MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN HÀNG HÓA 2 1.1 Đặc điểm của hàng hóa với tổ chức kiểm toán hàng hóa 2 1.1.1 Những đặc điểm chung về kiểm toán hàng hóa 2 1.1.2. Tổ chức công tác kế toán hàng hóa. 3 1.1.2. 1. Tổ chức chứng từ kế toán 3 1.1.2. 2 Tổ chức tài khoản kế toán 5 1.1.2. 3. Tổ chức số kế toán 6 1.1.2.4. Các phương pháp tính giá và quy trình hạch toán hàng hóa. 6 1.2. Áp dụng thủ tục kiểm toán hàng hóa với vấn đề kiểm toán báo cáo tài chính 8 1.2.1. Chức năng của hàng hóa. 8 1.2.1.1. Chức năng nhập mua vật tư, hàng hoá. 8 1.2.2. Mục tiêu kiểm toán chu trình hàng hóa 9 1.2.2. 1 Mục tiêu hợp lý chung 9 1.2.2. 2. Mục tiêu chung khác 9 1.2.3. Chứng từ kiểm toán trong chu trình hàng hóa 10 1.3. Quy trình kiểm toán hàng hóa. 10 1.3.1. Lập kế hoạch kiểm toán 10 1.3.2. Thực hiện kiểm toán 16 1.3.2.1. Thực hiện thu tục kiểm soát. 18 1.3.2.2. Thực hiện thủ tục phân tích 20 1.3.2.3. Thực hiện các thủ tục kiểm toán chi tiết. 23 1.3.2.3.1. Kiểm tra chi tiết nghiệp vụ hàng hóa 23 1.3.2.3.2. Kiểm tra chi tiết số dư hàng hóa 26 3. Kết thúc kiểm toán 36 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH SÀI GÒN AFC - CHI NHÁNH HÀ NỘI THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY A 38 2.1. Khái quát chung tình hình hoạt động kinh doanh của công ty kiểm toán và tư vấn tài chính Sài Gòn AFC - Chi nhánh Hà Nội 38 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty 38 2.1.2 Mô hình tổ chức và cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty AFC. 43 2.1.3 – Quy trình kiểm toán chung được thực hiện tại công ty kiểm toán và tư vấn tài chính Sài Gòn AFC 48 2.2 Tổ chức thực hiện kiểm toán chu trình hàng hóa của công ty kiểm toán và tư vấn tài chính Sài Gòn AFC - Chi nhánh Hà Nội 51 2.2.1. Chương trình kiểm toán của Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Sài Gòn AFC - Chi nhánh Hà Nội 53 2.2.1. 1. Chương trình kiểm toán chung 53 2.2.1.2. Chương trình kiểm toán hàng hóa 55 2.2.2. Lập kế hoạch kiểm toán chu trình hàng hóa 62 2.2.2.1. Chuẩn bị kiểm toán 62 2.2.2.1.1. Tìm hiểu khách hàng 62 2.2.2.1.2. Đánh giá trọng yếu và rủi ro 71 2.2.2.2.1. Kiểm tra chi tiết nghiệp vụ 75 2.2.2.2.2. Kiểm tra chi tiết số dư 84 2.2.2.2.2.1. Kiểm kê hàng hóa của công ty A 84 2.2.2. 3.2.2. Kiểm tra chi tiết việc tính giá xuất nguyên vật liệu 88 2.3.2.3. Kiểm tra chi tiết công tác tập hợp chi phí sản xuất, tính giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ và tính giá thành sản phẩm. 89 2.3 Kết thúc kiểm toán chu trình hàng hóa 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 LỜI NÓI ĐẦU Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán. Đối tượng kiểm toán tổ chức là Bảng khai tài chính. Bộ phận quan trọng của những bảng khai này là báo cáo tài chính. Kiểm toán báo cáo tài chính là sự tổng hợp kết quả kiểm toán của cả chu trình nghiệp vụ kinh tế riêng biệt. Trên cơ sở đó để đưa ra những kết luận về báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp lý không mắc sai sót nghiêm trọng trên các khía cạnh trọng yếu. Việc thực hiện Kiểm toán báo cáo tài chính là cơ sở để đưa ra ý kiến khách quan, trung thực về báo cáo tài chính, cung cấp cho các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, khách hàng cũng như những người quan tâm, cơ quan chủ quản của Nhà nước những thông tin đáng tin cậy. Việc xác định giá trị hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp tới giá vốn hàng bán và do vậy có ảnh hưởng trọng yếu tới lợi nhuận thuần trong năm. Mà công việc xác định chất lượng, tình trạng và giá trị hàng hóa luôn là công việc khó khăn và phức tạp hơn hầu hết các tài sản khác. Có rất nhiều khoản mục hàng hóa khó phân loại và định giá. Chính vì thế thực hiện tốt việc Kiểm toán chu trình hàng hóa trong Kiểm toán báo cáo tài chính cho phép công ty kiểm toán tiết kiệm được thời gian, chi phí và nâng cao được hiệu quả kiểm toán. Qua đây giúp cho doanh nghiệp thấy được những sai sót, yếu kém trong công tác kế toán và công tác quản lý và xác định đúng trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiện nghiệp vụ đối với Nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng như vậy,nhóm chúng em đã chọn đề tài: " Áp dụng thủ tục kiểm toán hàng hóa tại Công ty Kiểm toán và tư vấn tài chính Sài Gòn AFC – Chi nhánh Hà Nội ". Đề tài gồm 2 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm toán hàng hóa Chương 2: Thực trạng kiểm toán hàng hóa tại Công ty Kiểm toán và Tư vấn tài chính Sài Gòn AFC – Chi nhánh Hà Nội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
- -BÀI TIỂU LUẬN KIỂM TOÁN PHẦN 2
ĐỀ TÀI :
ÁP DỤNG THỦ TỤC KIỂM TOÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG
TY KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH SÀI GÒN AFC - CHI NHÁNH HÀ NỘI THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY A
GIÁO VIÊN HD : TH.S LÊ THỊ HỒNG HÀ SINH VIÊN TH : NHÓM
LỚP : CDKT13ATH
THANH HÓA, THÁNG 06 NĂM 2014.
Trang 2TT HỌ VÀ TÊN MSSV LỚP GHI CHÚ 1
2
3
4
5
6
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
MỤC LỤC
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán Đối tượng kiểm toán tổ chức là Bảng khai tài chính Bộ phận quan trọng của những bảng khai này là báo cáo tài chính Kiểm toán báo cáo tài chính là sự tổng hợp kết quả kiểm toán của cả chu trình nghiệp vụ kinh tế riêng biệt Trên cơ sở đó để đưa ra những kết luận về báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp lý không mắc sai sót nghiêm trọng trên các khía cạnh trọng yếu Việc thực hiện Kiểm toán báo cáo tài chính là cơ sở để đưa ra ý kiến khách quan, trung thực về báo cáo tài chính, cung cấp cho các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, khách hàng cũng như những người quan tâm, cơ quan chủ quản của Nhà nước những thông tin đáng tin cậy
Việc xác định giá trị hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp tới giá vốn hàng bán và
do vậy có ảnh hưởng trọng yếu tới lợi nhuận thuần trong năm Mà công việc xác định chất lượng, tình trạng và giá trị hàng hóa luôn là công việc khó khăn và phức tạp hơn hầu hết các tài sản khác Có rất nhiều khoản mục hàng hóa khó phân loại và định giá Chính vì thế thực hiện tốt việc Kiểm toán chu trình hàng hóa trong Kiểm toán báo cáo tài chính cho phép công ty kiểm toán tiết kiệm được thời gian, chi phí và nâng cao được hiệu quả kiểm toán Qua đây giúp cho doanh nghiệp thấy được những sai sót, yếu kém trong công tác kế toán và công tác quản lý và xác định đúng trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiện nghiệp vụ đối với Nhà nước
Nhận thức được tầm quan trọng như vậy,nhóm chúng em đã chọn đề tài:
" Áp dụng thủ tục kiểm toán hàng hóa tại Công ty Kiểm toán và tư vấn tài chính Sài Gòn AFC – Chi nhánh Hà Nội "
Đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm toán hàng hóa
Chương 2: Thực trạng kiểm toán hàng hóa tại Công ty Kiểm toán và Tư vấn tài chính Sài Gòn AFC – Chi nhánh Hà Nội
Trang 5CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN HÀNG HÓA
1.1 Đặc điểm của hàng hóa với tổ chức kiểm toán hàng hóa
1.1.1 Những đặc điểm chung về kiểm toán hàng hóa
Hàng hóa là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới dạng vật chất cụ thể dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hàng hóa thường bao gồm: Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá ngoài ra còn có một
số vật tư hàng hoá thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng vì những lý do nhau nên không nằm trong kho như: hàng đang đi đường, hàng gửi bán, Chu kỳ vận động của hàng hóa từ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sang sản phẩm dở dang đến thành phẩm, hàng hoá liên quan đến các khoản mục trên báo cáo tài chính ; liên quan tới bảng cân đối kế toán như : công cụ dụng cụ, hàng đang đi đường, hàng giử bán, thành phẩm hàng hoá, dự phòng giảm gía hàng hóa,… ; Với báo cáo kết quả kinh doanh như các chỉ tiêu: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất chung, giá vốn hàng bán, … Đây là những chỉ tiêu cơ bản để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp về hiệu quả sản xuất kinh doanh, triển vọng cũng như những khó khăn trong sản xuất, vì những lý do đó
mà các chỉ tiêu này thường bị phản ánh sai lệch
- Hàng hóa thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một số doanh nghiệp
- Các khoản mục hàng hóa thường rất đa dạng và có thể chịu ảnh hưởng lớn bởi hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình thông qua các biểu hiện như bị
hư hỏng trong thời gian nhất định, dễ bị lỗi thời
- Giá trị của hàng hóa thường được cộng (hoặc trừ) các chi phí thu mua, khoản giảm giá bớt giá
- Có nhiều phương pháp đánh giá và tính giá thực tế xuất hàng hóa, vì thế nên khác nhau về giá hàng hóa thực tế và lợi nhuận của kỳ kinh doanh
Những đặc điểm này của hàng hóa có ảnh hưởng tới công tác kiểm toán:
Trang 6- Hàng hóa trong doanh nghiệp thường ở các địa điểm khác nhau và thậm chí còn do nhiều nhiều bộ phận quản lý Do vậy việc quản lý, bảo quản và kiểm soát vật chất sẽ gặp nhiều khó khăn, phức tạp, dễ nhầm lẫn, sai sót và có thể tồn tại gian lận
- Quá trình đánh giá hàng hóa gặp nhiều khó khăn và phức tạp Cụ thể trong đánh giá sản phẩm dở dang, phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm có thể mang tính chủ quan, không đúng kỳ đã dẫn đến những sai phạm trọng yếu giữa các niên độ kế toán Đối với doanh nghiệp áp dụng nhiều phương pháp tính giá trị thực tế cho nhiều loại hàng hóa khác nhau làm tăng khối lượng công việc kiểm toán
- Tính đa dạng về chủng loại và tính chất đặc thù của hàng hóa cũng gây khó khăn nhất định trong quá trình quan sát, đánh giá và thực hiện những thủ tục khảo sát cần thiết, nhiều trường hợp đòi hỏi phải cần đến chuyên gia (ví dụ: vàng, bạc, đá quý, hoá chất )
