Do vậy, chúng tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững”.. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC LANH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
SỬ DỤNG ĐẤT TẠI CÁC LÀNG NGHỀ TỈNH BẮC NINH THEO QUAN ĐIỂM
HÀ NỘI - 2012
Trang 21
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Với 62 làng nghề (31 làng nghề truyền thống) nổi tiếng trong và ngoài nước, làng nghề Bắc Ninh đã và đang phát triển rất mạnh, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, việc quản lý, sử dụng đất trong các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh còn mang tính tự phát, phân tán, lãng phí đất trong khi cơ sở hạ tầng và mặt bằng sản xuất còn thiếu, môi trường còn bị ô nhiễm Việc quy hoạch tổng thể làng nghề, đầu tư cơ sở hạ tầng, mở rộng mặt bằng sản xuất, đảm bảo môi trường sinh thái cho các làng nghề phát triển bền vững đang là vấn đề cấp thiết, cần được quan tâm nghiên cứu, giải quyết Do vậy, chúng
tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất tại
các làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất tại một số làng nghề của tỉnh Bắc Ninh; định hướng và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng
cơ sở lý luận và thực tiễn về làng nghề và quản lý sử dụng đất làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ việc nghiên cứu hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai để phát triển các làng nghề ở nước ta
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho tỉnh Bắc Ninh và các địa phương có điều kiện tương tự áp dụng trong việc quản lý sử dụng đất làng nghề nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong quá trình thực hiện CNH-HĐH
4 Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài đã hệ thống hoá, làm sáng tỏ về lý luận cơ bản; kinh nghiệm của một số địa phương trong nước và quốc tế về phát triển làng nghề; quản
lý, sử dụng đất tại các làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững;
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đánh giá được thực trạng quản lý,
sử dụng đất tại một số làng nghề của tỉnh Bắc Ninh từ đó đưa ra được định hướng và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất đai đối với một số loại làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững
5 Bố cục của luận án
Luận án gồm 134 trang không kể tài liệu tham khảo và phụ lục với
34 bảng số liệu, 14 hình và 03 bản đồ, 12 phụ lục và 01 mẫu phiếu điều tra, tham khảo 108 tài liệu (102 tài liệu tiếng Việt và 06 tài liệu tiếng nước ngoài) Bố cục luận án: mở đầu 04 trang, tổng quan tài liệu 45 trang, nội
Trang 32 dung và phương pháp nghiên cứu 06 trang, kết quả nghiên cứu và thảo luận 75 trang, kết luận và đề nghị 04 trang
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Thực trạng và phát triển làng nghề Việt Nam
1.1.1 Nhận thức chung về làng nghề
- Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một làng
(thôn, tương đương thôn) có hoạt động sản xuất, kinh doanh các ngành nghề sản xuất và kinh doanh một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau, phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của một bộ phận người dân trong làng
- Tiêu chí xác định là làng nghề: i) có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn ii) hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận iii) chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Phân loại làng nghề có thể theo 6 dạng: i) theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới; ii) theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm; iii) theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ; iv) theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; v) theo mức độ sử dụng nguyên/nhiêu liệu; vi) theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển
Tiêu chí, phân loại làng nghề phụ thuộc vào từng mục đích thống
kê, từng địa phương quy định
- Số lượng: i) theo JICA với tiêu chí hơn 20% số hộ trong làng sản xuất nghề được gọi là làng nghề thì nước ta có 2.017 làng nghề; ii) theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (7/2011) nước ta có 3.355 làng nghề (1.262 làng nghề
đã được công nhận và 2.093 làng có nghề chưa được công nhận)
1.1.2 Xu thế phát triển của làng nghề Việt Nam
Sự phân bố các làng nghề tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, nhiều nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng khoảng 50% (như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định); sau đến là miền Trung khoảng 23,6% và miền Nam khoảng 16,4% Xu thế phát triển của làng nghề ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô, nhiều làng nghề mới được công nhận, nhiều ngành nghề mới được mở rộng; trong đó phát triển mạnh nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng
1.1.3 Vai trò, tác động của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn:
Vai trò, tác động tích cực của phát triển làng nghề: i) góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; ii) góp phần tạo việc làm
và tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn; iii) thu hút mạnh mẽ nguồn vốn dư thừa trong nhân dân để đầu tư cho sản xuất; iv) góp phần
Trang 43 phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông thôn; v) góp phần phát triển dịch vụ du lịch, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Những tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề như thiếu mặt bằng sản xuất, cơ sở hạ tầng xuống cấp và môi trường ô nhiễm nặng
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý, sử dụng đất làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững
1.2.1 Các yếu tố tác động đến việc quản lý, sử dụng đất làng nghề như:
i) các yếu tố tự nhiên (vị trí địa lý, đất đai, địa hình, khí hậu, các nguồn tài
nguyên thiên nhiên); ii) các yếu tố kinh tế - xã hội (cơ cấu kinh tế, sản xuất, dân số, lao động, trình độ lao động, kết cấu hạ tầng, vốn và thị trường, nguồn nguyên liệu sản xuất, văn hoá truyền thống); iii) các yếu tố môi trường (không khí, nước, đất) luôn có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc quản lý, sử dụng đất đai tại các làng nghề Đó là nguồn nội lực, là lợi thế, hạn chế so sánh của mỗi địa phương, của mỗi vùng
1.2.2 Chính sách đất đai đối với phát triển làng nghề: i) các chính sách
của Đảng về phát triển các ngành nghề nông thôn, làng nghề; ii) cơ sở pháp luật về quản lý, sử dụng đất làng nghề; iii) các chính sách ưu đãi đối với sử dụng đất làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành Tuy nhiên cho đến nay các chính sách này mới chỉ được thể hiện thông qua nhiều chính sách chung khác nhau mà chưa có chính sách đồng bộ, cụ thể dành riêng cho việc quản lý, sử dụng đất đai làng nghề dẫn tới việc vận dụng chính sách, việc tổ chức, triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn và còn khác nhau ở các địa phương
1.2.3 Quản lý, sử dụng đất tại làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam
Chiến lược toàn cầu về phát triển bền vững trên cơ sở báo cáo của Brundrland về môi trường vào năm 1987; tuyên bố của Hội nghị LHQ về môi trường con người Stockholm, Thụy Điển 1972; tuyên bố của Hội nghị LHQ về môi trường và phát triển Rio de Janeiro, Brazil 1992; tuyên bố của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững Johannesburrg, Nam Phi 2002 Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), 2004, 2012: xác định phát triển bền vững con đường tất yếu của Việt Nam; những lĩnh vực (kinh tế, xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm) cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững và việc tổ chức thực hiện phát triển bền vững
Quản lý, sử dụng đất đai tại làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững, cần xây dựng được hệ thống các cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nước, trong đó đặc biệt là cơ chế, chính sách về đất đai tạo điều kiện cho việc quản lý, sử dụng đất đai tại các làng nghề, đảm bảo làng nghề ngày càng phát triển
Trang 5ở nông thôn và coi đó là giải pháp hữu hiệu tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo cơ sở để nông thôn phát triển ổn định Ngành nghề ở các nước này rất giống ngành nghề ở Việt Nam như nghề gốm sứ, nghề dệt may, nghề giấy, nghề đúc kim loại phát triển chủ yếu ở khu vực nông thôn Sản xuất làng nghề với quy mô hộ gia đình là chủ yếu; ii) để tạo điều kiện phát triển làng nghề bền vững, bên cạnh các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đầu tư … thì các chính sách về đất đai đóng vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó coi trọng việc quy hoạch làng nghề Tuỳ theo tính chất sản xuất kinh doanh nghề để quy hoạch sắp xếp lại việc sử dụng đất chi tiết, quy hoạch xây dựng các khu sản xuất tập trung với quy mô lớn, nhỏ; đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là mạng lưới đường giao thông nông thôn bảo đảm cho sự phát triển ổn định, lâu dài của làng nghề; iii) kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng đất theo quy hoạch, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả Giao quyền sử dụng đất lâu dài để các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại làng nghề đầu tư phát triển Miễn thuế sử dụng đất trong 3 năm đầu cho các cơ sở mới thành lập; iv) khuyến khích phát triển làng nghề hướng tới phục vụ du lịch và xuất khẩu, thu hút lao động tại chỗ, giảm bớt
sự di dân hàng loạt từ các vùng nông thôn vào đô thị
1.4 Một số công trình nghiên cứu về làng nghề
Các cổng trình nghiên cứu về làng nghê: trong những năm qua đã
có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về làng nghề trong cả nước và riêng của tỉnh Bắc Ninh Các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề như cơ
sở lý luận, thực tiễn và giải pháp về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn;
về phát triển kinh tế làng nghề; về chính sách phát triển làng nghề; về môi trường làng nghề; về quy hoạch phát triển cụm công nghiệp làng nghề Tuy nhiên các công trình đó mới chỉ tập trung nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường (như CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; lao động làng nghề; môi trường làng nghề ) mà chưa có công trình,
đề tài nào nghiên cứu về vấn đề quản lý, sử dụng đất làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Hướng nghiên cứu của đề tài: với mục tiêu nghiên cứu của đề tài là
đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai tại một số làng nghề của tỉnh Bắc Ninh; định hướng và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất đai làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững nhằm giải quyết
Trang 65 những bất cập trong quản lý, sử dụng đất đai; thông qua tổng quan nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm trong nước và quốc tế về phát triển làng nghề; quản lý, sử dụng đất tại các làng nghề theo quan điểm phát triển bền vững; đề tài đã đánh giá được thực trạng quản lý, sử dụng đất tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh và đã đề xuất được định hướng, giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý đất đối với các loại làng nghề theo quan
