1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ đề CƯƠNG ôn THI môn KINH tế QUÂN sự SAU đại học

35 237 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 314 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU 1: Hãy phân tích làm rõ sự cần thiết khách quan bảo đảm kinh tế cho quốc phòng. Ý nghĩa vấn đề nghiên cứu?Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tổng thể các quá trình, các biện pháp được Nhà nước và nhân dân tiến hành nhằm thoả mãn mọi nhu cầu về phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính, nhân lực cho quốc phòng sẵn sàng ứng phó thắng lợi với các tình huống an ninh truyền thống và phi truyền thống để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trang 1

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1 Sự cần thiết khách quan

* Cơ sở lý luận

- Xuất phát từ mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng.

Kinh tế và quốc phòng là hai hoạt động thuộc hai lĩnh vực nhưng không mâu thuẫn đối lập nhau,

mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất biện chứng với nhau Chủ nghĩa Mác - Lêninkhông chỉ khẳng định trình độ phát triển sản xuất là nhân tố quyết định trong việc phát triển xã hội, màcòn nhấn mạnh vai trò quyết định của nó trong chiến tranh Kinh tế là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp,quyết định đến thành bại của quân đội, qui mô, cơ cấu tổ chức của các lực lượng vũ trang, đến hình thức

và phương thức tiến hành chiến tranh, đến sự phát triển của nghệ thuật quân sự

Xem xét quan hệ giữa bạo lực và kinh tế, Ph.Ăngghen cho rằng, bạo lực không đơn thuần làhành vi của ý chí, mà đòi hỏi phải có tiền đề để thực hiện, đó là các công cụ, trong đó công cụ hoànhảo hơn sẽ thắng công cụ không hoàn hảo bằng; nghĩa là kẻ sản xuất ra công cụ bạo lực hoàn hảohơn… phải thắng kẻ sản xuất ra công cụ bạo lực không hoàn hảo bằng Điều đó cho thấy, thắng lợicủa bạo lực phụ thuộc vào việc sản xuất vũ khí, và việc sản xuất vũ khí lại dựa vào sản xuất, nghĩa

là dựa vào “lực lượng kinh tế”, vào “tình hình kinh tế”, và phương tiện vật chất mà bạo lực chi phối;xét đến cùng thì tiền phải do sản xuất kinh tế làm ra; vậy một lần nữa, bạo lực lại do tình hình kinh

tế quyết định, kinh tế cung cấp cho bạo lực phương tiện để tạo ra và duy trì công cụ bạo lực

Ph.Ăngghen đưa ra kết luận: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn làchính ngay quân đội và hạm đội” Phát triển luận điểm đó, V.I.Lênin cho rằng “ trong bất cứ cuộcchiến tranh nào, kinh tế quyết định”, đặc biệt trong chiến tranh hiện đại “tổ chức kinh tế có một ýnghĩa quyết định” Như vậy, kinh tế là nhân tố quyết định qui mô, tổ chức biên chế lực lượng vũtrang, phương thức tiến hành chiến tranh

Tuy nhiên kinh tế quyết định đến quốc phòng, chiến tranh không phải trực tiếp mà gián tiếpthông qua tiềm lực kinh tế quân sự để tạo thành sức mạnh quân sự Điều này cũng có nghĩa là khôngphải có kinh tế mạnh là có quốc phòng mạnh Để phục vụ cho quốc phòng, nhất là khi chiến tranhxảy ra phải thông qua tổng thể các biện pháp bảo đảm kinh tế thì mới đáp ứng yêu cầu của hoạtđộng quốc phòng, chiến tranh

- Tư tưởng HCM, quan điểm của Đảng ta về bảo đảm kinh tế cho QP và chiến tranh

Thứ nhất, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là vấn đề cốt lõi của việc chuẩn bị thực lực kinh

tế kháng chiến.

Theo quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn kháng chiến lâu dài phảichuẩn bị đầy đủ, qua nhiều giai đoạn gian lao; đặc biệt, trong điều kiện vừa kháng chiến, vừa kiến

quốc, thì “kinh tế là một ngành hoạt động tối quan trọng”, “một mặt trận rất quan trọng” Vì thế,

muốn kháng chiến thắng lợi “không thể không chú ý đến vấn đề động viên kinh tế ” Để thực hànhđộng viên kinh tế, phải khéo léo huy động mọi lực lượng của cả nước, sao cho “người có sức giúpsức, có tiền giúp tiền, có của giúp của”1 cho kháng chiến Do thực hiện tốt động viên kinh tế màchúng ta đã huy động hết thảy nhân lực, vật lực, tài lực cho kháng chiến và kiến quốc Nhờ đó thựclực nền kinh tế kháng chiến được bổ sung, tăng cường một cách nhanh chóng, không chỉ góp phầnquan trọng làm lên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà còn tạo tiền đề chuẩn bị

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H 2002, tr 477.

Trang 2

động viên kinh tế trong kháng chiến chống Mỹ Điều đó cho thấy, kinh tế và động viên kinh tế làvấn đề cốt lõi của nền kinh tế kháng chiến.

Thứ hai, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là chủ động chuẩn bị sớm nền kinh tế để vừa

phục vụ kháng chiến trước mắt, vừa sẵn sàng đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau khi kháng chiến thắng lợi

Thứ ba, toàn dân kháng chiến là đặc trưng tiêu biểu của bảo đảm kinh tế trong chiến tranh

chiến tranh giải phóng dân tộc

Thứ tư, tiết kiệm và tăng gia sản xuất là một sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và

Đảng ta để bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong điều kiện chiến tranh

Thứ năm, trong điều kiện chiến tranh, để bảo đảm kinh tế phải động viên toàn diện các

ngành, các lĩnh vực, trong đó nhấn mạnh động viên nhân lực, giao thông, công nghệ (công nghiệp), nông nghiệp, tài chính và tiết kiệm.

Từ những vấn đề trên cho thấy, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng đã trở thành chủ trương chiến

lược của Đảng ta không chỉ trong đấu tranh chống xâm lược, mà cả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Ngày nay, vấn đề này đã được Đảng ta kế thừa, phát triển lên trình độ mới, phù hợp, hiệu quảhơn trong tình hình mới

- Xuất phát từ vai trò của kinh tế đối với chiến tranh ngày càng tăng lên

Chiến tranh càng hiện đại nhu cầu kinh tế cho chiến tranh càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Do đó để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đó, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có sự chuẩn bị kinh tế cho chiến tranh.

Điều đó được thể hiện trên các nội dung sau:

Đặc điểm của chiến tranh hiện đại là quy mô tuy không lớn nhưng mức tiêu hao rất lớn vềnhân lực, vật tư, tài chính Chiến tranh càng hiện đại, khối lượng sử dụng và tiêu hao vật chất, kỹthuật càng lớn Chẳng hạn:

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, để sản xuất cho chiến tranh “Mỹ đã phải động viên hơn60% Liên Xô đã động viên tới 78% Nước Đức động viên toàn bộ khả năng sản xuất công nghiệp

Với mức tiêu hao lớn như vậy nếu chỉ dựa vào mức độ dự trữ nóng và năng lực của côngnghiệp quốc phòng thì không thể đáp ứng được Ngay cả các nước có tiềm lực kinh tế và quốcphòng mạnh, có khả năng cho phép dự trữ lớn cũng không thể dự trữ sẵn trong kho một khối lượngvật chất đủ bù đắp tiêu hao trong thời gian dài của chiến tranh Thông thường chỉ chuẩn bị ở mức tối

ưu cho phép từ 3 đến 6 tháng tùy khả năng của từng nước mà mức dự trữ khác nhau Hết thời gian

đó nền kinh tế quốc dân, trong đó có công nghiệp dân dụng phải cung ứng kịp thời cho nhu cầu tiếptheo của chiến tranh Điều đó có nghĩa là tùy theo quy mô chiến tranh mà tiến hành động viên cục

bộ hoặc toàn bộ nền kinh tế để tập trung sản xuất các loại sản phẩm quân sự cho chiến tranh Nếuchỉ dựa vào mức dự trữ trong thời bình mà không quan tâm hoặc không xác định kế hoạch để độngviên kinh tế thì khó có thể tồn tại ngay từ ngày đầu chiến tranh chứ chưa nói đến duy trì động viêntrong các giai đoạn tiếp theo

2 “Chương 9: Xây dựng động viên quốc phòng”, Giáo trình chiến lược học phát triển quốc phòng, Nxb Đại học Quốc phòng Trung Quốc, Bắc Kinh,

1992, Phòng Khoa học kinh tế - Quân sự, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng - Kinh tế dịch, tr 19.