1.1.2 Tổ chức công tác kế toán hàng hóa.
1.1.2 1 Tổ chức chứng từ kế toán
Tổ chức chứng từ kế toàn là tổ chức vận dụng phương pháp chứng từ trong ghi chép kế toán, bao gồm công việc thiết kế khối lượng công tác hạch toán kế toán ban đầu trên hệ thống chứng từ hợp lý, hợp pháp theo quy trình luân chuyển nhất định Trong công tác tổ chức chứng từ hàng hóa tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp để xây dựng danh mục chứng từ hàng hóa cho phù hợp Song chứng từ được sử dụng trong chu trình hàng hóa bao gồm các loại:
Trang 7- Chứng từ nhập mua vật tư, hàng hoá bao gồm: Phiếu đề nghị mua hàng; hoá đơn nhà cung cấp; phiếu kiểm nhận hàng mua; phiếu nhập kho và thẻ kho
- Chứng từ xuất kho cho sản xuất gồm có: Phiếu yêu cầu lĩnh vật tư; phiếu xuất kho vật tư; vận đơn (nếu có) và thẻ kho
Quy trình luân chuyển chứng từ hàng hóa cho sản xuất:
- Chứng từ xuất bán thành phẩm, hàng hoá: Đơn đặt mua hàng (của khách hàng); vận đơn
Lập phiếu nhập kho
Kiểm tra và nhập kho
Ghi sổ và lưu chứng từ
Nhân viên P vật tư
Thủ kho
Trang 8Quy trình luân chuyển chứng từ xuất bán hàng hoá, thành phẩm:
1.1.2 2 Tổ chức tài khoản kế toán
Tổ chức tài khoản kế toán là tổ chức vận dụng tài khoản trong phương pháp đối ứng để xây dưng hệ thống tài khoản để hệ thống hoá các chứng từ kế toán theo thời gian và theo đối tượng Để phản ánh đầy đủ các thông tin liên quan đến hàng hóa đơn vị phải xây dựng một bộ tài khoản sao cho bao quát các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
+TK 151: Hàng đang đi đường
+TK152: Nguyên liệu, vật liệu
+TK159: Dự phòng giảm giá hàng hóa
+TK133: Thuế GTGT được khấu trừ
+TK331: Phải trả cho người bán
Thu tiền hoặc theo dõi nợ
Xuất khoGhi sổ và lưu chứng từ
Trang 9+TK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+TK627: Chi phí sản xuất chung
+Theo hình thức nhật ký chung:
- Số kế toán tổng hợp: nhật ký chung, sổ cái tài khoản
- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết nhập (xuất) vật tư hàng hoá ; sổ chi tiết chi phí sản xuất ; sổ chi tiết bán hàng
+Theo hình thức Nhật ký chứng từ:
- Nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ cái tài khoản
- Một số sổ chi tiết khác
+Theo hình thức Chứng từ ghi sổ:
- Sổ kế toán tổng hợp:sổ cái, chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết nhập (xuất) vật tư, hàng hoá ; sổ chi tiết chi phí sản xuất ; sổ chi tiết bán hàng
1.1.2.4 Các phương pháp tính giá và quy trình hạch toán hàng hóa
Trang 10kho cho tất cả các loại hàng hóa hoặc cho riêng từng loại:
- Phương pháp tính giá thực tế đích danh
- Phương pháp giá bình quân gia quyền
- Phương pháp giá nhập trước xuất trước (FIFO)
- Phương pháp giá nhập sau xuất trước (LIFO)
Mỗi phương pháp tính giá thực tế của vật tư, hàng hoá, đều có những ưu điểm nhất định Mức độ chính xác và độ tin cậy của mỗi phương pháp tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và năng lực nghiệp vụ của các kto viên và trang thiết bị xử
lý thông tin của doanh nghiệp
Tổ chức hạch toán hàng hóa:
Tổ chức hạch toán hàng hóa là thiết kế khối lượng công tác hạch toán trên
hệ thống các loại chứng từ, sổ chi tiết, sổ tổng hợp và báo cáo kế toán
+ Hạch toán chi tiết hàng hóa:doanh nghiệp có thể áp dụng một trong ba phương pháp sau:
- Phương pháp thẻ song song
- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Phương pháp sổ số dư
+ Hạch toán tổng hợp hàng hóa: Để hạch toán hàng hóa kế toán có thể áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên hoặc phương pháp kiểm kê định kỳ Việc áp dụng phương pháp nào tuỳ thuộc đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp vào yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của kế toán viên cũng như quy định của chế độ kế toán hiện hành
- Phương pháp kê khai thường xuyên: Là phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình biến động của hàng hóa một cách thường xuyên liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng hóa
- Phương pháp kiểm kê định kỳ: là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên liên tục về tình hình biến động của vật tư, hàng hoá trên các tài khoản phản từng loại hàng hóa mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối
kỳ trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lượng tồn thực tế và lượng xuất thực tế
