1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rủi ro kiểm toán và hoạt động liên tục

49 603 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 390,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4 1.1.Khái niệm rủi ro kiếm toán 4 1.2.Các loại hình rủi ro kiểm toán. 6 1.2.1.Rủi ro tiềm tàng (Inherent Risk IR): 6 1.2.2.Rủi ro kiểm soát (Controi Risk CR): 7 1.2.3.Rủi ro phát hiện (Detection Risk DR): 7 1.3. Mối quan hệ giữa các loại rủi ro trong kiểm toán 8 1.4.Mô hình rủi ro kiểm toán 10 1.5. Mối quan hệ giữa rủi ro kiếm toán và trọng yếu 12 1.6. Ý nghĩa và vai trò: 14 CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN 15 2.1. Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán tại Việt Nam 15 2.1.1. Đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn 16 2.1.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng 16 2.1.3. Đánh giá rủi ro kiểm soát 20 2.1.4. Đánh giá rủi ro phát hiện 26 2.2. Các phương pháp đánh giá rủi ro kiểm toán 28 2.2.1. Đối với việc đánh giá mức rủi ro kiểm toán và rủi ro tiềm tàng 29 2.2.2. Đối với việc đánh giá rủi ro kiểm soát 31 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO KIỂM TOÁN 34 3.1. Giải pháp giảm thiểu rủi ro kiểm soát 34 3.2. Giải pháp giảm thiểu rủi ro phát hiện 36 3.3. Thực hiện giải pháp giảm thiểu rủi ro kiểm toán 41 CHƯƠNG IV: HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC 43 4.1 Khái Niệm. 43 4.2.Các dấu hiệu ảnh hưởng tới hoạt động liên tục. 43 4.2.1 Dấu hiệu về mặt tài chính 43 4.2.2 Dấu hiệu về mặt hoạt động 44 4.2.3 Các dấu hiệu khác 44 KẾT LUẬN 47 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 MỞ ĐẦU Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng, rủi ro kiểm toán là khái niệm quen thuộc gắn liền với trách nhiệm của kiểm toán viên. Vì vậy, việc hiểu rõ và quản lý tốt rủi ro kiểm toán là yếu tố quyết định trong việc hạn chế rủi ro kinh doanh của các công ty kiểm toán. Đánh giá rủi ro được thực hiện ở giai đoạn đầu của cuộc kiểm toán nên giữ vai trò quan trọng, chi phối chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán. Xác định được mức rủi ro kiểm toán hợp lý có thể tiết kiệm chi phí mà vẫn đảm bảo độ tin cậy của thông tin, tránh được thiệt hại và giữ được mối quan hệ với khách hàng. Từ những lý do trên, chúng em đã chọn đề tài: “Rủi ro kiểm toán và hoạt động liên tục”. Nội dung của bài tiểu luận gồm 4 chương: Chương I: Cơ sở lý luận Chương II: Đánh giá rủi ro kiểm toán Chương III: Giải pháp giảm thiểu rủi ro kiểm toán Chương IV: Hoạt động liên tục

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM

KHOA KINH TẾ - CƠ SỞ THANH HÓA

- -BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: KIỂM TOÁN PHẦN 1

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 03

1 MAI THỊ THU 12001303 NHÓM TRƯỞNG

2 TRỊNH THỊ OANH 12001153 THƯ KY

3 NGUYỄN THỊ MAI 12001903

4 LÊ THỊ ANH 12003613

5 LÊ THỊ TÌNH 12001983

6 NGUYỄN THỊ THÚY 12001183

7 HOÀNG THỊ DUNG 12001193

8 NGUYỄN THỊ THU TRANG 12001173

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LY LUẬN 4

1.1.Khái niệm rủi ro kiếm toán 4

1.2.Các loại hình rủi ro kiểm toán 6

1.5 Mối quan hệ giữa rủi ro kiếm toán và trọng yếu 11

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN 15

2.1 Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán tại Việt Nam 15

2.1.1 Đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn 16

2.1.2 Đánh giá rủi ro tiềm tàng 16

2.1.3 Đánh giá rủi ro kiểm soát 20

2.2.1 Đối với việc đánh giá mức rủi ro kiểm toán và rủi ro tiềm tàng 29

2.2.2 Đối với việc đánh giá rủi ro kiểm soát 31

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO KIỂM TOÁN 34

3.1 Giải pháp giảm thiểu rủi ro kiểm soát 34

3.2 Giải pháp giảm thiểu rủi ro phát hiện 36

3.3 Thực hiện giải pháp giảm thiểu rủi ro kiểm toán 41

CHƯƠNG IV: HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC 43

4.1 Khái Niệm 43

4.2.Các dấu hiệu ảnh hưởng tới hoạt động liên tục .43

KẾT LUẬN 47

Trang 4

MỞ ĐẦU

Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng, rủi ro kiểm toán

là khái niệm quen thuộc gắn liền với trách nhiệm của kiểm toán viên Vì vậy,việc hiểu rõ và quản lý tốt rủi ro kiểm toán là yếu tố quyết định trong việc hạnchế rủi ro kinh doanh của các công ty kiểm toán

Đánh giá rủi ro được thực hiện ở giai đoạn đầu của cuộc kiểm toán nên giữvai trò quan trọng, chi phối chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểmtoán Xác định được mức rủi ro kiểm toán hợp lý có thể tiết kiệm chi phí mà vẫnđảm bảo độ tin cậy của thông tin, tránh được thiệt hại và giữ được mối quan hệvới khách hàng

Từ những lý do trên, chúng em đã chọn đề tài: “Rủi ro kiểm toán và hoạtđộng liên tục” Nội dung của bài tiểu luận gồm 4 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận

Chương II: Đánh giá rủi ro kiểm toán

Chương III: Giải pháp giảm thiểu rủi ro kiểm toán

Chương IV: Hoạt động liên tục

Trang 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.Khái niệm rủi ro kiếm toán

