Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị cho lãnh đạo bệnh viện, cơ quan quản lý các cấp nhanh chóng xây dựng các văn bản quy định hướng dẫn và chiến lược cụ thể về ứng d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ THANH TÙNG
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ THÔNG TIN KHÁM CHỮA BỆNH TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA KIÊN GIANG NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60720701
ĐỒNG THÁP, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ THANH TÙNG
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ THÔNG TIN KHÁM CHỮA BỆNH TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA KIÊN GIANG NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60720701
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM VĂN ĐỞM
ĐỒNG THÁP, 2017
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy TS Phạm Văn Đởm và Ths
Trần Thị Hồng đã tận tâm truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu khoa
học quý báu, định hướng và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này;
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, tập thể cán bộ và anh chị em đồng nghiệp tại Bệnh viện đa khoa Kiên Giang đã tạo điều kiện, quan tâm và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu, cung cấp thông tin trong cả quá trình hoàn thiện luận văn;
Xin cảm ơn những người thân trong gia đình, các anh/chị, em đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vừa qua
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên: Đỗ Thanh Tùng Lớp QLBV K8 Đồng Tháp
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Quản lý bệnh viện 5
1.1.1 Khái niệm về bệnh viện 5
1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện 5
1.2 Ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB 8
1.2.1 Định nghĩa 8
1.2.2 Một số thuật ngữ liên quan đến ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB 8
1.2.3 Lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB 10
1.3 Một số yếu tố cần thiết để triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB 12
1.3.1 Hạ tầng công nghệ thông tin 12
1.3.2 Kinh phí 13
1.3.3 Nhân lực 14
1.3.4 Cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành 14
1.3.5 Chính sách 15
1.3.6 Phần mềm quản lý bệnh viện 16
1.4 Tình hình ứng dụng CNTT quản lý TTKCB 19
1.4.1 Trên thế giới 19
1.4.2 Tại Việt Nam 19
1.5 Thông tin về bệnh viên Đa Khoa Kiên Giang 20
1.6 Công tác ứng dụng CNTT của BVĐKKG 24
1.7 Phần mềm quản lý TTKCB tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang 26
Trang 5KHUNG LÝ THUYẾT 29
CHƯƠNG 2: ĐÔI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 30
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
2.3 Thiết kế nghiên cứu 30
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 30
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 31
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu 32
2.6 Các biến số nghiên cứu 33
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 34
2.8 Đạo đức nghiên cứu 34
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB tại BVĐKKG 36
3.1.1 Thực trạng về nhân lực trong việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB tại BVĐKKG 36
3.1.2 Thực trạng về cơ sở hạ tầng về CNTT trong quản lý TTKCB tại BVĐKKG 39
3.1.3 Thực trạng về phần mềm quản lý TTKCB tại BVĐKKG 44
3.2 Những thuận lợi và khó khăn quá trình ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB 56
3.2.1 Yếu tố thuận lợi 56
3.2.2 Yếu tố khó khăn 60
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 62
4.1 Thực trạng ứng dụng CNTT quản lý TTKCB tại BVĐK Kiên Giang 62
4.1.1 Cơ sở hạ tầng thiết bị 62
4.1.2 Nguồn nhân lực CNTT trong quản lý TTKCB 63
4.1.3 Ứng dụng phần mềm quản lý TTKCB tại bệnh viện 64
4.1.4 Lợi ích việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB tại BVĐKKG 65
Trang 64.2 Những thuận lợi, khó khăn và các yếu tố thảnh hưởng tới việc triển khai CNTT quản lý
TTKCB tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang 65
4.2.1 Thuận lợi 67
4.2.2 Khó khăn 69
KẾT LUẬN 72
KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 79
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Công suất sử dụng giường bệnh, ngày điều trị bình quân, số lượt khám bệnh
trong 3 năm 24
Bảng 1.2: Kinh phí đầu tư cho hoạt động CNTT trong 2 năm 2012 và 2013 26
Bảng 2: Danh sách phục lục phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm 31
Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.2: Số lượng Bác sĩ và Điều dưỡng theo từng khoa 37
Bảng 3.3: Trình độ chứng chỉ tin học của cán bộ y tế BVĐKKG 38
Bảng 3.4: Trình độ chứng chỉ tiếng anh của cán bộ y tế BVĐKKG 39
Bảng 3.5: Số lượng máy tính tại các khoa sử dụng quản lý TTKCB 39
Bảng 3.6: Thời gian và mục đích sử dụng của máy tính tại 4 khoa nghiên cứu 40
Bảng 3.7: Số lượng máy tính kết nối mạng LAN, Internet tại các khoa nghiên cứu 42
Bảng 3.8: Đánh giá chức năng của phần mềm quản lý TTKCB Khoa Khám 45
Bảng 3.9: Đánh giá chức năng của phần mềm quản lý TTKCB tại khoa cấp cứu 46
Bảng 3.10: Đánh giá chức năng của phần mềm quản lý TTKCB tại nội trú 48
Bảng 4.1: Tổng hợp đánh giá các phân hệ phần mềm theo tiêu chí nội dung 64
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Đánh giá của cán bộ y tế về máy tính và máy in có đáp ứng nhu cầu quản lý TTKCB 41 Biểu đồ 2: Đánh giá của cán bộ về mạng LAN và internet có đáp ứng nhu cầu quản lý TTKCB 43 Biểu đồ 3: Lợi ích của việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB đối với Bệnh nhân và Nhân viên Y tế 52 Biểu đồ 4: Lợi ích của việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB trong việc hỗ trợ cán bộ y
tế quản lý thông tin và quy trình khám bệnh 53 Biểu đồ 5: Lợi ích của việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB trong việc hỗ trợ cán bộ y
tế kiểm soát thông tin và quy trình khám bệnh 55 Biểu đồ 6: Yếu tố thuận lợi của phần mềm 57 Biểu đồ 7: Đánh giá sự quan tâm và hỗ trợ của bệnh viện 58
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang với quy mô 1500 giường bệnh, là tuyến điều trị cao nhất, chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh, với dân số 1 triệu 400 ngàn dân Hằng năm, trong quá trình hoạt động của mình, bệnh viện đã sản sinh ra một khối lượng rất lớn các thông tin khám chữa bệnh (TTKCB) của bệnh nhân tới khám và điều trị Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong trong quản lý thông tin khám chữa bệnh là một yêu cầu cấp thiết đã được Lãnh đạo Bệnh viện quan tâm và đưa vào ứng dụng từ năm 2012 Sau 5 năm thực hiện việc ứng dụng CNTT trong quản TTKCB mang lại nhiều lợi ích thiết thực tuy nhiên cũng gặp một số khó khăn
Xuất phát từ cấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý thông tin khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa kiên giang năm 2017”
Nghiêu cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính được thực hiện từ tháng 02/2017 đến tháng 08/2017 tại Bệnh viện đa khoa Kiên Giang Đối tượng nghiên cứu định lượng gồm 180 bác sĩ và Điều dưỡng tại 4 khoa, được tham gia phát vấn theo
bộ câu hỏi có cấu trúc Nghiên cứu định tính, chúng tôi tiến hành phòng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa phòng và một số nhân viên liên quan