1.2 Áp dụng thủ tục kiểm toán hàng hóa với vấn đề kiểm toán báo cáo tài
Trang 11chính
1.2.1 Chức năng của hàng hóa.
Một doanh nghiệp có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt đối với hàng hàng hóa đòi hỏi phải xây dựng các bộ phận (hoặc cá nhân) riêng biệt thực hiện những công việc cơ bản như: Mua hàng, kiểm nhận hàng, nhập và lưu, xuất cho sản xuất và tiêu thu Tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn
vị để tổ chức các phòng ban cho phù hợp, tuy nhiên phải đảm bảo tính độc lập hoạt động của các bộ phân (hay cá nhân) nhằm đảm bảo công tác kểim tra, kiểm soát của các cấp quản lý đối với từng bộ phận, từng cá nhân có nhiều cách thức
tổ chức các phòng ban khác nhau song chung quy lại chu trình hàng tồn bao gồm 3 chức năng sau:
1.2.1.1 Chức năng nhập mua vật tư, hàng hoá
Trong chức năng này gồm các công việc sau:
- Mua vật tư hàng hoá: Khi có nhu cầu mua hàng thì các bộ phận có liên quan sẽ lập phiếu đề nghị mua hàng Sau khi phiếu đề nghị mua hàng được phê chuẩn bộ phận cung ứng sẽ lập đơn đặt hàng và gửi cho nhà cung cấp đã lựa chọn:
+ Phiếu yêu cầu mua hàng: Do bộ phận có trách nhiệm lập (như bộ phận vật tư) Phiếu được lập theo kế hoạch sản xuất hoặc lập đột xuất
+ Đơn đặt hàng: Căn cứ vào phiếu đề nghị mua hàng đã được phê chuẩn của Giám đốc (hoặc người phụ trách) bộ phận mua hàng lập đơn đặt hàng để gửi cho nhà cung cấp Mẫu của đơn đặt hàng được thiết kế sẵn có đầy đủ các cột cần thiết nhằm hạn chế tối đa các sai sót
- Nhận hàng: Khi bên nhà cung cấp giao hàng bộ phận nhận hàng sẽ dựa trên đơn đặt hàng để kiểm tra về mẫu mã, số lượng, chủng loại, quy cách, phẩm chất và thời gian gia hàng, cuối cùng trưởng nhóm phải lập biên bản kiểm nhận hàng Bộ phận nhận hàng phải độc lập với bộ phận kho và bộ phận kế toán
- Sau khi hàng được kiểm nhận bộ phận cung ứng viết phiếu nhập kho dựa trên biên bản kiểm nhận hàng Hàng được giao xuống kho và lưu kho
1.2.2 Mục tiêu kiểm toán chu trình hàng hóa
Trang 121.2.2 1 Mục tiêu hợp lý chung
Mục tiêu hợp lý chung bao hàm việc xem xét, đánh giá tổng thể số tiền ghi trên các khoản mục trên cơ sở cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý và được thực hiện thông qua khảo sát thực tế ở khách thể kiểm toán Do đó đánh giá sự hợp lý chung hướng tới khả năng sai sót cụ thể của các số tiền trên khoản mục (theo giá trình kiểm toán tài chính) Đối với chu trình hàng hóa có thể cụ thể hoá đối với các hàng hoá và bảng cân đối kế toán ; hay có thể nói: Các số dư hàng hóa trên bảng cân đối kế toán và các bảng kê hàng hóa là hợp lý
- Mọi hàng hoá đều bao hàm trong Bảng cân đối kế toán (trọn vẹn)
- Các tài sản ghi trong mục hàng hóa thuộc quyền sở hữu của đơn vị và không thuộc tài sản thế chấp, cầm cố hoặc tạm vay (quyền và nghĩa vụ)
Thứ nhất:Giá trị hàng hóa phù hợp với hiện vật
Thứ hai:Giá cả hàng hoá được tính theo giá thực tế Các lần điều chỉnh giá được phản ánh đúng và hàng hoá mất giá được điều chỉnh (định giá bà phân bổ)
- Số tổng cộng các khoản mục hàng hóa (tính chính xác cơ học)
Thứ nhất:Phân loại đúng hàng hóa theo các nhòm: Nguyên vật liệu, công trình dở dang, thành phẩm và chi tiết theo quy định
Thứ hai:Thuyết trình rõ các hàng hoá cầm cố, chuyển nhượng, tạm gửi hoặc giữ hộ (Phân loại và trình bày)
Các mục tiêu được cụ thể hoá cho chu trình kiểm toán hàng hóa ở trên được gọi là các mục tiêu kiểm toán đặc thù Đối với mỗi chu trình kiểm toán có các mục tiêu đặc thù riêng, tuy nhiên với mỗi cuộc kiểm toán cụ thể thì mục tiêu riêng của chu trình hàng hóa có thể là khác nhau Vì vây, căn cứ vào từng trường
Trang 13hợp cụ thể mà kiểm toán viên định ra các mục tiêu kiểm toán cụ thể
1.2.3 Chứng từ kiểm toán trong chu trình hàng hóa
Chứng từ kiểm toán là nguồn tư liệu sẵn có cung cấp cho kiểm toán viên Chứng từ kiểm toán có thể là các tài liệu kế toán hoặc cũng có thể là tài liệu khác Trong chu trình hàng hóa các loại chứng từ kiểm toán thường bao gồm:
1.3 Quy trình kiểm toán hàng hóa
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, để thu nhập bằng chứng kiểm toán đầy
đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực hợp lý của thông tin trên báo cáo tài chính đồng thời đạt được hiệu quả kinh tế cho công ty, kiểm toán viên phải xây dựng quy trình kiểm toán cho cuộc kiểm toán đó Thông thường quy trình kiểm toán được thực hiện qua 3 giai đoạn: Lập
kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán: thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán Trong quy trình kiểm toán chung bao gồm quy trình kiểm toán 1 chu trình cụ thể vì các chu trình kiểm toán như là tế bào cấu thành nên cuộc kiểm toán Sau đây là các giai đoạn trong quy trình kiểm toán hàng hóa:
1.3.1 Lập kế hoạch kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 quy định: ”Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo quát hết các khía cạnh trong yếu của cuộc kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng hạn”
Do đó việc lập kế hoạch kiểm toán gắn với hàng hóa được triển khai qua các bước:
(1) Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Trong quá trình chuẩn bị cho 1 cuộc kiểm toán báo cáo tài chính (trong đó
có kiểm toán chu trình hàng hóa) công ty kiểm toán tiến hành các công việc cần thiết như: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán
(2)Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi đánh giá khả năng kiểm toán của khách hàng và thực hiện các công
Trang 14việc chuẩn bị, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch tổng quát Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam chuẩn mực số 300 quy định kiểm toán viên cần hiểu biết về ngnàh nghề, công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu hệ thống kinh tế, kiểm soát nội bộ và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán Trong giai đoạn này kiểm toán viên thực hiện các công việc sau:
- Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng
- Xem xét lại kết qua kiểm toán của lần kiểm toán trước
- Tham quan nhà xưởng
- Nhận diệnc các bên có liên quan
- Dự kiến nhu cầu chuyên gia
(3)Thu nhập thông tin về nghĩa pháp lý của khách hàng như xem xét: Giấy phép kinh doanh, điều lệ công ty, biên bản các cuộc họp hội đồng quản trị và ban giám đốc, xem xét các hợp đồng, các cam kết quan trọng…
(4)Sử dụng các thủ tục phân tích
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam chuẩn mực số 520 quy định: ”kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục phân tich khi lập kế hoạch kiểm toán và giai đoạn soát xét tổng thể báo cáo tài chính “ Sau khi có các bằng chứng về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng thông qua thu nhập thông tin cơ
sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toán viên sử dụng các thủ tục phân tích để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch Qua việc sử dụng thủ tục phân tích có thể cho phép kiểm toán viên nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh của năm nay so với năm trước và xu hướng biến động của các thông tin tài chính Trong kiểm toán chu trình hàng hóa, việc sử dụng các thủ tục phân tích là rất cần thiết Sự biến động của các số liệu hàng hóa có thể dễ dàng phát hiện thông qua sử dụng thủ tục phân tích Một số thủ tục phân tích được sử dụng trong kiểm toán hàng hóa như:
- Phân tích ngang (phân tích xu hướng)
+So sánh số dư hàng hóa năm nay so với năm trước, so sánh số dư hàng hóa thực tế với định mức
+So sánh số dư của các khoản mục trong chu trình Hàng hóa (số dư thành
Trang 15phẩm nguyên vật liệu hàng hoá ) giữa các quý
+So sánh giá thành đơn vị của kỳ này với kỳ trước hoặc đối chiếu giá thành đơn vị thực tế với giá thành kế hoạch Thủ tục này cho phép kiểm toán viên phát hiện sự tăng hay giảm đột ngột của giá thành đơn vị sản phẩm sau khi đã loại bỏ ảnh hưởng của thay đổi giá cả Trong trường hợp này kiểm toán viên phải thiết
kế các thủ tục kiểm toán chi tiết các khoản mục chi phí sản xuất nhằm tìm ra nguyên nhân của sự biến động đó
+So sánh tổng chi phí sản xuất thực tế kỳ này với các kỳ trước Thông qua việc so sánh chi phí sản xuất thực tế kỳ này với kỳ trước để có thể thấy được sự biến động của tổng chi phí sản xuất, nếu sự biến động đó là quá lớn và bát thường thì kiểm toán viên cần phải xem xét những khoản mục chi phí chủ yếu
và dễ có nhiều sai sót như:
Chi phí lao động trực tiếp; chi phí sản xuất chung
+Xem xét về hàng ế đọng, lỗi thời, thay đổi định mức dự trữ… giữ kỳ này với các kỳ trước
+Xem xét sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá của đơn vị với kỳ trước
và với toàn ngành…
+So sánh số dư hàng hóa với kỳ trước: mục đích của việc so sánh này để phát hiện sai số về hàng hóa thừa hoặc thiếu Kiểm toán viên tién hàng bằng cách tính tổng số dư trên các khoản mục hàng hóa kỳ này như: nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm (hàng hoá), hàng mua đang đi đường, hàng gửi bán so với số dư kỳ trước, để tìm hiểu những biến động bất thường và tìm ra sai phạm trong tài khoản đó Giả sử trị giá hàng hóa cuối kỳ này tăng đáng kể so với những kỳ trước đó thì kiểm toán viên phải xem xét đến những khoản mục chi tiết để tìm ra nguyên nhân của sự bất thường đó
Tuy nhiên khi so sánh số dư hàng hóa giữa các kỳ thực hiện cần phải loại trừ ảnh hưởng của biến động giá Nếu sau khi đã loại trừ sự biến động của giá
mà số dư hàng hóa kỳ này vẫn thay đổi bất thường so với kỳ trước thì phải xem xét lại nguyên nhân cụ thể
- Phân tích dọc (phân tích tỷ suất)