Kiểm toán tài chính là một loại hình đặc trưng nhất của kiểm toán Bản chấtcủa kiểm toán tài chính chính là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểmtoán làm cơ sở cho kiểm toán viên đưa ra nhận xét về tính trung thực và hợp lýcủa các báo cáo tài chính

Có thể nói rằng, đối tượng chính và chủ yếu của kiểm toán tài chính là cáobảng khai tài chính, cụ thế là các báo cáo tài chính Trên thực tế, các báo cáo tàichính luôn luôn chứa đựng khả năng có gian lận và sai sót Theo Bản công bố vềchuấn mực Kiếm toán số 53 (SAS 53), yêu cầu kiếm toán viên phải hiếu và nắmbắt, phát hiện và đánh giá khả năng xảy ra của những gian lận và sai sót, cùngvới việc xác định các phương pháp kiểm toán thích hợp, lập kế hoạch và giámsát việc thực hiện kế hoạch một cách thích đáng đế đảm bảo đạt được các mụctiêu kiếm toán đã đề ra Tuy nhiên, không phải bất cứ khi nào, kiểm toán viêncũng có thể phát hiện được tất cả các gian lận và sai sót trọng yếu trong các báocáo tài chính Điều này tất yếu sẽ dẫn tới việc đưa ra ý kiến sai lệch về thông tintrên các báo cáo tài chính của kiếm toán viên Đây chính là rủi ro mà kiếm toán

viên gặp phải trong việc thực hiện công việc của mình Nói một cách khác, rủi

ro kiếm toán là “rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến

nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có nhữngsai sót trọng yếu”( chuẩn mực số 400)

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) về Đánh giá rủi

ro và kiêm soát nội bộ: “Kiếm toán viên phải có đủ hiếu biết về hệ thống kế

toán và hệ thông kiêm soát nội bộ của khách hàng để có thê lập kê hoạch kiêmtoán tông thể và chương trình kiếm toán thích hợp, có hiệu quả Kiếm toán viênphải sử dụng khả năng xét đoán chuyên môn của mình đê đánh giá rủi ro kiêmtoán và xác định các thủ tục kiểm toán nhằm giảm rủi ro kiểm toán thấp xuống

Trang 6

tới mức có thể chấp nhận được.” Như vậy, công việc đánh giá rủi ro kiếm toánkhông chỉ là việc cần thiết trong kiếm toán tài chính nói riêng và kiếm toán nóichung mà đây còn là quy định, công việc bắt buộc phải thực hiện trong khi lập

kế hoạch kiểm toán

Đánh giá rủi ro kiểm toán là việc kiểm toán viên và công ty kiểm toán xác định mức độ rủi ro kiểm toán có thể xảy ra là cao hay thấp, bao gồm đánh giá rủi

ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Rủi ro kiểm toán được xác định trước khi lập kế hoạch và trước khi thực hiện kiểm toán

Cũng trong VSA 400, mục 02 có quy định: “Kiểm toán viên phải sử dụng khả năng xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro kiểm toán và xác định các thủ tục kiểm toán nhằm giảm các rủi ro kiểm toán xuống thấp tới mức

có thể chấp nhận được”

 Rủi ro kiểm toán là vấn đề mà kiểm toán viên và công ty kiểm toánđều phải đối mặt là do một số nguyên nhân:

- Do phạm vi của đối tượng kiểm toán tài chính rất rộng Đó là toàn bộ các

yếu tố liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách thế kiếm toán.Chính vì thế, phương pháp mà kiểm toán viên sử dụng chủ yếu để thu thậpbằng chứng trong kiếm toán tài chính là phương pháp chọn mẫu Quá trình nàythông qua việc lựa chọn một số mẫu và dựa trên kết quả đánh giá nhừng mẫuđược chọn đó để đưa ra kết luận cho toàn bộ tổng thể Do vậy mà luôn có khảnăng đưa ra kết luận sai do mẫu được chọn không phải là mẫu đại diện

- Bất kỳ cuộc kiểm toán tài chính nào cũng bị giới hạn bởi các yếu tố như

thời gian, chi phí, giới hạn về nguồn lực, quản lý hay giới hạn từ phía khách thểkiểm toán Kiểm toán viên và công ty kiểm toán không thể kiểm tra toàn diệntrên tất cả các khoản mục, nghiệp vụ và chu trình liên quan đến đối tượng kiếmtoán

- Rủi ro kiểm toán liên quan đến rủi ro kinh doanh Các doanh nghiệp đều

phải đối mặt với rủi ro kinh doanh Rủi ro kiểm toán là một rủi ro kinh doạnh

mà các công ty kiểm toán phải xem xét đến trong khi thực hiện cung cấp dịchvụ kiểm toán

Trang 7

Như vậy, xuất phát từ những nguyên nhân trên, chúng ta có thế thấy được tầm quan trọng của công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong quá trình kiểm toán.

1.2.Các loại hình rủi ro kiểm toán

Rủi ro kiếm toán (Audit Risk - AR) có giá trị từ 0 đến 1 Rủi ro kiếm toánbằng 0 nếu các báo cáo tài chính không tồn tại bất kỳ một sai sót trọng yếu nào.Ngược lại, nếu các sai sót trên các báo cáo tài chính đều là sai sót trọng yếu, rủi

ro kiếm toán sẽ bằng 1 Nhưng trên thực tế, rủi ro kiểm toán luôn luôn lớn hơn

0 Điều này có nghĩa là, rủi ro kiểm toán xuất phát từ cả giới hạn về phía kế toán

và kiểm toán Hay nói một cách khác, ta có thế chia rủi ro kiếm toán thành haiphần: rủi ro kiểm toán do tồn tại các sai phạm trọng yếu trên các báo cáo tàichính chưa được kiểm toán, và rủi ro kiếm toán do tồn tại các sai sót trọng yếukhông được phát hiện bởi kiểm toán viên Rủi ro kiểm toán liên quan tới các saisót trọng yếu trên các báo cáo tài chính chưa được kiếm toán lại được phân chiathành: rủi ro tiềm tàng và rủi ro phát hiện

