Tổng quan về công nghệ thông tin và hệ sinh thái nhân văn Thuật ngữ Hệ sinh thái nhân văn: được dùng để nói tới khía cạnhsinh thái của các cộng đồng người, trong đó có sự kết hợp phức tạ
Trang 1Đề tài: Công nghệ thông tin và hệ sinh thái nhân văn.
I Tổng quan về công nghệ thông tin và hệ sinh thái nhân văn
Thuật ngữ Hệ sinh thái nhân văn: được dùng để nói tới khía cạnhsinh thái của các cộng đồng người, trong đó có sự kết hợp phức tạp của cácnhân tố như kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý và các yếu tố vật lý của môitrường Hiểu một cách đơn giản hơn, HST nhân văn là HST trong đó conngười là loài ưu thế và các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữacon người với nhau là mối quan hệ thống trị
Dòng thông tin trong HST nhân văn: dòng thông tin là yêu cầu trungtâm, là đầu ra, đầu vào của HST nhân văn Các nhà khoa học cho rằng: Conngười dường như được chuyên hoá thành vật xử lý thông tin Nhờ đó cácHST nhân văn được liên kết với nhau một cách hiệu quả
Vật chất, năng lượng, thông tin là những thuộc tính cơ bản vốn có củathế giới Thế giới hay hệ thống Tự nhiên - Con người - Xã hội luôn vậnđộng, biến đổi và phát triển không ngừng, nhưng đồng thời cũng luôn ởtrong trạng thái thống nhất hữu cơ chính là nhờ những thuộc tính vốn có này
- nhờ sự trao đổi, chuyển hoá thường xuyên của các đòng vật chất, nănglượng, thông tin Kết quả của quá trình biến đổi vật chất, năng lượng, thôngtin do trí tuệ và lao động được đinh hướng bởi trí tuệ đó của con người đãtạo nên các cuộc cách mạng thông tin - công nghệ và cùng với chúng là sựthay đổi của nền văn minh nhân loại
1 Năng lượng là số đo sự vận động của vật chất trong các dạng khácnhau Trong phương thức sản xuất xã hội, sự vận động, biến đôi của vật chấtđược thực hiện thông qua các hệ thông công nghệ Bởi vậy, bất kỳ một bướcnhảy vọt nào của hệ thống năng lượng cùng đều diễn ra cùng với một cuộccách mạng trong công nghệ Năng lượng là điều kiện tiên quyết, cơ bản để
Trang 2phân biệt một nền văn minh này với một nền văn minh khác, hay có thể nói,
sự khác nhau cơ bản giữa các nền văn minh được thể hiện bằng trình độ pháttriển của công nghệ
Thông tin là một dạng biểu hiện của vật chất đang vận động Thôngtin xã hội gắn liền với sự vận động của dạng vật chất có tổ chức cao nhất -
bộ óc con người, là số đó sự phát triển của tư duy, của ý thức con người màhình thức đầu tiên của nó là sự giao tiếp giữa người và người bằng tiếng nói(ngôn ngữ)
Như vậy dưới sự tác động của con người, công nghệ (biểu hiện quacác hệ thống năng lượng) và thông tin (biểu hiện qua các hình thức giao tiếp
xã hội) đều là vật chất đang vận động và biến đổi Khi sự vận động đó đạtđến bước nhảy vọt về chất sẽ dẫn đến các cuộc cách mạng công nghệ vàthông tin
Trong quá trình lịch sử xã hội, các cuộc cách mạng thông tin và côngnghệ diễn ra về cơ bản là phù hợp nhau về thời gian; chúng nương tựa vàonhau và làm tiền đề cho nhau, tạo thành các cuộc cách mạng thông tin - côngnghệ
2 Văn minh được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Song, về phươngdiện phát triển xã hội, có thể hiểu văn minh theo nghĩa bao trùm nhất là chỉmột trình độ phát triển nhất định của xã hội về vật chất và tinh thần (các giátrị vật chất và các giá trị tinh thần) Cái cốt lõi quyết định trình độ phát triểncủa xã hội chính là phương thức sản xuất cơ bản, đặc trưng của mỗi thời đại.Bởi vậy, giữa các phương thức sản xuất và các nền văn minh có mối quan hệhữu cơ với nhau, quy đinh lẫn nhau, nghĩa là cùng với sự thay đổi củaphương thức sản xuất là sự thay đổi của các nền văn minh Các cuộc cáchmạng thông tin - công nghệ là yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất quyết định sựvận động và phát triển của phương thức sản xuất và do đó cũng là yếu tốquyết định sự biến đổi của các nền văn minh trong lịch sử xã hội loài người