Trang 3

* Thực tiễn bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở một số nước trên thế giới

Thực tiễn cho thấy, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng và chiến tranh được tiến hành ngay từ khi

xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng Từ nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủnghĩa đến nhà nước xã hội chủ nghĩa đều phải bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, chỉ khác nhau ởmục đích bảo đảm

- Trong xã hội nô lệ và phong kiến, nguồn bảo đảm kinh tế cho quốc phòng được lấy từ cácsản phẩm và tiền thuế của khu vực nông nghiệp và các xưởng thủ công; quy mô bảo đảm chưa lớn,tính chất chưa phức tạp;

- Đến chủ nghĩa tư bản, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển của vũ khí,phương tiện kỹ thuật quân sự làm cho quy mô và tính chất của chiến tranh phát triển, theo đó là yêucầu bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, chiến tranh tăng nhanh Để bảo đảm kinh tế cho quốc phòng,nhất là khi chiến tranh, nhà nước tư sản thường tiến hành các biện pháp chủ yếu sau:

Một là, xây dựng các đạo luật bảo đảm kinh tế cho quốc phòng như: luật nghĩa vụ quân sự;

luật dự bị động viên; luật ngân sách… Theo đó là bộ máy đồ sộ từ trung ương đến cơ sở để tổ chứcđộng viên kinh tế cho chiến tranh

Hai là, coi trọng hiện đại hoá quân đội, chủ động chuẩn bị tiềm lực kinh tế quân sự đáp ứng

nhu cầu quốc phòng, chiến tranh

Ba là, thực hiện quân sự hoá nền kinh tế, huy động tối đa năng lực sản xuất quân sự, mở rộng

quy mô, cơ cấu sản xuất quân sự đáp ứng yêu cầu chiến tranh

Bốn là, tăng ngân sách quốc phòng, kể cả khi chiến tranh lạnh đã kết thúc

Năm là, chủ động dữ trữ chiến lược cơ sở vật chất, tài chính, nhân lực cho quốc phòng và

chiến tranh

Sáu là, thông qua các khối quân sự, liên minh quân sự để tăng cường khả năng bảo đảm kinh

tế cho quốc phòng, chiến tranh

- Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở Liên Xô

Sau cách mạng tháng Mười, trước nguy cơ xâm lược, V.I.Lênin cho rằng, nếu kinh tế khôngđược chuẩn bị sớm, từ trước thì việc tiến hành chiến tranh chống xâm lược là điều không thể Vìtheo V.I.Lênin: “Cuộc chiến tranh cách mạng này cần được chuẩn bị lâu dài, nghiêm túc, bắt đầuphát triển kinh tế…”3 Trong nhiều trường hợp, V.I.Lênin khẳng định kinh tế có vai trò quyết định

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, theo đó để chuẩn bị quốc phòng, ngăn chặn chiến tranh phải

“bắt đầu phát triển kinh tế” Với nhận thức đó, V.I.Lênin đã lãnh đạo thành công việc khôi phục nềnkinh tế nước Nga, khẩn trương chuẩn bị kinh tế quân sự để tiến hành chiến tranh vệ quốc, góp phầnđập tan mưu đồ xâm lược, thôn tính của chủ nghĩa đế quốc đối với nước Nga Xô Viết, bảo vệ vữngchắc Tổ quốc

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Liên Xô và sự nỗ lực của nhân dân, chỉ trong thời gianngắn từ 1917-1937 Liên Xô đã trở thành nước công nghiệp hiện đại, trong đó công nghiệp quốcphòng có khả năng trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại đáp ứng yêu cầu của cáclực lượng vũ trang

Trước nguy cơ chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô đã thi hành những biện pháp đặc biệt,tăng thêm quân số của lực lượng vũ trang, xây dựng thêm các sư đoàn không quân, thiết giáp, pháobinh và hạm đội; tổ chức lại Hồng quân; xây dựng mới nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng Đếnnăm 1940, số lượng nhà máy sản xuất máy bay tăng 74% so với năm 1937 Năng lực sản xuất máybay, xe thiết giáp có công suất cao hơn Đức 1,5 lần Nhà máy sản xuất súng bộ binh, pháo, đạn vượt

xa Đức Liên Xô đã thi hành nhiều biện pháp để động viên kinh tế cho chiến tranh, mở rộng hậu cần,nhất là hậu cần quân đội để đáp ứng nhu cầu của Hồng quân

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô đã ban hành nhiều sắc lệnh nhằm động viên mọinguồn lực để năng lực sản xuất và tiềm lực kinh tế, nhất là tiềm lực kinh tế quân sự , hướng mọi lực

3 V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 35, Nhà xuất bản Tiến Bộ, Mátxcơva - 1976, tr 481.

Trang 4

lượng, mọi phương tiện để bảo đảm tốt nhất, nhanh nhất cho Hồng quân Nhờ vậy, trong thời gianchiến tranh, Liên Xô đã sản xuất 134 ngàn máy bay, 103 ngàn xe tăng và pháo tự hành, 825 ngàn đạibác và súng cối; trong khi Đức chỉ sản xuất 79 ngàn máy bay, 54 ngàn xe tăng, 170 ngàn đại bác vàsúng cối.

- Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở một số nước ASEAN

Ngoài Việt Nam, Lào, Cămpuchia, hầu hết các nước ASEAN đều có sự bảo trợ quân sự của

Mỹ Mặc dù vậy, việc bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở các nước này vẫn được chính phủ quantâm Có thể tham khảo trên một số nội dung:

Một là, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng thông qua ngân sách quốc phòng (4-5% GDP) Với

nguồn ngân sách lớn, lại được Mỹ, Nhật hỗ trợ nên Thái Lan, MaLaixia, Inđônêxia, Myanma,Singapo đã xây dựng được tiềm lực quân sự mạnh, trong đó quân đội Thái Lan, Singapo với nhiềuquân binh chủng có vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự tương đối hiện đại

Malaixia, Inđônêxia, Myanma, Philippin đang chuyển quân đội từ lực lượng ứng phó với xungđột dân tộc và chống nổi dậy sang xây dựng quân đội có khả năng ứng phó với nguy cơ xâm lược.Ngoài bảo đảm từ ngân sách quốc phòng, quân đội các nước này còn có nguồn thu từ tổ hợp côngnghiệp quốc phòng thông qua xuất, nhập khẩu vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự, chuyển giaocông nghệ, nổi bật là Singapo, MaLaixia

Hai là, về phương thức bảo đảm kinh tế cho quốc phòng Kết hợp giữa hậu cần quân đội và cơ

chế thị trường Trong đó cơ chế thị trường chiếm tỷ trọng 60-79% Đây là phương thức bảo đảm cóhiệu quả trong thời bình

Ba là, ngoài ra, các nước này còn thường xuyên nhận được viện trợ quân sự thông qua trao

đổi, mua bán vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự với phương Tây và một số nước thuộc Liên Xô

cũ, Trung Quốc, Ân Độ…`

Tuy nhiên việc bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở các nước này còn hạn chế như: chưa xâydựng được nền quốc phòng toàn dân; chịu sức ép từ sự bảo trợ của Mỹ; quá nhấn mạnh cơ chế thịtrường nên khi đất nước chuyển sang trạng thái chiến tranh sẽ gặp khó khăn, nhất là động viên kinh

tế cho chiến tranh

- Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở Việt Nam

1 Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)

Trong kháng chiến chống Pháp, do nhận thức và đánh giá đúng vai trò của kinh tế và chuẩn bịtiềm lực kinh tế quân sự mà Đảng ta đã lãnh đạo thực hiện kết hợp chiến đấu với sản xuất, vừa đánhgiặc vừa tăng gia sản xuất Với đường lối “kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc Kháng chiến cóthắng lợi thì kiến quốc mới thành công Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắnglợi”, nên trong điều kiện kháng chiến, chúng ta đã xây dựng nhiều cơ sở sản xuất quốc phòng để sảnxuất vũ khí, phương tiện vật chất khác, đồng thời huy động tối đa tiềm lực kinh tế để tăng cườngthực lực quốc phòng Thực chất đây là quá trình chuẩn bị tiềm lực kinh tế quân sự cho kháng chiếntrường kỳ

2 Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)