điểm phát triển bền vững
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là vấn đề quản lý, sử dụng đất đai tại các làng nghề thủ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi nghiên cứu: i) Phạm vi đối tượng nghiên cứu: đất nông
nghiệp, đất ở, đất khu dân cư, đất cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất giao thông và cơ sở hạ tầng trong phạm vi đơn vị hành chính cấp xã (tại xã có làng nghề) của tỉnh Bắc Ninh; ii) Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Điều tra, khảo sát tại 9 xã có làng nghề, mỗi loại nghề chọn một đến hai xã có làng nghề tiêu biểu, điển hình đáp ứng được mục tiêu, nội dung nghiên cứu (đồ gỗ mỹ nghệ, tái chế kim loại, tái chế giấy, gốm sứ, dệt, đan lát thủ công)
2.2 Nội dung nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu bao gồm: i) Đặc điểm, điều kiện địa bàn nghiên cứu ii) Thực trạng phát triển và quản lý sử dụng đất làng nghề iii) Đánh giá thực trạng quản lý sử dụng đất làng nghề tại địa bàn nghiên cứu iv) Định hướng sử dụng đất để phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững v) Một số giải pháp quản lý sử dụng đất tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được áp dụng trong luận án gồm: i) Phương pháp điều tra thu thập số liệu, thông tin thu thập số liệu thứ cấp; điều tra xã hội học các hộ cơ sở sản xuất kinh theo mẫu phiếu thu thập số liệu sơ cấp ii) Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, chọn hộ điều tra Chọn 9 làng nghề đại diện cho 6 nhóm nghề đang có nhiều biến động, bức xúc trong quản lý, sử dụng đất đai và môi trường sinh thái Mỗi làng nghề chọn điều tra 35 hộ gia đình theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên iii) Phương pháp phân tích, thống kê, xử lý thông tin số liệu bằng phần mềm exel iv) Phương pháp lấy mẫu để đánh giá môi trường làng nghề v) Phương pháp kế thừa và phát triển vi) Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo vii) Phương pháp lựa chọn tiêu chí quản lý, sử dụng đất đai để làng nghề phát triển bền vững
Trang 76
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm điều kiện địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Ninh tác động đến việc quản lý, sử dụng đất tại các làng nghề
Bắc Ninh (2010) có diện tích tự nhiên là 82.271,12 ha, tổng dân số 1.038.229 người, nằm ở cửa ngõ phía Bắc thủ đô Hà Nội, trong vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ; Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2005
- 2009 đạt 14,6%/năm, trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 18,3%/năm, dịch vụ tăng 19,15 %/năm, nông nghiệp và thủy sản tăng 1,2%/năm Nguồn lao động rồi dào
3.1.2 Chủ trương, chính sách của tỉnh Bắc Ninh về quản lý, sử dụng đất và phát triển làng nghề
Chủ trương, chính sách của tỉnh liên quan đến phát triển làng nghề được ban hành kịp thời, thường xuyên đã tạo động lực cho việc khôi phục và phát triển sản xuất công nghiệp, ngành nghề thủ công, làng nghề thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Ninh
3.2 Thực trạng phát triển và quản lý, sử dụng đất làng nghề tỉnh Bắc Ninh
3.2.1 Thực trạng phát triển làng nghề của tỉnh
Bắc Ninh có 39 xã có nghề với 62 làng nghề (31 làng nghề truyền thống và 31 làng nghề mới) Có 53 làng nghề tiểu thủ công nghiệp; Nhiều làng nghề có từ lâu đời và nổi tiếng cả trong và ngoài nước Trong các làng nghề có 35.336 hộ, trong đó có 15.759 hộ (chiếm 44,5%), 36.515 lao động (chiếm 62%) chuyên làm nghề Giá trị sản xuất công nghiệp trong các làng nghề luôn chiếm từ 50 - 55% giá trị sản xuất công nghiệp quốc doanh và chiếm 33,9% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh
3.2.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh có tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh năm 2010 là 82.271,12 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 52,61%, đất lâm nghiệp chiếm 0,76%, đất ở chiếm 12,03%, đất chuyên dùng chiếm 20,68%, đất chưa sử dụng chiếm 0,7% Tại địa bàn 9 xã điều tra, diện tích đất sử dụng vào mục đích SXNN chiếm tỷ lệ lớn Điều đó chứng tỏ trong
xã mặc dù có làng nghề phát triển, các hộ chuyển hẳn sang làm nghề ngày càng tăng nhưng các hộ này vẫn giữ đất sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu và điều tra thực địa thì tại các làng nghề một phần diện tích này đã được tự chuyển sang sử dụng vào các mục đích phục vụ cho hoạt động sản xuất nghề của các hộ gia đình
3.3 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất tại làng nghề tỉnh Bắc Ninh
3.3.1 Đánh giá thực trạng sử dụng đất
3.3.1.1 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp:
Đất nông nghiệp tại các xã nghiên cứu chiếm tỷ lệ khoảng 60% tuy
Trang 87 nhiên, do ảnh hưởng của sản xuất làng nghề, đất đai và hệ thống tưới tiêu
bị ô nhiễm dẫn đến sản xuất nông nghiệp không hiệu quả, cây trồng năng suất không cao Từ đó một phần diện tích mặc dù đã giao cho các hộ gia đình để sản xuất nông nghiệp nhưng hiện đang bị bỏ hoang; diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều nhưng không thể khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp; một phần bị người dân lấn chiếm hoặc tự chuyển mục đích sử dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất nghề của các hộ gia đình
Bảng 3.10: Tổng hợp diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm 2010 theo các
Tỷ lệ so với DTTN (%)
Bình quân/người (m 2 /người)
Bình quân/hộ (m 2 /hộ)
Nguồn: Số liệu điều tra, 2010
3.3.1.2 Thực trạng sử dụng đất khu dân cư làng nghề: Trong quá
trình phát triển, dân số tăng nhanh, các hộ gia đình có nhu cầu mở rộng cơ
sở sản xuất, cửa hàng kinh doanh sản phẩm nên đã phân lô, chia nhỏ và xây dựng nhà cao tầng Vì vậy trong khu dân cư làng nghề trở nên chật hẹp, mật độ dân số cao, bình quân đất khu dân cư trên đầu người rất thấp
Mật độ dân số các làng nghề nghiên cứu cao gấp 2,1 - 2,2 lần mật
độ dân số của tỉnh (1.245 người/km 2 ) và cao gấp từ 1,5 - 1,8 lần mật độ
dân số bình quân tại các làng, xã không có nghề truyền thống trong cùng khu vực Một số làng nghề đã rất phát triển, có mật độ dân số quá cao như Phù Khê (mật độ dân số toàn xã 2.648 người/km2, mật độ dân số khu vực dân cư và sản xuất nghề là 8.980 người/km2); Phong Khê (mật độ dân số toàn xã 1.548 người/km2, mật độ dân số khu vực dân cư và sản xuất nghề
là 12.912 người/km2) Tại các làng nghề, diện tích đất khu dân cư tăng nhanh do quy hoạch khu dân cư mới để giãn dân, tuy nhiên vẫn không đủ
để giảm tải trong làng
3.3.1.3 Thực trạng sử dụng đất ở trong khu dân cư làng nghề
Đất ở so với diện tích đất khu dân cư khu vực làng nghề chiếm tỷ lệ rất cao Tại Tương Giang diện tích đất ở chiếm 60,01% đất khu dân cư;
Trang 98 Phù Lãng 70,40% và cao nhất là Phong Khê 85,08% điều đó thể hiện sự quá tải trong khu dân cư, tỷ lệ diện tích đất cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, hạ tầng
xã hội, giao thông, cây xanh trong khu dân cư chiếm tỷ lệ thấp trong khi
đó việc đầu tư, mở rộng cơ sở hạ tầng trong khu dân cư rất khó khăn Bảng 3.12: Tình hình sử dụng đất ở tại làng nghề theo nhóm nghề năm 2010
Tên nghề