Trang 3II Các cuộc cách mạng công nghệ - thông tin và hệ sinh thái nhân vănTrong tiến trình lịch sử xã hội đã từng diễn ra năm cuộc cách mạngthông tin - công nghệ lớn nhất, quan trọng nhất, đánh đấu năm trình độ haynăm nấc thang phát triển của xã hội loài người Bởi vì cùng với năm cuộccách mạng thông tin-công nghệ là sự biến đổi không ngừng của xã hội, thểhiện bằng sự thay đổi liên tục của các nền văn minh Ứng với mỗi cuộc cáchmạng thông tin này đã làm thay đổi mạnh mẽ các hệ sinh thái nhân văn, nhưhình thành các hệ sinh thái nhân văn mới hay làm mất đi những hệ sinh thái
nhân văn mới.Cách đây trên 10.000 năm, cuộc cách mạng thông tin lần thứ nhất được khởi phát bằng việc tạo ra tiếng nói; tiếp theo là cuộc cách mạng thông tin lần thứ hai được đánh dấu bằng việc tạo ra chữ viết; cuộc cách mạng thông tin lần thứ ba - phát minh ra nghề in; cuộc cách mạng thông tin lần thứ tư - phát minh ra điện tín, điện thoại, điện báo Vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm đang diễn ra hiện nay, với cốt lõi là
cuộc cách mạng số hoá - đang tạo ra các siêu lộ cao tốc thông tin, mạngInternet thuộc thế hệ II và thế hệ mới có tốc độ nhanh hơn 1000 lần so vớimạng Internet hiện nay, hệ thống thông tin di động thế hệ 3G và 4G, cùngvới các Hạ tầng cơ sở thông tin quốc gia, Hạ tầng cơ sở thông tin khu vực và
Hạ tầng cơ sở thông tin toàn cầu
Duới tên gọi khái quát chung là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba,
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm, đã đưa nhân loại quá độ từ Thời đại công nghiệp lên Thời
đại trí tuệ, được đặc trưng bởi Nền kinh tế dựa trên tri thức (hay còn đượcgọi là nền Kinh tế tri thức, nền Kinh tế mạng, nền Kinh tế mới hay nền Kinh
Trang 4dụng lửa và tiếp theo là sự chế tạo ra những công cụ sản xuất đầu tiên từ gỗ,
đá, xương dùng đế săn bắt và hái lượm
Sự sáng tạo ra tiếng nói là bước nhảy vọt đầu tiên trong thông tin xãhội Tiếng nói hay ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đầu tiên giữa người vàngười, là một đặc trưng độc đáo của tư duy con người, là một thuộc tính chỉvốn có ở con người
Các dạng tiếng nói, ngôn ngữ đã và đang hiện diện trên hành tinh củachúng ta, hết sức đa dạng và sinh động Mỗi tiếng nói, ngôn ngữ cụ thể nhưthế lại có một nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp của nó, với những chiềuhướng biến động, phát triển không phải bao giờ cũng hoàn toàn như nhau.Tuy nhiên, đó là những vấn đề được nghiên cứu riêng cho từng tiếng nóingôn ngữ một
Không phải chỉ có chúng ta hôm nay mới tự hỏi: ngôn ngữ của conngười ra đời từ đâu? nhờ ai? nhờ cái gì? Việc đặt những vấn đề đại loạinhư thế và lời giải đáp cho chúng, thực ra đã có không ít và có từ lâu, thậmchí từ xa xưa
Khi đức tin vào sức mạnh sáng tạo vạn năng nơi Thượng Đế bị đổ vỡ(vì chẳng bao giờ có Thượng Đế cả) thì không ai còn nghĩ rằng Thượng Đế
đã tạo ra loài người chúng ta và cho ta ngôn ngữ để ta biết nói như biết thởvậy
Người ta cũng đã cố gắng đi tìm nguồn gốc ngôn ngữ ở trần gian, nơingôn ngữ đang tồn tại và hoạt động Thế là các giải thuyết như: thuyết tượngthanh, thuyết về tiếng kêu động vật, thuyết về tiếng kêu trong phối hợp laođộng, thuyết cảm thán bộc lộ tâm lí tình cảm, thuyết quy ước xã hội… lầnlượt xuất hiện Ngày nay, bình tĩnh mà xét, các giả thuyết đó đều có phầnđúng của nó, nhưng tiếc thay, chỉ đúng được với một vài sự kiện hoặc hiệntượng ngôn ngữ mà thôi Nhìn nhận như thế về nguồn gốc ngôn ngữ, thật
Trang 5chẳng khác nào lấy một vài cây đã vội kết luận cho rừng bởi vì “thấy cây màchẳng thấy rừng”.