Kết quả nghiên cứu cho thấy Bệnh viện đa khoa Kiên Giang được đầu tư từ hệ thống phần cứng và phần phần mềm tương đối đồng bộ, đội ngũ cán bộ y tế có có năng lực về CNTT, đa số đều sử dụng được phần mềm quản lý TTKCB Những lợi ích mang lại sau khi triển khai ứng dụng CNTT quản lý TTKCB là giảm thời gian chờ của bệnh nhân và năng suất làm việc của cán bộ y tế được nâng cao Đối với cán bộ quản lý việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý
và điều hành được tốt hơn nhờ thông tin được cập nhật khi có thay đổi Ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB được thành công thể hiện sự quan tâm và hỗ trợ đắc lực
Trang 11từ ban Giám đốc Bệnh viện là yếu tố quyết định ngoài ra cò một số yếu tố khác bao gồm năng lực về CNTT của cán bộ và nhân viên y tế, trang thiết bị phần cứng và phần mềm được đầu tư hợp lý là những thuận lợi đáng kể Tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn bao gồm: Thiếu các văn bản quy định hướng dẫn của ngành y tế về ứng dụng CNTT quản lý TTKCB, việc liên kết chia sẽ TTKCB với BHYT còn khó khăn do không đồng nhất hệ thống Bệnh cạnh đó việc quy hoạch chưa hợp lý trong quá trình nâng cấp mở rộng diện tích sử dụng dẫn đến cơ sở hạ tần CNTT thiếu tính liên kết
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị cho lãnh đạo bệnh viện, cơ quan quản lý các cấp nhanh chóng xây dựng các văn bản quy định hướng dẫn
và chiến lược cụ thể về ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB, quan tâm tới việc sửa chữa, nâng cấp hệ thống CNTT quản lý TTKCB mang tính bền vững lâu dài nhằm góp phần đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế nước nhà
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật công nghệ thông tin đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng công nghệ thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọn cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành mà còn “đỡ đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các
kỹ thuật cao trong công tác khám chữa bệnh
Trong những năm qua ngành Y tế Tỉnh Kiên Giang đã và đang triển khai ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) tới các đơn vị bệnh viện trong tỉnh bước đầu đạt kết quả khả quan, 100% bệnh viện tỉnh, huyện và trên 80% trạm y tế xã, phường ứng dụng CNTT vào các hoạt động quản lý, điều hành, tác nghiệp, hỗ trợ khám và điều trị 100% cán bộ, y bác sĩ trong các bệnh viện tỉnh, huyện và trên 50% cán bộ của trạm y tế xã/phường được đào tạo cơ bản về tin học, đào tạo nghiệp vụ chung; Phát triển mạng y
tế của tỉnh phục vụ chẩn đoán, chữa bệnh từ xa Kết nối hệ thống chẩn đoán bệnh từ xa giữa Bệnh viện Đa khoa tỉnh với các bệnh viện đầu ngành tại thành phố Hồ Chí Minh
và các bệnh viện khác trong cả nước; giữa bệnh viện Đa khoa tỉnh với các bệnh viện đa khoa tuyến huyện [21]
Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang với 1500 giường bệnh, là tuyến điều trị cao nhất, chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh, với dân số 1 triệu 400 ngàn dân [3] Hằng năm, trong quá trình hoạt động của mình, bệnh viện đã sản sinh ra một khối lượng rất lớn các thông tin khám chữa bệnh (TTKCB) của bệnh nhân tới khám và điều trị Điều 59 luật khám chữa bệnh 2009 có ghi TTKCB là “tài liệu ghi chép tình hình bệnh tật và các chế độ điều trị, có ý nghĩa quan trọng trong quản lý bệnh nhân, nghiên cứu khoa học, chứng từ tài chính và pháp y” Thông tin khám chữa bệnh được xem như một công cụ hữu hiệu để quản lý bệnh nhân trong bệnh viện, theo dõi sự tiến triển của các bệnh viện hiện nay [2]
Trang 13Thông tin khám chữa bệnh là một loại tài liệu lưu trữ đặc biệt là về cấu tạo và ý nghĩa mang lại nhiều lợi ích cho nhiều người dân cũng như các cơ quan chức năng Đặc biệt việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB là một khái niệm mới tại Việt Nam, do đó còn nhiều tranh cãi xung quanh việc sử dụng CNTT quản lý TTKCB để thay thế thông tin khám chữa bệnh truyền thống Hiện tại các bệnh viện hầu như đã được tin học hóa việc thủ tục giấy tờ và các khâu khám chữa bệnh cũng như sử dụng CNTT vào quản lý TTKCB dần thay thế thông tin khám chữa bệnh giấy mới chỉ được một số bệnh viện áp dụng
Cơ sở vật chất và trang thiết bị CNTT được đầu tư Nguồn nhân lực có trình độ CNTT và chuyên môn được tăng cường Xong, số lượng chuyển tuyến từ các bệnh viện huyện về bệnh viện tỉnh vẫn còn tăng cao tỷ lệ chuyển tuyến của một số bệnh viện
có nơi tăng đến 166% Tại Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh đã thực hiện được nhiều giải pháp để hạn chế tình trạng quá tải Tuy nhiên, sự quá tải cục bộ của một số chuyên khoa chưa được cải thiện đáng kể, có khoa công suất sử dụng giường bệnh trên 100% trong 5 năm liên tục [3]
Với số lượng bệnh nhân khám và điều trị cao, việc quá tải bệnh viện thường xuyên xảy ra, công tác quản lý thông thường lộ ra nhiều bất cập và trì trệ Do vậy việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB trong quá trình hỗ trợ công tác quản lý bệnh viện là một yêu cầu thực tế và cấp thiết Do đó BGĐ bệnh viện quyết tâm đưa CNTT quản lý TTKCB vào nhằm hỗ trợ công tác quản lý trong bệnh viện
Với mong muốn đưa ra một bức tranh tổng thể về thực trạng công tác ứng dụng CNTT quản lý TTKCB tại BVĐK Kiên Giang Từ đó đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB tại bệnh viện để tìm ra những nguyên
nhân tồn tại và đề xuất giải pháp khắc phục, tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý thông tin khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa kiên giang năm 2017” Kết quả nghiên cứu sẽ giúp lãnh đạo bệnh viện xây dựng chiến lược
Trang 14phát triển tổng thể ứng dụng CNTT quản lý TTKCB trong bệnh viện trong thời gian tiếp theo
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thông tin khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang, năm 2017
2 Phân tích một số thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thông tin khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang, năm
2017
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Quản lý bệnh viện
1.1.1 Khái niệm về bệnh viện
Cùng với thời gian, khái niệm bệnh viện cũng có nhiều thay đổi Trước đây, bệnh viện được coi là “nhà tế bần” cứu giúp những người nghèo khổ Chúng được thành lập giống như những trung tâm từ thiện nuôi dưỡng người ốm yếu và người nghèo Ngày nay, bệnh viện được coi là nơi chẩn đoán và điều trị bệnh tật, nơi đào tạo
và tiến hành các nghiên cứu y học, nơi xúc tiến các hoạt động chăm sóc sức khỏe, và ở một mức độ nào đó là nơi trợ giúp cho các nghiên cứu y sinh học [14]
Theo khái niệm WHO, bệnh viện là một phần không thể thiếu của một tổ chức y
tế xã hội, có chức năng cung cấp cho dân cư các dịch vụ chữa trị và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại gia đình; bệnh viện cũng là trung tâm đào tạo các nhân viên y tế và trung tâm nghiên cứu y học [14]
Bệnh viện là một cơ sở y tế trong khu vực dân cư bao gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị cơ sở hạ tầng để phục
vụ bệnh nhân Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và một tổ chức động:
Một hệ thống lớn bao gồm: Ban Giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