Bình quân đất ở/người trong toàn xã (m2/người)
Bình quân đất ở/hộ trong toàn
xã (m2/hộ)
Bình quân đất ở/người trong làng nghề (m2/người)
Bình quân đất ở/hộ trong làng nghề (m2/hộ)
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010
Bình quân diện tích đất ở của các hộ gia đình đều thấp hơn so với hạn mức cấp đất ở của tỉnh Diện tích đất ở bình quân của các hộ SXKD trong các làng nghề chọn nghiên cứu là là 202,76 m2/hộ Trong đó làng nghề đan lát thủ công (Xuân Lai, Lãng Ngâm) có bình quân đất ở trên hộ là cao nhất 301,43 m2/hộ; thấp nhất là làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ, Phù Khê) là 136,80 m2/hộ Đối với từng làng nghề thì làng nghề Phù Khê có đất ở bình quân 202 m2/hộ; làng nghề Châu Khê 171 m2/hộ, làng nghề Phong Khê 285
m2/hộ, Phú Lâm 230 m2/hộ và ở mức thấp so với bình quân chung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Diện tích đất ở bình quân trên người của các làng nghề chọn nghiên cứu là 46,72 m2/người Trong đó làng nghề đan lát thủ công (Xuân Lai, Lãng Ngâm) có bình quân đất ở trên người là cao nhất 69,41 m2/người; thấp nhất là làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ, Phù Khê) là 31,55
m2/người Đối với từng làng nghề thì làng nghề Phù Khê là 53 m2/người; Phú Lâm 49 m2/người; Châu Khê 47 m2/người; Tương Giang 51
m2/người; cao nhất là Phong Khê 66 m2/người và thấp hơn rất nhiều so với bình quân chung của tỉnh là 97 m2/người (bình quân diện tích đất ở nông thôn trên đầu người của tỉnh là 106 m2/người) Với diện tích này nếu chỉ dùng cho nhu cầu để ở và sinh hoạt gia đình thì có thể đáp ứng được nhưng tại các làng nghề hầu hết đều còn bố trí sản xuất nên diện tích này trở nên quá chật hẹp
3.3.1.4 Thực trạng sử dụng đất cơ sở sản xuất kinh doanh
Ngoài diện tích trong cụm công nghiệp, còn lại đất này thường khó phân biệt vì hầu hết các hộ gia đình trong làng đều dùng đất ở để sản xuất kinh doanh Thực trạng đất SXKD tại các làng nghề còn ở mức thấp
Trang 109 Ngoài 5 làng nghề đã có CCNLN, đến nay còn làng nghề Phù Khê chưa bố trí đất SXKD hoặc có nhưng diện tích không đáng kể (Phù Lãng có 0,11 ha; Xuân Lai 0,31 ha; Lãng Ngâm có 3,53 ha) Trong khi đó các làng nghề này
đã rất phát triển, sản xuất làng nghề chiếm tỷ trọng lớn trong xã và đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, người dân sống bằng thu nhập từ sản xuất nghề là chính; trong giai đoạn 2005 - 2010 mới chỉ có Phú Lâm quan tâm đến quy hoạch mở rộng đất SXKD với diện tích 11,21 ha, các làng nghề còn lại diện tích không thay đổi hoặc không đáng kể (Xuân Lai 0,3 ha)
Kết quả điều tra diện tích đất các hộ gia đình đang sử dụng để làm mặt bằng sản xuất kinh doanh (diện tích sản xuất trên đất ở của hộ gia đình, đất sản xuất phân tán trong, ngoài khu dân cư, đất sản xuất trong CCNLN), cho thấy, bình quân diện tích này tại làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ, Phù Khê), tái chế kim loại (Châu Khê) là 300 m2/hộ, tại làng nghề dệt may Tương Giang là thấp nhất (150 m2/hộ) (bảng 3.14) Bảng 3.14: Tổng hợp ý kiến của các hộ sản xuất nghề về mặt bằng sản xuất,
kinh doanh năm 2010
Loại nghề
Bình quân diện tích đất đang sử dụng làm nghề (m2/hộ)
Tỷ lệ số hộ sản xuất, kinh doanh tại nơi ở (%)
Tỷ lệ số hộ thiếu đất làm mặt bằng SXKD (%),
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010
Tại các làng nghề có trên 94% số hộ được hỏi cho là vẫn đang sản xuất kinh doanh tại nơi ở Tại làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ có 97,14%; tái chế kim loại có 97,22%; tái chế giấy có 97,06%; dệt có 82,86%; đan lát thủ công
