1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất đai vùng than tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

262 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 262
Dung lượng 12,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đất đai và nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất là tiềm năng, nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới. Do đó, bảo vệ và quản lý sử dụng hợp lý quỹ đất trong quá trình khai thác khoáng sản và sau khai thác là một nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc phát triển bền vững đất nước. Quốc hội đã nêu theo Luật Khoáng sản (2010): “Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của Quốc gia, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng an ninh” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013). Khai thác khoáng sản là một hoạt động quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đối với nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động khai thác khoáng sản thường gây tác động mạnh đến đất đai, các hệ sinh thái tự nhiên và môi trường sống của con người. Do vậy, bảo vệ đất đai và môi trường trong các vùng. Khai thác khoáng sản luôn là mối quan tâm lớn của các nhà quản lý, nhà khoa học nhằm hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động này gây ra cho con người và môi trường sống. Việt Nam là một nước đang phát triển, hoạt động khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện từ cuối thế kỷ 19. Hiện nay, khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh chủ yếu tập trung ở khu vực các huyện Cẩm Phả, Hạ Long, Uông Bí, Đông Triều và một phần nhỏ diện tích của huyện Hoành Bồ. Theo số liệu của Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam, trữ lượng than ở Quảng Ninh tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2016 là 4.049.559 ngàn tấn, trữ lượng than ở độ sâu dưới mức -300 m của bể than Quảng Ninh là 6.935.473 ngàn tấn. Các mỏ than đang hoạt động phần lớn phân bố trên các dãy núi phía Bắc đường quốc lộ 18A từ Mạo Khê đến Mông Dương xen lẫn các khu dân cư, lân cận với các đô thị, các khu kinh tế trọng điểm, thượng nguồn sông suối, các hệ sinh thái nhạy cảm cửa sông ven biển và nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, lịch sử quan trọng. Khai thác than lộ thiên làm biến đổi địa hình, biến đổi mạng lưới thủy văn và hệ thống dòng chảy mặt qua việc khai thác và các bãi thải làm suy thoái và phá hủy thảm thực vật, suy giảm và ô nhiễm nước ngầm. Vật liệu xói mòn, rửa trôi từ khai trường khai thác bồi lấp dòng chảy, làm ô nhiễm môi trường nước. Môi trường nước biển ven bờ bị xuống cấp và ô nhiễm nặng cục bộ do sự tập trung của các nhà máy sàng tuyển, các cảng xuất than, do các chất đưa ra từ bãi thải, khai trường khai thác than ra bờ vịnh Hạ Long. Hầu hết các khai trường khai thác nằm gần vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới, chúng trở thành nguồn cung cấp vật liệu gây ô nhiễm môi trường nước và bồi lấp dải ven biển, hoạt động khai thác, vận chuyển và sàng tuyển than tạo ra nhiều bụi, khí thải và tiếng ồn gây ô nhiễm môi trường khí trên một vùng rộng lớn của đô thị Hạ Long. Khai thác than lộ thiên tới tổng thể môi trường nước, môi trường khí và ảnh hưởng trực tiếp đến hiện trạng tài nguyên đất và nước. Bên cạnh đó, khai thác than hầm lò cũng có ảnh hưởng lớn nhất đến nước ngầm và nước vùng ven biển. Thành phố Hạ Long là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Quảng Ninh có bờ biển dài 50 km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích 434km 2 . Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được đến thời điểm này tại Hạ Long là trên 530 triệu tấn, nằm ở phía Bắc và Đông Bắc thành phố trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu, riêng Đại Yên và Việt Hưng nằm trong vùng cấm các hoạt động khoáng sản (Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Hạ Long, 2015). Bên cạnh những những vấn đề tác động khác, khai thác than hiện gây ra nhiều vấn đề bất cập về môi trường, xã hội, quản lý sử dụng đất. Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hạ Long đang có 9 mỏ khai thác than thuộc sự quản lý của 6 doanh nghiệp nhà nước, bên cạnh đó còn nhiều mỏ than khai thác trái phép, gây mất ổn định xã hội, làm thất thoát nguồn tài nguyên khoáng sản, ảnh hưởng đến môi trường và sử dụng đất tại địa phương. Chất lượng môi trường có xu hướng biến đổi mạnh theo chiều hướng đi xuống, khả năng xử lý nước thải và rác thải chỉ đạt 40% tổng lượng chất thải xả ra mỗi ngày tại thành phố Hạ Long (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, 2014). Nghiêm trọng hơn, việc khai thác than lộ thiên của một số mỏ than đã và đang trong giai đoạn thu hồi than để chuẩn bị dừng khai thác và nhiều lộ vỉa đã kết thúc khai thác (các vùng này lận cận vùng đô thị trọng tâm của khu vực Hạ Long) nên đã và đang tạo ra nguy cơ gây lãng phí một quỹ đất lớn, có thể được sử dụng cho phát triển kinh tế Hạ Long, là cầu nối kinh tế lớn trong khu vực. Trong tai biến thiên nhiên tại thành phố Hạ Long năm 2015, sạt lở đất đã khiến rất nhiều hộ dân sống gần khu vực khai thác than bị ảnh hưởng, trong đó gần 200 hộ bắt buộc phải di dời chỗ ở để đảm bảo an toàn (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, 2015). Các vấn đề cấp bách đó đặt ra cho tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hạ Long cần có những giải pháp để quản lý chặt chẽ và hợp lý. Vấn đề cần đặt ra làm sao việc khai thác than đảm bảo được vấn đề môi trường cũng như việc tái sử dụng nguồn đất sau khai thác. Chính vì thế hướng nghiên cứu của luận án là cần thiết với thực tế nhằm đánh giá thực trạng từ đó đề xuất khả năng sử dụng đất sau khai thác than đảm bảo sử dụng hợp lý và cải tạo môi trường cho thành phố Hạ Long. 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai tại vùng than và tác động của hoạt động khai thác than đến sử dụng đất, môi trường và cảnh quan của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; - Xác định khả năng sử dụng đất sau khai thác than và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất đai vùng than theo hướng cải tạo môi trường, cảnh quan cho thành phố du lịch Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VŨ THẮNG PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT ĐAI VÙNG THAN TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 2

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình ix

Trích yếu luận án x

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 4

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.5.1 Ý nghĩa khoa học 4

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Cơ sở lý luận về quản lý, sử dụng đất đai vùng than 5

2.1.1 Quản lý, sử dụng đất đai 5

2.1.2 Quản lý đất đai vùng than 7

2.1.3 Sử dụng đất đai vùng than 12

2.1.4 Phân loại tác hại và ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than 14

2.1.5 Cải tạo, phục hồi môi trường mỏ than 19

2.1.6 Phân vùng chức năng sử dụng đất vùng than 23

2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý, sử dụng đất đai vùng than 28

2.2.1 Quản lý, sử dụng đất đai vùng than tại một số nước trên thế giới 28

2.2.2 Quản lý, sử dụng đất đai vùng than tại Việt Nam 35

2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai vùng than 39

Trang 3

2.3.1 Một số công trình nghiên cứu trên thế giới 39

2.3.2 Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam 44

2.3.3 Một số công trình nghiên cứu ở tỉnh Quảng Ninh 46

2.4 Nhận xét chung tổng quan tài liệu và hướng nghiên cứu của đề tài 47

2.4.1 Nhận xét chung về tổng quan tài liệu 47

2.4.2 Định hướng nghiên cứu của đề tài 47

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 49

3.1 Nội dung nghiên cứu 49

3.1.1 Đặc điểm vùng than tại thành phố Hạ Long 49

3.1.2 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất vùng than thành phố Hạ Long 49

3.1.3 Tác động của khai thác than đến sử dụng đất, môi trường và cảnh quan tại thành phố Hạ Long 49

3.1.4 Định hướng sử dụng đất đai vùng than 49

3.1.5 Đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất đai vùng than 49

3.2 Phương pháp nghiên cứu 51

3.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 51

3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 51

3.2.3 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 52

3.2.4 Phương pháp lấy mẫu, phân tích đất và nước 54

3.2.5 Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) 56

3.2.6 Phương pháp theo dõi mô hình 57

3.2.7 Phương pháp biên tập bản đồ và thống kê số liệu 60

3.2.8 Phương pháp phân tích SWOT 61

3.2.9 Phương pháp tiếp cận mô hình khung ma trận Áp lực - Tình trạng - Giải pháp (PSR) 62

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 65

4.1 Đặc điểm vùng than tại thành phố Hạ Long 65

4.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 65

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long 69

4.1.3 Đánh giá chung về vùng than trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Hạ Long 71

4.2 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất vùng than 72

Trang 4

4.2.1 Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai giai đoạn 2010 - 2017 72

4.2.2 Thực trạng sử dụng đất đai vùng than thành phố Hạ Long giai đoạn 2010 - 2017 78

4.2.3 Đánh giá những tồn tại, bất cập trong quản lý, sử dụng đất và nguyên nhân 85

4.3 Tác động của khai thác than đến sử dụng đất, môi trường và cảnh quan tại thành phố Hạ Long 89

4.3.1 Tác động của hoạt động khai thác than đến tài nguyên đất và sử dụng đất 89

4.3.2 Tác động của hoạt động khai thác than đến môi trường nước 93

4.3.3 Tác động của hoạt động khai thác than đến cảnh quan 96

4.3.4 Đánh giá tác động của khai thác than tới tài nguyên đất và sử dụng đất, môi trường nước và cảnh quan đô thị 98

4.3.5 Nhận xét những tồn tại, bất cập và nguyên nhân 102

4.4 Định hướng sử dụng đất đai vùng than 102

4.4.1 Quy hoạch sử dụng đất cho hoạt động khoáng sản trong quy hoạch sử dụng đất thành phố Hạ Long 102

4.4.2 Phân vùng chức năng sử dụng đất phục vụ cải tạo, phục hồi môi trường vùng than 103

4.4.3 Xác định, đánh giá một số mô hình cải tạo đất đối với khu vực kết thúc khai thác than 114

4.4.4 Nhận xét những tồn tại, bất cập và nguyên nhân 125

4.5 Đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất đai vùng than 131

4.5.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 131

4.5.2 Nhóm giải pháp chung đối với vùng than 133

4.5.3 Nhóm giải pháp cụ thể đối với các khu vực 137

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 148

5.1 Kết luận 148

5.2 Kiến nghị 149

Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án 151

Phụ lục 160

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

TT Tên bảng Trang

3.1 Khu vực điều tra người dân và số lượng phiếu 53

3.2 Các tiêu chí điều tra 54

3.3 Vị trí lấy mẫu đất và nước tại vùng nghiên cứu 55

3.4 Địa điểm, diện tích và thời gian theo dõi các mô hình cải tạo bãi thải 59

4.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo các đơn vị hành chính vùng than năm 2017 68

4.2 Diện tích và sản lượng các loại cây trồng tại thành phố Hạ Long giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017 70

4.3 Thực trạng việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất khai thác than của các doanh nghiệp tại vùng than năm 2017 73

4.4 Thực trạng cho thuê đất cho hoạt động khai thác than tại vùng than thành phố Hạ Long năm 2017 74

4.5 Hiện trạng bồi thường, giải phóng mặt bằng tại vùng than năm 2017 76

4.6 Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai vùng than năm 2017 77

