Do vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp đóng mộtvai trò vô cùng quan trọng, giỳp cỏc đơn vị có thể đánh giá được một cáchtổng quát và sâu sắc tình hình tài chính, cũng như những điểm mạ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Tài chính doanh nghiệp là yếu tố tạo tiền đề cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và khâu tài chính doanh nghiệp cũng là khâu cơ
sở, khâu khởi điểm, đảm bảo sự tồn tại và phát triển vững chắc cho cả hệthống tài chính quốc gia Do vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp đóng mộtvai trò vô cùng quan trọng, giỳp cỏc đơn vị có thể đánh giá được một cáchtổng quát và sâu sắc tình hình tài chính, cũng như những điểm mạnh hay yếucủa đơn vị mình, từ đó có thể đánh giá và kiểm soát được các hoạt động sảnxuất kinh doanh trong đơn vị để có những giải pháp giúp nâng cao hiệu quảkinh doanh
Trước đây, việc phân tích tài chính không được các doanh nghiệp chútrọng, nhưng hiện nay, các nhà quản lý ở các doanh nghiệp đã biết nhìn nhậnđây là một vấn đề thiết yếu, có ý nghĩa quan trọng đến việc nâng cao hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, không phảidoanh nghiệp nào cũng thực hiện tốt công tác phân tích tài chính doanhnghiệp, bởi việc phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp không hềđơn giản, đòi hởi rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm và khả năng phân tíchvấn đề của người phân tích Vì vậy, các doanh nghiệp ở nước ta cần phải quan
Trang 2tâm và hoàn thiện hơn công tác phân tích tài chính và có những thay đổi trongquản lý để có thể sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, và với sự chỉ bảo tận tình của Thạc sỹPhạm Thị Thanh Hòa, cùng với sự quan tâm, giúp đỡ của cỏc cụ chỳ trongphòng kế toán của công ty cổ phần nguyên liệu Viglacera, em đã lựa chọn đềtài: “Đánh giá tình hình tài chính và một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của Công ty cổ phần Nguyên liệu Viglacera” với mongmuốn làm rõ cơ sở lí luận về công tác phân tích tài chính và đánh giá thựctrạng tài chính tại công ty cổ phần nguyờn liêu Viglacera
Nội dung Luận văn gồm 3 phần:
Chương I : Lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương II: Đánh giá thực trạng tài chính tại Công ty Cổ Phần Nguyên
liệu Viglacera
Chương III: Các giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh tại Công ty Cổ Phần Nguyên liệu Viglacera
Trang 3Em rất mong nhận được sự đóng góp của của các thầy cô giỏo cựngtoàn thể cỏc cụ chỳ trong công ty cổ phần nguyên liệu Viglacera để hoànthiện bài luận văn của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2012
Sinh viên Đinh Thị Việt Nga
Lớp CQ46/11.07
Chương I:
Trang 4LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
1.1 Hoạt động của doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường
Kinh tế thị trường có thể hiểu là cách tổ chức kinh tế - xã hội, trong đócác quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua cácquan hệ mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từngthành viên chủ thể kinh tế là định hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của chínhmình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường Theo điều 4 Luật doanh nghiệpnăm 2005 có quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tàisản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định củapháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Vì nguồn lực của xã hội là khan hiếm nên mọi quyết định lựa chọntrong sản xuất và tiêu dùng của các doanh nghiệp đều phải đảm bảo sử dụngđầy đủ và hiệu quả mọi nguồn lực Hay nói cách khác, mỗi doanh nghiệp đều
phải giải quyết được ba vấn đề kinh tế, đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như
Trang 5thế nào? Và sản xuất cho ai? Đây được coi là điều kiện tiên quyết, đảm bảo
cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp
Như vậy, các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cần phải cóchiến lược phát triển dài hạn và nắm vững môi trường kinh doanh để có thểthích ứng được với sự biến động của thị trường cũng như có những chính sáchkịp thời để chủ động thay đổi và hạn chế những biến động xấu mà thị trườngđem lại Đặc biệt, cạnh tranh là thuộc tính vốn có của nền kinh tế thị trường,
do đó, không chỉ cần luôn cải tiến và đổi mới sản phẩm, các doanh nghiệp còncần chú trọng đến công tác tổ chức quản lý, luôn phải sáng tạo, tìm cách cảitiến lối làm việc và rút ra những bài học về thành công hay thất bại để pháttriển không ngừng và khẳng định vị trí của mỡnh trờn thương trường
1.1.2 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần có các yếu tốđầu vào là : tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động để tạo ra yếu