có 77,14% số hộ được hỏi cho rằng còn thiếu đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh (bảng 3.14) Tại làng nghề Phù Khê có 98,6%, Châu Khê 89,7%; Tương Giang 56,2%; Dương Ổ 89,8% số hộ được hỏi đều muốn được thuê thêm đất để làm CSSX kinh doanh, cửa hàng giới thiệu sản phẩm
3.3.1.5 Thực trạng sử dụng đất giao thông và cơ sở hạ tầng trong làng nghề: Giao thông trong các ngõ xóm đã được kiên cố hóa khoảng 93%,
tuy nhiên mặt đường, ngõ nhỏ do mặt bằng sản xuất trong khu dân cư lấn chiếm, nguyên vật liệu, sản phẩm để ngổn ngang Diện tích đất giao thông trong các làng nghề điều tra tăng đều qua các năm, tuy nhiên vẫn ở mức thấp Bình quân đất giao thông trên người tại các làng nghề còn thấp so với sự phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp ngày càng phát triển của làng, và còn thấp hơn bình quân chung của cả tỉnh (119 m2/người); Đồng kỵ 38m2/người; Phù
Trang 1110 Khê 56m2/người; Châu Khê 64m2/người; Phong Khê 78m2/người)
3.3.2 Đánh giá thực trạng quản lý đất đai
3.3.2.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất, cụm công nghiệp làng nghề: Tại 9 xã điều tra đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2015, ngoài ra một số xã còn có quy hoạch chi tiết không gian, xây dựng mô hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015 Có 5 xã quy hoạch CCNLN đến năm 2010 với diện tích 175,79
ha Trong đó có 3 cụm đã xây dựng xong với diện tích 38,52 ha (CCNLN
đồ gỗ Đồng Kỵ diện tích 12,65 ha; CCNLN giấy Phong Khê 12,37 ha; CCNLN sắt Đa Hội 13,5 ha) và tỷ lệ lấp đầy đạt 100% Cụm công nghiệp làng nghế Phú Lâm với diện tích 18,16 ha tỷ lệ lấp đầy đạt 90% Riêng chỉ
có CCNLN Tương Giang, tỷ lệ lấp đầy đạt 14%
Bảng 3.16: Quy hoạch và bố trí sản xuất trong cụm công nghiệp
Tên cụm công nghiệp
làng nghề
Diện tích (ha)
Tỷ lệ lấp đầy (%)
Số doanh nghiệp hoạt động
Nguồn: UBND các xã, số liệu điều tra 2010
Việc quy hoạch CCNLN bước đầu đã đạt được những hiệu quả đáng kể; 83,6% số hộ được hỏi cho rằng sản xuất trong CCNLN đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, sử dụng nhiều lao động hơn và giảm ô nhiễm môi trường; 91,3% số hộ được hỏi đều cho rằng cần thiết phải quy hoạch CCNLN và 87,1% số hộ được hỏi đều mong muốn được thuê đất trong CCNLN để mở rộng mặt bằng sản xuất và tránh ô nhiễm môi trường nơi ở 86,7% số hộ đang sản xuất trong CCNLN cho rằng diện tích thuê chưa đáp ứng đủ nhu cầu vì thiếu diện tích để làm kho chứa vật liệu và thành phẩm,
để làm chỗ ăn nghỉ cho người lao động, để làm nơi để xe cho người lao động Tại một số CCNLN đa số các hộ thuê đất trong CCNLN xây dựng thành những nhà cao tầng vừa làm văn phòng giao dịch, giới thiệu sản phẩm, vừa để ở (làng nghề Đồng Kỵ, Đa Hội, Dương Ổ)
Đa số lao động từ nơi khác đến làm thuê trong các CCNLN thường ăn nghỉ ở lại nơi sản xuất Như vậy đất CCNLN tại đây phần nào đã biến thành đất ở Nhiều hộ đã thuê đất trong cụm công nghiệp nhưng vẫn duy trì sản xuất tại nơi ở trong làng vì vậy ô nhiễm làng nghề vẫn chưa được giải quyết
Trang 1211
3.3.2.2 Tình hình chuyển mục đích, chuyển nhượng quyền sử dụng đất: (i) Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất SXNN sang sản xuất kinh
doanh đang diễn ra rất mạnh tại các làng nghề Chuyển đổi theo quy hoạch
được phê duyệt và người dân tự chuyển đổi không xin phép (ii) Khi quy
hoạch CCNLN nhiều hộ gia đình làm nông nghiệp bị thu hồi đất; hộ gia đình làm nghề, do không thuộc vị trí quy hoạch nên không bị thu hồi đất nông nghiệp Các hộ này muốn đổi vị trí đất canh tác của mình để lấy đất
làm mặt bằng sản xuất (iii) Thời hạn thuê đất trong CCNLN chủ yếu là 30