Với sự ra đời của triết học biện chứng, vấn đề nguồn gốc ngôn ngữđược xem xét và phân tích một cách toàn diện hơn, khoa học và hợp lí hơn:con người là chủ thể sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ; vậy phải tìm hiểu sự rađời của ngôn ngữ gắn liền với nghiên cứu nguồn gốc con người cả trong quátrình phát sinh giống nòi lẫn quá trình phát sinh và phát triển của mỗi cá thể
Các kết quả nghiên cứu về triết học, sinh vật học, khảo cổ học, sinh líhọc thần kinh và ngôn ngữ học… kết luận rằng lao động đã làm phát sinh,phát triển loài người và làm phát sinh ngôn ngữ trong quá trình đó
Hàng triệu năm trước đây, tổ tiên của chúng vốn là một loài vượnngười sống trên cây trong những cánh rừng tiền sử Do nhiều biến động của
tự nhiên, những cánh rừng ấy bị tiêu diệt Thức ăn trên tầng cây cao ngàycàng trở nên khó kiếm Loài vượn người ấy buộc phải rời khỏi ngọn cây cao(vốn là nơi trú ẩn, sinh sống từ lâu đời) xuống đất đi lang thang kiếm ăn
Trên mặt đất, sự di động chủ yếu không còn là leo trèo như trên câynữa; đã thế kẻ thù lại nhiều hơn… Việc tìm kiến thức ăn và tự vệ để sinhtồn… đã buộc loài vượn này tập dần được cách đi bằng hai chi sau và đứngthẳng mình lên Cái bản lề trong quá trình chuyển biến từ vượn thành ngườichính là việc đứng thẳng mình lên và đi bắng hai chân đó Để có được dángđứng thẳng lên, loài vượn người xưa kia đã phải “tập đi” hàng nghìn nămchứ không phải như một em bé tập đi bây giờ, chỉ độ một tháng là xong
Thế là hai tay con vượn người đựơc giải phóng Đôi chân bây giờhoàn toàn đảm đương việc đi lại Đôi tay ngày càng trở nên khéo léo hơn,biết sử dụng các vật sẵn có làm công cụ tự vệ, kiếm ăn; và quan trọng hơn:
nó biết chế tạo ra công cụ lao động Con vượn người đã chuyển dần thành con người vượn rồi thành người (người nguyên thuỷ).
Trang 6Dáng đứng thẳng cũng làm cho tầm mắt của tổ tiên chúng ta đượcrộng và xa hơn; đồng thời bộ ngực nở hơn đồng thời các cơ quan của bộ máyphát âm có điều kiện phát triển hơn.