Một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ khám bệnh, bệnh nhân vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc…
Một tổ chức động bao gồm đầu vào là bệnh nhân, cán bộ y tế, thuốc men, trang thiết bị cần có để chẩn đoán, điều trị Đầu ra là bệnh nhân khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc bệnh nhân tử vong [18]
1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện
Bệnh viện có 07 chức năng và nhiệm vụ chính: Cấp cứu-khám bệnh-chữa bệnh; Đào tạo cán bộ; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế và Quản lý kinh tế trong bệnh viện [4]
Trang 17Nhà nước khuyến khích các bệnh viện thực hiện công tác xã hội hóa y tế theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch
vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động
sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách Nhà nước Để thực hiện những nhiệm vụ trên Bệnh viện Đa Khoa Kiên Giang (BVĐKKG) tiên phong đi đầu trong lĩnh vực y tế tư nhân trên địa bàn tỉnh, bước đầu bệnh viện cũng đã áp dụng thành công các chức năng chính của bệnh viện [18]
(1) Cấp cứu – khám bệnh – Chữa bệnh:
Bệnh viện là nơi tiếp nhận mọi bệnh nhân đến cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú theo chế độ chính sách Nhà nước quy định Tổ chức khám sức khỏe, chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước
(2) Đào tạo cán bộ y tế:
Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế ở bậc trên đại học, đại học và trung học Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn
(3) Nghiên cứu khoa học về y học:
Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu về y học và ứng dụng những tiến bộ
kỹ thuật y học ở cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc Nghiên cứu triển khai dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu lựa chọn ưu tiên thích hợp trong địa bàn tỉnh, thành phố và các ngành Kết hợp với bệnh viện bạn và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của bệnh viện
(4) Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật:
Lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến dưới (Bệnh viện hạng I, II, III) thực hiện việc phát triển kỹ thuật chuyên môn Kết hợp với bệnh viện tuyến dưới thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khỏe ban đầu trong địa bàn các tỉnh, thành phố và các ngành
Trang 18Hiện nay việc ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện đã và đang thực hiện áp dụng 07 chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện tại đơn vị Nhờ vào việc ứng dụng này đã đem lại nhiều thuận lợi trong công tác quản lý điều hành của BGĐ Ưu điểm nổi bật nhất là việc quản lý thông tin bệnh nhân, tiền sử bệnh, tài chính viện phí rất thuận tiện và truy xuất nhanh chóng Nhờ vào ứng dụng CNTT nên việc lưu trữ dữ liệu được đảm bảo nhằm phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học cho lực lượng y bác sĩ trẻ Công tác phòng bệnh và hợp tác quốc tế cũng được hưởng lợi rất nhiều từ công nghệ thông tin trong y tế Ngoài ra vấn đề tài chính của bệnh viện tư nhân là yếu tố quan trọng của đơn vị nên khi áp dụng CNTT vào quản lý giúp ích rất nhiều trong công tác thống kê, báo cáo nhằm giảm thời gian và nguồn nhân lực đáng kể của đơn vị Ngoài những ưu điểm thì việc ứng dụng CNTT cũng bộc lộ những nhược điểm như nhân viên chưa quen các thao tác trên phần mềm quản lý, tuổi tác nhân viên ảnh hưởng rất lớn cho việc triển khai Thực tế áp dụng tại đơn vị những nhân viên lớn tuổi rất khó khăn trong việc thực hiện các thao tác trên hệ thống phần mềm Hiện nay các phần mềm QLBV tự phát, không được sự quản lý tập trung từ các cơ quan chức năng như BYT hay BHYT
Trang 19Trong phạm vi nghiên cứu này chỉ tập trung vào chức năng chính của việc ứng dụng CNTT trong quản lý thông khám chữa bệnh của bệnh nhân tới khám và điều trị tại BVĐKKG: Do tính đặc thù của bệnh viện đa khoa Kiên Giang là số lượng bệnh nhân nhiều nên việc kê đơn, thanh toán viện phí, thống kê báo cáo rất khó khăn Công tác quản lý bệnh viện cũng như thông tin khám chữa bệnh của bệnh nhân rất phức tạp Chữ viết của các bác sĩ khó đọc do đó khó khăn cho người sử dụng TTKCB, dễ gây ra rủi ro do nhầm lẫn Ghi diễn biến của bệnh chưa đầy đủ, còn sai sót trong ghi chép TTKCB Khó khăn trong việc lưu trữ và tìm kiếm thông tin bệnh nhân
1.2 Ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB
1.2.1 Định nghĩa
Ứng dụng CNTT quản lý TTKCB là một hệ thống quản lý thông tin sức khỏe bệnh nhân được quản lý dựa trên công nghệ hiện đại, giao tiếp và lưu trữ trên các hệ thống máy tính [16]
Việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB chính là một thông tin khám chữa bệnh được lưu trữ trong một hệ thống, hệ thống này được thiết kế đặc biệt để hỗ trợ người sử dụng thông qua: các dữ liệu bệnh nhân chính xác và đầy đủ, các công cụ giám sát và nhắc nhở, hệ trợ giúp quyết định, các liên kết tới cơ sở tri thức y học và nhiều phương tiện trợ giúp khác
1.2.2 Một số thuật ngữ liên quan đến ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB
+ Hồ sơ sức khỏe tự động (AHR – Automated Health Record): Thuật ngữ hồ sơ
sức khỏe tự động đã được sử dụng để mô tả một hệ thống lưu trữ các hình ảnh, hồ sơ sức khỏe trên máy tính Thông thường, các tài liệu được quét vào máy tính và các hình ảnh được lưu vào đĩa quang học Hệ thống này được sử dụng hầu hết vào những năm đầu thập kỷ 1990 Với hệ thống này, thông tin được quét hình ảnh, lưu trữ và có thể truy cập được Theo cách này thì các thông tin có thể được sử dụng và truy cập tuy nhiên khả năng sử dụng hệ thống cho các chức năng tương tác và hỗ trợ người sử dụng
bị hạn chế rất nhiều [33]
Trang 20+ Bệnh án điện tử EMR (Electronic Medical Record): là phiên bản số của bệnh
án bằng giấy được tạo ra bởi các bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên y tế trong một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Hệ thống bệnh án điện tử là một hệ thống độc lập cho phép lưu trữ, thu thập, sửa đổi và bổ sung các thông tin chăm sóc sức khỏe [7]
+ Hồ sơ y tế điện tử EHR (Electronic Health Record): là phiên bản số của hồ sơ
y tế bao gồm thông tin nhân khẩu học, tiêm chủng, dị ứng và nhóm máu; Thông tin tóm tắt quá trình điều trị, các triệu chứng và bệnh, , dấu hiệu sinh tồn, kết quả cận lâm sàng, điều trị bằng thuốc… [7]
+ Hồ sơ bệnh nhân dựa trên máy tính (CPR – Computer based patiend patient
records): Tại Mỹ, thuật ngữ hồ sơ bệnh nhân dựa trên máy tính đã được giới thiệu từ
năm 1990 Điều này được định nghĩa là một tập hợp các thông tin y tế cho một bệnh nhân được liên kết bởi một hệ nhận dạng của bệnh nhân CPR tập trung vào các chức năng như cảnh báo y tế, đặt hàng thuốc, cung cấp các dữ liệu tích hợp đăng ký bệnh nhân, nhập viện, các chi tiết về tài chính, các thông tin ghi chép từ y tá, phòng xét nghiệm, điện quang và dược phẩm [33]
+ Chuẩn quốc tế HL7 (Health Level 7): HL7 cung cấp giao thức chuẩn về quản
lý, trao đổi và tích hợp các dữ liệu y tế giữa các hệ thống thông tin y tế nhằm hỗ trợ các hoạt động y tế [7]
+ HL7 CDA (Health Level 7 Clinical Document Architecture): là một tài liệu
tiêu chuẩn quy định cấu trúc và ngữ nghĩa các dữ liệu lâm sàng phục vụ mục tiêu trao đổi dữ liệu giữa các bên liên quan [7]