4.7 Hiện trạng sử dụng đất đai vùng than tại thành phố Hạ Long năm 2017 79

4.8 Cơ cấu sử dụng đất của vùng than thành phố Hạ Long năm 2017 80

4.9 Biến động sử dụng đất tại vùng than giai đoạn 2010 - 2017 80

4.10 Hiện trạng sử dụng đất khai trường năm 2017 81

4.11 Hiện trạng cải tạo phục hồi môi trường tại các khu vực làm bãi thải

năm 2017 82

4.12 Hiện trạng sử dụng đất sau khai thác than năm 2017 83

4.13 Chênh lệch địa hình và độ dốc một số khu vực trong vùng than 97

4.14 Kết quả AHP xác định thứ tự mức độ tác động của khai thác than (theo trọng số bậc 1 và 2) 100

4.15 Quy hoạch sử dụng đất cho hoạt động khoáng sản đến năm 2020 103

4.16 Lựa chọn các tiêu chí phân vùng chức năng 104

4.17 Đặc điểm các tiểu vùng chức năng thuộc vùng than thành phố Hạ Long 105

4.18 Đánh giá SWOT cho các khu chức năng vùng khai thác than 111

4.19 Quy mô sử dụng đất các mô hình trồng cây lâm nghiệp 118

Trang 7

4.20 Tỷ lệ sống và chỉ tiêu sinh trưởng của cây lâm nghiệp trên bãi thải 118

4.21 Quy mô sử dụng đất các mô hình trồng cây nhiên liệu lấy dầu 120

4.22 Tỷ lệ sống và chỉ tiêu sinh trưởng của cây cây nhiên liệu lấy dầu 121

4.23 Quy mô sử dụng đất mô hình trồng cây phủ xanh, cải tạo chất lượng đất 121

4.24 Tỷ lệ sống của cây cải tạo đất của cây phủ xanh, cải tạo chất lượng đất 122

4.25 Quy mô sử dụng đất các mô hình trồng cây chống xói lở bãi thải 123

4.26 Tỷ lệ sống và khả năng cải tạo đất của cây chống xói lở bãi thải 123

4.27 Khung phân tích Áp lực - Hiện trạng - Đáp ứng (PSR) cho mỗi tiểu vùng 126

4.28 Sự đánh giá của cộng đồng dân cư địa phương về mức độ ưu tiên cho các định hướng sử dụng đất vùng than thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 129

4.29 Đề xuất quy trình lồng ghép kế hoạch cải tạo phục hồi môi trường và sử dụng đất sau khai thác vào thiết kế mở mỏ đối với khu vực chưa khai

thác than 143

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

TT Tên hình Trang

trường 18

3.1 Sơ đồ nghiên cứu 50

3.2 Sơ đồ các vị trí lấy mẫu tại thành phố Hạ Long 56

3.3 Sơ đồ cấu trúc thứ bậc 56

3.4 Sơ đồ các bước mô hình phủ xanh bãi thải ngành than bằng thực vật 58

3.5 Cấu trúc khung lý thuyết về Áp lực - Hiện trạng - Đáp ứng 63

4.1 Sơ đồ vị trí vùng than thành phố Hạ Long 65

4.2 Sản lượng khai thác than thành phố Hạ Long giai đoạn 2008 - 2017 69

4.3 Khu vực sản xuất nông nghiệp và dân cư phường Hà Phong 92

4.4 Bãi thải bị xói mòn làm tăng nguy cơ sạt lở vào mùa mưa 93

4.5 Sơ đồ các biến đánh giác tác động theo AHP 99

4.6 Số lượng phiếu đánh giá tác động của hoạt động khai thác than đến các yếu tố 101

4.7 Tỷ lệ cây sống sau thời gian trồng 1 năm (%) 119

4.8 Tỷ lệ cây sống sau thời gian trồng 1 năm (%) 120

4.9 Tỷ lệ cây sống sau thời gian trồng 1 năm (%) 122

4.10 Tỷ lệ cây chống xói lở bãi thải sống sau 1 năm (%) 124

4.11 Điểm mức độ đồng thuận về điểm số của người dân địa phương với mỗi định hướng đưa ra 129

4.12 Tổng hợp mức độ đồng thuận của cộng đồng cư dân đối với một số loại hình sử dụng đất tại vùng than thành phố Hạ Long 130

4.13 Sơ đồ định hướng phát triển không gian thành phố Hạ Long 132

4.14 Đề xuất sơ đồ quy trình sử dụng đất sau khai thác 144

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

Tên tác giả: Vũ Thắng Phương

Tên Luận án: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất

đai vùng than tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Xác định khả năng sử dụng đất sau khai thác than và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất đai vùng than theo hướng cải tạo môi trường, cảnh quan cho thành phố du lịch Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu thông dụng như: Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp; Phương pháp chọn điểm nghiên cứu; Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp; Phương pháp lấy mẫu, phân tích đất và nước; Phương pháp đối chiếu, so sánh; Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP); Phương pháp theo dõi mô hình trồng cây cải tạo bãi thải; Phương pháp biên tập bản đồ và thống kê số liệu; Phương pháp phân tích SWOT; Phương pháp tiếp cận mô hình khung ma trận Áp lực - Tình trạng - Giải pháp (PSR)

Kết quả chính và kết luận

Thành phố Hạ Long có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế trong đó công nghiệp khai thác than và du lịch là hai lĩnh vực kinh tế chủ đạo của thành phố Hạ Long Thành phố có trữ lượng than đá lớn, sản lượng khai thác than có nhiều biến động và xu hướng giảm dần trong giai đoạn 2010 - 2017 Để phát triển kinh tế - xã hội bền vững đồng thời bảo vệ môi trường của di sản thế giới vịnh Hạ Long, công tác quản lý đất đai, bảo vệ môi trường cần chặt chẽ hơn

Vùng than tại thành phố Hạ Long gồm 9 mỏ, thuộc quản lý của 6 công ty khai thác Tổng diện tích vùng than là 3.441,31 ha, trong đó khu vực đang khai thác than chiếm 43,47%, khu vực đã kết thúc khai thác than chiếm 17,39%, khu vực chưa khai thác chiếm 39,14% tổng diện tích vùng than Diện tích đất khai trường sau khai thác và đất bãi thải cần CTPHMT là 368,05ha và 436,02 ha Trên địa bàn thành phố Hạ Long chưa có quy hoạch sử dụng đất sau khai thác than cho toàn vùng than tại thành phố nên cần có kế hoạch sử dụng đất hợp lý trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất thành phố Hạ

Trang 10

Long đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

Các tác động khai thác than có ảnh hưởng đến tài nguyên đất, môi trường nước, cảnh quan thành phố Hạ Long Trong giai đoạn 2010 - 2017, diện tích khai thác than đã tăng 740,13 ha, diện tích rừng giảm 520,44 ha và độ che phủ rừng trong vùng than giảm 15,12% Chất lượng đất cũng chịu tác động lớn từ hoạt động khai thác than, cụ thể: hàm lượng các kim loại nặng trong đất như: As, Pb Cu, Zn và Cd tại khu vực bãi thải đã phục hồi và bãi thải đang đổ thải cao hơn nhiều so với QCVN 03-MT:2015/BTNMT (riêng As vượt so với QCVN từ 5,4 - 9,45 lần); hàm lượng Fe và Mn, chất rắn lơ lửng, COD trong nước tăng; pH nước mặt và nước ngầm giảm Ngoài ra, hoạt động khai thác than cũng làm tăng nguy cơ sạt lở đất, bồi lấp sông, suối; biến đổi mạnh địa hình và ảnh hưởng đến cảnh quan chung của thành phố du lịch với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh

Hạ Long Kết quả phân tích chỉ số AHP và đánh giá qua phiếu điều tra của người dân và cán bộ địa phương về sự tác động của hoạt động khai thác than thì tài nguyên đất và sử dụng đất ở là nhóm bị tác động mạnh nhất, cụ thể là các yếu tố về sạt lở đất đá, đất đá thải ô nhiễm đất và nước sông suối là các yếu tố chi tiết chịu nhiều tác động tiêu cực nhất từ hoạt động khai thác than tại thành phố Hạ Long, tiếp đó là nhóm yếu tố môi trường nước và cảnh quan đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Theo khả năng sử dụng đất, phục hồi đất sau khai thác than, theo định hướng, chức năng sử dụng đất có thể chia toàn vùng than thành phố Hạ Long thành 06 không gian phát triển (với 15 tiểu vùng chức năng): 1 Bảo vệ và phát triển rừng (lồng ghép với phát triển hạ tầng du lịch); 2.Phục hồi rừng tự nhiên (lồng ghép với cải tạo chất lượng môi trường, bảo vệ môi trường nước mặt và nước ngầm); 3 Phát triển khai thác mỏ lộ thiên (lồng ghép ngăn ngừa tai biến, sạt lở; cải tạo chất lượng môi trường; bảo vệ chất lượng nước ngầm và mặt; phát triển hạ tầng du lịch); 4 Phát triển dịch vụ, du lịch, giải trí (lồng ghép ngăn ngừa sạt lở; cải tạo chất lượng môi trường, bảo vệ phát triển rừng và tôn tạo cảnh quan đô thị); 5 Phát triển đô thị (lồng ghép ngăn ngừa tai biến, sạt lở đất; cải tạo môi trường đất; bảo vệ môi trường nước mặt, nước ngầm và tôn tạo cảnh quan

đô thị); 6 Phát triển khu công nghiệp (lồng ghép bảo vệ chất lượng nước mặt và nước ngầm, phát triển hạ tầng du lịch) Đã xác định được 06 loại cây có khả năng phục hồi các khu vực kết thúc khai thác than (khu bãi thải dừng đổ thải) là: Cây Keo, cỏ Vetiver, cây Cốt khí, cây Cọc Rào, cây Sở, cây Đậu Dầu

Các giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất đai vùng than được đề xuất trên cơ sở định hướng không gian sử dụng đất vùng than lồng ghép bảo vệ môi trường, cải tạo cảnh quan trong đó sử dụng kỹ thuật PSR phân tích cho mỗi khu chức năng Các nhóm giải pháp được đề xuất gồm: Nhóm giải pháp chung, nhóm giải pháp cụ thể đối với khu vực đang khai thác than, khu vực kết thúc khai thác than, khu vực chưa khai thác than

và khu vực chịu ảnh hưởng của khai thác than tại thành phố Hạ Long Hạ Long

Trang 11

THESIS ABSTRACT

PhD candidate: Vu Thang Phuong

Thesis title: Study the current situation and propose solutions for proper land

management and use in coal mining in Ha Long city, Quang Ninh province

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives

- To assess the current situation of land management and use for coal mining area and the impacts of coal mining activities on land use, environment and landscape in

Ha Long city, Quang Ninh province;

- To determine the possibility of using land after coal mining, to propose solutions for managing and using land of coal mining area in the direction of improving the environment and landscape for Ha Long tourist city, Quang Ninh province

Materials and Methods

The thesis used popular research methods include: method of secondary data survey and collection; Site selection method; Method of primary data survey and collection; method of soil and water sampling and analysis; Comparison method; Analytic Hierarchy Process method (AHP); Method of monitoring the model of plantation for rehabilitation of waste dumps; method of map editing and data statistics; SWOT analytic method; Pressure-Situation-Resolution (PSR) matrix model approach

Main findings and conclusions

Ha Long city has great potential for economic development In particular, the mining and tourism industry are the two main economic sectors of Ha Long city Mineral resources are abundant, especially coal However, the output of coal mining has

a lot of fluctuations and tendency to decrease in the period of 2010 - 2017 economic development orientation and policies are linked to the trend of sustainable development Therefore, the land management and environmental protection should be more tightly to ensure the economic development while

Socio-The coal zone in Ha Long city include 9 mines under the management of 6 mining companies The total area of coal zone was 3,441.31 ha Of which, the area of current coal mining was 1,495.83 ha (accounted for 43.47% of total area of coal zone) and the area of post mining was 598.44 ha (accounted for 17.39% of total area of coal zone) The unexploited coal mining area was 1347.04 ha, accounted for 39.14% of total coal zone area The above area included 368.05 ha of post mining area and 436.02ha of waste dump area, both need to renovate and rehabilitate for environment In Ha Long city, there is no land use planning for the whole coal area after exploitation in the city, therefore it need a suitable land use plan based on the land use planning of Ha Long city

Trang 12

decreased 520.44 hectares and the forest coverage in the coal area had decreased 15.12% Soil quality was also greatly affected by coal mining activities, in details: the heavy metal contents in the soil such as As, Pb Cu, Zn and Cd in the recovered waste dump and the dumping site was much higher than the Vietnam standards QCVN 03-MT: 2015 / BTNMT (particularly Arsenic content was from 5.4 to 9.45 times higher than QCVN); Fe and Mn contents, suspended solids, COD in water increased; pH of surface water and groundwater decreased In addition, coal mining activities also increased the risk of landslides, fills up rivers and streams; strongly changed the topography and affected the general landscape of the tourist city with the world natural heritage Ha Long bay According to the result of analyzing the AHP index and assessing through the local people's questionnaire about the impact of coal mining activities, land resources and residential land use is the most impacted group, namely the elements of landslides, soil and river water pollution by rock and soil discharging were detailed factors affected by the most negative impacts from coal mining activities

in Ha Long city, followed by factors of water environment and urban landscape, which are seriously affected

