Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường trong sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Văn Quan... Hiệu quả sử dụng đất Riêng đối với ngành lâm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
VI VĂN ĐIỀN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HỢP LÝ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
VI VĂN ĐIỀN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HỢP LÝ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
Ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ SỸ TRUNG
Thái Nguyên - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Vi Văn Điền
Trang 4Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới PGS
TS Lê Sỹ Trung, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Lãnh đạo và tập thể cán bộ, công chức UBND xã Đồng Giáp, huyện Văn Quan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vi Văn Điền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Một số vấn đề lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất 4
1.1.2 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng đất 6
1.1.3 Cơ sở pháp lý về sử dụng đất lâm nghiệp 9
1.2 Tổng quan nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất 11
1.2.1 Tình nghiên cứu trên thế giới 11
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 17
1.2.3 Quan điểm sử dụng đất lâm nghiệp 21
1.3 Nhận xét chung 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
Trang 62.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến sử dụng
đất lâm nghiệp của huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn 24
2.3.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn 24
2.3.3 Đánh giá hiệu quả loại hình sử dụng đất lâm nghiệp huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn 25
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp tại huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Cách tiếp cận và phương hướng giải quyết vấn đề 25
2.4.2 Phương pháp chọn điểm 26
2.4.3 Phương pháp kế thừa 26
2.4.4 Phương pháp điều tra nông hộ với sự tham gia của người dân (PRA) 26 2.4.5 Phương pháp điều tra thực nghiệm 27
2.4.6 Phương pháp chuyên gia 27
2.4.7 Công tác nội nghiệp 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng
đất lâm nghiệp 31
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội 31
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 32
3.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 35
3.1.3 Nhận xét và đánh giá chung 39
3.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Văn Quan 41
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Văn Quan 41
3.2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Văn Quan 46
3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp huyện Văn Quan 55
3.3.1 Hiệu quả kinh tế 55
Trang 73.3.2 Hiệu quả xã hội 61
3.3.3 Hiệu quả môi trường 66
3.3.4 Đánh giá tổng hợp các kiểu sử dụng đất 70
3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp tại huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn 71
3.4.1 Quan điểm và định hướng chung 71
3.4.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp 72 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
I Tài liệu tiếng Việt 80
II Tài liệu tiếng Anh 82
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
FAO : Tổ chức nông - lương Liên hợp Quốc KSDĐ : Kiểu sử dụng đất
LMU : Đơn vị bản đồ đất đai
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 35
Bảng 3.2: Tình hình biến động dân số qua một số năm 37
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Văn Quan 42
Bảng 3.4: Hiện trạng đất lâm nghiệp tại huyện Văn Quan 47
Bảng 3.5: Tình hình giao đất lâm nghiệp các xã tại huyện Văn Quan 48
Bảng 3.6: Thống kê diện tích đất lâm nghiệp theo các xã 50
Bảng 3.7: Một số kiểu sử dụng đất chính của huyện Văn Quan 51
Bảng 3.8: KSDĐ Rừng trồng Hồi 6 năm tuổi (sản lượng quả/năm) 53
Bảng 3.9: Trữ lượng KSDĐ Rừng trồng Keo và Bạch Đàn 6 năm tuổi 53
Bảng 3.10: Thu nhập thuần các KSDĐ chính tại huyện Văn Quan 56
Bảng 3.11: Hiệu quả kinh tế các KSDĐ chính huyện Văn Quan 58
Bảng 3.12: Công lao động và giá trị ngày công các loại hình sử dụng đất chính tại huyện Văn Quan 62
Bảng 3.13: Công lao động tạo ra từ các KSDĐ chính 63
Bảng 3.14: Công lao động và thu nhập tạo ra trên 1ha RTSX 64
Bảng 3.15: Tính chất lý, hóa học phẫu diện điển hình đất lâm nghiệp tại huyện Văn Quan 68
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Trữ lượng KSDĐ Rừng trồng Keo và Bạch Đàn tại vùng 3 54
Hình 3.2: Trữ lượng KSDĐ Rừng trồng Keo và Bạch Đàn tại vùng 2 54
Hình 3.3: Trữ lượng KSDĐ Rừng trồng Keo và Bạch Đàn tại vùng 1 54
Hình 3.4: Thu nhập thuần các KSDĐ tại 3 vùng nghiên cứu 57
Hình 3.5: Hiệu quả kinh tế các KSDĐ chính tại vùng 3 59
Hình 3.6: Hiệu quả kinh tế các KSDĐ chính tại vùng 2 59
Hình 3.7: Hiệu quả kinh tế các KSDĐ chính tại vùng 1 60
Hình 3.8: Công lao động tạo ra từ các KSDĐ chính 63
Hình 3.9: Thu nhập tạo ra từ các KSDĐ chính tại 3 vùng nghiên cứu 64
Hình 3.10: Phẫu diện điển hình đất rừng trồng tại huyện Văn Quan 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là địa bàn phân bố của con người, là nơi phát triển xây dựng các cơ sở kinh tế - văn hoá - xã hội Đặc biệt đất là tài liệu không có gì thay thế được trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Hầu hết các các địa phương ở nước ta đều xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm cơ sở cho sự phát triển của các ngành khác
Trong nông - lâm nghiệp đất có vị trí hết sức quan trọng, đất không chỉ
là chỗ đứng, chỗ dựa của lao động như các ngành khác mà còn cung cấp nước, thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của cây trồng tạo thức
ăn cho chăn nuôi phát triển Với ý nghĩa đó trong nông - lâm nghiệp đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, là cơ sở tự nhiên sinh ra mọi của cải vật chất cho xã hội
Việt Nam là một đất nước có địa hình tương đối đa dạng và phức tạp, 3/4 diện tích là đồi núi, dân số chủ yếu lao động bằng nghề nông nghiệp, trong đó phần lớn diện tích được quy hoạch là đất lâm nghiệp bao gồm đất có rừng và đất trống đồi núi trọc Tài nguyên rừng ở Việt Nam bị suy thoái nghiêm trọng