+ Chuẩn hình ảnh số trong truyền thông y tế DICOM (Digital Imaging
Communications in Medicine): là chuẩn quốc tế xác định giao thức trao đổi, lưu trữ, xử
lý và chia sẻ dữ liệu hình ảnh giữa các thiết bị y tế và các hệ thống thông tin y tế [7]
+ Hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý và truyền hình ảnh PACS (Picture Archiving
and Communication System): lưu trữ, xử lý, khai thác cơ sở dữ liệu, âm thanh, hình
ảnh, truyền hình ảnh động và các dữ liệu khác từ những thiết bị chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, Xquang, CT scanner, cộng hưởng từ hạt nhân Các lĩnh vực ứng dụng
Trang 21nhiều nhất của PACS là chẩn đoán hình ảnh từ xa (Teleradiology), chẩn đoán giải phẫu bệnh từ xa (Telepathology) [7]
1.2.3 Lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB
Một số tổ chức y tế đang thành công trên con đường áp dụng CNTT trong quản
lý TTKCB Sự phát triển này trở nên khả thi hơn nhờ những tiến bộ trong công nghệ máy tính được sử dụng vào lĩnh vực y tế Những công nghệ và ứng dụng mới như vậy
có khả năng cải thiện được chất lượng chăm sóc sức khoẻ, nâng cao những cơ sở khoa học trong ngành Y, giảm giá tiền của các dịch vụ y tế, hỗ trợ đào tạo các chuyên gia chuyên ngành [11]
Việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB chắc chắn sẽ tác động tích cực đến chất lượng chăm sóc bệnh nhân qua 4 con đường:
Đầu tiên, ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB cung cấp một phương tiện cải tiến cả việc truy nhập cũng như chất lượng dữ liệu
Thứ hai, chúng cho phép những nhà cung cấp dịch vụ y tế có thể tổng hợp thông tin về bệnh nhân vượt qua cả yếu tố thời gian và không gian
Thứ ba, các bác sỹ có thể tham khảo các tri thức Y học một cách dễ dàng hơn Cuối cùng, việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB cung cấp khả năng trợ giúp quyết định của những nhà chuyên môn
Việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB cho những kết qủa nghiên cứu trở nên hữu ích hơn Các nhà nghiên cứu có thể mở rộng cũng như truy nhập dữ liệu dễ dàng hơn Thêm nữa, những kết quả ấy còn có thể được chuyển tới các nhà chuyên gia
để tiếp tục ghiên cứu và phát triển thành một tài liệu chuyên ngành
Ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB cũng hỗ trợ cho việc giảm giá thành của các dịch vụ y tế Thông tin cải tiến sẽ giảm bớt các dịch vụ thừa, không cần thiết Việc trình bày những yêu cầu và viết báo cáo cũng được tự động hoá thông qua hệ thống máy tính nên chi phí hành chính giảm đi đáng kể Hiệu quả làm việc của bác sỹ cũng được tăng đáng kể nhờ việc rút ngắn thời gian tìm kiếm thông tin, giảm bớt được những thông tin không chính xác
Trang 22* Lợi ích đối với bệnh nhân
Đối với bệnh nhân, việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB giúp họ có thể tự truy cập vào hồ sơ riêng của mình và biết được tình trạng bệnh của mình như thế nào
và đã được điều trị bằng các thuốc gì, xét nghiệm ra sao Khi bệnh nhân có một thông tin khám chữa bệnh được quản lý bằng CNTT thì bệnh nhân sẽ được cấp một mã số riêng, khi bệnh nhân mang theo thẻ có mã số, chẳng may có vấn đề gì đó như cảm, ốm đột ngột trên đường, hoặc bị tai nạn phải vào bệnh viện, bệnh viện biết mã số của bệnh nhân đó, có thể vào xem bệnh nhân có tiền sử bệnh gì để tránh xảy ra những điều đáng tiếc Như vậy sẽ giảm thiểu được tối đa những xử lý không chính xác khi bệnh nhân đi cấp cứu [1] Một thông tin khám chữa bệnh được ứng dụng CNTT tiên tiến với các chức năng toàn diện có thể gửi các nhắc nhở y tế đến điện thoại hay máy tính cá nhân của bệnh nhân, nó được xem như chiếc “Phao cứu sinh” giúp bệnh nhân kéo dài thêm tuổi thọ Theo một nghiên cứu về tầm soát ung thư cổ tử cung cho thấy chức năng nhắc nhở y tế trong việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB góp phần đảm bảo 13000 cuộc sống/năm với chi phí tiết kiệm từ 152 triệu USD đến 456 triệu USD mỗi năm [26]
Ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB còn góp phần công khai, minh bạch trong khám chữa bệnh cho bệnh nhân, giúp bệnh nhân biết: Kết quả xét nghiệm, tiền thuốc lưu trong đơn (tức là trong máy), theo dõi được diễn biến bệnh nếu bệnh nhân đến khám đều đặn [1] Đồng thời cũng góp phần giảm các chi phí cho chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân [26]
* Lợi ích đối với ngành y tế
Ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB lưu trữ các dữ liệu giúp ích cho quá trình khám điều trị bệnh, chăm sóc bệnh nhân một cách trực tiếp hay gián tiếp Nó có thể được sử dụng để đánh giá chất lượng chăm sóc, nghiên cứu, giáo dục và quản lý chăm sóc sức khỏe Hơn thế nữa dữ liệu trong máy tính giúp cho việc truy cập nhanh chóng
và nhiều dữ liệu cần thiết có thể được chia sẻ giữa các bác sĩ từ đó các bác sĩ có thể rút
ra các kinh nghiệm trong điều trị và chăm sóc bệnh nhân [13] Ứng dụng CNTT trong
Trang 23quản lý TTKCB tiêu chuẩn hỗ trợ cải thiện hiệu quả tiến trình công việc, cải thiện giao tiếp giữa bác sĩ và chuyên gia, có thể tạo điều kiện tuân thủ quy định và nâng cao doanh thu cho bệnh viện[13]
Ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB hỗ trợ các nhà cung cấp dịch vụ y tế trong việc cung cấp điều trị, chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất Đồng thời nó cũng giúp giảm các vụ kiện liên quan đến chuyên môn bởi vì thông tin khám chữa bệnh được ứng dụng CNTT toàn diện sẽ giúp giảm bớt các sai sót của nhân viên y tế [19], thông qua các chức năng hiện đại sẵn như hệ thống trợ giúp trong quyết định lâm sàng
và nhắc nhở y tế
Ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB còn cho chúng ta nghiên cứu và thu thập
dữ liệu về các bệnh hiếm một cách hiệu quả và đầy đủ toàn diện [27] Giúp tinh giản các quy trình làm việc lâm sàng tiết kiệm được thời gian trong khám và điều trị bệnh Việc duy trì các đường mòn dữ liệu và các thông tin liên quan có thể giúp cho việc phân tích của các nghiên cứu y tế, kiểm toán, đảm bảo chất lượng, giám sát dịch tễ học và giám sát dịch bệnh dễ dàng hơn [31]
1.3 Một số yếu tố cần thiết để triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB 1.3.1 Hạ tầng công nghệ thông tin
Hạ tầng CNTT là tất cả các yếu tố vật chất liên quan đến CNTT như:
- Phần cứng: Các thiết bị bị máy chủ, máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy in, là các thiết bị dùng để lưu trữ, xử lý dữ liệu
- Hệ thống mạng: là tập hợp các thiết bị như máy chủ, máy tính, máy in,… được kết nối với nhau nhằm chia sẻ tài nguyên Môi trường kết nối truyền tải dữ liệu có thể
là dây dẫn (cáp đồng, cáp quang), sóng (đối với các mạng không dây) Có thể phân hệ thống mạng theo phạm vi địa lý như sau:
+ Mạng nội bộ (LAN: Lacal Area Network): mạng có phạm vi trong một tòa nhà
+ Mạng đô thị (MAN: Metro Area Network): mạng có phạm vi trong đô thị
Trang 24+ Mạng diện rộng (WAN: Wide Area Network): mạng diện rộng, có phạm vi rộng có thể gồm một hay nhiều mạng MAN
+Mạng toàn cầu (Internet): Mạng chia sẻ trên phạm vi toàn thế giới
- Hệ điều hành: là chương trình chạy trên máy tính cá nhân, máy chủ, các thiết
bị kỹ thuật số Dùng để quản lý phần cứng, các tài nguyên phần mềm trên thiết bị đó
Hệ điều hành đóng vai trò trung gian trong việc giao tiếp giữa người sử dụng và phần cứng