Determining the possibility to use land after coal mining, restoring areas after coal mining at waste dumps for models of land improvement by planting, at the same time orientating and zoning of land use functions for the whole Ha Long city's coal area into 06 developing areas (with 15 functional sub-zones) including: Forest protection and development (integration with travel infrastructure development); Natural forest restoration (integration with improvement of environmental quality, protection of surface and underground water environment); Development of open-pit mining (integration of disaster prevention, landslides, improvement of environmental quality, protection of ground and surface water quality and development of tourism infrastructure); Development of services, tourism, recreation (integration of landslide prevention, improvement of environmental quality, forest protection and development, and embellishment of urban landscapes); Urban development (integration of disaster prevention, landslides, improving the land environment, protecting the surface and ground water environment, and improving the urban landscape); Development of industrial zones (integration of protection of surface and ground water quality, development of tourism infrastructure) At the same time, determining the possibility to use land, the restoration of areas after coal mining (waste disposal sites after stopping waste load) with plantation models for waste dump improvement with 6 varieties, which were observed from models such as: acacia, vetiver, Tephrosia candida, atropha curcas, Pongamia pinnata, Camellia oleifera, which were suitable with natural and actual conditions of waste dump of Ha Long city

Propose solutions for land management and use for coal area on the basis of land-use space orientation in the integration of environmental protection and landscape improvement, using the PSR technology to analyse for each functioning zone Proposed solutions includes following groups: general solutions, detailed solutions for current coal mining areas, post coal mining areas, will-be coal mining areas, solution group for affected areas of coal mining in Ha Long city

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai và nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất là tiềm năng, nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới Do

đó, bảo vệ và quản lý sử dụng hợp lý quỹ đất trong quá trình khai thác khoáng sản và sau khai thác là một nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc phát triển bền vững đất nước Quốc hội đã nêu theo Luật Khoáng sản (2010): “Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của Quốc gia, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng an ninh” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013)

Khai thác khoáng sản là một hoạt động quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đối với nước đang phát triển như Việt Nam Tuy nhiên, hoạt động khai thác khoáng sản thường gây tác động mạnh đến đất đai, các hệ sinh thái tự nhiên và môi trường sống của con người

Do vậy, bảo vệ đất đai và môi trường trong các vùng Khai thác khoáng sản luôn là mối quan tâm lớn của các nhà quản lý, nhà khoa học nhằm hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động này gây ra cho con người và môi trường sống

Việt Nam là một nước đang phát triển, hoạt động khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện từ cuối thế kỷ 19 Hiện nay, khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh chủ yếu tập trung ở khu vực các huyện Cẩm Phả, Hạ Long, Uông Bí, Đông Triều và một phần nhỏ diện tích của huyện Hoành Bồ Theo số liệu của Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam, trữ lượng than ở Quảng Ninh tính đến ngày 01 tháng 01 năm

2016 là 4.049.559 ngàn tấn, trữ lượng than ở độ sâu dưới mức -300 m của bể than Quảng Ninh là 6.935.473 ngàn tấn Các mỏ than đang hoạt động phần lớn phân bố trên các dãy núi phía Bắc đường quốc lộ 18A từ Mạo Khê đến Mông Dương xen lẫn các khu dân cư, lân cận với các đô thị, các khu kinh tế trọng điểm, thượng nguồn sông suối, các hệ sinh thái nhạy cảm cửa sông ven biển và nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, lịch sử quan trọng

Khai thác than lộ thiên làm biến đổi địa hình, biến đổi mạng lưới thủy văn và

hệ thống dòng chảy mặt qua việc khai thác và các bãi thải làm suy thoái và phá hủy thảm thực vật, suy giảm và ô nhiễm nước ngầm Vật liệu xói mòn, rửa trôi từ khai trường khai thác bồi lấp dòng chảy, làm ô nhiễm môi trường nước Môi trường nước biển ven bờ bị xuống cấp và ô nhiễm nặng cục bộ do sự tập trung của các nhà máy sàng tuyển, các cảng xuất than, do các chất đưa ra từ bãi thải, khai trường khai

Trang 14

thác than ra bờ vịnh Hạ Long Hầu hết các khai trường khai thác nằm gần vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới, chúng trở thành nguồn cung cấp vật liệu gây ô nhiễm môi trường nước và bồi lấp dải ven biển, hoạt động khai thác, vận chuyển và sàng tuyển than tạo ra nhiều bụi, khí thải và tiếng ồn gây ô nhiễm môi trường khí trên một vùng rộng lớn của đô thị Hạ Long Khai thác than lộ thiên tới tổng thể môi trường nước, môi trường khí và ảnh hưởng trực tiếp đến hiện trạng tài nguyên đất

và nước Bên cạnh đó, khai thác than hầm lò cũng có ảnh hưởng lớn nhất đến nước ngầm và nước vùng ven biển

Thành phố Hạ Long là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Quảng Ninh có bờ biển dài 50 km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích 434km2 Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được đến thời điểm này tại Hạ Long là trên 530 triệu tấn, nằm ở phía Bắc và Đông Bắc thành phố trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu, riêng Đại Yên và Việt Hưng nằm trong vùng cấm các hoạt động khoáng sản (Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Hạ Long, 2015) Bên cạnh những những vấn đề tác động khác, khai thác than hiện gây ra nhiều vấn đề bất cập về môi trường, xã hội, quản lý sử dụng đất Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hạ Long đang

có 9 mỏ khai thác than thuộc sự quản lý của 6 doanh nghiệp nhà nước, bên cạnh đó còn nhiều mỏ than khai thác trái phép, gây mất ổn định xã hội, làm thất thoát nguồn tài nguyên khoáng sản, ảnh hưởng đến môi trường và sử dụng đất tại địa phương Chất lượng môi trường có xu hướng biến đổi mạnh theo chiều hướng đi xuống, khả năng xử lý nước thải và rác thải chỉ đạt 40% tổng lượng chất thải xả ra mỗi ngày tại thành phố Hạ Long (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, 2014) Nghiêm trọng hơn, việc khai thác than lộ thiên của một số mỏ than đã và đang trong giai đoạn thu hồi than để chuẩn bị dừng khai thác và nhiều lộ vỉa đã kết thúc khai thác (các vùng này lận cận vùng đô thị trọng tâm của khu vực Hạ Long) nên đã và đang tạo ra nguy cơ gây lãng phí một quỹ đất lớn, có thể được sử dụng cho phát triển kinh tế Hạ Long, là cầu nối kinh tế lớn trong khu vực Trong tai biến thiên nhiên tại thành phố Hạ Long năm 2015, sạt lở đất đã khiến rất nhiều hộ dân sống gần khu vực khai thác than bị ảnh hưởng, trong đó gần 200 hộ bắt buộc phải di dời chỗ ở để đảm bảo an toàn (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, 2015) Các vấn

đề cấp bách đó đặt ra cho tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hạ Long cần có những giải pháp để quản lý chặt chẽ và hợp lý

Vấn đề cần đặt ra làm sao việc khai thác than đảm bảo được vấn đề môi trường cũng như việc tái sử dụng nguồn đất sau khai thác Chính vì thế hướng nghiên cứu của luận án là cần thiết với thực tế nhằm đánh giá thực trạng từ đó đề xuất khả năng sử dụng đất sau khai thác than đảm bảo sử dụng hợp lý và cải tạo môi

Trang 15

trường cho thành phố Hạ Long

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai tại vùng than và tác động của hoạt động khai thác than đến sử dụng đất, môi trường và cảnh quan của thành phố

Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;

- Xác định khả năng sử dụng đất sau khai thác than và đề xuất giải pháp quản

lý, sử dụng hợp lý đất đai vùng than theo hướng cải tạo môi trường, cảnh quan cho thành phố du lịch Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

- Tình hình quản lý, sử dụng đất đai vùng than, tác động của hoạt động khai thác than đến sử dụng đất, môi trường và cảnh quan của thành phố du lịch Hạ Long;

- Các loại đất thuộc vùng than thành phố Hạ Long và vùng chịu ảnh hưởng lan toả gồm:

+ Đất khai trường, đất bãi thải đang đổ thải, và đất mặt bằng sân công nghiệp…

+ Đất bãi thải đã kết thúc đổ thải (các khu vực kết thúc đổ thải để chuyển sang giai đoạn CTPHMT hoặc đang CTPHMT), các moong đã kết thúc khai thác và đất

đã hoàn thành việc CTPHMT;

+ Đất nông nghiệp và phi nông nghiệp còn lại của vùng than (đất rừng phòng

hộ, đất rừng sản xuất, đất ở đô thị, đất sản xuất kinh doanh, đất quốc phòng, đất nghĩa trang, đất mặt nước)

- Một số mô hình phục hồi, bảo vệ môi trường sinh thái trong sử dụng đất ở vùng khai thác than đối với thành phố Hạ Long

- Phạm vi nghiên cứu chính là vùng than gồm:

+ Khu vực đang khai thác than: Khu vực khai trường, khu vực bãi thải đang đổ thải và mặt bằng sân công nghiệp (Chứa than sau khi khai thác),… thuộc quyền quản lý của Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Đông Bắc tại

Trang 16

thành phố Hạ Long (diện tích là 1.495,83 ha)

+ Khu vực đã kết thúc khai thác than và kết thúc đổ thải với diện tích là 598,44 ha

+ Khu vực chưa khai thác than (nằm trong ranh giới quy hoạch vùng than) thuộc quyền quản lý hành chính của địa phương (diện tích là 1347,04 ha)

- Phạm vi nghiên cứu ảnh hưởng là khu vực ngoài vùng than bị tác động ảnh hưởng lan tỏa của hoạt động khai thác than từ các khai trường khai thác than

1.3.2.2 Phạm vi thời gian

Giới hạn thời gian được nghiên cứu của luận án từ năm 2010 - 2017

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định các tác động của hoạt động khai thác than đến tài nguyên đất và sử dụng đất, môi trường nước, cảnh quan đô thị thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất các mô hình phục hồi đất sau khai thác than và giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất vùng than thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý, sử dụng đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái tại những vùng có hoạt động khai thác than theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế trong khai thác tài nguyên khoáng sản, sử dụng hợp lý tài nguyên đất đặc biệt là đất sau khai thác than, giảm thiểu tối đa tác động của hoạt động khai thác than đến sử dụng đất, môi trường

và cảnh quan

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đánh giá được thực trạng, biến động sử dụng đất và những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý, sử dụng đất ở vùng than, những tác động của hoạt động khai thác than đến tài nguyên đất và sử dụng đất, môi trường nước, cảnh quan thành phố

Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;

- Xác định một số mô hình thực tế có khả năng cải tạo, phục hồi bãi thải sau khai thác than và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất đất vùng than tại thành phố hạ Long theo hướng bảo vệ môi trường sinh thái cho thành phố du lịch Hạ Long

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÙNG THAN

2.1.1 Quản lý, sử dụng đất đai

2.1.1.1 Đất đai, vai trò của đất đai

Đất đai đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của loài người Không có đất thì không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của con người (Đường Hồng Dật, 1994) Đất đai là tài nguyên cơ bản, không thể thiếu trong cuộc sống bền vững trên trái đất, đồng thời đất đai cũng là tài sản quốc gia, là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội; đất đai có đầy đủ thuộc tính của một loại tài sản (FAO, 1996; Vũ Văn Phúc và cs., 2013) Trong tác phẩm Dư Địa chí của Phan Huy Chú có viết “Của báu của một nước không gì quý bằng đất đai; nhân dân và của cải đều do đấy mà sinh ra” Theo Petty (1962): “Lao động là cha, đất đai là mẹ sinh sản ra mọi của cải vật chất trên thế giới này” (dẫn theo Vũ Ngọc Tuyên, 1994) Ngoài ra, đất đai còn là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013) Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của

con người trong quá khứ và hiện tại để lại (Yuong, 1988; Smyth et al., 1993)

Tùy theo mỗi loại hình kinh tế khác nhau, đất đai cũng có những đặc điểm, tác dụng rất khác nhau (Phan Văn Thọ và cs., 2013) Bằng cách sử dụng tài chính, lao động, kỹ năng quản lý và kỹ thuật có thể tìm đến nơi mà họ cần đất để sử dụng; trong khi đất đai thì không thể dịch chuyển và mỗi vị trí đất có các khả năng sử

dụng, quản lý khác nhau (Smyth et al., 1993)

