩnh Phúc: Có hồ Xạ Hương ở Tam Đảo cấp nước cho nhà máy quốc phòng Z195, từ 3 ÷ 4 triệu (m3

/ năm)

Tại tỉnh Thái Nguyên: Hồ chứa Núi cốc cung cấp nước cho Khu Gang Thép với lưu lượng 6 m3/s, cho nhà máy Cán thép Gia Sàng 0,7 (m3/s), cơ khí Phổ Yên, Gò Đầm với lưu lượng 0,4 m3/s, cấp nước sinh hoạt cho một phần TP Thái Nguyên với lưu lượng 0,1 m3/s

Tại Bắc Giang: thuỷ lợi cung cấp nước cho một phần của nhà máy phân đạm, Hà Bắc là 36.974 triệu m3/năm với tần suất bảo đảm 95% Cấp nước cho nhà máy Parium: 109.500m3/năm Cấp cho xí nghiệp gạch Tân Xuyên: 200.000m3/năm

e Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển du lịch

Tại các tỉnh trên thuộc miền núi dân cư thưa thớt, kinh tế - xã hội chưa phát triển, giao thông chưa phát triển, lại do phần lớn các hệ thống CTTL còn nhỏ, lẻ lại phân tán

và nằm xa khu dân cư tập trung nên các ngành như du lịch, dịch vụ chưa có điều kiện phát triển Các công trình thuỷ lợi có nhiều tiềm năng nên ngày càng được tận sử dụng nhiều cho phát triển du lịch, rất nhiều hồ chứa nước đã được lợi dụng làm khu du lịch sinh thái như các hồ Núi Cốc - Thái Nguyên, hồ Thác Bà-Yên Bái, hồ Đại Lải - Vĩnh Phúc, Khuôn Thần và Cấm Sơn - Bắc Giang, Tà Keo - Lạng Sơn, Lửa Việt - Phú Thọ

Trang 27

một số đập dâng cũng được sử dụng cho du lịch như Thác Huống - Thái Nguyên, Cầu Sơn - Bắc Giang, Liễn Sơn - Vĩnh Phúc, đập dâng 19 tháng 5 - Nghĩa Lộ

Tỉnh Thái Nguyên: Điểm du lịch hấp dẫn nhất và nổi tiếng nhất khu vực là hồ Núi Cốc, các hồ chứa khác như hồ Bảo Linh, hồ Suối Lạnh, hồ Gò Miếu…có nhiều tiềm năng phát triển du lịch

Tỉnh Vĩnh Phúc: hồ Đại Lải đã là nơi du lịch nổi tiếng từ nhiều chục năm qua, đã xây dựng thêm sân đánh gôn, và khu nghỉ dưỡng

Tỉnh Bắc Giang: các hệ thống hồ chứa lớn nhỏ như hồ Cấm Sơn kết hợp du lịch, thủy sản, hồ Khuôn Thần, hồ Đá Mài, hồ Đồng Cốc, cụm đầu mối đập Cầu Sơn, đập Thác Huống có tiềm năng du lịch sinh thái

Tỉnh Quảng Ninh: Cụm di tích Hồ Yên Lập - chùa Lôi Âm đã được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận là di tích thắng cảnh, hồ Yên Lập trở thành điểm du lịch phong phú, hấp dẫn cho du khách

f Công trình thuỷ lợi phục vụ thủy điện của tỉnh miền núi, trung du phía Bắc

Hệ thống thuỷ lợi phục vụ phát triển ngành thủy điện: Do hệ thống lưới điện quốc gia đã và đang phát triển mạnh nên toàn bộ người dân tại các thị trấn, thị xã và thị