Trong kháng chiến chống Mĩ, để bảo đảm kinh tế cho kháng chiến, tại Hội nghị Trung ươnglần thứ 11 (khóa III), Đảng ta chủ trương: chuyển hướng nền kinh tế và tăng cường quốc phòng chokịp với sự phát triển tình hình theo hướng kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và tăng cường quốcphòng, ra sức động viên lực lượng của miền Bắc chi viện cho miền Nam, tích cực phát triển kinh tếtheo từng vùng chiến lược, làm cho từng vùng có khả năng tự giải quyết phần lớn nhu cầu ăn, mặc,

ở, học, bảo vệ sức khỏe, tiêu dùng thiết yếu, phục vụ sản xuất, xây dựng và chiến đấu Nhờ thựchiện có hiệu quả chủ trương này, dù bị chiến tranh phá hoại của Mỹ tàn phá nặng nề, nhưng kinh tếmiền Bắc đã thể hiện sức mạnh ưu việt, không chỉ đứng vững mà còn phát triển nhiều mặt; cơ bảnkhắc phục thiếu thốn và yếu kém về vật chất, vũ khí, trang bị quân sự, vừa đáp ứng yêu cầu đánhthắng chiến tranh phá hoại, bảo vệ miền Bắc, vừa chi viện với mức độ ngày càng cao cho miềnNam; xây dựng và tăng cường tiềm lực mọi mặt, góp phần ổn định đời sống, làm tròn nhiệm vụ của

Trang 5

hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam

3 Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ 1975 đến nay

Sau khi đất nước thống nhất, cùng với việc hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định đời sống nhândân, trong điều kiện hoà bình, Đảng ta chủ trương thực hiện giảm quân số thường trực và ngân sách quốcphòng, điều chỉnh lại thế bố trí chiến lược về quân sự, quốc phòng trên phạm vi cả nước

Mặc dù thành tựu của thời kỳ đổi mới đã tạo thế và lực mới cho phát triển triển đất nước vàđiều kiện thuận lợi để chuẩn bị tiềm lực kinh tế quân sự, nhưng chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thùđịch đang đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” nhằm phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc củanhân dân ta, tiến tới xóa bỏ chế độ chính trị ở nước ta Vì thế, chuẩn bị tiềm lực kinh tế để bảo đảmkinh tế cho quốc phòng trong bối cảnh đó được đặt ra trực tiếp và thường xuyên hơn Để tạo thế và

lực mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XI chủ trương “Phát triển kinh tế - xã

hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng an ninh Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng

-an ninh, quốc phòng - -an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sáchphát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn”, trong đó “… phát triển kinh tế là trung tâm, là mộttrong những nhân tố quan trọng bảo vệ Tổ quốc…” và “xây dựng tiềm lực kinh tế của đất nước

vững mạnh là yếu tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc…” Điều đó cho

thấy, chúng ta đã nhận thức đúng, toàn diện, sâu sắc và biện chứng hơn vai trò của kinh tế và chuẩn

bị tiềm lực kinh tế để bảo đảm kinh tế cho quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ; là con đườngtất yếu để nước ta thoát nghèo và nguy cơ tụt hậu, giữ vững ổn định xã hội Đó còn là tiền đề nângcao tiềm lực kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc phòng Để có tiềm lực kinh tế mạnh, chúng ta vừađẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vừa hoàn thiện các yếu tố của chủ nghĩa xã hội với từngbước tích lũy tiềm lực khoa học và công nghệ, nhất là khoa học và công nghệ quân sự, trình độ tácchiến của lực lượng vũ trang, khi cần có thể nhanh chóng huy động và chuyển hóa thành thực lựcquốc phòng

Từ vấn đề trên cho thấy, chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta đều coi trọng và

nhấn mạnh vai trò của kinh tế, nhất là chuẩn bị kinh tế để bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, sẵn sàngứng phó với mọi tình huống

2 Ý nghĩa

- Về nhận thức lý luận về sự cần thiết, nội dung BĐKT, giải pháp bảo đảm kinh tế cho QP và

bổ sung, phát triển lý luận

- Về hành động thực tiễn: Quán triệt chủ trương của Đảng và tuyên truyền sâu rộng trongnhân dân; phát huy vai trò tham mưu của QĐ trong BĐKT cho QP

Trang 6

CÂU 2: Đảng ta chỉ rõ: “Sự kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng được tiến hành dưới nhiều hình thức và đã bước đầu mang lại kết quả” (Văn kiện ĐH VIII, tr.163,) Bằng kiến thực kinh tế quân sự, hãy phân tích làm rõ vấn đề trên trong bối cảnh hiện nay ?

1 Quan niệm về kết hợp kinh tế với quốc phòng

Kết hợp kinh tế với QP-AN ở nước ta là: hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước vànhân dân (dưới sự lãnh đạo của Đảng) trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động kinh tế, QP-AN trongmột chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương, thúc đẩy nhau cùngphát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụchiến lược là xây dựng CNXHvà BVTQ Việt Nam XHCN.Kết hợp phát triển kinh tế với tăng cườngcủng cố QP-AN được Đảng ta khẳng định là một nội dung quan trọng trong đường lối xây dựng vàBVTQ Việt Nam XHCN và được triển khai trên quy mô rộng lớn, toàn diện hơn Việc kết hợp pháttriển kinh tế với tăng cường củng cố QP-AN trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, bộ,ban ngành có bước chuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện, đã thu được nhiều kết quảquan trọng (VKDH8 ),

2 Phân tích vấn đề

* Đánh giá kết quả của hoạt động kết hợp…hiện nay.

- Về sự lãnh đạo của Đảng: Kết hợp kinh tế với quốc phòng luôn là một nội dung quan trọng trong

đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và được thể hiện trong tất cả các văn kiện của Đại Hội Đại biểu Đảngtoàn quốc; đặc biệt Hội nghị Trung ương 8 khoá IX , Khóa XI đã có nghị quyết về chiến lược BVTQ

- Về quản lý nhà nước: + Quốc Hội đã ban hành hàng loạt các luật, pháp lệnh liên quan đến

nhiệm vụ BVTQ và kết hợp KT với QP như: luật nghĩa vụ quân sự; luật sĩ qua, pháp lệnh dự bịđộng viên; pháp lệnh dân quân tự vệ (đã nâng lên thành luật năm 2009); pháp lệnh động viên côngnghiệp; pháp lệnh công nghiệp quốc phòng…

+ Chính Phủ cũng đã ban hành hàng loạt các Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện như:Nghị định số 15/2001/NĐ-CP ngày 01/5/2001 của Chính phủ về Giáo dục Quốc phòng; Nghị định119/2004?NĐ-CP ngày 11/5/2004 của Chính Phủ về công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang

bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ và địa phương…

- Về giáo dục quốc phòng toàn dân: Công tác giáo dục quốc phòng đã được triển khai trêncác đối tượng Giáo dục quốc phòng là một nội dung bắt buộc trong chương trình đào tạo của cáctrường trung học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học; là một nội dung bồi dưỡng kiến thức của 5đối tượng Nhờ đó ý thức về nhiệm vụ quốc phòng và năng lực tổ chức thực hiện của các tầng lớpnhân dân, nhất là cán bộ, đảng viên được nâng lên một bước

- Trong triển khai thực hiện các các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, QP –AN

+ Trong triển khai thực hiện các các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội:

Phát triển nền kinh tế thị trường… đã tạo cơ sở cho xây dựng tiềm lực quốc phòng - an ninhbằng chính khả năng của nền kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã gắn kết với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thếtrận an ninh nhân dân, tạo điều kiện tốt hơn cho việc tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, từngbước hiện đại hóa cơ sở vật chất, phương tiện, vũ khí, khí tài cho quốc phòng - an ninh

Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đã gắn kết 2 nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh Nhiều công trình trọng điểm quốc gia đã thể hiệnđược kết hợp kinh tế với quốc phòng như: Thuỷ điện sông Đà; đường HCM; Phát triển chương trình cơkhí trọng điểm quốc gia; trong ngành đóng tàu; bưu chính viễn thông; lọc dầu Dung Khuất Quảng ngãi…

+ Trong nhiệm vụ quốc phòng-an ninh: Tổ chức sắp xếp lại quân đội theo hướng tinh, giảm

“xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; Chú trọng đầu tư chocông nghiệp quốc phòng, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng nòng cốt; sử dụng quân đội tham giaphát triển kinh tế-xã hội; đặc biệt là phát triển các khu kinh tế quốc phòng, các khu quốc phòng kinh

tế, tham gia phát triển kinh tế-xã hội dưới nhiều hình thức

Trang 7

Tiềm lực quốc phòng - an ninh tiếp tục được tăng cường; an ninh chính trị và trật tự an toàn

xã hội được giữ vững

- Sự phối hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh trong phêduyệt, ký kết các dự án đầu tư nước ngoài chưa có cơ chế rõ ràng, chặt chẽ, nên một số chươngtrình, dự án sau khi xây dựng xong đã ảnh hưởng không nhỏ đến thế trận quốc phòng - an ninh vàlợi ích quốc gia dân tộc

Ví dụ: ca si nô ở Hải Phòng; Đồi vọng Cảnh Ở Huế; trận địa phòng không ở Hà nội bị nhà cao tầng 3phía che chắn; xây cầu vượt đường 5 xe chở tên lửa không qua được; nhiều địa phương cấp phép cho nướcngoài trồng rừng (hơn 300 ha) ở những địa bàn nhạy cảm mà cơ quan quân sự không được thông báo; nhiềuđịa phương khi cấp phép cho nước ngoài đầu tư không có ý kiến tham gia của cơ quan quân sự Dẫn đếnnhiều cửa ngõ ra vào thành phố, thị xã; địa hình có giá trị quốc phòng-an ninh bị xâm phạm

Nguyên nhân: khách quan là chạy theo kinh tế; trong thời bình, chiến tranh chưa đặt ra trựctiếp Nguyên nhân chủ quan là công tác giáo dục, quản lý nhà nước còn hạn chế…

- Hệ thống cơ chế, chính sách để triển khai kết hợp chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, từ đó chưa tạo thuậnlợi cho các cấp, ngành kết hợp Ví dụ: cơ chế phối hợp giữa chính quyền, quân đội, công an trong xây dựngquy hoạch, kế hoạch phát triển địa phương, bộ, ban ngành còn chưa có; chưa có pháp lênh động viên cácngành khác ngoài công nghiệp; Trong xây dựng nhà cao tầng ở thành phố, đô thị chưa có quy định nhà baonhiêu tầng phải có tầng ngầm và nếu xây nhà có tầng ngầm thì được ưu đãi gì

- Công nghiệp QP của ta còn quá nhỏ bé: công nghệ lạc hậu, khép kính, năng suất thấp

* Những vấn đề đạt ra trong kết hợp hiện nay

Trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễn biến

phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc, khó lường Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển cả về quy

mô, mức độ và hình thức với những tác động tích cực và tiêu cực sẽ tạo ra cơ hội và thách thức đanxen Tình hình kinh tế thế giới sau thời kỳ suy thoái và khủng hoảng, sẽ từng bước được khắc phục

và ổn định, nhưng vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn Những vấn đề mang tính toàn cầunhư: an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, cạn kiệt tài nguyên, đói nghèo, dịchbệnh, biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên,… sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế thế giớithời gian tới Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có ĐNA vẫn là khu vực phát triển năngđộng, nhưng còn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định; mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo vẫn tồn tại;tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt với những diễn biến phức tạp, nhất là ở BiểnĐông; đang xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng và đan xen lợi ích mới

Trong nước, những năm tới môi trường hòa bình, ổn định vẫn tiếp tục được duy trì và giữ

vững; kinh tế sẽ phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng; những hạn chế, yếu kém trong quản lý kinh tế từngbước được khắc phục; thực hiện nhiều hơn các hiệp định thương mại tự do song phương và đaphương Tiềm lực QP-AN của đất nước tiếp tục được tăng cường, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêucầu xây dựng và BVTQ Quan hệ với các nước láng giềng và trong khu vực sẽ được củng cố, tăngcường; đường biên, mốc giới có liên quan sẽ tiếp tục được giải quyết, tạo cơ sở pháp lý cho quản lý,bảo vệ biên giới quốc gia cả trên bộ và trên biển

Trang 8

Tuy nhiên, trong xây dựng, phát triển KT-XH vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là những hạnchế về quản lý vĩ mô nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững Thực hiện kết hợp kinh

tế với QP-AN tuy đó đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chếtrong điều kiện phát triển KTTT và HNQT Về QP-AN, sẽ tiếp tục có những diễn biến phức tạp trênvùng chủ quyền biển đảo của nước ta Trong nội địa, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định;các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tạo cớ để tập hợp lực lượng tiến hành gây rối chính trị và trật tự xãhội trên một số địa bàn với quy mô, mức độ khác nhau Mặt khác, an ninh phi truyền thống mangtính toàn cầu vẫn là mối đe dọa thường xuyên đối với nước ta

Những đặc điểm trên đây là yếu tố tạo ra thuận lợi và cơ hội to lớn cùng với những khó khăn,thách thức gay gắt trong thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, cũng là những yếu tố tác động trực tiếp đến thực hiện kết hợp kinh tếvới QP-AN trong thời kỳ HNQT Do vậy, nhận rõ đặc điểm tình hình, nắm chắc những thuận lợi và khókhăn là cơ sở để các cấp, các ngành lãnh đạo, chỉ đạo việc kết hợp đạt hiệu quả

Trang 9

ĐỀ SỐ 2

CÂU 1: Vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về mối liên hệ giữa kinh tế với chiến tranh

trong tác phẩm Hải cảng Lữ Thuận thất thủ, hãy phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh ở nước ta ?

* Khái niệm kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh ở nước ta là: hoạt động tích cực, chủ động của Nhànước và nhân dân (dưới sự lãnh đạo của Đảng) trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động kinh tế, quốcphòng, an ninh trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương,thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiệnthắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh ở nước ta là một tất yếu, được xuất phát từ cơ sở

lý luận và thực tiễn sau:

* Phân tích cơ sở lý luận

- Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với chiến tranh, quốc phòng, an ninh;chiến tranh, quốc phòng, an ninh với kinh tế Các nhà kinh điển Mác-Lênin khẳng định kinh tế,chiến tranh, quốc phòng, an ninh là những lĩnh vực khác nhau, song giữa chúng có quan hệ biệnchứng tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, kinh tế là yếu tố suy cho đến cùng quyết định đến chiếntranh, quốc phòng, an ninh; chiến tranh, quốc phòng, an ninh tác động trở lại kinh tế

Kinh tế quyết định đến nguồn gốc ra đời, bản chất của chiến tranh, quốc phòng, an ninh; quyết địnhđến việc cung cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực cho hoạt động quốc phòng, an ninh Ph.Ăngghen

đã khẳng định: “Không có gì phụ thuộc vào kinh tế tiên quyết hơn là chính quân đội và hạm đội”;

“Thắng lợi hay thất bại của chiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế ”4

Trong tác phẩm, “Hải cảng Lữ - Thuận thất thủ”, Lênin đã lấy dẫn chứng trong lịch sử rằng: Việc Nhậtđánh chiếm Mãn Châu (Trung Quốc) cũng như Anh và Pháp đánh chiếm thành Xê-va-xtô-pôn chỉ vì đây lànhững “vùng béo bở”, một thị trường rộng lớn, có thể mang lại cho họ những lợi ích to lớn và giúp họ thực hiện

sự thống trị về kinh tế Còn với chính cuộc chiến tranh Nga - Nhật, Lênin đã phân tích và chỉ ra cái nguyên

nhân kinh tế sâu xa của nó, rằng khi mở cuộc chiến tranh, chính phủ chuyên chế hy vọng sẽ giành được thắng lợi dễ dàng đối với Nhật, vì cho rằng thắng lợi này sẽ mở ra những thị trường tiêu thụ mới và nâng cao uy tín của chính phủ chuyên chế Nga hoàng, giúp nó đè bẹp phong trào cách mạng ở trong nước Từ việc chỉ rõ nguồn gốc kinh tế của cuộc chiến tranh, Lênin chỉ ra cho những người cách mạnh rằng: “Giai cấp vô sản cách mạng phải tuyên truyền không mệt mỏi chống chiến tranh, đồng thời luôn luôn nên nhớ rằng chừng nào còn sự thống trị của giai cấp nói chung thì chiến tranh là không thể trừ bỏ được”

- Kinh tế còn quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho quốcphòng, an ninh, qua đó quyết định đến tổ chức biên chế của lực lượng vũ trang; quyết định đếnđường lối chiến lược quốc phòng, an ninh Vì vậy, để xây dựng quốc phòng, an ninh vững mạnhphải xây dựng, phát triển kinh tế

Trong tác phẩm “Hải cảng Lữ Thuận thất thủ”, V.I.Lênin còn chỉ ra vai trò quyết định của kinh tế trong xây dựng lực lượng vũ trang, hình thức và phương pháp tác chiến trong chiến tranh.

