1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thiết kế bài giảng Văn 9 tập 2

509 353 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 509
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Định hướng: + Để lí giải vấn đề tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đọc sách, tác giả đặt nó trong mối quan hệ với học vấn của con người, trả lời câu hỏi đọc sách để làm gì?. Dù văn hoá

Trang 1

TS NguyÔn V¨n §−êng (Chñ biªn)

ThS Hoμng D©n

ThiÕt kÕ Bμi gi¶ng

Ng÷ v¨n

Trung häc c¬ sëv

TËp hai

(T¸i b¶n lÇn thø nhÊt cã söa ch÷a bæ sung)

Nhμ xuÊt b¶n Hμ Néi

Trang 2

Cùng bạn đọc

Quý bạn đọc cùng anh chị em giáo viên vμ sinh viên thân mến!

Với tập sách nμy, chúng tôi đã hoμn tất bộ Thiết kế bμi giảng Ngữ văn THCS (từ lớp 6 đến lớp 9) gồm 8 quyển Nhìn chung, bộ sách được biên soạn trong những khoảng thời gian hạn hẹp, khi bản thân các tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu thật kĩ cμng, sâu sắc chương trình vμ SGK mới, nhất lμ tìm hiểu

cặn kẽ những giá trị tư tưởng – thẩm mĩ của từng văn bản, nội dung vμ phương

pháp, biện pháp tổ chức dạy học của từng bμi học, tiết học Bởi vậy, với sự

nỗ lực hết mình của bản thân, chúng tôi cũng chỉ mới có thể đưa ra một ít suy nghĩ vμ thể nghiệm, viết thμnh một hệ thống Thiết kế các bμi, tiết dạy học Ngữ văn theo hướng Tích hợp Tích cực, đặng giúp các thầy cô giáo dạy môn Ngữ văn THCS một tμi liệu tham khảo tiện dụng khi soạn bμi, lên lớp Chúng tôi chủ trương biên soạn kĩ, tỉ mỉ, cụ thể, cả về nội dung vμ tiến trình lên lớp, cụ thể hoá các hoạt động dạy học theo từng tình huống sư phạm dự kiến bằng các câu hỏi, bμi tập, định hướng, việc lμm (thao tác) của thầy vμ trò Cuối mỗi bμi hoặc đặt ở phần Phụ lục những thiết kế khác, những tư liệu hữu quan để các thầy, cô rộng đường đối sánh, lựa chọn Chính vì quan niệm như vậy nên sách khá dμy vμ nếu ai chưa hiểu dụng ý tác giả sẽ cho rằng các thiết kế của chúng tôi không thể thực thi trên lớp Chúng tôi đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, bộ sách nμy chỉ có tác dụng lμm tμi liệu tham khảo mμ thôi! Nó hoμn toμn không thể thay thế được từng thiết kế riêng của mỗi người Nhưng nếu bạn chọn trong những gợi mở của chúng tôi đôi ba điều khả dĩ dùng được cho bμi soạn của mình thì chúng tôi đã vô cùng mãn nguyện! Để thiết thực phục vụ việc dạy ư học khi trong năm học mới 2007 ư 2008 bắt đầu, chúng tôi xin gửi tới các bạn đồng nghiệp bộ sách Thiết kế bμi giảng Ngữ văn THCS, tái bản có sửa chữa vμ bổ sung

Rất mong nhận được nhiều góp ý, nhận xét, phê bình của bạn đọc để tác giả kịp thời tu chỉnh, sửa chữa, bổ sung cho sách được hoμn bị hơn trong lần tái bản sau

Xin trân trọng cảm ơn!

Các tác giả

Trang 3

Tuần 19 Bμi 18

Tiết 91, 92 Văn học

Bμn về đọc sách

(Trích)

Chu Quang Tiềm

A Kết quả cần đạt

1 Hiểu được sự cần thiết của việc đọc sách và phương pháp đọc sách qua

bài nghị luận sâu sắc, giàu tính thuyết phục của Chu Quang Tiềm

2 Tích hợp với phần Tiếng Việt ở bài Khởi ngữ, với phần Tập làm văn ở

bài Phép phân tích và tổng hợp, với thực tế cuộc sống ở chuyên mục Mỗi ngày

một cuốn sách (chương trình Chào buổi sáng của Đài Truyền hình Việt Nam), Thư viện tự nguyện của GS Phạm Đức Dương,…

3 Rèn kĩ năng tìm và phân tích luận điểm, luận chứng trong văn bản nghị

luận

4 Chuẩn bị của thầy và trò:

+ Một vài chương trình Mỗi ngày một cuốn sách trong thời gian gần đây + Truyện ngắn “Sách”, và “Tôi đã học tập như thế nào” của M Gor-ki

(Tuyển tập truyện ngắn Mác-xim Gor-ki, NXB Văn học, Hà Nội, năm 1970)

B Thiết kế bμi dạy ư học

Hoạt động 1

Tổ chức kiểm tra bài cũ

Đây là tuần đầu, bài đầu, tiết đầu tiên của học kì II nên GV có thể thay việc kiểm tra bài cũ bằng giới thiệu sơ lược chương trình toàn học kì II hoặc trao đổi về việc đọc sách của cá nhân HS ở nhà

Hoạt động 2

Dẫn vào bài mới

1 GV trò chuyện với HS bằng những câu hỏi sau:

+ Trong chương trình Chào buổi sáng, em thấy có mục nào đáng chú ý?

Trang 4

+ Mục Mỗi ngày một cuốn sách có được em theo dõi thường xuyên không?

+ Theo lời khuyên của người giới thiệu, em đã tìm mua (mượn) và đã đọc dược cuốn sách nào?

+ Theo em, mục ấy được đặt ra mục đích gì? (Từ đó nói lời dẫn vào bài.)

2 Ngay từ khi còn để chỏm, trong những ngày đầu tiên cắp sách đến lớp,

các học trò nhỏ Trung Hoa, Việt Nam xưa đều đã được học thuộc lòng mấy câu giáo huấn của thánh hiền:

Thiên tử trọng hiền hào Văn chương giáo nhĩ tào Vạn ban giai hạ phẩm Duy hữu độc thư cao

Nghĩa là: Nhà vua coi trọng người hiền đức Văn chương giáo dục con người Trên đời, mọi nghề đều đều thấp kém, chỉ có đọc sách là cao quý nhất Gạt bỏ đi cái lạc hậu và cực đoan, lỗi thời của tư tưởng phong kiến, vẫn còn lại một sự đánh giá cao vai trò của việc đọc sách Đọc sách là việc cao quý,

nó làm cho con người trở nên cao quý hơn Đã có biết bao ý kiến hay, sâu sắc

bàn về công việc cao quý này mà bài Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm –

một học giả Trung Hoa nổi tiếng là một minh chứng

3 GS, TS Chu Quang Tiềm (1897 – 1986) – nhà mĩ học và lí luận văn học

lớn của Trung Quốc Ông nhiều lần bàn về việc đọc sách, phương pháp đọc sách Ông muốn truyền lại cho các thế hệ sau những suy nghĩ sâu sắc và kinh

nghiệm phong phú của bản thân Bàn về đọc sách trích trong cuốn Danh nhân

Trung Quốc bàn về niềm vui nỗi buồn của việc đọc sách (Bắc Kinh, 1995,

+ GV xác định kiểu loại văn bản? Dựa vào những yếu tố nào để xác định

đúng tên kiểu loại văn bản này?

+ HS xác định, phát biểu ý kiến

Định hướng:

– Văn bản nghị luận (lập luận giải thích một vấn đề xã hội)

Trang 5

ư Dựa vào hệ thống luận điểm, cách lập luận và tên văn bản để xác định thể loại – kiểu văn bản

3 Giải thích từ khó:

– Theo 7 chú thích trong SGK; dừng lại phân biệt 2 từ học vấn và học thuật

4 Bố cục

(Lưu ý: Đây là một đoạn trích nên không có đầy đủ các phần mở, thân,

kết Thực chất, ở đây chỉ có phần thân – giải quyết vấn đề; cho nên tìm hiểu bố

cục của đoạn trích thực chất là đi tìm hệ thống luận điểm này)

a) Học vấn không chỉ là… phát hiện thế giới mới: Sự cần thiết và ý nghĩa

của việc đọc sách

b) Lịch sử càng tiến lên… tự tiêu hao lực lượng: Những khó khăn, nguy hại

hay gặp của việc đọc sách trong tình hình hiện nay

c) Đọc sách không cốt lấy nhiều… hết: Phương pháp chọn sách và đọc

sách

(Lưu ý: Trên đây chỉ là một cách đọc ư hiểu Có thể nhập cả đoạn b và

đoạn c thành một đoạn vì đoạn b cũng nói về một khía cạnh của việc chọn sách

và phương pháp đọc sách Lại có thể tách đoạn c thành 2 hoặc 3 đoạn nhỏ… Tựu trung, vấn đề đọc sách được bàn tới chủ yếu trên 3 bình diện: sự cần thiết

và ý nghĩa đọc sách – cách chọn sách – cách đọc sách Các ý liên quan chặt chẽ với nhau, 2 ý sau là trọng tâm.)

Hoạt động 4

Hướng dẫn đọc – hiểu chi tiết

1 Luận điểm 1: Sự cần thiết và ý nghĩa của việc đọc sách

+ HS đọc lại đoạn đầu, suy nghĩ để trả lời các câu hỏi sau

+ GV hỏi:

ư Tác giả đã lí giải tầm quan trọng và sự cần thiết của việc đọc sách đối với mỗi người như thế nào?

ư Mối quan hệ giữa đọc sách và học vấn ra sao?

ư Trong thời đại hiện nay, để trau dồi học vấn, ngoài con đường đọc sách còn có những con đường nào khác? Tìm ví dụ?

ư So sánh những con đường đó, chẳng hạn so sánh con đường văn hoá nghe – nhìn với đọc sách, từ đó rút ra kết luận về tầm quan trọng và ý nghĩa của việc

đọc sách hiện nay

ư Em hiểu câu Có được sự chuẩn bị như thế thì một con người mới có thể

làm được cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, nhằm phát hiện thế giới mới như thế nào?