tứ đều được sử dụng lưới điện quốc gia Chỉ có một số nơi mạng lưới điện quốc gia chưa kéo đến được thì người dân các thôn bản mới sử dụng các dốc nước trong kênh để đặt các trạm thuỷ điện nhỏ Tuy nhiên một số hồ chứa đã kết hợp phát triển thủy điện, như các hồ Thác Bà, Cấm Sơn, Núi Cốc, Khuôn Thần, Khuẩy Lái… Kênh chính của hệ thống đập dâng 19 tháng 5 - Nghĩa Lộ cấp nước cho trạm thủy điện nhỏ với công xuất 84

kw

Tỉnh Lạng Sơn không có công trình thuỷ điện riêng biệt mà ở dạng công trình thuỷ lợi kết hợp phát điện Tính đến nay toàn tỉnh đã có 21 trạm thuỷ điện nhỏ công suất trạm từ

5 đến 200 KW Tổng công suất lắp đặt là 672KW

Tỉnh Cao Bằng có trạm thủy điện nhỏ lấy nước từ kênh tại huyện Hòa An

Tại Sơn La có 1 trạm thuỷ điện Nà Bó công suất 100KW kết hợp với tưới cho 40ha Ngoài ra, còn khoảng 1300 thiết bị thuỷ điện nhỏ mini của các gia đình, phần lớn được lắp đặt trên các dốc nước của kênh mương

Trang 28

Các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Tuyên Quang Tại một số vùng vẫn sử dụng điện từ các trạm thuỷ điện mini đặt trên các dốc nước ở kênh để phát điện Như tại xã Đạo Đức - Hoà An - Cao Bằng

g Công trình thuỷ lợi phục vụ cấp nước sinh hoạt tại các tỉnh

Chỉ những khu vực thành phố, thị xã, thị trấn mới có hệ thống cấp nước sạch, còn lại những vùng cao và vùng khác, người dân vẫn chủ yếu sử dụng nguồn nước mưa, nước tại các hồ chứa, nước từ kênh mương thủy lợi, từ ruộng lúa ngấm xuống tầng chứa nước ngầm để được lấy lên từ các giếng cấp nước cho sinh hoạt

Người dân cũng đã sử dụng trực tiếp nguồn nước của hồ phục vụ cho sinh hoạt

và chăn nuôi (đại đa số dân cư sinh sống xung quanh gần các hồ chứa thuỷ lợi như hồ Núi Cốc, Cấm Sơn, Tà Keo, Nà Cáy, Bắc Sơn, Ngòi là ) Ven kênh mương người dân trong các thôn vẫn ra tắm giặt, lấy nước trực tiếp từ kênh để cho sinh hoạt gia đình

Tại tỉnh Thái Nguyên: Nguồn nước chủ yếu cho nhà máy nước Tích Lương là từ

hồ Núi Cốc, Nhà máy nước thị trấn Uc Sơn (huyện Phú Bình) có nguồn cấp nước là kênh dẫn của hệ thống Thác Huống, cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong huyện

Tại tỉnh Lạng Sơn: Hồ Tà Keo cấp nước sinh hoạt cho khu mỏ than Na Dương Tỉnh Quảng Ninh: Hệ thống Hồ Yên Lập còn kết hợp cấp nước sinh hoạt cho khoảng 30 vạn dân của huyện Hoành Bồ, hồ cấp gần 5.000 (m3/ngày-đêm) cho nhà máy nước Quảng Yên

Các CTTL ở Sơn La cấp nước sinh hoạt cho gần 6,3 vạn đồng bào vùng cao, nước sạch cho 1,8 vạn dân vùng nông thôn

h Công trình thuỷ lợi phục vụ giao thông

Giao thông đường bộ

Tình hình chung: Tại các tỉnh miền núi hệ thống kênh mương thường có mặt cắt ngang nhỏ, lại qua địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên các bờ kênh mương thường nhỏ chỉ có thể phục vụ giao thông bộ cho các phương tiện vận chuyển nhỏ và thô sơ Việc kết hợp công trình thuỷ lợi để giao thông (như cầu máng, cầu trên đập, ) vẫn được thực hiện nhưng ngành thuỷ lợi không thu được lệ phí