- Hệ thống các ứng dụng: là các phần mềm có khả năng làm cho máy tính thực hiện trực tiếp một công việc nào mà ngưuời dùng muốn thực hiện
- Hệ thống phần cứng là yếu tố đảm bảo cho việc vận hành, ứng dụng CNTT diễn ra an toàn và thông suốt
1.3.2 Kinh phí
Ngoài các yếu tố hạ tầng CNTT, để triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB thì vấn đề đảm bảo nguồn kinh phí cần phải được quan tâm đặc biệt Các loại chi phí chính cho hoạt động bao gồm chi phí xây dựng hệ thống, chi phí duy trì hệ thống, chi phí hoạt động, phí đầu tư trang thiết bị phụ trợ, phí đào tạo v.v,,,
- Kinh phí duy trì hệ thống: Bao gồm các loại chi phí bảo trì, bảo dưỡng, vận hành hệ thống, chi phí cho các công việc sao lưu dữ liệu, nhập, chuyển đổi dữ liệu sang dạng điện tử, v.v
- Kinh phí thu hút, đãi ngộ: đây cũng là một dạng của kinh phí hoạt động nhưng không phải bắt buộc với mọi tổ chức tiến hành ứng dụng CNTT quản lý TTKCB, nó chỉ thể hiện mức độ quan tâm của tổ chức đối với việc phát triển và đảm bảo cho việc thu hút nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình tin học hóa của tổ chức
- Kinh phí đào tạo: Kinh phí đảm bảo cho việc đào tạo bổ sung cho các nhân viên mới khi tiếp cận vào hệ thống CNTT như quy trình tác nghiệp, thao tác hệ thống,
sử dụng phần mềm chuyên dụng… Đào tạo cho người lao động khi có một công nghệ mới được ứng dụng, thay đổi quy trình, đào tạo bổ sung nâng cao trình độ hằng năm
Trang 25Hoạt động của hệ thống thông tin là liên tục vì vậy việc duy trì nguồn kinh phí
và tiến độ đầu tư kinh phí cũng như đảm bảo và cân đối nguồn kinh phí cho phù hợp với quy mô và mục tiêu là rất quan trọng Khi ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB
nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức, đơn vị và vì thế không thể dừng hoạt động của hệ thống vì nó sẽ gây ảnh hưởng xấu tới đơn vị
Trừ các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực CNTT còn lại thông thường nguồn kinh phí cho ứng dụng CNTT của tổ chức, đơn vị thường khá hạn chế so với các loại chi phí khác, chính vì vậy việc cân đối chi phí cho các hạng mục và đầu tư chi phí một cách tiết kiệm, hiệu quả sẽ đảm bảo thành công cho quá trình triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB
1.3.3 Nhân lực
Nhân lực trong hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB bao gồm lãnh đạo, chuyên gia CNTT, đội ngũ Bác sĩ, Điều dưỡng và NVYT Để tiến hành ứng dụng CNTT quản lý TTKCB cần đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có chất lượng
Một hệ thống phát triển nhân lực đúng đắn sẽ đáp ứng đầy đủ yêu cầu nhân lực cho quá trình ứng dụng CNTT quản lý TTKCB Muốn vậy cần có dự báo đúng nhu cần hân lực để có chiến lược đào tạo, xây dựng kho nhân lực cân bằng về cơ cấu và thành phần, đầy đủ về kỹ năng Tiếp theo là việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ấy
Lãnh đạo chính là kiến trúc sư trưởng và là linh hồn của công trình đó Quy mô
và chất lượng của công trình được quyết định bởi người lãnh đạo Do đó nhận thức về tiềm năng và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB thì khả năng thành công mới cao
Đối với nhân viên y tế, nhận thức về việc ứng dụng CNTT là sự hiểu biết về lợi ích mà nó đem lại trong công việc đang thực hiện, để qua đó thường xuyên trao đổi, học hỏi nâng cao trình độ CNTT của mình
1.3.4 Cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành
Cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành là một yếu tố tác động khá nhiều đối với quá trình tin học hóa của một tố chức Nếu coi yếu tố hạ tầng CNTT là phần xác, yếu
Trang 26tố nhân lực là phần hồn thì cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành là việc sắp xếp, phối hợp và trao đổi qua lại giữa 2 yếu tố trên để cơ thể hoạt động một cách hoàn hảo Việc
bố trí, phối hợp một cách hợp lý sẽ làm tăng hiệu quả công việc và ngược lại
Việc bố trí rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận, điều hành tổ chức thống nhất từ cao xuống thấp sẽ tạo ra cách tiếp cận mang tính tổng quát và các quy trình phối hợp chặt chẽ, rõ ràng, giao trách nhiệm cụ thể cho từng đối tượng giúp cho việc quản lý điều hành trở nên đơn giản và dễ thực hiện
Xác định rõ mục tiêu ứng dụng CNTT quản lý TTKCB trên cơ sở cải tiến bộ máy hoạt động một cách phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, đảm bảo tính khả thi, tránh gây các xáo trộn lớn, ảnh hưởng đến hoạt động chính của tổ chức
Nâng cao quyền hạn cho bộ phận CNTT, đặc biệt là các bộ phận phụ trách việc cải cách của tổ chức Nếu tổ chức có đủ điều kiện về nhân lực và vật lực nên tổ chức
bộ phận phụ trách tin học riêng và phải được phụ trách bởi người có thẩm quyền Tổ chức theo kiểu kiêm nhiệm dẫn đến việc coi vấn đề này chỉ là công việc làm không chính thức, công việc cải cách sẽ trở nên kém hiệu quả
1.3.5 Chính sách
Để triển khai tin học hóa cần phải có sự phối hợp đồng bộ của nhiều cá nhân, bộ phận trong toàn tổ chức chứ không thể tiến hành một cách nhỏ lẻ, do vậy phải có định hướng chiến lược rõ ràng, chính vì vậy chủ trương chính sách của tổ chức là yếu tố quyết định, định hướng và thúc đẩy quá trình đó Tổ chức chịu ảnh hưởng bởi 2 loại chính sách là chính sách bên trong và chính sách bên ngoài (Chính sách bên trong là các chính sách do tổ chức đề ra, chính sách bên ngoài là chính sách môi trường đây có thể là chính sách của Chính phủ, Nhà nước hoặc của Bộ Y tế)
Có thể xây dựng chính sách theo 3 cấp: Cấp định hướng chiến lược, cấp lập kế hoạch và cấp thực hiện:
+ Cấp định hướng chiến lược: Lãnh đạo hoặc các cố vấn cao cấp, các chuyên gia thực hiện công việc xác định chiến lược, thứ tự ưu tiên phát triển ứng dụng dựa trên chiến lược phát triển của tổ chức Cấp định hướng chiến lược ở trong một tổ chức
Trang 27thường là bộ phận đứng đầu của tổ chức đó, có thể tham khảo ý kiến hoặc thuê các chuyên gia, cố vấn cao cấp để hoạch định chiến lược
+ Cấp lập kế hoạch: cụ thể hóa các chính sách của cấp chiến lược như lập các phương án, kế hoạch, dự án, đề án thực hiện các ý tưởng của cấp định hướng
+ Cấp thực hiện: triển khai thực hiện sẽ dựa trên phương án, kế hoạch của cấp lập kế hoạch
+ Cấp thực hiện:triển khai thực hiện sẽ dựa trên phương án, kế hoạch của cấp lập kế hoạch
Chính sách có khoa học thì hoạt động mới khoa học và hiệu quả đạt được cao
Bill Gates, nhà tỷ phú Mỹ đã nói “Nếu các nhà quản lý phải sử dụng mọi biện pháp có
thể một cách tùy tiện, qua thời gian họ sẽ tạo nên vô vàn hệ thống không thích nhau Mỗi hệ thống độc lập có thể tự nó hoạt động rất tốt nhưng các dữ liệu trong đó hoàn toàn độc lập và khó lòng phối hợp với dữ liệu trong hệ thống khác” [12]
1.3.6 Phần mềm quản lý bệnh viện
Phần mềm là yếu tố quan trọng quyết định thành công của việc triển khai ứng dụng CNTT quản lý TTKCB nhưng là yếu tố khó thực hiện nhất Để có được một hệ thống phần cứng đồng bộ và hiện đại ta chỉ cần có kinh phí là có thể thực hiện được Nhưng với phần mềm thì không đơn giản như thế Để có một phần mềm đáp ứng các yêu cầu quản lý phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và có rất nhiều đơn vị, tổ chức đã thất bại vì phần mềm không đáp ứng được yêu cầu bài toán quản lý đặt ra Vậy, thế nào là một phần mềm có chất lượng?