2.1.1.2 Khái niệm về quản lý và sử dụng đất

* Khái niệm về quản lý

Hiện nay có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý, có quan niệm cho rằng quản lý là cai trị, cũng có quan niệm cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Quan niệm chung nhất về quản lý được nhiều người chấp nhận do điều khiển học đưa ra như sau:

Trang 18

Quản lý là sự tác động, định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật

tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định Quan niệm này không những phù hợp với hệ thống máy móc thiết bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một cơ quan nhà nước

Hiểu theo góc độ hành động, quản lý là điều khiển và được phân thành 3 loại: Loại hình thứ nhất: là việc con người điều khiển các vật hữu sinh không phải con người, để bắt chúng phải thực hiện ý đồ của người điều khiển Loại hình này được gọi là quản lý sinh học, quản lý thiên nhiên, quản lý môi trường Ví dụ con người quản lý vật nuôi, cây trồng

Loại hình thứ hai: là việc con người điều khiển các vật vô tri vô giác để bắt chúng thực hiện ý đồ của người điều khiển Loại hình này được gọi là quản lý kỹ thuật Ví dụ, con người điều khiển các loại máy móc

Loại hình thứ ba: là việc con người điều khiển con người Loại hình này được gọi là quản lý xã hội (hay quản lý con người)

* Khái niệm về quản lý nhà nước

Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội Nhà nước là chủ thể duy nhất quản

lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật Cụ thể như sau:

- Nhà nước quản lý toàn dân là nhà nước quản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những người không phải là công dân

- Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thồ Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luật quy định

- Nhà nước quản lý bằng pháp luật là nhà nước lấy pháp luật làm công cụ xử

lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh

Vậy Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Trang 19

* Khái niệm về quản lý nhà nước về đất đai

Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà

nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử

dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai

* Khái niệm về sử dụng đất

Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất đai, phát huy tối đã công dụng của đất đai nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao nhất

2.1.2 Quản lý đất đai vùng than

2.1.2.1 Khai thác than và vùng than

Để có thể hiểu khái niệm khai thác than, trước tiên cần cần phải nghiên cứu khái niệm về khai thác mỏ và khai thác khoáng sản Khai thác mỏ là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than, bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu hồi khoáng sản từ lòng đất (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2011) Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối, kali cacbonat và than Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ Theo Nguyễn Đức Quý (2010), khai thác khoáng sản là hoạt động bao gồm toàn bộ quá trình từ khảo sát, điều tra thăm dò địa chất, khai thác, chế biến, sản xuất hàng hóa, lưu thông, phân phối và sử dụng khoáng sản Nói cách khác khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp hoặc khai thác lộ thiên hoặc hầm lò để đưa khoáng sản từ lòng đất phục

vụ phát triển kinh tế - xã hội

Từ khái niệm khai thác mỏ, khai thác khoáng sản, chúng ta có thể hiểu khai thác than là các hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và các hoạt động

có liên quan trực tiếp nhằm thu hồi khoáng sản than từ lòng đất sau khi đã có giấy

Trang 20

phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc khai thác than được tính từ khi thăm dò, xin cấp phép, xây dựng cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ); khai thác bình thường theo công suất thiết kế (giai đoạn khai thác than); cho đến khi

mỏ kết thúc khai thác, cải tạo, phục hồi môi trường và đóng cửa mỏ, trả lại đất cho địa phương

Có 2 hình thức khai thác than cơ bản đó là khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò Khai thác lộ thiên là hình thức khai thác than được lấy lên từ lòng đất bằng phương pháp bóc lớp đất đá phủ trên lớp than cần khai thác Hình thức khai thác hầm lò là hình thức không bóc lớp phủ mà người ta đào các hầm bên dưới mặt đất

để lấy than (Montrie and Chad, 2003)

Vùng là một đơn vị lãnh thổ có những đặc điểm tương đồng và các mối liên kết với nhau theo một số quy luật đặc thù tùy theo mục tiêu của hệ thống phân vùng

(Trương Mạnh Tiến, 2012) Vùng than được hiểu là vùng đất quy hoạch cho hoạt

động khai thác khoáng sản than sau khi đã thăm dò khoáng sản dưới lòng đất và xác định được trữ lượng than tiềm năng có thể khai thác Vùng than gồm nhiều loại hình

sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng đất của địa phương, chỉ khi tiến hành khai thác mới tiến hành các bước về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân sau đó thu hồi đất để chuyển mục đích sử dụng đất sang đất cho hoạt động khai thác khoáng sản để cho các doanh nghiệp ngành mỏ thuê sử dụng để khai thác than

Xét trên không gian bề mặt quản lý thì vùng than gồm nhiều loại hình sử dụng đất như đất cho hoạt động khai thác khoáng sản, đất ở, đất lâm nghiệp, đất trồng cây hàng năm… Trong vùng than có khu vực đang khai thác và khu vực chưa khai thác, trong đó khu vực đang khai thác cơ bản chỉ gồm đất cho hoạt động khai thác khoáng sản và khu vực chưa khai thác bao gồm các loại đất khác ngoài đất cho hoạt động khai thác khoáng sản

Xét trên không gian dưới lòng đất thì vùng than là một phần của bể than được phân định quy ước chủ yếu theo yếu tố địa lý và các yếu tố địa chất Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), các khái niệm về bể than, mỏ than, phân khu mỏ than, moong than được hiểu như sau:

Bể than là diện tích phân bố các lớp trầm tích chứa than có các điều kiện

thành tạo và phát triển địa chất chung trong một thời kỳ địa chất nhất định

Mỏ than là đơn vị không gian chứa than, có cấu trúc tương đối đồng nhất, tập

trung các trầm tích chứa than có quan hệ tương đối chặt chẽ, tương đồng về hình thái, nguồn gốc, cấu trúc - kiến tạo, điều kiện kỹ thuật khai thác và đặc điểm kinh tế địa chất mỏ

Trang 21

Phân khu mỏ than là một phần của mỏ than, được khoanh định bởi yêu cầu

thăm dò địa chất hoặc yêu cầu thiết kế khai thác mỏ

Moong than là dạng địa hình được hình thành do khai thác than lộ thiên và

nằm xen kẽ giữa các dạng cảnh quan vùng khai thác than Đây là dạng địa hình có

xu hướng tích tụ vật liệu, do đó có ý nghĩa rất lớn trong thiết kế các biện pháp ngăn chặn vật liệu xói mòn, rửa trôi, trượt lở, sạt lở

Theo Hoàng Danh Sơn (2006), xói mòn đất vùng khai thác than là dạng vận động di chuyển vật chất đặc thù trong mỏ khai thác Quá trình xói mòn diễn ra dưới các hình thức: xói mòn bề mặt, xói mòn theo khe rãnh do mưa và xói mòn do gió

Trong đó, xói mòn bề mặt là đặc trưng của quá trình di chuyển vật chất xảy ra đối với lớp phủ bề mặt vùng khai thác than; xói mòn khe rãnh là dạng di chuyển rất mạnh lớp

vật chất bề mặt trên các cảnh quan bãi thải dưới tác động của dòng chảy tập trung trên mặt Phương pháp chống xói mòn đất vùng than: (i) Ngăn cản lực xung kích giọt nước mưa va đâp mặt đất gây nên xói mòn mặt; (ii) Hạn chế và tiêu diệt dòng chảy tập trung trên mặt đất nhằm làm giảm yếu và hạn chế động năng của dòng chảy cuốn trôi đất đá ở mặt dốc; (iii) Làm giảm vận tốc dòng chãy giữ và lắng đọng bùn cát theo dòng chảy

2.2.2.2 Một số khái niệm liên quan đến quản lý đất đai vùng than

Quản lý đất đai (Land management) bao gồm các quy trình để sử dụng tài nguyên đất có hiệu quả Đây chủ yếu là trách nhiệm của chủ sở hữu đất Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, quản lý đất đai là quá trình lưu giữ và cập nhật những thông tin về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và những thông tin khác liên quan đến đất (United Nations, 1996) Đó là quá trình đảm bảo theo luật pháp cho việc sử dụng, phát triển quỹ đất, khai thác lợi nhuận thu được từ đất (thông qua thuế, cho thuê, bán) và giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai Đối tượng quản lý đất đai liên quan đến cả 2 đối tượng đất công và đất tư bao gồm các công việc: đo đạc đất đai, đăng ký đất đai, định giá đất đai, giám sát sử dụng, lưu giữ và cập nhật các thông tin đất đai, cung cấp các thông tin đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai (Engelke and Vancutsem, 2012; Georgia, 2001)

Quản lý hành chính về đất đai (Land administration) liên quan đến việc xây dựng cơ chế quản lý quyền đối với đất đai và sử dụng đất, quá trình sử dụng đất và giá trị của đất đai thuộc thẩm quyền của Chính phủ để thúc đẩy quản lý đất đai hiệu quả, bền vững và bảo đảm quyền về tài sản Quản lý Nhà nước về đất đai có thể có nhiều nghĩa khác nhau tại các nước khác nhau Quản lý nhà nước về đất đai có thể

Trang 22

đồng nghĩa với quản lý đất đai, tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền sử dụng đất (Tommy, 2011)

Quản trị đất đai (Land Governance) thể hiện trách nhiệm của Chính phủ trong quản lý đất đai thông qua việc tập trung vào các vấn đề chính sách và tầm quan trọng của việc quản lý hiệu quả Quản trị đất đai có thể được hiểu là cách Chính phủ điều hành cơ chế quản lý đất đai (Tommy, 2011)

Quản lý đất đai bền vững kết hợp kỹ thuật, chính sách và các hoạt động nhằm thống nhất các nguyên tắc kinh tế xã hội với các mối quan tâm về môi trường để đồng thời gìn giữ hoặc tăng cường sản xuất, giảm mức độ rủi ro của sản xuất, bảo

vệ tiềm năng của nguồn tài nguyên thiên nhiên và phòng chống (đệm để chống lại)

sự thoái hoá đất đai và nước, phát triển về mặt kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội (Smyth and Dumanski, 1993) Việc quản lý, sử dụng đất sau khai thác than phải đảm bảo hai mục tiêu: (i) đảm bảo quỹ đất phục vụ mục tiêu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, (ii) đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường Hiện nay, quan điểm phát triển bền vững chưa được triển khai đầy đủ nên các cơ quan quản lý nhà nước gặp nhiều vấn đề trong giải quyết những bức xúc, khiếu kiện của người dân liên quan đến sử dụng đất vùng than Cơ chế, chính sách bồi thường quyền sử dụng đất hiện hành đang có những bất cập lớn trong thực tiễn, chưa đặt đúng mức các lợi ích về xã hội và môi trường Sự thiếu hụt các cơ chế, chính sách phát triển bền vững còn là một nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng trong phân chia lợi ích cũng như chia sẻ ô nhiễm môi trường của phát triển Vì vậy, trước mắt cần có những nghiên cứu chính sách cụ thể hoá quan điểm chủ đạo về phát triển bền vững trong quản lý và sử dụng đất, trong đó có những nguyên tắc và cơ chế bồi thường phù hợp cho người dân

Quản lý sử dụng đất tập trung vào đất và cách đất được sử dụng cho mục đích sản xuất, bảo tồn cảnh quan (Verheye, 2010) Quản lý sử dụng đất yêu cầu ra quyết định và được xác định bởi mục đích sử dụng nó ví dụ cho sản xuất lương thực, nhà

ở, giải trí, khai khoáng… và được xác định bởi bản chất và giá trị của đất Trước đây quản lý sử dụng đất tập trung chủ yếu vào đất nông nghiệp Ngày nay, quản lý đất đai còn phải đối mặt với các vấn đề công nghiệp hóa, đô thị hóa, bảo tồn, khai khoáng… (Ferber, 2009)

Quản lý sử dụng đất là sự kết hợp của tất cả các công cụ và kỹ thuật được sử dụng bởi chính quyền để quản lý đất được sử dụng và phát triển bao gồm: quy

Trang 23

hoạch, kế hoạch sử dụng đất, luật pháp, quyền sử dụng đất, định giá đất và thông tin bất động sản (World Bank, 2010)

Từ các khái niệm trên, có thể khái quát khái niệm quản lý đất đai đối với hoạt động khai thác than là quá trình quản lý việc sử dụng đất của các mỏ dưới hình thức nhà nước cho doanh nghiệp thuê đất có thời hạn dùng cho mục đích khai thác than đảm bảo sử dụng đất đúng quy hoạch, hiệu quả đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái nơi có hoạt động khai thác mỏ theo hướng bền vững