Về giao thông đường thủy

Do đặc điểm địa hình, thủy thế ở miền núi, kênh mương lại nhỏ, dốc lớn nên giao thông đường thuỷ lợi dụng kênh mương không phát triển, trước đây được tận dụng kênh

Trang 29

cấp trên để giao thông thuỷ như hệ thống Sông Cầu, Liễn Sơn nhưng đến nay giao thông thuỷ trên kênh mương không phát triển và ngày càng được thay thế nhiều bởi giao thông bộ

i Hệ thống CT thuỷ lợi phục vụ cho việc tiêu thoát nước, phòng chống lũ

Các HTTL có tác dụng lớn trong việc phòng chống thiên tai hạn, úng ngập, lũ bão và cải tạo đất, chống xói mòn, bạc màu, đá ong hóa đất canh tác…

Ngoài việc phục vụ việc tiêu thoát nước cho nông nghiệp còn kết hợp tiêu thoát nước, phòng chống lũ, lụt cho các cơ sở hạ tầng như khu dân cư, đường xá, các khu công nghiệp, dịch vụ

Các công trình thủy lợi đặc biệt là hồ chứa ngoài các nhiệm vụ ở trên còn có nhiệm vụ phòng chống lũ cho hạ lưu Điều tiết nước, tích nước trong mùa lũ để bổ sung cho mùa kiệt, chống lại hạn hán đảm bảo đủ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp

Kênh mương thủy lợi ở miền núi còn kết hợp tiêu thoát nước mưa, lũ

- Tại tỉnh Phú Thọ thì trạm bơm tiêu nông nghiệp Lê Tính còn kết hợp tiêu thoát nước cho thị trấn Lâm Thao

- Tại tỉnh Bắc Giang có trạm bơm tiêu Lò Lợn vừa có nhiệm vụ tiêu nước ruộng vừa tiêu nước cho một phần thành phố Bắc Giang

- Tỉnh Thái Nguyên, lượng nước mặt tiêu thoát từ các khu công nghiệp và đô thị đều tập trung vào các cống tiêu của công trình thuỷ lợi

- Tại tỉnh Lào Cai các công trình thuỷ lợi chủ yếu tiêu nước mặt cho công nghiệp Lào Cai – Cam Đường, khu công nghiệp Nà Toỏng…

k Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển lâm nghiệp

Các công trình thuỷ lợi tại các tỉnh miền núi, Trung du phía Bắc nêu trên còn cấp nước, giữ ẩm cho các vườn ươm cây, cho việc trồng rừng nhất là các hồ chứa ở trên vùng cao: dùng làm nước tưới cho cây vườn ươm lâm nghiệp và cung cấp nước bảo vệ rừng như để dập lửa khi xảy ra cháy rừng

Hệ thống thuỷ lợi phục vụ phát triển rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn

l Công trình thủy lợi có tác động tích cực đến môi trường

Nhìn chung các CTTL đã tác động tích cực đến môi trường sinh thái, đặc biệt là tại các khu vực có tưới hoặc gần các hồ chứa

Trang 30

Các HTTN còn có tác dụng phòng chống thiên tai, lũ lụt như cắt lũ, tiêu thoát nước cho cho các tỉnh vùng đồi núi, trung du phía Bắc

Tác động đến môi trường nước

CTTL đã tác động tích cực đến môi trường nước, vì công trình thủy lợi điều tiết nước giữa mùa lũ và mùa kiệt, làm tăng lượng dòng chảy kiệt Bổ sung cho nước ngầm, tác dụng này được thể hiện rõ ràng hơn ở những vùng cao Nước từ các kênh mương và nước tưới từ ruộng lúa ngấm xuống làm tăng nước ngầm

Tác dụng đến môi trường đất

Tất cả các CTTL không gây xói mòn đất, giúp cải tạo đất, giúp đất có độ ẩm cần thiết để không bị bạc màu, đá ong hoá, còn cải tạo đất, mở rộng diện tích canh tác