+ HS lần lượt trả lời từng câu hỏi

Trang 6

Định hướng:

+ Để lí giải vấn đề tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đọc sách, tác giả đặt

nó trong mối quan hệ với học vấn của con người, trả lời câu hỏi đọc sách để làm gì? vì sao phải đọc sách? Tác giả đưa ra các lí lẽ:

ư Đọc sách là con đường quan trọng của học vấn (không phải là con đường duy nhất)

ư Nhưng học vấn là gì? Là thành quả tích luỹ lâu dài của nhân loại

ư Nhưng tích luỹ bằng cách nào, ở đâu? Tích luỹ bằng sách và ở sách

ư Vậy sách là kho tàng quý báu lưu giữ tinh thần nhân loại, những cột mốc ghi dấu sự tiến hoá của nhân loại

ư Vậy, coi thường sách, không đọc sách là xóa bỏ quá khứ, là thụt lùi, lạc hậu, là kiêu ngạo một cách ngu xuẩn

ư Đọc sách là trả nợ quá khứ, là ôn lại kinh nghiệm loài người, là hưởng thụ kiến thức, lời dạy tâm huyết của quá khứ

ư Đọc sách là để chuẩn bị hành trang, thực lực về mọi mặt để con người có

thể tiếp tục tiến xa (trường chinh vạn dặm) trên con đường học tập, phát hiện

thế giới

Rõ ràng, một cách lập luận như trên là thấu tình đạt lí, kín kẽ, sâu sắc Trên con đường gian nan trau dồi học vấn của con người, đọc sách là con

đường quan trọng trong nhiều con đường khác Đọc sách là con đường tích luỹ

và nâng cao tri thức Đọc sách là tự học Đọc sách là học với các thầy vắng mặt… Đọc sách có ý nghĩa lớn lao và lâu dài đối với mỗi con người Dù văn hoá nghe– nhìn, thực tế cuộc sống đang là những con đường học tập quan trọng khác, nhưng không bao giờ có thể thay thế được cho việc đọc sách

(GV có thể đọc thêm một vài đoạn trong bài Văn hoá đọc và văn hoá nghe

nhìn trong mục đọc tham khảo bên dưới)

(Hết tiết 91, chuyển tiết 92)

2 Luận điểm 2: Hai trở ngại cho nghiên cứu học vấn – hai cái hại thường

gặp khi đọc sách

+ GV chuyển: Nhưng tác giả không tuyệt đối hoá, thần thánh hoá việc đọc sách Ông đã chỉ ra hạn chế trong sự phát triển, hai trở ngại – hai cái hại trong nghiên cứu, trau dồi học vấn, trong đọc sách Đó là gì? Và tác hại của chúng như thế nào?

+ HS đọc tiếp đoạn 2, chú ý hai đoạn văn so sánh: giống như ăn uống;

giống như đánh trận

Trang 7

+ GV nêu vấn đề thảo luận: Cái hại đầu tiên trong việc đọc sách hiện nay, trong tình hình sách nhiều vô kể là gì? Để minh chứng cho cái hại đó, tác giả

so sánh, lập luận như thế nào? Em có tán thành luận chứng của tác giả hay

không? ý kiến của em về những con mọt sách?

+ HS bàn luận, trả lời

Định hướng:

– Cái hại đầu tiên của việc đọc sách trong tình hình sách được xuất bản, in

ấn rất nhiều như hiện nay là khiến người đọc không chuyên sâu, nghĩa là ham

đọc nhiều mà không thể đọc kĩ, chỉ đọc qua, hời hợt nên liếc qua nhiều mà

đọng lại chẳng bao nhiêu

– So sánh với cách đọc sách của người xưa: đọc kĩ, nghiền ngẫm từng câu,

từng chữ (Quý hồ tinh bất quý hồ đa! (ít mà tinh còn hơn nhiều mà dối (chẳng

có gì!), Thà ít mà tốt!) một trong những lí do là sách ít, thời gian nhiều Bây

giờ thì ngược lại!

– Lối đọc ấy không chỉ vô bổ, lãng phí thời gian và công sức mà có khi còn mang hại So sánh với việc ăn uống vô tội vạ, ăn tươi nuốt sống Các thứ không tiêu hoá được tích càng nhiều càng hay sinh bệnh Thói xấu hư danh, nông cạn

do đọc nhiều mà dối, đọc để khoe khoang Đọc lấy được ăn tươi nuốt sống cũng chính từ đó mà ra Lời bàn thật sâu và chí lí

– Những "con mọt sách" không đáng yêu, mà đáng chê khi chỉ chúi mũi vào sách vở, chẳng còn chú ý đến chuyện gì khác, thành xa rời thực tế, như sống trên mây!

+ HS tiếp tục tìm hiểu và phân tích cái hại thứ hai

+ GV từ hai cái hại trên dẫn tới kết luận quan trọng làm tiền đề cho luận

Trang 8

3 Luận điểm 3: Cách chọn sách và cách đọc sách đúng đắn, có hiệu quả

a) Cách chọn sách

+ GV hỏi: Tác giả khuyên chúng ta nên chọn sách như thế nào? Em hiểu như thế nào về sách phổ thông và sách chuyên môn? Cho một vài ví dụ Nếu được chọn sách chuyên môn, em yêu thích và lựa chọn loại sách chuyên môn nào?

+ HS tự do lựa chọn và phát biểu ước muốn của bản thân

Định hướng:

– Chọn cho tinh, không cốt nhiều Dẫn: Đọc nhiều không thể coi là vinh dự (nếu nhiều mà dối), đọc ít cũng không phải là xấu hổ (nếu ít mà kĩ càng, chất lượng),… Tìm được những cuốn sách thật sự có giá trị và cần thiết đối với bản thân Chọn lọc có mục đích, định hướng rõ ràng, kiên định, không tuỳ hứng, nhất thời

ư Đọc kĩ, đọc đi đọc lại, đọc nhiều lần, đến thuộc lòng

ư Đọc với sự say mê, ngẫm nghĩ, suy nghĩ sâu xa, trầm ngâm tích luỹ, kiên

định mục đích

ư Tác hại của lói đọc hời hợt: như người cuỡi ngựa qua chợ, mắt hoa ý loạn, tay không mà về; như trọc phú khoe của, lừa mình dối người, thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém

Có nhiều cách đọc khác nhau: đọc to, đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc bằng mắt, đọc một lần, đọc nhiều lần Tựu trung, có thể đọc một lần đầu lướt qua để nắm nội dung khái quát Có thể đọc qua mục lục, lời nói đầu để nắm sơ lược nội dung và bố cục Những lần sau mới đọc chậm, đọc kĩ, đọc nhiều lần những

đoạn, chương khó hoặc hay Đọc kết hợp với ghi chép, thu hoạch… Mỗi người

có cách đọc và thói quen, sở thích đọc không giống nhau, những đại thể, muốn

đọc – hiểu có hiệu quả, có ích, tất phải theo con đường trên

Trang 9

4 Luận điểm 4: Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn chuyên

ư Bác bỏ quan niệm của một số người chỉ chú ý đến học vấn chuyên môn

mà lãng quên hoặc coi thường học vấn phổ thông (dễ trở thành phiến diện, khép kín) Tác giả phân tích rõ sự liên quan, gắn bó tương thông, tương hỗ giữa hai loại học vấn này để chỉ ra: bên ngoài có phân biệt nhưng bên trong không thể tách rời Không có học vấn cô lập Đó là một chỉnh thể thống nhất hữu cơ,

đa dạng

ư Nếu chỉ đào sâu học vấn chuyên môn thì càng sâu càng như đi vào sừng trâu, càng chui càng hẹp và cuối cùng tắc tị Không biết rộng không thể chuyên sâu Trước hãy biết rộng rồi sau mới nắm chắc…

ư Đó là những kết luận được trình bày một cách giản dị liên quan đến việc

đọc rộng và đọc sâu cần kết hợp với nhau

ư Đọc sách cũng là công việc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm và gian khổ

ư Đọc sách là học tập tri thức Đọc sách là rèn luyện tính cách, chuyện học làm người chứ không phảỉ làm con mọt sách!

Hoạt động 5

Hướng dẫn tổng kết và luyện tập

1 Đọc và tự mình ghi nhớ những kiến thức cơ bản trong mục Ghi nhớ,

SGK, tr 7

2 Xác định ngắn gọn hệ thống luận điểm trong bài (Tầm quan trọng và ý

nghĩa; hai cái hại: đọc qua loa, lạc hướng, cách chọn tinh; cách đọc kĩ, kết hợp giữa đọc rộng và đọc sâu)

3 Đặc sắc nghệ thuật của bài (nghị luận giải thích; luận điểm sáng rõ, lô

gích; lập luận chặt chẽ, kín kẽ, lời văn bình dị, so sánh hình ảnh thú vị)

4 Tự liên hệ đến cách chọn sách và đọc sách của mỗi cá nhân học sinh?

5 Học xong bài Bàn về đọc sách, em thu hoạch thấm thía nhất ở điểm

nào? Vì sao? Viết thành một đoạn văn ngắn

6 Tập theo dõi các buổi Đọc truyện đêm khuya trên đài Tiếng nói Việt

Nam, chuyên mục Mỗi ngày một cuốn sách, làm thẻ thư viện đọc, mượn, kế

hoạch mua sách cho tủ sách riêng hằng tháng, hằng năm

Trang 10

7 Chuẩn bị bài Tiếng nói của văn nghệ Đọc và suy nghĩ đoạn văn nói về

cách đọc một bài thơ:

"Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được Ta

sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ Tất cả tâm hồn chúng ta đọc, không phải chỉ có trí thức Và khác với cách đọc riêng bằng trí thức, lần đọc thứ hai chậm hơn, đòi hỏi nhiều cố gắng hơn, nhiều chỗ chúng ta dừng lại hơn Cho đến một câu thơ kia, người đọc nghe thì thầm mãi trong lòng, mắt không rời trang giấy…"

Văn hoá đọc (kể cả đọc trên In-tơ-nét) và văn hoá nghe nhìn có sự bổ sung đắc lực cho nhau Khi đọc sách, người đọc phải tập trung tư tưởng một cách chủ động để hiểu và

Trang 11

ghi nhớ nội dung trong sách Có khi cần đọc đi đọc lại, nghiền ngẫm Ngôn ngữ là phương tiện duy nhất của văn hoá đọc mà ngôn ngữ thì lại đa tầng đa nghĩa, ý tại ngôn ngoại Đó

là nét khu biệt giữa văn hoá đọc và văn hoá nghe nhìn Văn hoá đọc đòi hỏi nhiều thời gian, dung lượng thông tin không rộng nhưng sâu làm con người nhớ lâu Văn hoá nghe nhìn giúp con người cảm nhận nhanh, trực tiếp bằng mắt và tai, hấp dẫn hơn Nhưng mặt trái là kiến thức dễ bị tam sao thất bản, không hệ thống…

Việc xuất bản sách báo ở nước ta hiện nay phát triển rất mạnh về số lượng Sách nhiều vô kể, thượng vàng hạ cám Việc đọc sách cần có hướng dẫn Trẻ con chỉ thích đọc

Đô-rê-mon, thanh niên chỉ thích đọc các loại truyện tình oan trái, tâm lí trả thù hay hưởng

thụ, mộng tưởng hão huyền Nghệ An, vùng quê nổi tiếng học gạo thế mà có đến hơn 50% sinh viên ĐHSP Vinh không đọc Chiến tranh vμ hoμ bình, Sông Đông êm đềm… sinh viên

chỉ đọc giáo trình vào những chỗ sẽ hỏi trong kì thi mà thôi!