1.2.1.Rủi ro tiềm tàng (Inherent Risk - IR):

 Khái niệm: là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng

khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trong yếu khi tínhriêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ

- Bản chất của các bộ phận khoản mục được kiểm toán, như: các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính thì khả năng chứa đựng những sai sot trọng yếu sẽ khác nhau

- Bản chất hệ thống kế toán và thông tin trong đơn vị, như mức độ, tính

Trang 8

chất phức tạp, phạm vi và tính hiệu quả của hệ thống điện toán,bản chất vàphương pháp kế toán đang áp dụng, trình độ nhân viên…

1.2.2.Rủi ro kiểm soát (Controi Risk - CR):

 Khái niệm: rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ,từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệthống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc khôngphát hiện và sửa chữa kịp thời

 Các nhân tố ảnh hưởng:

- Tính chất mới mẻ và phức tạp của các loại giao dịch

- Khối lượng và cường độ giao dịch của giao dịch

- Số lượng và chất lượng của hệ thống nhân lực tham gia kiểm soáttrong doanh nghiệp

- Tính hiệu lực, tính hợp lý và hiệu quả của các thủ tục kiểm soát vàtrình tự kiểm soát trong doanh nghiệp

- Tính khoa học, thích hợp và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nộibộ

1.2.3.Rủi ro phát hiện (Detection Risk - DR):

 Khái niệm:là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từngkhoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quátrình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được

- Trình độ, kinh nghiệm và khả năng xét đoán nghề nghiệp của KTV

Trong ba loại hình rủi ro kiểm toán trên, kiểm toán viên không tạo ra vàcũng không thế kiếm soát được mà chỉ có thế đánh giá đối với rủi ro tiềm tàng

và rủi ro kiểm soát

Trang 9

1.3 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro trong kiểm toán

Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát tồn tại độc lập nằm ngay trong hoạtđộng của doanh nghiệp kiểm toán Nó không phụ thuộc vào công việc kiểm toán

có tiến hành hay không Còn rủi ro phát hiện hoàn toàn phụ thuộc vào công việckiểm toán Tuy nhiên, mức độ của rủi ro phát hiện xảy ra và rủi ro kiểm toán làhoàn toàn không giống nhau, nó còn phụ thuộc vào rủi ro tiềm tàng và rủi rokiểm soát

Mặc dù rủi ro kiểm soát nằm ngay trong doanh nghiệp nhưng nó cũng giốngrủi ro phát hiện ở chỗ thực chất đây đều là do con người kiểm soát để phát hiệncác gian lận, sai sót trong hoạt động của doanh nghiệp Nhưng một loại kiểmsoát để phát hiện ngăn ngừa gian lận, sai sót do chính bản than doanh nghiệpthục hiện Còn một lại kiểm soát lại do chính KTV thực hiện trong quá trìnhkiểm toán.Mối quan hệ này được minh họa thông qua mô hình sau:

Bảng 1.1:Mối quan hệ giữa các loại rủi ro:

Hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp luôn tồn tại

Rủi ro tiềm tàng

Những gian lận sai sót

Phát hiện gian lận sai sót

bằng các thủ tục kiểm soát

của hệ thống KSNB

Rủi ro kiểm soát

Phát hiện gian lận sai sót

bằng công việc kiểm toán

của KTV

Rủi ro phát hiện

Kiểm toán không phát

hiện hết các gian lận sai

sót trọng yếu dẫn đến ý

kiến sai

Rủi ro kiểm toán

Trang 10

Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát quyết định đến khối lượng, quy mô, phạm vi chi phí, biên chế và thời gian kiểm toán KTV đánh giá rủi ro kiểm toánở mức tương đối thì có thể thiết lập rủi ro phát hiện bằng một bảng dưới dạng

ma trận sau:

Bảng 1.2:Ma trận rủi ro

Đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát

Đánh giá của

KTV về rủi ro

tiềm tàng

Trong bảng trên, rủi ro phát hiện được xác định căn cứ vào mức rủi ro tiềm

tàng và kiểm soát tương ứng

Ví dụ, với mức rủi ro tiềm tàng được đánh giá là cao, nhưng rủi ro kiểm soát lại thấp thì rủi ro phát hiện ở mức trung bình

-Trong cả hai cách trên, ta nhận thấy rủi ro phát hiện luôn tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát

Bảng 2: Ví dụ mối quan hệ giữa rủi ro và bằng chứng

Tình

huống

Rủi rokiểm toán

có thể chấp

nhận

Rủi ro tiềmtàng

Rủi rokiểm soát

Rủi ro pháthiện dự kiến

Số lượngbằng chứngcần thu thập

4 Trung bình Trung bình Trungbình Trung bình Trung bình

Ma trận minh họa về mối quan hệ giữa các loại rủi ro do KTV dự kiến thường

được thực hiện ngay trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.tuy nhiên, trongthực tiễn khi thực hành kiểm toán, nếu KTV có bằng chứng để điều chỉnh lại rủi

ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát thì rủi ro phát hiện cũng được KTV điều chỉnhlại

Trang 11

1.4.Mô hình rủi ro kiểm toán

Kiểm toán viên và công ty kiểm toán luôn mong muốn đạt được mức rủi rokiểm toán thấp Vậy thì làm thế nào để có thể đạt được mức rủi ro kiểm toánmong muốn trong khi không kiếm soát được rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiếmsoát? Trên thực tế, kiếm toán viên vẫn có thế giảm được rủi ro kiếm toán dựatrên đánh giá hai loại rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, sau đó điều chỉnh rủi

ro phát hiện Mối quan hệ giữa ba loại hình rủi ro này được thế hiện qua phươngtrình sau, được gọi là mô hình rủi ro kiểm toán:

 Hạn chế của viêc sử dung mô hình rủi ro kiểm toán:

Có hai hạn chế trong việc sử dụng mô hình đánh giá rủi ro kiếm toán

Một là, dù kiểm toán viên có nỗ lực cao nhất trong việc lập kế hoạch, nhưngđánh giá về rủi ro kiểm toán mong muốn và rủi ro kiểm soát vẫn có tính chủquan cao và chỉ xấp xỉ bằng thực tế nhất Ví dụ, giả sử kiểm toán viên đánh giáquá trình kiểm soát nội bộ và các rủi ro cố hữu thấp hơn mức đáng lẽ phải cónếu tất cả các sai sót đều được biết, rủi ro phát hiện do đó sẽ phải cao mức cóthể chấp nhận được và số bằng chứng dự kiến sẽ thấp hơn Để giải quyết vấn đềnày, hầu hết kiểm toán viên đều bảo thủ trong cách đánh giá của họ hoặc sửdụng mức đánh giá khái quát và chủ quan như mức rủi ro “thấp”, “trung bình”hoặc “cao”

Trang 12

Hai là, mô hình rủi ro kiểm toán là mô hình rủi ro kế hoạch, do đó nó bị hạnchế trong việc sử dụng để đánh giá các kết quả kiểm toán Một khi các mức rủi

ro đã được đánh giá và theo đó kế hoạch kiểm toán được xây dụng, các thànhphần của kế hoạch đối với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiếm soát sẽ không đượcthay thế dựa trên các bằng chứng kiếm toán đã thu thập Nếu các bằng chứngkiếm toán chỉ rõ các sai sót mà cao hơn mức có thể chấp nhận được không tồntại, thì số lượng sai sót vượt quá đó được chấp nhận Tuy vậy, nếu bằng chứngkiếm toán chỉ rõ có sự hiện diện của các sai sót cao hơn mức có thể chấp nhậnđược, mô hình rủi ro kiểm toán có thể bị phá vỡ và các thủ tục khác sẽ cần thựchiện đế có thể phát hiện và nhận diện các sai sót đó, để đảm bảo có ý kiến chắcchắn hơn

Ví dụ, kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán dựa trên phân tích theo môhình rủi ro kiêm toán dưới đây:

DR = 0,05/(0,75 X 0,5) = 0,13 Đây là điều không thích hợp Đúng hơn, kiểmtoán viên cần phải kết luận là có những sai sót có thể chấp nhận được đối vớitùng loại rủi ro kiểm toán, và cần có phương pháp ước lượng gần đúng khác đểđánh giá lại

1.5 Mối quan hệ giữa rủi ro kiếm toán và trọng yếu

Trọng yếu là khái niệm chung chỉ rõ tầm cỡ và tính hệ trọng của phần nội

dung cơ bản có ảnh hưởng tới tính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đốitượng kiếm toán trong việc sử dụng thông tin đã đánh giá đế đưa ra kết luận

Trang 13

Theo Chuấn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 (VSA 320): “Trọng yếu là thuậtngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của thông tin (một số liệu kế toán) trongbáo cáo tài chính.” Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thôngtin đó hay thông tin đó thiếu chính xác thì sẽ ảnh hưởng đến các quyết định củangười sử dụng báo cáo tài chính Mức độ trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quantrọng của thông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tínhtrọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên tiêu chuẩn định lượng và địnhtính

Như vậy, muốn xác định được khả năng xảy ra những sai sót mang tính chấttrọng yếu, kiếm toán viên phải đánh giá được mức trọng yếu

Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro được thế hiện rất rõ trong giai đoạn lập

kế hoạch kiểm toán nhằm đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và xác địnhnhững vùng kiếm toán trọng yếu, xác định mức trọng yếu cho từng mục tiêukiếm toán, khả năng có những sai sót cho từng khoản mục

Trong một cuộc kiểm toán tài chính, mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán cóquan hệ tỷ lệ nghịch Việc đánh giá rủi ro kiểm toán vì thế có quan hệ chặt chẽtrong việc xác định mức trọng yếu Mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toáncàng thấp và ngược lại, mức trọng yếu càng thấp thì rủi ro kiếm toán càng cao.Trên cơ sở đó, kiểm toán viên sẽ xác định được nội dung, lịch trình và phạm vicủa các thủ tục kiếm toán thích hợp nhằm đạt được mức rủi ro kiếm toán mongmuốn

Mối quan hệ trọng yếu và rủi ro có thể trình bày trong bảng sau:

Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro.

Trang 14

Trọng

Yếu

Xác định mức trọng yếu ở toàn bộ

báo cáo

- Kết hợp việc xem xét bản chất các khoản mục để xem xét và lựa chọn các khoản mục trọng tâm cần kiểm tra

- Làm cơ sở phân bối mức trọng yếu cho từng khoản mục

Phân bổ mức trọng yếu cho từng khoảnmục của báo cáo tài chính

- Xác định đối tượng chi tiết các khoản mục cần kiểm tra

- Xác định thủ tục kiểm toán thích hợp

- Xây dựng kế hoạch chiến lược về kiểm toán

- Tổ chức nhân sự, xác định thời gian, chi phí kiểm toán

- Làm cơ sở đánh giá rủi ro kiểm toán và tính trọng yếu cho từng khoản mục

Đánh giá rủi ro kiểm toán ở mức độ từng khoản mụcBCTC

- Từ mức độ rủi ro kiểm toán ở mức độ chấp nhận được cho từng khoản mục, với kếtquả đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, xácđịnh mức độ rủi ro thích hợp làm cơ sở thiết kế thủ tục kiểm toán

1.6 Ý nghĩa và vai trò:

Việc đánh giá rủi ro kiếm toán sẽ giúp cho kiếm toán viên có thế đưa ra ýkiến một cách xác đáng về các thông tin trên các báo cáo tài chính

Đánh giá rủi ro kiếm toán tốt sẽ giúp cho kiếm toán viên xây dựng được các

Trang 15

thủ tục kiểm toán và lập kế hoạch kiểm toán phù hợp, đảm bảo thu thập đượcđầy đủ các bằng chứng đáng tin cậy đế đưa ra ý kiến về các bảng khai tài chính.Như vậy đánh giá rủi ro kiểm toán là một bước công việc không thể thiếutrong mọi cuộc kiểm toán Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, đánh giá rủi

ro kiểm toán là một trong những bước quan trọng để hình thành nên một kếhoạch tổng quát cho cuộc kiểm toán cụ thể Từ mô hình rủi ro kiểm toán, kiểmtoán viên sẽ xác định được rủi ro phát hiện trên cơ sở những đánh giá về mứcrủi ro mong muốn, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Dựa vào mức rủi rophát hiện được xác định, kiểm toán viên có thể xây dựng nội dung, lịch trình vàphạm vi của các thủ tục kiểm toán cơ bản

Tóm lại, có thể khẳng định lại rằng, đánh giá rủi ro kiểm toán là công việckhông thể thiếu trong bất kỳ một cuộc kiểm toán tài chính nào Với tầm quantrọng như vậy, việc đặt ra một quy trình đánh giá rủi ro kiếm toán có hiệu quả làrất cần thiết Vậy công tác đánh giá rủi ro kiểm toán được dựa trên những yếu tốnào? Dựa trên những kiến thức đã được học cùng nghiên cứu những tài liệu thuthập được, sau đây nhóm em xin trình bày cụ thể công tác đánh giá rủi ro kiểmtoán trong kiểm toán tài chính

Trang 16

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN

2.1 Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán tại Việt Nam

Như đã phân tích ở trên, đánh giá rủi ro kiểm toán có vai trò quan trọngtrong các cuộc kiểm toán nói chung và trong các cuộc kiểm toán tài chính nóiriêng Chính vì vậy, kiểm toán viên và công ty kiểm toán khi xây dựng quy trìnhđánh giá rủi ro kiểm toán thì cần phải hiểu được bản chất của từng loại hình rủi

ro dựa trên cơ sở tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh củakhách thể kiểm toán Cuối cùng, kiểm toán viên sẽ vận dụng sự xét đoán nghềnghiệp để đưa ra kết luận về rủi ro kiểm toán có thể gặp phải

Chúng ta biết rằng, đối tượng của kiểm toán tài chính là các báo cáo tàichính của đơn vị được kiểm toán Các báo cáo tài chính này được lập dựa trênnhiều khoản mục, nghiệp vụ khác nhau Mặt khác, do rủi ro kiểm toán có mốiliên hệ với tính trọng yếu, khi ước lượng ban đầu về mức trọng yếu trong giaiđoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên đánh giá mức trọng yếu trên phương diệnmức độ sai sót tổng thể của báo cáo tài chính và trên mối quan hệ với mức độ saisót chi tiết của số dư các tài khoản, các nghiệp vụ và các thông tin trên báo cáotài chính sẽ khác nhau Do vậy, khi đánh giá rủi ro kiểm toán thì kiểm toán viênphải đánh giá trên cả hai phương diện: phương diện báo cáo tài chính và phươngdiện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ

Rủi ro kiểm toán được đánh giá trên cơ sở đánh giá ba loại rủi ro: rủi ro

tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Tuy nhiên, trước khi đánh giá ba

loại hình rủi ro này, kiểm toán viên cần phải xác định được mức rủi ro kiểm toánmong muốn Ta thấy rằng, rủi ro kiểm toán có thể ở mức thấp, trung bình, hoặccao Mục tiêu của kiểm toán viên là phải thiết lập được các thủ tục kiểm toán đểthu thập được đầy đủ các bằng chứng có độ tin cậy nhằm đưa ra kết luận xácđáng nhất về các thông tin trên báo cáo tài chính Điều này có nghĩa là, kiểmtoán viên và công ty kiểm toán đã đạt được mức rủi ro kiểm toán mong muốn

Trang 17

2.1.1 Đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn

Cũng tương tự như xác định mức rủi ro kiểm toán, muốn đánh giá rủi rokiểm toán mong muốn, kiểm toán viên cũng cần phải dựa vào đánh giá ba loạihình rủi ro: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện

Rủi ro kiểm toán mong muốn, hay rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận đượcđược đánh giá dựa trên ước lượng ban đầu của kiểm toán viên về mức độ tin

cậy của các báo cáo tài chính sẽ được kiểm toán Như vậy, nếu mức độ tin cậy

càng cao thì rủi ro kiểm toán mong muốn càng được xác định thấp Việc đánhgiá rủi ro này phụ thuộc rất lớn vào xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên.Một yếu tố quan trọng khi đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn là mức rủi rophát hiện mong muốn Rủi ro phát hiện mong muốn được xác định dựa trên mộtmức rủi ro kiểm toán, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cụ thể Nếu rủi rokiểm toán mong muốn, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát càng thấp thì mức rủi

ro phát hiện mong muốn càng cao

Các yếu tố mà kiểm toán viên cần xem xét khi xác định mức rủi ro kiểmtoán mong muốn là: quy mô khách hàng, sự phân phối quyền sở hữu, bản chất

và quy mô của công nợ, khả năng tiếp tục hoạt động về mặt tài chính của công

ty khách hàng sau khi báo cáo kiểm toán được công bố Ngoài ra, kiểm toánviên cũng cần cân nhắc các yếu tố như chi phí kiểm toán, trình độ nghiệp vụ củakiểm toán viên, các giới hạn có thể có từ phía công ty khách hàng,…