Trang 16+So sánh só dư hàng hóa trên doanh thu hoặc số dư hàng hóa trên giá vốn hàng bán của năm nay so với năm trước
+Xác định tỷ trọng của sản phẩm dở dang trên tổng số hàng hóa để so sánh năm nay với năm trước
+Kiểm toán viên có thể so soanh tỷ trọng của hàng hóa trên tổng tài sản lưu động giữa kỳ này và các kỳ trước để xem có sự biến động lớn nào không
tài sản lưu động Tổng tài sản lưu động
+So sánh hệ số quay vòng hàng hóa với các kỳ trước: Thủ tục này được áp dụng đối với khoản mục hàng hoá và thành phẩm tồn kho Nếu được áp dụng nhằm mục đích phát hiện những hàng hóa cũ kỹ và lạc hậu hoặc phát hiện những bất thường trong kinh doanh liên quan đến hàng hóa
(5)Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro
Căn cứ vào các thực hiện thu nhập được ở trên kiểm toán ước lượng mức sai phạm cho phép (mức trọng yếu) cho các khoản mục Việc phân bổ sẽ được thực hiện theo 2 chiều hướng mà các sai phạm có thể xảy ra là khai tăng hoặc
Trang 17khai giảm số dư khoản mục Việc phân bổ này phụ thuộc phần lớn vào kinh nghiệm của kiểm toán viên nên nó mang tính chất chủ quan
Xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau, khả năng kiểm toán viên đưa
ra nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính của doanh nghiệp là điều luôn
có thể xỷ ra, khả năng đó được gọi là rủi to kiểm toán Rủi ro cũng được đề cập tới rất nhiều lĩnh vực khác liên quan đến rủi ro kiểm toán như: rủi o tiềm tàng, rủi ro kiểm toán, rủi ro phát hiện theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam quy định trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán vien phải xác định rủi ro kiểm toán Xác định mức trọng yếu va rủi ro là công việc phắc tạp đòi hỏi trình độ và kinh nghiệm của kiểm toán viên
(6)Nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng trong chu trình hàng hóa
Theo chuẩn mực kiểm toán Quốc tế IAS 400 quy định: ”Kiểm toán viên cần phải có sự hiều biết phù hợp với hệ thống kiểm soát nội bộ để lạp ké hoạch kiểm toán và đề ra một số biện pháp kiểm toán có hiệu quả Kiểm toán vien cần phán đoán về mặt nghề nghiệp để đánh giá các rủi ro kiểm toán và để ra quy trình kiểm toán nhằm hạn chế rủi ro một cách có thể chấp nhận được” Khi tìm hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ của khách hàng thông qua việc tìm hiểu các cấn đề:
- Môi trường kiểm soát
- Hệ thống kế toán
- Các thủ tục kiểm soát
- Kiểm toán nội bộ
Sau khi có được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ thì tiến hành đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát cho từng chu trình hoặc chi tiết hơn cho từng khoản mục Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ cần tiến hành qua các bước sau:
- Nhận diện các mục tiêu kiểm soát
- Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù
- Nhạn diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ
- Đánh giá rủi ro kiểm soát
Trên đây là quy trình chung tiến hành đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ,
Trang 18khi thực hiện kiểm toán từng chu trình kiểm toán viên cần cụ thể hoá các bước cho phù hợp với từng chu trình và với tình hình thực tế của từng doanh nghiệp (7)Thiết kế các trắc nghiệm kiểm toán: là dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán càn thực hiện và thời gian hoàn thành các công việc đó phầntrình kiểm toán của 1 cuộc kiểm toán được thiết kế thành 3 phần: Trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích, trắc nghiệm trực tiếp số dư Trong kiểm toán chu trình hàng hóa cũng vậy, kiểm toán viên cũng phải thiết kế vụ thẻ các trắc nghiệm kiểm toán
Trắc nghiệm công việc: là cách thức và trình tự rà soát các nghiệp vụ hay đIún hình cụ thể trong quan hệ với sự tồn tại và hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ trước hết là hệ thống kế toán Trắc nghiệm công việc được sử dụng để xác định tính đúng đắn trong tổ chức hệ thống kế toán từ việc tuân thủ các quy định về việc lập, xét duyệt và kiểm tra, sử dụng chứng từ kế toán đến ghi sổ, cộng sổ chi tiết hoặc nhật ký đến kết chuyển các số phát sinh vào sổ cái (theo giáo trình kiểm toán tài chính ) Trắc nghiệm công việc bao gồm 2 loại: Trắc nghiệm đạt yêu cầu công việc (là trình toán) và trắc nghiệm độ vững chãi của công việc (là trình tự rà soát các thông tin về giá trị trong hành tự kiểm toán) Trắc nghiệm phân tích: là cách thức xem xét mối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của các chỉ tieu kinh tế thông qu việc kết hợp giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếu lôgic, cân đối… giữa các trị số của các chỉ tiêu hoặc các bọ phận cấu thành chỉ tiêu (theo giáo trình kiểm toán tài chính)
Trắc nghiệm trực tiếp số dư: là cách thức kết hợp các phương pháp cân đối, phân tích, đối chiếu trực tiếp với kiểm kê và điều tra thực tế để xác định độ tin cậy của các số dư cuối kỳ ở sổ cái ghi vào bảng cân đối tài sản hoặc báo cáo kết quả kinh doanh
Trong thiết kế trác nghiệm kế toán đối với hàng hóa, kiểm toán viên phải xác định: Thủ tục kiểm toán cần phải thực hiện đối với chu trình hàng hóa (quan sát vật chất, quan sát các hoạt động kiểm soát, phỏng vấn nhân viên về việc tuân thủ quy trình kiểm soát đã đề ra, đối chiếu sổ sách, so sánh các chỉ tiêu của một khoản mục…); xác định quy mô mẫu phải thực hiện (quy mô đối chiếu sổ sách,
Trang 19phạm vi quan sát ); lựa chọn các khoản mục chính được chọn (kiểm toán viên cần xác định các khoản mục được chọn theo một số tiêu thức nhất định như: Những nghiệp vụ thiếu số thứ tự, những nghiệp vụ đánh trùng số thứ tự, nghiệp
vụ có độ biến động lớn…); xác định thời gian thực hiện và kết thúc trắc nghiệm
đó
1.3.2 Thực hiện kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc
đã thiết kế hạch kiểm toán, cụ thể là thực hiện các công việc được thiết kế trong
3 loại trrắc nghiệm kiểm toán, trong giai đoạn này, tính nghệ thuật trong tổ chức bao trùm suôat quá trình Mặc dù vậy tính khoa học trong tổ chức vẫn đòi hỏi thực hành kiểm toán phải tôn trọng những nguyên tắc cơ bản sau:
- kiểm toán phải tuyệt đối tuân thủ quy trình kiểm toán đã xây dựng, trong mọi trường hợp kiểm toán viên không được tự ý thay đỏi quy trình
- Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chép những phát giác, những nhận định cho kết luận kiểm toán và loại trừ những ấn tượng, nhận xét ban đầu không chính xác về nghiệp vụ, các sự kiện thuộc đối tượng kiểm toán
- Định kỳ tổng hợp kết quả kiểm toán để nhận rõ mức độ thực hiện so với khối lượng công việc chung thường là trên các bảng kê chênh lệch và bảng kê xác minh
- Mọi điều chỉnh về nội dung, phạm vi, trình tự kiểm toán … đều phải có
ý kiến thống nhất của người phụ trách chung công việc kiểm toán, người ký thư mời và hợp đồng kiểm toán Mức độ pháp lý của những điều chỉnh này phải tương ứng với tính pháp lý trong đồng kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các trắc nghiệm vào xác minh các thông tin tài chính Trình tự kết hợp giữa các trắc nghiệm trước hết phụ thuộc vào kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên phải xem xét mức độ tin cậy của hệ thống để sử dụng quy mô các loại trắc nghiệm công việc cho phù hợp Đánh giá ban đầu (đánh giá ở phần trên) về hệ thống kiểm soát nội bộ là có hiệu lực thì kiểm toán viên sẽ tiếp tục thực hiện trắc
Trang 20nghiẹm đạt yêu cầu Với kết quả thu được là hệ thống kiểm soát này có hiệu lực thì kiểm toán viên sẽ sử dụng một số ít các trắc nghiệm độ vững chãi đẻ xác minh nhnữg sai sót có thể có Nếu kết quả cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ không có hiệu lực ngày từ đánh giá ban đầu hoặc sau khi sử dụng các trắc nghiệm đạt yêu cầu thì kiểm toán viên sẽ áp dụng các trắc nghiệm độ vững chãi với quy mô lớn Quy mô trình tự và các kết hợp cụ thể của các trắc nghiệm kiểm toán phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán của kiểm toán viên Trong 3 loại trắc nghiệm kiểm toán thì trắc nghiệm trực tiếp số dư phải chi phí lớn nhất nên khi thực hiện toán, trắc nghiệm phân tích Đối với kiểm toán chu trình hàng hóa, thường phải sử dụng cả 3 loại trắc nghiệm này, tuỳ thuộc vào thời gian thực hiện, đặc điểm cụ thể của cuộc kiểm toán để kiểm toán viêc sắp xếp trình tự và cách kết hợp các trắc nghiệm cho phù hợp và đem lại hiệu quả cao nhất có thể
Trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính với quy mô của đối tượng kiểm toán là rất lớn, vấn đề đặt ra là phải thực hiện cuộc kiểm toán như thế nào
để có thể thu nhập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có hiệu lực Nếu kiểm toán viên phải thực hiện kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì tốn rất nhiều thời gian Mặt khác hiệu quả kinh tế của cuộc kiểm toán là không đạt được Để giải quyết vấn đề đó kiểm toán viên sử dụng biện pháp chọn mẫu để kiểm toán, với yêu càu những mẫu chọn phải đại diện cho tổng thể Trong bát cứ cuộc kiểm toán báo cáo tài chính nào thì kiểm toán vien cũng đều phải thực hiện chọn mẫu và trong kiểm toán chu trình hàng hóa cũng vậy kiểm toán viến phải tién hàng chọn mẫu khi quyết định thực hiện các trắc nghiệm kiểm toán
1.3.2 1 Thực hiện thu tục kiểm soát
Thử nghiệm kiểm soát là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán
về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ Các thủ tục kiểm toán cụ thể được thực hiện trong việc kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bọ đối với chu trình hàng hóa bao gồm:
(1)Đối với quá trình mua hàng:
- Xem xét việc xử lý đơn đặt hàng có được thực hiện đúng theo quy trình
Trang 21được doanh nghiệp quy định không?
- Xem xét chữ ký trên đơn đặt mua hàng có thực sự đúng (đúng người, đúng cấp quản lý) không?
- Xem xét các thủ tục kiểm nhận ahngf có được thực hiện không và thực hiện có dúng trình tự không?
- Xem xét người chịu trách nhiệm mua hàng, kế toán, người kiểm nhận hàng mua và thủ kho có độc lập không và có kiêm nhiệm các công việc không? (2)Đối với quá trình nhập xuất kho:
- Khi kiểm tra quá trình nhập, xuất kho hàng, thông thường kiểm toán vien xem xét các thủ tục về nghiệp vụ nhập, xuất kho được tiến hành đúng theo nguyên tắc và quy định không?
- Việc tổ chức nhận hàng nhập kho và quá trình làm việc của ban kiểm nhânj hàng nhập kho có đúng trình tự không?
- Kiểm tra quá trình hoàn thành các thủ tục xuất kho hàng, từ việc lập các phiếu yêu cầu vật tư của bộ phận sản xuất, tiếp nhận các đơn đặt hàng của khách hàng, việc phê chuẩn hoặc ký lệnh xuất kho và lập phiếu xuất kho đến thực hiện nghiệp vụ xuất kho của thủ kho
- Việc theo dõi ghi số nhật ksy hàng vận chuyển ra ngoài cổng của bảo vệ
cơ quan, kiểm toán viên cũng cần phải xem xét
- Kiểm tra việc tôn trọng nguyên tắc kiểm tra chất lượng hàng nhập, xuất kho, quy trình làm việc và xác nhận chất lượng hàng nhập kho của bộ phận KCS (kiểm soát chất lượng sp)
- Xem xét tính độc lập của thủ kho với người giao hàng nhận hàng và các
kế toán viên phần hàng hóa
Quá trình kiểm tra kiểm soát của kiểm toán viên thực hiện thông qua việc quan sát và tiếp cận với nhân viên trực tiếp giám sát một số lần nhập xuất kho hàng để có thêm những bằng chứng cho đánh giá cơ cấu kiểm soát nghiệp vụ nhập, xuất kho,
(3)Đối với kiểm soát sản xuất và chi phí sản xuất
Thông thường ở doanh nghiệp sản xuất có một bộ phận kiểm soát sản xuất
Trang 22để xem xét số lượng chủng loại sản phẩm được sản xuất có đúng theo yêu cầu hay lệnh sản xuất không, kiểm soát chất lượng sản phẩm ở các phân xưởng, phế liệu cũng như kiểm soát quá trình bảo vệ và theo dõi nguyên vật liệu của phân xưởng sản xuất ngoài ra doanh nghiệp cũng có một cơ cấu kiểm soát nội bộ đối với kế toán chi phí sản xuất để chi phí sản xuất được tính đúng đủ hợp lý cho từ đối tượng
Khi kiểm tra cơ cấu kiểm soát sản xuất và chi phí sản xuất, kiểm toán viên cũng có thể tiến hành xem xét một số vấn đề củ yếu sau:
- Việc ghi chép của nhân viên thống kế phân xưởng tổ, đội, cũng như sự giám sát của quản đốc phân xưởng hoặc tổ trưỏng, đội trưởng có thường xuyền
- Xem xét phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang có tuân thủ đúng nguyên tắc và tính nhất quán giữa kỳ này so với kỳ trước hay không, cũng như
sự giám sát của người có trách nhiệm trong công việc đánh giá sản phẩm dở dang Quá trình khảo sát kiểm soát chi phí tiền lương ở chu kỳ tiền lương và nhân sự cũng là một phần liên quan dến khảo sát kiểm soát chi phí sản xuất
1.3.2 2 Thực hiện thủ tục phân tích
Sử dụng các thủ tục phân tích trong kiểm toán chu trình hàng hóa để phát hiện những biến động bất thường ở những khoản mục hàng hóa như: Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hoá, sản phẩm dở dang, thành phẩm Kết quả thu được sẽ giúp kiểm toán viên quyết định tăng hay giảm các thủ tục kiểm toán chi tiết đối với nghiệp vụ và số dư hàng hóa Quá trình thực hiện các thủ tục phân
Trang 23tích bao gồm các giai đoạn sau:
- Phát triển mô hình kết hợp các biến tài chính và biến hoạt động
- Xem xét tính độc lập, tính đáng tin cậy của các dữ liệu tài chính và hoạt động được sử dụng trong mô hình
- Tính toán giá trị ước tính và so sánh với giá trị ghi sổ
- Giải thích những chênh lệch đáng kể và minh chứng cho những vấn đề quan trọng
- Xem xét những phát hiện kiểm toán
(1)Phát triển một mô hình kết hợp các biến tài chính và biến hoạt động
- Khi phát triển mô hình, chúng ta xác định mối quan hệ giữa các biến tài chính và hoạt động
Ví dụ: Tổng chi phí nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm có thể được dự tính bao gồm các biến sau: Khối lượng và đơn giá của từng loại nguyên vật liệu dùng cho sản xuất
- Cần đánh giá xem việc phát triển một mô hình để dự đoán số dư tài khoản hiện thời hay để dự đoán thay đổi đối với số dư của năm trước Dự đoán thay đổi
so với năm trước có thể hiệu quả khi chúng ta đã kiểm toán số dư của năm ngoài
vì chúng ta có thể xoá bỏ khỏi mô hình những biến độc lập không thay đổi so với năm trước
Ví dụ: Chúng ta có thể tính chi phí nguyên vật liệu cho sản xuất sản phẩm
A của doanh nghiệp trong năm nay dựa trên định mức tiêu hao, số lượng sản phẩm A và tổng chi phí nguyê vật liệu được phân bổ cho sản phẩm A dở dang của năm nay và đơn giá nguyên vật liệu bình quân năm nay dựa trên đơn giá của năm trước sau khi loại bỏ biến động của giá
- Khi kết hợp các biến độc lập liên quan, mô hình sẽ cho ta nhiều thông tin hơn và vì vậy dự đoán của ta sẽ chính xác hơn Nếu đơn giản hoá qua nhiều mô hình sẽ làm đơn giản hoá dự đoán, vì vậy cũng sẽ đơn giản hoá tương quan so sánh dẫn đến mô hình có thể chỉ cung cấp được những bằng chứng hạn chế
- Có thể tính chính xác cho dự đoán bằng cách phát triển mô hình từ những
dữ liệu được phân tích chi tiết hơn
Trang 24(2) Xem xét tính độc lập và tính đáng tin cậy của dữ liệu tài chính và dữ liệu hoạt động
- Tính độc lập và tính đáng tin cậy của dữ liệu tài chính và dữ liệu hoạt động sử dụng trong mô hình này có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chính xác dự đoán, vì thế cũng có ảnh hưởng tới bằng chứng kiểm toán thu nhận được từ thủ tục phân tích
- Để đánh giá tính đáng tin cậy của dữ liệu, cần xem xét liệu:
+Dữ liệu xuất phát từ các nguồn độc lập ngoài doanh nghiệp hay từ những nguồn trong doanh nghiệp
+Những nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp có độc lập với người chịu trách nhiệm cho giá trị được kiểm toán hay không
+Dữ liệu có được kiểm toán theo các thủ tục kiểm toán trong năm nay và năm trước hay không
+Có phát triển những dự tính sử dụng dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau hay không
(3)Tính toán ra một giá trị ước tính và so sánh giá trị ghi sổ
Theo mô hình đã xây dựng và các đặc tính của dữ liệu kiểm toán viên tính toán ra giá trị ước tính và so sánh giá trị này với giá trị ghi sổ Khi so sánh ước tính của kiểm toán viên với giá trị ghi sổ, kiểm toán viên cần xem xét:
- Liệu mối quan hệ này có được thường xuyên đánh giá hay không Quan sát một mối quan hệ cụ thể càng thường xuyên bao nhiêu thì càng có thể chắc chắn về tính nhất quán của mối quan hệ đó
Ví dụ: Phân tích xu hướng chi phí nguyên vật liệu hàng tháng theo loại sản phẩm cung cấp bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục hơn so với việc xem xét đơn thuần biến động chi phí nguyên vật liệu hàng năm
- Khi so sánh giá trị hàng tháng, cần xem xét những chênh lệch theo mùa (đối với những loại hình kinh doanh có ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ)
- Nếu thiếu những chênh lệch theo ước tính Điều này đòi hỏi kiểm toán viên cần tìm hiểu rõ tình hình kinh doanh của khách hàng