tố đầu ra là hàng hóa và dịch vụ, sau đó, cung ứng ra thị trường để tiêu thụhàng hóa, dịch vụ và thu lợi nhuận Như vậy, qua việc tìm hiểu quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, ta có thể rút ra được bản chất của tài chínhdoanh nghiệp Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong
Trang 6quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động củadoanh nghiệp Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tếdưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệcủa doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Khi thực hiện các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần đảm bảo sựphối hợp đồng bộ, ăn khớp về những hoạt động có liên quan tới Nhà nước;các thị trường hàng hóa, dịch vụ; thị trường tài chính; thị trường lao động và
tổ chức nội bộ trong doanh nghiệp, nhằm tạo ra sự tăng trưởng, đạt được tỷsuất lợi nhuận tối đa Chính trong quá trình đú đó làm nảy sinh hàng loạt cácquan hệ kinh tế với các chủ thể khác thông qua sự vận quan hệ tài chínhdoanh nghiệp chủ yếu:
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước: quan hệ này đượcthể hiện chủ yếu ở chỗ doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhànước và Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp dưới bất kì hình thức nào
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổchức xã hội khác: quan hệ này rất phong phú, thể hiện trong việc thanh toán,thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấphàng hóa, dịch vụ cho nhau
Trang 7- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động: quan hệ nàythể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán trả tiền công, thực hiện thưởngphạt vật chất đối với người lao động trong quá trình tham gia vào hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp.
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanhnghiệp: quan hệ này thể hiện trong đầu tư, góp vốn hay rút vốn của chủ sởhữu đối với doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế củadoanh nghiệp
- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: đây là mối quan hệthanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh,trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa ngày càng gia tăng, nhữngbất ổn khó lường của thị trường toàn cầu ngày càng mạnh mẽ hơn; hơn nữa,tiến bộ công nghệ và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính đang cónhững tác động sâu sắc đến từng doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác
Do vậy, phân tích tài chính đã thực sự phát triển và được chú trọng trong việc
Trang 8đem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý của doanh nghiệp Vậy phân tíchtài chính là gì?
“Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánhgiá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực, hiệu quả hoạt động kinh doanh,đánh giá những triển vọng cũng như những rủi ro trong tương lai của doanhnghiệp giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, cácquyết định quản lý phù hợp.”
Trọng tâm phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là phân tích cácbáo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thốngcác phương pháp, công cụ và kĩ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin
từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừaxem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, để nhận biết,phán đoán, dự báo và đưa ra các quyết định tài chính, quyết định tài trợ vàđầu tư phù hợp
1.2.2 Vai trò của phân tích tài chính trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp
Trang 9Phân tích tài chính doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối vớihoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các nhà quảntrị doanh nghiệp như:
- Tạo ra chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đãqua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán
và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp
- Hướng các quyết định của Ban giám đốc theo chiều hướng phù hợp vớitình hình thực tế của doanh nghiệp, như quyết định về đầu tư, tài trợ, phânphối lợi nhuận…
- Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho những dự đoán tài chính
- Phân tích tài chính doanh nghiệp là một công cụ để kiểm tra, kiểm soátcác hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp
Phân tích tài chính làm nổi bật điều quan trọng của dự đoán tài chính,
mà dự đoán tài chính là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ khôngchỉ chính sách tài chính mà còn làm rừ cỏc chính sách chung trong toàn doanhnghiệp
1.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang 10Thông tin đóng vai trò quyết định trong phân tích tài chính doanhnghiệp Việc thu thập thông tin có đầy đủ, chính xác hay không sẽ quết địnhđến việc phân tích tài chính có hiệu quả, thiết thực và có thể ứng dụng đượchay không Trong phân tích tài chính doanh nghiệp thì thông tin mà các doanhnghiệp sử dụng là thông tin bên ngoài doanh nghiệp và các thông tin nội bộdoanh nghiệp.