Tác dụng đến tiểu khí hậu khu vực

Sự bốc thoát hơi nước từ các cánh đồng lúa rộng lớn có tác dụng làm giảm nhiệt

độ nóng bức trong mùa hè và làm tăng nhiệt độ, gây ấm áp vào mùa đông lạnh giá Các

hồ chứa đều có tác động tích cực cải tạo điệu kiện vi khí hậu của một vùng Làm tăng

độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tạo nên các thảm phủ thực vật chống xói mòn, rửa trôi đất đai Mùa hè không khí mát mẻ, dễ chịu có tiềm năng phát triển du lịch

1.2.2 Tình hình khai thác sử dụng tổng hợp nguồn nước trong vùng

1.2.2.1 Hiện trạng hoạt động của các công trình trong vùng nghiên cứu

a Hệ thống thủy lợi Đồng Mô – Ngải Sơn

Hồ Đồng Mô – Ngải Sơn được xây dựng năm 1969, đến năm 1974 thì bắt đầu đưa vào khai thác, các thông số thiết kế của Hồ:

* Theo thiết kế cũ của Hồ:

Diện tích lưu vực : 96 (km2)

Dung tích ứng với Hbt : 86 (106m3)

Dung tích chết : 4,4 (106m3)

Dung tích điều tiết lũ : 110 (106m3)

Mực nước dâng gia cường : +24,85 (m)

Mực nước dâng bình thường : +23,25 (m)

Trang 31

* Theo Quyết định số 135 QĐ/UBND tỉnh Hà Tây ngày 10/04/1997 Quyết định phê duyệt dự án khả thi điều hành giữ mực nước hồ Đồng Mô:

Ứng với Hbt = +21,5m dung tích Wh = 61,9 (106m3)

* Theo Quyết định số 3266QĐ/BNN-TL ngày 22/11/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn:

Mực nước dâng gia cường : +22,0 (m)

Mực nước dâng bình thường : +20,0 (m)

(Ứng với dung tích hữu ích 45,44 (106m3))

(Ứng với dung tích chết 24,80 (106m3)) Mực nước lũ max xảy ra ngày : +23,26 (m) (ngày 20/10/1994)

* Thông số đập chính Ngải Sơn:

Cấp công trình đầu mối : Cấp III

Vị trí (xã, huyện, tỉnh) : Xã Kim Sơn, TX.Sơn Tây, Hà Nội

Cao trình đỉnh đập : +26,0 (m)

Trang 32

Vật liệu : Đập đất

Miêu tả hư hỏng: Sau khi được sửa chữa và nâng cấp từ năm 1990 ÷ 1991 qua các mùa lũ năm 1994 ÷ 1997 khi mực nước hồ ở cao trình 23,0m Qua quan sát thấy các vùng thấm sau:

Vùng thấm ở mái hạ lưu đập từ cao trình +15,0 ÷ +12,0 dài 50m tại vị trí cách vai trái đập 120m (vị trí được gia cố năm 1991), vùng thấm từ +18,0 ÷ +17,0 cách vai trái 150m dài 30m, vùng thấm từ +19,0 ÷ +17,0 dài 120m cách vai phải đập 400m đã được xử lý bằng bãi lọc theo kiểu xương cá theo rãnh thoát nước mặt của đập ra chân đập

Những năm gần đây mực nước hồ thấp nên không xuất hiện vùng thấm

Trang 34

Lưu lượng thiết kế : 8,4 (m3/s)

Trang 35

+ Hệ thống thủy lợi Đồng Mô - Ngải Sơn cấp nước tưới cho 12.000 ha/3 vụ trong đó:

- Vụ xuân: 5.550,50 ha (gồm các địa phương: xã, huyện)