từ năm 1943 đến năm 1995 do các nguyên nhân như: chiến tranh, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi sang đất nông nghiệp như là kết quả tất yếu của sự gia tăng dân số và đặc biệt là việc khai thác lạm dụng vốn rừng Từ 14,3 triệu ha rừng tự nhiên (độ che phủ 43%) năm 1943 giảm xuống đến mức thấp nhất là 9,2 triệu ha (độ che phủ 27,8%) năm 1990 và tăng lên 12,3 triệu ha (độ che phủ 36,7%) năm 2004 (Trần Văn Con, 2006), [4] Ngày 28/7/2014 theo Quyết định số 3322/BNNPTNT- TCLN [21] công bố hiện trạng tài nguyên rừng năm 2014 diện tích rừng toàn quốc là 13,5 triệu ha (độ che phủ 39,7% nếu tính cả cây cao su và đặc sản độ che phủ là 40,08%) Mất rừng, độ che phủ giảm, đất đai bị thoái hóa do xói mòn rửa trôi, hiện tượng sạt lở đất tại các vùng
Trang 12núi thường xuyên xảy ra, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, khí hậu biến đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến đời sống và sức khỏe của con người Vì vậy, việc phục hồi độ che phủ của thảm thực vật rừng đã và đang được Chính phủ Việt Nam đưa vào hàng ưu tiên cao và việc
sử dụng đất một cách hợp lý, khoa học là nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu của toàn quốc gia Với những nỗ lực lớn lao đó thì độ che phủ rừng của Việt Nam đã tăng lên không ngừng từ năm 1995 đến nay
Văn Quan là huyện miền núi, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn Theo đánh giá hiện trạng sử dụng đất của huyện Văn Quan tính đến năm 2015 thì tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 54.756,13 ha Trong đó diện tích đất Nông nghiệp là 45.577,94 ha, tổng diện tích đất có rừng của huyện là 24.004,58 ha, chiếm 65,29%, tổng diện tích tự nhiên Tỷ lệ che phủ của rừng năm 2015 đạt 48,2% Trong đó: Đất rừng sản xuất là 27.829,57 ha; đất rừng phòng hộ là 7.846,19 ha; đất rừng đặc dụng là 1.089,22 ha (UBND huyện Văn
Quan, 2013), [27]
Hiện nay, huyện đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 nhưng chủ yếu đưa ra quy hoạch sử dụng đất thổ cư Trong đó, rừng là nguồn tài nguyên chiếm ưu thế, đất lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích trong cơ cấu sử dụng đất của toàn huyện, tuy nhiên việc lập quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng hiệu quả chưa cao, thiếu tính bền vững Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp hợp lý sử dụng đất lâm nghiệp tại huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 132.2 Mục tiêu cụ thể
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin số liệu, tài liệu điều tra trung thực, chính xác đảm bảo độ tin cậy, phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu Việc phân tích xử lý số liệu phải dựa trên cơ sở khoa học, có tính định lượng bằng phương pháp nghiên cứu phù hợp
- Đánh giá những lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tác động đến các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
- Xác định được hiệu quả các loại hình sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
- Các giải pháp đề xuất phải phù hợp về mặt khoa học và phải có tính thực thi xuất phát từ kết quả nghiên cứu
3 Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất Lâm nghiệp huyện Văn Quan
- Cung cấp một cách nhìn tổng quát đến chi tiết của quá trình sử dụng đất lâm nghiệp Nhận biết được hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường trong sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Văn Quan
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Một số vấn đề lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.1.1.1 Hiệu quả
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra là kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (Dẫn theo Trần Thị Mận, 2011), [10]
là hiện tại nhưng cũng có thể trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế
xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học công nghệ thay đổi Trong mỗi kiểu sử dụng đất nông lâm nghiệp thường gắn với các cây trồng cụ thể (Đỗ Đình Sâm, và cộng sự, 2005), [22]
Trang 151.1.1.3 Hiệu quả sử dụng đất
Riêng đối với ngành lâm nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là khối lượng lâm sản khai thác được để ổn định kinh tế
xã hội của đất nước
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất lâm nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế
Sử dụng đất lâm nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh mà còn là mong muốn của người dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất
1.1.1.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Hiện nay, các nhà khoa học cho rằng: vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội
và hiệu quả môi trường (Nguyễn Chử Quân, 2010), [15]
1.1.1.5 Đánh giá đất đai
Đánh giá đất đai là quá trình xác định tiềm năng của đất cho một hay nhiều mục đích sử dụng được lựa chọn Phân loại đất (Land classification) đôi khi được hiểu đồng nghĩa với đánh giá đất đai nhưng có tính chuyên sâu hơn, chủ yếu là phân loại đất đai thành các nhóm Cũng có thể hiểu đánh giá đất đai
là một bộ phận của phân loại đất đai trong đó cơ sở phân loại là xác định mức
độ thích hợp của việc sử dụng đất (Đỗ Đình Sâm, và cộng sự, 2005), [22]
Trang 161.1.1.6 Kiểu sử dụng đất (KSDĐ)
Kiểu sử dụng đất là một loại hoặc một nhóm cây trồng được sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật hiện hành (Dẫn theo Phan Thanh Lâm, 2003), [7]
KSDĐ là một dạng sử dụng đất (SDĐ) được mô tả chi tiết hơn so với loại hình sử dụng đất Trong đánh giá đất đai một cách định lượng, dạng SDĐ nào cũng chứa những KSDĐ, KSDĐ thực ra không phải là một đơn vị phân loại rõ ràng trong SDĐ đai, nhưng nó chỉ ra được một sự SDĐ xác định thấp hơn loại hình sử dụng đất
1.1.2 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng đất
Ngày nay, mọi hoạt động sản xuất của con người đều hướng đến mục tiêu là kinh tế Tuy nhiên, để sản xuất đạt được hiệu quả thì nhất thiết không chỉ đạt mục tiêu về kinh tế mà đồng thời phải tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống xã hội và môi trường của con người (Nguyễn Thị Vân, 1991), [29] Những kết quả đó có thể là:
- Cải thiện điều kiện sống và làm việc của con người, nâng cao thu nhập;
- Nâng cao đời sống tinh thần cho người dân;