Nghịch lí là ở chỗ văn hoá nghe nhìn đã lấn sân văn hoá đọc một cách quá đáng Làm thế nào để HS, SV cân bằng và phối hợp hài hoà giữa văn hoá đọc và văn hoá nghe nhìn? Cần có những biện pháp đồng bộ: có những cuốn sách hay cho mọi lứa tuổi được chuyển

tải lên mạng để HS có thể đọc; giáo dục HS cách đọc sách và cách xem tivi, cách vμo

mạng… làm sao cho mọi hình thức giải trí đều nhằm hướng học mà chơi, chơi mà học HS

được học một cách thông minh, vui vẻ, nhẹ nhàng… HS biết cách đọc sách chính là một hình thức tự học quan trọng…

Để giúp SV, NCS, tôi đã mở kho sách 6000 cuốn cho các em đến đọc – thư viện miễn phí, tự nguyện, tự quản – một sân chơi văn hoá của GS Phạm Đức Dương (*)

(Theo tạp chí Người đọc sách, số 6 – 2005)

3 Mác-xim Gor-ki viết về sách Sách đối với chúng tôi là cái khe hở từ thế giới của sự trống rỗng im lìm nhìn ra thế giới của cuộc sống thực sự… Tôi muốn đọc sách để tâm hồn thư thái chứ không phải để cãi vã lăng nhăng…

Tôi biết đọc sách một cách có ý thức năm 14 tuổi Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ si mê tình tiết trong sách mà tôi bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của các tác giả và

lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói với cái mà cuộc sống khuyên bảo… Phải thương hại con người thật đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu thương vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để yêu Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn… và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa ấy, tôi bắt đầu đọc những sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài Tôi vô cùng ngạc nhiên cảm thấy hầu như mỗi cuốn

Trang 12

sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ, quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy Thậm chí tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời quanh tôi, tất cả những gì tàn bạo, khắc nghiệt hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều thừa Cái

có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, nơi mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn Trong sách cũng có nói đến sự thô bạo, ngu xuẩn của người đời, về những đau khổ của

họ, cũng miêu tả không ít kẻ độc ác, ti tiện; nhưng bên cạnh đó có những người khác, những người tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến – những người chính trực, cương nghị, chân thật, bao giờ cũng sẵn sàng phục vụ thắng lợi của sự thật, lập những chiến công đẹp đẽ dù có phải hi sinh tính mạng…

Thời gian đầu, say sưa với cái mới lạ và vì giá trị tinh thần lớn lao của thế giới sách mở

ra trước mắt, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn mọi người Và dường như hơi bị loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt

đã quan tâm, đã chữa cho tôi khỏi cái bệnh mù dễ chịu ấy…

Sách làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời càng trở nên rực rỡ, có ý nghĩa hơn… sách làm cho khắp trái đất tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn Mỗi cuốn sách đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ sống động khi mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng…

Như con chim kì diệu trong cổ tích, sách ca hát về cuộc sống đa dạng và phong phú

và con người táo bạo trong khát vọng vươn tới chân, thiện, mĩ Càng đọc, hồn tôi càng tràn

đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tự tin hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực mình trong cuộc sống

Mỗi cuốn sách là những bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con ngươì, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất, về sự thèm khát cuộc sống ấy…

Hãy yêu sách! Nó là nguồn kiến thức Chỉ có kiến thức mới là con đường sống; chỉ có

nó mới có thể làm cho chúng ta trở thành những người cương nghị, chính trực, khôn ngoan,

có khả năng thành thật yêu mến con người, tôn trọng lao động của con người và thành tâm khâm phục những thành quả tuyệt vời do công trình lao động vĩ đại, liên tục của con người làm nên

Trong tất cả những gì mà con người đã và đang làm ra, trong mỗi đồ vật đều chứa

đựng tâm hồn con người, cái tâm hồn thuần khiết và cao quý ấy có nhiều nhất trong khoa học, nghệ thuật, nó lên tiếng hùng hồn nhất và dễ hiểu nhất, trong sách(*)

(*)

Theo M Gor-ki; Tuyển tập truyện ngắn, tập 2, nhiều người dịch; truyện "Sách" và "Tôi đã học

tập như thế nào"? (1918), Hoàng Ngọc Hiến và Phạm Mạnh Hùng dịch, NXB Văn học, Hà Nội,

1971, tr 336 – 365.

Trang 13

Tiết 93 Tiếng Việt

Khởi ngữ

A Kết quả cần đạt

1 Kiến thức: HS nắm được khái niệm "khởi ngữ"

2 Tích hợp với Văn qua văn bản Bàn về đọc sách, với Tập làm văn ở bài

Phép phân tích và tổng hợp

3 Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng nhận diện khởi ngữ và vận dụng khởi ngữ

trong nói, viết

B Thiết kế bμi dạy ư học

Hoạt động 1

Xác định đặc điểm và công dụng của khởi ngữ trong câu + GV yêu cầu HS tìm hiểu mục I.1 trong SGK và trả lời các câu hỏi:

1 Các từ ngữ in đậm trong ba ví dụ a, b, c có vị trí và quan hệ với vị ngữ khác với chủ ngữ trong câu như thế nào?

2 Trước các từ ngữ in đậm nói trên, có thể thêm những quan hệ từ nào? + HS trao đổi, thảo luận và trả lời:

1 Phân biệt các từ ngữ in đậm với chủ ngữ:

a Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động

– Từ "anh" in đậm là khởi ngữ, từ "anh" không in đậm là chủ ngữ

– Khởi ngữ đứng trước chủ ngữ và không có quan hệ trực tiếp với vị ngữ theo quan hệ chủ ngữ – vị ngữ

b Giàu, tôi cũng giàu rồi

– Từ "giàu" in đậm là khởi ngữ, chủ ngữ là từ "tôi"

– Khởi ngữ đứng trước chủ ngữ và báo trước nội dung thông tin trong câu

c Về các thể văn trong lĩnh vực văn nghệ, chúng ta có thể tin ở tiếng ta,

Trang 14

Bài tập 1: Tìm khởi ngữ trong các đoạn trích:

a Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm

Điều này ông khổ tâm hết sức

Khởi ngữ là "điều này" ở câu 2

b Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng

Khởi ngữ là "đối với chúng mình" ở câu 3

e Đối với cháu, thật là đột ngột [ ]

Khởi ngữ là "Đối với cháu"

Bài tập 2: Chuyển phần in đậm trong câu thành khởi ngữ:

a Anh ấy làm bài cẩn thận lắm

→ Làm bài, anh ấy cẩn thận lắm

b Tôi hiểu rồi nhưng tôi chưa giải được

→ Hiểu thì tôi hiểu rồi, nhưng giải thì tôi chưa giải được

Tiết 94 Tập lμm văn

Phép phân tích vμ tổng hợp

A Kết quả cần đạt

1 Kiến thức: Nắm được khái niệm phân tích và tổng hợp

2 Tích hợp với Văn qua văn bản Bàn về đọc sách, với Tiếng Việt ở bài

Khởi ngữ

3 Kĩ năng:Rèn luyện kĩ năng phân tích và tổng hợp trong khi nói, viết

Trang 15

B Thiết kế bμi dạy ư học

2 Hai luận điểm chính trong văn bản là gì?

3 Để xác lập hai luận điểm trên, tác giả đã dùng phép lập luận nào?

4 Để "chốt" lại vấn đề, tác giả đã dùng phép lập luận nào? Phép lập luận này thường đứng ở vị trí nào trong văn bản?

5 Vai trò của phép lập luận phân tích và tổng hợp

+ HS trao đổi, thảo luận và trả lời:

1 Tác giả rút ra nhận xét về vấn đề "ăn mặc chỉnh tề", cụ thể đó là sự đồng

bộ, hài hoà giữa quần áo với giày, tất, trong trang phục của con người

2 Hai luận điểm chính trong văn bản là:

– Thứ nhất, trang phục phải phù hợp với hoàn cảnh, tức là tuân thủ những

"quy tắc ngầm" mang tính văn hoá xã hội

– Thứ hai, trang phục phải phù hợp với đạo đức, tức là giản dị và hài hoà với môi trường sống xung quanh

3 Để xác lập hai luận điểm trên, tác giả đã sử dụng phép lập luận phân tích, cụ thể:

a Luận điểm 1: "Ăn cho mình, mặc cho người"

– Cô gái một mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không

mắt xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay

– Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp

– Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn

– Đi dự đám tang không được mặc áo quần loè loẹt, nói cười oang oang

Sau khi phân tích những dẫn chứng cụ thể, tác giả đã chỉ ra một "quy tắc ngầm" chi phối cách ăn mặc của con người, đó là "văn hoá xã hội"

b Luận điểm 2: "Y phục xứng kì đức"

– Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm

trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi

Trang 16

– Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi

trường

Các phân tích trên làm rõ cho nhận định của tác giả là: "Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội"

4 Để "chốt" lại vấn đề, tác giả dùng phép lập luận tổng hợp bằng một kết luận ở cuối văn bản: "Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp"

5 Vai trò của phép lập luận phân tích và tổng hợp:

– Phép lập luận phân tích giúp ta hiểu sâu sắc các khía cạnh khác nhau của trang phục đối với từng người, trong từng hoàn cảnh cụ thể

– Phép lập luận tổng hợp giúp cho ta hiểu ý nghĩa văn hoá và đạo đức của cách ăn mặc; nghĩa là không thể ăn mặc một cách tuỳ tiện, cẩu thả như một số người lầm tưởng rằng đó là sở thích và "quyền" bất khả xâm phạm của mình

+ GV chỉ định 1 HS đọc chậm, rõ Ghi nhớ trong SGK

Hoạt động 2

Hướng dẫn luyện tập

1 Phân tích luận điểm: "Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc

sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn"

– Thứ nhất, học vấn là thành quả tích luỹ của nhân loại được lưu giữ và truyền lại cho đời sau

– Thứ hai, bất kì ai muốn phát triển học thuật cũng phải bắt đầu từ "kho tàng quý báu" được lưu giữ trong sách; nếu không mọi sự bắt đầu sẽ là con số không, thậm chí là lạc hậu, giật lùi

– Thứ ba, đọc sách là "hưởng thụ" thành quả về tri thức và kinh nghiệm hàng nghìn năm của nhân loại, đó là tiền đề cho sự phát triển học thuật của mỗi người

– Thứ ba, đọc sách cũng như đánh trận, cần phải đánh vào thành trì kiên

cố, đánh bại quân địch tinh nhuệ, chiếm cứ mặt trận xung yếu; tức là phải đọc cái cơ bản nhất, cần thiết nhất cho công việc và cuộc sống của mình

3 Phân tích cách đọc sách:

– Tham đọc nhiều mà chỉ "liếc qua" cốt để khoe khoang là mình đã đọc sách nọ sách kia thì chẳng khác gì "chuồn chuồn đạp nước" chỉ gây ra sự lãng

Trang 17

phí thời gian và sức lực mà thôi: "Thế gian có biết bao người đọc sách chỉ để trang trí bộ mặt, như kẻ trọc phú khoe của, chỉ biết lấy nhiều làm quý Đối với việc học tập, cách đó chỉ là lừa mình dối người, đối với việc làm người thì cách

đó thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém"

– Đọc ít mà đọc kĩ, thì sẽ tập thành nếp suy nghĩ sâu xa, trầm ngâm tích luỹ, tưởng tượng tự do đến mức làm thay đổi khí chất

– Có hai loại sách cần đọc là sách về kiến thức phổ thông và sách về kiến thức chuyên ngành, đó là hai bình diện rộng và sâu của tri thức

4 Vai trò của phân tích trong lập luận:

– Có thể nói, trong văn bản nghị luận, phân tích là một thao tác bắt buộc mang tính tất yếu bởi nếu không phân tích thì không thể làm sáng tỏ được luận

điểm và không thể thuyết phục được người nghe, người đọc

ư Cần nhớ rằng mục đích của phân tích và tổng hợp là giúp cho người

nghe, người đọc nhận thức đúng, hiểu đúng vấn đề, do đó nếu đã có phân tích

thì đương nhiên phải có tổng hợp và ngược lại Nói cách khác, phân tích và tổng hợp luôn có mối quan hệ biện chứng để làm nên "hồn vía" cho văn bản nghị luận

Tiết 95 Tập lμm văn

1 Luận điểm và trình tự phân tích ở đoạn văn a?

2 Luận điểm và trình tự phân tích ở đoạn văn b?

Trang 18

+ HS trao đổi, thảo luận và trả lời:

1.a Luận điểm: "Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài"

b Trình tự phân tích:

– Thứ nhất, cái hay thể hiện ở các điệu xanh: xanh ao, xanh bờ, xanh sóng,

xanh tre, xanh trời, xanh bèo (phối hợp các màu xanh khác nhau)

– Thứ hai, cái hay thể hiện ở những cử động: thuyền nhích, sóng gợn tí, lá

đưa vèo, tầng mây lơ lửng, con cá động (phối hợp các cử động nhỏ)

– Thứ ba, cái hay thể hiện ở các vần thơ: tử vận hiểm hóc, kết hợp với từ

với nghĩa chữ, tự nhiên, không non ép

2.a Luận điểm: "Mấu chốt của thành đạt là ở đâu?"

Hiện nay, chúng ta đang phấn đấu xây dựng một xã hội học tập, nghĩa là mọi người đều có quyền được học và có nhu cầu đi học Hiểu theo nghĩa chân chính thì: "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người và để

tự khẳng định mình" (UNESCO), tức là học để phát triển và hoàn thiện con người theo quy luật của cái đẹp, trong đó cốt lõi của cái đẹp là trí tuệ Tuy nhiên, có một bộ phận không ít người chưa nhận thức thật đầy đủ về ý nghĩa và mục đích cao cả của việc học tập, do đó có những biểu hiện lệch lạc trong học tập như học qua loa đại khái, học đối phó Chúng ta cần phải trao đổi, bàn bạc một cách nghiêm túc về vấn đề này để thấy được những tác hại tiêu cực của nó,

đồng thời cùng nhau tìm ra những biện pháp đẩy lùi và tiến tới xoá bỏ nó + Sau đó GV nêu vấn đề yêu cầu HS trao đổi, thảo luận:

1 Thế nào là học qua loa, đối phó?

2 Phân tích bản chất của lối học đối phó và nêu lên những tác hại của nó + GV gợi dẫn HS phân tích theo trình tự sau:

1 Học qua loa, đối phó:

a Học qua loa có các biểu hiện sau:

– Học không có đầu có đuôi, không đến nơi đến chốn; cái gì cũng biết một

tí nhưng không có kiến thức cơ bản, hệ thống, sâu sắc

Trang 19

– Học cốt chỉ để khoe mẽ là đã có bằng nọ bằng kia, nhưng thực ra đầu óc trống rỗng; chỉ quen "nghe lỏm, học mót, nói dựa, ăn theo" người khác; không dám bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề có liên quan đến học thuật

b Học đối phó có những biểu hiện sau:

– Học chỉ cốt để thầy cô không quở trách, cha mẹ không rầy la; chỉ lo giải quyết việc trước mắt như thi cử, kiểm tra không bị điểm kém

– Học đối phó thì kiến thức phiến diện, nông cạn, hời hợt Nếu cứ lặp đi lặp lại kiểu học này thì người học ngày càng trở nên dốt nát, trí trá, hư hỏng: vừa lừa dối người khác, vừa tự huyễn hoặc mình; đây là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng "tiến sĩ giấy" đang bị xã hội lên án gay gắt

2 Bản chất của lối học đối phó và tác hại của nó:

a Bản chất:

– Có hình thức của học tập như: cũng đến lớp, cũng đọc sách, cũng có

điểm thi, cũng có bằng cấp

– Không có thực chất: đầu óc rỗng tuếch đến nỗi "ăn không nên đọi, nói không nên lời", hỏi cái gì cũng không biết, làm việc gì cũng hỏng

b Tác hại:

– Đối với xã hội: những kẻ học đối phó sẽ trở thành gánh nặng lâu dài cho xã hội về nhiều mặt như kinh tế, tư tưởng, đạo đức, lối sống

– Đối với bản thân: những kẻ học đối phó sẽ không có hứng thú học tập và

do đó hiệu quả học tập càng ngày càng thấp

Hoạt động 3

Thực hành phân tích một văn bản + GV nêu vấn đề: "Tại sao phải đọc sách?" và yêu cầu HS dựa vào văn bản

Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm để làm dàn ý phân tích

+ Sau khi HS chuẩn bị xong, GV gọi một số HS trình bày và hướng dẫn các

em hoàn thiện các ý theo trình tự:

– Thứ nhất, sách là kho tri thức được tích luỹ từ hàng nghìn năm của nhân loại; vì vậy bất kì ai muốn có hiểu biết đều phải đọc sách

– Thứ hai, tri thức trong sách bao gồm những kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn đã được đúc kết, nó được coi là cái "mặt bằng" xuất phát của mọi người có nhu cầu học tập, hiểu biết; do đó nếu không đọc sách sẽ bị lạc hậu, không thể tiến bộ được

– Thứ ba, càng đọc sách chúng ta mới càng thấy kiến thức của nhân loại thì mênh mông như đại dương, còn hiểu biết của chúng ta thì chỉ là vài ba giọt nước vô cùng nhỏ bé; từ đó chúng ta mới có thái độ khiêm tốn và ý chí cao trong học tập

Trang 20

+ GV có thể nhấn mạnh: Đọc sách là vô cùng cần thiết, nhưng cũng phải biết chọn sách mà đọc và phải biết cách đọc mới có hiệu quả

Hoạt động 4

Thực hành tổng hợp

Đoạn văn gợi ý: Ngạn ngữ phương Đông có câu: "Hãy để lại cho con cái

một ngôi nhà, một cái nghề và một quyển sách!" Một ngôi nhà vừa là tài sản vật chất, vừa là nơi để ở theo tinh thần "an cư lạc nghiệp" Một cái nghề vừa là phương tiện kiếm sống, vừa là phần đóng góp nhỏ bé của một công dân cho xã hội Còn một quyển sách là tài sản tinh thần vô giá Trong quyển sách ấy có tri thức, có kinh nghiệm sống, có hoài bão, có ước mơ của tiền nhân truyền đạt

và gửi gắm cho muôn đời con cháu Trong rất nhiều lời răn dạy của tiền nhân, chắc chắn có những lời răn bổ ích, thấm thía về việc học hành; chẳng hạn như:

"Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lí" (Ngọc không mài giũa không thành vật báu, người không học không hiểu đạo lí) Như vậy, việc học tập có vai trò quyết định trong việc lập thân của mỗi con người Vì thế, muốn thành tài phải khổ công học tập, rèn luyện; phải học có đầu có đuôi, học đến nơi đến chốn; tuyệt đối không được học qua loa đối phó theo kiểu "cưỡi ngựa xem hoa" cốt chỉ để kiếm lấy mảnh bằng mà thực chất chỉ là hành vi lừa người dối mình Trong quá trình học tập, tất nhiên phải đọc sách, cho nên phải biết chọn sách mà đọc và phải biết cách đọc để tiếp thu có hiệu quả những tri thức

và kinh nghiệm của tiền nhân; đó chính là hành trang quan trọng để làm cuộc

"trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn" của mỗi người

GV và HS cùng đọc tham khảo

101 danh ngôn về giáo dục, học tập, đọc sách

1 Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người và để tự khẳng

định mình (UNESCO)

2 Kiến thức càng tăng, hoài nghi càng lắm (Gớt-tơ)

3 Không có bóng tối, chỉ có sự ngu dốt thôi (Sếch-xpia)

4 Người khôn học được nhiều điều ở người ngu hơn là người ngu học được ở người khôn (Xen-xô)

5 Kẻ không biết mà không biết mình không biết, hắn là thằng điên (A Pô-tơ)

6 Hãy tự biết mình (Xô-cơ-rát)

7 Thà không biết gì còn hơn là biết nhiều thứ nửa vời (Nít-xơ)

8 Sự giáo dục bắt đầu từ lòng mẹ; mỗi lời thốt ra cho đứa trẻ nghe dẫn tới việc tạo thành tính khí của chúng (H Bal-lau)

9 Thà đừng sinh ra đời còn hơn là bị thất học (J Hơ-uốt)

Trang 21

10 Không học một cái gì cả thì khỏi quên một cái gì cả (C.D Pa-nát)

11 Không có gì ngu bằng một người có giáo dục, nếu bạn loại bỏ những điều mà anh ta được giáo dục (W Rô-gơ)

12 Có những người cao quý do việc học hơn là do thiên nhiên (Xi-xê-rô)

13 Giáo dục là một điều đáng kính trọng, nhưng nên nhớ rằng đôi khi những điều

được dạy là những cái không đáng biết (Uyn-đơ)

14 Ba nền tảng của học vấn là: nhận xét nhiều, từng trải nhiều và học tập nhiều (Ca-tơ-ran)

15 Những gì được dạy ở các trường học không phải là giáo dục mà chỉ là phương tiện của giáo dục (Ê-mê-sơn)

16 Một người muốn dạy dỗ kẻ khác thì trước hết phải tự điều khiển được mình (Bất-hơ)

17 Người thầy giáo dạy học trò và cũng được học trò dạy lại nhiều điều (Ê-pic-tê)

18 Người thầy giáo thông minh luôn nghĩ rằng học trò thông minh, người thầy giáo ngu dốt luôn nghĩ rằng học trò ngu dốt (Na-ga-giu-na)

19 Không có môn học nào buồn tẻ, mà chỉ có những người thầy buồn tẻ (Lốc-cơ)

20 Giáo dục học trò khác với chia kẹo cho trẻ con (Sam-pho)

21 Điều nực cười nhất là ai đó cứ tưởng giáo dục giống như một trò chơi rao bán những chân lí nhất thành bất biến (Gra-si-an)

22 Người thầy giáo hoàn hảo là người thầy giáo biết rõ những chỗ chưa hoàn hảo của mình (Ô-gu-stanh)

23 Giáo dục là công cụ biến con số không của lịch sử thành một tượng đài nhân văn giàu cảm xúc (An-tô-min)

24 Người ta có thể không có nhu cầu thưởng thức thi ca, nhạc hoạ ; nhưng một khi

đã không có nhu cầu hiểu biết thì không nên bàn chuyện đúng, sai (Plu-tác)

25 Muốn giáo dục có kết quả, xét cho cùng, cần phải trả lời được câu hỏi: Ai giáo dục ai? (Tun-li)

26 Trở nên thấp kém hơn bản thân mình không phải là cái gì khác ngoài sự ngu dốt; trở nên cao cả hơn bản thân mình không phải là cái gì khác ngoài sự thông thái (Xô-crát)

27 Không phải thời gian mà sự giáo dục thích hợp và tự nhiên sẽ dạy dỗ trí tuệ (Đê-mô-crít)

28 Giáo dục là nguồn dự trữ tốt nhất cho tuổi già (A-ri-xtốt)

29 Giáo dục là một kiểu sinh đẻ (Lích-ten-béc)

30 Nền giáo dục tốt nhất là biến học trò thành công dân của một dân tộc có tổ chức tốt nhất (Hê-ghen)

Trang 22

31 Người học trò hay nhất của tôi là người không bao giờ đồng ý với tôi (Le-mây-trơ)

32 Mỗi người đều phải nhận hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền lại, một thứ do chính mình tạo nên (Gíp-bông)

33 Dốt nát là đêm tối của tâm hồn (Xi-xê-rông)

34 Thật vô cùng may mắn cho ai được học cách học (Mê-na-đrơ)

35 Người giáo viên bình thường mang chân lí đến cho trò, người giáo viên giỏi biết dạy trò đi tìm chân lí (Đi-xtéc-véc)

36 Giáo dục một người đàn ông được một người đàn ông Giáo dục một người đàn

bà được một gia đình Giáo dục một người thầy được cả một xã hội (Ta-go)

37 Giáo dục là một nghệ thuật làm cho con người trở thành những người có đạo đức (Hê-ghen)

38 Nhà giáo dục cảm thấy mình là một mắt xích sinh động giữa quá khứ và tương lai Sự nghiệp của họ bình dị nhưng là một trong những sự nghiệp vĩ đại nhất của lịch sử (U-sin-xki)

39 Sau bánh mì, giáo dục là nhu cầu đầu tiên của một dân tộc (La-xơ-xphu-cô)

40 Tất cả trẻ con đều bịt tai trước những lời khuyên răn dạy bảo của bạn, nhưng chúng sẽ mở mắt thật to xem bạn làm gì (Ta-lét)

41 Tri thức chỉ là tri thức khi nó có sự nỗ lực suy nghĩ của người học, chứ nó không phải là trí nhớ (L Tôn-xtôi)

42 Dạy học không phải chỉ là một nghề kiếm sống thuần tuý, nó đòi hỏi những hi sinh thầm lặng vô bờ bến (Xu-khô-lum-xki)

43 Người thầy giáo nào cũng vừa làm thầy của học trò, vừa làm trò của những người

đã từng dạy dỗ mình (Ma-ka-ren-kô)

44 Quên kiến thức thì có thể bị điểm kém, nhưng còn có cơ hội giành điểm tốt Quên bạn thì có thể trở thành kẻ ích kỉ, nhưng vẫn có cơ may sửa chữa lỗi lầm Quên thầy thì không còn lí do gì khiến con người có thể chùn tay trước tội ác (M Go-rơ-ki)

45 Có nhiều tiền cũng là hạnh phúc Có tiếng tăm càng hạnh phúc hơn Nhưng có nhiều học trò cũ nhớ đến mình thì niềm hạnh phúc ấy mới là vô giá (S Bally)

46 Thầy giáo không chỉ là người dạy học trò cách viết chính tả, mà còn phải dạy học trò cách viết hoa hai chữ "con người" (A Sê-sê-hai-ơ)

47 Càng tôn trọng con người bao nhiêu, càng yêu cầu con người cao bấy nhiêu

Trang 23

50 Về thực chất, con người bắt đầu già khi mất năng lực học tập (A Gráp)

51 Người học trò mà không định vượt thầy thì thật đáng thương (Lê-ô-na)

52 Hiểu biết và chỉ có hiểu biết mới làm cho con người tự do và đem lại cho con người sự vĩ đại (D Đi-đơ-rô)

53 Giáo dục con người là đào luyện cho họ có thể đối đầu với mọi hoàn cảnh (C.H Ri-vê)

54 Dạy học trò mà không khơi dậy cho họ khát vọng ham hiểu biết thì chỉ là việc đập búa lên sắt nguội mà thôi (Hô-ra-xơ-man)

55 Tiêu chuẩn đánh giá con người là khát vọng vươn tới sự hoàn chỉnh (W Gớt)

56 Thiên tài gồm một phần trăm cảm hứng và chín mươi chín phần trăm mồ hôi (T E-đi-xơn)

57 Gieo hành vi, bạn sẽ gặt thói quen; gieo thói quen, bạn sẽ gặt tính cách; gieo tính cách, bạn sẽ gặt số phận (V Téc-kê-rây)

58 Trẻ em khóc chào đời giống nhau ở khắp mọi nơi Khi lớn lên, chúng có thói quen khác nhau Đó là do kết quả của giáo dục (Tuân Tử)

59 Đạo học không có đường tắt (Nguyễn Siêu)

60 Giáo dục cũng phải có nhiều phương pháp (Giáo diệc đa thuật hĩ - Mạnh Tử)

61 Giáo dục không phân biệt các thứ hạng người khác nhau (Hữu giáo vô loại -

Khổng Tử)

62 Người không bao giờ đặt câu hỏi: "Tại sao? Như thế nào? " là người không thể

giáo dục được (Bất viết "như ti hμ, như tri hμ" giả, ngô mạt như tri hμ dã dĩ hĩ -

Khổng Tử)

63 Con người tuy có đạo lí, nhưng cứ ăn no mặc ấm và rong chơi mãi mà không

được giáo dục thì cũng gần như loài cầm thú (Nhân chi hữu đạo dã, bão thực

noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận như cầm thú - Mạnh Tử)

64 Chỗ mà con người khác với loài cầm thú thật mong manh (Nhân chi sở dĩ dị ư

cầm thú giả cơ hi - Mạnh Tử)

65 Sau khi làm xong các công việc xã hội thì hãy học văn (đọc sách) (Hμnh hữu dư

lực, tắc dĩ học văn - Khổng Tử)

66 Học khẩn trương như sợ không kịp với thời gian (lạc hậu) và còn sợ cả sự rơi

rụng, mất mát nữa (Học như bất cập, do khủng thất chi - Khổng Tử)

67 Phấn khởi nhờ học Kinh Thi, biết cư xử để tồn tại trong xã hội là nhờ Kinh Lễ,

thành đạt trọn vẹn là nhờ Kinh Nhạc (Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thμnh ư Nhạc -

Khổng Tử)

68 Kẻ ham học sẽ có trí tuệ, kẻ say mê thực hành sẽ nên người, kẻ biết hổ thẹn sẽ

có dũng khí (Hiếu học cận hồ trí, lực hμnh cận hồ nhân, tri sỉ cận hồ dũng - Trung dung)

Trang 24

69 Người chê ta mà chê đúng tức là thầy ta, người khen ta mà khen đúng tức là bạn

ta, còn người nịnh hót ta chính là kẻ thù của ta đó (Cố phi ngã nhi đáng giả, ngô

sư dã; thị ngã nhi đáng giả, ngô hữu dã; xiểm du ngã giả, ngô tặc dã - Tuân Tử)

70 Người ta có ba cái biết: sinh ra đã biết, học mà biết và rơi vào cảnh khốn cùng

cũng sẽ biết (Nhân hữu tam tri ư dã: sinh nhi tri, học nhi tri, khốn nhi tri -

Tuân Tử)

71 Người biết một vấn đề nào đó không bằng người yêu thích nó, người yêu thích nó

không bằng người say mê nó (Tri chi giả bất như hiếu chi giả, hiếu chi giả bất

như lạc chi giả - Khổng Tử)

72 Biết thì nói là biết, không biết nói là không biết, như vậy tức là người hiểu biết

(Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã - Khổng Tử)

73 Biết mình dốt nát mà có thể không lo lắng được ư? Biết mình học nhưng không

hành mà có thể yên tâm được ư? (Tri nhi bất học, khả dĩ vô ưu dư? Học nhi bất

hμnh, khả dĩ vô ưu dư? - Hàn Anh)

74 Có đi học mới biết mình còn kém cỏi, có làm thầy mới biết mình còn nông cạn

(Học nhiên hậu tri bất túc, giáo nhiên hậu tri khốn - Lễ kí)

75 Giáo dục chính là cách làm cho con người phát huy được ưu điểm và sửa chữa

được sai lầm (Giáo dã giả, trưởng thiện nhi cứu kì thất giả dã - Lễ kí)

76 Hiểu biết qua lời giảng của thầy là có hạn, hiểu biết do tự học là vô hạn (Giảng

chi công hữu hạn, tập chi công vô dĩ - Nhan Uyên)

77 Học là gì? Học là hiểu rộng, hỏi cặn kẽ, suy nghĩ kĩ, phân biệt rõ ràng, thực hành

kịp thời (Học như hμ? Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc

hμnh chi - Trung dung)

78 Người khác học một lần, ta học trăm lần; người khác học mười lần, ta học ngàn

lần; như thế dù là người kém cỏi cũng phải tiến bộ (Nhân nhất năng chi, kỉ bách

chi; nhân thập năng chi, kỉ thiên chi; tuy nhu tất cường - Trung dung)

79 Bắn trăm phát, trượt một phát, không thể gọi là thiện xạ; người học thấy khó mà

bỏ giữa chừng, không thể gọi là có chí (Bách phát, thất nhất, bất túc vị thiện xạ;

học dã giả, cố học nhất chi dã - Tuân Tử)

80 Học cái căn bản sẽ nắm được các tiểu tiết, không có ai sa vào tiểu tiết mà có thể

nắm được cái căn bản (Đắc kì đại giả khả dĩ kiêm kì tiểu, vị hữu học kì tiểu nhi

năng chí kì đại giả dã - Âu Dương Tu)

81 Cùng một vấn đề mà người khác không thấy gì, nhưng ta phát hiện ra điều cần

hỏi, đó mới là học tập tiến bộ (Ư bất nghi xứ hữu nghi, phương thị tiến hĩ -

Trương Tái)

82 Nếu biết dốt nát là khuyết tật thì sẽ coi tri thức là sự hoàn thiện (Dĩ bất tri vi

khiếm, tắc dĩ tri vi thái - Lục Cửu Uyên)

Trang 25

83 Học mà không suy nghĩ thì hiểu biết hời hợt, chỉ nghĩ (vẩn vơ) mà không chịu học

thì đầu óc trống rỗng mông lung (Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi -

Khổng Tử)

84 Ngọc không mài giũa không thành vật báu, người không học không hiểu đạo lí

(Ngọc bất trác bất thμnh khí, nhân bất học bất tri lí - Lễ kí)

85 Cái đích lớn lao của sự học không gì khác hơn là tìm lại cái tâm đã mất (Học vấn

chi đạo vô tha, cầu kì phóng tâm nhi dĩ hĩ - Mạnh Tử)

86 Người bỏ học giữa chừng giống như bù nhìn, lay thì rung rinh, buông tay ra thì

cứng đờ (Học giả hữu tức thì, nhất như mộc ngẫu, nhân khiên súc tắc động, xả

chi tắc tức - Trương Hoành Cừ)

87 Người hiếu học dẫu chết vẫn như còn Người không học nếu có sống chẳng qua

cũng chỉ là thây đi thịt chạy mà thôi (Hiếu học tuy tử nhược tồn Bất học giả hμnh

thi tẩu nhục nhĩ - Nhiệm Mạt)

88 Đời ta thì có hạn mà sự hiểu biết thì vô hạn (Ngã sinh dã hữu nhai, nhi tri dã vô

nhai - Trang Tử)

89 Mỗi ngày biết thêm nhiều điều mình chưa biết, mỗi tháng chẳng quên những điều

mình đã biết, như vậy mới đáng gọi là người ham học (Nhật tri kì sở vô, nguyệt vô

vong kì sở năng, khả vi hiếu học giả dĩ hĩ - Tử Hạ)

90 Người không hiểu biết việc xưa nay (lịch sử và hiện tại) thì chẳng khác gì ngựa

trâu mà mặc áo vậy (Nhân bất thông cổ kim, mã ngưu nhi khâm cư - Hàn Văn Công)

91 Ba người cùng đi, chắc chắn có một người đáng là thầy ta (Tam nhân đồng hμnh

tất hữu ngã sư yên - Khổng Tử)

92 Tai hoạ của con người là ở chỗ thích làm thầy người khác (Nhân chi hoạn tại hiếu

vi nhân sư - Mạnh Tử)

93 Con người không thể không biết xấu hổ, khi đã biết xấu hổ tức là (cái điều sai

trái) không còn đáng xấu hổ nữa (Nhân bất khả dĩ vô sỉ, vô sỉ chi sỉ, vô sỉ hĩ -

Mạnh Tử)

94 Người quân tử học văn để mở rộng kiến thức, học lễ để tự kiềm chế mình cho

đúng mực (Quân tử bác học ư văn, ước chi dĩ lễ - Khổng Tử)

95 Học không biết chán là người trí (Học bất yếm trí dã - Mạnh Tử)

96 Người ta sinh ra vốn giống nhau, nhưng do nhiễm những thói quen khác nhau mà

thành ra khác nhau (Tính tương cận dã, tập tương viễn dã - Khổng Tử)

97 Ai đọc sách mà không biết được nhiều hơn những điều viết trong sách thì người

đó mới sử dụng sách có một nửa (G.Lét-xinh)

98 Người mù chữ của thế kỉ XXI không phải là người không biết đọc, mà là người không biết cách đọc (Khuyết danh)

Trang 26

99 Tin sách một cách mù quáng, máy móc thì coi như chẳng đọc gì cả (Tận tín thư

bất như vô thư - Mạnh Tử)

100 Người đi học xem sách, mỗi lần xem lại hiểu ra một điều mới mẻ, đó chính là sự

tiến bộ đấy (Học giả quan thư, mỗi kiến mỗi tri tân ý tắc, học tiến hĩ - Trương Tái)

101 Cứ tưởng đọc sách là đã hiểu biết hết, đến khi vấp ngã trong đời mới biết là

chưa đủ (Độc thư vị dĩ đa, phủ sự tri bất túc - Vương An Thạch)

Nguồn tuyển chọn

1 P.S Ta-ra-nốp, 106 nhà thông thái (cuộc đời, số phận, học thuyết, tư

tưởng), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000

2 Chu Hy, Tứ thư tập chú, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1998

3 Chu Hy, Luận ngữ của Khổng Tử NXB Văn học, Hà Nội, 2002

4 Hồ Văn Phi, Đàm đạo với Khổng Tử, NXB Văn học, Hà Nội, 2002

5 Hàn Tinh, Nho gia châm ngôn lục, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà

a Về kinh nghiệm sản xuất (2 điểm)

b Về kinh nghiệm sống (2 điểm)

c Hiểu biết về thế giới tự nhiên (2 điểm)

2 Là sản phẩm tinh thần:

a Là kết quả của lao động trí tuệ (2 điểm)

b Là hàng hoá có giá trị đặc biệt (2 điểm)

3 Là người bạn tinh thần:

a Giúp ta hiểu biết, xúc động và hướng thiện (2 điểm)

b Làm phong phú đời sống tinh thần (2 điểm)

II Tác dụng của sách

1 Cung cấp tri thức:

a Về khoa học tự nhiên (2 điểm)

b Về khoa học xã hội (2 điểm)

2 Giúp ta vượt qua các giới hạn:

a Về thời gian: hiểu biết quá khứ, hiện tại, tương lai (2 điểm)

b Về không gian: hiểu biết các sự việc trong nước và thế giới (2 điểm)

Trang 27

a Thoả mãn sự tò mò, hiếu kì (– 2 điểm)

b Giết thời gian trống (– 2 điểm)

c Làm dáng, làm bộ, ra vẻ là trí thức (– 2 điểm)

IV Thói quen đọc sách:

1 Đọc kĩ, có ghi chép, có suy nghĩ (2 điểm)

2 Đọc lướt qua, không ghi chép, không suy nghĩ (– 2 điểm)

V Thái độ đối với sách:

1 Trân trọng những cuốn sách có giá trị, tẩy chay những cuốn sách nhảm nhí độc hại (2 điểm)

2 Bạ sách nào đọc sách ấy, không có chính kiến gì về các loại sách tốt hoặc xấu (– 2 điểm)

– Từ 21 đến 25 điểm: có nhu cầu tích cực;

ư Từ 26 đến 32 điểm: sách là một bộ phận tất yếu trong cuộc sống của bạn

Trang 28

Tuần 20 Bμi 19

Tiết 96, 97 Văn học

Tiếng nói của văn nghệ

(Trích)

Nguyễn Đình Thi

A Kết quả cần đạt

1 Hiểu được nội dung của văn nghệ và sức mạnh kì diệu của nó đối với

đời sống của con người qua đoạn trích nghị luận ngắn, chặt chẽ, giàu hình ảnh của Nguyễn Đình Thi

2 Tích hợp với phần Tiếng Việt ở bài Các thành phần biệt lập (Tình thái,

cảm thán) với phần Tập làm văn ở bài Nghị luận xã hội (Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống) với phần văn ở bài ý nghĩa văn chương (lớp 7)

3 Rèn kĩ năng đọc – hiểu và phân tích văn bản nghị luận

4 Chuẩn bị của thầy trò: Toàn văn bài viết trong Mấy vấn đề văn học hoặc

Tuyển tập Nguyễn Đình Thi (tập 3); ảnh chân dung Nguyễn Đình Thi hồi

1 Tác giả Chu Quang Tiềm khuyên chúng ta nên chọn sách và đọc sách

như thế nào? Em đã học theo lời khuyên ấy đến đâu?

2 Phân tích một trong những so sánh trong bài Bàn về đọc sách mà em

cho là thú vị nhất? Giải thích lí do

3 Kể lại mục Mỗi ngày một cuốn sách (chương trình Chào buổi sáng) phát

gần nhất mà em đã theo dõi và ghi nhớ

4 Em đã có dịp đọc sách trên mạng In-tơ-nét? Cảm nhận của em về cách

đọc sách này so với đọc sách bình thường

Trang 29

Hoạt động 2

Dẫn vào bài mới

1 GV hỏi để dẫn dắt vào bài:

ư Bài ý nghĩa văn chương đã học ở lớp 7, ai là tác giả? được viết vào thời

gian nào? Nội dung chính của bài là gì?

ư Dẫn nối với Nguyễn Đình Thi và bài Tiếng nói của văn nghệ

2 Giới thiệu ngắn gọn về Nguyễn Đình Thi (1924 – 2003) theo chú thích

SGK và mục Những điều cần chú ý trong SGV, tr 16; nhấn mạnh: một nghệ sĩ

đa tài: văn, thơ, nhạc, lí luận phê bình đồng thời là nhà quản lí lãnh đạo văn nghệ Việt Nam nhiều năm (Tồng thư kí Hội nhà văn Việt Nam hơn 30 năm)

Bài Tiếng nói của văn nghệ được viết trên chiến khu Việt Bắc trong thời kì

kháng chiến chống Pháp, khi chúng ta đang xây dựng nền văn nghệ mới đậm

đà tinh thần dân tộc, khoa học, đại chúng, gắn bó với cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân Trong hoàn cảnh và trình độ văn nghệ khi ấy, ta càng thấy được

sự sâu sắc các ý kiến của nhà văn trẻ 28 tuổi – đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên

3 Văn nghệ (văn học và các ngành nghệ thuật khác như âm nhạc, sân

khấu, múa, hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc…) có nội dung và sức mạnh riêng độc

đáo như thế nào? Nhà nghệ sĩ sáng tác tác phẩm với mục đích gì? Văn nghệ

đến với người tiếp nhận, đến với quần chúng nhân dân bằng con đường nào? Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã góp phần trả lời những câu hỏi trên qua bài nghị

luận giàu sức thuyết phục Tiếng nói của văn nghệ

4 GV cho HS xem toàn văn bản trong các tác phẩm đã giới thiệu ở mục

trên; ảnh chân dung Nguyễn Đình Thi

– Theo các chú thích trong SGK; bổ sung và nhấn mạnh thêm: Phật giáo

diễn ca: Bài thơ dài, nôm na dễ hiểu về nội dung đạo Phật Phẫn khích: kích

thích căm thù, phẫn nộ Rất kị: rất tránh, không ưa, không hợp, phản đối

3 Kiểu loại văn bản: nghị luận về một vấn đề văn nghệ; lập luận giải thích

và chứng minh

Trang 30

4 Bố cục đoạn trích – hệ thống luận điểm:

a Nội dung của văn nghệ là phản ánh thực tại khách quan, lời gửi, lời nhắn

nhủ của nhà nghệ sĩ tới người đọc, người nghe Từ đầu… một cách sống của

tâm hồn

b Sức mạnh kì diệu của văn nghệ Đoạn còn lại

Hoạt động 4

Hướng dẫn đọc – hiểu chi tiết

1 Nội dung của văn nghệ

+ HS đọc đoạn văn từ đầu… đời sống chung quanh; phát hiện luận điểm,

trình bày trước lớp

+ GV định hướng:

Luận điểm đầu tiên: Văn nghệ không chỉ phản ánh thực tại khách quan mà còn thể hiện tư tưởng, tình cảm của nghệ sĩ; thể hiện đời sống tinh thần của cá

nhân người sáng tác (Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh

muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh) Nói gọn lại:

Văn nghệ không chỉ phản ánh cái khách quan mà còn biểu hiện cái chủ quan của người sáng tạo

+ GV hỏi: Để minh chứng cho nhận định trên, tác giả phân tích những dẫn chứng văn học nào? Tác dụng của những dẫn chứng ấy?

+ HS đọc thầm đoạn văn: Nguyễn Du viết… hay Tôn xtôi; tự phân tích

cách nêu dẫn chứng của tác giả và nhận xét

Định hướng:

Để làm rõ luận điểm, tác giả chọn 2 dẫn chứng rất tiêu biểu, dẫn từ 2 tác giả vĩ đại của văn học dân tộc và thế giới Cách nêu và dẫn cụ thể Hai câu thơ

nổi tiếng tuyệt vời trong Truyện Kiều với lời bình:

ư Hai câu tả cảnh mùa xuân tươi đẹp

ư Hai câu thơ làm chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng mà tác giả đã miêu tả

ư Cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn tái sinh

ư Đó chính là lời gửi, lời nhắn – một trong những nội dung của Truyện

Kiều

ư Cái chết thảm khốc của An-na Ca-rê-nhi-na (trong tiểu thuyết cùng tên

của L Tôn-xtôi (Nga) đã làm cho người đọc bâng khuâng thương cảm không quên… Đó là lời gửi, lời nhắn, là nội dung tư tưởng, tình cảm độc đáo của tác phẩm văn học Lời gửi, lời nhắn này luôn toát lên từ nội dung hiện thực khách quan được biểu hiện trong tác phẩm, nhưng nhiều khi lại được nói ra một cách trực tiếp, rõ ràng, có chủ định:

Trang 31

Trăm năm trong cõi người ta…

Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

(Hết tiết 96, chuyển tiết 97)

+ HS đọc và suy nghĩ về đoạn văn Lời gửi của nghệ thuật… một cách sống

của tâm hồn

+ GV nêu vấn đề thảo luận: Vì sao tác giả viết lời gửi của nghệ sĩ cho nhân loại, cho đời sau phức tạp hơn, phong phú và sâu sắc hơn những bài học luân lí, triết lí đời người, lời khuyên xử thế dù là triết lí nổi tiếng sâu sắc, chẳng hạn triết lí duy tâm tài mệnh tương đố hay tâm là gốc, …?