Thị xã Sơn Tây: Xã Sơn Đông, xã Cổ Đông

Huyện Thạch Thất: Xã Cẩm xuyên, xã Lại Thượng, xã Liên Quan Xã Kim Quan, xã Chàng Sơn, xã Thạch Xá, xã Bình Phú, xã Cần Kiệm, xã Phú Kim, xã Phùng

Huyện Quốc Oai: Xã Liệp Tuyết, xã Thạch Thán, xã Nghĩa Hương, xã Cấn Hữu,

xã Tân Hòa, xã Ngọc Liệp, xã Ngọc Mỹ, xã Cộng Hòa, xã Đồng Quang

+ Vụ mùa: 5.420,5 ha (gồm các địa phương: xã, huyện)

Huyện Thạch Thất: Xã Cẩm Yên, xã Lại Thượng, xã Liên Quan, xã Kim Quan,

xã Chàng Sơn, xã Thạch Xá, xã Bình Phú, xã Cần Kiệm, xã Phú Kim, xã Phùng Xá

Huyện Quốc Oai: Xã Liên Tiệp, xã Thạch Thán, xã Nghĩa Hương, xã Cấn Hữu,

xã Tân Hòa, xã Ngọc Liệp, xã Ngọc Mỹ, xã Cộng Hòa, xã Đồng Quang

* Năng lực đảm nhận:

Diện tích được cấp nước tưới: 7.351 ha

+ Vụ xuân: 2.940,4 ha (gồm các địa phương: xã, huyện)

Huyện Thạch Thất: Xã Cẩm xuyên, xã Lại Thượng, xã Liên Quan Xã Kim Quan, xã Chàng Sơn, xã Thạch Xá, xã Bình Phú, xã Cần Kiệm, xã Phú Kim, xã Phùng

Huyện Quốc Oai: Xã Liệp Tuyết, xã Thạch Thán, xã Nghĩa Hương, xã Cấn Hữu,

xã Tân Hòa, xã Ngọc Liệp, xã Ngọc Mỹ, xã Cộng Hòa, xã Đồng Quang

+ Vụ mùa: 3.675,5 ha (gồm các địa phương: xã, huyện)

Huyện Thạch Thất: Xã Cẩm Yên, xã Lại Thượng, xã Liên Quan, xã Kim Quan,

xã Chàng Sơn, xã Thạch Xá, xã Bình Phú, xã Cần Kiệm, xã Phú Kim, xã Phùng Xá

Huyện Quốc Oai: Xã Liên Tiệp, xã Thạch Thán, xã Nghĩa Hương, xã Cấn Hữu,

xã Tân Hòa, xã Ngọc Liệp, xã Ngọc Mỹ, xã Cộng Hòa, xã Đồng Quang

+ Trồng ngô vụ đông cấp nước tưới cho 735,0ha

Trang 36

Kết quả khảo sát thu thập đánh giá hiện trạng công trình được thể hiện trong bảng (1.5)

* Nguyên nhân hệ thống không đảm nhận được theo nhiệm vụ thiết kế:

Hệ thống kênh chưa được cứng hóa nhiều, qua quá trình sử dụng nhiều đoạn bị bồi lấp, xói lở gây tắc kênh hoặc gãy kênh, làm khả năng dẫn nước của kênh kém

Mặt khác cùng với sự phát triển các ngành công nghiệp, thủy sản, du lịch, quá trình đô thị hóa nhu cầu cung cấp nước cao, hệ thống thủy lợi phải điều hòa, cân đối nhiệm vụ và yêu cầu dùng nước giữa các tổ chức dùng nước do đó chưa đảm nhận diện tích tưới của hệ thống