2.2.2.3 Nguyên tắc quản lý đất đai vùng than

- Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước: Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân Vì vậy, không thể có bất kỳ một

cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được Chỉ có nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới

có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng

- Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai: Theo Luật dân sự năm 2015, quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất đai hoặc chủ sử dụng đất đai khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà thực hiện hoạt động này thông qua việc thu thuế, thu tiền sử dụng… từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất Vậy, để áp dụng nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai và sử dụng có hiệu quả nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho từng cá nhân, vừa đảm bảo lợi ích của nhà nước

- Đảm bảo sự kết hợp hài hòa các lợi ích: Đất đai phản ánh mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân, tập thể, cộng đồng xã hội Đây là yếu tố quan trọng trong sản xuất

vì vậy trước hết phải đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất Mặt khác, đất đai là tài nguyên quốc gia nên nó phải được đảm bảo lợi ích chung của xã hội Kết hợp hài hòa ba lợi ích trên có nghĩa là phải chú ý đồng thời cả ba lợi ích, không để lợi ích này lấn án hay triệt tiêu lợi ích khác Việc đảm bảo hài hòa ba lợi ích được thực hiện thông qua công tác quy hoạch, chính sách tài chính về đất đai, các quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà nước và người sử dụng

Trang 24

- Tiết kiệm và hiệu quả: Đây là nguyên tắc của quản lý kinh tế Thực chất quản lý đất đai cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên cũng phải tuân theo nguyên tắc này Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai được thể hiện bằng việc xây dựng các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao; quản lý và giám sát việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Có như vậy, vai trò quản lý nhà nước

về đất đai của nhà nước mới được tăng cường, phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sử dụng tiết kiệm đất đai nhất mà vẫn đạt được mục đích

đề ra

2.1.2.4 Vai trò của quản lý đất đai vùng than

- Thông qua hoạch định chiến lược, quy hoạch, lập kế hoạch phân bổ đất đai

có cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đạt hiệu quả cao và tiết kiệm; giúp cho Nhà nước quản chặt chẽ đất đai, giúp người sử dụng đất có các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ và sử dụng đất đai có hiệu quả cao

- Thông qua công tác đánh giá, phân hạng đất, Nhà nước nắm chắc toàn bộ quỹ đất đai về số lượng, chất lượng để làm căn cữ cho các biện pháp kinh tế - xã hội

có hệ thống, có căn cữ khoa học nhằm sử dụng đất đai có hiệu quả

- Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai, tạo ra cơ

sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân trong những quan hệ về đất đai

- Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách giá cả, chính sách thuế, chính sách đầu tư… Nhà nước khuyến khích kích thích các tổ chức, các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, tiết kiệm đất đai nhằm nâng cao góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của cả nước và bảo vệ môi trường sinh thái

- Thông qua việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất đai, Nhà nước nắm chắc tình hình diễn biến về sử dụng đất đai và phát hiện những vi phạm, giải quyết những vi phạm pháp luật đất đai

2.1.3 Sử dụng đất đai vùng than

2.1.3.1 Một số khái niệm liên quan đến sử dụng đất vùng than

- Sử dụng đất là hoạt động của con người tác động vào đất đai nhằm đạt kết

quả mong muốn trong quá trình sử dụng Trên thực tế có nhiều loại hình sử dụng đất chủ yếu như cây trồng hàng năm, lâu năm, đồng cỏ, trồng rừng, cảnh quan du

Trang 25

lịch,… Ngoài ra, còn có sử dụng đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng đất chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là hiện tại nhưng cũng

có thể trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến

bộ khoa học công nghệ thay đổi Trong mỗi kiểu sử dụng đất thường gắn với những đối tượng cây trồng hay vật nuôi cụ thể (Nguyễn Quang Thi, 2017) Việc sử dụng đất phải được dựa trên những cơ sở khoa học, hợp lý và mang lại hiệu quả (Đào Đức Mẫn, 2014)

- Sử dụng đất bền vững (Sustainable Land Use): Sử dụng đất bền vững là sử

dụng đất với tất cả những đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng của đất Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất đai’’ trong sử dụng bền vững bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững của tự nhiên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất của tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến khả năng cơ giới hoá

Để duy trì được sự bền vững của sử dụng đất đai, Smith and Jalian (1993) đã xác định năm nguyên tắc có liên quan đến sử dụng đất bền vững là: (i)duy trì hoặc nâng cao hơn nữa hoạt động sản xuất; (ii) giảm mức độ rủi ro với sản xuất; (iii) bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên; (iv) chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước; (v) khả thi về mặt kinh tế và được xã hội chấp nhận Năm nguyên tắc này được coi như những trụ cột của việc sử dụng đất bền vững Nếu trong thực tế đạt được cả 5 nguyên tác trên thì khả năng bền vững sẽ thành công, còn nếu chỉ đạt được một vài nguyên tác thì khả năng bền vững cũng được coi như thành công được ở từng bộ phận Như vậy, có thể nói sử dụng đất bền vững được thể hiện trong hoạt động quản lý và sử dụng đất theo yêu cầu và mục đích của con người Trong sản xuất nông nghiệp đất đai được coi là sử dụng bền vững phải dựa trên cơ sở đảm bảo khả năng hoạt động sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không bị suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu tới con người và các sinh vật

- Mô hình sử dụng đất hợp lý: Mô hình sử dụng đất được đánh giá là hợp lý

khi hình thức sử dụng đất cung cấp lợi ích cho cộng đồng, an toàn môi trường, phát triển bền vững tốn nhiều chi phí cho bảo trì, phù hợp với mục đích sử dụng hiện hữu và tương lai Mô hình sử dụng đất hợp lý vùng than phải mang những đặc trưng sau đây (Đào Đức Mẫn, 2012): (i) là hình mẫu tối ưu nhằm phục hồi đất, cải tạo môi trường với mục tiêu bảo vệ môi trường hướng đến phát triển kinh tế trong điều kiện

Trang 26

tự nhiên, con người và các mối quan hệ bên trong, bên ngoài cụ thể mà nó làm đại diện; (ii) mang tính đại diện, tính phổ biến, áp dụng được cho các vùng khai thác khác có điều kiện tương đồng

- Sử dụng đất sau khai thác than là việc phục hồi đất, cải tạo, hoàn nguyên

môi trường sau khi kết thúc khai thác sang các mục đích sử dụng khác như sản xuất nông, lâm nghiệp; du lịch cảnh quan, đô thị; các công trình công cộng phục vụ an sinh xã hội… phù hợp điều kiện tự nhiên và phát triển của địa phương theo hướng bền vững

- Sử dụng hợp lý đất đai vùng than là việc sử dụng đất theo quy hoạch phát

triển vùng lãnh thổ, quy hoạch sau khai thác than với diện tích và loại hình sử dụng phù hợp, đảm bảo chất lượng đất sau khi cải tạo phục hồi, nâng cao độ phì nhiêu của đất, đảm bảo các yếu tố phát triển bền vững, sinh thái, cảnh quan, bảo vệ môi trường hiệu quả

- Sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh

- Người sử dụng đất cần tuân thủ các quy định của pháp luật để bảo vệ nguồn tài nguyên đất Mọi hành vi vi phạm pháp luật về đất đai sẽ bị xử lý nghiêm minh Mọi vấn đề liên quan đến chuyển nhượng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất hay cho thuê lại… đều cần phải tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục của pháp luật, phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính

2.1.4 Phân loại tác hại và ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than

2.1.4.1 Phân loại tác hại do hoạt động khai thác than

Khai thác than thường mang lại lợi ích rõ ràng về kinh tế, phát triển ngành công nghiệp này thường ảnh hưởng tiêu cực môi trường Theo Lê Như Hùng

Trang 27

(1994), chia sự tác động tiêu cực của việc khai thác than ra thành 4 nhóm: (i) gây sụt lún mặt đất do việc khai thác mỏ tạo ra các khoảng trống trong lòng đất để lấy tài nguyên khoáng sản và tháo khô mỏ; (ii) gây tổn thất cho nông nghiệp và ngư nghiệp do hậu quả của việc tiêu thải nước ngầm từ hầm lò ra ngoài; (iii) gây tổn thất cho nông nghiệp và ngư nghiệp do việc thải các khí có chứa ôxyt lưu huỳnh; (iv) gây tổn thất sinh vật cho hoa màu do bãi thải, các bể lăng nước tuyển rửa, của nước các mỏ hầm lò

Khai thác lộ thiên làm suy giảm môi trường khu vực theo các dạng và mức độ ảnh hưởng khác nhau như sau:

- Các tại hại có tính địa cơ học như làm biến đổi địa hình mặt đất, biến đổi cấu trúc địa chất mỏ, làm bùng nền, biến đổi nền móng, tạo nên vùng đất sa mạc hóa, phá hủy cây cối và lớp phủ rừng,… Nguyên nhân là do xây dựng khai trường, đổ đất đá thải và xây dựng các công trình mỏ khác, do tác động của các thiết bị nặng khi hoạt động,…

- Các tác hại có tính thủy văn như làm thay đổi mực nước ngầm và sự vận động của nó, làm hỏng chất lượng nước ở tầng chứa nước tương đối nông cũng như

hệ số ổn định thủy văn của nền móng và chế độ nước trong nền; giảm thiểu trữ lượng nước ngầm, gây hiện tượng rắn cơ học của đất, biến đổi hình thái động lực của sông suối, thay đổi diện tích và dình dạng bồn thu nước đầu nguồn, thay đổi lưu lượng nước trên các sông suối, gây nạn bồi cát ở sông,… Nguyên nhân là do tháo

và thoát nước mỏ, tháo khô khoáng sàng, di chuyển hồ chứa nước và các công trình thủy khác, xây dựng các công trình khai thác, đổ thải đất đá

- Các tác hại có tính hóa học như làm biến đổi các thành phần hóa học và đặc tính của khí trời, của nước, của nền đất (gây chua, mặn, các thành phần có hại cho thực vật,…) Nguyên nhân là do khí thải của nổ mìn, của các thiết bị mỏ thải ra khi hoạt động, do xả bụi có hoạt tính hóa học, do thải nước bẩn từ mỏ ra,…

- Các tác hại có tính cơ lý như làm biến đổi các thành phần cơ học và đặc tính

lý học của nước và không khí, biến đổi đặc tính nền mòng, tính chất cơ lý của đất

đá, thay đổi lòng sông suối,… Nguyên nhân là do xả bụi, khói, tháo nước và cặn bẩn từ mỏ ra, do các hoạt động của khai thác mỏ

- Các tác hại có tính nhiệt như làm biến đổi vi khí hậu, biến đổi quá trình sinh hóa trong nước,… Nguyên nhân là do làm bẩn không khí trong quá trình nổ mìn, do các thiết bị tỏa nhiệt khi hoạt động, do khoảng trống khai thác có độ sâu lớn và thông gió không tốt,…

Trang 28

2.1.4.2 Ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than

Theo Lê Văn Khoa (2001) phân loại theo môi trường thành phần hay môi trường tài nguyên, người ta cho rằng mỗi một loại môi trường đều có đặc điểm cấu trúc, thành phần riêng Trong hàng loạt thành phần môi trường có một số thành phần đủ điều kiện để được xem như là một môi trường hoàn chỉnh, nên những thành phần đó nó được gọi là "Môi trường thành phần" (Componental Environment), ta có các môi trường thành phần gồm Môi trường đất (Soil Environment); Môi trường nước (Water Environment); Môi trường không khí (Air Environment)

Môi trường bị ô nhiễm là môi trường hàm chứa một hay nhiều chất ô nhiễm

có nồng độ vượt quá giới hạn tối đa cho phép được quy định trong tiêu chuẩn/quy chuẩn môi trường Mức độ ô nhiễm cao hay thấp được xác định theo tỷ lệ giữa nồng

độ chất ô nhiễm thực tế và trị số nồng độ cho phép Tiêu chí để khoanh vùng ô nhiễm môi trường chính là các chỉ tiêu cụ thể (định lượng) để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường khác nhau, các vùng ô nhiễm khác nhau, được phân chia bằng đường danh giới có mức ô nhiễm môi trường khác nhau Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm (Lê Văn Khoa, 2001)