Các thông tin bên ngoài doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế ngày càng có quan hệkinh tế mật thiết với nhau, ảnh hưởng lớn tới nhau, doanh nghiệp nào nắmđược càng nhiều các thông tin kinh tế và xử lý được các thông tin đú thì sẽ cónhiều thuận lợi và nắm bắt được nhiều cơ hội hơn trong nền kinh tế ngày càngcạnh tranh gay gắt như hiện nay
Thông tin bên ngoài doanh nghiệp bao gồm:
- Các thông tin chung: đó là các thông tin liên quan đến tình hình kinh
tế chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hộiđầu tư, cơ hội về kỹ thuật công nghệ…
- Các thông tin về ngành kinh doanh: đó là các thông tin mà kết quảkinh doanh của doanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế như đặc điểm
Trang 11của ngành kinh tế mang thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹ thuật cần tiếnhành, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn, thịphần, triển vọng phát triển…
- Các thông tin khác liên quan đến doanh nghiệp như: các thông tin màdoanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý như tình hình quản lý,kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp…
Đặc biệt, các doanh nghiệp cần đặc biệt chú trọng đến các thông tin vềngành kinh doanh vỡ cỏc doanh nghiệp trong cùng ngành sẽ có những tínhchất và đặc điểm giống nhau Những nghiên cứu theo ngành sẽ chỉ rõ tầmquan trọng của ngành nghiên cứu trong nền kinh tế, các sản phẩm và hoạtđộng khác nhau của ngành, quy trình công nghệ, các khoản đầu tư, cơ cấungành, độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển
Các thông tin nội bộ doanh nghiệp.
Thông tin nội bộ doanh nghiệp là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết,mang tính chất bắt buộc Thông tin kế toán vừa phong phú, vừa đồng nhất và
hệ thống, cung cấp những thông tin sát sườn cho các nhà phân tích tài chínhdoanh nghiệp, và được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo tài chính: bảng cân
Trang 12Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổngquát giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệptại một thời điểm nhất định ( cuối năm, cuối quý, cuối kỳ) Đây là một báocáo tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đối tượng có liên quan đếndoanh nghiệp
Kết cấu của bảng cân đối kế toán được chia thành hai phần: tài sản vànguồn vốn được trình bày dưới dạng một phía hoặc hai phía Cả hai phần tàisản và nguồn vốn đều bao gồm các chỉ tiêu tài chính phát sinh, phản ánh từngnội dung tài sản và nguồn vốn
Phần tài sản phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của doanhnghiệp tại thời điểm lập báo cáo, thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanhnghiệp Về mặt kinh tế, các số liệu ở phần tài sản phản ánh được quy mô vàkết cấu tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo
Bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu vốn được huy động vào sản xuất kinhdoanh tức là nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thờiđiểm lập báo cáo Về mặt kinh tế, qua việc xem xét nguồn vốn, người sử dụngthấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, nguồn vốn
Trang 13cho thấy trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã kinh doanh với Nhànước, số tài sản đã hình thành bằng nguồn vốn vay ngân hàng, vốn vay đốitượng khác cũng như trách nhiệm phải thanh toán đối với người lao động, cổđông, nhà cung cấp, ngõn sỏch…
Bảng cân đối kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho cácnhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính hoặc khả năng thanhtoán và cơ cấu của doanh nghiệp
Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánhtổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, baogồm các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí là lợi nhuận của hoạt động kinh doanh
và các hoạt động khác
Như vậy, bỏo cáo Kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiềntrong quá trình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tínhkhả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo Kết quả kinhdoanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹkhi bán hàng hoá, dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực nhập
Trang 14định được kết quả sản xuất – kinh doanh: lỗ lãi trong năm Nó cũng cung cấpnhững thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng vềvốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp.
Báo cáo kết quả kinh doanh bao gồm 3 phần:
Phần 1: Báo cáo lỗ lãi
Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước
Phần 3: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh quátrình hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanhnghiệp
Như vậy, bỏo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin về cỏcdũng tiền lưu chuyển và các khoản tương đương tiền - những khoản đầu tưngắn hạn có tính lưu động cao, có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổithành một khoản tiền biết trước, ít chịu rủi ro về giá trị do những thay đổi về
Trang 15lãi suất Những luồng vào ra của tiền và những khoản tương đương tiền đượctổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh, lưuchuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
và được lập theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp
Các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết vớinhau, mỗi sự thay đổi chỉ tiêu trong báo cáo này hoặc trực tiếp hoặc gián tiếplàm ảnh hưởng đến báo cáo kia Do đó, để phân tích tình hình tài chính củamột doanh nghiệp, các nhà phân tích cần đọc và hiểu được các báo cáo tàichính, qua đó họ nhận biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liênquan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ
1.2.4 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Để có thể phân tích tài chính doanh nghiệp, ta có thể sử dụng một haykết hợp nhiều phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phântích tài chính doanh nghiệp Trong đó, các phương pháp phân tích tài chínhdoanh nghiệp phổ biến nhất là: phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ vàphương pháp Dupont
Phương pháp so sánh
Trang 16Để áp dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo các điều kiện có thể so
sánh được các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời gian, nộidung, tính chất và đơn vị tớnh toỏn…) và theo mục đích phân tích mà xácđịnh gốc so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc khônggian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị sosánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối hoặc số bình quân Nội dung sosánh bao gồm:
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấyđược xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, đỏnh giá sự tăng trưởnghay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy được mức độ hoànthành kế hoạch của doanh nghiệp
So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình củangành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp mình so với các doanh nghiệp khác trong ngành, qua đó thấy được vịtrí của doanh nghiệp trong ngành kinh doanh
So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so vớitổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả
Trang 17về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua cỏc niờn độ kếtoán liên tiếp.
Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được dùng đểphân tích Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bằng cách so sánh chi tiêu nàyvới chỉ tiêu khác Tuy nhiên, ta chỉ có thể so sánh các chỉ tiêu có mối liên hệvới nhau thu được các tỷ số có ý nghĩa Với nguyên tắc đú, cỏc nhà phân tích
có thể xây dựng các tỷ số phân tích phù hợp với đặc điểm hoạt động củadoanh nghiệp
Phương pháp phân tích tỷ số được dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ
số của các đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc,phương pháp tỷ số yêu cầu phải xác định được ngưỡng, các định mức để nhậnxét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ sốcủa doanh nghiệp với giá trị các tỷ số tham chiếu bởi vì một đặc tính dễ nhậnthấy của các tỷ số đơn là khi đứng độc lập chúng trở thành vô nghĩa
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính phân thànhcỏc nhúm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu
Trang 18tỷ số về khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ số về khả năng hoạt động , nhóm tỷ số
về khả năng sinh lãi Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng
lẻ, bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theogiác độ phân tích, người phân tích lựa chọn cỏc nhúm chỉ tiêu khác nhau đểphục vụ mục tiêu phân tích của mình
Phương pháp phân tích tài chính Dupont
Phương pháp phân tích tài chính Dupont là phương pháp dựa trên mốiquan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài chính, từ đó biến đối một chỉ tiêu tổnghợp thành một hàm số của một loạt các biến số, từ đó cho phép phân tích ảnhhưởng của các biến số đó đến chỉ tiêu tổng hợp
Phương pháp Dupont là phương pháp tài chính quan trọng, với phươngpháp này các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến cáchiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Ưu điểm của phươngpháp này là tìm ra được nguyên nhân của vấn đề từ đó có thể đưa ra các giảipháp để giải quyết vấn đề đó Nhưng hạn chế của phương pháp này là nú khỏphức tạp và nhiều khi nguyên nhân chưa hẳn là đúng Có thể có trường hợpmột số nhân tố tác động tới nhiều chỉ tiêu được gọi là nguyên nhân gây ra sựthay đổi của chỉ tiêu cần phân tích tuy nhiên những tác động này là ngược
Trang 19nhau vì vậy rất khó có thể nói chính xác rằng nhân tố đó có tác động như thếnào đến kết quả phân tích cuối cùng.
1.2.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.5.1 Phân tích khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp 1.2.5.1.1.Phân tích khái quát về tình hình tài chính của doanh
nghiệp qua bảng cân đối kế toán
Phân tích tình hình tài sản
Trên bảng cân đối kế toán của mỗi doanh nghiệp, tài sản thể hiện cơ sởvật chất, tiềm lực kinh tế quá khứ, hiện tại và ảnh hưởng đến tương lai củadoanh nghiệp
Trang 20Phân tích tình hình tài sản là phân tích biến động các khoản mục tài sảnnhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỉ trọng của tài sảnqua các thời kì như thế nào, sự thay đổi này bắt đầu từ những dấu hiệu tíchcực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việcnâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp hay không và qua đó để có những điều chỉnh phùhợp.