Để đảm bảo hoạt động của sân golf Đồng Mô trong quá trình tích nước hồ không

để mực nước hồ ngập làm thu hep phạm vi sân golf, theo quyết định số

3266QĐ/BNN-TL ngày 22/11/2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT mực nước dâng bình thường +22,0m, như vậy dung tích hữu ích của hồ giảm làm giảm khả năng đảm nhận tưới của

hệ thống

c Hiện trạng cấp nước sinh hoạt và công nghiệp

Khu vực thành thị bao gồm các thị trấn, thành phố ngày càng được mở rộng, hiện đại hơn, trở thành các khu vực tập trung dân cư, là trung tâm kinh tế, văn hoá của từng huyện, tỉnh Các khu công nghiệp được hình thành, phát triển tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao và giải quyết được nhiều việc làm cho lực lượng lao động trong vùng

Vấn đề cấp nước cho đô thị và công nghiệp đòi hỏi khai thác khối lượng lớn, chất lượng đảm bảo, bao gồm nước dùng cho sinh hoạt, công nghiệp, công trình công cộng Công trình cấp nước chủ yếu là các công trình cấp nước tập trung quy mô vừa, lớn, khai thác nước ngầm, nước mặt

+ Cấp nước đô thị

Hiện nay thị xã Sơn Tây đã có nhà máy khai thác nước dùng cho khu vực nội thị

và phụ cận hình thức chủ yếu là khai thác nước ngầm

Ngoài bộ phận dân cư sống ở khu vực thành thị được sử dụng nước máy như đã nêu trên, số còn lại thì hình thức cấp nước phổ biến vẫn là dùng nước giếng đào của từng hộ gia đình Trong những năm gần đây hình thức giếng khoan tay, khoan máy khai thác nước ngầm quy mô phục vụ từ một gia đình đến vài chục gia đình, nguồn kinh phí

Trang 37

do dân tự đóng góp và xây dựng phát triển mạnh, phần nào thoả mãn nhu cầu dùng nước sinh hoạt cho khu vực thành thị trong vùng

+ Cấp nước công nghiệp

Trong giai đoạn hiện nay các nhà máy, các xí nghiệp độc lập có quy mô lớn, nhỏ khác nhau nằm cách biệt, chưa hình thành khu công nghiệp liên hoàn Nguồn cung cấp nước cho công nghiệp hiện nay do các nhà máy, xí nghiệp tự đầu tư xây dựng và khai thác tại chỗ, hình thức chủ yếu là khai thác nước ngầm

Những tồn tại cần khắc phục: Vấn đề nước thải chưa qua xử lý của các nhà máy

là khá phổ biển, nước thải công nghiệp hiện nay là tác nhân gây ô nhiễm môi trường khá trầm trọng

1.2.2.2 Ưu điểm và những tồn tại của các công trình trên hệ thống

a Ưu điểm của các công trình trên hệ thống Đồng Mô - Ngải Sơn

Hệ thống thuỷ lợi Đồng Mô - Ngải Sơn đã thực hiện được vai trò biện pháp hàng đầu phát triển nông nghiệp và nông thôn qua việc cấp, thoát nước phục vụ đa mục tiêu, không những thực hiện được nhiệm vụ chủ yếu, ban đầu là cấp nước cho nông nghiệp

mà còn kết hợp cấp thoát nước cho các ngành nuôi trồng thuỷ sản, đảm bảo nước cho du lịch và dịch vụ, giúp đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân trong vùng

Nhìn chung các công trình trên hệ thống đã được bố trí đồng bộ từ đầu mối đến các tổ chức hợp tác dùng nước Các công trình trong hệ thống được thiết kế tưới theo nhiệm vụ của từng công trình đồng thời bổ trợ cho nhau để tạo nguồn tiếp nước hợp lý khi nguồn nước đến bị thiếu

Hồ Ðồng Mô có hồ nước rộng khoảng 1.300ha, với nhiều đảo và bán đảo bên hồ Khu du lịch này có sân golf Ðồng Mô 18 lỗ trên đảo Vua (còn gọi là đảo Ðầm) nằm ngay chính giữa lòng hồ Ðồng Mô với diện tích khoảng 350ha và có sân golf 36 lỗ