- Cải tạo môi trường sinh thái, tạo ra một sự phát triển bền vững trong sử dụng đất
Bên cạnh đó, cần chú ý kết hợp hiệu quả lâu dài với hiệu quả trung gian
và hiệu quả trước mắt Mọi giải pháp kinh tế - xã hội đều phải chú ý kết hợp giữa lợi ích lâu dài, lấy lợi ích lâu dài làm trọng tâm, đồng thời không xem nhẹ lợi ích trước mắt
Căn cứ vào những mục tiêu có thể đạt được người ta chia hiệu quả thành 3 loại:
1.1.2.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau
Theo Samuel - Nordhuas “Hiệu quả là không lãng phí”
Trang 17Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman)
„hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sách mức độ tiết kiệm chi phí trong 1 đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội”
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau,
Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề: (Dẫn theo Lê Anh Thắng, 2011), [24]
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội” (Lê Anh Thắng, 2011), [24]
1.1.2.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã
Trang 18hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2004), [1]
Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc và nhu cầu sống khác nhau Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hóa của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn (Dẫn theo Lê Anh Thắng, 2011), [24]
Hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995), [25]
1.1.2.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này
có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Lê Anh Thắng, 2011), [24]; trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác
Trang 19động của hoạt động sản xuất, quản lý của con người thì hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm hiệu quả hóa học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường
Trong lâm nghiệp, có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nhưng chưa có tài liệu hay nghiên cứu nào đưa ra khung chuẩn các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả môi trường sử dụng đất lâm nghiệp nói chung cũng như đất rừng trồng sản xuất nói riêng Vì vậy, đề tài đã đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá có khả năng thực hiện được
1.1.3 Cơ sở pháp lý về sử dụng đất lâm nghiệp
Có nhiều khái niệm về đất lâm nghiệp, theo luật đất đai hiện hành thì Đất lâm nghiệp thuộc nhóm đất nông nghiệp, là đất có rừng hoặc không có rừng được quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp
Luật bảo vệ và phát triển rừng, công bố theo pháp lệnh số HĐNN, ngày 19/8/1991 của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước CHXHCN Việt Nam Hiện nay Quốc Hội đã thông qua Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi
58/L-CT-số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004 Luật quy định về quản lý, bảo
vệ, phát triển, sử dụng rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, Trong đó, có quy định nguyên tắc phát triển, sử dụng rừng sản xuất…(Luật bảo vệ và phát triển rừng, 1991,2004), [8]
Nghị định 01/1995/NĐ-CP, ngày 04/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về giao khoán đất và sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước Nghị định có đưa ra các loại đất được giao khoán trong đất lâm nghiệp có đất rừng trồng sản xuất (Nghị định 01/1995/NĐ-CP, 1995), [11]
Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg, ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước các cấp về rừng
Trang 20và đất Lâm nghiệp Quyết định này nhằm quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp có thẩm quyền đối với rừng và đất lâm nghiệp, góp phần ngăn chặn những hành vi hủy hoại tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp, tạo điều kiện để mọi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng (Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg, 1998), [17]
Nghị định số 163/1999/NĐ-CP, ngày 16/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất lâm nghiệp trong đó có rừng sản xuất (Nghị định số 163/1999/NĐ-CP,1999), [12]
Luật đất đai năm 2013
Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg, ngày 05 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất) (Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg, 2005), [3]
Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng Quy chế này quy định về việc tổ chức quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp (Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, 2006), [19]
Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg, ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về Một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn
2007 - 2015 Quyết định đưa ra mục tiêu phát triển rừng sản xuất đến năm
2015 là trồng 2 triệu ha rừng sản xuất, bình quân mỗi năm trồng 250 nghìn ha (bao gồm cả diện tích trồng lại rừng sau khai thác); Giải quyết việc làm, tăng thu nhập nhằm ổn định đời sống cho đồng bào miền núi; Thúc đẩy hình thành thị trường nghề rừng phát triển ổn định lâu dài (Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg, 2007), [20]
Trang 211.2 Tổng quan nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.2.1 Tình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Nghiên cứu về đánh giá đất đai
* Đánh giá đất đai của FAO
Muốn sản xuất khối lượng lương thực lớn cho nhân loại, Liên Hợp Quốc cần phải quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất một cách hợp lý nhất Để thực hiện được mục tiêu đó Liên Hợp Quốc đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác đánh giá đất đai Ngay từ những năm 1970, các nhà khoa học đất của nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu nhằm xây dựng một phương pháp đánh giá đất đai có tính khoa học cao, đồng thời khắc phục được tình trạng không thống nhất về phương pháp Đến năm 1972, tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO) đã phác thảo đề cương đánh giá đất đai và công bố năm 1973 Hai năm sau tại hội nghị về đánh giá đất đai ở Rome, dự thảo đó được các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này biên soạn, bổ sung và công bố tài liệu chính thức đầu tiên về phương pháp đánh giá đất đai năm 1976 Tài liệu này được coi như cẩm nang cho nhiều nước trên thế giới nghiên cứu vận dụng, thử nghiệm và được coi là phương tiện tốt nhất để đánh giá đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp (FAO, 1985), [30]