Phân tích tình hình nguồn vốn giúp người phân tích tìm hiểu sự thayđổi về giá trị, tỉ trọng của nguồn vốn qua các thời kì như thế nào, sự thay đổinày có phù hợp với chiến lược tài chính của doanh nghiệp, khả năng khai thácnguồn vốn, khả năng thanh toán, khả năng tài trợ của doanh nghiệp hay không
và qua đó cũng có những điều chỉnh phù hợp
Bên cạnh đó, ta phải xem xét mối quan hệ cân đối giữa nguồn tài trợ
ngắn hạn so với tài sản ngắn hạn, giữa nguồn tài trợ dài hạn so với tài sản dàihạn, từ đó đánh giá xem doanh nghiệp có đảm bảo được nguyên tắc cân bằngtài chính hay không
1.2.5.1.2.Phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp qua báo cáo kết quả kinh doanh
Mục tiêu cơ bản của việc phân tích khái quát kết quả hoạt động kinhdoanh đối với một doanh nghiệp là tìm hiểu nguồn gốc, thực trạng và xu
Trang 21hướng của thu nhập, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp đó Quá trình nàytập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
- Thu nhập, chi phí lợi nhuận có thực không và tạo ra từ những nguồnnào, sự hình thành như vậy có phù hợp với chức năng hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp hay không
- Thu nhập, chi phí, lợi nhuận thay đổi có phù hợp với đặc điểm chiphí, hiệu quả kinh doanh, phương hướng kinh doanh hay không
Việc xem xét này cần được kết hợp so sánh theo chiều ngang và sosánh theo chiều dọc các mục trên báo cáo kết quả kinh doanh trên cơ sở amhiểu về những chính sách kế toán, những đặc điểm sản xuất kinh doanh,những phương hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.5.2 Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng của doanh nghiệp
1.2.5.2.1.Các hệ số về khả năng thanh toán
Các hệ số khả năng thanh toán phản ánh khả năng thanh toán củadoanh nghiệp hay mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanhtoán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ, qua đó phần nào đánhgiá được khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Trang 22 Hệ số khả năng thanh toán hiện thời hay khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số này được xác định bằng cách lấy tổng tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn của doanh nghiệp:
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Tổng tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động bao gồm cả các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Nợngắn hạn là những khoản nợ phải trả trong khoảng thời gian dưới 12 tháng,bao gồm: các khoản vay ngắn hạn, phải trả người bán, thuế và các khoản phảitrả người lao động, nợ dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khỏc cú thờihạn dưới 12 tháng Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền
để trang trải các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này có giá trị cao chứng tỏ khảnăng thanh toán hiện thời của doanh nghiệp cao Tuy nhiên ta cần so sánh hệ
số này của doanh nghiệp với hệ số trung bình ngành, nếu hệ số này quá caochứng tỏ công tác quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp chưa tốt, gây ứđọng vốn lưu động, ứ đọng vật tư hàng hóa, dẫn tới lãng phí trong sử dụngvốn
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Trang 23Hệ số này được xác định bằng cách lấy tổng tài sản lưu động trừ đi hàng tồn kho, chia cho nợ ngắn hạn của doanh nghiệp:
Hệ số thanh toán nhanh =
Tổng tài sản lưu động - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Hệ số này đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp
vì chỉ xét đến các loại tài sản lưu động có khả năng nhanh chóng chuyển đổithành tiền, hàng tồn kho đã bị loại ra do có tính thanh khoản thấp hơn
Hệ số thanh toán tức thời
Hệ số này được xác định bằng cách lấy tiền và các khoảng tương đương tiền chia cho nợ ngắn hạn của doanh nghiệp:
Hệ số thanh toán tức thời =
Tiền + Các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Tiền ở đây bao gồm tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển Các khoản tươngđương tiền bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán và các khoảnđầu tư khác có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền trong thời hạn 3 tháng vàkhông gặp rủi ro lớn Chỉ tiêu này phản ánh khả năng ứng phó nhanh nhất vớicác khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
Trang 24Hệ số này được xác định bằng cách lấy Lợi nhuận trước lãi vay và thuếchia cho số lãi tiền vay phải trả trong kì của doanh nghiệp:
Hệ số thanh toán lãi vay =
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Số lãi tiền vay phải trả trong kì
Lãi tiền vay là khoản chi phí sử dụng vốn vay mà doanh nghiệp cónghĩa vụ phải trả đúng hạn cho các chủ nợ Hệ số này cho biết khả năng thanhtoán lãi tiền vay của doanh nghiệp và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặpphải đối với các chủ nợ Nếu một doanh nghiệp nợ nhiều nhưng kinh doanhkhông tốt, mức sinh lời của đồng vốn quá thấp hoặc bị thua lỗ thì khó có thểđảm bảo thanh toán lãi tiền vay đúng hạn
1.2.5.2.2.Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
Hệ số này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữudoanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và có ýnghĩa quan trọng trong phân tích tài chính
Hệ số cơ cấu nguồn vốn:
Đây là một hệ số tài chính hết sức quan trọng đối với nhà quản lýdoanh nghiệp, các chủ nợ và cả nhà đầu tư, và được phản ánh thông qua hệ
số nợ (HD) và hệ số vốn chủ sở hữu (HE) :
Trang 25Hệ số nợ =
Tổng số nợ Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Hoặc = 1- Hệ số vốn chủ sở hữu
Hệ số vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn
Hoặc = 1- Hệ số nợ
Hệ số này cho thấy mức độ độc lập, tự chủ về tài chính của doanhnghiệp, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, rủi ro tài chính, mức độ chấp nhậnrủi ro của chủ sở hữu cúng như mức độ huy động vốn tưng thêm của doanhnghiệp
Hệ số cơ cấu tài sản
Phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp: Tài sản lưu động và tài sản ngắn hạn khác, tài sản cố định và tài sản dài hạn khác.