Người cho rằng, chất lượng, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang trước hết phụ thuộc vàođiều kiện kinh tế đạt được Khi nền kinh tế không vững mạnh, lạc hậu, trì trệ thì kéo theo là “các sĩquan không có học thức, không được rèn luyện, thiếu liên hệ chặt chẽ với binh sĩ và không đượcbinh sĩ tin cậy”, nó cũng dẫn đến tình trạng tối tăm, thối nát, mù chữ, khiếp nhược của quần chúngnông dân và trong thời đại như thế thì chẳng có sự dẻo dai nào, chẳng có thế lực nào, chẳng có hìnhthức chiến đấu nào có thể đem lại ưu thế được Với một nền kinh tế lạc hậu như chế độ Nga Hoànglúc này thì nó đã trở thành chướng ngại cho việc tổ chức quân sự phù hợp với yêu cầu tối tân Uylực quân sự của nước Nga chuyên chế chỉ là hào nhoáng bề ngoài” Điều đó sẽ không thể mang lại

Trang 10

những lợi thế và cũng không có được chiến thắng trong chiến tranh Và như vậy, “Việc thất thủ củahải cảng Lữ Thuận là một trong những tổng kết lịch sử vĩ đại nhất về tội ác của chế độ Nga Hoàng”một bằng chứng không thể chối cãi được về vai trò tất yếu, quyết định của kinh tế đối với tiến trình

và kết cục của chiến tranh

- Quốc phòng, an ninh không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà còn tác động trở lại với kinh tếtrên cả góc độ tích cực và tiêu cực

QP, an ninh vững mạnh sẽ tạo môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển kinh tế Quá trìnhthực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong thời bình, ở mức độ nhất định cũng có tác dụng kíchthích kinh tế phát triển,

Mặt khác hoạt động quốc phòng, an ninh tiêu tốn đáng kể một bộ phận nguồn nhân lực, vậtlực, tài chính của xã hội Những tiêu dùng này, như V.I.Lênin đánh giá, là tiêu dùng “mất đi”, khôngquay vào tái sản xuất xã hội Do đó, sẽ ảnh hưởng đến tiêu dùng của xã hội, ảnh hưởng đến sự pháttriển của nền kinh tế Hoạt động quốc phòng, an ninh (thông qua học thuyết quân sự, chiến lượcquân sự quốc phòng, an ninh) còn ảnh hưởng đến đường lối phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế Hoạtđộng quốc phòng, an ninh còn có thể dẫn đến huỷ hoại môi trường sinh thái, để lại hậu quả nặng nề cho kinh

tế, nhất là khi chiến tranh xảy ra

Lênin chỉ ra rằng: chiến tranh xảy ra sẽ gây nên sự tổn thất hết sức nặng nề về con người, kể

cả sức lực, trí lực, xương máu lẫn tính mạng Chỉ riêng việc thất thủ ở hải cảng Lữ Thuận trước quânNhật đã làm cho Nga tổn thất hàng chục nhân viên phục vụ hạm đội ưu tú và cả một quân đoàn bộ

binh Không chỉ gây ra những mất mát nặng nề về con người, trong tác phẩm “Hải cảng Lữ Thuận

thất thủ”, V.I.Lênin cũng chỉ rõ chiến tranh còn mang đến những thiệt hại vô cùng to lớn về kinh tế,tài chính, các nguồn lực xã hội

- Dựng nước đi đôi với giữ nước Xây dựng CNXH và BVTQ Việt Nam xã hội chủ nghĩa làhai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam

* Phân tích cơ sở thực tiễn

Các quốc gia trên thế giới chúng ta thấy, dù là nước lớn hay nước nhỏ; kinh tế phát triển haychưa phát triển; dù chế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợpphát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, kể cả những nước mà hàng trăm nămnay chưa có chiến tranh

Việc kết hợp kinh tế với QP trên thế giới được thể hiện rõ nét trên các góc độ sau:

Một là, các nước đều chú ý xây dựng khung khổ pháp lý tạo điều kiện cho việc huy động nhân lực, vật lực bảo vệ chủ quyền quốc gia Các đạo luật như: luật nghĩa vụ quân sự, luật dự bị

động viên, luật an ninh; luật dân quân tự vệ; luật động viên công nghiệp được chú ý xây dựng

Hai là, bộ máy động viên kinh tế cho quốc phòng, chiến tranh được xây dựng từ trên xuống dưới

và hàng năm được diện tập thực hành rút kinh nghiệm Nhiều nước có Bộ phòng thủ dân sự với chức năng

quyền hạn khá lớn khi tham gia phê duyệt các dự án đầu tư, các công trình quan trọng của quốc gia

Ba là, trong phát triển kinh tế, nhất là tại các thành phố, các khu vực nhạy cảm, các công trình trọng điểm quốc gia đã được nhà nước chú ý kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng ngay từ khâu quy hoạch, kế hoạch, đến tổ chức triển khai thực hiện Ví dụ, xây dựng đường giao thông

ngầm trong thành phố, nhà cao tầng có tầng ngầm; trong thời bình đã chủ động xây dựng các côngtrình quân sự, nơi trú ẩn, làm việc của chính phủ trong lòng đất; xây dựng giao thông, thông tin bưuđiện theo hướng lưỡng dụng; bảo vệ các địa hình địa vật có giá trị về quân sự

Bốn là, trong xây dựng lực lượng quân sự, các nước đều chú ý kết hợp duy trì lực lượng thường trực hợp lý với xây dựng lực lượng dự bị động viên rộng khắp Ví dụ, xanh ga po, hiện có 24

trung đoàn dự bị động viên; triều tiên có 5,5 triệu quân dự bị động viên; Hàn quốc có 4,5 triệu quân dự

Trang 11

phòng 43% Tỷ trọng này ở 37 cơ sở công nghiệp quốc phòng Châu Âu là 55% và 45%

Ở Việt Nam, sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đã cólịch sử lâu dài Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật sống còn của dân tộc ta

Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, luôn lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm trọng, đề ra

kế sách giữ nước với tư tưởng: “nước lấy dân làm gốc”, “dân giàu, nước mạnh”, “quốc phú binhcường”; thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dântộc để “yên dân” mà “vẹn đất” Thực hiện kế sách “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân” đểvừa phát triển kinh tế, vừa tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc Trong xây dựng, pháttriển kinh tế, đã sử dụng nhiều chính sách như khai hoang lập ấp ở những nơi xung yếu để “phục binhsẵn, phá thế giặc dữ” từ xa; phát triển nghề thủ công để vừa sản xuất ra các công cụ sản xuất, vừa sảnxuất ra các vũ khí, phương tiện phục vụ cho toàn dân đánh giặc; chăm lo mở mang đường sá, đào sôngngòi, kênh rạch, xây đắp đê điều để vừa phát triển kinh tế, vừa tạo thế trận đánh giặc, cơ động lựclượng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, do nắm vững quy luật và biết

kế thừa kinh nghiệm của lịch sử nên đã thực hiện sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cốquốc phòng, an ninh một cách nhất quán với những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kỳ củacách mạng Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) Đảng ta đề ra chủ trương

“Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “Vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”; vừa thựchiện phát triển kinh tế ở địa phương vừa tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp; “Xây dựng làng khángchiến”, địch đến thì đánh, địch lui ta lại tăng gia sản xuất

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), kết hợp phát triển kinh tếvới tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền vớinội dung và hình thức thích hợp

Ở miền Bắc, để bảo vệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa và xây dựng hậu phương lớn cho miền Nam đánh

giặc, Đại hội lần thứ III của Đảng đã đề ra chủ trương: “Trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế” Theo tinh thần đó, miền Bắc đã xây dựng, phát triển chế độ xã hội mới, nền kinh tế,

văn hoá mới, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; đồng thời kết hợp chặt chẽ với chăm lo củng

cố quốc phòng, an ninh vững mạnh, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ vữngchắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam đánhthắng giặc Mỹ xâm lược

Ở miền Nam, Đảng chỉ đạo quân và dân ta kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố mởrộng hậu phương, xây dựng căn cứ địa miền Nam vững mạnh Đây chính là một điều kiện cơ bảnbảo đảm cho cách mạng nước ta đi đến thắng lợi

Từ khi nước ta độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội (từ 1975 đến nay) kết hợp pháttriển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh được Đảng ta khẳng định là một nội dungquan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và được triểnkhai trên quy mô rộng lớn, toàn diện hơn Từ năm 1986 đến nay, với tư duy mới về kinh tế và quốcphòng, an ninh, việc kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trênphạm vi cả nước cũng như từng địa phương, bộ, ban ngành có bước chuyển biến cả trong nhận thức

và tổ chức thực hiện, đã thu được nhiều kết quả quan trọng

Đại hội Đảng XI, nhận thức về kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh và

củng cố quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế đã được Đảng ta coi trọng nhấn mạnh: Sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước là nền tảng của quốc phòng - an ninh và củng cố quốc phòng - an ninh là điều kiện quan trọng để bảo đảm cho kinh tế phát triển bền vững

Trang 12

CÂU 2 Hãy phân tích các giải pháp bảo đảm kinh tế cho quốc phòng Việt Nam hiện nay Ý nghĩa vấn đề nghiên cứu ?

