CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1. Đặt vấn đề Việt Nam là một trong 5 quốc gia có sản lượng tôm nuôi lớn nhất trên thế giới, với tổng sản lượng tôm sú và tôm thẻ chân trắng trong năm 2015 là: 593.800 tấn; trong đó tôm sú 249.200 tấn (41,97%), tôm thẻ chân trắng 344.600 tấn (58,03%). Diện tích nuôi tôm sú của cả nước trong năm 2015 là: 577.843 ha (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam - VASEP, 2016), trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm 45,3% diện tích và 72,4% sản lượng (Bộ NN&PTNT, 2016). Các sản phẩm tôm xuất khẩu sang 88 thị trường trên thế giới, với giá trị xuất khẩu đạt trên 3,95 tỷ USD, chiếm hơn 55% giá trị xuất khẩu của ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS), đã góp phần quan trọng cho đời sống xã hội, đem lại nguồn thu nhập cho người nuôi tôm tại các vùng ven biển (VASEP, 2015). ĐBSCL là nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển NTTS của cả nước, trong đó mô hình nuôi tôm thâm canh vùng nước lợ-mặn phát triển mạnh ở một số địa phương như: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Kiên Giang và Trà Vinh (Tổng cục Thủy sản, 2014). Tôm nước lợ là đối tượng nuôi chủ lực, chiếm tỷ lệ diện tích lớn trong các đối tượng nuôi thủy sản. Trong hơn 10 năm qua, ngành sản xuất tôm đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 8,8%/năm và trở thành ngành tạo sinh kế quan trọng cho khoảng 1 triệu người tham gia, trong đó hơn 80% là người nuôi quy mô nhỏ, tạo hơn 3 triệu việc làm trong các nhà máy chế biến thủy sản và các ngành thương mại dịch vụ liên quan. Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng nhanh về diện tích, sản lượng, vài năm trở lại đây ngành sản xuất tôm sú đang phải đối mặt với nhiều thách thức để hướng tới sự phát triển bền vững và hiệu quả. Trong những năm qua, sự phát triển tự phát, thiếu quy hoạch đã gây tác động đến môi trường, ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, phát sinh những mâu thuẩn trong việc chia sẻ lợi ích giữa các nhân tố trong chuỗi sản xuất. Liên kết giữa người nuôi, người thu mua và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu còn lỏng lẻo, trong đó người sản xuất chịu thiệt thòi nhất. Mặt khác, người nuôi đang phải đối mặt với những vấn đề rất khó khăn và rủi ro cao như dịch bệnh, giá cả biến động, môi trường nuôi ngày càng bất lợi, chất lượng con giống, thức ăn, các tác động của biến đổi khí hậu khô hạn và xâm nhập mặn. Năm 2015, xuất khẩu thủy sản nói chung và xuất khẩu tôm sú nói riêng của Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Giá trị xuất khẩu mặt hàng tôm giảm mạnh hơn 25% so với năm 2014, đạt 2,95 tỷ USD. Năm 2016 là năm được dự báo khả quan hơn năm 2015 do tác động tích cực từ các hiệp định thương mại mới được ký kết như TPP và FTA, 3 tháng đầu năm 2016, xuất khẩu tôm đạt hơn 619 triệu USD, tăng 7,88% so với năm 2015. Tuy nhiên, xuất khẩu tôm năm 2016 vẫn bị ảnh hưởng từ xu hướng giảm giá, các yếu tố cạnh tranh, rào cản thương mại và yêu cầu cao đối với chất lượng sản phẩm của thị trường thế giới (Hội thảo của Tổng cục Thủy sản tổ chức tại thành phố Cần Thơ vào ngày 25/5/2016). Trong nuôi tôm hiện nay, có các hình thức tổ chức khác nhau, gồm: (i) Hình thức tổ chức nuôi nông hộ đơn lẻ với qui mô nuôi nhỏ (HND), (ii) hình thức hợp tác xã hay THT, (iii) hình thức TT và (iv) hình thức TT của doanh nghiệp (Cty). Mỗi hình thức có qui mô, phương thức hoạt động và ý nghĩa riêng. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu khoa học nào đánh giá sâu sắc các hoạt động, đặc biệt là liên kết trong sản xuất và quản lý của các mô hình, cũng như so sánh hiệu quả sản xuất của các hình thức tổ chức sản xuất này. Từ thực tế đó nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả tài chính và kỹ thuật của các hình thức sản xuất và đề xuất giải pháp nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thâm canh ở ĐBSCL” đã được thực hiện.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
PHẠM CÔNG KỈNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ KỸ THUẬT CỦA CÁC HÌNH THỨC SẢN XUẤT
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NUÔI TÔM SÚ
(Penaeus monodon) THÂM CANH Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 62620301
Cần Thơ, 2016
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT I ABSTRACT III DANH SÁCH HÌNH XI DANH SÁCH BẢNG XIII DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT XV
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu tổng quát 2
1.3 Mục tiêu cụ thể 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 3
1.5 Những điểm mới của luận án 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Hiện trạng và xu hướng nuôi tôm sú trên thế giới 4
2.1.1 Hiện trạng nuôi tôm sú trên thế giới 4
2.1.2 Hiện trạng nuôi tôm sú ở khu vực Châu Á 4
2.1.3 Xu hướng chuyển đổi đối tượng tôm nuôi trên thế giới 10
2.1.4 Xu hướng áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận vào nuôi tôm 11
2.2 Hiện trạng và xu hướng nuôi tôm sú ở Việt Nam 12
2.2.1 Hiện trạng nuôi tôm sú ở Việt Nam 12
2.2.1.1 Các hình thức nuôi tôm sú ở ĐBSCL 13
2.2.1.2 Diện tích và sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam 15
2.2.1.3 Giá trị tôm nuôi ở Việt Nam 17
2.2.1.4 Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam 18
2.2.2 Xu hướng nuôi tôm sú ở Việt Nam 20
2.2.2.1 Xu hướng phát triển liên kết trong nuôi tôm sú ở mức vĩ mô 20
2.2.2.2 Xu hướng phát triển liên kết trong nuôi tôm sú ở mức vi mô 21
2.2.2.3 Xu hướng phát triển của nghề nuôi tôm sú 22
2.2.2.4 Các phương án quy hoạch nuôi tôm sú đến năm 2020 24
Trang 32.2.2.5 Áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận vào nuôi tôm sú 26
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu 30
3.2.1 Sơ đồ nội dung và các bước nghiên cứu 30
3.2.2 Phương pháp điều tra hiện trạng nghề nuôi tôm sú thâm canh 31
3.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra 31
3.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 31
3.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu và phân tích mối liên kết giữa các hình thức sản xuất (HTSX) tôm sú thâm canh 34
3.2.4 Phương pháp xây dựng mô hình nuôi tôm thâm canh thực nghiệm theo các hình thức sản xuất (HTSX) 36
3.2.5 Phương pháp phân tích ma trận SWOT và đề xuất giải pháp để phát triển các hình thức sản xuất (HTSX) của nghề nuôi tôm sú thâm canh 38
CHƯƠNG 4: KẾT QỦA VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Hiện trạng nghề nuôi tôm sú thương phẩm thâm canh ở các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang 40
4.1.1 Thông tin chung ở các tỉnh nghiên cứu 40
4.1.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi ở các tỉnh nghiên cứu 41
4.1.3 Hiện trạng tài chính của các mô hình nuôi ở các tỉnh nghiên cứu 43
4.2 Hiện trạng liên kết sản xuất và hiệu quả của các hình thức nuôi tôm sú thâm canh 45
4.2.1 Thông tin chung của các hình thức nuôi 45
4.2.1.1 Thông tin chung về người lao động 45
4.2.1.2 Trình độ học vấn và chuyên môn của người lao động ở các hình thức 46
4.2.1.3 Thông tin kỹ thuật tiếp cận của các hình thức nuôi tôm sú thâm canh 47
4.2.2 Phương thức liên kết của các hình thức sản xuất (HTSX) 49
4.2.2.1 Thực trạng liên kết ngang 49
Trang 44.2.2.2 Thực trạng liên kết dọc 51
4.2.3 Hiệu quả kỹ thuật của các hình thức nuôi tôm sú thâm canh 52
4.2.3.1 Kết cấu ao nuôi tôm sú thâm canh 52
4.2.3.2 Mùa vụ và cải tạo ao nuôi tôm sú thâm canh 54
4.2.3.3 Con giống thả nuôi ở các HTSX tôm sú thâm canh 56
4.2.3.4 Thức ăn cho tôm nuôi, kích cỡ tôm thu hoạch và năng suất tôm sú nuôi thâm canh 57
4.2.3.5 Các chỉ tiêu được quan tâm trong nuôi tôm sú thâm canh 59
4.2.4 Hiệu quả tài chính của các hình thức nuôi 61
4.3 Kết quả thực nghiệm các mô hình nuôi tôm sú thâm canh ở hình thức nuôi hộ nông dân (TN-HND), tổ hợp tác (TN-THT), trang trại (TN-TT) và công ty (TN-Cty) 63
4.3.1 Hệ thống nuôi thực nghiệm của các hình thức sản xuất (TN-HTSX) 63
4.3.2 Biến động môi trường nước trong các ao nuôi thực nghiệm (TN-HTSX) 64
4.3.3 Tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống của tôm nuôi ở các ao nuôi thực nghiệm (TN-HTSX) 66
4.3.4 Các khía cạnh kỹ thuật chính của các mô hình thực nghiệm với các hình thức sản xuất (TN-HTSX) khác nhau 68
4.3.5 Hiệu quả tài chính của các ao nuôi thực nghiệm (TN-HTSX) khác nhau 70
4.3.6 Phương thức quản lý của các ao nuôi thực nghiệm ở các hình thức sản xuất (TN-HTSX) 73
4.3.7 Phương thức liên kết giữa của các hình thức sản xuất (HTSX) ở các mô hình thực nghiệm 75
4.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) và đề xuất giải pháp phát triển các hình thức sản xuất (HTSX) 77
4.4.1 Phân tích SWOT (điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses) cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats)) 77
4.4.1.1 Điểm mạnh 81
4.4.1.2 Cơ hội 81
Trang 54.4.1.3 Điểm yếu 82
4.4.1.4 Thách thức 83
4.4.2 Giải pháp phát triển các hình thức nuôi (HTSX) trong thời gian tới83 4.4.2.1 Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là HND 83
4.4.2.2 Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là THT 84
4.4.2.3 Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là TT84 4.4.2.4 Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là Cty 85
CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN CHUNG 86
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 90
6.1 Kết luận 90
6.2 Đề xuất và kiến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC A: BẢNG PHỎNG VẤN 106
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Sản lượng tôm nuôi thế giới giai đoạn 1992-2012 (FAO, 2013) và
giai đoạn 2013-2014 4
Hình 2.2 Sản lượng tôm nuôi trên thế giới theo khu vực giai đoạn 2006-2012 (FAO, 2013) và giai đoạn 2013-2014 5
Hình 2.3 Các quốc gia có sản lượng tôm nuôi lớn nhất thế giới 6
Hình 2.4 Sản lượng tôm Châu Á từ năm 2009-2014 và dự báo đến 2016 7
Hình 2.5 Ba thị trường nhập khẩu tôm chính trong năm 2014 9
Hình 2.6 Diễn biến giá tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên thị trường Mỹ từ năm 2010-2014 10
Hình 2.7 Sản lượng tôm sú và tôm thẻ chân trắng được nuôi trên thế giới 10
Hình 2.8: Thống kê sản lượng tôm sú trong tổng sản lượng tôm từ 2009-2015 13
Hình 2.9 Diện tích tôm nuôi ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2014 15
Hình 2.10 Sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2014 16
Hình 2.11 Sản lượng tôm nuôi ở ĐBSCL từ năm 2000-2014 17
Hình 2.12 Tỷ lệ sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam 17
Hình 2.13 Giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam từ năm 2008 đến 2014 18
Hình 2.14: Các thị trường xuất khẩu chính của thủy sản Việt Nam 2014 18
Hình 2.15 Các giá trị xuất khẩu chính của thủy sản Việt Nam 2014 19
Hình 2.16 Các phương án quy hoạch nuôi tôm sú đến năm 2020 25
Hình 3 1 Bản đồ các tỉnh ĐBSCL thể hiện địa bàn nghiên cứu 29
Hình 3.2: Sơ đồ nghiên cứu 30
Hình 3.3 Mô tả sơ đồ liên kết ngang giữa các hình thức nuôi 35
Hình 3.4 Mô tả sơ đồ liên kết dọc giữa các hình thức nuôi, thể hiện tỷ lệ % số trường hợp có liên kết 35
Hình 4.1 Trình độ học vấn của các hình thức nuôi tôm sú thâm canh 47
Hình 4.2 Nguồn thông tin kỹ thuật tiếp cận của các hình thức nuôi tôm sú 48
Hình 4.3 Mức độ liên kết ngang giữa các hình thức sản xuất 49
Trang 7Hình 4.4 Mức độ liên kết dọc của các hình thức nuôi tôm sú thâm canh 51
(% số trường hợp khảo sát của từng liên kết) 51
Hình 4.5 Cơ cấu diện tích đất nuôi của các HTSX tôm sú thâm canh 54
Hình 4.6 Các tháng thả giống của các HTSX tôm sú thâm canh 55
Hình 4.7 Các tháng thu hoạch của các HTSX tôm sú thâm canh 58
Hình 4 8: Tăng trưởng của tôm trong thời gian nuôi 67
Hình 5.1: Sơ đồ tóm tắt kết quả nghiên cứu 89
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Các quốc gia đạt tiêu chuẩn chứng nhận ASC trên thế giới 12
Bảng 2.2: Một số thông số kỹ thuật ở các hình thức nuôi tôm biển 14
Bảng 2.3: Quy hoạch diện tích nuôi tôm sú đến năm 2020 25
Bảng 3.1: Số lượng mẫu điều tra ở các địa bàn nghiên cứu 31
Bảng 3.2: Sơ đồ giản lược thông tin về nuôi tôm sú thâm canh 32
Bảng 3.3: Các thông số ao nuôi thực nghiệm của các HTSX 37
Bảng 3.4: Các chỉ tiêu môi trường thu mẫu và phương pháp phân tích 37
Bảng 3.5: Khung phân tích ma trận SWOT 39
Bảng 4 1: Thông tin chung ở các tỉnh nghiên cứu 40
Bảng 4 2: Hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm sú thâm canh ở các tỉnh nghiên cứu 43 Bảng 4 3: Hiện trạng tài chính ở các tỉnh nghiên cứu 44
Bảng 4.4: Thông tin chung của người lao động 46
Bảng 4 5: Liên kết ngang trong sản xuất tôm sú của các hình thức sản xuất (Đvt: %) 50
Bảng 4.6: Kết cấu ao nuôi ở các HTSX 53
Bảng 4.7: Cải tạo ao ở các hình thức nuôi 55
Bảng 4.8: Nguồn giống, mật độ thả và kích cỡ giống tôm sú thả nuôi thâm canh 56
Bảng 4.9: Thức ăn cho ăn, thời gian nuôi và năng suất tôm nuôi 57
Bảng 4.10: Các chỉ tiêu ATSH trong nuôi tôm sú thâm canh (đvt: %) 60
Bảng 4.11: Hiệu quả tài chính trong nuôi tôm sú của các HTSX 62
Bảng 4.12: Cơ cấu chi phí giá thành sản xuất của các HTSX (Đvt: %) 63
Bảng 4.13: Hệ thống công trình ao nuôi của các TN-HTSX 63
Bảng 4.14: Biến động môi trường nước trong các mô hình theo các TN-HTSX 64
Bảng 4.15: Tốc độ tăng trưởng và ty lệ sống tôm nuôi của các TN-HTSX 67
Bảng 4.16: Các yếu tố kỹ thuật chính của các TN-HTSX 68
Trang 9Bảng 4.17: Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của các TN-HTSX(Đvt:
tr.đ/ha/vụ) 71
Bảng 4 18: Cơ cấu giá thành sản xuất của các TN-HTSX (Đvt: %) … ……72
Bảng 4 19: SWOT của hình thức hộ nông dân (HND) 77
Bảng 4 20: SWOT của hình thức nuôi theo tổ hợp tác (THT) 78
Bảng 4 21: SWOT của hình thức nuôi theo qui mô trang trại (TT) 79
Bảng 4 22: SWOT của hình thức công ty (Cty) 80
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một trong 5 quốc gia có sản lượng tôm nuôi lớn nhất trên thế giới, với tổng sản lượng tôm sú và tôm thẻ chân trắng trong năm 2015 là: 593.800 tấn; trong đó tôm sú 249.200 tấn (41,97%), tôm thẻ chân trắng 344.600 tấn (58,03%) Diện tích nuôi tôm sú của cả nước trong năm 2015 là: 577.843 ha (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam - VASEP, 2016), trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm 45,3% diện tích và 72,4% sản lượng (Bộ NN&PTNT, 2016) Các sản phẩm tôm xuất khẩu sang 88 thị trường trên thế giới, với giá trị xuất khẩu đạt trên 3,95 tỷ USD, chiếm hơn 55% giá trị xuất khẩu của ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS), đã góp phần quan trọng cho đời sống xã hội, đem lại nguồn thu nhập cho người nuôi tôm tại các vùng ven biển (VASEP, 2015)
ĐBSCL là nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển NTTS của cả nước, trong đó mô hình nuôi tôm thâm canh vùng nước lợ-mặn phát triển mạnh ở một số địa phương như: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Kiên Giang và Trà Vinh (Tổng cục Thủy sản, 2014)
Tôm nước lợ là đối tượng nuôi chủ lực, chiếm tỷ lệ diện tích lớn trong các đối tượng nuôi thủy sản Trong hơn 10 năm qua, ngành sản xuất tôm đã duy trì tốc
độ tăng trưởng cao, bình quân 8,8%/năm và trở thành ngành tạo sinh kế quan trọng cho khoảng 1 triệu người tham gia, trong đó hơn 80% là người nuôi quy mô nhỏ, tạo hơn 3 triệu việc làm trong các nhà máy chế biến thủy sản và các ngành thương mại dịch vụ liên quan
Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng nhanh về diện tích, sản lượng, vài năm trở lại đây ngành sản xuất tôm sú đang phải đối mặt với nhiều thách thức để hướng tới
sự phát triển bền vững và hiệu quả Trong những năm qua, sự phát triển tự phát, thiếu quy hoạch đã gây tác động đến môi trường, ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, phát sinh những mâu thuẩn trong việc chia sẻ lợi ích giữa các nhân tố trong chuỗi sản xuất Liên kết giữa người nuôi, người thu mua và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu còn lỏng lẻo, trong đó người sản xuất chịu thiệt thòi nhất Mặt khác, người nuôi đang phải đối mặt với những vấn đề rất khó khăn và rủi ro cao như dịch bệnh, giá cả biến động, môi trường nuôi ngày càng bất lợi, chất lượng con giống, thức ăn, các tác động của biến đổi khí hậu khô hạn và xâm nhập mặn
Năm 2015, xuất khẩu thủy sản nói chung và xuất khẩu tôm sú nói riêng của Việt Nam gặp nhiều khó khăn Giá trị xuất khẩu mặt hàng tôm giảm mạnh hơn 25%
so với năm 2014, đạt 2,95 tỷ USD Năm 2016 là năm được dự báo khả quan hơn
Trang 12năm 2015 do tác động tích cực từ các hiệp định thương mại mới được ký kết như TPP và FTA, 3 tháng đầu năm 2016, xuất khẩu tôm đạt hơn 619 triệu USD, tăng 7,88% so với năm 2015 Tuy nhiên, xuất khẩu tôm năm 2016 vẫn bị ảnh hưởng từ
xu hướng giảm giá, các yếu tố cạnh tranh, rào cản thương mại và yêu cầu cao đối với chất lượng sản phẩm của thị trường thế giới (Hội thảo của Tổng cục Thủy sản tổ chức tại thành phố Cần Thơ vào ngày 25/5/2016)
Trong nuôi tôm hiện nay, có các hình thức tổ chức khác nhau, gồm: (i) Hình thức tổ chức nuôi nông hộ đơn lẻ với qui mô nuôi nhỏ (HND), (ii) hình thức hợp tác
xã hay THT, (iii) hình thức TT và (iv) hình thức TT của doanh nghiệp (Cty) Mỗi hình thức có qui mô, phương thức hoạt động và ý nghĩa riêng Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu khoa học nào đánh giá sâu sắc các hoạt động, đặc biệt là liên kết trong sản xuất và quản lý của các mô hình, cũng như so sánh hiệu quả sản xuất của các hình
thức tổ chức sản xuất này Từ thực tế đó nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả tài chính và
kỹ thuật của các hình thức sản xuất và đề xuất giải pháp nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thâm canh ở ĐBSCL” đã được thực hiện
1.2 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá các hoạt động trong liên kết sản xuất và quản lý của các hình thức tổ chức sản xuất trong nuôi tôm sú So sánh, đánh giá được hiệu quả của các hình thức tổ chức sản xuất làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý, phát triển nuôi tôm sú, góp phần phát triển bền vững nghề nuôi tôm sú
thâm canh trong thời gian tới ở ĐBSCL
- Xây dựng, theo dõi và đánh giá hiệu quả các mô hình nuôi thực nghiệm tôm
sú theo các hình thức khác nhau (HND, THT, TT, Cty);
- Phân tích được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) và đề xuất một số giải pháp hợp lý phát triển các hình thức tổ chức sản xuất cũng như nghề nuôi tôm sú thâm canh ở ĐBSCL
Trang 131.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Nghiên cứu này, cung cấp nhiều thông tin, dẫn liệu khoa học và thực tiễn về nghề nuôi tôm sú thâm canh, đặc biệt là phân tích hiện trạng các mối liên kết, hiệu quả kỹ thuật và tài chính của các hình thức tổ chức sản xuất Nghiên cứu này, đồng thời phân tích sâu các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các hình thức
tổ chức nuôi tôm sú thâm canh, làm cơ sở đề xuất các giải pháp ổn định và phát triển nuôi tôm biển Các kết quả, kết luận và giải pháp đề xuất sẽ góp phần làm cơ
sở vận dụng vào thực tế sản xuất đối với người nuôi, quản lý và phát triển nghề nuôi tôm sú Các kết quả của nghiên cứu là cơ sở tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập
1.5 Những điểm mới của luận án
Đây là công trình nghiên cứu vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn Những điểm mới quan trọng của luận án:
- Đánh giá hiện trạng nghề nuôi tôm sú thâm canh ở 3 tỉnh Bến Tre, Sóc trăng
- Thông qua khảo sát thực tế và thực hiện các mô hình thực nghiệm, nghiên cứu này lần đầu tiên so sánh, đánh giá đặc điểm quản lý, đặc điểm kỹ thuật
và hiệu quả sản xuất của các hình thức tổ chức sản xuất (HND, THT, TT và Cty), qua đó đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) của các hình thức tổ chức sản xuất trong nuôi tôm sú thâm canh ở ĐBSCL
Từ đó đề ra giải pháp cụ thể cho phát triển các hình thức tổ chức sản xuất nuôi tôm sú thâm canh nói riêng và của nghề nuôi tôm biển nói chung
Trang 14CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Hiện trạng và xu hướng nuôi tôm sú trên thế giới
2.1.1 Hiện trạng nuôi tôm sú trên thế giới
Nghề nuôi tôm ven biển phát triển mạnh từ những năm cuối của thập niên 80
và sự thâm canh hóa từ đầu thập niên 90 ở các quốc gia Đông Nam Á, không những góp phần nâng cao sản lượng tôm cho toàn thế giới mà còn tạo việc làm và tăng nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều lao động địa phương ven biển (Yi, 2002) Châu
Á có vị trí hàng đầu trong ngành tôm thế giới, tôm nuôi của khu vực này chiếm phần lớn trong sản lượng toàn cầu Có thể chia sản lượng tôm nuôi châu Á theo 3 khu vực chính là Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh
Hình 2.1: Sản lượng tôm nuôi thế giới giai đoạn 1992-2012 (FAO, 2013) và giai
đoạn 2013-2014
(Nguồn: Aquaculture Asia Pacific, 2015)
Trung Quốc là nước có sản lượng tăng rất nhanh và vượt qua tất cả các nước khác để dẫn đầu thế giới về sản lượng nuôi tôm từ 1,5 triệu tấn (2010) lên trên 1,7 triệu tấn (2011) từ năm 2012 do dịch bệnh hội tử gan tụy (AHPND) nên sản lượng tôm nuôi của Trung Quốc giảm còn 1,3 triệu tấn và tiếp tục giảm còn 900 ngàn tấn trong năm 2013, và có dấu hiệu phục hồi trong năm 2014 là 1,02 triệu tấn
2.1.2 Hiện trạng nuôi tôm sú ở khu vực Châu Á
Đông Nam Á tập trung nhiều nước có tiềm năng sản xuất tôm như Thái Lan, Việt Nam, Indonesia Trong đó, Thái Lan là nhà sản xuất tôm lớn thứ hai trên thế
Trang 15giới, sau Trung Quốc với ba loại tôm thẻ chân trắng, tôm sú và tôm càng xanh Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nhiều tiềm năng về điều kiện tự nhiên, thuận lợi để phát triển nghề nuôi tôm, Indonesia đứng thứ 4 thế giới về sản xuất tôm Năm 2006, sản lượng tôm nuôi của khu vực Đông Nam Á đạt 1,4 triệu tấn, khu vực này sản xuất gần 1,7 triệu tấn (năm 2010) nhưng do dịch bệnh chủ yếu
là hội chứng hội tử gan tụy (AHPND) làm sản lượng tôm nuôi giảm mạnh vào năm
2012 chỉ đạt khoảng 1,3 triệu tấn Từ năm 2013 sản lượng tôm nuôi có khuynh hướng tăng trở lại đạt sản lượng 1,84 triệu tấn trong năm 2013 và tiếp tục tăng trong năm 2014 đạt sản lượng 1,88 triệu tấn
Hình 2.2 Sản lượng tôm nuôi trên thế giới theo khu vực giai đoạn 2006-2012
(FAO, 2013) và giai đoạn 2013-2014
(Nguồn: Aquaculture Asia Pacific, 2015)
Ấn Độ và Bangladesh là những nước nuôi tôm có quy mô lớn, giai đoạn 2006-2010, sản lượng tôm nuôi của Ấn Độ và Bangladesh giảm trung bình là 6,0%
do ảnh hưởng của sự biến động diện tích nuôi, mật độ thả giống, số vụ nuôi không hợp lý và dịch bệnh (chủ yếu là bệnh đốm trắng) Vì thế, năm 2010, sản lượng tôm của 2 nước này chỉ khoảng 200 ngàn tấn Tuy nhiên, năm 2013 và năm 2014 sản lượng tôm của 2 nước này ổn định ở mức 405 ngàn tấn (sản lượng tôm Ấn Độ chiếm 85%) Hiện nay, Ấn Độ đang triển khai một số chính sách về kiểm soát dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm, Bangladesh vừa cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng, vì thế sản lượng tôm thẻ chân trắng của 2 nước sẽ tăng trong thời gian tới
Sản lượng tôm nuôi của châu Mỹ tập trung ở 6 nước là: Ecuador, Mexico, Brazil, Colombia, Honduras và Nicaragoa Nuôi tôm ở khu vực này, có tốc độ tăng trưởng ổn định 3% từ 2010-2014, tổng sản lượng xấp xỉ 400-500 ngàn tấn Ecuador
có sản lượng tôm nuôi lớn nhất khu vực là 340 ngàn tấn trong năm 2014 Khu vực
Trang 16sản xuất tôm còn lại của thế giới là châu Phi, chiếm tỷ lệ sản lượng rất nhỏ nhưng tốc độ tăng trưởng hằng năm khá ổn định, bằng 4,6% và 4,8% giai đoạn 2006-2010
và 2010-2014
Nguyên nhân gây ra sự giảm sụt này là do môi trường nước bị suy thoái, nguồn nước nuôi có chất lượng kém Trong thực tế nguồn nước thải đổ trực tiếp ra kênh rạch công cộng từ các trại nuôi tôm không qua xử lý ở nhiều nơi như: Việt Nam, Indonesia và Philippines Bên cạnh đó các khu vực nuôi tôm thâm canh thường tập trung theo vùng và hệ thống thủy lợi hạn chế làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi nước tạo nên sự tự ô nhiễm môi trường làm dịch bệnh bùn phát (FAO, 2011)
a Sản lượng tôm nuôi trên thế giới và khu vực Châu Á
Theo thống kê của Thai shrimp international (2014), các quốc gia có sản lượng tôm nuôi lớn nhất trên thế giới trong năm 2013 là: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Philippines và Malaysia (Hình 2.3) Năm 2013, tổng sản lượng tôm nuôi trên thế giới đạt 1,82 triệu tấn, chiếm 77,2% sản lượng so với năm
2010 - năm có sản lượng tôm nuôi cao nhất trong lịch sử ngành nuôi tôm thế giới Trung Quốc và Thái Lan là 2 quốc gia có sản lượng tôm nuôi lớn nhất giai đoạn 2005-2012 Tuy nhiên, năm 2013 sản lượng tôm nuôi ở Thái Lan chỉ đạt xấp xỉ sản lượng tôm của Ấn Độ, Việt Nam và Indonesia, do dịch bệnh bùng phát gây sụt giảm sản lượng nghiêm trọng ở 2 quốc gia này
Hình 2.3 Các quốc gia có sản lượng tôm nuôi lớn nhất thế giới
(Nguồn: Thai shrimp international, 2014; VASEP, 2015)
Trong tổng sản lượng tôm nuôi trên thế giới, các quốc gia Châu Á có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển mạnh tôm biển như: Trung Quốc, Thái Lan,
Trang 17Việt Nam,… đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng chung (Arthur E Neiland
et al., 2001) Năm 2011, tổng sản lượng tôm nuôi đạt 1,67 triệu tấn giảm 28,9% so
với năm 2010 (2,35 triệu tấn) (FAO, 2014) Năm 2014, ngành tôm ở Châu Á đã phục hồi dần, đạt mức tăng trưởng 8% và theo dự báo sẽ còn tăng trưởng trong năm
2015 và 2016 Theo khảo sát của Liên Minh nuôi trồng thủy sản (NTTS) Toàn Cầu – GAA (2015), sản lượng tôm Châu Á từ năm 2009 đến 2014 và dự báo đến năm
2015 và 2016 được trình bày qua Hình 2.4
Hình 2.4 Sản lượng tôm Châu Á từ năm 2009-2014 và dự báo đến 2016
(Nguồn: Global Aquaculture Alliance (2015) được trích dẫn bởi Thủy sản Việt Nam, 2015)
Hình 2.4 cho thấy, sản lượng tôm Châu Á giảm 21% trong năm 2013, trong
đó Trung Quốc và Thái Lan là các quốc gia có sản lượng giảm nhiều nhất Dự báo năm 2016, Trung Quốc sẽ đạt 1,3 triệu tấn, tương ứng với sản lượng ở năm 2009 Sản lượng tôm của Thái Lan vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi (dự báo phục hồi 50% trong năm 2015) Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh lại có tốc độ tăng trưởng tốt, sản lượng tôm của các quốc gia này tiếp tục tăng, lần lượt 590, 450, 395
và 107 nghìn tấn/năm (GAA, 2015)
b Các mô hình nuôi
Những cải tiến kỹ thuật nuôi có bước phát triển mới, việc chủ động con giống thả nuôi, gia tăng lợi nhuận từ mô hình nuôi tôm sú trong ao đất đã dẫn đến mức độ thâm canh hóa ngày càng cao Từ giữa thập niên 1980, năng suất nuôi tôm thâm canh trong ao đạt hơn 10 tấn/ha/vụ (Craig L Browdy, 1998) Giai đoạn 1980-
1989, mô hình nuôi thâm canh phát triển, sản lượng tôm sú nuôi trong ao đất tăng từ 2% lên 26% trên toàn thế giới (R Rosenberry, 1990), góp phần tăng sản lượng nuôi năm 2011, nhóm giáp xác tăng lên vị trí thứ 3 trên thế giới, ở mức 5,9 triệu tấn sau
cá (41,6 triệu tấn) và động vật thân mềm 14,4 triệu tấn (FAO, 2011)
Trang 18c Quản lý môi trường nước nuôi
Chất lượng môi trường nước trong nuôi tôm thâm canh được xem là yếu tố quan trọng góp phần mang lại thành công trong mô hình nuôi Việc thay nước nhiều trong quá trình nuôi tôm được cho là không thân thiện với môi trường và không mang lại nhiều lợi ích cho tôm nuôi Việc thay nước có thể dẫn đến việc lây lan mầm bệnh, các chất dinh dưỡng và chất rắn lơ lững có thể gây nên hiện tượng phú dưỡng cho nguồn nước cấp, mặt khác tôm cũng có thể thất thoát thông qua nguồn nước thải ra và có khả năng trở thành nguồn bệnh lây lan, đồng thời ảnh hưởng đến
di truyền của quần đàn tôm tự nhiên (Arlo W Fast and Piamsak Menasveta, 2000) Nhiều nơi trên thế giới, người nuôi đã đưa nguồn nước ngọt vào nuôi tôm sú, có mang lại thành công đáng kể do hạn chế được mầm bệnh từ nguồn nước mặn cấp vào ao nuôi, nhưng đã tác động tiêu cực đến nguồn nước ngầm do xâm nhập mặn,
và sinh hoạt cho cộng đồng xung quanh Do đó, từ năm 1995 ở Đài Loan và một vài nơi ở Thái Lan, đã cấm sử dụng nguồn nước ngọt để nuôi tôm (Phillips M.J, 1995; John F Wickins and Daniel O’C Lee, 2002)
Lượng chất thải trong ao nuôi tôm thải ra môi trường tự nhiên chỉ từ 10-20%, nhưng có chứa trên 60% tổng chất rắn lắng đọng và hơn 40% chất rắn lơ lửng
(Teichert-Coddington et al., 1999) Điều này cho thấy, việc quản lý chất thải từ nuôi
tôm là rất quan trọng để hạn chế gây ô nhiễm đến khu vực xung quanh
d Tình hình dịch bệnh
Dịch bệnh trên tôm nuôi đã tác động rất lớn lên lĩnh vực kinh tế - xã hội Bệnh có mức thiệt hại lớn nhất trong những năm qua là bệnh đốm trắng (White spot disease in shrimp) (WSSD), đồng thời bệnh hoại tử gan tụy cấp bùng phát từ năm
2009 đã gây thiệt hại nghiêm trọng ở nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc,
Thái Lan, Malaysia và Việt Nam (Lightner et al., 2012; Flegel, 2012, được trích dẫn
bởi Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương (2012)) Bệnh xuất hiện trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn từ 20-30 ngày nuôi sau khi thả giống, tỷ lệ chết có thể lên đến 100%
e Tình hình sử dụng thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học
Theo Tonguthai (1996), được trích dẫn bởi Sara Graslund and Bengt-Erik Bengtsson (2001), một lượng lớn thuốc và hóa chất đã được sử dụng trong ngành nuôi tôm thâm canh ở các nước Đông Nam Á, riêng Thái Lan năm 1995 đã sử dụng gần 100 triệu USD Nguyên nhân chính của việc sử dụng thuốc, hóa chất và các sản phẩm sinh học trong nuôi tôm, do các vấn đề về chất lượng nước và mức rủi ro cao bởi do dịch bệnh Các sản phẩm thường được sử dụng trong ao nuôi là phân, vôi, chất khử trùng, kháng sinh, chất diệt tảo, thuốc diệt cỏ và chế phẩm sinh học được
Trang 19sử dụng nhằm tăng năng suất tôm nuôi (Boyd and Massaut, 1999) được trích dẫn bởi Sara Graslund and Bengt-Erik Bengtsson (2001)
f Tình hình chế biến và xuất khẩu
Các sản phẩm từ tôm luôn được bảo quản đông lạnh, khi thu hoạch đến khi tiêu dùng Phần lớn các sản phẩm được lột vỏ để làm tôm nguyên liệu cho xuất khẩu, sau đó được chế biến thành các sản phẩm giá trị gia tăng như: microwavable, tẩm bột, sushi, shaomei, hargao, xiên que, chả giò (www.fao.org, 2014)
Theo VASEP (2015) trong thời gian qua, thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất trên thế giới là Mỹ, EU và Nhật Bản, với tổng sản lượng và giá trị nhập khẩu trong năm 2014 đạt 1,33 triệu tấn và 10,08 tỷ USD (Hình 2.5)
Hình 2.5 Ba thị trường nhập khẩu tôm chính trong năm 2014
(Nguồn: VASEP, 2015)
Thị trường Mỹ được xem là thị trường tiêu thụ tôm lớn trên thế giới, từ năm 2010-2014 giá tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên thị trường luôn có tốc độ tăng trưởng cao (Hình 2.5) Năm 2012 giá tôm sú đặc biệt giảm mạnh và thấp hơn (chỉ bằng 50%) so với năm 2010 và 2011 Nguyên nhân sụt giảm giá tôm do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và do Ấn Độ đạt sản lượng lớn tôm thẻ chân trắng Đến năm 2014 giá tôm sú đạt cao nhất từ trước đến nay, trong khi giá tôm thẻ chân trắng giảm
0123456
Trang 20Hình 2.6 Diễn biến giá tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên thị trường Mỹ từ
năm 2010-2014
(Nguồn: Urner Bary, được trích dẫn bởi VASEP, 2015)
2.1.3 Xu hướng chuyển đổi đối tượng tôm nuôi trên thế giới
Các mô hình nuôi tôm trên thế giới phát triển một cách đa dạng với các hình thức nuôi khác nhau và theo xu hướng từ hình thức quảng canh sang bán thâm canh,
thâm canh và siêu thâm canh (Jory and Cabrera, 2003; Briggis et al., 2005, được
trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009) Theo số liệu thống
kê của FAO (2014), sản lượng tôm sú nuôi trong suốt thập niên qua vẫn duy trì ổn định ở mức cao (Hình 2.7) Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, nhiều khu vực nuôi tôm sú đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng, do tình hình dịch bệnh trên tôm sú diễn ra trên diện rộng, đồng thời tôm thẻ chân trắng cho năng suất cao làm sản lượng tăng liên tục và đạt giá trị gần 16,5 tỷ USD, gấp 3 lần so với tôm sú (hơn 4,6
tỷ USD) (Hình 2.7)
Hình 2.7 Sản lượng tôm sú và tôm thẻ chân trắng được nuôi trên thế giới
(Nguồn: FAO, 2016)
5 10 15 20
Trang 21Để phát triển bền vững nghề nuôi tôm nói chung và tôm sú nói riêng, nhiều nơi trên thế giới đã áp dụng nhiều mô hình nuôi tôm tiên tiến như thực hành quản lý nuôi tốt (Good Animal management practices - GAP), thực hành quản lý tốt hơn (Better Management Practice farming) BMP, thực hành nuôi tốt nhất (Best Aquaculture Practices Management - BAP), nuôi tôm sinh thái (Naturland) và hiện tại nuôi theo tiêu chuẩn chứng nhận (Aquaculture Stewardship Council - ASC), nhằm tạo ra sản phẩm thân thiện với môi trường, có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, đồng thời giảm nguy cơ rủi ro do dịch bệnh
2.1.4 Xu hướng áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận vào nuôi tôm
Khi cuộc sống của con người ngày càng phát triển thì nhu cầu thiết yếu cũng ngày được tăng lên, đặc biệt là nhu cầu thực phẩm tiêu dùng hàng ngày Đối với sản phẩm NTTS hiện nay, luôn hướng tới việc tạo ra các sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường Tiêu chuẩn chứng nhận tôm nuôi được thúc đẩy nhằm kiểm soát thức
ăn, phân bón, hóa chất, an toàn vệ sinh thực phẩm thông qua thu hoạch, chế biến và
bảo quản sau thu hoạch (Michael A Rimmer et al 2013)
Tiêu chuẩn chứng nhận tôm sinh thái (Naturland)
Tiêu chuẩn chứng nhận nuôi tôm sinh thái được phát triển đầu tiên từ năm
2000 ở Việt Nam, sau đó được mở rộng chứng nhận sang một số nước khác như:
Trung Quốc, Ecuador (Mark Prein et al., 2012a) Ở Việt Nam, nuôi tôm kết hợp với
rừng được công nhận là nuôi tôm sinh thái từ năm 2000, với tổng diện tích gần 6.000ha Đến năm 2008, sản lượng tôm sú được chứng nhận tôm sinh thái trên toàn
thế giới là 5,3 nghìn tấn và đến năm 2010 là 8,8 nghìn tấn (tăng 40%) (Mark Prein
et al., 2012a)
Tiêu chuẩn chứng nhận BAP
Tiêu chuẩn chứng nhận BAP (Best aquaculture practices) được phát triển từ năm 2002 đến nay đã có 28 Cty đạt BAP**** (4 sao), 62 Cty đạt BAP*** (3 sao)
và 103 Cty đạt BAP** (2 sao) Trong đó Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc
và Indonesia là các nước áp dụng tiêu chuẩn chứng nhận BAP vào sản xuất nhiều
nhất trong số 12 nước đã được chứng nhận (Trương Hoàng Minh et al 2013)
Tiêu chuẩn chứng nhận ASC
Tiêu chuẩn chứng nhận ASC (Aquaculture Stewardship Council) được áp dụng trên tôm nuôi từ tháng 4 năm 2014 Đến nay, trên thế giới đã có 26 trại nuôi được chứng nhận, trong đó Việt Nam có 11 trại, Belize 8 trại, Ecuador 4 trại, Indonesia 2 trại và 1 trại ở Hondurus (www.asc-aqua.org, 2015) Việt Nam là quốc gia chú trọng đến việc áp dụng tiêu chuẩn chứng nhận cho tôm nuôi nhằm đáp ứng
Trang 22nhu cầu của người tiêu dùng về việc sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Hiện tại tiêu chuẩn chứng nhận ASC trên tôm nuôi được đánh giá là tiềm năng, có khả năng được chấp nhận rộng rãi ở các thị trường nhập khẩu khó tính như: Mỹ,
EU, Canada
Bảng 2.1: Các quốc gia đạt tiêu chuẩn chứng nhận ASC trên thế giới
2.2 Hiện trạng và xu hướng nuôi tôm sú ở Việt Nam
2.2.1 Hiện trạng nuôi tôm sú ở Việt Nam
Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển ngành công nghiệp thủy sản Từ lâu cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và Philippines đã trở thành một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm thủy sản hàng đầu trên thế giới (ABS, 2010) Nghề nuôi tôm sú ở nước ta phát triển mạnh ở các thủy vực nước lợ, mặn từ Bắc tới Nam, đặc biệt các tỉnh ven biển ĐBSCL là vùng nuôi trọng điểm của cả nước Hai loài tôm he chủ yếu đang được nuôi tại Việt Nam là tôm sú
(Penaeus monodon) và tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) Tôm sú là loài
tôm bản địa, đối tượng nuôi chủ lực của ngành NTTS Việt Nam Năm 2009, theo thống kê của tổng cục thủy sản, cả nước có khoảng 586.000 ha diện tích nuôi tôm
sú, đạt sản lượng 280.000 tấn nhưng đến năm 2010 diện tích tăng lên 613.718 ha, đạt sản lượng hơn 333.174 tấn Với sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm nước lợ, đặc biệt là tôm sú đã kéo theo nhu cầu con giống ngày càng tăng Mặc dù con giống được tạo ra đã đáp ứng được nhu cầu con giống cho người nuôi nhưng chất lượng và tỷ lệ sống không ổn định
Theo VASEP (2009), thị phần của tôm sú đang bị thu hẹp nhường chỗ cho tôm thẻ chân trắng Nhằm hướng đến phát triển bền vững nghề nuôi tôm không ngừng cải tiến kỹ thuật đảm bảo an toàn sinh học, an toàn tiêu dùng và thân thiện môi trường được ứng dụng rộng rãi Qua đó giúp quản lý nghề nuôi tốt hơn nhiều quy trình nuôi được khuyến khích như: thực hành nuôi tốt (GAP), thực hành quản lý tốt (BMP), nuôi an toàn sinh học, nuôi có trách nhiệm, nuôi kết hợp, nuôi sinh thái
Trang 23Hình 2.8: Thống kê sản lượng tôm sú trong tổng sản lượng tôm từ 2009-2015
(Nguồn: Tổng cục Thủy sản, 2015)
2.2.1.1 Các hình thức nuôi tôm sú ở ĐBSCL
Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009), có rất nhiều mô hình nuôi tôm biển đang được áp dụng trên thế giới và ở Việt Nam, mỗi mô hình có đặc tính và đặc thù về vùng sinh thái, kỹ thuật, kinh tế xã hội và tác động đối với môi trường Các hình thức nuôi tôm biển cơ bản được phân chia:
- Nuôi quảng canh: Mật độ thả 1 - 5 PL/m2, thức ăn hoàn toàn dựa vào thức
ăn tự nhiên hoặc bổ sung thức ăn không thường xuyên Mô hình này có ưu điểm là
kỹ thuật đơn giản, đầu tư thấp Nhược điểm là cần diện tích lớn, hệ thống nuôi hở nên khó khống chế dịch bệnh, năng suất thấp Các mô hình nuôi tôm kết hợp trong rừng ngập mặn hay nuôi tôm - lúa luân canh ở Việt Nam thuộc hình thức nuôi này
- Nuôi bán thâm canh: là hình thức nuôi vừa dựa vào nguồn thức ăn tự
nhiên, vừa được cho ăn bổ sung Mật độ thả nuôi 8 - 10 PL/m2 (tiêu chuẩn ngành của Việt Nam 2000) hay có thể từ 5 - 25 PL/m2 (tiêu chuẩn thế giới, trích bởi Jory
& Cabrera, 2003) Hình thức nuôi này yêu cầu diện tích ao nuôi không quá rộng, công trình ao nuôi xây dựng khá hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước chủ động, có trang bị đầy đủ các phương tiện máy móc nên việc quản lý chất lượng nước và mầm bệnh tốt hơn hình thức nuôi quảng canh
- Nuôi thâm canh: là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn được cung
cấp, chủ yếu là thức ăn viên có chất lượng cao Mật độ thả cao 25 – 40 PL/m2 (tiêu chuẩn ngành của Việt Nam 2002) và 25 - 120 PL/m2 (thế giới) (Jory & Cabrera, 2003) Ưu điểm của mô hình nuôi thâm canh là hệ thống nuôi, hệ thống cấp, thoát
42% 42,4%
Trang 24và xử lý nước được xây dựng hoàn chỉnh nên kiểm soát tốt chất lượng nước, mầm bệnh, năng suất cao Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi phải đầu tư cao về kinh phí và
kỹ thuật
- Nuôi siêu thâm canh: chỉ áp dụng ở một số nước có nghề nuôi phát triển,
mật độ thả nuôi tôm sú rất cao 100 - 150 PL/m2 Tôm được nuôi trong hệ thống bể hoàn chỉnh, có khả năng kiểm soát môi trường và cho ăn tự động Ưu điểm của mô hình nuôi này là năng suất và sản lượng rất cao (20 - 100 tấn/ha), tự động hóa cao, hạn chế ảnh hưởng môi trường ngoài do chất thải được kiểm soát tốt Tuy nhiên, mô hình này cần đầu tư rất lớn về vốn và kỹ thuật; tôm nuôi thu hoạch có kích cỡ nhỏ nên giá bán thấp Theo Rönnbäck (2001), về mặt lý thuyết năng suất của các hình thức nuôi quảng canh, bán thâm canh và thâm canh lần lượt là 0,6 - 1,5 tấn/ha; 2 - 6 tấn/ha và 7 - 15 tấn/ha Tuy nhiên, năng suất thực thường thấp hơn, bởi nhiều yếu tố tác động như chất lượng nước, sự thay đổi của khí hậu, thời tiết và đặc biệt là dịch bệnh
Bảng 2.2: Một số thông số kỹ thuật ở các hình thức nuôi tôm biển
Quảng canh Bán thâm canh Thâm canh Siêu thâm canh Mật độ (PL/m2) 1 - 5 5 – 25 25 – 120 120 - 300 Diện tích ao (ha) 5 - 100 1 – 25 0,1 – 5 0,1 - 1 Nguồn giống Tự nhiên Nhân tạo Nhân tạo Nhân tạo Thay nước
Bơm Trên 25%
Thức ăn Tự nhiên Viên + Tự nhiên Viên + Tự
nhiên
Viên + Tự nhiên
Năng suất (tấn/ha) 0,05 - 0,5 0,5 – 5 5 – 20 20 - 100
(Nguồn: Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)
Những năm đầu của thập niên 90, mô hình nuôi tôm sú thâm canh phát triển
và trở thành một ngành công nghiệp quan trọng trong nền kinh tế cả nước Ở ĐBSCL, nhiều hình thức nuôi chính của mô hình nuôi tôm thâm canh đã hình thành, đó là hình thức HND, THT, TT và Cty, mỗi hình thức có qui mô khác nhau
(Lê Xuân Sinh, 2011; Trần Ngọc Hải và ctv, 2015, 2016)
Trang 252.2.1.2 Diện tích và sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nuôi tôm đã có từ lâu với mô hình nuôi quảng canh vùng ngập nước ven biển và phát triển nhanh chóng vào đầu thập niên 90 Diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) của cả nước tăng liên tục từ năm 2000-2014, đạt từ 641 nghìn ha năm 2000 đến 1.053,9 nghìn ha năm 2014, trong đó diện tích nuôi tôm nước lợ-mặn chiếm tỷ lệ lớn Năm 2014, diện tích nuôi tôm nước lợ-mặn chiếm 86,9% so với diện tích nuôi thủy sản nước lợ-mặn và chiếm 61,2% so với tổng diện tích NTTS Trong năm 2014, diện tích nuôi tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước (676 nghìn ha), trong đó diện tích nuôi tôm sú là 583 nghìn ha và diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng đạt 93 nghìn ha, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2013 (VASEP, 2015)
Hình 2.9 Diện tích tôm nuôi ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2014
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2015)
Sản lượng nuôi cũng tăng liên tục trong thời gian qua Năm 2000, sản lượng nuôi đạt 93,5 nghìn tấn và đến năm 2014 là 632 nghìn tấn, mức tăng bình quân 35,9 tấn/năm (tăng gấp 17,6 lần) ĐBSCL là vùng có diện tích và sản lượng nuôi tôm nước lợ-mặn lớn nhất cả nước Năm 2014 sản lượng tôm nuôi của vùng đạt 560 nghìn tấn (chiếm 88,6% cả nước) Kế đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung đạt 83 nghìn tấn (chiếm 13,1%), Đông Nam Bộ đạt 24.313 tấn (chiếm 3,8%) Năm 2015, sản lượng chỉ đạt 593.8 nghìn tấn, giảm 6,0% so với năm 2014 Trong
đó, sản lượng nuôi tôm sú đạt 249,2 nghìn tấn, giảm 4,15% so với cùng kỳ năm trước và sản lượng tôm thẻ chân trắng chỉ đạt 344,6, giảm 13,9% so với năm 2014 (VASEP, 2016)
Trang 26Hình 2.10 Sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2014
(BTB & DHMT: Bắc Trung Bộ, Duyên hải Miền Trung; ĐNB: Đông Nam Bộ)
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2015)
Ngành nuôi tôm nước lợ ở ĐBSCL có vị trí và vai trò quan trọng trong NTTS của cả nước Năm 2011, ngành công nghiệp nuôi tôm của vùng ĐBSCL chiếm 92% diện tích nuôi và 75% sản lượng nuôi của cả nước (Sustaining Ethical Aquaculture Trade-SEAT, 2012)
Các tỉnh có sản lượng tôm nuôi lớn nhất ở ĐBSCL là Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Kiên Giang và Trà Vinh Năm 2014, sản lượng tôm nuôi ở Cà Mau đạt 149 nghìn tấn (chiếm 29,6% sản lượng vùng ĐBSCL); Bạc Liêu 96 nghìn tấn (chiếm 19,0%); Sóc Trăng 82 nghìn tấn (chiếm 16,3%) Năm 2012, sản lượng tôm nuôi sụt giảm nghiêm trọng ở một số tỉnh như Sóc Trăng, Bến Tre và Trà Vinh do dịch bệnh APHD gây thiệt hại nặng nề trên tôm nuôi (Hình 2.11)
Hệ thống nuôi tôm thâm canh của vùng chỉ chiếm 8% diện tích, nhưng chiếm 34% tổng sản lượng, với mật độ nuôi 20-40 PL/m2 và năng suất 2,5-6 tấn/ha/vụ Trong hệ thống nuôi thâm canh, tỉnh Sóc Trăng có diện tích nuôi lớn nhất (26.143 ha), chiếm hơn 50% diện tích tôm nuôi của toàn tỉnh và hơn 45% diện tích nuôi tôm TC/BTC của toàn vùng ĐBSCL (Sustaining Ethical Aquaculture Trade-SEAT, 2012), Bạc Liêu (10.770 ha), Trà Vinh (8.753 ha) và Bến Tre (4.299 ha) Hệ thống nuôi tôm thâm canh hiện nay, có nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau như HND, THT, TT và Cty
Trang 27Hình 2.11 Sản lượng tôm nuôi ở ĐBSCL từ năm 2000-2014
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2015)
2.2.1.3 Giá trị tôm nuôi ở Việt Nam
Sản lượng tôm nuôi liên tục tăng qua các giai đoạn từ 2001-2014 (155 ngàn tấn lên 660 nghìn tấn) chiếm 15,2 - 49,8% trong cơ cấu tổng sản lượng NTTS của
cả nước Giá trị tôm nuôi nước lợ-mặn cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị sản phẩm thủy sản đạt (36,06 - 50,45%) Năm 2001, giá trị tôm xuất khẩu (XK) đạt 0,78
tỷ USD nhưng đến năm 2014 tăng lên 3,95 tỷ USD và Việt Nam trở thành nước có sản lượng tôm xuất khẩu đứng thứ 3 trên thế giới (Hình 2.12)
Hình 2.12 Tỷ lệ sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam
(Nguồn: Tổng cục Thông kê, 2015; VASEP, Qua các giai đoạn 2001-2015)
Giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam liên tục tăng từ năm 2008 đến năm 2014 (tăng bình quân 33,97 %/năm) Năm 2014, tổng giá trị xuất khẩu tôm đạt 3,95 tỉ USD, tăng 24% so với năm 2013 Năm 2012 giá trị xuất khẩu tôm sụt giảm so với
0.0 1.0 2.0 3.0 4.0 5.0 6.0 7.0 8.0 9.0
SL NTTS cả nước SL tôm nước lợ, mặn
GT của cả nước GT tôm nước lợ, mặn
Trang 28năm 2011 do bùng phát dịch bệnh hội tử gan tụy cấp (APHD) trên tôm nuôi
(VASEP, 2015)
Hình 2.13 Giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam từ năm 2008 đến 2014
(Nguồn: VASEP, 2015)
2.2.1.4 Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam
Ngành thủy sản Việt Nam có vị trí địa lý nuôi thuận lợi, với các đối tượng nuôi là tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra,… đóng góp kim ngạch xuất khẩu quan trọng trong nền kinh tế của đất nước và là một trong những ngành nghề mang lại kim ngạch xuất khẩu chính của nền kinh tế Trong những năm qua thị trường trong nước có tăng trưởng khá mạnh, nhưng hầu hết các sản phẩm thủy sản phần lớn là phục vụ cho xuất khẩu
Hình 2.14: Các thị trường xuất khẩu chính của thủy sản Việt Nam 2014
Trung Quốc(8%)
Hàn Quốc(8%)
ASEAN (6%)
Australia(3%)Mỹ
(22%)
Trang 29Tổng giá trị xuất khẩu ngành thuỷ sản Việt Nam tăng trưởng liên tục trong trong 15 năm qua Trong năm 2014, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt 7,84 tỷ USD (tăng 16,5% so với cùng kỳ) Trong năm 2014, sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã xuất khẩu sang 166 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó, tóp 10 thị trường nhập khẩu thủy sản chiếm tới 86% trong tổng giá trị xuất khẩu như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
Chiếm một nửa giá trị xuất khẩu thủy sản trong năm 2014, xuất khẩu tôm vẫn phát triển tích cực từ năm 2013 và là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam Ngoài ra, các sản phẩm chính khác để xuất khẩu của ngành thủy sản của Việt Nam là: cá tra (22% tổng giá trị), các loài cá khác (13%) và động vật thân mềm (7%)
Hình 2.15 Các giá trị xuất khẩu chính của thủy sản Việt Nam 2014
(Nguồn: VASEP, 2015)
Xuất khẩu tôm chiếm 50% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam (4 tỷ USD giá trị kim ngạch xuất khẩu) Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất về nhập khẩu tôm Việt Nam đã đóng góp tới hơn 27% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
về xuất khẩu tôm Việt Nam được hưởng lợi từ sự tăng trưởng trong xuất khẩu tôm chân trắng, trong đó thị trường Mỹ là 2,31 tỷ USD giá trị xuất khẩu và chiếm 58% tổng xuất khẩu tôm Tôm sú xuất khẩu góp phần vào thị trường Mỹ là: 1,38 tỷ USD, chiếm 35% tổng giá trị xuất khẩu của sản phẩm thủy sản
Sự tăng trưởng liên tục trong xuất khẩu mặt hàng tôm do giảm năng suất tôm nuôi của một số đối thủ cạnh tranh với Việt Nam như: Thái Lan và Trung Quốc Tuy nhiên, trong năm 2014, xuất khẩu tôm của Việt Nam đã phải đối mặt với những thách thức đến từ mức thuế chống bán phá giá cao và thuế quan của thị trường Hoa
Kỳ, áp thuế kinh tế xảy ra ở một số thị trường nhập khẩu quan trọng và sự mất giá của đồng tiền yên Nhật Bản Xuất khẩu mặt hàng tôm được dự báo sẽ tăng trong
Tôm khác; 2% Nhuyễn thể; 7%
Trang 30nửa đầu của năm 2015 nhưng sự tăng trưởng với tỷ lệ sẽ vẫn còn ở trong vùng lân cận của của năm 2014 Đây là kết quả tác động POR8 (thuế chống bán phá giá) áp đặt bởi của chính phủ Hoa Kỳ và sự phục hồi trong sản xuất nghề nuôi tôm từ một
số đối thủ cạnh tranh chính như: Thái Lan, Trung Quốc và Ấn Độ
2.2.2 Xu hướng nuôi tôm sú ở Việt Nam
2.2.2.1 Xu hướng phát triển liên kết trong nuôi tôm sú ở mức vĩ mô
- Nhà nước với vai trò quản lý tổng thể: cần đưa ra giải pháp giúp phát triển
chuỗi giá trị phù hợp với xu hướng trong điều kiện thực tế tại Việt Nam Nhằm tận dụng lợi thế so sánh giúp ngành hàng tôm nước ta xâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị gia tăng Các giải pháp giúp tham gia sâu vào chuỗi giá trị phải được thực hiện đồng bộ, thống nhất và toàn diện
- Đầu tư vào khoa học công nghệ: Tăng tỷ trọng đầu tư ngân sách cho nghiên
cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ Thống nhất áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật của các thị trường thế giới Tăng cường hỗ trợ tập huấn, tuyên truyền phổ biến ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật bằng các mô hình trình diễn cho nông dân học tập
- Ban hành chính sách khuyến khích nông dân học nghề: Nhằm nâng cao
nhận thức của nông dân và doanh nghiệp về chuỗi giá trị ngành hàng Qua đó, giúp tất cả các chủ thể vận hành chuỗi có cái nhìn khái quát về chuỗi giá trị cũng như lợi ích của chúng mang lại
- Thiết lập hệ thống nghiên cứu và mạng lưới thông tin thị trường: Đảm
bảo định hướng dự báo và cung cấp thường xuyên các thông tin cần thiết về giá cả
và tình hình cung cầu cho người sản xuất
- Xây dựng chương trình xúc tiến thương mại: Thực hiện nghiên cứu chuỗi
giá trị, nghiên cứu những vấn đề phải giải quyết để xâm nhập và mở rộng thị trường, tạo ra mũi nhọn xuất khẩu chiến lược phát triển tôm nuôi của Việt Nam trên thị trường thế giới
- Đổi mới và xây dựng các mô hình kinh tế, hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả: Khuyến khích phát triển các mối liên kết giữa HND với các doanh
nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khoa học, hiệp hội ngành hàng tôm sú và thị trường tiêu thụ sản phẩm để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng nông hộ, TT có quy mô phù hợp Phát triển kinh tế hộ theo hướng chuyên môn hóa sản xuất với quy mô lớn Hình thành các vùng chuyên canh tạo vùng nguyên liệu mang tính hàng hóa phục
vụ chế biến và xuất khẩu
- Chủ động xây dựng quan hệ đối tác: Mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh
công tác tiếp thị thương mại, đàm phán các hiệp định kỹ thuật, mở rộng thị trường
Trang 31quốc tế dựa trên lợi thế của từng tổ chức và quốc gia Vận động thu hút viện trợ, công nghệ và đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực thủy sản
2.2.2.2 Xu hướng phát triển liên kết trong nuôi tôm sú ở mức vi mô
a Đối với các doanh nghiệp:
- Thiết lập các liên kết: Đẩy mạnh các hoạt động liên doanh thành lập các
hiệp hội ngành hàng tôm sú để tăng cường sức mạnh khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, nhanh chóng khắc phục tình trạng nhỏ lẻ và thiếu sự liên kết giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp cần phải hợp tác với ngành hàng trong nước, đồng thời liên kết với những nhà xuất khẩu lớn khác trên thế giới nhằm chia sẻ thông tin, hợp tác sản xuất và nhất là xây dựng vị thế đủ mạnh để tạo nên những phản hồi với
sự biến động của thị trường, đặc biệt trong trường hợp giá cả bị chi phối mạnh bởi yếu tố tâm lý người tiêu dùng Bên cạnh đó, kết nối chặt chẽ với nông dân, thực hiện các chương trình hỗ trợ sản xuất nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định với giá cả hợp lý, tránh rủi ro khi xảy ra các diễn biến bất thường trên thị trường
- Xây dựng thương hiệu: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc
đăng ký nhãn hiệu hàng hóa để có được sự bảo hộ về mặt pháp lý Nâng cao nhận thức về nội dung, cách thức xây dựng, quản trị một nhãn hiệu và chất lượng sản phẩm đi kèm Các doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia vào thị trường thế giới cần phải có những chiến lược đăng ký nhãn hiệu và phát triển thương hiệu mang tầm cỡ quốc tế Việc xây dựng thương hiệu cũng như cải tiến các quy trình của doanh nghiệp trong chuỗi phải theo xu hướng chung của thị trường thế giới và đảm bảo lợi ích của tất cả các bên để đạt được sự phát triển bền vững và đồng bộ
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch vùng nguyên liệu: đầu tư hình thành
những vùng nguyên liệu để đảm bảo nguồn cung ổn định, giảm thiểu rủi ro đặc biệt
là khi có biến động trên thị trường thế giới
- Chủ động đổi mới công nghệ: Đầu tư máy móc kỹ thuật trong các hoạt
động bảo quản, chế biến nông sản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm sau sơ chế, giảm hao hụt trong quá trình vận chuyển, chế biến
b Đối với người sản xuất
Cách thức tổ chức sản xuất ngành hàng tôm sú nguyên liệu chưa thật sự tốt, nên ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành chế biến thuỷ sản Do nuôi trồng nhỏ lẻ nên việc kiểm soát chất lượng của sản phẩm nuôi trồng rất khó khăn
- Liên kết với các tác nhân trong chuỗi: Hợp tác giữa nông dân với nông
dân, giữa nông dân với thương lái; nông dân với nhà máy, cơ sở chế biến thông qua
Trang 32hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Việc kết hợp giữa nhóm sản xuất nông hộ với
cơ sở sản xuất chế biến hay các hợp đồng thông qua bao tiêu sản phẩm làm tăng lợi nhuận cho cả hai phía, đặc biệt trên phương diện chi phí giao dịch giảm, trong đó chính người dân sẽ hưởng lợi đồng thời làm tăng sức mạnh và uy tín, từ đó mới đủ tầm để thương lượng Bên cạnh đó, các HND sản xuất cần thay đổi phương thức sản xuất theo hướng hợp tác tự nguyện như câu lạc bộ, THT, hợp tác xã hay Cty cổ phần để đại diện cho lợi ích chính đáng của mình, qua đó tranh thủ được nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp, làm giảm chi phí của các dịch vụ cung ứng đầu vào giúp đem lại nhiều lợi ích hơn so với từng hộ tự làm
- Liên kết với tác nhân ngoài chuỗi: Kết nối chặt chẽ với các nhà khoa học,
các viện nghiên cứu chuyên ngành nhằm tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất đồng thời cung cấp những thông tin thực tế sản xuất cho người nghiên cứu
- Chủ động học tập, đổi mới tư duy tiểu nông: nông dân tự mình thay đổi
suy nghĩ, nâng cao nhận thức về cách thức đưa sản phẩm ra thâm nhập thị trường thế giới thông qua chuỗi giá trị toàn cầu, tích cực tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật
và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và đảm bảo tính bền vững trong chuỗi giá trị của ngành hàng tôm sú
2.2.2.3 Xu hướng phát triển của nghề nuôi tôm sú
Theo Gary Gereffi (1999), mặt hàng tôm được xếp vào chuỗi giá trị do người
mua chi phối, những hệ thống siêu thị bán lẻ lớn ở nước nhập khẩu và các nhà máy
chế biến xuất khẩu uy tín đóng vai trò then chốt trong việc thiết lập hệ thống sản xuất tập trung tại các nước xuất khẩu Sản xuất mặt hàng tôm sú là một lĩnh vực sản xuất có những đặc điểm riêng biệt là ngành hàng cung cấp thực phẩm và sử dụng nhiều công nhân lao động đồng thời lại chịu nhiều tác động từ thiên nhiên
Chuỗi giá trị đối với ngành hàng tôm có sự khác biệt với các điểm sau: (i) sản xuất tách thành hai khâu là nuôi trồng và chế biến; (ii) Giá trị gia tăng được tạo
ra trong khâu chế biến cao hơn so với khâu nuôi trồng; (iii) Sự phân bố địa điểm nuôi trồng phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên; (iv) Tính không đồng đều giữa các chủ thể tham gia vào chuỗi và độ lớn của mỗi chuỗi Chuỗi giá trị của ngành tôm sú bao gồm rất nhiều công đoạn khác nhau từ cung ứng nguyên liệu, nuôi trồng, thu hoạch bảo quản, chế biến đến phân phối
Tôm nuôi mang tính mùa vụ nên sản phẩm làm ra cũng mang tính mùa vụ, làm cho chuỗi giá trị sản phẩm thường mang đặc điểm không liên tục và có sự thay đổi rất nhanh về khối lượng, chất lượng trong quá trình cung ứng ra thị trường Khi vào vụ thu hoạch thì sản lượng tôm tăng lên, chất lượng cao và nhu cầu bán ra thị
Trang 33trường rất lớn, làm cho giá bán trên thị trường giảm thấp, ngược lại khi hết vụ thu hoạch thì khang hiếm, giá bán trên thị trường lại tăng cao Đặc điểm này làm cho việc phân phối hàng hóa trở nên rất khó khăn và giá cả không ổn định
Tôm nuôi là hàng hóa tươi sống, dễ bị hỏng, nhanh giảm phẩm chất sau khi thu hoạch, việc vận chuyển đi xa khó khăn nếu không được chế biến, bảo quản tốt trước khi vận chuyển Điều này, đồng nghĩa với giá thành sản xuất sẽ tăng lên nếu sản phẩm được trải qua các công đoạn chế biến, chọn lọc và bảo quản đúng yêu cầu
kỹ thuật Đặc điểm này đã gây ra nhiều khó khăn cho người sản xuất
a Đặc điểm về tác động của thời tiết, bệnh dịch và an toàn thực phẩm
Khâu sản xuất tôm nuôi thương phẩm chịu nhiều tác động mạnh bởi các nhân
tố khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng đất đai và nguồn nước Sự thay đổi những nhân tố này
sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến kết quả sản xuất Sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên làm sản xuất hạn chế mạnh bởi những điều kiện tự nhiên không phù hợp nên chỉ tập trung nhiều ở một số vùng, trong khi những vùng khác không thể phát triển được Chính vì vậy, sản phẩm tôm nuôi thường mang tính địa phương rất cao, hơn nữa khả năng vận chuyển khó khăn, chi phí tốn kém đã hạn chế khả năng phát triển các kênh tiêu thụ đến các vùng xa nơi sản xuất
Bên cạnh đó, vấn đề dịch bệnh và đòi hỏi về an toàn thực phẩm là hai mặt đối lập đã làm cản trở lớn đến sự phát triển của ngành tôm Chính phủ các nước thường đặt ra những hàng rào kiểm soát chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng nhập khẩu và không cho phép nhập khẩu những lô hàng kém chất lượng,
có mầm bệnh hoặc có chứa hóa chất độc hại quá mức cho phép Những biện pháp này là chính đáng và cần thiết, những ảnh hưởng xấu tới thương mại vốn đã rất khó khăn do những đặc điểm nói trên đã gây ra nhiều rủi ro cho người sản xuất
b Đặc điểm về tổ chức sản xuất
Quá trình sản xuất tôm nuôi thương phẩm thường có sự tham gia của số lượng rất đông các HND với trình độ sản xuất, ý thức kinh doanh và nhận biết về thị trường rất khác nhau Điều này, rất khó để tạo ra khối lượng lớn sản phẩm đồng nhất về chất lượng và là những thách thức lớn đối với các nhà sản xuất và chế biến
c Đặc điểm về chế biến và lưu giữ sản phẩm
Một nhà chế biến có thể quan hệ với rất nhiều nông dân, ngư dân Vì vậy, họ thường đi theo nguyên lý “mua đứt – bán đoạn” nên vị thế quyền lợi phần lớn thuộc
về người mua Nếu có sự hợp nhất giữa hai chủ thể ở hai công đoạn nói trên là con đường tạo ra mối liên kết dọc và là điều kiện tiên quyết của sự hình thành và phát triển chuỗi giá trị Trong trường hợp là chuỗi giá trị toàn cầu thì hai công đoạn này
Trang 34phải được tổ chức rất chặt chẽ để tạo nên mối liên kết dọc bền vững giữa sản xuất với chế biến Điều này, là vô cùng khó vì nhà chế biến thường ít quan tâm sự hài lòng của người cung cấp nguyên liệu Hơn nữa, nhà máy chế biến ít khi gắn trực tiếp với nông dân mà thường thông qua người trung gian nên sự liên kết giữa người sản xuất và nhà máy chế biến thường trong tình trạng lỏng lẻo
2.2.2.4 Các phương án quy hoạch nuôi tôm sú đến năm 2020
Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 (Tổng cục Thủy sản, 2014) có 3 phương án phát triển ngành nuôi tôm sú:
- Phương án 1: Phát triển nuôi tôm sú trong điều kiện kém thuận lợi
- Phương án 2: Phát triển nuôi tôm sú trong điều kiện tương đối thuận lợi và duy trì tốc độ phát triển như giai đoạn 2001-2010
- Phương án 3: Phát triển nuôi tôm sú trong điều kiện thuận lợi hơn so với giai đoạn 2001-2010
Với các phương án được đặt ra, phương án 2 được cho là có khả năng thực hiện cao hơn so với phương án 1 và 3, do xác định được các điều kiện bất lợi để phát triển như tình hình dịch bệnh, khó khăn về vốn đầu tư cho sản xuất của người nuôi, các rào cản thương mại đối với xuất khẩu Cả 3 phương án đều làm giảm diện tích nuôi, trong đó diện tích nuôi ở phương án 1 và 3 giảm nhiều nhất Tuy nhiên, sản lượng được giữ vững và tăng nhẹ trong cả 3 phương án do gia tăng năng suất nuôi thông qua việc chuyển đổi mô hình nuôi từ quảng canh lên bán thâm canh và
từ bán thâm canh lên thâm canh (Hình 2.16)
Trang 35Hình 2.16 Các phương án quy hoạch nuôi tôm sú đến năm 2020
(Nguồn: Tổng cục Thông kê, 2015)