Tỉ suất đầu tư vào TS ngắn hạn
hay TS lưu động
=
Tài sản ngắn hạn Tổng tài sản
Tỉ suất đầu tư vào = Tài sản dài hạn
Trang 26TS dài hạn Tổng tài sản
Cần căn cứ vào ngành nghề kinh doanh và tình hình kinh doanh cụ thểcủa doanh nghiệp để đánh giá mức độ hợp lí trong việc đầu tư vào các loại tàisản của doanh nghiệp
1.2.5.2.3.Các hệ số về hiệu suất hoạt động
Các hệ số hoạt động có tác dụng đo lường năng lực quản lý và sử dụngvốn hiện có của doanh nghiệp, qua đó đánh giá mức độ hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp
Vòng quay hàng tồn kho
Là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng tỷ sốgiữa giá vốn hàng bán với số hàng tồn kho bình quân trong kì Số vòng quayhàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm, ngành nghề kinhdoanh
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Số hàng tồn kho bình quân trong kì
Kì thu tiền trung bình
Trang 27Là một hệ số hiệu suất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phảnánh độ dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giaohàng cho đến khi thu được tiền bán hàng Kì thu tiền bán hàng của doanhnghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toáncủa doanh nghiệp.
Kì thu tiền trung bình =
Số dư bình quân các khoản phải thu Doanh thu bình quân 1 ngày trong kì
Số vòng quay vốn lưu động:
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động hay số vòngquay của vốn lưu động thực hiện được trong một thời kì nhất định ( thường làmột năm)
Số vòng quay vốn lưu động =
Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kì
Số lần luân chuyển vốn lưu động
Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định và vốn dài hạn khác saukhi đã giảm trừ đi các khoản đầu tư tài chính trong kì tham gia tạo ra được
Trang 28Hiệu suất sử dụng VCĐ và vốn dài
Doanh thu trong kì (TSDH - tài sản tài chính) bình
quân
Vòng quay vốn kinh doanh :
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh trong kì tham gia tạo rađược bao nhiêu đồng doanh thu trong kỡ đú
Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh = Doanh thu trong kì
Vốn kinh doanh bình quân trong
kỳ
Vòng quay tài sản hay toàn bộ vốn
Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó được đobằng tỷ số giữa tổng doanh thu thuần cộng với doanh thu tài chính, chia chotổng tài sản và cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu doanh thu
Vòng quay tài sản hay
Trang 29Hệ số sinh lời là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Nó là kết quả tổng hợp của hàng loạt biện pháp và quyết địnhquản lý của doanh nghiệp.
Tỉ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần trong kì của doanh nghiệp Nó thể hiện khi thực hiện một đồng doanh thu trong kì, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận
Tỉ suất lợi nhuận sau thuế
trên doanh thu
= Lợi nhuận sau thuế trong kì Doanh thu trong kì
Tỉ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROA E )
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanhkhông tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc củavốn kinh doanh
Trang 30Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kì có khả năngsinh lời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay.
Tỉ suất lợi nhuận trước
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.
ROE =
Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu BQ sử dụng trong kì
Thu nhập một cổ phần( EPS)
Trang 31Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh mỗi cổ phần thường (hay cổphần phổ thông) trong năm thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Thu nhập 1 cổ
phần (EPS) =
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ đông
ưu đãi (nếu có) Tổng số cổ phần thường đang lưu hành
Hệ số chi trả cổ tức
Chỉ tiêu này phản ánh công ty đã giành ra bao nhiêu phần trăm thunhập để trả cổ tức cho cổ đông Qua đó cũng cho thấy công ty giành ra baonhiêu phần trăm thu nhập để tái đầu tư
Hệ số chi trả
cổ tức
=
Cổ tức 1 cổ phần thường Thu nhập 1 cổ phần thường trong năm 1.2.5.2.5.Hệ số giá trị thị trường
Trang 32 Hệ số giỏ trờn thu nhập (hệ số P/E)
Đây là một chỉ tiêu quan trọng thường được các nhà đầu tư sử dụng đểxem xét lựa chọn đầu tư vào cổ phiếu của các công ty Chỉ tiêu này phản ánhnhà đầu tư thị trường trả giá bao nhiêu cho 1 đồng thu nhập của công ty
Hệ số giá trên
thu nhập
= Giá thị trường 1 cổ phần Thu nhập 1 cổ phần
Hệ số giá thị trường trên giá trị sổ sách (hệ số M/B)
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách 1 cổ phần của công ty Hệ số này nhỏ hơn 1 là dấu hiệu xấu về triển vọng của công ty, ngược lại nếu hệ số này quá cao đòi hỏi nhà đầu tư phải xem xét thận trọng trong quyết định đầu tư vào công ty.
Hệ số giá thị trường trên
giá trị sổ sách
= Giá thị trường 1 cổ phần Giá trị sổ sách 1cổ phần
Tỷ suất cổ tức
Chỉ tiêu này phản ánh, nếu nhà đầu tư bỏ ra một đồng vốn đầu tư vào cổ phần của công ty trên thị trường thì có thể thu được bao nhiêu cổ tức.
Tỷ suất cổ tức = Cổ tức 1 cổ phần
Trang 33Để xác định diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụng vốn, ta cầnchuyển toàn bộ các khoản mục trên bảng cân đối kế toán thành cột dọc, sau
đó xem xét, phản ánh sự thay đổi của từng khoản mục vào cột “sử dụng vốn”nếu tài sản tăng hoặc nguồn vốn giảm, hoặc vào cột “diễn biến nguồn vốn”nếu tài sản giảm hay nguồn vốn tăng Sau đó, tiến hành lập bảng phân tích đểchỉ ra trọng tâm hoạt động vốn và sử dụng vốn trong kỳ, từ đó đánh giá đượctính hợp lý trong sử dụng vốn của doanh nghiệp và định hướng huy động vốncho kỳ tiếp theo
Trang 341.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh
nhiệp
1.2.6.1 Các nhân tố chủ quan
1.2.6.1.1.Nhận thức của lãnh đạo về tầm quan trọng của phân
tích tài chính doanh nghiệp
Công tác phân tích tài chính đóng vai trò quan trọng trong công tácquản lý tài chính doanh nghiệp Ngày nay, hoạt động phân tích tài chính ngàycàng được quan tâm phát triển Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng
có nhận thức đúng đắn về hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp này.Nếu ở một doanh nghiệp mà các lãnh đạo có nhận thức đúng đắn về vai trò vàtầm quan trọng của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp thì ở đó côngtác tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ được thực hiện một cách triệt
để và hoạt động phân tích tài chính sẽ thực sự hiệu quả
1.2.6.1.2.Chất lượng nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài
chính doanh nghiệp
Thông tin là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phântích tài chính, vì vậy nếu thiếu thông tin sử dụng không chính xác thì kết quả
Trang 35phân tích chỉ là hình thức mà không có ý nghĩa gì Do đó, thông tin sử dụngtrong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính
1.2.6.1.3.Nhân sự thực hiện công tác phân tích tài chính doanh
nghiệp
Phân tích tài chính là quá trình nhà phân tích sử dụng các công cụ,phương pháp để xử lý, phân tích, đánh giá các thông tin kế toán và các thôngtin khác nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp Nờn cỏc kết quảphân tích tài chính là những nhận xét, đánh giá của người phân tích Vì vậy,trình độ của người phân tích sẽ tác động trực tiếp đến kết quả phân tích
Người thực hiện công tác phân tích tài chính nếu có trình độ chuyênmôn vững vàng, nắm vững quy trình phân tích và có khả năng đánh giá tinh tếthì sẽ có tác động tích cực tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Họ
sẽ đưa ra được kết quả phân tích chính xác và đưa ra những nhận xét, giảipháp phù hợp và thích đáng, giúp công tác phân tích tài chính đạt hiệu quả
1.2.6.1.4.Tổ chức hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
Tổ chức công tác phân tích là yếu tố có tác động tổng hợp, nó liên kếtcác yếu tố con người, thông tin, phương pháp, cơ sở vật chất với nhau, liên
Trang 361.2.6.2 Các nhân tố khách quan
1.2.6.2.1 Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành
Mỗi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên một hoặc một sốlĩnh vực nhất định Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường bao gồm nhiềudoanh nghiệp với nhiều đặc điểm chung đặc trưng của ngành bên cạnh nhữngđặc điểm vốn có của mình
Một hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành hoàn thiện, chính xác và cậpnhật sẽ có tác dụng tích cực đến công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp
Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành giỳp cỏc nhà phân tích có được cái nhìnkhách quan và toàn diện về ngành và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, từ
đó giúp cho việc phân tích tài chính doanh nghiệp được hoàn thiện hơn
Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành được xây dựng chính xác là cơ sởtham chiếu quan trọng cho các doanh nghiệp khi tiến hành phân tích tài chính.Chúng ta chỉ có thể khẳng định các tỷ lệ tài chính của một doanh nghiệp làthấp hay cao khi đem chúng so sánh với các tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệpkhỏc cú đặc điểm và điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện làchỉ tiêu trung bình ngành Thông qua đối chiếu chỉ tiêu trung bình ngành, nhàquản trị biết được vị thế của doanh nghiệp mỡnh trờn thị trường, sức mạnh
Trang 37của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh; từ đó đánh giá một cách chínhxác thực trạng doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp.
1.2.6.2.2 Hệ thống pháp lý
Hệ thống pháp lý có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến công tác phântích tài chính, khuyến khích hay hạn chế tình hình kinh doanh của doanhnghiệp Hệ thống pháp lý ổn định sẽ tạo điều kiện cho các nhà phân tích cóthể lựa chọn phương pháp tài chính phù hợp sẽ tạo điều kiện thống nhất cácchỉ tiêu trong toàn ngành, giỳp cỏc nhà phân tích dễ dàng tìm kiếm thông tin
và ngược lại Hệ thống pháp lý mà thiếu chặt chẽ, không thống nhất có tácđộng tiêu cực đến công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp
1.2.6.2.3 Nhân tố công nghệ
Với sự trợ giúp của công nghệ hiện đại như máy tính, các phần mềmchuyên dụng thỡ cỏc phương pháp phân tích tài chính dù phức tạp đến đâucũng có thể đưa vào áp dụng một cách dễ dàng Đấy chính là tác động trựctiếp của nhân tố công nghệ đến khả năng áp dụng các phương pháp phân tíchtài chính trong doanh nghiệp
Trang 38Với một công nghệ phân tích tài chính hoàn chỉnh thì việc đạt được cáckết quả như mong muốn trong phân tích là việc dễ dàng Một công nghệ phântích tài chính hoàn chỉnh phải được thiết lập từ trên xuống và thực hiện mộtcách có hệ thống từ việc thu nhận các số liệu cho đến việc xử lý các số liệu.
Do vậy, nếu doanh nghiệp thiếu sự đầu tư, trang bị khiến cho mọi quátrình từ thu thập đến phân tích, xử lý số liệu đều phải tiến hành thủ công thìhoạt động phân tích tài chính nói chung và việc áp dụng các phương phápphân tích nói riêng sẽ kém hiệu quả
1.3 Mối quan hệ trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và
giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.1 Mối quan hệ trong phân tích tài chính doanh nghiệp.
Như đã xét đến, phõn tích tài chính đóng một vai trò vô cùng quantrọng trong công tác đánh giá và kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Nhưng để công tác phân tích tài chính doanh nghiệp có thểđem lại thông tin hữu ích và kết quả chính xác cho người sử dụng thì ta cần
Trang 39phải xét đến mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong phân tích tài chính doanhnghiệp.
Các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính của mỗi doanh nghiệp cóliên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, sự thay đổi của chỉ tiêunày ít nhiều sẽ kéo theo sự thay đổi của một hoặc một số chỉ tiờu khác Nờnkhi phân tích một vấn đề nào đó, ta cần phải kết hợp nhiều phương pháp và sửdụng hệ thống các chỉ tiêu, chứ không thể chỉ xét đến một chỉ tiêu mà đã cóthể kết luận về tính hợp lý hay không hợp lý về sự thay đổi của một đối tượngnào đó
1.3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chính là việc cảithiện các chỉ tiêu tài chính, giảm chi phí đến mức tối ưu hay gia tăng doanhthu cho doanh nghiệp Do vậy, các doanh nghiệp cần tùy theo tình hình sảnxuất kinh doanh của đơn vị mình mà lựa chọn các giải pháp phù hợp trong rấtnhiều các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt đông kinh doanh như:
Các giải pháp tài chính:
Trang 40- Chủ động huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệpdiễn ra thường xuyên, liên tục Nhất là huy động tối đa số vốn hiện có vàohoạt động kinh doanh để tránh thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay toàn
bộ vốn, giảm chi phí sử dụng vốn
- Đối với vốn cố định, cần thực hiện trích khấu hao thường xuyên, hợp
lý để đảm bảo thu hồi vốn Thường xuyên đổi mới, cải tiến máy móc, thiết bị
để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Sử dụng tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, qua đó,góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Thường xuyên xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp Từ đó
có biện pháp để thu hồi nợ, cũng như có kế hoạch trả nợ đến hạn, làm tăng uytín của doanh nghiệp
Các giải pháp khác:
- Nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ quản lý của doanh nghiệp nhưkhả năng nắm bắt thị trường, quản trị nội bộ, nghiên cứu và phát triển thịtrường