Trang 38

Đều là du lịch sinh thái nhưng Đồng Mô có ưu thế riêng mà không nơi nào có được, đó

là diện tích mặt hồ Đồng Mô rộng lớn và có đảo Phượng Có lẽ vì vậy mà những người làm du lịch ở đây đã tập trung vào khai thác thế mạnh này Khu du lịch được chia làm 3 khu nhỏ với những đặc sản du lịch khác nhau, tạo thành “tour” du lịch khép kín mà ở đó hội tụ đủ 3 yếu tố khiến những người yêu thiên nhiên ưa thích: Nghỉ ngơi thư giãn, giải trí và thưởng thức ẩm thực Việc quản lý vận hành hệ thống thủy lợi Đồng Mô - Ngải Sơn để đảm bảo hoạt động du lịch sẽ đem lại nguồn lợi vô cùng to lớn, ngoài ra địa điểm cũng là nơi tổ chức các sự kiện quảng bá, khuyến khích đầu tư vào tỉnh

Diện tích mặt hồ lớn cũng là điều kiện thuận lợi đầu tư phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản trong lòng hồ

b Những vấn đề còn tồn tại của các công trình trên hệ thống Đồng Mô - Ngải Sơn

Phần lớn các công trình trong hệ thống được xây dựng trước năm 1970 qua nhiều năm khai thác và sử dụng đến các công trình đã xuống cấp nghiêm trọng: Máy bơm đã quá già cỗi và hư hỏng nhiều, hiệu suất máy bơm không đạt thiết kế Các kênh dẫn, bể hút bị bồi lắng không được nạo vét thường xuyên, nhất là các tuyến kênh nội đồng, các mang cống và đáy cống bị rỗng, gây tổn thất nước nghiêm trọng, một số cống không có cánh cửa đóng, mở hoặc cánh cống không kín, rò rỉ nước dẫn đến việc điều tiết nước rất khó khăn.Tình hình lấn chiếm, vi phạm hành lang công trình thuỷ lợi vẫn diễn ra ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Công ty

Trong quá trình đất nước đẩy mạnh mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khu vực Hà Tây (cũ) nằm ở cửa ngõ thủ đô có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển Cùng với

sự đầu tư và phát triển mạnh mẽ đó thì các dịch vụ đi kèm với ngành công nghiệp cũng đòi hỏi phải đảm bảo cung cấp Nhu cầu nước cho công nghiệp và sinh hoạt vì thế mà tăng cao, nguồn nước ngẩm không đảm bảo cung cấp, công trình thủy lợi trước chỉ đảm nhận cấp nước cho nông nghiệp và thủy sản nay phải gánh thêm một phần cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt Chính nhu cầu nước ngày càng cao về cả số lượng và chất lượng nước đó gây gánh nặng lên hệ thống thủy lợi, đồng thời cũng gây mâu thuẫn giữa các tổ chức sử dụng nước

Trang 39

Chương 2 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHAI THÁC SỬ DỤNG

TỔNG HỢP NGUỒN NƯỚC HỒ ĐỒNG MÔ – NGẢI SƠN

2.1 NHIỆM VỤ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NƯỚC

Trên cơ sở đánh giá lại yêu cầu dùng nước trong vùng nghiên cứu, nhất là tại tuyến đã xây dựng công trình hồ chứa, đập dâng để cân đối giao lại nhiệm vụ cho hồ chứa phù hợp với khả năng có thể phục vụ đuợc của công trình với nhiệm vụ đa mục tiêu

Rà soát lại các phương án theo những số liệu mới và nhiệm vụ mới được cập nhật như: Hiện trạng dân sinh kinh tế, định hướng phát triển kinh tế của các ngành để điều chỉnh lại các phương án cấp nước phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ mới trong vùng

Tính toán nhu cầu sử dụng nước của các ngành:

+ Nước dùng cho nông nghiệp (kể cả trồng trọt và chăn nuôi)