* Khái niệm bảo đảm kinh tế cho quốc phòng

Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tổng thể các quá trình, các biện pháp được Nhà nước và nhân dân tiến hành nhằm thoả mãn mọi nhu cầu về phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính, nhân lực cho quốc phòng sẵn sàng ứng phó thắng lợi với các tình huống an ninh truyền thống và phi truyền thống để bảo vệ vững chắc

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nội dụng bd

* Phân tích giải pháp

1 Giáo dục nhận thức

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để đất nước không bị động, bấtngờ, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống thì chuẩn bị tiềm lực kinh tế để bảo đảm cho quốc phòngcần được nhận thức từ mấy vấn đề sau:

Một là, chuẩn bị tiềm lực kinh tế và bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, sẵn sàng ứng phó với

mọi tình huống là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bản chất của

chuẩn bị tiềm lực kinh tế, đặc biệt là chuẩn bị tiềm lực kinh tế quân sự để bảo đảm kinh tế cho quốcphòng là sự gắn kết quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường sức mạnh quốcphòng thành một thể thống nhất, thúc đẩy nhau phát triển Mục đích chuẩn bị tiềm lực kinh tế là tạosức mạnh răn đe, ngăn chăn từ xa nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, thực hiện thắng lợi đồng thời hainhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nếu tiềm lực kinh tế được chuẩn bị tốt, có hiệuquả ngay trong thời bình, sẽ tạo được sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; ngược lại,không chỉ khó có sức mạnh thật sự, mà còn phát sinh sơ hở để các thế lực thù địch có thể lợi dụngchống phá cách mạng nước ta

Hai là, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, nghĩa vụ và trình độ của các chủ thể về chủ

trương bảo đảm kinh tế cho quốc phòng Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là chủ trương chiến lược

của Đảng Vì vậy, cần thường xuyên quán triệt sâu sắc chủ trương này trong toàn xã hội, đặc biệt làđội ngũ cán bộ chủ trì trong hệ thống chính trị, nhằm thống nhất cả nhận thức và hành động Phảithấy rằng, bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống là chủ trương đầu

tư cho phát triển bền vững, là trách nhiệm của toàn dân, trong đó sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng;trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ giữ vai trò quyết định Chủ trương này chỉ có thể thànhhiện thực khi mọi tổ chức và cá nhân trong hệ thống chính trị có nhận thức đầy đủ và phát huy tốtvai trò, trách nhiệm của mình trong việc chuẩn bị kinh tế và bảo đảm kinh tế cho quốc phòng Dovậy, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục để toàn dân nhận thức sâu sắc trách nhiệm và tựgiác tham gia thực hiện Cùng với đó là năng lực, trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, trình độ vềchính trị và ý thức quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước giàu mạnh của các chủ thể phảikhông ngừng được bồi đắp, ngày càng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Ba là, chuẩn bị kinh tế và bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong thời bình là nhiệm vụ cơ

bản, thường xuyên, có tính qui luật Ở nước ta hiện nay, để thực hiện thành công sự nghiệp xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ phát triển kinh tế, chúng ta không coinhẹ nhiệm vụ chuẩn bị tiềm lực kinh tế quân sự để “chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu,hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phitruyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”5 Với ý nghĩa đó,trong bối cảnh còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, còn mưu đồ xâm lược, nhất là khi cuộc chạy đua

vũ trang mới đang hình thành, thì chuẩn bị kinh tế, nhất là tiềm lực kinh tế quân sự để bảo đảm kinh

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H 2011, tr 233.

Trang 13

tế cho quốc phòng thời bình, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu quốc phòng khi cần thiết là nhiệm vụ cơ bản,thường xuyên, có tính quy luật, góp phần bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững

Bốn là, nội dung cốt lõi của việc bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là xây dựng công nghiệp

quốc phòng độc lập, tự chủ, hiện đại “Công nghiệp quốc phòng là một phần quan trọng của thực

lực và tiềm lực quốc phòng, an ninh; là bộ phận của công nghiệp quốc gia”, là ngành công nghiệpđặc thù hoạt động công ích, ngoài nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển, sản xuất, cải tiến, hiện đại hoá

vũ khí, trang bị, vật tư và sản phẩm khác phục vụ quốc phòng, công nghiệp quốc phòng còn “thamgia phát triển kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Như vậy,công nghiệp quốc phòng không đơn thuần là ngành sản xuất vật chất, mà còn đảm nhận nhiệm vụchính trị đặc biệt mà các ngành công nghiệp khác không muốn làm, không có khả năng làm, hoặckhông được làm, đó là “bảo đảm cho các lực lượng vũ trang được trang bị kỹ thuật từng bước hiệnđại” Với ý nghĩa đó, “Mở rộng phương thức huy động nguồn lực xây dựng công nghiệp quốc phòng

và nâng cao khả năng bảo đảm của công nghiệp quốc phòng” là chủ trương xây dựng công nghiệpquốc phòng độc lập, tự chủ, hiện đại Đây là vấn đề chiến lược nảy sinh từ nhu cầu xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, một nội dung cốt lõi của việc bảo đảm kinh tế cho quốc phòng trong nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

2 Thường xuyên làm tốt công tác tạo nguồn và dự trữ vật chất

Tạo nguồn và dự trữ vật chất là một trong những khâu then chốt của công tác bảo đảm kinh tếcho quốc phòng

* Tạo nguồn bảo đảm Có 4 nguồn:

- Nguồn trong nước

- Nguồn từ hoạt động sản xuất, làm kinh tế của lực lượng vũ trang

- Nguồn khai thác từ nước ngoài

- Nguồn thu của địch (chỉ có trong chiến tranh)

Mỗi nguồn bảo đảm trên đều có vị trí, có thế mạnh riêng Trong đó:

- Nguồn từ hậu phương là nguồn bảo đảm cơ bản, thường xuyên, quan trọng có ý nghĩa quyếtđịnh Nguồn này chủ yếu do Nhà nước cung cấp và phần đóng góp của nhân dân và các tổ chức kinh

tế - xã hội

- Nguồn từ hoạt động sản xuất, làm kinh tế của LLVT rất quan trọng

- Nguồn khai thác từ nước ngoài giúp nâng cao trình độ trang bị phương tiện kỹ thuật quân sựtrong nước

- Nguồn thu của địch góp phần đáp ứng kịp thời yêu cầu bảo đảm

Biện pháp tạo nguồn

- Nguồn trong nước: Nguồn này được quyết định bởi tiềm lực kinh tế cả trong thời bình và

thời chiến Vì vậy, để có thể bảo đảm tốt kinh tế cho quốc phòng trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa thì ngay trong thời bình cần:

+ Trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để phát triển kinh tế - xã hội,kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại mà tạo ra tiềm lực mọi mặt cho quốcphòng

+ Có kế hoạch, phương án thích hợp để nhanh tróng chuyển nền kinh tế từ thời bình sang thờichiến ngay từ thời kỳ đầu chiến tranh, duy trì năng lực sản xuất quân sự để bảo đảm cho chiến tranhbảo vệ Tổ quốc

+ Có cơ chế, chính sách và luật pháp quy định trách nhiệm, quyền lợi của công dân và cácthành phần kinh tế nhằm huy động tốt nhất mọi nguồn lực cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thờibình và khi có chiến tranh