Theo Lê Như Hùng (1994), các yếu tố môi trường sinh thái bị ô nhiễm do hoạt động khai thác than bao gồm: nước (gồm nước ngầm, nước mặt) bị giảm trự lượng, bị phá vỡ chế độ địa chất thuỷ văn và thuỷ văn, bị giảm chất luọng nước, bị ô nhiễm nức; không khí bị ô nhiễm do thải khí và bụi; đất đai thổ nhưỡng bị biến dạng bề mặt, bị phá huỷ lớp đất phủ, bị thu hẹp diện tích hoa màu, làm xấu chất lượng đất, bị biến dạng vùng lãnh thổ; thực vật và động vật bị giảm số lượng và tiêu huỷ do xấu đi các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước, loài cây hoang dại bị giảm đi, động vật phải di cư đi nơi khác, mùa màng bị giảm năng suất, giảm sản vật gia súc, thuỷ văn là lâm sản; lòng đất bị thay đổi trạng thái ứng suất biến dạng, bị giảm chất lượng khoáng sản, bị nhiễm bẩn, bị tạo ra các hang hốc, bị tổn thất tài nguyên khoáng sản do không thể khai thác hết

Theo Nguyễn Đức Quý (2015), nước thải phát sinh từ hoạt động khai thác than, từ nước tích dưới đáy moong khai thác có chứa nhiều kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng Trong quá trình khảo sát điều tra các cơ sở khai khoáng cho thấy, nước thải chỉ được xử lý lắng cặn tại các hồ chứa sau đó tuần hoàn lại quá trình sản xuất Trong thành phần nước thải ở nhiều điểm khai thác mỏ có tính axit, tính kiềm

Trang 29

cao, có kim loại nặng và các chất độc hại Thành phần độc hại trong các dòng nước thải gồm có: chất rắn lơ lửng trong nước, các loại muối hòa tan như SO42-, NO31-, các kim loại nặng, dầu mỡ và hóa chất sử dụng trong quá trình khai thác Nguồn nước ngầm bị suy thoái, cạn kiệt và hạ thấp mực nước ngầm do đào moong và khai thác, ô nhiễm các tầng chứa nước ngọt và thấu kính nước ngọt Như vậy, các hoạt động sản xuất than có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các nguồn nước mặt liên quan sông suối, ao, hồ gồm: (i) bồi lắng lòng sông suối làm thay đổi dòng chảy, hạn chế khả năng thoát nước, gây ngập lụt các vùng phụ cận (ii) bồi lắng làm giảm dung lượng các hồ chứa nước ảnh hưởng đến khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất; (iii) thay đổi tính chất lí hoá của nước, ảnh hưởng đến chất lượng các nguồn nước, thay đổi môi trường sống của hệ động vật thuỷ sinh; (iv) làm thay đổi theo chiều hướng xấu đối với cảnh quan môi trường khu vực xung quanh các nguồn nước mặt

Cũng theo Nguyễn Quý Đức (2015), khi bóc tách đất đá, khai thác khoáng sản mặt đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh nên tầng đất mỏng, đất chua, độ phì kém Nhiều thung lũng được cấu tạo bởi các lớp đất sét không thấm nước, ở dưới các lớp đất mới được lắng đọng, làm nước ngầm dâng cao, xuất hiện những thung lũng đất lầy thụt, đất chua và khó canh tác Đồng thời về mùa mưa nước tràn trên mặt đất, bóc mòn mặt đất gây xói lở Nước còn ngấm xuống sâu làm rửa trôi các chất tầng mặt Mùa khô thì tầng mặt bị khô hạn, nước đưa các ôxít sắt, nhôm lên mặt Nếu trên mặt có địa hình bằng phẳng, không có lớp phủ thực vật, tầng đất ở dưới tầng đất mặt sẽ biến thành đá ong Khi ngừng khai thác than, trong khai trường và bãi thải, mặt bằng sân công nghiệp có thể còn nhiều khoảng trống gây lãng phí tài nguyên đất Cần nghiên cứu để sử dụng hợp lý quỹ đất được bàn giao cho các mục tiêu sử dụng mới, kể cả các bãi thải đất đá, bãi thải bùn… Cần có các giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu hiện tượng sụt lở, rửa trôi ở những khu vực xung yếu khi

có mưa bão

2.1.4.3 Tác động của khai thác than lộ thiên và hầm lò đến môi trường

Theo Hồ Sĩ Giao (2010) và Vũ Thị Hằng (2011), bên cạnh những ưu điểm, khai thác lộ thiên là nguyên nhân gây ra sự biến động mạnh mẽ các thành phần tài nguyên, môi trường Với quy mô ngày càng mở rộng, với độ sâu khai thác ngày càng lớn, tác động của khai thác than lộ thiên đối với môi trường ngày càng lớn hơn, sự tích lũy tác động cũng được tăng cao hơn (Mai Thế Toản, 2009) Theo Vũ Thị Hằng (2012), có thể phân loại tác động của hoạt động khai thác than lộ thiên theo hai dạng trực tiếp và gián tiếp (Hình 2.1)

Trang 30

- Tác động trực tiếp tồn tại do quá trình hoạt động có ý thức của con người, như chiếm dụng đất đai xây dựng mỏ, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng trên bề mặt mỏ, đào xẻ, xúc bốc và chuyển dời đất đá tạo ra các hình thái địa hình nhân sinh, chặt phá rừng, thay đổi mạng lưới thủy văn v.v…

- Tác động gián tiếp là hậu quả của các tác đông trực tiếp Biểu hiện chủ yếu của tác động gián tiếp là sự biến động điều kiện địa chất thủy văn, ô nhiễm và suy thoái môi trường nước, ô nhiễm môi trường không khí, các quá trình ngoại sinh v.v…

Trong khai thác hầm lò, cả ba hình thái tác động địa cơ, địa văn và sinh học vẫn tồn tại và ảnh hưởng lẫn nhau, tuy vậy, tác động địa cơ thể hiện rõ nét nhất Quá trình đào lò, khai thác khoáng sản trong lòng đất làm thay đổi trạng thái cân bằng của khối đất đá nguyên trạng Hậu quả của biến dạng bề mặt gây ảnh hưởng đến các công trình tự nhiên (ao, hồ, sông, suối…) và nhân tạo (công trình dân dụng, giao thông, công nghiệp…) trên bề mặt gây các tai biến môi trường làm đình trệ sản xuất, tổn thất về tài sản và tác động đến sử dụng đất của bề mặt với nguy cơ sụt lút cao từ việc khai thác than hầm lò (Mai Thế Toản, 2010)

Theo Vũ Thị Hằng (2015), yêu cầu cần thiết là phải nhận diện và đánh giá được tác động trực tiếp và tác động gián tiếp khai thác than theo phạm vi không gian và thời gian, có thể phân loại tác động của hoạt động khai thác mỏ than lộ thiên theo hai dạng trực tiếp và gián tiếp như hình 2.1 dưới đây

Hình 2.1 Các yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp của khai thác lộ thiên đối

bề mặt

R

r

R

Trang 31

2.1.5 Cải tạo, phục hồi môi trường mỏ than

2.1.5.1 Khái niệm về cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác than

Cải tạo, phục hồi môi trường là trả về môi trường trạng thái gần giống ban

đầu Tại các khu vực kết thúc khai thác than, cải tạo phục hồi môi trường bao gồm các hoạt động: hoàn thổ mỏ (phục hồi đất), phục hồi bề mặt và cấu trúc cơ bản, hệ thống tiêu thoát nước và các điều kiện kinh tế xã hội địa phương Vì vậy, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng khu vực khai thác than có thể chọn phương pháp cải tạo phục hồi môi trường phù hợp (Lê Minh Châu, 2009)

Trước đây đã có nhiều tài liệu nghiên cứu bàn về vấn đề hoàn nguyên môi trường sau khai thác khoáng sản, theo Phạm Thị Hằng Nga (2014), hoàn nguyên môi trường hay phục hồi môi trường có nghĩa là hoàn trả lại nguyên trạng cho môi trường sau khai thác Tuy nhiên trên thực tế, chúng ta không thể hoàn nguyên môi trường lại hoàn toàn như lúc đầu, mà chỉ có thể cải tạo, phục hồi môi trường Theo Đặng Thị Hải Yến và cs (2015), một trong những định hướng sử dụng quỹ đất hợp

lý, hiệu quả, tránh lãng phí tài chính là các chủ đầu tư phải lập kế hoạch tổng thể cho cả chu trình từ khâu khai thác đến khâu sử dụng đất trong và sau khai thác

Bãi thải than là khu vực dùng để chứa đất đá thải và các tạp chất khác trong

quá trình khai thác, sàng tuyển và chế biến than Bãi thải gồm hai loại: Bãi thải trong

là khu vực được đổ thải đất đá san lấp các hố mỏ (moong) sau khi đã được xúc hết than, hoặc đổ nâng các mặt bằng Việc này được thực hiện ngay trong quá trình khai thác của mỏ theo hình thức cuốn chiếu; Bãi thải ngoài là khu vực chứa đất đá đổ thải bên ngoài khai trường (hố mỏ) moong (Lê Minh Châu, 2009)

Bãi thải, vấn đề xói mòn - rửa trôi theo khe rãnh là dạng cảnh quan trẻ mới

hoặc đang được hình thành, lớp phủ thực vật không có, độ dốc lớn (30 - 450

), thành phần đất đá rất tơi xốp (độ xốp 50%), không ổn định, là nơi các quá trình trượt lở, xói mòn - rửa trôi (chủ yếu là xói mòn khe rãnh) xảy ra với cường độ lớn, nhất là vào đầu mùa mưa (Lê Minh Châu, 2009)

Theo Bùi Kim Anh (2012), cải tạo, phục hồi môi trường mỏ than có thể chia làm 2 hình thức phục hồi lâm nghiệp và phục hồi nông nghiệp

- Phục hồi lâm nghiệp áp dụng cho tất cả các bãi thải lộ thiên Trên các bãi

thải này chỉ cần san gạt bề mặt, xây dựng các đường nối kết, công trình trị thủy và trồng cây gây rừng Phục hồi rừng được xác định bằng mục đích trồng rừng bao gồm rừng đơn thuần và rừng kinh tế Rừng đơn thuần có ý nghĩa cải tạo môi trường,

Trang 32

cải tạo khí hậu, thủy văn, phục hồi trạng thái tự nhiên trong khu vực bỉ mỏ chiếm phá rừng kinh tế nhằm mục đích khai thác gỗ

- Phục hồi nông nghiệp được thực hiện trên những bãi thải có điều kiện thuận

lợi (đã được hoàn thổ, đã có kế hoạch phủ cây xanh cải tạo bãi thải) Công tác này được thực hiện trong khoảng thời gian từ 6 - 8 năm, gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu

là công việc làm tăng độ phì của đất đai đến khi chúng có thể nuôi dưỡng cây nông nghiệp, lựa chọn cách làm đất có hiệu quả nhất và thành phần phân bón đúng đắn nhất; Giai đoạn hai được bắt đầu từ khi đất đai đạt hiệu quả kinh tế cao nhất

2.1.5.2 Mục tiêu cải tạo, phục hồi môi trường mỏ than

Theo Đặng Thị Hải Yến (2014), mục tiêu dài hạn của phục hồi đất khi cải tạo, phục hồi môi trường rất khác nhau và có thể được phân loại như sau:

- Hoàn trả lại khu vực sao cho càng gần với các điều kiện tự nhiên trước khi khai thác càng tốt với đầy đủ các giá trị môi trường ban đầu của khu vực Mục tiêu này thường được áp dụng để hoàn trả lại các hệ sinh thái tự nhiên của khu vực

- Phục hồi đất khu vực mỏ sao cho các điều kiện môi trường được tái tạo lại gần giống các điều kiện trước khi khai thác Việc phục hồi đất có thể nhằm biến khu vực thành các thảm cây xanh tự nhiên với các chi phí để duy trì chăm sóc thấp hoặc hoàn trả lại các mục đích sử dụng khác như nông nghiệp hay trồng rừng

- Xây dựng khu vực đã khai thác thành khu vực có mục đích sử dụng hoàn toàn khác với các mục đích sử dụng trước khi khai thác Loại hình phục hồi đất này nhằm đạt được địa mạo cũng như mục đích sử dụng đất mới có thể mang lại cho cộng đồng xã hội lợi nhuận nhiều hơn so với mục đích sử dụng đất đã được áp dụng trước khi khai thác Ví dụ, có thể xây dựng các khu vực mỏ thành các vùng đầm hồ ngập nước, các khu giải trí, xây dựng đô thị, đất trồng rừng, đất nông nghiệp hoặc cho một loạt các mục đích sử dụng khác

- Chuyển đổi các khu vực có giá trị bảo tồn thấp và về bản chất các khu vực này chỉ cho năng suất cây trồng thấp thành các khu vực an toàn và ổn định

Thông thường quá trình hoàn thổ phục hồi môi trường bao gồm hai giai đoạn chính: (i) thiết kế địa hình, địa mạo và tái xây dựng mặt bằng khu vực ổn định; (ii) tái phủ xanh hoặc xây dựng các phương án lựa chọn để sử dụng đất ở khu vực đã được tái xây dựng

Để hoàn thổ phục hồi môi trường các khu vực khai thác cho mục đích sử dụng đất mà chi phí duy trì chăm sóc thấp như để biến thành hệ sinh thái tự nhiên

Trang 33

bền vững trong thời gian lâu dài đòi hỏi phải có sự am hiểu các vấn đề cơ bản về thổ nhưỡng, về sự đa dạng của các loài cây cối Việc hoàn thổ phục hồi môi trường cần phải hướng tới mục đích tăng nhanh các quá trình phát triển tự nhiên sao cho các tập đoàn cây được phát triển theo chiều hướng mong đợi Thảm thực vật phải bền vững đối với các biến động và các nhu cầu về các chất dinh dưỡng không lớn quá

mà các quá trình cung cấp chất dinh dưỡng tự nhiên có thể đáp ứng được

Lập kế hoạch là vấn đề then chốt đối với sự thành công của quá trình phục hồi đất Kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường phải là một phần không thể tách rời của kế hoạch khai thác mỏ và phải được lập đồng thời với việc lập các dự án khai thác khoáng sản

2.1.5.3 Nguyên tắc cải tạo, phục hồi môi trường mỏ than sau khai thác

Loại hình khai thác và đặc tính cụ thể của từng mỏ than sẽ tác động đến mức

độ ảnh hưởng của các hoạt động khai thác đến cảnh quan của khu vực Khai thác than hầm lò thường ít gây xáo trộn bề mặt của khu vực và việc hoàn thổ phục hồi môi trường chỉ tập trung vào đóng cửa lò, dỡ bỏ nhà cửa trang thiết bị và làm cho khu vực trở nên an toàn (Nguyễn Khắc Kinh, 2001) Khai thác lộ thiên thường làm biến động cảnh quan và thảm thực vật đang tồn tại, gây xáo trộn các lớp đất đá Việc bóc đất phủ và đá thải cũng như việc thải chúng vào các bãi thải hoặc vào các khai trường đã khai thác xong có thể làm thay đổi địa hình cũng như tính ổn định của cảnh quan khu vực Vì vậy để lập được chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở một mỏ cụ thể cần phải am hiểu các đặc điểm khí hậu, các điều kiện địa chất thuỷ văn, các vấn đề về thổ nhưỡng của khu vực, các phương pháp khai thác và chế biến, mục tiêu sử dụng đất trong tương lai của khu vực

Theo Mai Thế Toản (2007) những nguyên tắc cơ bản về cải tạo đất, phục hồi môi trường sau khai thác than gồm:

- Chuẩn bị một kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường trước khi khai thác

- Thoả thuận được với các cơ quan của chính phủ, chính quyền địa phương

và chủ đất về mục tiêu sử dụng đất lâu dài cho khu vực sau khi kết thúc khai thác Việc sử dụng đất phải phù hợp với điều kiện khí hậu, thành phần đất, địa hình địa mạo và trình độ quản lý có được sau khi hoàn thổ

- Tăng cường công tác hoàn thổ phục hồi môi trường ở những nơi có thể làm sao cho khu vực hoàn thổ tương ứng với tỷ lệ khu vực khai thác

- Ngăn ngừa không cho cỏ dại và sâu bọ độc hại phát triển

Trang 34

- Giảm thiểu diện tích phải dọn sạch, phải san ủi cho khai thác và các hạng mục phụ trợ khác đến mức thấp nhất nhưng vẫn bảo đảm tuyệt đối cho tính an toàn của các hoạt động khai thác

- Tái tạo lại hình dáng của khu vực đã bị xáo trộn bởi các hoạt động khai thác sao cho thật ổn định, bảo đảm thích đáng cho việc thoát nước và phù hợp cho mục đích sử dụng đất lâu dài

- Giảm thiểu các tác động lâu dài có thể quan sát thấy bằng cách tạo ra địa mạo mới phù hợp với cảnh quan xung quanh khu vực

- Ở những nơi có thể, cần tái tạo lại hệ thống thoát nước tự nhiên bị xáo trộn bởi các hoạt động khai thác

- Giảm thiểu khả năng gây xói mòn bởi gió và nước trong và sau khi khai thác

- Di chuyển và kiểm soát các vật liệu độc hại còn sót lại Phát hiện bất kỳ lớp đất phủ hay địa tầng phơi lộ tiềm ẩn độc hại nào và xử lý chúng sao cho có thể ngăn ngừa được sự tổn hại về môi trường

- Xác định đặc tính của lớp đất trên cùng và giữ chúng lại để phục vụ cho hoàn thổ Nên chú trọng sử dụng lại ngay lớp đất trên cùng này chứ không nên chất đống lâu ngày Chỉ nên thải bỏ lớp đất này nếu chúng có chứa các thành phần hoá lý không mong muốn, hoặc nếu chúng có chứa nhiều hạt cỏ độc hoặc các loại mầm bệnh cho cây cối

- Nên cân nhắc trồng lại các loại cây cối bản địa đã dọn sạch trước khi khai thác ở các khu vực bị xáo trộn do khai thác gây ra

- Tạo ra sự liên kết chắc chắn giữa lớp đất mặt trên cùng với lớp kế tiếp tạo điều kiện cho cây cối và thực vật phát triển

- Phải chắc chắn rằng lớp đất mặt có độ dày cần thiết có khả năng giúp cho cây cối phát triển tốt

- Trong trường hợp lớp trên cùng không phù hợp hoặc không có thì cần phải xác định và thử nghiệm với lớp đất phía dưới, có thể đất bóc sẽ là đất thay thế phù hợp nếu ta bổ sung thêm một số chất cải tạo đất

- Tái phủ xanh khu vực với các loài cây chắc chắn phù hợp với mục đích sử dụng đất sau khi kết thúc khai thác

- Đáp ứng tất cả các yêu cầu của pháp luật

- Làm cho khu vực trở nên an toàn

Trang 35

- Dỡ bỏ tất cả các trang thiết bị ra khỏi khu vực

- Quan trắc và quản lý các khu vực đã được hoàn thổ phục hồi môi trường cho đến khi cây cối tự phát triển được hoặc thoả mãn các yêu cầu của chủ đất hoặc người quản lý đất hoặc cho đến khi việc quản lý khu vực này được lồng ghép vào chương trình quản lý của khu vực xung quanh

2.1.6 Phân vùng chức năng sử dụng đất vùng than

2.1.6.1 Phân vùng chức năng sử dụng đất phục vụ cải tạo, phục hồi môi trường mỏ than

Một trong những khái niệm về phân vùng được sử dụng rộng rãi hiện nay là:

“Phân vùng là một hệ thống hóa khoa học đặc biệt các sự vật và hiện tượng tạo nên các tổng thể có quy luật về mặt lãnh thổ và đặc tính của chúng phụ thuộc vào vị trí địa lý” (Đặng Văn Lợi, 2009) Theo Đặng Văn Lợi (2009), phân vùng là quá trình chia nhỏ các khoanh vi để xác lập mục đích sử dụng đất hợp lý; thực tế là một hệ thống cho phép ngăn ngừa các tác động bất lợi của môi trường tới hoạt động phát triển của vùng Trong phân vùng chức năng, mỗi tiểu vùng bao hàm các chức năng riêng biệt, góp phần thể hiện từng đặc tính và yêu cầu phát triển trong những điều kiện cụ thể Đồng thời, phân vùng chức năng được xây dựng dựa trên cơ sở tích hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường Đây là một công cụ hiệu quả nhằm quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên cho từng khu vực cụ thể Kết quả của quá trình phân vùng góp phần hỗ trợ công tác quy hoạch không gian theo hướng phát triển bền vững tại nhiều quốc gia trên thế giới Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), hiện nay có 5 hình thức phân vùng chính gồm: (i) Phân vùng phục vụ nghiên cứu các hệ sinh thái và hoạt động khai thác tài nguyên; (ii) Phân vùng chức năng sử dụng đất phục vụ cải tạo, phục hồi môi trường vùng khai thác khoáng sản; (iii) Phân vùng cảnh quan tổng hợp theo các nguyên nhân phân hóa và tách biệt của môi trường địa lý; (iv) Phân vùng địa lý tự nhiên theo hướng hợp nhất lãnh thổ hoặc thủy vực có đặc trưng đồng nhất tương đối theo một số dấu hiệu, và tách chúng ra khỏi khu vực đó; (v) Phân vùng kinh tế theo hướng phân chia lãnh thổ thành hệ thống phân loại và các cấp vùng kinh tế khác nhau, nhằm xác định phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng

Theo Đặng Thị Hải Yến (2014), phân vùng chức năng sử dụng đất là phân vùng thành các tiểu vùng có các chức năng sử dụng đất vì phát triển kinh tế khác nhau phù hợp với điều kiện khách quan, đồng thời đảm bảo giá trị sử dụng thực tiễn của các vùng được phân chia Việc thực hiện CTPHMT theo định hướng phân vùng

Trang 36

chức năng sử dụng đất của vùng CTPHMT đối với hoạt động khai thác than lộ thiên nhằm tái tạo lại môi trường, khôi phục tài nguyên đất nhằm tổ chức lại không gian, môi trường sử dụng lại tài nguyên đất, trên cơ sở các vùng đã khai thác hết tài nguyên; khắc phục cảnh quan xấu, mang lại cảnh quan mới về môi trường với một

hệ sinh thái mới và tiếp tục mang lại hiệu quả phát triển kinh tế phục vụ đời sống con người Dự kiến kết quả định hướng phân vùng chức năng CTPHMT là công cụ quản lý hỗ trợ cho công tác quản lý của cơ quan chức năng về môi trường và sử dụng ĐSKT, cũng như trong công tác thẩm định các dự án CTPHMT và công tác đóng cửa mỏ cũng như là công cụ hữu ích cho kế hoạch CTPHMT và cho các cho mục định khác

Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu phân vùng cải tạo phục hồi môi trường sau khai thác than là quá trình phân chia lãnh thổ vùng than sau khai thác thành những đơn vị tương đối đồng nhất theo các tiêu chí và mục tiêu nhất định nhằm đơn giản hóa nghiên cứu hay quản lý có hiệu quả hơn theo đặc thù riêng của từng đơn vị trong vùng Phân vùng chức năng sử dụng đất phục vụ cải tạo, phục hồi

môi trường vùng than là việc phân chia vùng có hoạt động khai thác than thành các

đơn vị tương đối đồng nhất Việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất sau khai thác theo hướng phân vùng chức năng nhằm đạt mục tiêu sử dụng đất bền vững, thân thiện với môi trường, tiếp tục sử dụng quỹ đất (khu vực đất đã kết thúc khai thác than) phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội bền vững trên một vùng rộng lớn có hoạt động khai thác than

2.1.6.2 Nguyên tắc phân vùng chức năng sử dụng đất vùng than

Phân vùng chức năng vùng khai thác than nhằm phân chia khu vực nghiên cứu thành những tiểu vùng khác nhau Mỗi tiểu vùng chức năng đó có một đặc trưng riêng Trên cơ sở phân tích mỗi tiểu vùng, định hướng được đề xuất và phù hợp với điều kiện mỗi tiểu vùng

Tuy nhiên, trong quá trình phân vùng phải thống kê, đánh giá riêng từng yếu

tố một, sau đó đánh giá tổng hợp bằng nhiều phương pháp khác nhau, đảm bảo các nguyên tắc cơ bản:

- Nguyên tắc khách quan: đảm bảo việc phân chia lãnh thổ phân vùng một cách khách quan dựa trên sự tồn tại các vùng trong tự nhiên tuân theo các quy luật phát triển

và phân hóa khách quan của tự nhiên không phụ thuộc vào ý thức con người Nguyên tắc khách quan đảm bảo cho các vùng có tính chính xác, tính khoa học, từ việc lựa chọn hệ thống các đơn vị phân chia lãnh thổ đến các chỉ tiêu để phân vùng, cũng như

Trang 37

trong việc phát hiện các vùng và khoanh ranh giới các vùng

- Nguyên tắc phát sinh: được sử dụng để phân chia các đơn vị lãnh thổ theo diễn biến lịch sử hình thành, luận chứng về nguồn gốc hình thành và quá trình biến động, biến đổi các thuộc tính của các vùng được phân chia Nội dung cơ bản của nguyên tắc phát sinh trong phân vùng đảm bảo được tính thống nhất về mặt phát sinh của các vùng, khi phân vùng phải phân tích các quy luật phân hóa khách quan đã hình thành nên đang phát triển ra sao và trong tương lai sẽ như thế nào

Có nắm được quy luật phát sinh và phát triển của các địa tổng hợp mới có thể điều khiển được chúng, sử dụng chúng một cách hợp lý nhất, tránh được những hậu quả bất ngờ

- Nguyên tắc tổng hợp: được sử dụng trong quá trình phân vùng nhằm bổ sung các điểm yếu trong khi sử dụng các nguyên tắc khách quan và nguyên tắc phát sinh Nguyên tắc tổng hợp đòi hỏi phải tính toán đến tất cả các yếu tố không trừ một yếu

tố nào

- Nguyên tắc đồng nhất tương đối giúp cho người làm công tác phân vùng thấy được hay phát hiện được các vùng vừa thống nhất lại vừa không thống nhất về các mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần cấu tạo vùng Có thể chỉ ra thành những đơn vị nhỏ hơn, cũng như có thể ghép một số đơn vị nhỏ thành đơn vị lớn theo phương pháp gọi là từ dưới lên (theo các nguyên tắc từ trên xuống và từ dưới lên)

Phân vùng chức năng sử dụng đất của vùng than trong nghiên cứu này nhằm định hướng sử dụng quỹ đất phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội bền vững, cụ thể: (i) Cải tạo và phục hồi môi trường để giảm thiểu triệt để các ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động khai thác than; (ii) Tiếp tục phát triển kinh tế (sau khai thác than) nhằm duy trì kết quả công tác CTPHMT với cảnh quan mới trên vùng đất đã kết thúc hoạt động khai thác than

Theo Đặng Thị Hải Yến (2014), các tiêu chí sử dụng phân vùng chức năng trong nghiên cứu bao gồm 4 tiêu chí:

- Điều kiện tự nhiên: vùng chức năng được phân chia dựa trên sự đồng nhất về

điều kiện tự nhiên (địa hình, thảm thực vật)

- Tỷ lệ che phủ: Dựa trên ứng dụng công nghệ GIS và phân tích dữ liệu ảnh

viễn thám, tỷ lệ che phủ tự nhiên được xác định và có sự phân hóa rõ ràng, làm cơ

sở để tiến hành phân thành vùng có tỷ lệ che phủ tương đối đồng nhất;

- Hiện trạng hoạt động khai thác than: Dựa trên bản đồ hiện trạng khai thác

Trang 38

than của các mỏ và ảnh viễn thám, các vùng chức năng được khoanh ra có hiện trạng khai thác tương đối đồng nhất: đang khai thác, đã kết thúc khai thác, đang trong quá trình hoàn nguyên

- Xu thế biến động và định hướng quy hoạch trong tương lai: Dựa trên bản đồ

quy hoạch sử dụng đất của vùng than tiến hành xác định ra vùng tiếp tục khai thác trong tương lai, vùng kế thúc khai thác trong tương lai và vùng tiến hành hoạt động hoàn nguyên

2.1.6.3 Tiêu chí phân vùng chức năng sử dụng đất vùng than

Trên cơ sở xem xét về điều kiện kinh tế, môi trường của khu vực lân cận mỏ, quy mô và phân bố các cơ sở khai thác than và thực trạng vấn đề môi trường, cùng với việc bám sát các nguyên tắc đề xuất nêu trên và nội dung của Quyết định số 18/2012/QĐ -TTg (quy định về lập, phê duyệt, kiểm tra, xác nhận dự án CTPHMT

và ký quỹ CTPHMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản) và các tiêu chí phân vùng như sau:

Tiêu chí 1: Tính đồng nhất về điều kiện tự nhiên (địa hình, địa mạo; địa chất

và cảnh quan; hệ sinh thái,…) Đây là tiêu chí đầu tiên và là điều kiện cơ bản để

quyết định vùng CTPHMT mỏ than KTLT Với tiêu chí này, cần đánh giá xem khu vực đó được bố trí ở vùng có mức độ CTPHMT như thế nào?

- Hệ sinh thái: nhóm hệ sinh thái tự nhiên trên đất; hệ sinh thái nhân tác,…

- Tài nguyên sinh vật; tài nguyên nhân tạo (động, sinh vật tự nhiên,…)

- Địa hình: sông suối, địa hình tương đối bằng phẳng; dốc thoải; dốc lớn,…

- Địa mạo: đặc điểm địa mạo

Tiêu chí 2: Sự phù hợp với điều kiện KT-XH vùng liên quan Tiêu chí này

đánh giá xem khu vực đó được bố trí ở vùng tiếp giáp và lân cận với vùng liên quan

có mức độ môi trường nhạy cảm thế nào? có tình hình phát triển kinh tế ra sao? việc CTPHMT có thiết thực, có tương thích và hỗ trợ cho sự phát triển trong tương lai hay không? Do đó, việc phân vùng CTPHMT phải mang tính khả thi trên cơ sở phân tích, đánh giá nguồn và khả năng thực hiện, phù hợp, tương thích với các biến động về KT-XH-MT CTPHMT phải căn cứ vào chiến lược phát triển ngành Than nói chung và phát triển các mỏ than nói riêng, cũng như quy hoạch sử dụng đất của địa phương Đây là chỉ tiêu quan trọng, tuy nhiên có thể có hai vùng CTPHMT kề cận với các vùng khác nhau, tương đối đồng nhất về điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái, song yếu tố phát triển lại khác nhau

Trang 39

Tiêu chí 3: Sự phù hợp với quy hoạch và hiện trạng phát triển ngành Nhiều

ngành công nghiệp tuy phát sinh ra các dòng thải không mang tính độc hại cao nhưng nếu có quy mô lớn thì cũng gây nguy hiểm đáng kể cho môi trường Do đó, tiêu chí này sẽ xem xét ảnh hưởng của quy mô CTPHMT phù hợp với quy hoạch liên quan đến việc sử dụng đất đai; quy hoạch phát triển vùng, ngành, lĩnh vực, phù hợp với các điều kiện KT-XH

Tiêu chí 4: Sự phù hợp với quan điểm phát triển của cộng đồng địa phương thông qua các kết quả tham khảo ý kiến của các chuyên gia về kinh tế, môi trường

và các đơn vị thực hiện Đây là tiêu chí quan trọng, luôn có trong quá trình đánh

giá Để xác định vùng CTPHMT, phải xem xét trên quan điểm của cộng đồng và phục vụ cho cộng đồng Tuy nhiên, tiêu chí này có tính khách quan không cao nhưng lại là tiêu chí được đánh giá quan trọng vì nó mang tính xác thực cao

Tiêu chí 5: Xác định mức độ quan trọng về điều chỉnh theo hệ số vùng Vùng

CTPHMT phân bố ở khu vực nào cũng liên quan và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh của khu vực đó Nếu là khu vực nhạy cảm (tức có nhiều giá trị khác về

du lịch, hay là di sản hoặc là khu đô thị đặc biệt, đông dân, ), thì mức độ sử dụng đất được lựa chọn để thực hiện CTPHMT sẽ có giá trị cao hơn so với các khu vực không nhạy cảm Do đó, việc lựa chọn theo hệ số vùng cũng không kém phần quan trọng Vùng CTPHMT ở các khu vực nhạy cảm sẽ càng được quan tâm nhiều hơn

vì các khu vực này có nhiều mục đích sử dụng đất mang lại hiệu quả và nhiều khả năng đáp ứng đối với môi trường xung quanh hơn so với các khu vực kém nhạy cảm hơn

Tiêu chí 6: Hiệu quả về kinh tế Việc lựa chọn mô hình để CTPHMT đa mục

tiêu mang lại hiệu quả kinh tế và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam sẽ giúp cho việc xử lý môi trường, CTPHMT đạt hiệu quả cao, giảm được chi phí cho CTPHMT,… Các mô hình CTPHMT được lựa chọn để phát triển kinh tế đồng thời đạt mục tiêu BVMT thường phải phù hợp với đặc điểm tự nhiên (địa hình, địa chất thủy văn, khí hậu,…) và các điều kiện KT-XH (mức sống của người dân, mức đầu

tư của các doanh nghiệp, phải phù hợp với điều kiện giao thông, cung cấp điện, khu dân cư, nguồn lao động,…) của địa phương (trình độ người lao động; khả năng đầu

tư, quản lý; khả năng áp dụng duy trì và phát triển bền vững,…)

Trang 40

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÙNG THAN 2.2.1 Quản lý, sử dụng đất đai vùng than tại một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Tại Úc

Úc là một trong số ít quốc gia phát triển phụ thuộc rất nhiều vào lợi nhuận từ khai thác mỏ Xuất khẩu khoáng sản và năng lượng hiện đang chiếm 47% lượng hàng hoá xuất khẩu của Úc Khoảng 2 tỷ đô la Úc thu được mỗi năm từ việc xuất khẩu các sản phẩm khoáng sản công nghệ cao và dịch vụ Theo Philip and Warren (2002), tất cả các cơ sở khai thác, bãi thải và chế biến đều phải đưa vào chương trình CTPHMT Ngành công nghiệp khai thác than coi CTPHMT là một phần tất yếu của quá trình khai thác Do vậy, các kế hoạch và dự trù tài chính cho chương trình môi trường dài hạn phải được lập trước khi bắt đầu khai thác Kinh phí CTPHMT thường trên 10.000 USD/ha Chủ đầu tư có trách nhiệm bảo đảm chương trình môi trường của họ được thực thi và làm cho cộng đồng cũng nhận thức như vậy Quá trình CTPHMT không phải kết thúc ở san gạt đất, trồng cây và gieo hạt Hiệu quả của quá trình CTPHMT chỉ có thể được đánh giá bằng quá trình quan trắc

và điều chỉnh nhiều năm sau đó Úc đã đưa ra định hướng 4 giai đoạn chủ yếu trong CTPHMT tại Quyết định liên bang năm 1996 về CTPHMT tại các mỏ khoáng sản gồm: (i)Xác định phương thức sẽ sử dụng đối với ĐSKT than; (ii) Công tác san lấp mặt bằng đã bị xáo trộn do khai thác than tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc trồng cây; (iii) Thực hiện trồng cây bằng cách trồng trực tiếp cây giống, gieo hạt hoặc phủ các lớp đất mặt có sẵn nguồn hạt tự nhiên; (iv) Quan trắc và nghiên cứu quá trình CTPHMT, có những tác động điều chỉnh hợp lý để bảo đảm có được hệ sinh thái mong muốn trong dự án CTPHMT và xác định về mặt kỹ thuật sự thành công bền vững của dự án

Năm 1997, Trung tâm nghiên cứu CSIRO-Úc (Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation) đã nghiên cứu đề ra các chỉ tiêu đánh giá mức

độ thành công của công tác CTPHMT, trong đó những chỉ tiêu quan trọng cần được quan trắc như độ luân hồi dinh dưỡng (Nutrient Cycling), độ ổn định đất (Soil Stability), mật độ cư trú của chim (Bird Density), các chỉ tiêu về chất lượng nước ngầm, Những chỉ tiêu này được so sánh với các chỉ tiêu tương ứng của các khu rừng nguyên thuỷ xung quanh Theo Nguyễn Đình Hòa (2016), Úc có hệ thống quy định tương đối toàn diện nhằm ngăn ngừa các tác động tiêu cực tới môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản

Tuy hoạt động khai thác khoáng sản diễn ra trên quy mô lớn với nhiều loại

Ngày đăng: 04/11/2019, 16:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w