+ Nước dùng cho công nghiệp tập trung, đô thị và du lịch dịch vụ

+ Nước dùng cho sinh hoạt (Thành phố, thị trấn, thị tứ) và dân cư nông thôn + Nước cho nuôi trồng thủy sản

+ Nước dùng cho đảm bảo môi trường chất lượng nước ở các sông

2.2 DỰ BÁO NHU CẦU NƯỚC CHO CÁC NGÀNH DÙNG NƯỚC THEO CÁC GIAI ĐOẠN

2.2.1 Phương hướng xác định nhu cầu nước

Tính toán nhu cầu nước là tính toán các yêu cầu về nước cần thiết cho sử dụng theo những yêu cầu cụ thể của con người tại thời điểm tính toán và cho vùng tính toán Tính toán nhu cầu nước là đầu vào của bài toán khai thác sử dụng tổng hợp nguồn nước

và luôn gắn chặt với các điều kiện kinh tế xã hội của khu vực Mục tiêu tính toán nhu cầu nước là phục vụ cho việc đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng tổng hợp nguồn nước trên vừng nghiên cứu

Nội dung tính toán nhu cầu nước trên hệ thống thuỷ lợi Đồng Mô - Ngải Sơn bao gồm: Xác định nhu cầu nước hiện tại và dự báo nhu cầu nước cho giai đoạn năm 2015

Trang 40

và 2020, trong đó tính toán nhu cầu nước cho các hộ dùng nước là nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, chăn nuôi và thủy sản, dòng chảy môi trường

2.2.1.1 Xác định theo định mức dùng nước

Lượng nước dùng cho các ngành kinh tế có thể xác định theo định mức dùng nước của mỗi đối tượng dùng nước: mỗi con người, mỗi hecta gieo trồng, mỗi đầu gia súc và mỗi sản phẩm công nghiệp Sau đó tính cho vùng với thời đoạn tính toán là năm hoặc tháng Theo đó, nhu cầu nước được xác định bằng cách nhân định mức nước dùng với tổng số dân, tổng số sản phẩm công nghiệp, tổng diện tích của mỗi loại cây trồng, tổng gia súc của vùng cân bằng tương ứng

Tổng số dân, tổng số sản phẩm công nghiệp, tổng diện tích của mỗi loại trồng, tổng gia súc của vùng cân bằng tương ứng được xác định từ niên giám thống kê

Phương pháp này thường dùng để xác định nhu cầu nước cho sinh hoạt, chăn nuôi và công nghiệp

2.2.1.2 Xác định nhu cầu dùng nước trong nông nghiệp

Nhu cầu nước cho nông nghiệp không những phụ thuộc vào loại cây trồng mà còn theo thời vụ Việc lựa chọn cây trồng và thời vụ thích hợp với yêu cầu dùng nước ít nhất mà năng suất cao nhất là rất phức tạp

Xác định nhu cầu nước cho nông nghiệp là tính toán lượng bốc hơi nước mặt ruộng của cây trồng, nhu cầu nước của các loại cây trồng, kế hoạch cung cấp nước và xác định lịch tưới tại mặt ruộng trong các điều kiện khác nhau

2.2.2 Xác định nhu cầu nước hiện tại

2.2.2.1 Nhu cầu nước cho nông nghiệp

a Tính toán mô hình mưa vụ thiết kế

* Chọn mô hình mưa điển hình

Mô hình mưa thiết kế đã xác định được thực chất không có trong thực tế, vì vậy

ta cần chọn mô hình mưa điển hình là mô hình mưa đã xảy ra trong thực tế có lượng mưa xấp xỉ lượng mưa thiết kế Lượng mưa điển hình được lấy từ liệt tài liệu mưa

+ Để chọn được mô hình mưa điển hình ta cần căn cứ vào một số nguyên tắc chọn sau:

- Mô hình mưa điển hình là mô hình mưa của năm đã xảy ra trong thực tế

Ngày đăng: 15/03/2019, 12:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm