1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình hình tài chính và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần than Cao Sơn

98 395 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 655,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: những vấn đề lý luận chung về vấn đề phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Chương 2: phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần than cao sơn Chương 3 : một số giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần than Cao Sơn

Trang 1

Lời mở đầu

Hiện nay, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranhngày càng quyết liệt có tính loại trừ giữa các thành phần kinh tế đã gây ra nhữngkhó khăn và thử thách cho các doanh nghiệp Trong bối cảnh đó, để có thể khẳngđịnh được mình, mỗi doanh nghiệp cần phải nắm vững tình hình cũng như kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải luônquan tâm đến tình hình tài chính vì nó có quan hệ trực tiếp tới hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại

Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho cácdoanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tàichính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp cũng nhưxác định được một cách đầy đủ, đúng đắn nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng củacác nhân tố thông tin có thể đánh giá được tiềm năng, hiệu quả sản xuất kinh doanhcũng như rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp để họ có thể đưa ranhững giải pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượngcông tác quản lý kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tình hình tài chínhdoanh nghiệp vì nó phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình công sự, nguồnvốn, tài sản các chỉ tiêu về tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, những thông tin mà báo cáo tài chínhcung cấp là chưa đầy đủ vì nó không giải thích được cho người quan tâm biết được

rõ về thực trạng hoạt động tài chính, những rủi ro, o, triển vọng và xu hướng pháttriển của doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính sẽ bổ khuyết cho sự thiếu hụtnày

Trang 2

Nhận thức được rõ tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính đốivới sự phát triển của doanh nghiệp kết hợp giữa kiến thức lý luận đựoc tiếp thu ởnhà trường và tài liệu tham khảo thực tế, cũng với sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tìnhcủa các cô chú trong phòng kế hoạch công ty cổ phần than Cao Sơn và cô giáo –tiến sĩ Nguyễn Thị Hà, em đã chọn chuyên đề :

“ Phân tích tình hình tài chính và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần than Cao Sơn”

Với kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: những vấn đề lý luận chung về vấn đề phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

Chương 2: phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần than cao sơn

Chương 3 : một số giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần than Cao Sơn

Trang 3

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về Tài chính doanh nghiệp và quản trị TCDN

1.1.1 Tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp, nếu xét về hình thức, thì đó là quỹ tiền tệ trong quá trìnhtạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp.Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế nảy dưới hình thứcgiá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệptrong quá trình doanh nghiệp đó hoạt động

Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt tới các mụctiêu của doanh nghiệp đề ra Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sửdụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanhnghiệp

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu là :

1 Quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước : phát sinh khi doanh nghiệp thực hiệnnghĩa vụ nộp thuế và nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp…

2 Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính : Quan hệ này thể hiệnthông qua việc doang nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ trên thị trường tiền tệ vàthị trường vốn Ngược lại doanh nghiệp phải trả lãi vay, vốn vay, trả lãi cổ phầncho các nhà tài trợ

3 Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường khác : bên cạnh thị trường tài chính,doanh nghiệp còn có quan hệ với nhiều thị trường khác như thị trường hàng hoá,

Trang 4

thị trường dịch vụ, thị trường sức lao động Đó là các thị trường cung cấp các yếu

tố đầu vào và phân phối các yếu tố đầu ra cho doanh nghiệp

4 Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp : Quan hệ này thể hiện trong việc doanhnghiệp thanh toán tiền công, tiền lương và các khoản khác với công nhân viêntrong doang nghiệp,quan hệ thanh toán với các bộ phận trong doang nghiệp, trongviệc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp

Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh

tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh và được biểu hiện dưới hình tháitiền tệ Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp bao gồm việc tổ chức thu chi tiền

tệ phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Hoạt động tài chính của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy và phát triển hoạt độngsản xuất kinh doanh qua đó đẩy mạnh các quan hệ tài chính doanh nghiệp

 Lựa chọn và quyết định đầu tư

 Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhucầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp

 Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi vàđảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

 Thực hiện phân phối lợi nhuận , trích lập và sử dụng các quỹ của doanhnghiệp

 Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp

 Thực hiện kế hoạch hóa tài chính

 TCDN huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn rabình thường và liên tục

Trang 5

 TCDN giữ vai trò trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp

 TCDN là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình kinh doanh của doanhnghiệp

1.1.2 Quản trị TCDN

Một cách khái quát có thể hiểu quản trị tài chính doanh nghiệp là những tác động

có ýthức của con người vào các hoạt động tài chính nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Cụ thể hơn quản trị tài chính cũng có thể hiểu là việc lựa chọn và đưa ra cácquyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêuhoạt động của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm gia tănggiá trị của doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai Trong quá trình điều hành hoạt động, các nhà quản trị tài chính doanh nghiệpthường xuyên phải đưa ra rất nhiều các quyết định tài chính tuy nhiên các quyếtđịnh này đều quay xung quanh ba vấn đề chính :

-Vốn được lấy từ đâu, và cơ cấu vốn huy động như thế nào để có được một cơ cấuvốn hợp lý

-Nên đầu tư vào đâu cho có lợi và đạt được mục tiêt đặt ra là tối đa hoá lợi nhuận-Phân phối lợi nhuận làm ra như thế nào để có thể làm hài hoà lợi ích trước mắt vàlợi ích lâu dài

Chính vì vậy nội dung của quản trị tài chính doanh nghiệp là :

-Tham gia đánh giá lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh

-Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho hoạtđộng của các doanh nghiệp

Trang 6

-Tổ chức sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lí chặt chẽ các khoản phải thuchi, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

-Thực hiện phân phối lợi nhuận trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp -Đảm bảo kiểm tra,kiểm soát thường xuyên đối với các hoạt động của doanhnghiệp, thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.1 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

Hoạt động tài chính có quan hệ trực tiếp, thường xuyên với hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và có vai trò quan trọng trong việc hình thành tồn tại

và phát triển của doanh nghiệp Vai trò này thể hiện khi thành lập doanh nghiệp,trong việc thiết lập các dự án đầu tư ban đầu Vì thế chúng ta phải thường xuyênphân tích , đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp để có đánh giá đầy đủ,toàn diện tình hình phân phối sử dụng và quản lý vốn, vạch rõ khả năng tiềm tànggiúp doanh nghiệp đạt đến cấu trúc tài chính tối ưu phù hợp nhất với doanh nghiệpcủa mình

Như vậy qua phân tích đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp giúp chongười quản lý uốn nắn kịp thời những sai xót lệch lạc trong công tác tài chính và

có được những quyết định tài chính đúng đắn Đồng thời giúp cơ quan nhà nước,ngân hàng, nhà đầu tư…nắm được thực trạng tài chính của doanh nghiệp, củng cốtốt hơn hoạt động tài chính của mình

1.2.2 Mục tiêu của phân tích TCDN

Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tìnhhình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định

Trang 7

quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp các đối tượng quantâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó cónhững quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ.

Phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin cho việc ra quyếtđịnh lựa chọn phương án kinh doanh Vì vậy phân tích tài chính doanh nghiệp phảiđạt được những mục tiêu sau:

- Thứ nhất : phân tích tài chính phải cung cấp được đầy đủ các thông tin hữuích cho các nhà quản lý, nhà đầu tư và cho những người sử dụng thông tin tài chínhkhác trong việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền mặt vào, ra,tình hình sử dụng vốn kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp để giúp

họ có những quyết định đúng đắn

- Thứ hai : phân tích tài chính phải cung cấp các thông tin về nguồn vốn chủ

sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình, sự kiện và các tình huống làm biến đổinguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp

- Thứ ba : phân tích tài chính cung cấp những thông tin để người sử dụng cókhả năng dự đoán được khả năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp

Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính củadoanh nghiệp Mỗi đối tượng lại quan tâm theo giác độ và với mục tiêu khác nhau

Do nhu cầu về thông tin TCDN rất đa dạng, đòi hỏi phân tích tài chính phải đượctiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau để từ đó đáp ứng nhu cầu của các đốitượng quan tâm Chính điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích tài chính rađời, ngày càng hoàn thiện và phát triển, đồng thời cũng tạo ra sự phức tạp của phântích tài chính

Các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể đượctập hợp thành các đối tượng chính sau:

Trang 8

Đối với nhà quản lý: là người trực tiếp quản lý doanh nghiệp, nhà quản lý

hiểu rõ nhất TCDN, do đó họ có nhiều thông tin phục vụ cho việc phân tích, từ đóđáp ưng được những mục tiêu sau:

 Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn

đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán

và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp

 Hướng các quyết định của Ban giám đốc theo chiều hướng phù hợp với tìnhhình thực tế của doanh nghiệp, như quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận

 Phân tích tài chính là cơ sở cho những dự đoán tài chính

 Phân tích TCDN là công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trongdoanh nghiệp

nghiệp quản lý Đó là những cổ đông, các cá nhân, đơn vị, hoặc doanh nghiệpkhác Thu nhập của họ là tiền lời được chia và thặng dư giá trị của vốn, chúng chịuảnh hưởng của lợi nhuận thu được của doanh nghiệp

Việc phân tích tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp vàước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào phân tích các báo biểu tài chính, khả năng sinhlời, phân tích rủi ro trong kinh doanh

đảm bảo nhu cầu sản xuất kinh doanh Khi cho vay họ phải biết chắc được khảnăng hoàn trả tiền vay Thu nhập của họ là lãi suất tiền vay Do đó, phân tích tàichính doanh nghiệp đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ củakhách hàng, tùy thuộc đó là khoản vay ngắn hay dài hạn

người có thu nhập duy nhất là tiền lương được trả Tuy nhiên, cũng có nhữngdoanh nghiệp, người hưởng lương có một số cổ phần nhất định trong doanhnghiệp Đối với những doanh nghiệp này, người hưởng lương có thu nhập từ tiền

Trang 9

lương được trả và tiền lời được chia Cả hai khoản này đều phụ thuộc vào kết quảhoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy phân tích tài chính giúp

họ định hướng việc làm ổn định của mình, trên cơ sở đó yên tâm dôc sức chodoanh nghiệp tùy theo công việc được phân công, đảm nhiệm

này đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp về mức độ tuân thủ các chính sách, chế độ và quy định của phápluật Từ đó có thể phát hiện ra những gian lận, sai sót của doanh nghiệp, kịp thời cóbiện pháp ngăn chặn và xử lý đích đáng đối với hành vi vi phạm của doanh nghiệp

1.2.2 phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

Để phân tích tài chính doanh nghiệp, người ta có thể sử dụng một hay tổng hợpcác phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phân tích TCDN.Tuy nhiên có hai phương pháp được sử dụng phổ biến hơn cả là phương pháp

-Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng hoặc hai chỉ tiêu

-Các đại lượng chỉ tiêu khi so sánh với nhau phải có cùng nội dung kinh tế vàphải có cùng một tiêu chuẩn biểu hiện

Trang 10

+Phân tích theo chiều ngang : là việc so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đốitrên cùng một hàng (cùng một chỉ tiêu ) trên các báo cáo tài chính Qua đó thấyđược sự biến động của từng chỉ tiêu.

+Phân tích theo chiều dọc : Là việc xem xét xác định tỷ trọng của từng chỉ tiêutrong tổng thể quy mô chung Qua đó thấy được mức độ quan trọng của từng chỉtiêu trong tổng thể

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế nói chung,phân tích tài chính nói riêng Nội dung phương pháp này bao gồm:

 So sánh chỉ tiêu giữa kỳ này với kỳ trước, năm nay với năm trước hoặc hàngloạt kỳ trước để xác đinh xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích

 So sánh giữa thực tế và kế hoạch của chỉ tiêu để đánh giá tình hình thực hiệnmục tiêu, nhiệm vụ đặt ra

 So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành ( nếu có)

và số liệu của các doanh nghiệp khác trong cùng ngành để đánh giá vị trí, mức độhiệu quả của doanh nghiệp

Trang 11

 So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể.Các chỉ tiêu đem so sánh phải có sự thống nhất về nội dụng kinh tế, phương pháptính toán, thời gian và đơn vị đo lường.

 Tỷ lệ về khả năng sinh lời

Trong điều kiện hiện nay thì việc dùng các tỷ lệ để phân tích, đành giá được

áp dụng ngày càng phổ biến do tính hiệu quả của nó

1.2.3 nội dung phân tích TCDN

1.2.3.1 đánh giá khái quát tình hình thông qua báo cáo tài chính

Tài liệu được sử dụng là các báo cáo tài chính, mà chủ yếu là bảng cân đối kế toán

và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Các báo cáo tài chính cung cấp một cáchkhái quát nhất về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồngthời là nguồn tài liệu quan trọng và rất có ích đối với các đối tượng bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp

1.2.3.1.1 đánh giá tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát giá trị tàisản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm

Trang 12

nhất định Do đó, các số liệu phản ánh trên bảng cân đối kế toán được sử dụng làmtài liệu chủ yếu khi phân tích tổng tài sản, nguồn vốn và kết cấu của chúng.

Phần tài sản: gồm các chỉ tiêu phản ánh toàn bộ trị giá tài sản hiện có tại

một thời điểm, bao gồm toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp vàcác tài sản đi thuê được sử dụng lâu dài, trị giá các khoản kí quỹ, ký cược thôngqua số liệu này để nhận biết cơ cấu vốn hợp lý hay bất hợp lý, đồng thời biết được

sự tăng giảm từng khoản vốn kỳ này so với kỳ trước

Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh

nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, bao gồm:

- Nợ phải trả

- Vốn chủ sở hữu

Các chỉ tiêu này thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với cácloại tài sản đang quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp Thông qua đó, nhận biếtđược mức độ độc lập hay phụ thuộc về mặt tài chính của doanh nghiệp, đồng thờithấy được chính sách sử dụng nguồn tài trợ của doanh nghiệp như thế nào?

Phân tích khái quát bảng cân đối kế toán chính là đi xem xét các vấn đề sau:

+ thứ nhất: xem xét sự hợp lý của cơ cấu vốn, nguồn vốn và sự tác động của

nó đến quá trình kinh doanh Trước hết, phải xác định được tỷ trọng của từng loạitài sản trong tổng tài sản, tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn,

để thấy sự thay đổi về cơ cấu vốn, nguồn vốn là hợp lý hay chưa,chiều hướng tíchcực hay tiêu cực

+ thứ hai: xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài sảnthông qua so sánh cuối kỳ với đầu năm cả về số tuyệt đối và số tương đối Qua đó

Trang 13

thấy được sự biến động về quy mô và năng lực kinh doanh của doanh nghiệp Khiphân tích cần chú ý đến tác động của từng loại tài sản đối với quá trình kinh doanh:

- Sự biến động của tiền ảnh hưởng đến khả năng ứng phó với các khoản nợđến hạn

- Sự biến động của các khoản đầu tư tài chính liên quan đến khả năng đánhgiá các cơ hội đầu tư của doanh nghiệp

- Sự biến động các khoản phải thu chịu ảnh hưởng của chính sách tín dụng vàhiệu quả của công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp Đây là lượng vốn mà doanhnghiệp bị chiếm dụng nên cần có chính sách tín dụng hợp lý để lượng vốn nàykhông quá lớn mà vẫn thu hút được khách hàng

- Sự biến động của tài sản cố định cho thấy sự thay đổi về quy mô và năng lựcsản xuất của doanh nghiệp

+ thứ ba: xem xét mức độ độc lập hay phụ thuộc về mặt tài chính của doanhnghiệp thông qua việc so sánh tổng nguồn vốn cũng như từng loại nguồn vốn giữacuối lỳ và đầu kỳ cả số tuyệt đối lẫn số tương đối Nếu NVCSH chiếm tỷ trọng cao

và có xu hướng tăng lên thì chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính củadoanh nghiệp là cao, mức độ phụ thuộc với các chủ nợ thấp Tuy nhiên khi xem xétcần chú ý đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh màdoanh nghiệp đạt được cũng như những thuận lợi và khó khăn trong tương lai màdoanh nghiệp gặp phải

+ thứ tư: xem xét nguyên tắc cân bằng tài chính Nguyên tắc này đòi hỏi: tàisản cố định chỉ được tài trợ bởi một phần của nguồn vốn dài hạn, chỉ một phần tàisản lưu động được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn Trên góc độ tài chính thìnguyên tắc cân đối giữa tài sản và nguồn vốn không chỉ thể hiện ở cân đối giữa giátrị tài sản và nguồn hình thành nó bởi đây chỉ là hai mặt của một lượng tài sản mà

sự cân đối còn thể hiện ở thời gian vận động của tài sản và nguồn vốn

Trang 14

1.2.3.1.2 đánh giá qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phảnánh một cách khái quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trong một kỳ kếtoán của doanh nghiệp chi tiết theo từng hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hìnhthực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác Dựa vào cácchỉ tiêu trên báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, các nhà phân tích có thể kiểmtra, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự đoán chi phí sản xuất, giávốn, doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, tình hình chi phí, thu nhập của từnghoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời, các số liệu trong báo cáo cũngphản ánh tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà

về thuế

Các chỉ tiêu thuộc phần này trình bày các số liệu về tổng số phát sinh kỳnày, kỳ trước và lũy kế từ đầu năm Cùng với số liệu trên bảng cân đối kế toán, sốliệu trên báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh được sử dụng để tính toán hiệu quả

sử dụng vốn, các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận

Khi phân tích sử dụng số liệu của báo cáo KQHDKD để phân tích tài chính,cần lưu ý những vấn đề cơ bản sau:

+ giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận có mối liên hệ ràng buộc với nhau.Khi tốc độ tăng doanh thul lớn hơn tốc độ tăng của chi phí dẫn đến lợi nhuận tăng

Trang 15

Thứ nhất: xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên phần lãi lỗ giữa kỳnày với kỳ trước thông qua việc so sánh về số tuyệt đối cũng như số tương đối đểthấy được tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp biến chuyển như thếnào Giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận có mối quan hệ ràng buộc với nhau Khitốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí thì sẽ dẫn đến lợi nhuận tăng

và ngược lại Nếu đủ số liệu để phân tích thì có thể đi sâu phân tích ảnh hưởng củatừng nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu để thấy mức độ của từng nhân tố

Ví dụ: chỉ tiêu doanh thu phụ thuộc vào hai nhân tố sản lượng tiêu thụ và giá bán

Do đó, có thể phân tích mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố sản lượng và nhân tốgiá bán đến sự biến động của doanh thu

Các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán, hàng bán bị trả lại nếu tăng, thểhiện chất lượng hàng bán của doanh nghiệp không đảm bảo yêu cầu của kháchhàng

Thứ hai: xem xét mức độ sử dụng chi phí của doanh nghiệp Để làm đượcđiều này cần tính toán các chỉ tiêu: tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần,

tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần, tỷ suất chi phi quản lý doanh nghiệptrên doanh thu thuần Sau đó, tiến hành so sánh giữa kỳ này với kỳ trước để thấyđược xu hướng thay đổi của các chỉ tiêu Các tỷ suất này càng nhỏ, chứng tỏ doanhnghiệp đã biết sử dụng tiết kiệm chi phí làm tăng hiệu quả sự dụng vốn

1.2.3.2 phân tích TCDN thông qua các chỉ tiêu tài chính đặc trưng.

Có bốn nhóm chỉ tiêu tài chính chủ yếu được sử dụng trong phân tích tàichính, đó là:

+ nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

+ nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn và tài sản

+ nhóm chỉ tiêu về tình hình hoạt động

+ nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời

Trang 16

Mỗi nhóm chỉ tiêu trình bày một khía cạnh của doanh nghiệp, nhưng lại cómối liên hệ với nhau Nhiệm vụ của các nhà phân tích là phải tìm hiểu mối liên hệ

đó để có thể kết luận khái quát về toàn bộ tình hình tài chính của doanh nghiệp

1.3.2.2.1 nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán.

Sức mạnh tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng chi trả các khoảncần phải thanh toán, các đối tượng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp luôn đặtcâu hỏi: liệu doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các món nợ tói hạn không?Mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh với khả năng chi trả ra sao? Tình hình thanhtoán của doanh nghiệp là như thế nào? Các nhà quản lý luôn để ý đến các khoản nợđến hạn, sắp đến hạn phải trả để chuẩn bị sẵn các nguồn thanh toán chúng Nếukhông, các chủ nợ, căn cứ vào luật phá sản có thể yêu cầu doanh nghiệp tuyên bốphá sản nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ tới hạn

Không phải bao giờ doanh nghiệp cũng có đủ vốn chủ để tài trợ cho tất cảtài sản trong doanh nghiệp Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không

bị gián đoạn, để kịp thời chớp cơ hội đầu tư, doanh nghiệp phải tìm kiếm cácnguồn tài trợ khác Vay nợ là sự lựa chọn của hầu hết doanh nghiệp, họ có thể vay

từ nhiều đối tượng khác nhau Tuy nhiên, các đối tượng này chỉ cho doanh nghiệpvay khi mà tin chắc vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữacác khoản có khả năng sử dụng để thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanhtoán trong kỳ Việc phân tích các chỉ tiêu về khả năng thanh toán không nhữnggiúp cho chủ nợ giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng và bảo toàn được vốn củamình mà còn giúp cho bản thân doanh nghiệp thấy được khả năng chi trả thực tếcủa mình để từ đó có biện pháp và kế hoạch kịp thời trong việc điều chỉnh cáckhoản mục tài sản cho hợp lý nhằm đảm bảo tình hình tài chính lành mạnh

Trang 17

Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán bao gồm:

Là hệ số phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng với tổng số nợ mà doanh nghiệp phải trả ( bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn).

Hệ số khă năng thanh

Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn, nó thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là khoản nợ phải thanh toán trong một thời gian ngắn, do đó nguồn để trả phải là những tài sản có khả năng chuyển đổi.

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = TS ngắn hạn

Trang 18

nghề kinh doanh Ngành nào đòi hỏi tài sản lưu động chiếm tỷ trọng lớn trongtổng tài sản thì hệ số này thường cao và ngược lại.

Hệ số này nhỏ hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp đã không đảm bảo nguyêntắc cân bằng tài chính Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp đã dùng nguồn vốn ngắnhạn để tài trợ cho tài sản dài hạn, điều này cực kỳ nguy hiểm Vì nó có thể làm chodoanh nghiệp rơi vào khả năng mất thanh toán

Để đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp là tốt hoặc xấu thìngoài việc dựa vào hệ số trên còn phải xem xét ba yếu tố sau :

1 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh

2 Cơ cấu tài sản ngắn hạn

3 Hệ số quay vòng các khoản phải thu của khách hàng, hệ số quay vòng hàngtồn kho, hệ số quay vòng vốn lưu động

Mặt khác hệ số này cao chưa phản ánh đúng năng lực thanh toán củadoanh nghiệp như trường hợp vật tư hàng hoá bị ứ đọng nhiều không thể dễ dàngchuyển hoá thành tiền hoặc doanh nghiệp có sản phẩm dở dang quá lớn Vì vậyphải dùng hệ số thanh toán nhanh mới đánh giá chính xác

Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán ngay bằng tài sản lưu động màkhông dựa vào việc bán các loại vật tư hàng hóa

Hệ số khả năng thanh toán nhanh = TS ngắn hạn - HTK

Nợ ngắn hạn

Trang 19

Hệ số này càng lớn càng đảm bảo cho khả năng thanh toán ngay cáckhoản nợ đến hạn Nhưng nếu hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăntrong thanh toán công nợ vì để trả nợ doanh nghiệp có thể sử dụng các biện phápbất lợi như bán tài sản với giá trị thấp Mặt khác chủ nợ có thể đua ra các mức phạtđối với các khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không có khả năng thanh toánđược Khi đó, họ càng khó khăn hơn.

Hàng tồn kho và các khoản ứng trước không được xếp vào loại tài sảnngắn hạn có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền bởi vì người ta cần phải có thờigian bán chúng đi và có khả năng mất giá trị cao nghĩa là nó có khả năng thanhkhoản kém nhất

Hệ số khả năng thanh toán nhanh là một tiêu chuẩn khắt khe hơn về khảnăng trả nợ ngắn hạn so với hai chỉ tiêu trên, nó giúp giúp nhà cho vay trả lời câuhỏi rằng : Nếu tất cả các khoản nợ ngắn hạn yêu cầu được thanh toán ngay tứckhắc tại một thời điểm thì với tình hình tài chính hiện tại công ty có thể đáp ứngđược hay không ?

Cùng với hệ số khả năng thanh toán nhanh, người ta còn sử dụng hệ sốkhả năng thanh toán tức thời để đánh giá khả năng ứng phó các khoản nợ đến hạncủa doanh nghiệp

Trang 20

Khả năng thanh toán tức thời :

Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán của các khoản nợ ngắn hạn bằng số tiền hiện có và tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền trong doanh nghiệp Đây là chỉ tiêu các chủ nợ ngắn hạn quan tâm để đánh giá tại thời điểm phân tích, doanh nghiệp có thanh toán ngay được các khoản nợ hay không? Tất nhiên, không phải tất cả các khoản nợ ngắn hạn đều cần thanh toán ngay tại thời điểm phân tích Nhưng nếu có những khoản nợ đến hạn và quá hạn thì cần xem xét tại sao doanh nghiệp để phát sinh những khoản nợ quá hạn nhất là khi doanh nghiệp thừa khả năng thanh toán tức thời.

Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền + các khoản tương đương tiền

Nợ ngắn hạn

Lãi vay là một khoản chi phí cố định cho việc sử dụng vốn vay của doanhnghiệp Nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận trước thuế và lãi vay Hệ số này phảnánh khả năng chi trả lãi vay của doanh nghiệp Nó giúp cho các nhà phân tích thấyđược hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp như thế nào? Lợi nhuận có đủ

bù đắp chi phi sử dụng vốn vay hay không?

Hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là lãi vay có nguồn để trả Hệ số này cànglớn cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả

Nếu hệ số này nhỏ hơn 1, nghĩa là vốn vay sử dụng không hiệu quả,doanh nghiệp sẽ phải sử dụng chính nguồn vốn kinh doanh để trả lãi là điều khôngthể tránh khỏi

Trang 21

1.2.3.2.2 nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài sản và nguồn vốn

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì môi trường đầu tư kinh doanhcủa doanh nghiệp cũng có sự thay đổi, kéo theo là sự thay đổi về tỷ trọng cácnguồn vốn Cho nên, không có kết cấu vốn nào là cố định trong mọi trường hợp.Các doanh nghiệp luôn có xu hướng hợp lý hóa kết cấu vốn cho phù hợp với tìnhhình sản xuất kinh doanh, tình hình đầu tư Việc nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn vàtài sản, tỷ suất lợi nhuận sẽ giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định đúng đắn trongchính sách huy động vốn, chính sách đầu tư của mình

Doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn khác nhau để huy động vốn chosản xuất kinh doanh, về cơ bản chúng được chia thành nguồn vốn chủ sở hữu vàcác nguồn vốn vay Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủyếu như vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, tăng vốn bằng phát hành cổ phiếumới Các nguồn vốn vay bao gồm các nguồn như nguồn vốn tín dụng ngân hàng

và tín dụng thương mại, phát hành trái phiếu doanh nghiệp…

Để có đánh giá hợp lý về chính sách huy động, tạo lập vốn của doanhnghiệp ta cần đi sâu phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn thông qua sốliệu ở phần nguồn vốn của bảng cân đối kế toán Việc tổ chức huy động vốn trong

kỳ của doanh nghiệp như thế nào,có đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh haykhông được phản ánh thông qua sự biến động của nguồn vốn và chính sự biếnđộng khác nhau giữa các nguồn vốn cũng sẽ làm cơ cấu nguồn vốn thay đổỉ

Về cách thức phân tích : là so sánh từng nguồn vốn giữa cuối kỳ với đầunăm cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối, xác định và so sánh giữa cuối kỳ và đầunăm về tỷ trọng của từng loại vốn trong tổng để xác định chênh lệch cả về số tiền,

tỷ lệ và tỷ trọng Phân tích kết cấu nguồn vốn nhằm đánh giá khả năng tài trợ vềmặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ tự chủ trong kinh doanh hay

Trang 22

những khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu Khi tiến hành phân tích cầnxác định một số chỉ tiêu sau:

Hệ số nợ cho biết trong 1 đồng vốn kinh doanh có mấy đồng hình thành từ nợ

vay bên ngoài, tỷ suất tự tài trợ thì ngược lại cho thấy một đồng vốn kinh doanh cóbao nhiêu đồng được đảm bảo từ nguồn hình thành là vốn chủ sở hữu Khi hệ số

nợ thấp, tỷ suất tự tài trợ càng cao càng thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tàichính hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng nhiều Tuy vậy để có kết luậnchính xác về sự hợp lý của chính sách tạo lập vốn của doanh nghiệp cần thiết phảixét đến nhiều yếu tố khác nhau như đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp theo ngành nghề cũng như từng thời kỳ giai đoạn phát triển khác nhau củadoanh nghiệp

Các chủ nợ thường thích hệ số nợ ở mức vừa phải vì hệ số này càng thấp thìcác khoản nợ của họ càng được đảm bảo Khả năng thu hồi nợ cao, đặc biệt là khidoanh nghiệp lam ăn không hiệu quả lắm Ngược lại chủ doanh nghiệp lại ưa thích

hệ số nợ cao vì điều đó có nghĩa là lượng vốn chiếm dụng được lớn, doanh nghiệpquản lý được một lượng tài sản lớn mà chỉ cần đầu tư một khoản vốn nhỏ Khi đònbẩy tài chính có tác động dương thì rõ ràng sử dụng hệ số nợ cao là một quyết định

Trang 23

sáng suốt của doanh nghiệp Nó sẽ khuyêch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ lên.Nhưng nếu hệ số này quá cao mà doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả thì dễ lâmvào tình trạng phá sản Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc hệ số nợ ở mức độ hợp

lý Tuy nhiên, tính hợp lý như thế nào thì còn phụ thuộc tính chất ngành nghề kinhdoanh, đặc điểm luân chuyển vốn cũng như mức độ dám chấp nhận mạo hiểm củanhà quản trị

Nhìn vào hệ số vốn chủ, các đối tượng quan tâm có thể thấy được mức độtài trợ của doanh nghiệp đối với vốn kinh doanh Hệ số này càng lớn chứng tỏdoanh nghiệp có nhiêu vốn tự có, tính độc lập cao với các chủ nợ và không bị ràngbuộc hay sức ép của các khoản nợ vay, các chủ nợ luôn thích hệ số vốn chủ cao vìlúc đó các khoản vay của họ được đảm bảo

Để mô tả rõ hơn mức độ đảm bảo của vốn chủ đối với vốn vay, người tadùng hệ số đảm bảo nợ được xác định theo công thức sau:

Hệ số đảm bảo nợ = vốn chủ sở hữu / nợ phải trả

Cơ cấu tài sản:

Các chỉ tiêu về cơ cấu tài sản cho phép đánh giá tổng quát tình hình phân bổnguồn lực và các loại tài sản của doanh nghiệp Có 2 chỉ tiêu quan trọng:

Tùy theo tính chất ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp mà bố trí cơcấu tài sản như thế nào, nghiêng vể tài sản ngắn hạn hay dài hạn Khó có thể đưa

ra một lời kết luận chính xác rằng các hệ số trên ở mức nào là hợp lý Có thể vớidoanh nghiệp này hệ số đầu tư vào tài sản ngán hạn là cao nhưng với doanhnghiệp khác thì tài sản dài hạn lại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản Ngay cảtrong một doanh nghiệp, ở các thời điểm khác nhau cũng có thể có sự thay đổi về

cơ cấu tài sản Sự tác động của yếu tố đầu tư, khả năng tài trợ huy động vốn, sự

Trang 24

thay đổi về điều kiện sản xuất kinh doanh sẽ hình thành một cơ cấu tài sản mới,phù hợp với điều kiện mới Bao giờ doanh nghiệp cũng có xu hướng hướng tớimột cơ cấu tài sản tối ưu, miễn làm sao phân bổ một cách hợp lý các nguồn lực tàichính, phát huy hiệu quả của đồng vốn đầu tư, tránh tình trạng đầu tư nhưng khôngxác định được mục đích và hiệu quả dầu tư Đồng vốn bị ứ đọng, không sinh lời

mà chi phí xử dụng vốn vẫn phải bỏ ra vô ích

Một doanh nghiệp có hệ số đầu tư tài sản dài hạn càng lớn thể hiện mức độtrang bị vật chất kỹ thuật, quy mô cũng như năng lực sản xuất kinh doanh mạnh.Với điều kiện như hiện nay khi mà khi mà yếu tố công nghệ đóng một vai trò rấtquan trọng, nó quyết định tính cạnh tranh thì đây là một ưu thế của doanh nghiệp

Hệ số đầu tư dài hạn cao cũng có thể hiểu về mặt đầu tư dài hạn Đầu tư dài hạn làđầu tư cho tương lai Có thể hiện tại doanh nghiệp chưa thu hồi được vốn ngaynhưng về lâu dài, nó đem lại cho doanh nghiệp nhiều cơ hội kiếm lời

Hệ số tự tài trợ TSCĐ

Hệ số tự tài

trợ TSCĐ =

Vốn chủ sở hữuTài sản dài hạn

Hệ số này cho biết mức độ trang bị cho tài sản dài hạn bởi vốn chủ sở hữu làbao nhiêu Từ đó cho phép đánh giá mức dộ độc lập hay phụ thuộc về mặt tàichính của doanh nghiệp Nếu hệ số này cao chính tỏ doanh nghiệp độc lập về mặttài chính cao

Hệ số này lớn hơn 1: Vốn chủ sở hữu không những tài trợ cho tài sản dàihạn mà còn thừa để tài trợ cho tài sản ngán hạn

Hệ số này bằng 1: Vốn chủ sở hữu vừa đủ tài trợ cho tài sản dài hạn

Hệ số này nhỏ hơn 1: Một phần tài sản dài hạn phải được tài trợ bằng vốnvay, đẩy hệ số nợ lên cao, tăng mức độ phụ thuộc về mặt tài chính của doanh

Trang 25

nghiệp Nếu là vay dài hạn thì điều này không có gì đáng lo ngại Nhưng nếu làvay ngắn hạn thì rất nguy hiểm Nó làm cho hệ số khả năng thanh toán nợ ngánhạn nhỏ hơn 1 Doanh nghiệp sẽ không có khả năng thanh toán nợ đúng hạn Cáckhoản nợ này trở thành nợ quá hạn và phải chịu lãi suất quá hạn, gây khó khăn chodoanh nghiệp.

1.2.3.2.3 Nhóm chỉ tiêu về tình hình hoạt động

Chỉ tiêu này cho biết số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho.Hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động Vì vầy, cần giớihạn mức dự trữ của hàng tồn kho ở mức tối ưu, tránh tình trạng vốn bị ứ đọng quánhiều Mặt khác, phải tăng được vòng quay của chúng Bởi vì, nếu số vòng quayhàng tồn kho càng cao thì hàng tồn kho luân chuyển với tốc độ càng nhanh, giảmđược thời gian vốn bị ứ đọng trong kho, từ đó sẽ giảm được chi phí bảo quản,giảm chi phí tài chính nếu như hàng tồn kho được tài trợ bằng vốn vay Lúc đó,doanh nghiệp chỉ cần dự trữ hàng tồn kho ở một mức thấp vẫn có thể tạo ra doanhthu cao

Còn trong trường hợp số vòng quay hàng tồn kho giảm, số ngày một vòngquay hàng tồn kho tăng cũng cần xem xét nguyên nhân của nó, chẳng hạn doanhnghiệp biết trước giá nguyên vật liệu trong tương lai sẽ tăng hoặc có gián đoạntrong việc cung cấp nguyên vật liệu, nên doanh nghiệp quyết định tăng dự trữnguyên vật liệu hay doanh nghiệp biết trước giá bán sản phẩm sẽ tăng mà quyếtđịnh giảm bán ra làm dự trữ thành phẩm tăng Do đó, trong quá trình phân tích cầnphài tìm hiểu các điều kiện cụ thể về đặc điểm của dự trữ, của thị trường đầu vào

và thị trường đầu ra, tính chất kinh doanh theo mùa vụ hay không, chu kỳ dài hayngắn để đưa ra đánh giá chính xác về tình hình hàng tồn kho của doanh nghiệp

Trang 26

Chỉ tiêu về tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền:

Số vòng quay các khoản phải thu trong kỳ

Với:

Số dư bình quân các khoản phải thu

Kỳ thu tiền trung bình

Số vòng quay các khoản phải thu trong kỳ phản ánh tốc độ chuyển đổi cáckhoản phải thu thành tiền của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tốc độthu hồi các khoản phải thu càng nhanh, giảm được lượng vốn bị chiếm dụng trongkhâu thanh toán, và giảm được khoản chi phí tài chinhs phát sinh kèm theo

Nếu số vòng quay các khoản phải thu trong kỳ không cao thì cần phải tìmhiểu nguyên nhân Có thể do doanh nghiệp mở rộng chính sách tín dụng, chấpnhận thời hạn thanh toán dài hơn đối với các đối thủ cạnh tranh để phát triển thịtrường Doanh nghiệp muốn giữ chân khách hàng đặc biệt là khách hàng lớn vàthường xuyên của doanh nghiệp Hoặc do tình trạng của nền kinh tế, nếu tình hìnhcàng thuận lợi thì càng có xu hướng chấp nhận kéo dài thời gian bán chịu vàngược lại Tuy nhiên, cũng cần xem xét trường hợp thòi gian bán chịu dài hơn chokhách hàng có đưa lại kết quả mà doanh nghiệp mong muốn không? Ví dụ như :

có tăng được số lượng hàng bán không, mở rộng được thị trường không dù saothì các khoản phải thu quá nhiều, tốc độ thu hồi vốn chậm sẽ khiến cho một lượngvốn lớn của doanh nghiệp bị chiếm dụng mà rủi ro tài chính lại cao nếu như doanhnghiệp không thu hồi được

Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu hồi được các khoảnphải thu Chỉ tiêu này còn dùng để đo lường khả năng thu hồi vốn nhanh trongthanh toán:

Trang 27

Số vòng quay vốn lưu động

Chỉ số này được dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn lưu động, nó chobiết trong kỳ vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này càng lớn cónghĩa là vốn lưu động luân chuyển càng nhanh, giảm các khoản vốn bị ứ đọng khálâu trong khâu dự trữ, khâu sản xuất và khâu lưu thông Từ đó, nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn lưu động Ngược lại nếu số vòng quay vốn lưu động quá thấp, doanhnghiệp cần phải xem lại cách quản lý, sử dụng vốn lưu động để có những biệnpháp điều chỉnh kịp thời

Kỳ luân chuyển vốn lưu động =

Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thực hiện một vòng quay vốn lưuđộng Kỳ luân chuyển vốn lưu động càng ngắn thì càng giảm thiểu thời gian vốn bị

ứ đọng, do đó vốn lưu động được sử dụng hiệu quả và ngược lại

Hiệu suất sử dụng vốn cố đinh

Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng vốn cố định như thế nào, nghĩa làmột đồng vốn cố định có thể tạo ra được bao nhiêu doanh thu thuần Khi phân tíchchỉ tiêu này, cần tìm hiểu cơ cấu tài sản cố định cũng như hiệu quả hoạt động chủyếu của chúng Từ đó, doanh nghiệp đề ra được chiến lược đầu tư hợp lý, phát huyđược công suất hoạt động của các tài sản cố định đang sử dụng, đồng thời đưa rahình thức xư lý kịp thời đối với các máy móc đã lạc hậu, không còn sử dụng đượcnữa

Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn của doanh nghiệp sử dụng trong kỳ tạo rađược bao nhiêu đồng doanh thu thuần Từ đó, có thể đánh giá được khả năng quản

lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp là hiệu quả hay không Vòng quay vốn kinhdoanh lớn là yếu tố quan trọng hàng đầu làm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp,

Trang 28

đồng thời làm tăng khả năng cạnh tranh cũng như uy tín của doanh nghiệp trên thịtrường

1.2.3.2.4 nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định Do đó, nó thu hút được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng đặc biệt là các nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng Vì nó gắn liền với lợi ích của các đối tượng này Dụa vào kết quả của việc phân tích nhóm chỉ tiêu này mà các đối tượng quan tâm có thể đưa ra các quyết định : đầu tư hay không đầu tư, bỏ vốn nhiều hay ít, đầu tư trong thời gian dài hay ngắn còn đứng về phía doanh nghiệp nhìn vào chỉ tiêu này, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tự đánh giá trình độ quản lý, sử dụng vốn của mình như thế nào, đem lại kết quả đến mức nào Từ đó rút ra được những kinh nghiệm trong quản lý, sử dụng vốn và hoạch định chiến lược phát triển trong tương lai.

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu =

Lợi nhuận trướcthuế( sau thuế)Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một đồng doanh thu được từ một đồng doanh thu thuần Nó là thước đo chỉ rõ năng lực của doanh nghiệp trong việc sáng tạo ra lợi nhuận và năng lực cạnh tranh Bởi vì nếu chi phí cá biệt tăng, theo quy luật cạnh tranh doanh nghiệp không thể tăng giá bán mà phải giảm lợi nhuận của họ Còn nếu giá bán giảm, doanh nghiệp vẫn phải tìm cách để đảm bảo thu được lợi nhuận để cho việc giảm giá bán không dẫn đến thua lỗ Do đó, khi tỷ suất này cao không nên vội kết luận là tốt mà còn phải xem xét đến các khía cạnh khác nữa Nếu cao do doanh nghiệp giảm được giá thành sản phẩm là tốt nhưng nếu cao do tăng giá bán trong điều kiện cạnh tranh không đổi là điều không tốt, vì khi đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giảm, khối lượng sản phẩm tiêu thụ giảm làm cho doanh thu và lợi nhuận cũng giảm theo.

Tỷ suất sinh lời của tài sản =

EBITTổng tài sản

Trang 29

Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng sinh lời của 1 đồng vốn kinh doanh.

Nó cho biết cứ 1 đồng vốn kinh doanh được sử dụng trong kỳ tạo ra được mấyđồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn kinh doanh có thể tạo ra được mấy đônglợi nhuận trước thuế Nếu tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động

có hiệu quả Tỷ suất lợi nhuân vốn kinh doanh sau thuế được nhà đầu tư sử dụngnhiều hơn vì nó phản ánh chính xác số tiền mà doanh nghiệp nhận được sau khi đãlàm các nghĩa vụ với ngân hàng và nhà nước

Chỉ tiêu này đánh giá mức độ tạo ra lợi nhuận sau thuế cho các chủ doanhnghiệp tính trên mỗi đồng vốn mà họ bỏ ra

Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh =

Lợi nhuận trước thuếVốn kinh doanh

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu =

Lợi nhuận sau thuếVốn chủ sở hữu

Trang 30

1.2.3.2.5 phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu

 Phân tích các nhân tố tác động đến doanh lợi tổng vốn

Tỷ suất lợi nhuận VKD = tỷ suất lợi nhuận sau thuế x số vòng quay VKD

Trên doanh thu

Từ phương trình này ta thấy doanh lợi tổng vốn tăng khi doanh thu từ mộtđồng vốn tăng và lợi nhuận từ một đồng doanh thu tăng Điều đó có nghĩa làdoanh nghiệp phải đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn và quản lý, sử dụng tiết kiệmchi phí

 Phân tích nhân tố tác động đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

Tỷ suất lợi nhuận VCSH = tỷ suất LN x vòng quay VKD x 1/( 1- hệ số nợ)

Trên DTPhương trình này cho thấy doanh lợi vốn chủ phụ thuộc vào ba yếu tố : lợinhuận tạo ra từ một đồng doanh thu, doanh thu thu được từ một đồng vốn và hệ số

nợ bình quân của doanh nghiệp trong kỳ

1.2.3.3 phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn

Mục đích của việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là nhằmgiúp người quản lý nắm khái quát được diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụngvốn trong mối quan hệ với vốn bằng tiền của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhấtđịnh, để từ đó có định hướng cho việc huy động và sử dụng vốn ở thời kỳ tiếptheo Không chỉ có nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm đến bảng phân tích diễnbiến nguồn vốn và sử dụng vốn mà các đối tượng khác nhau như nhà cung cấp tíndụng, nhà đầu tư cũng muốn biết doanh nghiệp đã làm gì với số vốn của họ

Trang 31

Muốn phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, phải lâp được bảng kêdiễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn Trước hết cần phải xác định diễn biến thayđổi của nguồn vốn bằng cách dựa vào bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, sosánh số liệu cuối năm với đầu năm để tìm ra sự thay đổi của khoản mục trên bảngcân đối kế toán Mỗi sự thay đổi của từng khoản mục sẽ được xem xét và phản ánhtrong hai cột : “ diễn biến nguồn vốn” hoặc “ sử dụng vốn” theo cách thức sau: -Các trường hợp tăng các khoản nợ phải trả, tăng vốn chủ sở hữu cũng như làmgiảm tài sản của doanh nghiệp ở cuối kỳ so với đầu kỳ được phản ánh trên cột diễnbiến nguồn vốn.

-Các trường hợp tăng tài sản của doanh nghiệp giảm các khoản nợ phải trả vàvốn chủ sở hữu được đưa vào cột sử dụng vốn

Riêng đối với phần tài sản có các khoản mục thể hiện bút toán đỏ (số âm) thìkhi đưa vào bảng phân tích sẽ ngược lại với nguyên tắc trên

Trang 32

Nguyên tắc lập bảng kê như sau :

Bảng cân đối kế toán

Tính toán các thay đổi

Diễn biến nguồn

vốn

-Tăng nguồn vốn

-Giảm tài sản

Sử dụng vốn-Tăng tài sản-Giảm nguồn vốn

Diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn được thể hiện qua bảng :

Diễn biến nguồn

vốn

Từ đó đánh giá tổng quát về nguồn tiền của doanh nghiệp ở trong kỳ được

sử dụng với mục đích gì, và các nguồn phát sinh dẫn đến việc tăng hoặc giảmnguồn tiền làm cơ sở định hướng huy động vốn cho các kỳ tiếp theo

1.2.4 những thông tin phục vụ cho phân tích tài chính doanh nghiệp

Trang 33

Phân tích tài chính có mục tiêu đi tới những dự đoán tài chính, dự đoán kếtquả tương lai của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà đưa ra được những quyết địnhphù hợp Do vậy, để phục vụ cho việc phân tích không thể chỉ giới hạn cho việcnghiên cứu những báo biểu tài chính mà còn phải quan tâm đến những thông tinliên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như :

 Các thông tin chung : đó là những thông tin chung về tình hình kinh tế, xãhội, tiền tệ, thuế khóa, tình hình thị trường, triển vọng phát triển sản xuất kinhdoanh

 Các thông tin theo ngành kinh tế : đó là những thông tin theo kết quả hoạtđộng của doanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế như đặc điểm của ngànhkinh tế liên quan đến thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹ thuật cần tiến hành, cơcấu sản xuất

 Các thông tin của doanh nghiệp : đó là những thông tin về chiến lược, sáchlược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, những thông tin về tìnhhình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập, phân phối sử dụngvốn, tình hình và khả năng thanh toán những thông tin này được thể hiện quanhững giải trình của các nhà quản lý, qua các báo cáo của hạch toán kế toán, hạchtoán thống kê, hạch toán nghiệp vụ

1.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

1.3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

quản lý kinh doanh Hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời là một phạm trùkinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp về laođộng, vật tư tiền vốn để đạt kết quả cao nhất với chi phí ít nhất

Trang 34

Về mặt định lượng hiệu quả kinh doanh phải được thể hiện ở mối tươngquan giữa thu và chi theo hướng tăng thu giảm chi, có nghĩa là tối đa hoá lợinhuận, đồng thời với khả năng sẵn có làm ra nhiều sản phẩm.

Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là điều kiện sống còn đốivới một doanh nghiệp Nó là mối quan hệ hàng đầu đối với các nhà quản trị, làmục tiêu của những chiến lược kinh doanh dù ngắn hạn hay dài hạn Doanh nghiệpkinh doanh có hiệu quả thì mới có thể tồn tại và khẳng định vị trí, chỗ đứng củamình trên thương trường

Xét trên phạm vi rộng hơn, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp cũng rất cần thiết, bởi lẽ mỗi doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở và quantrọng của xã hội Nếu các doanh nghiệp không đảm bảo được yếu tố hiệu quả kinhdoanh, làm ăn thua lỗ và tất yếu dẫn tới sự phá sản, thì xã hội sẽ bị ảnh hưởng lớnnhư nạn thất nghiệp và hàng loạt các mtổn thất khác…

Như vậy nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là rấtcần thiết và là mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp và các cá nhân tham giahoạt động kinh doanh Đó là tiền đề phát triển đối với bản thân doanh nghiệp cũngnhư toàn xã hội Để có thể nâng cao được hiệu quả kinh doanh trước hết nhà quảntrị phải nắm được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thông quaviệc tiến hành phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, đánh giá tìnhhình tài chính của doanh nghiệp nói riêng Qua đó cần đưa ra được các giải phápthiết thực, hữu dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà trước hết lànâng cao hiệu quả sử dụng vốn về cơ cấu vốn tình hình đảm bảo công nợ

Trang 35

1.3.2 Các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp

Tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp nhất

Vốn là yếu tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần có một lượng vốnnhất định Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp, tùy theo tính chất của hoạt độngkinh doanh mà doanh nghiệp có thể có các phương án huy động vốn khác nhau.Vói điều kiện như hiện nay, khi mà thị trường tài chính đang không ngừng pháttriển thì doanh nghiệp càng có nhiều sự lựa chọn trong việc huy động vốn Doanhnghiệp có thể huy động từ nội bộ : từ các cổ đông, từ lợi nhuận không chia, từngười lao động của doanh nghiệp hay nguồn vốn bên ngoài như vốn vay, pháthành cổ phiếu, trái phiếu mới, thuê tài chính Nhưng dù là nguồn vốn gì thì doanhnghiệp cũng phải bỏ ra một khoản chi phí gọi là chi phí sử dụng vốn Do đó, khiđứng trước một nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải xemxét tất cả các phương án huy động vốn có thể, tính toán chi phí sử dụng vốn củatừng phương án Từ đó lựa chọn phương án huy động vốn có chi phí thấp nhất,nhưng vẫn đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp Vốn huy động được phải

sử dụng đúng mục đích và hợp lý, đầu tư có trọng điểm, tránh tình trạng đầu tưdàn trải mà gây lãng phí vốn

Thiết lập cơ cấu vốn và cơ cấu tài sản hợp lý

Sự tác động của nhiều yếu tố như : yếu tố đầu tư, yếu tố thị trường đầu vào và đầu

ra, yếu tố lãi suất tín dụng đã làm cho cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản củadoanh nghiệp khó mà ổn định Các doanh nghiệp luôn có xu hướng điều chỉnh cơcấu này sao cho phù hợp với điều kiện tình hình mới Tuy nhiên dù điều chỉnh nhưthế nào thì cũng phải đảm bảo xây dựng được một cơ cấu tài sản nguồn vốn và tàisản tối ưu Một cơ cấu tài sản hợp lý không những giảm được các khoản vốn bị ứ

Trang 36

đọng, bị chiếm dụng mà còn phát huy được năng lực sản xuất kinh doanh, pháthuy tác dụng của hệ thống đòn bẩy kinh doanh, tăng cơ hội đầu tư kiếm lời chodoanh nghiệp Còn một cơ cấu nguồn vốn tối ưu sẽ chp phép doanh nghiệp tốithiểu hóa được chi phí sử dụng vốn, tận dụng được ảnh hưởng của hệ thống đònbẩy tài chính Việc kết hợp giữa cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn phải đảm bảonguyên tắc cân bằng tài chính, nghĩa là : tài sản dài hạn phải được tài trợ bằngnguồn vốn dài hạn.

Doanh nghiệp vừa đóng vai trò là con nợ lại vừa là chủ nợ vừa là chủ nợ Làchủ nợ khi doanh nghiệp bán sản phẩm ra thị trường Là con nợ khi doanh nghiệp

đi mua các yếu tố đầu vào như : vốn, nguyên vật liệu, lao động để phục vụ choquá trình sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp luôn muốn chiếm dụng vốn càngnhiều càng tốt Điều này cũng dễ hiểu, vì khi đó doanh nghiệp không phải bỏ tiềntúi ra mà lại có thể tạo ra lợi nhuận cho mình Chính vì lẽ đó, doanh nghiệp đi vaycủa ngân hàng, mua chịu nguyên vật liệu của nhà cung cấp, kéo dài thời gian trảlương cho công nhân nhằm tập trung vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh Chiếmdụng vốn của người khác để làm lợi cho mình, rõ ràng là rất khôn ngoan, nhưngkéo theo đó là sự mất an toàn về tài chính của doanh nghiệp Các khoản vay vốnnày thì cuối cùng doanh nghiệp cũng phải hoàn trả Tuy nhiên, thực tế cho thấyhầu hết các doanh nghiệp sau khi chiếm dụng được vốn thì mặc sức sử dụng màquên đi nghĩa cụ trả nợ, cũng không có kế hoạch đầu tư, sử dụng vốn một cáchhợp lý Nợ ngắn hạn thì đem đầu tư cho tài sản dài hạn Và khi các chủ nợ đòi nợ,đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn thì các doanh nghiệp không kịp thu hồi vốn đểhoàn trả Doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, và dần đánhmất uy tín của mình trong con mắt của các nhà cung cấp, các ngân hàng Do đó,điều cần thiết mà doanh nghiệp phải xác định được giới hạn của số vốn nên chiếm

Trang 37

dụng Không phải bao giờ cũng chiếm dụng càng nhiều vốn thì cũng đều có kếtquả tốt, mà còn phải xét đến yếu tố an toàn tài chính cho doanh nghiệp Khi lượngvốn chiếm dụng quá lớn mà lại không có kế hoạch sử dụng hiệu quả, không dựtính nguồn để trả , không theo dõi cụ thể về thời gian hoàn trả của từng khoản nợthì doanh nghiệp có nguy cơ không thể thanh toán nổi Và khi đó, phá sản là tấtyếu Việc quản lý tốt loại vốn này không những đảm bảo khả năng thanh toán mà

nó còn tạo điều kiện cho quản lý vốn bằng tiền Doanh nghiệp nên lập bảng theodõi từng khoản nợ cụ thể với đầy đủ thông tin về những khoản nợ phải trả, thờigian hoàn trả Dựa vào bảng này, nhà quản lý có thể chủ động trong việc dự trữlượng tiền mặt hợp lý, để tránh tình trạng vốn bị ứu đọng mà doanh nghiệp vẫn cóthể đối phó với những khoản nợ đến hạn

Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý với khách hàng

Khách hàng thì bao giờ cũng muốn mua hàng nhưng chưa muốn trả tiền.Doanh nghiệp muốn tiêu thụ sản phẩm được thì phải bán chịu cho khách hàng.Điều này dẫn đến một lượng vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng trong khâuthanh toán Nếu việc quản lý lượng vốn này không tốt, doanh nghiệp sẽ không có

đủ vốn để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục Do đó, với tưcách là chủ nợ, doanh nghiệp phải đưa ra chính sách tín dụng hợp lý, lập kế hoạchkiểm soát các khoản phải thu Dựa vào từng mục đích cụ thể : xâm nhập thị trườnghay giữ chân các khách hàng lớn hay thiết lập mạng lưới công cộng rộng khắp màdoanh nghiệp sẽ áp dụng từng chính sách tín dụng tương ứng Doanh nghiệp nênphân loại, theo dõi các khoản phải thu của từng đối tượng khách hàng, đánh giámức độ thu hồi nợ để chủ động trong việc sử dụng vốn, trích lập các qũy dự phòngtài chính để tránh tổn thất quá lớn khi rủi ro xảy ra Đồng thời đưa ra những thỏathuận, hình thức xử lý cụ thể khi phía khách hàng không đảm bảo thanh toán đúnghạn

Trang 38

Tận dụng tác động của đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh

Hầu như các doanh nghiệp đều chưa coi trọng vai trò của đòn bẩy kinhdoanh và đòn bẩy tài chính Người ta vẫn nghi ngờ về ảnh hưởng của hệ thống đònbẩy, chưa tin vào kết quả mà nó mang lại Do đó, các doanh nghiệp có sự nghiêncứu, quan tâm đúng mức với hệ thống này

Đòn bẩy kinh doanh phản ánh mức độ sử dụng chi phí cố định trong tổngchi phí Nếu doanh nghiệp sử dụng chi phí cố định càng cao bao nhiêu thì sau khivượt qua điểm hòa vốn, khả năng tạo lãi của doanh nghiệp càng lớn, nó sẽkhuyếch đại lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Đòn bẩy tài chính phản ánh mức độ sử dụng nợ trong tổng nguồn vốn củadoanh nghiệp Khi mức doanh lợi tổng số vẫn còn lớn hơn lãi suất tiền vay và hệ

số nợ vẫn nhỏ hơn hệ số trung bình của ngành thì doanh nghiệp nên tiếp tục tăng

hệ số nợ Khi đó, càng vay nợ càng có lợi vì đòn bẩy tài chính phát huy tác độngdương, nó sẽ khuyếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, nhưng đồng thời rủi rotài chính tăng, doanh nghiệp phải cân nhắc để đảm bảo an toàn tài chính chodoanh nghiệp

Tuy nhiên, việc sử dụng chúng giống như con dao hai lưỡi Khi doanhnghiệp sử dụng chi phí cố định càng cao bao nhiêu thì vốn chủ sở hữu khó mà đápứng đủ, nên doanh nghiệp hêt sức thận trọng Nếu biết cách sử dụng thì mang lạihiệu quả rất cao, nhưng nếu doanh nghiệp mắc sai lầm thì hiệu quả cũng khônglường

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ

PHẦN THAN CAO SƠN 2.1 Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần than cao sơn.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.

- Công ty than Cao Sơn (trước đây là Mỏ than Cao Sơn) được thành lập theoquyết định số 927/ QĐ - NCQLKT 1 ngày 06/ 6/ 1974 của Bộ trưởng Bộ Điện vàThan Doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc – Công ty than Hòn Gai

- Ngày 30/ 6/ 1983, Mỏ than Cao Sơn được thành lập lại theo quyết định số

461 NL/ TCCB – LĐ của Bộ Năng Lượng Doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc –Công ty than Cẩm Phả

- Đến năm 1996, Mỏ than Cao Sơn lại được thành lập lại theo quyết định số2606/ QĐ -TCCB ngày 17/ 9/ 1996 của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp chính thức trởthành Công ty than Cao Sơn

- Ngày 8/8/2006, Bộ trưởng bộ Tài chính có quyết định số 2041/QĐ-BCNchuyển công ty than Cao Sơn thành Công ty cổ phần than Cao Sơn – TKV

- Ngày 02/01/2007, Công ty chính thức hoạt động theo cơ chế công ty Cổ

phần theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 2203000748 cấp ngày

02/01/2007, đăng kí tại Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh với tổng số vốn là

Trang 40

nghĩa, nhất là từ thập kỷ 90 trở lại đây, sản phẩm than đã trở thành mặt hàng xuấtkhẩu quan trọng trên thị trường thế giới Thấy được tầm quan trọng đó, Doanhnghiệp đã thay đổi tổ chức sản xuất, thay đổi phương thức quản lý điều hành, ápdụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới trong việc khai thác, chế biến than Chính

vì thế, Doanh nghiệp đã chủ động về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, chủ động về tàichính và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của mìnhtrước TKV và trước Nhà Nước Do xác định đúng hướng đi của mình trong nhữngnăm qua, Doanh nghiệp đã tạo đủ công ăn việc làm cho hơn 4.000 lao động, sảnxuất phát triển, ổn định, có hiệu quả, lãi năm sau cao hơn năm trước, các khoảnnộp Ngân sách thực hiện đầy đủ, đời sống công nhân viên chức được cải thiện vàphát triển, các chính sách xã hội được quan tâm Năm 2008, công ty đã bóc tấnthan thứ 3 triệu

- Kết quả là doanh thu than hàng năm tăng lên 10 % , thu nhập bình quântăng 8 – 11%

- Doanh nghiệp rất chú trọng quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật

và cán bộ quản lý kinh tế Số lượng cán bộ có trình độ đại học hiện nay là 236người chiếm 6,1 % tổng số CBCNV

- Theo số liệu năm 2004 – 2007 : Doanh thu bán than hàng năm của doanhnghiệp tăng bình quân từ 15 – 22% ; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 10 –16% Đạt được kết quả đó là do Ban lãnh đạo của Doanh nghiệp đã có tầm nhìnchiến lược, chỉ đạo đúng, đã biết sử dụng sức mạnh đoàn kết, phát huy nội lực củaCBCNV trong Doanh nghiệp Cho nên sản xuất phát triển, sản lượng than tăng,chất lượng than được nâng cao đáp ứng với yêu cầu của khách hàng Các bộ phậnliên quan tới công tác tiêu thụ than đã chủ động tìm kiếm khách hàng, mở rộng thịtrường và thay đổi phương thức bán hàng cho phù hợp với giai đoạn hiện nay

Ngày đăng: 19/04/2016, 20:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng cân đối kế toán - Phân tích tình hình tài chính và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần than Cao Sơn
Bảng c ân đối kế toán (Trang 32)
Bảng 1 : kết quả hoạt động kinh doanh của công ty năm 2010 – 2011 - Phân tích tình hình tài chính và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần than Cao Sơn
Bảng 1 kết quả hoạt động kinh doanh của công ty năm 2010 – 2011 (Trang 48)
Bảng 6 : bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh - Phân tích tình hình tài chính và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần than Cao Sơn
Bảng 6 bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh (Trang 60)
Bảng phân tích chi phí của doanh nghiệp trong 1 đồng doanh thu - Phân tích tình hình tài chính và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần than Cao Sơn
Bảng ph ân tích chi phí của doanh nghiệp trong 1 đồng doanh thu (Trang 62)
Bảng 7 : bảng liệt kê các khoản phải thu, phải trả của công ty năm 2011 - Phân tích tình hình tài chính và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần than Cao Sơn
Bảng 7 bảng liệt kê các khoản phải thu, phải trả của công ty năm 2011 (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w