Đánh giá chất lượng của phần mềm ta có một số tiêu chuẩn quốc tế đã đưa ra các chuẩn: ISO/IEC 9126, ISO/IEC 14598, IEEE 1061, ISO 12119… Dựa trên các tiêu chí của các chuẩn này, Bộ thông tin và Truyền thông cũng đưa ra chuẩn quốc gia về chất lượng sử dụng có thể đạt được những mục đích cụ thể với tính hiệu quả, tính năng suất, tính an toàn và tính thỏa mãn:
+ Tính hiệu quả: Là khả năng của phần mềm cho chép người dùng đạt được mục đích một cách chính xác và hoàn toàn, trong điều kiện làm việc cụ thể
Trang 28+ Tính năng suất: Là khả năng của phần mềm cho phép người sử dụng lượng tài nguyên hợp lý tương đối để thu được hiệu quả công việc trong những hoàn cảnh cụ thể
+ Tính an toàn: Là phần mềm có thể đáp ứng mức độ rủi ro chấp nhận được đối với người sử dụng, phần mềm, thuộc tính hoặc môi trường trong điều kiện cụ thể
+ Tính thỏa mãn: Là phần mềm có khả năng làm thỏa mãn người sử dụng trong từng điều kiện cụ thể [28]
Như vậy, tính hiệu quả ở đây là khả năng cho phép người dùng đạt được mục đích Phần mềm ở lĩnh vực nào thì phải đáp ứng các yêu cầu của người dùng ở lĩnh vực
đó
Với phần mềm quản lý bệnh viện, tháng 12/2006, Bộ Y tế đã ban hành Quyết
định số 5573/QĐ-BYT về “Tiêu chí phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm
tin học quản lý bệnh viện” Quyết định này quy định các tiêu chí về nội dung và kỹ
thuật của phần mềm quản lý bệnh viện Về nội dung, phần mềm quản lý bệnh viện bao gồm 8 phân hệ cơ bản:
+ Phân hệ quản lý khoa khám bệnh
+ Phân hệ quản lý khoa lâm sàng/người bệnh nội trú
+ Phân hệ quản lý cận lâm sàng
+ Phân hệ quản lý dược – Vật tư tiêu hao bệnh viên
+ Phân hệ quản lý thanh toán viện phí và BHYT
+ Phân hệ quản lý nhân sự, tiền lương
+ Phân hệ quản lý chỉ đạo tuyến
+ Phân hệ quản lý trang thiết bị y tế
Trong mỗi phân hệ đều quy định các tiêu chí quản lý cụ thể cả chi tiết
Về các tiêu chí kỹ thuật, phần mềm quản lý bệnh viện phải đảm bảo 7 tiêu chí sau:
+ Tiêu chí mở
+ Tiêu chí kết nối
Trang 29+ Tiêu chí an toàn dữ liệu và bảo mật thông tin
+ Tiêu chí sao lưu dự phòng và phục hồi số liệu
+ Tiêu chí thống nhất các danh mục sử dụng trong phần mềm
+ Tiêu chí phông chữ UTF-8
+ Tiêu chí chuẩn cơ sở dữ liệu: HL7 (với phần mềm chẩn đoán hình ảnh có thêm chuẩn DICOM, PACS) [7]
Ngày 25/06/2010, Bộ Y tế đã ra Công văn số 4121/BYT-KCB về việc “Đẩy
mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện” yêu cầu “các bệnh viện khẩn trương triển khau ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện theo tiêu chí phần mềm quản lý bệnh viện ban hành trong QĐ số 5573/QĐ-BYT ngày 29/12/2006, đặc biệt chú trọng các phân hệ: quản lý thông tin người bệnh, quản lý kho dược, dự trù kê đơn, cấp phát thuốc qua mạng, viện phí và BHYT, báo cáo thống kê” và “giao cho Cục QLKCB nghiên cứu áp dụng các tiêu chí về ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện trong bảng điểm kiểm tra bệnh viện hằng năm và tiêu chuẩn xếp loại, đánh giá chất lượng bệnh viện” [10]
Tháng 7/2010, trong Hội nghị về “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện và kê đơn thuốc điện tử”, Thứ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhấn mạnh
“Bộ Y tế sẽ chỉ đạo từ năm 2011 sẽ đánh tụt hạng các bệnh viện nếu không triển khai
ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện” [13]
Như vậy, có thể thấy ứng dụng CNTT trong quản lý đã trở thành vấn đề cấp thiết của bệnh viện và Quyết định 5573/QĐ-BYT là văn bản định hướng quan trong cho các bệnh viện cũng như các Nhà cung cấp phần mềm trong việc thiết kế, xây dựng phần mềm quản lý bệnh viện Đồng thời, quyết định 5573/QĐ-BYT cũng có thể được xem là tiêu chí Bộ Y tế quy định, những lợi ích phần mềm mang đến cho nhân viên y
tế và cho bệnh nhân, những ưu điểm và những tồn tại của phần mềm từ góc độ nhìn nhận của người sử dụng cũng là những yếu tố phản ảnh chất lượng của phần mềm
Trang 301.4 Tình hình ứng dụng CNTT quản lý TTKCB
1.4.1 Trên thế giới
Tại đất nước khai sinh ra ngành CNTT như nước Mỹ, năm 2002 tổng thống Mỹ
G Bush đã xác định đến năm 2014 toàn dân Mỹ sẽ được cấp mã số sức khỏe, nối mạng bệnh viện toàn quốc Năm 2008, Tổng thống Obama ngay những ngày đầu nhậm chức
đã kêu gọi ứng dụng CNTT trong cải cách y tế [9],[25]
Các nước tiên tiến như Anh, Đức, Úc, Canada là những nước đặc biệt chú trọng đầu tư chi phí vào CNTT ứng dụng trong y tế vì thấy được tầm quan trọng của sức khỏe nhân dân đồng thời tiết kiệm được nhiều chi phí so với không ứng dụng CNTT New Zealand được xem là nước có ứng dụng CNTT trong y tế tốt nhất hiện nay Các nước trên thế giới đã lên kế hoạch xây dựng chương trình quốc gia về CNTT y tế để thích nghi với thời đại mới [22],[28]
Tại khu vực Châu Á, các nước tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… cũng đã ứng dụng tốt CNTT trong quản lý bệnh viện [30],[32]
1.4.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam tháng 04 năm 2014 Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến có đưa ra
dự thảo Thông tư hướng dẫn về việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh Trong thông tư nêu rõ các nội dung và đối tượng được áp dụng Qua đó có thể thấy được BYT rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT trong quản
lý TTKCB
Tại Bệnh Viện Bạc Mai đã áp dụng thử nghiệm đưa thẻ KCB điện tử nhỏ gọn như thẻ ATM với rất nhiều tiện ích cho bệnh nhân Theo đó chỉ cần sở hữu một thẻ KCB điện tử mua thẻ tại Khoa KCB theo yêu cầu, bệnh nhân sẽ có mã số, mã vạch và mật khẩu để có thể truy cập trang web của BV Bạch Mai bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu miễn là có đường truyền Internet Hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB đã thấy rõ, bởi thẻ KCB điện tử sẽ giống như một bệnh án điện tử, mỗi lần đi KCB, bệnh nhân không phải mang nhiều giấy tờ, thông tin khám chữa bệnh, không phải chờ đợi làm các thủ tục, xét nghiệm, thăm khám lại, mà bác sỹ điều trị vẫn có thể
Trang 31xác định chính xác phác đồ điều trị bởi mọi thông tin bệnh án như tiền sử bệnh, triệu chứng, kết quả xét nghiệm, đơn thuốc, các hoạt chất chống chỉ định cũng như tất cả thông tin liên quan qua các lần KCB, điều trị đã được lưu giữ tại hệ thống máy tính bệnh viện [23],[22],[11]
Sở Y tế TP Hồ Chí Minh đã ứng dụng CNTT vào hoạt động qua việc sử dụng phần mềm dùng chung quản lý văn bản và hồ sơ công việc để quản lý quy trình và hồ