+ HS ngẫm nghĩ và thảo luận, phát biểu ý kiến

Định hướng:

Nguyễn Đình Thi đi sâu bàn nội dung của văn nghệ – tư tưởng, tình cảm của nghệ sĩ gửi gắm trong tác phẩm Để nêu rõ tính phong phú, phức tạp, sâu sắc của nó, tác giả so sánh với những lời gửi, lời nhắn bên ngoài, công khai, trực tiếp, có khi đề lên ở đầu tác phẩm; sau đó mới nêu ra nội dung tư tưởng, tình cảm cụ thể là tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phấn khích,… trong từng câu thơ, trang sách,… trong từng hình ảnh thiên nhiên, trong từng nét của các nhân vật, khoé mắt, nụ cười,… vốn rất quen thuộc mà vẫn hàm chứa bao nhiêu mới lạ, tiềm ẩn, làm ta ngạc nhiên Quen mà lạ là đặc

điểm nội dung của văn nghệ

Tóm lại, nội dung văn nghệ khác với nội dung của các khoa học xã hội khác như lịch sử, địa lí, xã hội học, văn hoá học, đạo đức học, dân tộc học, luật học,… là ở chỗ những khoa học này khám phá, miêu tả và đúc kết các hiện tượng tự nhiên hay xã hội, các quy luật khách quan Còn nội dung văn nghệ tập trung khám phá, miêu tả chiều sâu tính cách, số phận con người, thế giới bên trong tâm lí, tâm hồn con người Đó là nội dung hiện thực mang tính hình tượng cụ thể, sinh động, là đời sống tư tưởng, tình cảm của con người qua cái nhìn và tình cảm cá nhân của nghệ sĩ

Trang 32

Tác giả nhấn mạnh và lưu ý người đọc nội dung này để từ đó bàn về ý nghĩa và sức mạnh kì diệu của văn nghệ đối với đời sống xã hội và với mỗi con người tiếp nhận văn nghệ

2 Sức mạnh và ý nghĩa kì diệu của văn nghệ

+ GV chuyển dẫn: Muốn hiểu sức mạnh kì diệu của văn nghệ, trước hết cần hiểu vì sao con người cần đến tiếng nói của văn nghệ

+ HS tìm các luận chứng trong đoạn văn tr 13 – 14; khái quát phát biểu bằng lời của mình

Định hướng:

ư Văn nghệ giúp chúng ta tự nhận thức chính bản thân mình, giúp ta sống

đầy đủ, phong phú hơn cuộc sống của chính mình:

ư Mỗi tác phẩm lớn rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi, ánh sáng ấy bấy giờ biến thành của ta, chiếu toả lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người chúng ta gặp, làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ… đem tới cho cả thời đại họ một cách sống của tâm hồn (chẳng hạn một

số bài thơ, câu thơ của Tố Hữu trước cách mạng trong tập thơ Từ ấy Những bài phê bình của Hoài Thanh, Hoài Chân trong tập Thi nhân Việt Nam về các nhà

thơ mới…)

+ Văn nghệ đối với đời sống quần chúng nhân dân:

ư Đối với số đông những người cần lao, những người bị tù chung thân trong cuộc đời u tối, vất vả, những người nhà quê lam lũ, vất vả… khi thưởng thức, tiếp nhận văn nghệ họ hình như biến đổi hẳn… Câu ca dao gieo vào bóng tối

ấy một ánh sáng, lay động những tình cảm, ý nghĩ khác thường, được cười hả dạ, được khóc thầm… làm cho tâm hồn họ được sống

ư Văn nghệ không thể xa rời cuộc sống nhất là cuộc sống nhân dân lao

động – những con người Việt Nam đang chiến đấu và sản xuất trên khắp đất nước, đang làm tất cả để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi Văn nghệ làm cho đời sống hằng ngày trở nên tươi mát, đỡ khắc khổ, như một món

ăn tinh thần bổ ích không thể thiếu; giúp con người biết sống và mơ ước vượt lên qua bao khó khăn gian khổ hiện tại

3 Con đường riêng của văn nghệ đến với người tiếp nhận

+ GV nêu câu hỏi: Trong đoạn văn, không ít lần tác giả đã đưa ra quan niệm của mình về bản chất của nghệ thuật Bản chất đó là gì? Từ bản chất ấy, tác giả diễn giải và làm rõ con đường đến với người tiếp nhận – tạo nên sức mạnh kì diệu của nghệ thuật là gì?

+ HS phát hiện, đọc to câu văn và nêu cách hiểu

Định hướng:

ư Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm

Trang 33

ư Chỗ đứng của nghệ sĩ là chỗ giao nhau giữa tâm hồn con người với cuộc sống sản xuất và chiến đấu; là ở tình yêu ghét, nỗi buồn vui trong đời sống thiên nhiên và đời sống xã hội

ư Nghệ thuật là tư tưởng, nhưng là tư tưởng đã được nghệ thuật hoá, nghĩa

là không trừu tượng, một mình trên cao mà là tư tưởng cụ thể, sinh động, náu mình yên lặng, lắng sâu và kín đáo chứ không lộ liễu, khô khan, áp đặt mệnh lệnh…

Từ đặc điểm đó của nghệ thuật mà con đường của nghệ thuật đến với người tiếp nhận là con đường độc đáo Dẫn chứng cách đọc một bài thơ hay: đọc nhiều lần, đọc bằng cả tâm hồn, cùng tác giả trao đổi, ngẫm nghĩ, rung động, chiêm nghiệm… Đọc cái ý tại ngôn ngoại, cái ngân nga ngoài lời, chữ hết, lời tận mà ý không cùng Cái ẩn giấu sau từng con chữ, cái khoảng trống giữa những dòng thơ…

ư Văn nghệ là kết tinh tâm hồn người sáng tác vừa là sợi dây truyền sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng

ư Nghệ sĩ không đứng ngoài chỉ đường mà là người đốt lửa trong lòng, khơi dậy nhiệt tình, quyết tâm, lòng tin, đánh thức tình yêu và lòng phẫn nộ chân chính… tạo ra sự sống cho tâm hồn

ư Văn nghệ giúp con người tự nhận thức, tự xây dựng nhân cách và cách sống của bản thân con người cá nhân và xã hội

ư Đặc biệt văn nghệ thực hiện các chức năng đó một cách tự nhiên có hiệu quả lâu bền và sâu sắc vì nó tác động đến tình cảm và bằng tình cảm mà đến nhận thức và hành động tự giác

(Gợi ý: Nội dung Ghi nhớ gồm 3 câu

– Câu 1 – 2 tóm tắt luận điểm cơ bản về nội dung và sức mạnh của văn nghệ đối với đời sống con người:

a Văn nghệ, bằng rung động mãnh liệt của tâm hồn nối sợi dây đồng cảm giữa nghệ sĩ và bạn đọc

b Văn nghệ giúp con người sống phong phú hơn và tự hoàn thiện nhân cách, tâm hồn

– Câu 3 khái quát đặc sắc nghệ thuật của bài văn nghị luận: chặt chẽ, giàu hình ảnh, cảm xúc.)

Trang 34

2 Ôn lại, đọc lại một vài đoạn trong bài ý nghĩa văn chương của Hoài

Thanh (Ngữ văn 7, tập hai)

3 Đọc thêm một vài đoạn trong bài Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi

4 Thử hình dung, trong thế kỉ XXI không còn tồn tại văn nghệ, các nghệ sĩ

không còn sáng tác và biểu diễn, các thư viện biến mất, các tivi, đài phát thanh

im tiếng, các báo chí ngừng xuất bản, trong 1 năm… thế giới và mỗi người sẽ

ra sao? (viết thành bài hay đề cương để phát biểu miệng

5 Soạn bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Tiết 98 Tiếng Việt

Các thμnh phần biệt lập

A Kết quả cần đạt

1 Kiến thức: Nắm được khái niệm các thành phần biệt lập của câu

2 Tích hợp với Văn qua văn bản Tiếng nói của văn nghệ, với Tập làm văn

ở bài Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

3 Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng nhận diện và sử dụng thành phần biệt lập

trong câu

B Thiết kế bμi dạy ư học

Hoạt động 1

Xác định "Thành phần tình thái"

+ GV yêu cầu HS tìm hiểu hai ví dụ a, b trong SGK và trả lời các câu hỏi:

1 Các từ ngữ in đậm trong hai câu trên thể hiện thái độ gì của người nói?

2 Nếu không có các từ ngữ in đậm ấy thì nghĩa cơ bản của câu có thay đổi không? Tại sao?

+ HS trao đổi, thảo luận và trả lời:

1 Thái độ:

– Thể hiện thái độ tin cậy cao: chắc

– Thể hiện thái độ tin cậy chưa cao: có lẽ

2 Giải thích: Nếu không có các từ ngữ in đậm ấy thì ý nghĩa cơ bản của câu không thay đổi vì các từ ngữ in đậm chỉ thể hiện sự nhận định của người nói đối với sự việc ở trong câu, chứ không phải là thông tin sự việc của câu

Trang 35

Hoạt động 2

Xác định "Thành phần cảm thán"

+ GV yêu cầu HS tìm hiểu hai ví dụ a, b trong SGK và trả lời các câu hỏi:

1 Các từ ngữ in đậm trong hai câu trên có chỉ những sự vật hay sự việc gì không?

2 Những từ ngữ nào trong câu có liên quan đến việc làm xuất hiện các từ ngữ in đậm?

3 Công dụng của các từ ngữ in đậm trong câu?

+ HS trao đổi, thảo luận và trả lời:

1 Các từ ngữ in đậm không chỉ các sự vật hay sự việc, chúng chỉ là các

"đường viền" cảm xúc của câu

2 Đó là phần câu tiếp theo của các từ ngữ in đậm, phần câu này đã giải thích cho người nghe biết tại sao người nói cảm thán

3 Các từ ngữ in đậm cung cấp cho người nghe một "thông tin phụ", đó là trạng thái tâm lí, tình cảm của người nói

+ GV chỉ định 1 HS đọc chậm, rõ Ghi nhớ trong SGK

b Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho

sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài

Thành phần cảm thán: chao ôi

c Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình

như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu

Trang 36

Ví dụ:

– Mọi việc dường như đã ổn

– Hình như em không hài lòng thì phải?