Tuy nhiên, do rủi ro kiểm toán phụ thuộc vào ba loại hình rủi ro kiểm toánkhác, và ba loại hình rủi ro này trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên có thể

sẽ phải thay đổi để phù hợp với những đánh giá của kiểm toán viên nhất, nênmức rủi ro kiểm toán mong muốn có thể sẽ thay đổi theo

2.1.2 Đánh giá rủi ro tiềm tàng

Đánh giá rủi ro tiềm tàng là bước công việc thứ hai trong quá trình đánh giárủi ro kiểm toán, sau khi xác định được mức rủi ro kiểm toán mong muốn Đây

là một thành phần trong rủi ro kiểm toán đối với các báo cáo tài chính chưa đượckiểm toán

Rủi ro tiềm tàng là rủi ro cố hữu tồn tại trong các báo cáo tài chính nói

Trang 18

chung hay trong các khoản mục, nghiệp vụ nói riêng với giả định không có sựtác động của môi trường kiểm soát Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng cho phépkiểm toán viên dự kiến được công việc, thủ tục kiểm toán sẽ được thực hiện chocác nghiệp vụ, các khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính mà kiểm toánviên cho rằng có rủi ro tiềm tàng cao Điều này sẽ tránh việc bỏ sót các sai phạmtrọng yếu trên báo cáo tài chính hay trong từng khoản mục, nghiệp vụ cụ thể.

 Trên phương diện báo cáo tài chính

- Đặc điểm hoạt động kinh doanh bao gồm các yếu tố chính sau: quy trìnhcông nghệ, cơ cấu vốn, các đơn vị phụ thuộc, phạm vi địa lý, hoạt động sản xuấtkinh doanh theo mùa vụ…

Đây là lưu ý quan trọng đầu tiên vì nó ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp có đặc điểm hoạt động kinhdoanh khác nhau thì phương hướng, kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch kinhdoanh để đạt những mục tiêu đã xác định cũng khác nhau Hơn nữa, đặc điểmhoạt động sản xuất kinh doanh còn ảnh hưởng tới một yếu tố quan trọng mà bất

kỳ nhà quản lý doanh nghiệp nào cũng phải xem xét, đó là rủi ro kinh doanh

- Kiểm toán viên cũng nên xem xét các yếu tố làm tăng rủi ro kinh doanhcho doanh nghiệp như: trả lương nhân viên quá cao, tuyển bạn bè hơn là nhữngứng cử viên thích hợp cho vị trí các công việc Công việc, nghành nghề kinhdoanh cũng ảnh hưởng tới khả năng đánh giá không đúng chi phí, không đúngdoanh thu…Và do vậy, rủi ro tiềm tàng sẽ cao

- Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng như sự thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán

- Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ

- Những áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán trưởng, nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy Ban Giám đốc, kế toán trưởng phải trình bày báo cáo tài chính không trung thực;

- Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị, như: các biến động về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, thị trường bán và

Trang 19

sự thay đổi của hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị.

Yếu tố tiếp theo mà kiểm toán viên cần chú ý đó là động cơ của kháchhàng Trong một số tình huống, Ban quản trị có thể tin rằng sẽ có lợi nếu báocáo sai như nhận được tiền thưởng theo tỷ lệ lợi nhuận trong kỳ, và do đó có thể

có xu hướng khai khống, khai tăng lợi nhuận

Việc tìm hiểu kết quả của các lần kiểm toán trước cũng rất quan trọng.Những sai số được tìm thấy trong những lần kiểm toán trước có khả năng sẽ lạitiếp tục xuất hiện trong lần kiểm toán năm nay Có điều này là vì rất nhiều loạisai sót có bản chất hệ thống và các doanh nghiệp thường chậm chạp trong việcđiều chỉnh các sai sót này Do đó, kiểm toán viên không nên chủ quan mà bỏqua kết quả kiểm toán của năm trước

Ví dụ, kiểm toán viên tìm thấy một số lượng sai sót đáng kể trong việcđịnh giá hàng tồn kho trong báo cáo kiểm toán năm trước, rủi ro tiềm tàng cókhả năng cao, và việc mở rộng các cuộc khảo sát sẽ được thực hiện để xác địnhliệu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng có phát hiện và sửa chữa kịp thờihay chưa Tuy vậy, nếu kiểm toán viên không tìm thấy sai sót nào liên quan đếntính giá hàng tồn kho trong báo cáo kiểm toán năm trước, thì kiểm toán viên cóthể sẽ có căn cứ để cho rằng, rủi ro tiềm tàng đối với khoản mục hàng tồn khonăm nay là thấp

 Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ

- Loại báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính có những điều chỉnh liên quanđến niên độ trước, báo cáo tài chính có nhiều ước tính kế toán hay báo cáo tàichính trong năm có nhiều thay đổi trong chính sách kế toán

- Mức độ dễ mất mát, biển thủ tài sản như: phát sinh nhiều nghiệp vụ thuchi, doanh nghiệp để nhiều tiền mặt tại quỹ, các giao dịch chủ yếu được thựchiện thông qua quỹ tiền mặt…

- Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay các nghiệp vụ bất thường khác:các nghiệp vụ phức tạp, không thường xuyên có nhiều khả năng bị vào sổ saihơn là các nghiệp vụ hàng ngày vì các nhân viên của khách hàng thiếu kinhnghiệm trong khi vào sổ chúng Ví dụ như các khoản thiệt hại do cháy, mua bất

Trang 20

động sản lớn, hay các nghiệp vụ liên quan đến hợp đồng thuê tài chính, thuêhoạt động…

- Số lượng tiền các số dư tài khoản: các tài khoản có số dư tiền lớn thường

có sai sót nhiều hơn so với tài khoản có số dư tài khoản nhỏ, và do vậy rủi rotiềm tàng cao hơn Ví dụ, kiểm toán viên nên dành nhiều thời gian để kiểm toánhàng tồn kho hơn là kiểm toán các khoản bảo hiểm chưa được hưởng vì hàngtồn kho chứa đựng nhiều sai sót trọng yếu hơn