(4)Thu thập bằng chứng để giải thích về những chênh lệch đáng kể
Trang 25Khi phát hiện ra những chênh lệch đột biến đáng kể so với dự tính, thì kiểm toán viên cần phải tìm hiểu để giải thích nguyên nhân của những chênh lệch đó Chênh lệch có thể do các trường hợp: Do số dư các tài khoản thuộc chu trình hàng hóa có chứa đựng sai sót Do ước tính của kiểm toán viên không chính xác Mỗi khi có sự chênh lệch giữa giá trị ước tính và gá trị ghi sổ, kiểm toán viên cần tìm kiếm lời giải thích từ Ban giám đốc hoặc nhân viên khách hàng liên quan, đồng thời quyết định tăng các thủ tục kiểm tra chi tiết số dư (nếu không
có được lời giải thích hợp lý từ ban giám đốc và các nhân viên),
(5) Xem xét những phát hiện kiểm toán
Nếu phát hiện một chênh lệch kiểm toán, thực hiện cần điều tra tính chất và nguyên nhân của chênh lệch đó có cho thấy một sai sót đáng kể trong cở sở dẫn liệu báo cáo tài chính về những mục tiêu kiểm toán và cân nhắc tới những ảnh hưởng tình hình kinh doanh cuả khách hàng
1.3.2 3 Thực hiện các thủ tục kiểm toán chi tiết
Theo giáo trình Kiểm toán tài chính ta có phương trình :
kế toán = độ vững chãi trong + trực tiếp
Trong kiểm toán chu trình hàng hóa trắc nghiệm độ vững chãi trong trắc nghiệm công việc sử dụng các thủ tục kiểm tra chi tiếp nghiệp vụ hàng hóa và trắc nghiệm trực tiếp số dư là sử dụng các thủ tục kiểm tra chi tiết số dư hàng hóa
1.3.2.3 1 Kiểm tra chi tiết nghiệp vụ hàng hóa
Mục tiêu kiểm tra chi tiết nghiệp vụ là phát hiện những sai sót trong hạch toán hay những sai sót trong hạch toán hàng hóa không đúng nguyên tắc
Thủ tục kiểm tra chi tiết nghiệp vụ thông thường là xem xét lại mối quan hệ giữa các tài khoản liên quan, bằng cách đối chiếu số liệu phát sinh của các tài khoản hàng hóa và các tài khoản chi phí liên quan
- Xem xét đối chiếu giữa số liệu trên TK 152- Nguyên vật liệu với các TK621- chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, TK 627- chi phí sản xuất chung, các
Trang 26TK chi phí khác
- Đối chiếu số liệu giữa các tài khoản chi phí như TK 621 – chi phí NVL trực tiếp ; TK 622 chi phí nhân công trực tiếp với tài khoản 154- chi phí SXKD
dở dang
- Đối chiếu số liệu giữa TK 627 – chi phí sản xuất chung với TK 154
- Đối chiếu số liệu giữa TK 154 với số liệu TK 155- thành phẩm
- Hoặc đối chiếu giữa TK 155 – Thành phẩm (TK 156 hàng hoá) với TK 157- Hàng gửi bán và TK 632 – Giá với hàng bán
Thủ tục kiểm tra nghiệp vụ cũng còn được thực hiện thông qua việc đối chiếu giữa số dư trên tài khoản hàng hóa với số liệu kiểm kê thực tế Kiểm tra chi tiết nghiệp vụ chủ yếu chú trọng vào những khoản mục hàng hóa hoặc chi phí thiếu bằng chứng có tính thuyết phục hoặc trong quá trình khảo sát kiểm toán viên nhận thấy có những khả nghi và rủi ro kiểm soát lớn Thực tế kiểm toán viên thưởng mở rộng các thủ tục kiểm tra chi tiết nghiệp vụ hàng hóa ở các khoản mục thuộc hệ thống kế toán chi phí sản xuất
Nhiều doanh nghiệp có cơ cấu kiểm soát nội bộ về quá trình sản xuất và chi phí sản xuất không chặt chẽ tạo sơ hở những gian lận trong việc sử dụng nguyên vật liệu như: Nguyên vật liệu xuất dùng nhưng không được sử dụng vào sản xuất mà vẫn hạch toán vào chi phí sản xuất, hoặc nguyên vật liệu đã xuất dùng nhưng không được tính vào chi phí sản xuất, hoặc tính không đúng vào chi phí của bộ phận sử dụng, phản ánh sai lệch giá trị tài sản Ngoài ra nếu
hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chii phí sản xuất không hiệu lực thì sẽ phát sinh những sai sót trong việc tập hợp chi phí không đung, hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung không hợp lú dẫn đến việc đánh giá sai lệch tài sản (sản phẩm dở dang, thành phẩm) Hoặc tính sai kết quả kinh doanh do hạch toán nhầm chi phí sản xuất chung vào chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp Tương
tự việc không tuân thủ nhất quán nguyên tắc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ cũng là nguyên nhân gây ra những sai sót trọng yếu của khoản mục sản phẩm dở dang và thành phẩm
Kiểm toán viên có thể thực hiện một số thủ tục kiểm tra nghiệp vụ để phát
Trang 27hiện những sai sót và gian lận sau đây:
- Để xác định sự phù hợp giữa nguyên vật liệu xuất kho sử dụng với các chi phí vật liệu ở các bộ phận bằng cách đối chiếu giá trị nguyên vật liệu xuất kho trên TK 152 – Nguyên vật liệu với tổng chi phí nguyên vật liệu trên các TK627 – chi phí sản xuất chung (6272- chi phí nguyên vật liệu); TK 641 chi phí bán hàng (6412 – chi phí vật liệu, bao bì) ; TK 642 – chi phí quản lý doanh nghiệp (6422- chi phí vật liệu quản lý); và các TK khác liên quan đến giá vốn , thành phẩm …
Đồng thời xem xét việc ghi chép trên sổ theo dõi vật tư sử dụng ở các phân xưởng sản xuất Đối chiếu giữa số liệu vật tư xuất dùng cho phân xưởng với báo cáo sử dụng vật tư của phân xưởng để phát hiện sai lệch nếu có (Khảo sát nghiệp vụ này sẽ được tiến hành kết hợp với quá trình khảo sát thống kê ở phân xưởng)
Để đánh giá quá trình tập hợp chi phí sản xuất là đúng đắn và hợp lý, kiểm toán viên trước hết phải xem xét chứng từ, tài liệu của các chi phí phát sinh được hạch toán vào các tài khoản chi phí có đầy đủ và hợp lý không Sau đó sẽ đối chiếu giữa số liệu trên các tài khoản 621 - Chi phí NVL trực tiếp; TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp; TK 627 - Chi phí sản xuất chung với số liệu phát sinh nợ trên TK 154 – Chi phí SXKD dở dang
Thí dụ: Cần xem xét khảo sát một số mẫu phiếu xuất kho vật tư dùng cho sản xuất và chi phí khác, liệu có phiếu nào hạch toán nhầm tài khoản không: Giả sử xuất dùng cho sản xuất nhưng lại tính vào chi phí quản lý, hoặc ngược lại Tương tự như vậy dối chiêíu giữa sổ theo dõi tài san cố định ớ lừng bộ phân với bảng tính khấu hao TSCĐ và tài khoản chi phi sản xuất chung và tài khoản liên quan khác để xem xét liệu có trường hợp nào TSCĐ dùng ở bộ phần sản xuất lại tính vào chi phí của bộ phận quản lý không hoặc ngược lại Đối với chi phí nhân công được thực hiện kháo sát nghiệp vụ như một phần của kiểm toán chu kỳ tiền lương và nhân sự Còn đối với các chi phí bằng tiền khác cĩmg được khảo sát trên cơ sở lấy mẫu một số chứng từ đối chiếu với số liệu trên các sổ kế toán chi phí (TK 627 - Chi phí sản xuất chung)
Trang 28Để xác định tính hợp lý của quá trình phân bổ chi phí, kiểm toán viên xem xét tiêu thức phân bổ chi phí theo các đối tượng tính giá cá biệt có thay đổi đáng
kể so với các kỳ trước hay không Nếu có thay đổi từ tiêu thức này sang tiêu thức khác mà có ảnh hưởng lớn và đáng kể đến chi phí và giá thành của những đối tượng tính giá cá biệt Nếu sự thay đổi đó có khả năng làm mất đi tính trung thực của quá trình đánh giá hàng hóa thì cần phải xem xét có nên chấp nhận tiêu thức phân bổ chi phí đó không
Kiểm toán viên xem xét việc ghi chép sổ theo dõi sản phẩm dở dang cuối