+ Phát huy nội lực, chủ động hội nhập quốc tế, tranh thủ vốn, khoa học và công nghệ phục vụcho phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, ưu tiên đầu tư phát triển khoa học vàcông nghệ quân sự

Trang 14

+ Lực lượng vũ trang nói chung, ngành hậu cần quân đội nói riêng, tham gia tích cực và cóhiệu quả vào quá trình xây dựng đất nước; phát triển tiềm lực mọi mặt và tạo nguồn cung cấp cholực lượng vũ trang

- Nguồn từ hoạt động sản xuất, làm kinh tế của lực lượng vũ trang

Sản xuất, làm kinh tế là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của quân đội ta, vừa góp phần thamgia phát triển kinh tế - xã hội, vừa tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho quốc phòng, cải thiện đờisống bộ đội, thực hiện quan điểm tự lực, tự cường trong công tác hậu cần

Để phát huy thế mạnh của quân đội về lực lượng, trình độ kỹ thuật, tính kỷ luật và năng lực

khoa học và công nghệ quân sự, Quân uỷ Trung ương đã có Nghị quyết về tham gia lao động sản

xuất và làm kinh tế, theo đó:

+ Về sản xuất quốc phòng: Sản xuất, sửa chữa vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự đáp ứng

yêu cầu huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang trong thời bình; đồng thời có lựclượng dự trữ cho giai đoạn đầu chiến tranh; chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng mở rộng sản xuất quân sựkhi cần thiết Tận dụng cơ sở vật chất, nguồn nhân lực quân sự để sản xuất sản phẩm dân dụng; từngbước hiện đại hoá công nghiệp quốc phòng Việt Nam, phù hợp khả năng kinh tế và phương thức tiếnhành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc

+ Tập trung làm tốt nhiệm vụ xung kích xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên phạm vi

cả nước Đã và đang triển khai xây dựng hơn 20 khu kinh tế - quốc phòng ở hầu khắp các địa bàn chiếnlược thuộc 7 Qk, trong đó tập trung nhiều ở 3 QK phía Bắc, nhiều nhất là Qk2 (5 khu KT-QP)

+ Đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự túc trong tất cả các đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả phục

vụ đời sống và xây dựng quân đội

- Nguồn khai thác từ nước ngoài:

Trong điều kiện toàn cầu hoá, nhất là toàn cầu hóa kinh tế, thông qua mở rộng hoạt động đốingoại và kinh tế đối ngoại nói riêng, có thể khai thác ngoại lực (vốn, công nghệ) để phát triển kinh tế

và phát triển công nghiệp quốc phòng Đồng thời mở rộng thị trường; thêm bạn bớt thù; tranh thủ sựgiúp đỡ của các nước trong cộng đồng quốc tế với công cuộc giữ nước của chúng ta

- Nguồn thu của địch trong chiến đấu: chiến lợi phẩm thu được của địch

* Dự trữ vật chất

Dự trữ vật chất thời bình

Cùng với tạo nguồn phải tổ chức tốt dự trữ vật chất, nhất là vật tư chiến lược để chủ động bảođảm kinh tế cho quốc phòng Dự trữ vật chất phải được thực hiện cả ở phạm vi quốc gia và trongquân đội, trong đó:

- Dự trữ quốc gia do Trung ương, các địa phương và các ngành tổ chức

- Dự trữ ở các cấp trong quân đội (chiến lược, chiến dịch, chiến thuật) cho sẵn sàng chiến đấuthực hiện theo quyết định của Tổng tham mưu trưởng

Riêng dự trữ chiến đấu được quy định theo yêu cầu của từng nhiệm vụ chiến đấu cụ thể Căn

cứ vào dự báo nhu cầu tiêu thụ, dự kiến tiêu hao, tổn thất, khả năng dự trữ, khả năng vận chuyển

để cấp trên quy định cho cấp dưới

Ví dụ: Theo chỉ thị 41/TTMT ký ngày 27/7/2001 về quy định dự trữ thời bình và năm đầu

chiến tranh cho các quân khu như sau:

+ Lương thực, thực phẩm: 20 ngày cho các Qk:1,2,3,4,5,7,9;

+ Quân trang: Qk5,7,9 dự trữ 30% quân số; Qk1,2,3,4 dự trữ 20% quân số;

+ Nhiên liệu: Qk 1,2,3,4: dự trữ 4 cơ số xăng xe máy, 2 cơ số xăng dầu tầu thuyền; Qk 5,7,9:

dự trữ 5 cơ số xăng xe máy, 2 cơ số xăng dầu tầu thuyền…

Dự trữ vật chất thời chiến

- Hậu cần lực lượng vũ trang: dự trữ theo nhiệm vụ tác chiến, chiến dịch

- Khu vực phòng thủ tỉnh (tp): Hậu cần khu vực phòng thủ địa phương dự trữ đủ cho tác chiếncủa khu vực phòng thủ, dự trữ một phần cho nhiệm vụ tiếp theo và sẵn sàng chi viện cho cả nướctheo yêu cầu của trên Lượng tối thiểu phải đạt khoảng 70% tổng lượng dự trữ theo yêu cầu; đồng

Trang 15

thời tiếp tục tạo nguồn bổ sung trong quá trình tác chiến Lực lượng phải bảo đảm gồm: bộ đội địa

phương mỗi tỉnh (tp) có thể 1-2 trung đoàn bộ binh, một số phân đội hoả lực và chuyên môn; mỗi huyện (quận) 1-2 tiểu đoàn bộ binh, cùng các lực lượng dân quân tư vệ Các xã (phường), các cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh… từ trung đội, đại đội đến tiểu đoàn dân quân tự vệ cơ động, trung đoàn tự vệ chiến đấu và một số phân đội chuyên môn, cùng một số lực lượng khác như Công

an, Biên phòng và nhân dân tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu Kho trong căn cứ hậu cần

khu vực phòng thủ dự trữ khoảng 2-3 tháng; bộ đội địa phương dự trữ cho 1-2 đợt hoạt động tác chiến, mỗi đợt khoảng 10-20 ngày.

+ Hậu cần các quân khu: dự trữ đủ cho tác chiến của chủ lực quân khu, bảo đảm cho bộ độiđịa phương tỉnh (tp), huyện (quận); bảo đảm một số mặt, chủ yếu là súng đạn, mìn… cho dân quân,

tư vệ xã (phường), các cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh, thanh niên xung phong phục vụ chiếnđấu và dự trữ theo yêu cầu của trên, sẵn sàng bảo đảm cho bộ đội chủ lực của Bộ tác chiến trên địabàn quân khu Tuỳ theo vị trí, chức năng, nhiệm vụ mỗi quân khu có khoảng 4-5 sư đoàn bộ binh,một số trung, lữ đoàn binh chủng chiến đấu

3 Đổi mới và hoàn thiện cơ chế, phương thức bảo đảm kinh tế cho quốc phòng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam hiện nay

-Cơ chế bảo đảm

Hiện nay, cơ chế kinh tế thay đổi, do đó cơ chế bảo đảm kinh tế cho quốc phòng cũng phảithay đổi cho phù hợp Tuy nhiên, việc đổi mới cơ chế bảo đảm kinh tế cho quốc phòng phải tính đếnquy luật của chiến tranh Hiện nay chúng ta thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, nhưng không có nghĩa là trong bảo đảm kinh tế cho quốc phòng phải xoá bỏ cơ chế kếhoạch hóa tập trung chuyển hoàn toàn sang cơ chế thị trường, mà phải kết hợp cả hai cơ chế, pháthuy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu của từng cơ chế Theo đó, trong thời bình, phải thực hiện tốthơn, thường xuyên hơn hoạt động bảo đảm bằng tiền thay cho bảo đảm bằng hiện vật; khi chiếntranh xảy ra thì ngược lại

- Phương thức bảo đảm

Phương thức bảo đảm là tổng thể các phương pháp, cách thức tổ chức bảo đảm nhằm đáp ứng

đầy đủ, kịp thời nhu cầu về mọi mặt cho lực lượng vũ trang huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.