năm hoặc 50 năm với mức giá khác nhau Để yên tâm đầu tư cho sản xuất, các hộ sản xuất được thuê đất 50 năm hoặc thuê lâu dài 82,4% số hộ được hỏi cho rằng thời gian thuê đất ngắn, nhu cầu của các hộ muốn được thuê đất trên 50 năm (36,7%) hoặc thuê lâu dài (62,3%)
3.3.2.3 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Cả tỉnh
đã cấp GCNQSDĐ đất nông nghiệp đạt 98%; đất ở đạt 89% Đa số các hộ được hỏi đều cho rằng thủ tục cấp giấy còn lâu, nhiều cơ sở sản xuất thuê đất sau đó làm thủ tục gần 2 năm mới được cấp giấy
3.3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường từ hoạt động sản xuất của các làng nghề tỉnh Bắc Ninh
3.3.3.1 Hiệu quả về kinh tế, xã hội từ hoạt động sản xuất của các làng nghề tỉnh Bắc Ninh
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Giai đoạn 2006 - 2010 tỷ trọng ngành
công nghiệp của tỉnh liên tục tăng trưởng, từ 49,52% năm 2006 lên 64,80% năm 2010 Giá trị sản xuất tăng liên tục, tăng trưởng bình quân 986,2 tỷ đồng/năm; trong đó giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng mạnh nhất, tăng từ 2.195,5 tỷ đồng lên 5.272 tỷ đồng, giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp giảm mạnh từ 1.206,1 tỷ đồng (năm 2006) xuống còn 57,4 tỷ đồng (năm 2010) (giá so sánh 1994) Giá trị sản xuất làng nghề luôn chiếm từ 75-80% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh
và khoảng từ 25-30% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh
- Giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động: Kết quả điều tra
cho thấy, lao động tại các làng nghề chiếm khoảng 80 - 95% tổng số lao động trong xã Số cơ sở có dưới 7 lao động chiếm khoảng 9%; trên 7 lao động chiếm khoảng 84%; trên 100 lao động khoảng 7% Thời gian lao động thường xuyên làm việc từ 9 -11 giờ/ngày, tuỳ theo tính chất ngành nghề, thậm chí thời kỳ cao điểm làm việc 11 – 14 giờ/ngày
Sự phát triển của làng nghề đã góp phần giải quyết được việc làm cho người lao động tại địa phương, tận dụng được nguồn lao động từ người già đến trẻ em Phần lớn tại các làng nghề, không còn lao động thiếu việc làm, hoặc còn thì tỷ lệ rất thấp, nhu cầu thuê lao động ở các CSSX còn
Trang 1312 lớn Lao động thuê từ nơi khác đến phải bố trí chỗ ăn, ngủ thì CSSX không có chỗ Mức độ thu hút lao động từ nông nghiệp chuyển sang làm nghề hàng năm rất lớn Việc thuê mướn lao động trong làng nghề đã lan sang cả lĩnh vực SXNN Nhiều hộ gia đình tuy có nhận ruộng SXNN nhưng không làm trực tiếp mà thuê mướn người làm
Bảng 3.21: Tình hình cơ sở sản xuất, lao động làm nghề giai đoạn 2006 - 2010
Số hộ sản xuất Số lao động Biến động(tăng +; Giảm -)
Số liệu điều tra, 2010
- Nâng cao thu nhập cho người lao động làm nghề: Mức thu nhập ở
các làng nghề cao gấp 3 đến 5 lần so với các làng thuần nông Thu nhập bình quân của lao động làm nghề năm 2009 , 2010 gấp 4,5 đến 4,9 lần so với thu nhập bình quân của lao động SXNN tại làng và gấp 2,24 lần thu nhập bình quân chung của lao động toàn tỉnh trong khu vực nông thôn (1,150 triệu đồng/lao động) Tại tất cả các làng nghề thu nhập của lao động làm nghề đều cao hơn lao động SXNN và mức thu nhập phụ thuộc vào từng loại nghề Bảng 3.22: Thu nhập của lao động năm 2009, 2010 theo loại hình nghề
Đơn vị tính: 1.000 đồng/tháng
Thu nhập bình quân/lao động năm 2009
Thu nhập bình quân/lao động năm 2010
với SXNN
(1)
Đối với làm
nghề (2)
So sánh (3)=(2)/(1) (lần)
Đối với SXNN
(1)
Đối với làm nghề (2)
So sánh (3)=(2)/(1) (lần)
Nguồn: Số liệu điều tra
3.3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất làng nghề đến môi trường:
- Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất nghề đến môi trường nước
Tại làng nghề tái chế giấy Phong Khê, nước thải do các cơ sở sản