kỳ ở phân xưởng sân xuất có đầy đủ, kịp thời không Đồng thời đối chiếu phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang kỳ này với các kỳ trước có nhất quán không Nếu có sự thay đổi thi tìm hiểu nguyên nhan và sự ảnh hưởng của chúng
Đố chiếu sự phù hợp giữa số lượng sản phẩm dở dang với giá trị sản phẩm đó để phát hiện những biến động bất thường và tính không hợp lý
Tương tự như vậy, kiểm toán viên cũng cần khảo sát xem có sự thay đổi trong việc sử dụng phương pháp tính toán giá thành của doanh nghiệp không Ngoài ra, kiểm toán viên có thể tính toán một số khoản mục chi phí và việc tổng hợp chi phí, phân bổ chi phí vào tính giá hàng nhằm phát hiện những sai sót trong quá trình tính toán
1.3.2 3 2 Kiểm tra chi tiết số dư hàng hóa
Khi kiểm toán số dư hàng hóa kiểm toán viên phải thực hiện các khảo sát chi tiết hàng hóa là điều cần thiết và quan trọng Bởi những lý do như dã trình bày ở phần 1 1 Ở khía cạnh khác việc định giá hàng hóa cũng rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào tính chủ quan của người tính toán và định giá, do vậy việc kiểm ra chi tiết các khoán mục hàng hóa cũng là phương tiện, thủ pháp quan trọng để phát hiện các gian lận, sai sót trọng yếu trong chu trình này Khi khảo sát chi tiết hàng hóa cần lưu ý và xem xét kết quả kiểm tra chi tiết của các chu trình liên quan: Chu trình Mua vào và Thanh toán, chu trình Tiền lương và Nhân viên, chu trình Bán hàng và Thu tiền bởi vì kết quả kiểm tra các chu trình
đó có ảnh hưởng đến các kiểm tra chi tiết hàng hóa
Công tác kiểm toán rất phức tạp và nó liên quan đến hiện vật và giá trị
Trang 29hàng hóa Vì vậy kiểm tra chi tiết hàng hóa được đề cập chủ yếu hai vấn đề: Quan sát vật chất và quá trình định giá, hạch toán hàng hóa
A Quan sát vật chất hàng hóa
Quan sát vật chất hàng hóa là công việc mà kiểm toán viên phải có mặt vào thời điềm mà cuộc kiểm kê hàng hóa được tiến hành Bằng các biện pháp quan sát, khảo sát, thẩm vấn thích hợp để kiểm toán viên xác định sự tồn tại vật chất
và tính chính xác của hàng hóa kiểm kê, cũng như các vấn đề liên quan đến hàng hóa về quyền sở hữu và chất lượng hàng hóa
Quá trình quan sát vật chất hàng hóa của kiểm toán viên thường được tiến hành theo các bước : Tìm hiểu các quá trình kiểm soát các cuộc kiểm kê, xác định các quyết định kiểm toán và thực hiện quan sát vật chất
(1) Tìm hiểu các quá trình kiểm soát kiểm kê
Bất cứ doanh nghiệp vận dụng các phương pháp hạch toán hàng hóa theo phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ thì cũng phải có cuộc kiểm kê vật chất hàng hóa định kỳ Tuỳ theo điều kiện cụ thể và cách tổ chức kiểm kê của doanh nghiệp, cuộc kiểm kê đố được tiến hành vào thời điểm cuối kỳ hoặc vào 1 thời điểm nào đó trong năm
Kiểm toán viên quan sát và tìm hiểu quá trình kiểm soát các cuộc kiểm kê, nếu các thủ tục kiểm soát đầy đủ và đáng tin cậy phải bao gồm: Nhưng quy định hợp lý đối với cuộc kiểm kê vật chất, sự giám sát bởi cá nhân có trách nhiệm và trung thực, quá trình kiểm tra nội bộ độc lập với cuộc kiểm kê, việc đối chiếu độc lập kết quả kiểm kê vật chất với sổ kế toán và cuộc kiểm kê lập đầy đủ các phiếu kiểm kê, biên bản kiểm kê
(2) Xác định các quyết định kiểm toán
Cũng giống như bất kỳ cuộc kiểm toán khác, các quyết định kiểm toán của quá trình quan sát vật chất hàng tổn kho bao gồm: Lựa chọn thủ tục kiểm toán, xác định thời gian, xác định quy mô mẫu và lựa chọn khoản mục để kiểm tra (2 1) Lựa chọn thủ tục kiểm toán
Thủ tục kiểm toán sử dụng trong quá trình quan sát vật chất hàng hóa chủ yếu là: Kiểm tra, quan sát, thẩm vấn, đối chiếu, so sánh những thông tin liên
Trang 30quan để đạt được mục tiêu kiểm toán Nội dung cụ thể các thủ tục này được trình bày ở các phần sau
(2 2) Xác định thời gian
Thông qua việc kiểm tra kiểm soát các cuộc kiểm kê vật chất của doanh nghiệp đã thực hiện và kết quả kiểm tra đối chiếu sổ sách hàng tồn, kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ (được thực hiện ở phần trên) để quyết định có tổ chức tiến hành kiểm kê vật chất vào cuối kỳ kế toán hay không Nếu có kiểm kê vật chất đầy đủ vào ngày cuối kỳ kế toán thì dự tính thời gian cần thiết để thực hiện công việc đó với sự giám sát của kiểm toán viên là bao nhiêu ngày
Giả sử thời điểm giữa kỳ đã có một cuộc kiểm kê vật chất và kiểm toán viên đã quan sát việc kiểm kê vào lúc đó, đồng thời kiểm toán viên đã kiểm tra
sổ kê toán hàng hóa từ thời điểm kiểm kê giữa kỳ đến cuối kỳ không vấn đề gì nghi vấn, thì kiểm toán viên quyết định không cần phải tổ chức kiểm kê vật chất vào cuối kỳ nữa Thay vào đó kiểm toán viên có thể so sánh số liệu trên sổ kế toán với hàng hóa thực tế của một mẫu tại thời điểm nhất định nào đó
Ngược lại, nếu số liệu trên sổ kế toán không được ghi chép thường xuyên, các thủ tục kiểm soát kiểm kê không đầy đủ và không đáng tin cậy thì cần phải tiến hành một cuộc kiểm kê vật chất đầy đủ là hoàn toàn cần thiết Tùy theo khối lượng hàng hóa nhiền hay ít, phân tán hay tập trung để xác định thời gian cần thiết cho công việc mà kiểm toán viên cần phải theo dõi, giám sát trực tiếp cuộc kiểm kê vật chất đó
(2 3) Xác định quy mô mẫu
Quy mô mẫu trong quan sát vật chất thường được lựa chon theo các yếu tố:
Số lượng hàng cần kiểm tra và số lượng kho cần kiểm tra, và thời gian bỏ ra để thực hiện công việc quan sát Kiểm toán viên có thể lựa chọn một trong số các tiêu thức này để xác định quy mô quan sát Trong thực tế để giảm chi phí kiếm toán, kiểm toán viên thường lấy tiêu thức thời gian để xác định quy mô
(2 4) Chọn lựa những mặt hàng cần kiểm tra
Ngoài ra trên thực tế tuỳ vào điều kiện và những đặc thù của doanh nghiệp, kiểm toán viên có thể chọn mẫu đối với những mặt hàng chủ yếu và có nghi vấn
Trang 31về gian lận hoặc sai sót trong quá trình kiêm tra chi tiết nghiệp vụ và kiểm tra kiểm soát nội bộ
Hoặc trong quá trình quan sát cuộc kiểm kê hiện vật, kiểm toán viên chú ý đến những mặt hàng đáng kể nhất và điển hình nhất để tiến hành kiểm tra cụ thể Tương tự như khi điều tra những mặt hàng có khá năng kém phẩm chất, lạc hận hoặc hư hỏng trong quá trình bảo quản cũng cần phải lựa chọn những mặt hàng này để tiến hành kiểm tra
Đặc biệt trong quá trình thảo luận với người quản lý về lý do của nhưng mặt hàng để ngoài sổ kế toán thì kiểm toán viên cũng cần lựa chọn những mặt hàng đó để kiểm tra và điều tra thêm
(3) Các thủ tục quan sát vật chất
Điểm quan trọng nhất của các thủ tục quan sát vật chất là kiểm toán viên phải có mặt để quan sát trực tiếp cuộc kiểm kê hiện vật hàng tổn kho của doanh nghiệp Khi quan sát, kiểm toán viên thường thực hiện các công việc:
- Xác định liệu cuộc kiểm kê vật chất của doanh nghiệp đang thực hiện có tuân thủ theo đúng quy định và hướng dẫn của doanh nghiệp không