Mặt khác, có công cụ trong tay, những người tiền sử đó kiếm được
nhiều thức ăn hơn và chuyển dần từ đời sống ăn thực vật (cây, quả, củ, rễ…)
sang đời sống ăn thịt Thêm vào đó, việc tìm ra và sử dụng được lửa cũngkhiến họ chuyển từ ăn sống sang ăn chín Một hệ quả quan trọng đã diễn ra,thức ăn chín, mềm khiếm xương hàm người ta không cần phải to như trướcnữa; lồi cằm (phần trước xương hàm dưới) vểnh ra rõ dần
Tuy nhiên, trong số các biến đổi về mặt sinh học của con người, sự
tiến bộ của bộ não là quan trọng nhất Nhờ lao động, nhờ ăn thịt, bộ não của
tổ tiên chúng ta cũng phức tạp dần lên; những phần vỏ não trực tiếp liênquan đến tiếng nói như thuỳ trán, thuỳ thái dương và phần dưới thuỳ đỉnh,phát triển mạnh Kết cục là so với những người bà con và anh em họ của tổtiên chúng ta, bộ não con người ngày nay (tính theo tỉ lệ giữa trọng lượngcủa não với trọng lượng của toàn thân) lớn hơn khỉ đột 10 lần, hơn đười ươi
6 lần, hơn khỉ đen 2 lần và hơn vượn 4 lần
Như vậy, lao động đã tạo ra con người và tạo ra những tiền đề thứnhất về mặt sinh học để ngôn ngữ có thể phát sinh Có thể nói lao động đểchuẩn bị và “tạo cơ sở vật chất” để loài người có những cơ quan thích hợpcho việc sản sinh tiếng nói
Cũng chính lao động đã tạo ra nhân tố xã hội để ngôn ngữ phát sinh.Lao động đã liên kết con người thành những bầy đàn, những cộng đồng và
về sau thành xã hội có tổ chức Muốn cùng chung sức để làm việc gì đó,người ta cần thoả thuận với nhau là sẽ làm gì, làm như thế nào… Nhữngđiều “biết được” về thế giới xung quanh, những kinh nghiệm trong lao độngcần phải được thông báo cho nhau từ người này sang người khác, từ thế hệnày sang thế hệ khác…
Trang 7Đến đây thì con người (dù là người cổ nhất) đã khác con vật về chất.Người ta đã đến lúc thấy “cần phải nói với nhau về một cái gì đó” bởi vì họ
đã có cái cần phải nói với nhau và có phương tiện để nói với nhau Phương
tiện ấy chúng ta gọi là ngôn ngữ Vậy không có ai khác, chính lao động đãsáng tạo ra con người và ngôn ngữ của con người Lao động đã làm cho bộ
óc của con người cổ xưa biết hoạt động “theo kiểu người” và có công cụ vừa
để tiến hành những hoạt động đó, vừa làm phong phú hoá nó, nâng nó lên
“trình độ của con người” Đó là ngôn ngữ
Tự bản chất của mình, từ khi mới phát sinh, ngôn ngữ vốn là công cụ,
là phương tiện để con người giao tiếp với nhau Thế nhưng, lúc đầu nó chưaphải là ngôn ngữ chúng ta đang có hôm nay; mà là thứ ngôn ngữ chưa phânthành âm tiết rõ ràng, bởi vì cái lưỡi, cái cằm và hàm dưới, hệ dây thanh…chưa phù hợp, thuần phục với công việc mới mẻ, đầy phức tạp – công việcphát tiếng nói – này: thậm chí có bộ phận còn đang trên đường hoàn thiệndần
Tuy vậy, người ta không đợi cho mọi bộ phận cấu âm phát triển thậthoàn chỉnh rồi mới nói với nhau Những tiếng nói còn lẫn, còn nghèo, và ú ớ
đó đã được phối hợp với các động tác, dáng vẻ của cơ thể: mặt mũi, vai, tay,
chân (nhất là đôi tay) để “phát biểu” ý nghĩ, tình cảm của họ Thoạt đầu tiếng nói của con người chưa khác các điệu bộ bao nhiêu (Điều này còn để lại những tàn dư của nó trong một số ngôn ngữ mà hiện nay ta còn thấy được Chẳng hạn trong ngôn ngữ dân tộc Êvê, người ta không dung một từ đi mà lại dùng nhiều từ khác nhau, miêu tả các kiểu đi khác nhau.
Trang 8Hoạt động tín hiệu là hiện tượng chung cho mọi loài động vật trênhành tinh chúng ta; nhưng con người, với ngôn ngữ của mình đã có thêmmột phương thức mới, khác hẳn về chất Nhờ có ngôn ngữ này mà từ đây,con người nghe được (tức là nhận được) một tín hiệu có nghĩa “mặt trời”chẳng hạn, thì anh ta đã nghĩ tới, đã hình dung ra mặt trời rồi, không cầnphải đợi cho tới khi nhìn tận mắt nữa.