Bên cạnh những tài liệu tổng quát của FAO (1990), [31] về đánh giá đất đai, một số hướng dẫn cụ thể khác về đánh giá đất đai cho từng đối tượng chuyên biệt cũng được FAO ấn hành như:
- Đánh giá đất cho nền nông nghiệp nhờ mưa
- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới (Land Evaluation for Rainfed Agriculture, 1985)
- Đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh (Land Evaluation for Extensive Grazing, 1989)
Trang 22- Đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển (Land Evaluation for Devenlopment, 1990)
- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho việc quy hoạch sử dụng đất (Land Eveluation and Farming System Anaylyis for Land Use Planning, 1990)
Như vậy, theo FAO mục tiêu chính của việc đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích nghi của các dạng đất đai khác nhau đối với các loại hình sử dụng đất riêng biệt đã lựa chọn
Nguyên tắc đánh giá đất đai của FAO là đánh giá đất đai phải gắn với loại hình sử dụng đất xác định, có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được với đầu
tư cần thiết Đánh giá đất liên quan chặt chẽ tới các yếu tố môi trường tự nhiên của đất và các điều kiện kinh tế, xã hội (FAO, 1985), [30]
Tiến trình tổng quát trong đánh giá đất của FAO gồm các bước sau:
- Lựa chọn và mô tả các loại hình sử dụng đất phù hợp với chính sách, mục tiêu phát triển, điều kiện về sinh thái tự nhiên, tập quán sử dụng đất và các hạn chế sử dụng đất đặc biệt của khu vực nghiên cứu
- Xác định yêu cầu sử dụng đất của mỗi loại hình sử dụng đất đã được lựa chọn
- Mô tả tính chất và chất lượng của các đơn vị đất đai, những yếu tố có tác động trực tiếp đến khả năng thực hiện các loại sử dụng đất được lựa chọn
- So sánh giữa yêu cầu sử dụng đất của mỗi LUT với chất lượng đất đai của từng đơn vị đất đai đối với mỗi loại hình sử dụng đất gồm khả năng thích hợp trong điều kiện hiện tại và khả năng thích hợp trong tương lai
- Phân tích những tác động môi trường có thể xảy ra các vấn đề kinh tế -
xã hội trong quá trình thực hiện các loại sử dụng đất được đánh giá Qua đó đưa ra phân loại cuối cùng của khả năng thích hợp đất đai
Tuỳ theo mục tiêu, quá trình đánh giá phân hạng đất có thể tiến hành theo phương pháp hai bước hoặc phương pháp song song
Trang 23- Phương pháp 2 bước: gồm có đánh giá đất tự nhiên và phân tích kinh tế
- xã hội
- Phương pháp song song: Các bước đánh giá đất tự nhiên cùng đồng thời với phân tích kinh tế - xã hội Phương pháp này thường được đề nghị để đánh giá đất chi tiết và bán chi tiết
Trên thực tế hai phương pháp này khác nhau không rõ ràng nên khi áp dụng cần lựa chọn phương pháp thích hợp, tuỳ thuộc và điều kiện cụ thể
- Phân hạng định tính: Kết quả được trình bày trong phạm vi tính chất
mà không có sự đánh giá riêng biệt ở đầu vào và đầu ra
- Phân hạng định lượng: Kết quả được trình bày bằng số Nếu kết quả chỉ đề cập đến số lượng đầu tư chi phí ở đầu vào và khối lượng sản xuất ở đầu
ra thì đó là phân hạng định lượng thông thường, còn nếu kết quả đề cấp tới chi phí, giá thành ở đầu vào và giá cả, lợi nhuận ở đầu ra thì đó là phân hạng thích hợp kinh tế
Trong đánh giá đất đai thì cần sử dụng cả hai phương pháp phân hạng thích hợp trên
Theo FAO, phân hạng thích hợp đất đai đựơc phân chia thành 4 cấp (FAO, 1985), [30]:
Bậc (order) Lớp (class) Lớp phụ (subclass) Đơn vị đất (unit)
Trong bậc thích hợp chia làm 2 cấp: Bậc thích hợp (suitability order) và bậc không thích hợp (not suitability order), Trong một số trường hợp có dùng thêm pha thích hợp có điều kiện (conditionally suitable)
Trong bậc thích hợp thường chia làm 3 lớp:
+ Thích hợp cao (S1)
+ Thích hợp trung bình (S2)
+ Kém thích hợp (S3)
Trong bậc không thích hợp được chia làm 2 lớp:
+ Không thích hợp hiện tại (N1)
Trang 24+ Không thích hợp vĩnh viễn (N2)
Trong lớp phụ chia ra các đơn vị đất thích hợp
Như vậy, theo phương pháp đánh giá của FAO vừa có thể phân hạng đất đai ở mức độ khái quát vừa phân hạng được ở mức độ chi tiết cho một vùng cây chuyên canh
* Đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ)
Ở Liên Xô cũ, đánh giá đất đai bắt đầu xuất hiện từ trước thế kỷ XIX, cho đến những năm 60 của thế kỷ này thì việc phân hạng và đánh giá đất đai mới được quan tâm và tiến hành trên cả nước theo phương pháp phân loại đất theo phát sinh
Cơ sở của phương pháp này là theo học thuyết phát sinh đất của nhà bác học Nga Docutraep (1846 - 1903) đưa ra năm 1883, bao gồm 3 bước:
- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên)
- Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp với yếu tố khí hậu, độ ẩm, địa hình …)
- Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai) Đây là phương pháp quan tâm chủ yếu đến khía cạnh tự nhiên của đất đai, chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất đai
Quan điểm đánh giá đất của Docutraep áp dụng phương pháp cho điểm các yếu tố đánh giá trên cơ sở thang điểm đã được xây dựng thống nhất Dựa trên quan điểm khoa học của ông, các học trò của ông đã bổ sung hoàn thiện dần phương pháp này và phương pháp đánh giá đất của ông đã được thừa nhận và phổ biến rộng rãi ra các nước đặc biệt là những nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam
Tuy nhiên phương pháp này còn có một số hạn chế như quá đề cao khả năng tự nhiên của đất hay không có khả năng dung hoà quy luật tối thiểu với
Trang 25phương pháp tổng hợp các yếu tố riêng biệt… Mặt khác phương pháp đánh giá đất đai cho điểm cụ thể chỉ đánh giá được đất đai hiện trạng mà không đánh giá được đất đai trong tương lai, tính linh động kém vì các chỉ tiêu đánh giá đất đai ở các vùng cây trồng khác nhau là khác nhau do đó không thể chuyển đổi việc đánh giá đất đai giữa các vùng với nhau
1.2.1.2 Nghiên cứu về sử dụng đất nông lâm nghiệp