– Hai người có vẻ như đều đã thấm mệt

– Có lẽ trời không mưa nữa đâu

"Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng

anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh" vì niềm tin vào sự việc sẽ có thể diễn ra theo hai khả năng:

– Thứ nhất, theo tình cảm huyết thống thì sự việc sẽ phải diễn ra như vậy – Thứ hai, do thời gian và ngoại hình, sự việc cũng có thể diễn ra khác đi một chút

Bài tập 4:

Đoạn văn gợi ý: Trong rất nhiều phim đang chiếu trên VTV3, em thích

nhất bộ phim "Thần y Hơ-Jun" của Hàn Quốc Ôi, một bộ phim không hề có

các nữ diễn viên xinh đẹp với mắt xanh, môi tím, tóc vàng; không hề có các nam diễn viên bảnh trai, sành điệu và đa tài đa tình; nhưng mà sao vẫn hấp dẫn và cảm động Hơ-Jun là một chàng trai có trái tim nhân hậu, lại được học một bậc danh y lừng lẫy và cũng là người vô cùng nhân hậu, cho nên Hơ-Jun sớm trở thành một người thầy thuốc tài đức vẹn toàn Là người không màng danh vọng, Hơ-Jun tự nguyện chấp nhận một cuộc sống khó khăn, thiếu thốn

để hết lòng chữa bệnh cho những người nghèo khổ Hình ảnh Hơ-Jun dùng miệng của mình để hút máu mủ cho bệnh nhân hoặc bật khóc sung sướng khi thấy đôi mắt người bệnh đã sáng trở lại khiến em vô cùng cảm phục và xúc

động Em tin rằng, tất cả những ai đang xem bộ phim này, chắc chắn đều có

cảm nghĩ như em

Trang 37

Tiết 99 Tập lμm văn

Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

3 Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng viết văn bản nghị luận xã hội

B Thiết kế bμi dạy ư học

4 Tại sao phải kiên quyết chữa bệnh lề mề

+ HS trao đổi, thảo luận và trả lời:

1 Trong văn bản trên, tác giả bàn luận về hiện tượng "giờ cao su" trong đời sống Bản chất của hiện tượng đó là thói quen kém văn hoá của những người không có lòng tự trọng và không biết tôn trọng người khác

2 Nguyên nhân của bệnh lề mề:

– Không có lòng tự trọng và không biết tôn trọng người khác

– ích kỉ, vô trách nhiệm với công việc chung

3 Tác hại của bệnh lề mề:

– Không bàn bạc được công việc một cách có đầu có đuôi

– Làm mất thời gian của người khác

– Tạo ra một thói quen kém văn hoá

Trang 38

4 Phải kiên quyết chữa bệnh lề mề, vì: Cuộc sống văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tôn trọng lẫn nhau và hợp tác với nhau Làm việc đúng giờ

là tác phong của người có văn hoá

+ GV chỉ định 1 HS đọc chậm, rõ Ghi nhớ trong SGK

– Góp ý phê bình khi bạn có khuyết điểm

– Bảo vệ cây xanh trong khuôn viên nhà trường

– Giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ

– Đưa em nhỏ qua đường

– Nhường chỗ ngồi cho cụ già khi đi xe buýt

– Trả lại của rơi cho người mất

– Giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ (đạo lí "uống nước nhớ nguồn")

Bài tập 2: Hiện tượng hút thuốc lá và hậu quả của việc hút thuốc lá đáng

để viết một bài nghị luận, vì:

– Thứ nhất, nó liên quan đến vấn đề sức khoẻ của mỗi cá nhân người hút,

đến sức khoẻ cộng đồng và vấn đề nòi giống

– Thứ hai, nó liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường: khói thuốc lá gây bệnh cho những người không hút đang sống xung quanh người hút

– Thứ ba, nó gây tốn kém tiền bạc cho người hút

GV và HS đọc tham khảo

Bệnh "nói dối"

Nói dối là một cách nói khác đi, không đúng với sự thật, không đúng với tâm trạng, suy nghĩ của mình, cố ý che giấu một cái gì đó; thậm chí xuyên tạc, nói chệch đi khiến người nghe phải tin để đạt được mục đích của mình

Trang 39

Cha ông ta đã cảnh tỉnh rằng: trong xã hội không thiếu những kẻ "Bề ngoài thơn thớt nói cười ư Bề trong nham hiểm giết người không dao"; rồi những hạng người "Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa" cũng không phải ít trong cuộc đời này

Có người chủ động nói dối (tô vẽ bịa đặt theo tính toán có lợi cho bản thân mình, chọn lựa sắp đặt lời nói rất kĩ) để mang lại lợi lộc cho mình nhiều nhất

Thụ động nói dối khi mà cấp trên hoặc người đối thoại không muốn nghe những điều nghịch nhĩ, ví như trong bụng thì ghét nhưng ngoài mặt vẫn nói rằng yêu Bực thật! Sợ rằng, lâu dần thành thói quen, nói năng không cảm thấy ngượng mồm và xấu hổ Nói dối mãi tất trở thành căn bệnh lừa bịp cấp trên, lừa bịp người khác Báo cáo láo, bệnh thành tích lan tràn đã trở thành căn bệnh trầm kha và khó chữa trong đời sống của chúng ta hiện nay

Người ta thi nhau tâng bốc, khi cấp trên đến chỉ đạo hội nghị, dự tổng kết với những

mĩ từ bóng bẩy, đại loại: những lời vàng ngọc của anh đã giúp chúng em "sáng mắt, sáng lòng", khiến chúng em "vô cùng thấm thía và cảm kích" Thú thật, chỉ thoáng nghe những

"sáo ngữ vô hồn" được phát ra liến thoắng như con vẹt này, những ai có lòng tự trọng cũng phải cảm thấy đỏ mặt xấu hổ bẽ bàng vì nó trơ trẽn quá, thậm chí vô liêm sỉ quá! Đúng là không có sợi dây thần kinh xấu hổ nào trong bộ óc con người có thể chịu đựng nổi những kiểu "uốn lưỡi cú diều này"!

Có một câu chuyện đàm tiếu rằng: một ông cấp phó vào thăm cấp trưởng trong bệnh viện, miệng rối rít: "Anh cố gắng khỏi bệnh để về với chúng em Anh mà nằm bẹp lâu quá thì lấy ai chèo chống con thuyền sự nghiệp của cơ quan đây? Anh em trong cơ quan mong anh từng giờ " Chao ôi! Toàn những lời có cánh được đưa ra đúng lúc, đúng "cơ hội" Thế nhưng, vừa ra khỏi cổng bệnh viện, chính vị cấp phó kia lại đã thốt lên "những lời gan ruột" của mình: "Trời! Ông ấy còn tỉnh táo lắm! Còn lâu mới chết! Mình còn lẽo đẽo "phó"

đến bao giờ đây???"

Thử đi tìm nguyên nhân của căn bệnh này thì thấy rằng:

– Do thiếu trung thực, xa thực tế, chỉ muốn cầu lợi, chỉ thích được khen, không muốn

bị nhắc nhở, phê bình (dù nhỏ), che giấu sự thật, thậm chí tìm cách tẩy chay sự thật để làm lợi cho cá nhân của một số người mà thôi

– Xung quanh chúng ta có rất nhiều người thích được nịnh, thích được ve vuốt, được

ru ngủ, được tung hô thì ắt có kẻ "lợi khẩu" uốn éo và khi ấy nói dối sẽ trở thành một "nghệ thuật" luồn lách của những kẻ vụ lợi, háo danh

Khi đã quen nói dối và quen nghe nói dối rồi thì người ta sẽ dửng dưng với tất cả, coi thường tất cả Cái đáng lo ngại là những âm hưởng ngọt ngào của nói dối đã trở thành "lá bùa hộ mạng" có hiệu quả cho những kẻ bất tài luôn hành xử theo phương châm "công thì của tôi", còn "tội thì của chúng ta"! Do vậy, họ cố tình khai khống, kê khống thành tích, bằng cấp để tô son trát phấn cho mình, để ra oai với người khác và để tự huyễn hoặc mình theo kiểu "mục hạ vô nhân"!

Trang 40

Báo cáo không trung thực – căn bệnh thành tích này cũng chính là nói dối vậy Và khi cấp trên lại quan liêu nữa thì quả là một đại hoạ đối với xã hội Làm thế nào để ngăn chặn

và đẩy lùi tình trạng này? Thiết nghĩ, cần phải nâng cao tinh thần phê và tự phê, đồng thời thực hiện dân chủ sinh hoạt trong cộng đồng Phê bình phải như là một ngọn roi quất vào, gột rửa và hạn chế căn bệnh này Phải biết tôn trọng sự thật, nói đúng sự thật Chẳng hạn,

ông huấn luyện viên Alfred Riedl – người có ấn tượng khá sâu đậm đối với những người hâm mộ bóng đá Việt Nam, trong lần trả lời Hãng thông tấn Pháp AFP ngày 19-5-2005 đã nói: "Bóng đá được cấu thành từ các câu lạc bộ Các vị chủ tịch, các nhà quản lí, các huấn luyện viên và trước hết là các cầu thủ ở các câu lạc bộ cần phải nhìn lại mình trong gương mỗi khi đội tuyển thất bại Nếu giải vô địch quốc gia tồi, chúng ta chỉ có thể có một đội tuyển quốc gia tồi"

Tôi nghĩ rằng đây là một nhận xét chân tình, mặc dù người hâm mộ không mong muốn, nhưng dù sao đó cũng là sự thật mà chúng ta phải bình tĩnh đánh giá – không thể nào khác được đâu!

(Lược trích bài Nhμn đμm: Nói dối của Trần Khải

Báo Văn nghệ, số 32, 6-8-2005)

Tiết 100 Tập lμm văn

Cách lμm bμi nghị luận về một sự việc,

3 Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng viết một bài văn nghị luận xã hội

B Thiết kế bμi dạy ư học

Hoạt động 1

Tìm hiểu đề bài nghị luận về một sự việc,

hiện tượng đời sống + Thao tác 1: GV yêu cầu HS đọc kĩ đề 1 và trả lời các câu hỏi:

Ngày đăng: 20/10/2014, 00:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thμnh kiến thức mới - Thiết kế bài giảng Văn 9 tập 2
Hình th μnh kiến thức mới (Trang 187)
Hình ảnh thiên nhiên giàu ý nghĩa - Thiết kế bài giảng Văn 9 tập 2
nh ảnh thiên nhiên giàu ý nghĩa (Trang 207)
1. Bảng hệ thống - Thiết kế bài giảng Văn 9 tập 2
1. Bảng hệ thống (Trang 209)
Hình ảnh bình dị, tứ  thơ bất ngờmà hợp lí  (thình lình mất điện, - Thiết kế bài giảng Văn 9 tập 2
nh ảnh bình dị, tứ thơ bất ngờmà hợp lí (thình lình mất điện, (Trang 210)
2. Hình thμnh kiến thức mới - Thiết kế bài giảng Văn 9 tập 2
2. Hình thμnh kiến thức mới (Trang 216)
Bảng hệ thống - Thiết kế bài giảng Văn 9 tập 2
Bảng h ệ thống (Trang 235)
Hình ảnh Đất n−ớc và con ng−ời Việt Nam - Thiết kế bài giảng Văn 9 tập 2
nh ảnh Đất n−ớc và con ng−ời Việt Nam (Trang 322)
3. Hình ảnh Rô-bin-xơn ngoài hoang đảo trong cảm nhận của em. (6, 0 - Thiết kế bài giảng Văn 9 tập 2
3. Hình ảnh Rô-bin-xơn ngoài hoang đảo trong cảm nhận của em. (6, 0 (Trang 350)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w