Thông thường, hiện nay, kiểm toán viên thường xây dựng một mức rủi rotiềm tàng cao, khoảng trên 50%, cả trong trường hợp tốt nhất, và cả mức 100%ngay khi kiểm toán viên phát hiện được bất kỳ một sai sót trọng yếu nào

Bảng 1.4: Về trình tự đánh giá rủi ro tiềm tàng

Tổng Công Ty

Công Ty A

Toàn Bộ BCTC

Công Ty CCông Ty B

Khoản phải thu

Phải thu từ bán buôn

Phải thu từ bán

lẻ

Dự phòng phải thu khó đòi

Khách Hàng B

Trang 21

2.1.3 Đánh giá rủi ro kiểm soát

Trong hoạt động của doanh nghiệp, chức năng kiểm tra, kiểm soát luôn giữvai trò quan trọng trong quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệthống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Nhà quản lý sử dụng hệ thống kiểmsoát nội bộ như là công cụ để có thể đảm bảo những mục tiêu đã đặt ra có thểthực hiện được một cách hiệu quả, hiệu lực và có kinh tế Chính vì vậy, hệ thốngkiểm soát nội bộ ảnh hưởng rất nhiều đến các thông tin trình bày trên các báocáo tài chính

Một hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành một cách hiệu

quả sẽ giảm thiểu được rất nhiều các gian lận và sai sót có thể xảy ra Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC): “Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống các

chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu sau: bảo vệ tàisản của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin; bảo đảm việc thực hiệnchế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của các hoạt động.” Xuất phát từ đó, có thểkhẳng định rằng, bản chất của việc đánh giá rủi ro kiểm soát là việc kiểm toánviên tìm hiểu về hệ thống kiểm soát của khách hàng

Kiểm toán viên sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát là thấp, trung bình hoặc caotương ứng với mức độ phù hợp và hoạt động hữu hiệu của hệ thống kiểm soátnội bộ Một hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả thì tất nhiên hệ thốngấy phải đảm bảo được bốn mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, và khi đó thìnhững gian lận và sai sót mà doanh nghiệp không mong muốn sẽ giảm xuống

 Xét trên phương diện báo cáo tài chính:

Bằng chứng liên quan đến việc đánh giá rủi ro kiểm soát được coi là bằng

chứng tốt nhất để xem xét bản chất của môi trường kiểm soát mà có ảnh hưởngtới hệ thống thông tin kế toán Môi trường kiểm soát nhằm đảm bảo rằng cácchính sách kiểm soát được thiết kế trong doanh nghiệp được thực thi đúng đắn.Hiểu theo cách khác, môi trường kiểm soát giống như một hệ thống các chínhsách kiểm soát nhằm hạn chế, giảm thiểu nhất những rủi ro tiềm tàng có thể xảy

ra Ngược lại, nếu chỉ có một vài chính sách kiểm soát được thiết lập một cáchrời rạc, riêng rẽ thì rủi ro kiểm soát sẽ được đánh giá cao Các nhân tố ảnh

Trang 22

hưởng tới việc đánh giá rủi ro kiểm soát mà kiểm toán viên nên xem xét:

- Đặc thù về quản lý: Các nhà quản lý có quan điểm khác nhau thì việc thiết

kế các chính sách, chế độ quy định và cách thức kiểm tra cũng sẽ rất khác nhau.Nếu các nhà quản lý quan niệm rằng môi trường kiểm soát là một nhân tố quantrọng trong việc đạt được hiệu quả kinh doanh, khi đó họ sẽ không ngần ngại vớiviệc phải mất thời gian và chi phí để thiết kế các chính sách, thủ tục, quy địnhsao cho hợp lý, có hiệu quả và thực thi nhất đối với hoạt động của doanh nghiệpmình

- Việc thiết lập các chính sách về cơ cấu tổ chức: Ví dụ, một khách thểkiểm toán khi thiết lập được một chuỗi trách nhiệm giữa các phòng ban, cụ thể

là các phòng ban độc lập với nhau, hay trách nhiệm của các phòng ban này đốivới nhà quản lý cấp cao trong vai trò phát hiện, báo cáo và điều chỉnh các gianlận và sai sót, thì môi trường kiểm soát sẽ hiệu quả hơn nhiều so với một kháchthể kiểm toán không thiết lập được cơ cấu tổ chức như vậy

Các chính sách ủy quyền được xác định một cách đúng đắn: Việc thiết lậpcác chính sách có liên quan tới việc xây dựng sự ủy quyền trong quản lý cũngđược coi là yếu tố ảnh hưởng tích cực tới môi trường kiểm soát, vì sự ủy quyềnđúng đắn đảm bảo các nghiệp vụ, hoạt động trong đơn vị được thực hiện theođúng quy định đã được đặt ra

- Sự có mặt của bộ phận kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp: Kiểm toánnội bộ là một bộ phận độc lập được thiết kế trong doanh nghiệp để tiến hànhcông việc kiểm tra và đánh giá các công việc phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ.Chính vì vậy, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giáthường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quảcủa việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ Bộphận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có được những thôngtin kịp thời và xác thực về các hoạt động trong doanh nghiệp hay chất lượng củahoạt động kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh, bổ sung các quy chế kiểm soátthích hợp và hiệu quả

- Hệ thống các chính sách về công nghệ thông tin được thiết kế đúng đắn:

Trang 23

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ thì việc kiểm soát

thông tin trong doanh nghiệp đã trở nên dễ dàng hơn, vừa tiết kiệm được thờigian, vừa giảm được chi phí nhưng vẫn đảm bảo được tính chính xác và kịp thời