Từ những thế kỷ trước, khoa học về đất đã được các nước phát triển bắt đầu quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu trên lĩnh vực này liên tục phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng Những thành tựu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả Mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh, đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn (Conklin H, C, 1957) Gần đây, du canh vẫn còn được vận dụng trên các rừng Vân sam ở Bắc Âu (Cox K, và Atlinss, 1979; Ruddle K, và Manshard W,, 1981) Loại hình quảng canh và du canh trên toàn thế giới chiếm tới 45% diện tích đất nông nghiệp (FAO, 1980…) Du canh còn đang được xem xét như một góc nhìn để quản lý tài nguyên rừng, trong đó có đất đai được luân canh nhằm khai thác năng lượng và vốn dinh dưỡng của hệ thực vật - đất của hiện trường canh tác (Dẫn theo Nguyễn Văn Hùng, 2002), [5] Tuy nhiên, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng bởi sự phí phạm về sức người, tài nguyên đất đai, nguyên nhân chính gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá xảy ra nghiêm trọng
Phương thức Taungya được ra đời sau phương thức du canh ở vùng nhiệt đới (Blanford H.R, 1958) Đây là phương thức được Pankle U, đề xuất năm 1806, theo đó đã trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày vào rừng Tếch (Tectona grandis) chưa khép tán Sau này, hệ thống Taungya cải tiến dần và được coi như là một hệ thống sử dụng đất có hiệu quả cả về kinh tế lẫn môi trường sinh thái trên thế giới (Nair P,K,R, 1987)
Trang 26Phương thức Nông - Lâm kết hợp (NLKH) được King S, (1977) đưa ra thay thế phương thức Taungya ở Myanmar trên điều kiện đất dốc đồi núi Đây
là phương thức sử dụng đất hợp lý theo một hệ canh tác: trồng cây nông nghiệp xen với cây lâm nghiệp và cây làm thức ăn gia súc trên cùng một khoảnh đất (Landgreen và Raintree T,B,, 1983; King S,, 1979; Hurley, 1983; Nair P,K,R,, 1989; Chun K,L, 1991, (Dẫn theo Nguyễn Văn Hùng, 2002), [5] Tuy nhiên, ở mỗi nơi, mỗi châu lục việc áp dụng phương thức này có khác nhau, ví dụ: Châu Á, trồng xen cây nông nghiệp dưới tán rừng mới trồng trong mấy năm đầu; Newzealand và Australia, dưới dạng rừng và đồng cỏ; Châu Phi và Châu Mỹ la tinh, dưới dạng trồng xen rừng phòng hộ, cây lấy củi
và cây nông nghiệp,
Mặt khác, nhu cầu lương thực của con người ngày càng gia tăng, theo dự đoán của FAO vào năm 2025 nhu cầu sẽ xấp xỉ 4,5 tỷ tấn (FAO, 1985), [30], cùng với đó là nhiều vấn đề về môi trường cần phải giải quyết Một trong những cơ sở khoa học để giải quyết vấn đề này là đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai cho các mục tiêu sử dụng bền vững Đã có nhiều nghiên cứu thành công trong lĩnh vực này như: xác định được hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững của Trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mindanao - Philipin năm 1970, xây dựng được 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc đó là mô hình SALT1, SALT2, SALT3, SALT4 Đây là những mô hình tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực - kỹ thuật canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi trên đất dốc (Dẫn theo Nguyễn Xuân Quát, 1996), [14] Ngoài ra, mỗi quốc gia còn nghiên cứu và đề xuất các mô hình thích ứng riêng như: ở Ấn Độ, phương thức sử dụng đất chủ yếu
là mô hình trồng xen giữa các loài cây công nghiệp, lương thực, gỗ, tre nứa theo hệ thống nông lâm kết hợp được bố trí rất khoa học và chặt chẽ có xem xét đến điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể nơi gây trồng Ở Inđônêxia, Công ty
Trang 27Lâm nghiệp nhà nước chọn đất và hướng dẫn người dân trồng cây nông - lâm nghiệp, sau hai năm nông dân sử dụng sản phẩm nông nghiệp và bàn giao lại rừng cho Công ty, mô hình làng lâm nghiệp “Ladang” rất được chú ý
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1 Nghiên cứu về đánh giá đất đai
Đánh giá tiềm năng đất đai trong Lâm nghiệp mới được nghiên cứu những năm gần đây Từ năm 1991 đến 1995 đề tài cấp nhà nước: “Đánh giá tiềm năng sản xuất lâm nghiệp và hoàn thiện phương pháp điều tra lập địa” của Đỗ Đình Sâm và cộng sự đã phân chia thành 4 nhóm đất khác nhau vì những đặc trưng rất khác biệt giữa các nhóm đất; cụ thể là nhóm đất vùng đồi núi, nhóm đất cát ven biển và nhóm đất ngập mặn sú vẹt, nhóm đất chua phèn Các tác giả đã xác định các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá cho từng nhóm đất và xây dựng được bản đồ tiềm năng sản xuất đất Lâm nghiệp cho 7 vùng kinh tế Lâm nghiệp trong cả nước tỷ lệ 1: 250.000 Kết quả trên ở mức độ vĩ
mô có tính chất định hướng (Đỗ Đình Sâm và cộng sự, 2005), [22]
Đánh giá đất đai dựa trên cơ sở lập địa được nghiên cứu ở Việt Nam từ những năm cuối của thập niên 60 của thế kỷ trước Những người đầu tiên giới thiệu, hướng dẫn, xây dựng phương pháp hoặc quy trình lập địa là những chuyên gia người Đức: Lehmann, Thomasius, Loschau và Schwanecker Đặc biệt Schwanecker đã cùng Viện Điều tra quy hoạch rừng xây dựng được hai công trình có ý nghĩa đó là “Quy trình điều tra lập địa cấp I” và “Phân vùng sinh trưởng ở nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa” (1974) Tuy nhiên, việc vận dụng quy trình trên còn nhiều hạn chế, chủ yếu chỉ mô tả điều kiện lập địa trong thiết kế trồng rừng (Ngô Đình Quế, 2010), [16]
Gần đây, Trectop (1978, 1985) và Đỗ Đình Sâm (1990) có đưa ra các bảng phân loại mới để áp dụng cho Việt Nam, có một số khác so với bảng phân loại lập địa ban đầu của trường phái Liên Xô (cũ) Trong đó, Đỗ Đình Sâm (1990) có đề nghị xác định mức độ thoát nước và mức độ khô hạn, mùa
Trang 28khô là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để phân chia lập địa rừng ở Việt Nam, Mức độ khô hạn được chia làm 3 cấp: Rất khô, khô, ẩm và ẩm thường xuyên dựa trên chế độ nhiệt ẩm, đai cao so với mặt biển, đặc điểm đất, địa hình
Từ năm 1991 đến 1995 đề tài cấp nhà nước: Đánh giá tiềm năng sản xuất lâm nghiệp và hoàn thiện phương pháp điều tra lập địa của Đỗ Đình Sâm
và cộng sự đã xác định hệ thống tiêu chuẩn phân chia dạng lập địa Tác giả đề xuất 3 nhóm yếu tố tham gia phân chia lập địa: Nhóm yếu tố thổ nhưỡng, nhóm yếu tố địa hình, nhóm yếu tố chế độ thoát nước và ngập nước (Dẫn theo Ngô Đình Quế, 2010), [16]
1.2.2.2 Nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp
Chế độ quản lý đất đai của nhà nước Việt Nam trước đây được đánh dấu bằng chính lịch sử phát triển của đất nước, từ triều đại nhà Hồ (thế kỷ thứ 15) với các chính sách hạn điền, đinh điền và quân điền Thời kỳ Pháp thuộc các nhà khoa học Pháp đã thực hiện các công trình nghiên cứu đánh giá SDĐ trên quy mô rộng lớn Giai đoạn năm 1955 - 1975, công tác điều tra, phân loại đất
đã được tổng hợp một cách có hệ thống trên phạm vi toàn miền Bắc và đã được thống nhất sau năm 1975 Việc phân loại đất đã đã được triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái Ngô Nhật Tiến (1986), Đỗ Đình Sâm (2001), Ngô Đình Quế (2009) Tuy nhiên, đây chỉ là những nghiên cứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất, điều tra phân loại đã không gắn liền với việc sử dụng đất
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu trong quản lý và SDĐ lâu bền được Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên đề xuất trong tài liệu “ Đất đồi núi Việt Nam thoái hoá và phục hồi”, các tác giả đã nêu rõ tính bền vững trong SDĐ đồi núi gồm 3 phương diện: sự bền vững kinh tế, bền vững môi trường và sự chấp nhận xã hội trong đó 5 thuộc tính cần được xem xét là tính sản xuất hiệu quả, tính an toàn, tính bảo vệ, tính lâu bền và tính chấp nhận
Trang 29Đồng thời tác giả đã đưa ra các biện pháp tổng hợp sử dụng hiệu quả đất đồi núi trên cơ sở sinh thái bền vững Tác giả tổng kết đưa ra hệ thống canh tác bền vững, hệ thống cây trồng SDĐ có hiệu quả, một số mô hình nông lâm kết hợp điển hình ở các tỉnh Lạng Sơn, Hà Giang, Yên Bái,
1.2.2.3 Nghiên cứu về một số loài cây rừng trồng
Lạng Sơn thuộc vùng sinh thái lâm nghiệp Đông Bắc bộ Trong “Danh mục Các loài cây chủ yếu trồng rừng theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp” (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2014), [2], gồm một số loài cây trồng chủ yếu
sau: Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla S.T.Blake) và các giống lai với Bạch đàn urô (Eucalyptus hybrid); Hồi (Illicium Verum Hook.f); Keo lai (Acacia
mangium x Acacia auriculiformis); Keo tai tượng (Acacia mangium Wild)
- Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla S.T.Blake):
Trong những năm 1985 một số kết quả nghiên cứu khảo nghiệm về loài
và xuất sứ Bạch đàn do Hoàng Chương, Hoàng Xuân Thuận (1978), Nguyễn Hoàng Nghĩa (1990 - 2000), Lê Đình Khả (1996) cho thấy Bạch đàn Urophylla là một trong các loài sinh trưởng tốt tại Việt Nam Nghiên cứu đất của Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Ngọc Bình (1985 - 1986) đã có những kết luận ban đầu về ảnh hưởng của rừng trồng Bạch đàn tới độ phì đất (Dẫn theo Ngô Đình Quế, 2010), [16] Khi đánh giá năng suất rừng trồng Bạch đàn urophylla trên 3 loại đất khác nhau ở khu vực Tây Nguyên, Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2004) cũng đã có nhận xét trên đất xám granit ở An Khê và K‟Bang rừng trồng Bạch đàn urophylla 5 tuổi có thể đạt từ 20 - 24 m3/ha/năm, trên đất nâu
đỏ phát triển trên macma axit ở Mang Yang 6 tuổi chỉ đạt 2 m3/ha/năm, trên đất bazan thoái hóa ở Pleiku sau 4 - 5 tuổi chỉ đạt 11 m3/ha/năm (Dẫn theo Ngô Đình Quế, 2010), [16]
Hiện nay, diện tích trồng Bạch đàn uro đang được mở rộng ở nhiều nơi
và cho năng suất rất khác nhau, nhiều nơi trồng năng suất thấp hiệu quả kinh
Trang 30doanh rừng không cao Vì vậy, đòi hỏi phải xác định vùng trồng thích hợp cũng như tiêu chuẩn lựa chọn đất trồng và kỹ thuật phù hợp
- Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis)
Những năm gần đây, công tác nghiên cứu cải thiện giống đã đạt được những thành tựu đáng kể, có nhiều giống đã được công nhận là giống Quốc gia và tiến bộ kỹ thuật như các giống Keo lai: BV5, BV10, BV16, Lê Đình Khả và Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu lai nhân tạo thành công cho các loài Keo và tạo ra được hàng loạt các tổ thành lai rất có triển vọng
Nghiên cứu sinh trưởng của Keo lai trồng trên hai loại đất khác nhau ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) cho thấy mặc dù được áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như nhau, nhưng trên đất nâu
đỏ Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù sa cổ (Dẫn theo Ngô Đình Quế, 2010), [16]
Năm 2004, Nguyễn Trọng Bình và một số tác giả khác đã lập biểu sinh trưởng và sản lượng tạm thời cho rừng Keo lai trồng thuần loài trên phạm vi toàn quốc Rừng Keo lai được chia thành 4 cấp đất theo chiều cao cây Với mỗi biểu cấp đất lập 1 biểu quá trình sinh trưởng
- Keo tai tượng (Acacia mangium Wild)
Nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1998 - 2000) ở vùng Trung tâm rừng trồng Keo tai tượng 8 tuổi mật độ 930 - 1.100 cây/ha cho thấy cùng loại đất (feralit đỏ vàng trên phiến thạch gnai-micachit) nhưng độ dày tầng đất khác nhau năng suất rừng khác hẳn nhau: ở Phù Ninh tầng đất mỏng (<50 cm) năng suất chỉ đạt 6 m3/ha/năm, ở Đoan Hùng (50 cm) đạt 15,7 m3/ha/năm, ở Tam Nông (80 cm) đạt 19 m3/ha/năm và Hàm Yên (>100 cm) đạt 25,7 m3/ha/năm Kết quả nghiên cứu ở vùng Đông Nam Bộ cũng cho thấy độ dày tầng đất và loại đất có ảnh hưởng lớn tới năng suất rừng: ở Bầu Bàng trên đất xám, tầng đất dày năng suất rừng 8 tuổi, mật độ 3 x 2 m đạt 16 - 22
Trang 31m3/ha/năm, còn ở sông Mây lớp đất mỏng hơn trên phiến thạch sét năng suất đạt 15 - 19 m3/ha/năm
Ngô Đình Quế và các cộng sự đã nghiên cứu phân hạng đất trồng rừng sản xuất một số loài cây chủ yếu ở các vùng trọng điểm đã đánh giá thích hợp cây trồng cấp vĩ mô trong đó có 3 loài cây Keo tai tượng, Keo lai và Bạch đàn u6 tại Phú Thọ bằng phần mềm đánh giá đất lâm nghiệp POLES cho thấy cả 3 loài % so với đất trống và đất trồng rừng là nhiều hơn cả, cả 3 loài > 50% (Ngô Đình Quế, 2010), [16]
1.2.3 Quan điểm sử dụng đất lâm nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng Mặt khác đất nông lâm nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng vào các mục đích khác Bởi vậy mục tiêu sử dụng đất nông lâm nghiệp ở nước ta là nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh, lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông lâm nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu tới môi trường
là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Do đó, đất nông lâm nghiệp cần sử dụng theo nguyên tắc “Đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”, mặt khác phải có quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể làm cơ sở thực hiện sử dụng có hiệu quả kinh tế, xã hội cao
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn của mình, đất đai đã trở thành cơ sở cần thiết cho sự sống hiện tại cũng như trong tương lai phát triển của con người, trước đây, khi dân số còn ít, việc khai thác đất đai để đáp ứng nhu cầu của con người là dễ dàng, con người chưa làm ảnh hưởng lớn đến tài nguyên đất Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi đó nhu cầu
về các sản phẩm từ đất đai của con người ngày càng tăng Một vài thập kỷ trở
Trang 32lại đây, do sức ép từ sự gia tăng dân số, nhu cầu của quá trình đô thị hóa và phát triển các ngành kinh tế đặc biệt là ở các nước đang phát triển đã gây áp lực rất lớn đối với đất đai đặc biệt là đất nông lâm nghiệp Vì vậy, sử dụng đất nông lâm nghiệp ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế,
xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất trong nông lâm nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất
Mục tiêu của nông lâm nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường Nông lâm nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng vật nuôi kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng một cách thống nhất Nông lâm nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không liên tục hủy diệt sự sống trên đất
1.3 Nhận xét chung
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới về đánh giá đất, phân hạng đất đai, lập địa đã được triển khai tương đối toàn diện và có quy mô lớn, có cơ sở khoa học và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển rừng, mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần phát triển và ổn định kinh tế - xã hội
Ở nước ta các nghiên cứu về đánh giá đất, phân hạng đất đai đối với đất rừng trồng được đặc biệt được quan tâm Một số nghiên cứu về các loài cây rừng trồng trên các loại đất khác nhau, công tác điều tra đánh giá lập địa đã giúp xác định được loài cây trồng, nghiên cứu sinh trưởng của cây, dự báo
Trang 33được năng suất rừng trồng và hiệu quả kinh tế - xã hội, ảnh hưởng của rừng đến môi trường sống
Văn Quan là huyện có tiềm năng lâm nghiệp rất lớn, với 85% diện tích
là rừng núi Việc xác định điều kiện lập địa thích hợp cho trồng rừng nói chung là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng để nâng cao năng suất rừng trồng Dựa trên quan điểm sử dụng đất lâm nghiệp bền vững như:
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất và nước
- Có hiệu quả lâu bền
- Được xã hội chấp nhận
Những quan điểm trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững, nếu
sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc này thì đất đai được đảm bảo cho phát triển nông lâm nghiệp bền vững
Từ trước tới nay, các nghiên cứu khoa học về đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp rất ít và chưa có ý nghĩa thực tiễn trong khi việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp là hết sức cần thiết nhằm phát triển nhanh hơn và bền vững hơn nền kinh tế nông lâm nghiệp của huyện
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Thực trạng các loại hình sử dụng đất lâm nghiệp chính của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên phạm vi hành chính của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn Trong đó chọn 3 xã điểm đại diện cho 3 vùng cây lâm nghiệp tập trung chủ yếu của huyện là xã: Đồng Giáp, Hữu Lễ, Văn An
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, nguồn nước, tài nguyên đất
- Điều kiện kinh tế - xã hội: dân số, lao động, việc làm, trình độ lao động, trình độ phát triển các ngành kinh tế…
- Phân tích, đánh giá những thuận lợi và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sản xuất lâm nghiệp
2.3.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
- Hiện trạng sử dụng đất huyện Văn Quan;
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Văn Quan: + Hiện trạng tài nguyên rừng;
+ Tình hình giao rừng, giao đất lâm nghiệp;
+ Đánh giá thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện
Trang 352.3.3 Đánh giá hiệu quả loại hình sử dụng đất lâm nghiệp huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Lựa chọn các loại hình sử dụng đất chủ yếu để đánh giá hiệu quả trên cả
3 mặt:
2.3.3.1 Hiệu quả kinh tế
Đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế của loại hình sử dụng đất lâm nghiệp, nông lâm kết hợp (năng suất, sản lượng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, giá trị ngày công, hiệu quả đồng vốn…)
2.3.3.2 Hiệu quả xã hội
Đánh giá hiệu quả xã hội của loại hình sử dụng đất lâm nghiệp thông qua các tiêu chí: mức thu hút lao động, sử dụng lao động tạo việc làm, tăng thu nhập, trình độ dân trí, hiểu biết xã hội, phù hợp với năng lực nông hộ, được cộng đồng chấp nhận
2.3.3.3 Hiệu quả môi trường
Đánh giá hiệu quả về mặt môi trường của loại hình sử dụng đất lâm nghiệp thông qua các chỉ tiêu: bảo vệ nguồn nước, bảo vệ thảm thực vật, nâng cao đa dạng sinh học của các hệ sinh thái tự nhiên
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp tại huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
- Quan điểm và định hướng chung;
- Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Cách tiếp cận và phương hướng giải quyết vấn đề
Để đạt được mục tiêu của đề tài và nội dung đã đặt ra, cách tiếp cận của
đề tài và phương hướng giai quyết vấn đề như sau:
Trên quan điểm - kinh tế - xã hội - sinh thái - môi truờng, để giải quyết vấn đề, cách tiếp cận của đề tài là đa ngành, từ nghiên cứu điều kiện lập địa, thực trạng cây trồng, kết hợp giữa tư vấn của chuyên gia, cho đến kế thừa có
Trang 36chọn lọc kiến thức bản địa của người dân địa phương Từ đó, đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp tại huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn
Vùng 3 gồm các xã có địa hình núi cao, dốc: Hữu Lễ, Tri Lễ, Lương Năng, Tú Xuyên, Yên Phúc, Bình Phúc, Tràng Phái, Tràng Sơn Vùng 3 lựa chọn xã Hữu Lễ làm xã đại diện cho các KSDĐ chính
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Kế thừa có chọn lọc những tài liệu điều tra cơ bản như điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội, tài liệu về thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch 3 loại rừng
- Kế thừa các số liệu về hiện trạng rừng, số liệu điều tra về tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu
- Kế thừa các tài liệu, báo cáo quy hoạch sử dụng đất, báo cáo rà soát quy hoạch 3 loại rừng
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu những thông tin, số liệu khoa học đã
có phục vụ thiết thực nội dung nghiên cứu của đề tài
2.4.4 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Sử dụng phương pháp điều tra nông hộ với sự tham gia của người dân để thu thập các thông tin đối với các loại hình sử dụng đất khác nhau Với các công cụ như phỏng vấn, thảo luận, đi hiện trường để thu thập thông tin Lập
Trang 37phiếu điều tra phỏng vấn theo dạng câu hỏi định hướng và bán định hướng; kết quả tập hợp từ phiếu điều tra Nội dung điều tra chủ yếu là: diện tích, đầu
tư và thu nhập cho hoạt động sản xuất trên rừng và đất rừng, mức độ thích hợp của các cây trồng, đầu tư, thu nhập với dung lượng quan sát là 90 phiếu
2.4.5 Phương pháp điều tra thực địa
Đối với các loại hình trồng rừng sản xuất (gỗ lớn, gỗ nhỏ) Khảo sát thực địa, lập ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình tạm thời trên diện tích đất lâm nghiệp của các kiểu sử dụng đất điển hình tại các xã để thu thập số liệu Dung lượng mẫu điều tra mỗi dạng sử dụng đất lập 03 OTC, diện tích 500 m2 đối với lô rừng trên 3 năm tuổi để tính toán trữ lượng Đo đếm Hvn, D1.3 của 20 cây trội/3 OTC
- Đo đường kính D1.3 bằng thước đo vanh có độ chính xác đến 1mm
- Đo chiều cao vút ngọn Hvn bằng đo bằng thước sào có khắc vạch đến
cm Kết quả ghi vào bảng sau:
Loại hình kinh doanh: Vị trí:
OTC: Ngày điều tra:
TT cây Chu vi
Chỉ tiêu điều tra Ghi chú
H vn (m) D 1,3 (cm)
2.4.6 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo, xin ý kiến tư vấn của các chuyên gia về hướng đi và các phương pháp thực hiện nội dung của đề tài Ý kiến của cán bộ lâm nghiệp, người dân về kinh nghiệm hay kiến thức bản địa trong kinh doanh các loài cây,
2.4.7 Công tác nội nghiệp
- Tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng Hvn, D1.3 theo phương pháp bình quân cộng
- Dự đoán trữ lượng theo biểu cấp đất và biểu điều tra sinh trưởng (Biểu sản lượng)
Trang 38- Tính toán hiệu quả kinh tế được xác định qua phân tích về chi phí và thu nhập động trong từng loại hình nghiên cứu cụ thể
- Về chi phí: tính toán đầy đủ theo giá hiện hành về các nội dung công việc từ khảo sát thiết kế - trồng - chăm sóc - bảo vệ và đến khi thu hoạch sản phẩm, bao gồm tập hợp cả chi phí về thuế và lãi suất
- Về thu nhập: tính giá trị sản phẩm thu được trong từng mô hình, bao gồm cả sản phẩm khai thác chính cuối chu kỳ
- Về giá cả sản phẩm được tập hợp theo giá trị tại thời điểm nghiên cứu
- Khối lượng sản phẩm sẽ được dự tính trên cơ sở khả năng sinh trưởng
cụ thể của từng mô hình bằng các phương pháp điều tra sinh trưởng và dự đoán sản lượng theo tuổi khai thác trong chu kỳ kinh doanh
Dựa trên cơ sở số liệu về chi phí và thu nhập cho mỗi đối tượng nghiên cứu, sử dụng các chỉ tiêu sau để phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế là:
+ Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng thực Net Present Value (NPV)
(1)
Trong đó: Bt: Thu nhập của phương thức ở năm t,
Ct: Chi phí của phương thức ở năm t,
r: Mức lãi suất tính toán của vốn đầu tư, t: Chỉ số năm trong chu kỳ kinh doanh,
+ Chỉ tiêu tỉ suất thu nhập - chi phí Benefit to Cost Ratio (BCR),
n
NPV = (Bt – Ct)(1+ r)-t = 0 thì IRR = r
t=0
Trang 39- NPV thu nhập ròng; Nếu NPV>0, sản xuất có lãi
NPV<0, sản xuất bị lỗ
- BCR tỷ lệ thu nhập trên chi phí:
Nếu BCR>1, sản xuất có lãi BCR<1, sản xuất bị lỗ
- IRR là tỷ suất lợi nhuận
- Kết quả điều tra, phỏng vấn được tổng hợp vào những bảng, biểu:
- Tổng hợp viết báo cáo
+ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
- Tạo công ăn việc làm: Tính số công lao động sử dụng ở các KSDĐ cho
1 ha và tính được tiền công cho cả chu kỳ kinh doanh qua phiếu điều tra, Mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tăng thu nhập của mỗi KSDĐ lâm nghiệp trên địa bàn huyện
- Nâng cao nhận thức cho người dân địa phương: Qua phiếu điều tra nông hộ thu thập thông tin về trình độ dân trí, về mức độ hiểu biết và mức độ quan tâm đến công tác gây trồng và bảo vệ rừng
- Hiệu quả giải quyết việc làm: Hiệu quả giải quyết việc làm chính là thể hiện số ngày công lao động đầu tư vào mỗi loại hình sử dụng đất Mô hình nào có số ngày công lao động lớn hơn thì có hiệu quả hơn
- Cách xác định mực độ chấp nhận của người dân:
+ Trên thực tế chúng ta thấy rằng, một mô hình sử dụng đất có được lựa chọn hay không, ngoài việc đạt hiệu quả kinh tế, bảo vệ đất thì điều quan trọng là phải được người dân chấp nhận Mức độ chấp nhận của người dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nhận thức của người dân, trình độ dân trí, phong tục tập quán, khả năng đầu tư, trình độ khoa học kỹ thuật và thị trường…tuy nhiên một mô hình muốn được chấp nhận thì phải đáp ứng được 2 yêu cầu: + Khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt tức là mô hình có sản phẩm đáp ứng được nhu cầu hiện tại của người dân;
Trang 40+ Khả năng đầu tư và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: mô hình nào có mức độ đầu tư thấp hơn, dễ làm hơn thì sẽ được người dân chấp nhận và ứng dụng rộng rãi;
+ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Đánh giá hiệu quả môi trường của các KSDĐ là việc xem xét thực trạng
và nguyên nhân gây ra sự suy thoái môi trường nhằm loại trừ các KSDĐ có khả năng gây ra tác động xấu đến môi trường sinh thái Các tác động ảnh hưởng tới môi trường cần phân tích tập trung vào một số vấn đề sau:
- Nâng cao khả năng che phủ của rừng; Tỷ lệ đất chưa sử dụng đưa vào trồng rừng
- Đặc điểm của đất dưới rừng như độ ẩm đất, các chỉ tiêu lý tính của đất, được xác định qua phiếu điều tra
Các số liệu thống kê được xử lý bằng chương trình phần mềm Microsoft, Excel 2007, soạn thảo trình bày văn bản bằng chương trình phần mềm Microsoft Word 2007 Kết quả được trình bày bằng các bảng biểu số liệu, bản
đồ và biểu đồ Trên cơ sở đó, tổng hợp, phân tích để rút ra kết luận