Đối với động vật, chỉ có những kích thích trực tiếp về thị giác, thínhgiác, khứu giác, xúc giác mới trở thành tín hiệu kích thích được Ngược lại,đối với con người, ngoài những thứ đó, người ta còn có các từ trong ngônngữ để thay thế cho chúng Đến đây thì cái gọi là ngôn ngữ thực sự hìnhthành và không bao giờ rời xa loài người nữa
Nhờ có tiếng nói, lửa và các công cụ sản xuất thô sơ lấy từ tự nhiênđược cải biến qua bàn tay lao động của con người như cung tên, hòn đá đượcmài nhọn, v.v., con người bắt đầu tách mình ra khỏi thế giới động vật, trởthành một loài độc lập và sau đó là một cộng đồng người đông đảo, tồn tạitrong giới tự nhiên Cùng với giới tự nhiên, qua quá trình lao động sản xuất
và giao tiếng giữa người với người, con người còn tạo ra cho mình một môitrường sống mới - đó là xã hội Xã hội trong thời đại của cuộc cách mạngthông tin - công nghệ lần thứ nhất đã có những đặc trưng khác với thế giớiloài vật, nhưng nhìn chung vẫn còn ở trình độ phát triển rất thấp Đó là giai
Trang 9đoạn trước văn minh, hay theo cách gọi của Ph.Ăngghen, giai đoạn môngmuội dã man
Có thể coi cuộc cách mạng thông tin lần thứ nhất kết hợp với sự pháttriển ban đầu của công nghệ săn bắt hái lượm là mốc đầu tiên của việc hìnhthành hệ sinh thái nhân văn, mặc dù ở giai đoạn sơ khai, nhưng một xã hộiloài người nguyên thuỷ với những giá trị văn hoá lớn đã tìm được trênnhững di tích khảo cổ học Những hình vẽ được khắc trên đá hay những đồđồng đã cho chúng ta thấy được phần nào đời sống của xã hồi loài ngườithời đó
Người nguyên thuỷ sống cùng nhau thành bầy,đàn trong những hang hốc Họ liên kết với nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về “kinh tế”
-Họ cùng nhau săn, bắt, hái lượm, cùng nhau trồng trọt và cùng nhau sống.Bảo vệ nhau khỏi sự đe doạ của từ những mối đe doạ từ tự nhiên Cũng nhờ
sử dụng lửa và ăn chín, biết dự trữ thức ăn tạo nên một nguồn dự trữ lươngthực dồi dào mà con người trở nên thông minh hơn, ngày càng phát triển,sinh sôi nảy nở làm cho dân số tăng lên do đó từng nhóm người nhiều lên,tách ra những nơi khác nhau, hình thành các tiếng nói mới tạo nên tiếng nóicũng như văn hoá cũng có những nét khác nhau cơ bản Việc xuất hiệntiếng nói – hình thức thông tin đầu tiên đã tạo nên hệ sinh thái nhân văn vàbước đầu cũng đã xuất hiện sự đa dạng của hệ sinh thái nhân văn
2.2 Cuộc cách mạng thông tin – công nghệ lần thứ 2: Sự xuất hiện chữviết
Cuộc cách mạng thông tin - công nghệ lần thứ hai được bắt đầu bằngviệc con người sáng tạo ra chữ viết và biết chế tạo ra công cụ sản xuất bằngkim loại thủ công Thông tin được lưu trữ, truyền bá dưới dạng chữ viết đãtạo ra khả năng vô cùng to lớn cho con người trong việc tiếp thu và phổ biếnrộng rãi hơn, nhanh chóng hơn những tri thức thới giúp cho con người có cơ
sở đế tư duy phát triển và sáng tạo ra công nghệ mới Với hệ thống công
Trang 10nghệ thủ công, thông qua quá trình sản xuất xã hội, con người đã tiến hànhkhai thác và biến đổi các nguồn vật chất tự nhiên như đất đai, động thực vật.sức gió, sức nước, sức lực cơ bắp - tức là những "nguồn năng lượng sống"
có thể hồi phục được - thành những nguồn năng lượng và vật chất mới cầncho sự sinh tồn và phát triển tiếp tục của con người và xã hội loài người.Cuộc cách mạng thông tin - công nghệ lần thứ hai đã đưa xã hội vượt ra khỏigiai đoạn dã man, đến với xã hội văn minh, mở đầu là nền văn minh nôngnghiệp
Nền văn minh nông nghiệp được khởi đầu và diễn ra cùng với cuộccách mạng trong nông nghiệp mà cơ sở của nó chính là cuộc cách mạngthông tin - công nghệ lần thứ hai cách đây khoảng 10 nghìn năm Đặc trưng