Từ thực tiễn bảo đảm kinh tế cho quốc phòng và chiến tranh giải phóng dân tộc có thể vận

dụng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 3 phương thức bảo đảm như: bảo đảm tại chỗ; cơ động và theo khu vực (tự nghiên cứu thêm)

- Công tác vận tải

Nhiệm vụ vận tải trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc rất phức tạp, khẩn trương, liên quan đếnnhiều đối tượng khác nhau, lực lượng vận tải huy động từ nhiều nguồn, trình độ và khả năng đều,địch đánh phá ác liệt Vì vậy, ngành vận tải quân sự kết hợp với hệ thống giao thông vận tải củaNhà nước, các địa phương và các thành phần kinh tế thuộc khu vực phòng thủ để huy động lựclượng, phương tiện vận tải, lấy lực lượng vận tải quân sự làm trung tâm hiệp đồng, phối hợp

Phải tổ chức tốt mạng đường vận chuyển, có đường chính, dự bị, vòng tránh, có phương án khắcphục các tình huống trong quá trình vận chuyển; kết hợp sử dụng nhiều loại phương tiện, vận dụng linhhoạt các phương thức vận tải cả đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không, đường ống Trong khuvực phòng thủ cần triệt để tận dụng các loại phương tiện vận tải cơ giới nhỏ và thô sơ cho phù hợp với thựctiễn địa phương nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả vận chuyển, đáp ứng yêu cầu bảo đảm chochiến tranh, đồng thời hạn chế thấp nhất thiệt hại do địch đánh phá

- Huy động các thành phần kinh tế bảo đảm kinh tế cho quốc phòng

Quốc phòng của Việt Nam là quốc phòng toàn dân Vì vậy, việc bảo đảm kinh tế cho quốcphòng cũng dựa trên cơ sở toàn dân

Làm tốt công tác giáo dục để mọi người dân hiểu quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của mìnhđối với nhiệm vụ bảo đảm kinh tế cho quốc phòng

Trang 16

Thể chế hoá thành luật để mọi công dân, mọi tổ chức trong hệ thống chính trị, mọi thành phầnkinh tế thực hiện nghĩa vụ của mình.

Củng cố và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Vì đây là khu vực bảo đảm nhanhnhất, kịp thời nhất

4 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác bảo đảm kinh

tế cho quốc phòng

* Vai trò lãnh đạo của Đảng

+ Nắm bắt tình hình thực tiễn, kịp thời đề ra đường lối, chủ trương lãnh đạo sát đúng với từnggiai đoạn

+ Tổ chức kiểm tra, đôn đốc các cơ quan, ban ngành, địa phương thực hiện

+ Thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút thành luật, bổ sung hoàn thiện đường lối chủtrương lãnh đạo

* Vai trò quản lý Nhà nước

+ Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh.+ Hoàn thiện luật pháp, chính sách bảo đảm như: luật nghĩa vụ quân sự; luật dự bị động viên;luật quốc phòng; pháp lệnh động viên công nghiệp; pháp lệnh công nghiệp quốc phòng; Pháp lệnhđộng viên quốc phòng

+ Tăng cường các nguồn dự trữ của nhà nước, nhất là lương thực, thực phẩm, vật tư chiếnlược, tài chính, lực lượng dự bị động viên

+ Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của bộ máy nhà nước liên quan đến bảo đảm kinh tếcho quốc phòng

5 Hoàn thiện bộ máy quản lý bảo đảm kinh tế cho quốc phòng

- Bộ máy quản lý hoạt động bảo đảm kinh tế cho quốc phòng có vai trò quan trọng đối vớitoàn bộ quá trình bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, từ khai thác nguồn đến tổ chức thực hành bảođảm trong các tình huống cụ thể

- Bộ máy bảo đảm phải hoạt động ăn khớp nhịp nhàng từ trung ương đến cơ sở; liên quan đếnnhiều cấp, ngành, cả trong và ngoài lực lượng vũ trang

- Biện pháp hoàn thiện:

+ Xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp

+ Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cấp, ngành, địa phương

+ Bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức: đào tạo tại trường; thôngqua diễn tập thực hành các hình thức để bồi dưỡng

Bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước đang đặt ra nhiều nội dung mới, toàn diện, phức tạp

và khó lường hơn về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là khi các thế lực thù địch đangđẩy mạnh diễn biến hòa bình, tận dụng mọi cơ hội, tạo nhiều nguyên cớ để chống phá cách mạngnước ta Điều đó làm gia tăng sự cần thiết phải sớm xây dựng tiềm lực kinh tế đủ mạnh, nhất là tiềmlực kinh tế quân sự, để thời bình góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước pháttriển bền vững; đồng thời sẵn sàng chuyển tiềm lực đó thành thực lực quốc phòng, giành thắng lợikhi phải tiến hành các hoạt động quân sự, hoặc phải tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

* Ý nghĩa

Trang 17

ĐỀ SỐ 3

CÂU 1: Đảng ta nêu rõ: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế trong từng chiến lược qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo”(Văn kiện Đại hội XI, tr.234) Dựa vào lý luận về nội dung kết hợp, hãy phân tích làm sáng tỏ vấn đề trên?

* Quan niệm về kết hợp KT với QPAN.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh ở nước ta là: hoạt động tích cực, chủ động của Nhànước và nhân dân (dưới sự lãnh đạo của Đảng) trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động kinh tế, quốcphòng, an ninh trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương,thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiệnthắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh ở nước ta là một tất yếu, được được tiến hành trên tất các các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó Đảng ta xác định:

* Phân tích

* Kết hợp… trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố qp phải được thể hiện ngay trong xác định chiến lượcphát triển kt-xh; trong quy hoach, kế hoạch phát triển các ngành kinh tế, các vùng kinh tế

Trong xác định chiến lược, việc kết hợp phải được thể hiện ở mục tiêu; tổ chức sắp xếp lực lượng;trong lựa chọn các giải pháp chiến lược Các nội dung này phải được thể hiện ngay trong chiến lược pháttriển kt - xh của quốc gia cũng như qui hoạch phát triển các ngành, các vùng của nền kinh tế

VK DH 11 “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với QP -AN, quốc phòng - an ninh với kinh tế trongtừng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn

Muốn làm được điều đó phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các bộ, ban ngành, các địa phương

có liên quan với cơ quan quân sự các cấp từ đầu ở tất cả các khâu: từ khảo sát, nghiên cứu xây dựng xáclập các quy hoạch, kế hoạch chiến lược đầu tư phát triển kinh tế-xã hội gắn với chiến lược quốc phòng vàchiến lược an ninh; đến việc đầu tư nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật; đào tạo, bố trí, sử dụng nhânlực, nhân tài, trang bị kỹ thuật; cải tạo địa hình, xây dựng hạ tầng cơ sở, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vàphân bổ điều chỉnh dân cư được thể hiện ở sự lồng ghép các yêu cầu quốc phòng-an ninh vào trong quátrình đầu tư xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội, vừa bảo đảm phát triển kinh tế nhanh bền vững, vừa bảođảm cho quốc phòng- an ninh có đủ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc

* Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trong phát triển các vùng kinh tế chú trọng vùng xâu, vùng xa, biên giới, hải đảo

Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh trong phát triển các vùng kinh tế là sự gắnkết chặt chẽ giữa phát triển vùng kinh tế chiến lược, với xây dựng vùng chiến lược quốc phòng, anninh, nhằm tạo ra thế bố trí chiến lược mới cả về kinh tế lẫn quốc phòng, an ninh trên từng vùnglãnh thổ, trên địa bàn tỉnh, thành phố, theo ý đồ phòng thủ chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Namvững trên toàn cục và mạnh ở từng trọng điểm Hiện nay Đảng ta xác định phải chú trọng nhiều hơncho các vùng xâu vùng xa, vùng biển đảo và vùng biên giới

* Đối với vùng xâu, vùng xa, biên giới

- Về kinh tế - xã hội, địa bàn vùng sâu vùng xa thường có mật độ dân cư thưa thớt, trình độdân trí thấp và còn nhiều hủ tục lạc hậu; cơ sở hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội kém phát triển, giao thông

đi lại khó khăn (có nơi còn chưa có đường giao thông) tỷ lệ đói nghèo rất cao (lên đến vài chục phần trăm)

- Vùng núi biên giới của nước ta có chiều dài tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia Đây làđịa bàn sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc ít người, mật độ dân số thấp (trung bình khảng 20 - 40người/1km2), kinh tế chưa phát triển, trình độ dân trí thấp, đời sống dân cư còn nhiều khó khăn Vùng núibiên giới có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phòng thủ bảo vệ Tổ quốc

Trước đây các vùng này đã từng là căn cứ địa kháng chiến, hậu phương chiến lược của cảnước Ngày nay, trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, các vùng núi biên giới vẫn là vùng chiến lược hết

Ngày đăng: 26/01/2018, 18:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w