Bảng 2.3: Quy hoạch diện tích nuôi tôm sú đến năm 2020
TT Vùng Tổng DT
(ha)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Nhu cầu giống (Tr.con) TC/BTC QCCT Nuôi kết
(Nguồn: Tổng cục Thông kê, 2015)
Ghi chú: ĐBSH: Đồng Bằng Sông Hồng; BTB & DHMT: Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung; ĐNB: Đông Nam Bộ ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500
Phương án 1 (DT) Phương án 2 (DT) Phương án 3 (DT)
Phương án 1 (SL) Phương án 2 (SL) Phương án 3 (SL)
Trang 36Trong thời gian tới, khi diện tích nuôi tôm sú giảm thì diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng sẽ tăng ở cả 3 phương án lựa chọn Ở phương án 2 và 3, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tăng từ 22,2 nghìn ha (năm 2010) lên 600 nghìn ha (năm 2020);
do xu hướng chuyển đổi từ mô hình nuôi tôm sú sang tôm thẻ chân trắng Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020 (Tổng cục Thủy sản, 2014) diện tích và nhu cầu con giống được trình bày ở Bảng 2.3
2.2.2.5 Áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận vào nuôi tôm sú
Thời gian qua, sản phẩm tôm xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn, vấn đề rào cản thương mại của các nước nhập khẩu đã gây thiệt hại kinh tế nghiêm
trọng cho nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trong nước Cụm từ “An toàn vệ sinh thực
phẩm” ngày càng được chú ý thông qua các đòi hỏi khắt khe của người tiêu dùng
Do vậy, các tiêu chuẩn chứng nhận sản phẩm ngày càng được chú trọng như: Global GAP, BAP, Naturland (tôm sinh thái) và sản lượng tôm đạt tiêu chuẩn chứng nhận xuất khẩu liên tục tăng với các công ty (Cty) đạt tiêu chuẩn chứng nhận như: Minh Phú, Casimex, Sinamixco và một số Cty khác, gần đây tiêu chuẩn chứng nhận mới ASC cũng đã được áp dụng để sản phẩm tôm Việt Nam có thể được xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, EU
Tiêu chuẩn chứng nhận BAP (Best Aquaculture Practics)
Tiêu chuẩn BAP do tổ chức phi chính phủ GAA (Global Aquaculture Alliance) phát triển từ năm 2002 và được hội đồng ACC (Aquaculture Certification Council) cấp chứng nhận cho các đối tượng nuôi như: tôm, cá tra, cá hồi, cá nheo
Mỹ và cá rô phi với các khâu từ: trại giống, trại nuôi, thức ăn và chế biến nhằm bảo
vệ đa dạng sinh học, quản lý đất, nước, thuốc và hóa chất Ở Việt Nam, có 2 Cty được cấp chứng nhận đầu tiên vào tháng 10/2005 là Faquimex và Amanda ở Bến Tre Trại nuôi tôm sú An Nhơn 74 (thuộc Cty Faquimex) là trại nuôi tôm được chứng nhận BAP đầu tiên ở Châu Á (nay đã hết hạn do không tái đánh giá vào năm sau) (Lâm Thái Xuyên và Trương Hoàng Minh, 2010) Đến nay, Việt Nam có 2 Cty đạt BAP****, 3 Cty đạt BAP*** và 10 Cty đạt BAP** đang còn hiệu lực
Tiêu chuẩn BAP được chứng nhận cho chuỗi sản xuất gồm 2 sao (trại nuôi
và sản phẩm chế biến; 3 sao (trại giống, trại nuôi và sản phẩm chế biến) và 4 sao (thức ăn, trại giống, trại nuôi và sản phẩm chế biến)
Tiêu chuẩn chứng nhận Naturland (tôm sinh thái)
Tiêu chuẩn chứng nhận Naturland (Đức) được thành lập vào năm 1982, với các lĩnh vực: nông nghiệp, chế biến, rừng, dệt may, nuôi trồng và khai thác thủy
Trang 37sản Sản phẩm sinh thái đầu tiên được chứng nhận trên cá chép (Cyprinus carpio) ở
Úc và Đức
Ở Việt Nam, sản phẩm sinh thái được chứng nhận trên 2 đối tượng là: tôm sú
và cá tra Năm 2001, sản phẩm sinh thái tôm sú được chứng nhận đầu tiên trên thế
giới (Mark Prein et al., 2012a; SIPPO, 2012) bởi Naturland và SIPPO và năm 2006,
được chứng nhận sản phẩm sinh thái thứ 2 trên cá tra bởi Naturland và GTZ
(Deutsche Gesellschaft for Technische Zusammenarbeit) (Mark Prein et al., 2012b)
Tôm sinh thái Việt Nam được giới thiệu vào năm 1999 (Stefan Holler, 2010); đến năm 2001 được chứng nhận trên 1.368 ha diện tích nuôi tôm ở Cà Mau và đến năm 2002, sản phẩm tôm sinh thái đầu tiên đươc xuất sang Châu Âu (Lê Thanh Hòa, 2002) Tôm sinh thái Cà Mau đã đứng vững ở thị trường EU và có khả năng xâm nhập và cạnh tranh ở các thị trường khó tính khác như: Mỹ, Nhật, Úc (Econet, 2005; Lê Hằng, 2007) Sau năm 2001, diện tích nuôi tôm sinh thái tăng dần và đến năm 2009, diện tích nuôi tôm sinh thái chiếm 13,7% tổng diện tích nuôi tôm-rừng (39 nghìn ha), chiếm 2,02% diện tích nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau (264,5 nghìn ha) và 0,95% diện tích nuôi tôm sú ở ĐBSCL (565 nghìn ha) (Lâm Thái Xuyên, 2011)
Tiêu chuẩn chứng nhận Global GAP (Good Aquaculture Practice)
Tiêu chuẩn chứng nhận Global GAP được thành lập vào năm 1997, bởi sáng kiến của các nhà bán lẻ thuộc tập đoàn bán lẻ EU, dựa trên mối quan tâm ngày càng tăng của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm, tác động môi trường và sức khỏe,
an toàn, phúc lợi của người lao động và động vật nuôi Đến nay, Global GAP có khoảng 1.400 thanh tra và kiểm soát viên làm việc cho hơn 142 cơ quan Xác nhận chứng chỉ được cấp cho 409 sản phẩm nông nghiệp, 112.600 nhà sản xuất tại 112 quốc gia (http://www:global.org, 2012) Ở Việt Nam tháng 01 năm 2010, sản phẩm tôm của công ty Minh Phú đã được chứng nhận trên 250 ha tại tỉnh Kiên Giang với sản lượng 1.000 tấn/năm
Chứng nhận Việt GAP
Quy phạm thực hành nuôi thủy sản tốt (GAP) ở tôm sú Việt Nam (gọi là Viet GAP) là các hướng dẫn nuôi tôm sú tốt Các hướng dẫn này gồm có 3 loại: hướng dẫn thực hành nuôi tốt (GAP) tôm sú thâm canh, sổ tay thực hành nuôi tốt (BMP) cho nuôi tôm bán thâm canh và sổ tay thực hành nuôi tốt (GAP) cho nuôi tôm quảng canh cải tiến Các hướng dẫn thực hành nuôi tốt GAP/BMP trên được xuất bản trong năm 2005 Tuy nhiên đến nay, chưa ban hành chính thức tiêu chuẩn Viet GAP và chưa có cơ quan, tổ chức nào thực hiện chứng nhận trên diện tích 639 ha đã
áp dụng Viet GAP ở các tỉnh ĐBSCL từ năm 2000-2007 Tình trạng chứng nhận Viet GAP trong thời điểm 2003-2007 là không hợp lệ vì tính hợp lệ của các văn bản
Trang 38pháp lý được ban hành Từ sau quyết định 06/2006/QĐ-BTS đến nay, chưa có cơ sở nuôi tôm nào đạt chứng nhận Viet GAP (Lâm Thái Xuyên và Trương Hoàng Minh, 2010)
Chứng nhận BMP (Best Management Practices)
Ở Việt Nam, chưa có đơn vị nào đạt chứng nhận BMP Dự án CARD do chính phủ Úc tài trợ, đã có nhiều đóng góp về việc xây dựng các mô hình BMP/GAP trong lĩnh vực nông nghiệp Trong nuôi tôm từ năm 2007-2008, đã có hơn 35 nhóm hợp tác với hơn 554 nông dân của các tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, Kiên Giang và Quảng Nam tham gia tập huấn về BMP (Corsin, 2009) Dự án SUMA, với hợp phần FSPS và Bộ Thủy Sản Việt Nam, nhiều tài liệu về BMP đã được soạn thảo và xuất bản như: Hướng dẫn thực hành quản lý tốt (BMP) trong trại tôm sú
giống (P monodon) Việt Nam, Quản lý thực hành tốt (BMP) cho người mua bán
vận chuyển tôm bố mẹ, thực hành quản lý tốt (BMP) cho người mua bán và vận chuyển tôm giống Đến năm 2005, NAFIQAVED đã sát nhập BMP vào GAP nên trên thực tế không có trang trại nuôi tôm hay trại sản xuất tôm giống nào của Việt Nam được chứng nhận BMP (Lâm Thái Xuyên và Trương Hoàng Minh, 2010)
Trang 39CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này, đã được thực hiện từ tháng 06/2010 đến tháng 05/2016 tại 3 tỉnh: Bến Tre, Kiên Giang và Sóc Trăng Các địa điểm nghiên cứu được thể hiện qua Hình 3.1
Nghiên cứu khảo sát được thực hiện từ tháng 01/2011 đến tháng 12/2011 tại các huyện nuôi tôm trọng điểm của 3 tỉnh: Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang
Nghiên cứu này, bố trí thực nghiệm được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 09 năm 2012 tại xã An Nhơn và xã An Điền của huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
Hình 3 1 Bản đồ các tỉnh ĐBSCL thể hiện địa bàn nghiên cứu
(http://www.muadiaoc.net)
Địa điểm
nghiên cứu
Trang 403.2 Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu
3.2.1 Sơ đồ nội dung và các bước nghiên cứu
Hình 3.2: Sơ đồ nghiên cứu
I ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI TÔM SÚ
THÂM CANH
Cơ sở nuôi thâm canh tôm sú thương phẩm:
- Hình thức hộ nông dân ( HND): 49 cơ sở
- Hình thức tổ hợp tác (THT): 20 cơ sở
- Hình thức trang trại tư nhân (TT): 14 cơ sở
- Hình thức công ty (Cty): 8 cơ sở
II PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG LIÊN KẾT VÀ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT, TÀI CHÍNH CỦA CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC SẢN XUẤT TÔM SÚ THÂM CANH
III XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI TÔM TRANG TRẠI, THEO DÕI VÀ SO SÁNH VỚI CÁC HÌNH THỨC
- 3 ao nuôi thực nghiệm ở hình thức CTy
IV PHÂN TÍCH SWOT CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI TÔM SÚ THÂM CANH