sơ của tất cả các dịch vụ hành chính công mà Sở đang cung ứng cho người dân Kết quả triển khai CNTT trong hoạt động dịch vụ hành chính công tại Sở Y tế đã giúp toàn
bộ quá trình thụ lý hồ sơ được thực hiện chặt chẽ trên môi trường mạng LAN, quá trình
xử lý được kiểm soát chặt chẽ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ tăng lên… Bên cạnh
đó, người dân cũng có một kênh tra cứu thông tin và giao tiếp với cơ quan quản lý nhà nước thuận lợi, hạn chế được phần nào tình trạng người dân phải “ăn chực nằm chờ” với thủ tục hành chính công như trước [23],[8],[12]
Hiện nay tại Việt Nam đã có phần mềm đầy đủ tính năng quản lý liên hoàn trên cùng một hệ thống Hệ thống quản lý bệnh nhân (Patient Information Management System - PIS): Hệ thống quản lý bệnh nhân ghi chép thông tin của bệnh nhân từ khi bắt đầu nhập viện đến khi xuất viện Mỗi giai đoạn giao dịch của bệnh nhân với bệnh viện đều được ghi nhận bằng máy tính Ở đây chỉ mô tả những vấn đề quan trọng mà các phân hệ chức năng cần kiểm soát [20],[9],[8],[10]
1.5 Những thuận lợi và khó khăn của việc ứng dụng CNTT quản lý TTKCB 1.5.1 Thuận lợi
Sự lớn mạnh của công nghệ thông tin như ngày nay đã tạo ra một tiền đề vững chắc để có thể phát triển một hệ CNTT quản lý TTKCB hoàn chỉnh Trong một vài năm gần đây, rất nhiều hệ thống lâm sàng hiệu quả đã được đưa vào sử dụng Những
hệ thống lâm sàng gắn liền với việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB có rất nhiều điểm chung Có thể thấy trước hết là chúng duy trì một bộ từ điển dữ liệu rất lớn
để định nghĩa nội dung trong các thông tin khám chữa bệnh Bên cạnh đó, tất cả các dữ liệu bệnh nhân được ghi trong thông tin khám chữa bệnh đều được gắn với thời gian
Trang 32thực hiện nên chúng được xây dựng dựa trên thứ tự lịch sử của quá trình chăm sóc Các
hệ truy vấn và cung cấp dữ liệu trong thông tin khám chữa bệnh ứng dụng CNTT này đều hoạt động một cách linh hoạt, đưa ra một công cụ nghiên cứu sử dụng dữ liệu thông tin khám chữa bệnh
Nhiều khó khăn, cản trở về công nghệ trước đây đối với sự phát triển của việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB nay dường như đã biến mất hoặc đã được giải quyết Tuy nhiên, mặc dù không yêu cầu có một sự đột phá về công nghệ, nhưng chính
sự lớn mạnh của các sản phẩm công nghệ mới như: máy tính xách tay, hệ nhận dạng tiếng nói, nhận dạng chữ viết… là động lực cần thiết để xây dựng một thông tin khám chữa bệnh ứng dụng CNTT hoàn chỉnh Nhiều công nghệ đã phải thử nghiệm trong các tình huống thực tế; và trong số đó không ít công nghệ tuy đã chứng tỏ được lợi ích ở các lĩnh vực khác, song lại chưa đáp ứng được trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của những công nghệ cần thiết, các chuẩn công nghệ cũng đã được phát triển, thử nghiệm và bổ sung để việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB có thể thực hiện đầy đủ chức năng của nó ở tầm vĩ mô hay vi mô Các tiêu chuẩn nhằm giúp cho việc trao đổi dữ liệu trở nên dễ dàng hơn, chính vì thế mà các dữ liệu lâm sàng phải được truyền trên mạng máy tính hoặc được tập hợp và phân tích để hỗ trợ cho việc đưa ra những quyết định quan trọng Các công nghệ bảo mật hiện nay cũng là một thụân lợi để các dữ liệu lâm sàng trở nên an toàn, đáng tin cậy hơn
1.5.2 Khó khăn
Sự khó khăn của việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB phát sinh từ việc thiếu nhận thức về hiểu biết về khả năng cũng như lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB đem lại Chúng ta cần làm những công việc gì? Làm như thế nào? đó là một loạt những câu hỏi mà chúng ta cần phải giải quyết và thực tế là vấn
đề nhận thức vẫn là một vấn đề nóng bỏng (ví dụ: Ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB sử dụng đúng mục đích là như thế nào? Vai trò của nó quan trọng đến mức độ nào? ).Người sử dụng thường thiếu các thông tin đầy đủ về tính hiệu quả, về giá
Trang 33thành, lợi ích cụ thể của hệ thống Trong khi đó, những người xây dựng và phát triển
hệ thống thì yêu cầu những thông tin từ người sử dụng như họ muốn gì từ hệ thống này, giá cả ra sao thì là hợp lý? Chính vì lẽ đó, sự trao đổi thông tin hai chiều là thực
sự cần thiết và cũng là bước quan trọng trong xây dựng ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB
Bên cạnh khó khăn về vấn đề nhận thức chưa đầy đủ là sự thiếu thốn cơ sở hạ tầng để phát triển và phổ biến việc ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB Những thành phần cơ sở hạ tầng cần thiết bao gồm những chuẩn mực cho việc trao đổi dữ liệu (chuẩn từ vựng và các dạng tín hiệu); luật và các quy tắc bảo mật thông tin cho bệnh nhân; những chuyên gia sử dụng và phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý TTKCB;
hệ thống mạng máy tính ở địa phương; các máy móc nhằm cải tiến vấn đề chăm sóc bệnh nhân và công tác quản lý bảo hiểm, phân phối tài nguyên, sắp xếp các hoạt động
Để hoàn thành những công việc trên đòi hỏi kinh phí đầy đủ và một sự tổ chức có hiệu quả Nhưng với mô hình y tế nước ta hiện nay, chúng ta khó có thể thực hiện một cách triệt để được Vì vậy với những lý do đó tôi nghĩ một tổ chức phải có sự quyết tâm và đồng lòng thì mới xây dựng, phát triển thành công một hệ thống hồ CNTT quản
lý TTKCB hoàn thiện
1.6 Thông tin về bệnh viên Đa Khoa Kiên Giang
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang là bệnh viện hạng I, nằm ở vị trí trung tâm
Tp Rạch Giá có nhiều thuận lợi cho nhân dân tiếp cận bằng các loại phương tiện đường sông, đường biển và đường bộ Tổng diện tích của Bệnh viện hiện nay 31.000
m2, với công suất sử dụng giường bệnh 1500 giường kế hoạch, hằng năm điều được đầu tư xây dựng và nâng cấp đến nay đã có 14/38 khoa phòng được sửa chữa và xây dựng mới
Để đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ bệnh nhân và phát triển của Bệnh viện, cần phải được đầu tư mở rộng thêm về diện tích sử dụng, xây dựng và cải tạo các khoa/ phòng theo hướng phát triển đồng bộ và triển khai thêm các chuyên khoa sâu
Về cơ cấu tổ chức, bệnh viện đa khoa Kiên Giang bao gồm:
Trang 34+ Phòng Công nghệ thông tin
- 33 khoa lâm sàng và cận lâm sàng:
Khoa Khám bệnh, Khoa Cấp cứu Tổng hợp, Khoa Hồi sức-Chống độc, Khoa Nội Tổng quát, Khoa Nội Tim mạch, Khoa Nội Thần kinh, Khoa Thận – Lọc máu, Khoa Lao, Khoa Truyền nhiễm, Khoa Da liễu, Khoa Nội B, Khoa Điều trị Theo yêu cầu, Khoa Nhi, Khoa Phụ Sản, Khoa Phẫu Thuật – Gây mê Hồi sức, Khoa Ngoại Tổng quát, Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Khoa Ngoại Lồng ngực, Khoa Ngoại Thần kinh, Khoa Ung bướu , Khoa Tai – Mũi – Họng, Khoa Răng Hàm Mặt, Khoa Mắt, Khoa Vật