cơ bản nhất của nền văn minh nông nghiệp là mãi mãi cột chặt con ngườivào đất đai mà đến bây giờ vẫn giống như cách đây hàng chục nghìn năm
Trong nền văn minh nông nghiệp, chữ viết đã tạo điều kiện thuận lợichưa từng có cho sự phát triển và sáng tạo công nghệ Đến lượt mình, hệthống công nghệ mới đã tạo cho con người nguồn sức mạnh mới Đó là thời
kỳ con người bắt đầu vượt ra khỏi những không gian chật hẹp, nhỏ bé củacác bộ tộc, bộ lạc, tiến hành những cuộc di dân lớn, nhăm chinh phục nhữngmiền đất mới Hệ thống công nghệ cơ khí thủ công như cày, bừa, cuốc,xẻng, búa, rìu, cối xay nước,cối xay gió, cùng với đất đai được khai pháchính là cơ sở của sự phát triển nông nghiệp và sự hình thành các nền vănminh nông nghiệp
Hình ảnh tiêu biểu của nền văn minh nông nghiệp là cái cuốc và đấtđai Đất đai là cơ sở của kinh tế, của đời sống văn hoá, của cấu trúc gia đình
và của cả chính trị trong các xã hội văn minh nông nghiệp Đặc trưng chonền văn minh nông nghiệp là đời sống xã hội được tổ chức chủ yếu xungquanh làng mạc; sự phân công lao động giản đơn chiếm ưu thế, nền kinh tế
bị phân quyền để mỗi công đồng tự sản xuất hầu hết những nhu cầu riêngcủa mình theo lối tự cấp tự túc v v Tất cả những đặc điểm đó của nền văn
Trang 11minh nông nghiệp, vê cơ bản đều bị quy định bởi trình độ phát triển còn bihạn chế của cuộc cách mạng thông tin - công nghệ lần thứ hai Tuy nhiên,những thành tựu đỉnh cao của cuộc cách mạng thông tin - công nghệ lần thứhai vẫn còn đế lại dấu ấn rất sâu sắc cho đến tận ngày nay, cả dưới dạng vănhoá vật chất lẫn văn hoá tinh thần Đó là Kim tự tháp ở Ai Cập; các hệ thốngthuỷ lợi và kiến trúc nguy nga của các thành phố nổi tiếng ở Minos, Hy Lạp.
La Mã Chữ viết đã ghi lại các công trình toán học kiệt xuất của Ơcơlít,Ácsimét, Ptôlêmê, những tư tưởng triết học vĩ đại của các nhà triết học nổitiếng Hy Lạp - La Mã cổ đại, những truyện thần thoại, tranh vẽ, v.v
Nền văn minh nông nghiệp phải cần đến hàng nghìn năm mới hìnhthành, đã trải qua hàng chục nghìn năm phát triển và vẫn tồn tại cho đếnngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, song, động lượng của nó đã bị cạn dần
Trước hết, chúng ta không nên quên là văn hoá truyền khẩu vẫn tồn tại một cách sống động, song song với chữ viết, trong một thời gian rất dài Trước khi mà chữ viết trở thành phổ quát trong thời hiện đại – Cách mạng Pháp 1789 thiết lập cưỡng bức giáo dục với hiến pháp 1793 ; vậy có thể nói khoảng 200 năm trước đây không ở đâu trên thế giới có số người biết chữ nhiều hơn số người mù chữ Việt Nam, trước Cách Mạng tháng tám – thì
nó vẫn chỉ là công cụ của một số người tương đối nhỏ trong dân số Vậy thật
ra xã hội hiện đại là xã hội phân hoá, trong đó người không biết chữ bị thiệt thòi và bị bóc lột Chỉ cần nhớ đến những tiểu thuyết mô tả sự chiếm hữu đấtđai của nông dân : sau khi họ khai phá rừng hoang, bỗng một ngày có người đến chìa ra tờ giấy chứng minh người ấy là chủ sở hữu của mảnh đất ấy
Điểm thứ hai quan trọng là sự chuyển đổi từ giáo dục truyền khẩu sang giáo dục qua sách vở thể nào cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển của
bộ óc con trẻ Người không biết chữ tư duy theo một cách, và người biết chữ
tư duy theo một cách khác Sản phẩm của những tư duy đó là học thuật, văn chương, cũng khác nhau Thơ có vần chủ yếu là di sản của thời truyền khẩu, với văn hoá nặng về chữ viết thì thơ không vần đã nảy sinh Nền giáo dục