- Các chính sách về nguồn nhân lực: Khi các chính sách về nguồn nhân lựcđược thiết kế nhằm hướng tới cải thiện năng lực quản lý và năng lực của nhânviên, cũng như các chính sách liên quan đến việc tuyển dụng và đào tạo nhânviên thì việc kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp sẽ hiệu quả hơn Vì sự pháttriển của doanh nghiệp luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên Nhân viên có nănglực và đáng tin cậy thì quá trình kiểm soát có thể không cần thực hiện mà vẫnđảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống kiểm soát nội bộ

Quá trình đánh giá rủi ro được thiết lập đúng đắn: Khi nhà quản lý xâydựng được quy trình đánh giá rủi ro có ảnh hưởng tới quá trình xử lý thông tintrên báo cáo tài chính thì việc đánh giá và thiết kế các hoạt động thích hợp đểnhằm giảm thiểu các yếu tố rủi ro này sẽ tốt hơn và do vậy, môi trường kiểmsoát cũng sẽ hoạt động hiệu quả hơn

- Sự hoạt động độc lập của ủy ban kiểm toán: Bộ phận kiểm toán độc lập làthành phần của ủy ban kiểm toán Khi ủy ban kiểm toán độc lập với Ban Giámđốc hay bộ phận kế toán thì bộ phận kiểm toán nội bộ mới không bị giới hạnphạm vi hoạt động và có quyền hạn đủ cao để thực hiện công việc đánh giá,kiểm soát, kiểm tra các hoạt động trong doanh nghiệp một cách hiệu quả

Tóm lại: có thể nói rằng, rủi ro kiểm soát trên phương diện báo cáo tài chính

được đánh giá ở mức độ thấp khi mà môi trường kiểm soát được thiết kế và vậnhành hiệu quả, có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu, vàdựa vào đó, kiểm toán viên có thể thực hiện được các thử nghiệm kiểm soát làm

cơ sở đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát Ngược lại, nếu môi trường kiểm soáthoạt động không hiệu quả, hay được thiết kế không đầy đủ, và kiểm toán viêncũng không được cung cấp đầy đủ các thông tin để đánh giá môi trường kiểmsoát, thì tùy theo mức độ, kiểm toán viên có thể đánh giá rủi ro kiểm soát “trungbình” hoặc “cao”

Trang 24

 Xét trên phương diện số dư tài khoản và các nghiệp vụ

Rủi ro kiểm soát trên phương diện số dư tài khoản và nghiệp vụ là loại rủi

ro kiểm toán do còn tồn tại các sai phạm trọng yếu liên quan đến các cơ sở dẫnliệu về các số dư tài khoản, nghiệp vụ mà không không được phát hiện hay sửachữa bởi hệ thống kiểm soát nội bộ

Nếu việc đánh giá rủi ro kiểm soát trên phương diện báo cáo tài chính yêucầu kiểm toán viên phải có được hiểu biết sơ bộ về đặc điểm kinh doanh củakhách hàng thì việc đánh giá rủi ro kiểm soát trên phương diện số dư tài khoảnhay nghiệp vụ đòi hỏi kiểm toán viên phải có hiểu biết chi tiết và cụ thể hơn vềcác đặc điểm hoạt động kinh doanh này

Khi đánh giá rủi ro kiểm soát trên phương diện này, ngoài những yếu tốđược kể đến khi đánh giá trên phương diện báo cáo tài chính thì yếu tố mà kiểmtoán viên cần quan tâm nhiều nhất đó là các thủ tục kiểm soát Các thủ tục kiểmsoát do các nhà quản lý xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc bấtkiêm nhiệm, nguyên tắc phân công, phân nhiệm và chế độ ủy quyền

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 về Đánh giá rủi ro và kiểmsoát nội bộ thì: “Kiểm toán viên phải hiểu biết các thủ tục kiểm soát của đơn vị

để xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán, kiểm toánviên dựa trên những hiểu biết của mình về môi trường kiểm soát để xác địnhnhững thủ tục kiểm soát đã được đơn vị thiết lập và những thủ tục còn thiếu, cầnthiết phải bổ sung thêm.” Việc đánh giá rủi ro kiểm soát trên số dư tài khoản vànghiệp vụ được thực hiện ở cả bước lập kế hoạch kiểm toán, bước thực hiện thửnghiệm kiểm soát và bước thực hiện các thử nghiệm cơ bản

Trong bước lập kế hoạch kiểm toán, rủi ro kiểm soát được đánh giá dựatrên: Thứ nhất, là rủi ro đã được đánh giá trên phương diện báo cáo tài chính.Thứ hai, là hiểu biết của kiểm toán viên về hệ thống thông tin kế toán và kiểmsoát nội bộ có liên quan Và thứ ba, là việc đánh giá các chính sách kiểm soát cóảnh hưởng tới cơ sở dẫn liệu đối với số dư tài khoản và nghiệp vụ cũng như hiệuquả trong việc thiết kế các thủ tục kiểm soát nhằm đảm bảo tính chính xác củacác cơ sở dẫn liệu này Nếu các thủ tục kiểm soát được thiết kế đối với các số dư

Ngày đăng: 15/10/2014, 07:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1:Mối quan hệ giữa các loại rủi ro: - Rủi ro kiểm toán và hoạt động liên tục
Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro: (Trang 9)
Bảng 1.2:Ma trận rủi ro - Rủi ro kiểm toán và hoạt động liên tục
Bảng 1.2 Ma trận rủi ro (Trang 10)
Bảng 2: Ví dụ mối quan hệ giữa rủi ro và bằng chứng - Rủi ro kiểm toán và hoạt động liên tục
Bảng 2 Ví dụ mối quan hệ giữa rủi ro và bằng chứng (Trang 10)
Bảng 1.4: Về trình tự đánh giá rủi ro tiềm tàng - Rủi ro kiểm toán và hoạt động liên tục
Bảng 1.4 Về trình tự đánh giá rủi ro tiềm tàng (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w