lý Trị Liệu – Phục Hồi chức Năng, Khoa Huyết Học, Khoa Sinh Hóa, Khoa Vi Sinh, Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Khoa Nội Soi, Khoa Giải Phẫu Bệnh, Khoa Kiểm soát Nhiễm Khuẩn, Khoa Dược, Khoa Dinh Dưỡng
Tình hình nhân lực của Bệnh viện đa khoa Kiên Giang rất ít thay đổi trong năm Tại thời điểm 31/12/2016 tổng số CB-CNV có 1975, trong đó có 1596 trong biên chế và 378 hợp đồng Tổng số Y, Bác sĩ có 359: 02 Tiến sỹ y học, 26 Thạc sĩ y khoa,
37 Chuyên khoa II, 140 Chuyên khoa I, 155 Bác sĩ Tổng số Y sĩ : 162 Tổng số Dược:
190 Tổng số Điều dưỡng: 37 Đại học điều dưỡng, 131 Cao đẳng điều dưỡng, 441 Trung học diều dưỡng, 34 Sơ học điều dưỡng Tổng số Nữ hộ sinh: 131 Tổng số Kỹ
Trang 35thuật viên Y: 35 Tổng số Hộ lý/ Y công do BV quản lý: 301 Tổng số các cán bộ khác:
153
Bảng 1.1 Công suất sử dụng giường bệnh, ngày điều trị bình quân, số lượt khám bệnh trong 3 năm
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
(Theo báo cáo của BVĐK Kiên Giang năm 2015)
sử dụng TTKCB, góp phần giảm thủ tục hành chính, tiết kiệm được thời gian và chi phí trong khám và điều trị bệnh cho người dân như sau:
+ Đầu tư triển khai phần mềm ứng dụng quản lý tổng thể bệnh viện, thống nhất đồng bộ các quy trình khám chữa bệnh, bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực của bệnh viện, thống nhất quản lý, cập nhật, xử lý và khai thác thông tin nhanh chóng và chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng quản lý, khám và điều trị toàn bệnh viện Hệ thống phần mềm ứng dụng nội bộ là một trong những mục tiêu chính của hoạt động ứng dụng CNTT quản lý TTKCB
+ Phần mềm ứng dụng nội bộ cần phải tuân thủ đầy đủ các tiêu chí của Bộ Y tế quy định tại Quyết định số 5573/QĐ-BYT Ngoài ra, phần mềm cần phải có một số
Trang 36chức năng như: Đơn thuốc điện tử phụ vụ kiểm tra đơn thuốc tự động, chính xác an toàn; Phần mềm đáp ứng yêu cầu quản lý toàn bộ thông tin khám chữa bệnh, quản lý thông tin bệnh nhân nội và ngoại trú; Kết nối trực tiếp được các loại máy xét nghiệm hiện đang sử dụng tại bệnh viện và có khả năng lưu trữ hình ảnh của các loại máy chẩn đoán hình ảnh như: Siêu âm, X quang, CT, MRI, PET… cung cấp công cụ giám sát hoạt động từ xa cho lãnh đạo bệnh viện và tích hợp được với hệ thống chẩn đoán từ xa (TeleMedicine)
+ Đầu tư trang thiết bị bổ sung các thiết bị CNTT nhằm phục vụ triển khai phần mềm ứng dụng nội bộ bao gồm hệ thống máy chủ, các phần mềm hệ thống làm nền tảng để cài đặt phần mềm ứng dụng nội bộ, máy vi tính cho các phòng khám chữa bệnh
và một số trang thiết bị khác,… bảo đảm cho hệ thống thông tin bệnh viện hoạt động hiệu quả, đem lại những lợi ích thiết thực cho bệnh viện và bệnh nhân Riêng máy chủ, cần đầu tư loại chuyên dùng, có các tính năng cao cấp có khả năng đáp ứng tần suất vận hành 24/7 của bệnh viện, đảm bảo được việc xử lý dữ liệu nhanh chóng, chính xác
Có thiết bị sao lưu dữ liệu và phục hồi dữ liệu trong thời gian nhanh nhất nếu có sự cố xảy ra
Đào tạo, tập huấn cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ quản trị mạng, vận hành hệ thống thông tin, nhân viên y tế tác nghiệp trực tiếp sử dụng khai thác phần mềm ứng dụng nội bộ, bảo đảm đủ nhân lực triển khai các nội dung ứng dụng CNTT,
sử dụng thành thạo, khai thác có hiệu quả các phân hệ của phần mềm ứng dụng
Nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động ứng dụng CNTT nói trên là 2.959.402.524 đồng, được phân bổ từ hai nguồn kinh phí:
+ Nguồn kinh phí sự nghiệp CNTT tỉnh
+ Nguồn kinh phí đối ứng của Bệnh Viện Đa Khoa
Trong đó phân kỳ đầu tư trong 2 năm, từ 2012 đến năm 2013, cụ thể như sau :
Trang 37Bảng 1.2 Kinh phí đầu tư cho hoạt động CNTT trong 2 năm 2012 và 2013 Phân kỳ
1.8 Phần mềm quản lý TTKCB tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang
Hiện Bệnh Viện Đa Khoa Kiên Giang đang sử dụng phần mềm Ykhoa.Net, phần mềm quản lý tổng thể bệnh viện bao gồm 13 phân hệ gồm, trong đó phân hệ quản
lý TTKCB là một phần hệ quan trọng không thể thiếu của phần mềm:
+ Phân hệ quản lý tiếp nhận bệnh nhân – khám bệnh (TTKCB)
+ Phân hệ quản lý cận lâm sàng
+ Phân hệ quản lý lâm sàng
+ Phân hệ quản lý dược phẩm
+ Phân hệ quản lý nhân sự tiền lương
+ Phân hệ quản lý tài sản cố định
+ Phân hệ quản lý công văn
Trang 38+ Phân hệ quản lý tài chính
+ Phân hệ giám sát và báo cáo tổng hợp
+ Phân hệ quản trị hệ thống
+ Phân hệ giao tiếp bệnh nhân qua internet
+ Phân hệ quản lý thư viện – lưu trữ thông tin khám chữa bệnh
+ Phân hệ quản lý hội chẩn
* Sơ đồ tiếp nhận bệnh nhân của phần mềm
* Hiệu quả của phần mềm trong việc quản lý thông tin khám chữa bệnh:
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động tại khu tiếp nhận, thu ngân ngoại trú, giảm thiểu thời gian bệnh nhân phải chờ đợi
+ Nâng cao chất lượng điều trị tại phòng khám thông qua các thông tin về bệnh
sử, kết quả cận lâm sàng
+ Bệnh nhân nhận được toa thuốc in từ máy rõ ràng, rút ngắn được thời gian bán thuốc Tiết kiệm được thời gian tổng hợp số liệu thống kê, báo cáo
Trang 39* Chức năng quản lý hồ sơ thông tin bệnh nhân :
Tiếp nhận bệnh nhân với nhiều đối tượng khác nhau như BHYT, trẻ em dưới 6 tuổi, viện phí… cấp mã y tế, mã vạch, thẻ điện tử
Lưu trữ thông tin hành chính, nhu cầu khám chữa bệnh
Quản lý hoạt động các phòng khám :
+ Ra chỉ định lâm sàng, bác sĩ biết tổng số tiền đã chỉ định
+ Lưu trữ thông tin khám chữa bệnh
+ Hỗ trợ bác sĩ ra toa theo tình hình tồn kho thuốc BHYT
+ Quản lý bệnh án ngoại trú + Quản lý vật tư y tế
+ Chuyển bệnh nhân qua phòng khám khác
* Chức năng tiếp nhận và quản lý thông tin bệnh nhân của phần mềm
- Chức năng tiếp nhận bệnh nhân mới
+ Ghi thông tin định danh bệnh nhân: họ tên, giới tính, ngày sinh, số CMND
+ Tự động tính tuổi theo năm cho người lớn và tính tuổi theo tháng cho trẻ em
+ Ghi thông tin liên lạc: địa chỉ, email, điện thoại, cơ quan
+ Chụp ảnh bệnh nhân
+ Cấp số ID (mã số) bệnh nhân
Trang 40+ Số lượng quản trị mạng, phần mềm + Trình độ chứng chỉ tin học, ngoại ngữ của Bác sĩ, Điều dưỡng ứng dụng CNTT quản lý TTKCB
+ Nhận thức, thái độ của cán bộ y tế
+ Kỹ năng sử dụng PM của cán bộ y tế
Văn bản quy định và hướng dẫn
+ Bệnh viện + Sở Y tế + Bộ Y tế
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CNTT QUẢN
LÝ TTKCB