Thí dụ như Nếu thủ tục hướng dẫn và giám sát kiểm kê hàng hóa quy định: Một tổ kiểm kê hàng hóa, một tổ khác kiểm tra lại như một khảo sát về tính chinh xác, nhưng các nhân viên kiểm kê lại không thực hiện như vậy mà hai tổ chưc thực hiện một lúc, vậy là không đúng hướng dẫn của doanh nghiệp Hoặc các nhân viên thuộc ban kiểm kê không thực hiện đúng các quy trình công việc, cũtng như không đúng các chức năng được giao Trong những trường hợp như vậy, kiểm toán viên hoặc kết hợp với giám sát viên của cuộc kiểm kê (hoặc tổ trưởng) để sửa sai và sửa đổi các thủ tục kiểm kê cho đúng hướng dẫn
- Kiểm toán viên phải có sự hiểu biết về những mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp, nếu không có sự hiểu biết sâu về chúng (nhất là đối với những mặt hàng đặc thù như: điện tử, hoá chất, kim loại quý hiếm) thì phải mời chuyên gia đánh giá hàng tổn kho về chất lượng, khả năng lạc hậu của những hàng đó
- Thảo luận để xác định quyền sở hữu của hàng hóa hiện diện, đặc biệt là
Trang 32hàng gửi bán, hàng nhận đại lý, nhận ký gửi hoặc hàng mua đang đi đường
- Tham quan và xem xét các phương tiện kho, bãi, nơi bảo quản hàng tổn kho, khu vực sản xuất, cuộc tham quan xem xét đó nên được một nhân viên của doanh nghiệp có đủ hiểu biết và khả năng trả lời các câu hỏi của kiểm toán viên
B Kiểm tra chi tiết quá trình tính giá và hạch toán hàng hóa
Để xác định quá trình tính giá và hạch toán hàng hóa đúng đắn hay không kiểm toán viên cần phải kiểm tra chi tiết các quá trình nầy Kiếm tra chi tiết quá trình tính giá và hạch toán hàng hóa bao gồm tất cả các khảo sát đơn giá hàng xuất kho có đúng và chính xác không, khảo sát quá trình tính toán giá trị hàng xuất kho, kiểm tra quá trình tính toán, tập hợp, phân bổ chi phí và tính giá thành sản phẩm, kiểm tra chi tiết tính toán xác định giá trị sản phẩm dở dang và kiểm tra quá trình hạch toán hàng hóa
(1) Tìm hiểu quá trình kiểm soát nội bộ tính giá và hạch toán hàng hóa
Nếu doanh nghiệp có một cơ cấu kiểm soát nội bộ đầy đủ và đáng tin cậy trong việc theo dõi, kiểm tra quá trình tính giá và ghi sổ kế toán chi phí thì kiểm toán viên đã phần nào tin tưởng các chi phí là đảm bảo hợp lý Chi phí đã được
sử dụng đế tính giá các đối tượng hàng hóa và các phương pháp sử dụng để tính giá là hợp lý
Quy chế kiểm soát nội bộ về tính giá và hạch toán hàng hóa có hiệu quả là:
- Phải có một nhân viên có trình độ và trách nhiệm kiểm tra tính hợp lý của chi phí, cũng như việc tính toán và ghi sổ các chi phí đó một cách độc lập với các nhân viên tính toán và ghi sổ kế toán hàng hóa
- Có xây dựng định mức chi phí, tiến hành xem xét và chỉ rõ các biến động Phân tích sự chênh lệch giữa định mức chi phí và chi phí thực tế các nguyên nhân và các yếu tố biến động
- Sự kiểm tra nội bộ do một người độc lập, có năng lực thực hiện xem xét lại việc tính toán hàng xuất kho và báo cáo hàng hóa đối với những mặt hàng lạc hậu, tiêu thụ chậm, hư hỏng Nhằm ngăn ngừa việc tính giá hàng xuất kho theo chủ quan dẫn đến sai sót trọng yếu trên khoản mục hàng xuất kho, ảnh hưởng đến giá thành hoặc kết quả kinh doanh
Trang 33Khi tìm hiểu quá trình kiểm soát nội bộ tính giá và hạch toán hàng hóa, kiểm toán viên cần xem xét dấu hiệu kiểm tra của những nhân viên được phân công theo dõi và kiểm tra độc lập các công việc tính toán và hạch toán trên sổ kế toán Cũng như xem xét Bảng định mức chi phí tiêu chuẩn, dự toán chi phí và dấu hiệu kiểm tra và phân tích biến động chi phí vượt định mức Trên cơ sở đó đánh giá cơ cấu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
(2) Kiểm tra công tác tính giá hàng hóa
Kiểm tra quá trình tính giá hàng hóa thường là một trong những phần quan trọng nhất và mất nhiều thời gian nhất của cuộc kiểm toán chi tiết hàng hóa Khi kiểm tra cần quan tâm lới 3 vấn đề của phương pháp tính giá (các đối tượng chủ yếu là hàng xuất kho, sản phẩm dở dang cuối kỳ và giá thành thành phẩm) đó là:
- Phương pháp tính mà doanh nghiệp áp dụng có phù hợp với các nguyên tắc kế toán được thừa nhận hay không Quá trình áp dụng phương pháp tính giá
có nhất quán với các niên độ kế toán trước đó không
- Số liệu tính toán có chính xác và hợp lý không
- Mỗi đối tượng tính giá có đặc điểm khác nhau nên sẽ được sử dụng các phương pháp khác nhau để kiểm tra việc tính toán giá của đối tượng tính giá đó (2 1) Kiểm tra công tác tính toán giá hàng xuất kho
- Trước hết phải xem xét việc tính giá hàng nhập kho có đúng đắn không Đối với nguyên vật liệu và hàng hoá mua ngoài, kiểm toán viên cần phải khảo sát xem liệu những chi phí cấu thành giá của hàng nhập kho có được hạch toán đúng không Cụ thể là các khoản chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt, các khoản chi phí liên quan đến hàng mua có được tính vào giá hàng nhập kho không, các khoản chiết khấu mua hàng, giảm giá hàng mua có được tính trừ không Việc kiểm tra này là một phần của kiểm tra chu trình Mua vào và Thanh toán Còn đối với thành phẩm trước hết xem xét quá trình tính giá thành sản xuất thực tế của đơn vị thành phẩm nhập kho có đúng không (khảo sát này sẽ giới thiệu ở phần khảo sát quá trình tính giá thành phẩm)
- Tiếp theo kiểm toán viên phải xác định phương pháp đang được sử dụng
để tính trị giá vốn thực tế hàng xuất kho ở doanh nghiệp là phương pháp gì ?
Trang 34(Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO); Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO); phương pháp giá đích danh hay phương pháp đơn giá bình quân; hoặc phương pháp nào khác), phương pháp đó có được thừa nhận không
- Kiểm toán viên xem xét phương pháp tính giá hàng xuất kho áp dụng trong kỳ này có nhất quán với các kỳ trước không Bởi vì thực tế trong một số doanh nghiệp sự thay đổi từ phương pháp tính này sang phương pháp tính khác
sẽ làm ảnh hưởng đến giá trị hàng xuất kho, phản ánh sai lệch kết quả kinh doanh
Thí dụ: Trong điều kiện đơn giá mua của hàng tăng lên, mà doanh nghiệp thay đối từ phương pháp FIFO sang phương pháp LIFO đế tính giá hàng xuất bán, thì sẽ làm trị giá hàng xuất bán tăng lên và kết quả bán hàng kỳ này sẽ giảm đi, có thể doanh nghiệp làm như thê với mục đích trốn thuế Hoặc đối với thay đổi phương pháp tính giá vật liệu xuất dùng sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản xuất sản phẩm
- Giả sử nếu doanh nghiệp có sự thay đổi phương pháp tính giá hàng xuất
kho, thì kiểm toán viên xem xét sự công khai việc thay đổi này trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp có được thực hiện không (xem trên Thuyết minh báo cáo tài chính)
- Để kiểm tra kỹ thuật tính toán giá hàng xuất kho có đúng hay không, kiểm toán viên phải xem xét và liệt kê các mặt hàng hóa định kiểm tra kết quả tính toán, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp những hoá đơn, chứng từ nhập, xuất kho, sổ kế toán chi tiết hàng hóa của những mặt hàng đó Sau đó xem xét tính đầy đủ của các hoá đơn, chứng từ nhập, xuất kho để khảo sát tính đầy đủ của số lượng hàng nhập, xuất kho Tiếp tục thực hiện tính toán lại giá của hàng xuất kho của những mặt hàng đã chọn để so sánh với kết quả tính toán của doanh nghiệp và tìm ra những sai lệch (nếu có)
Nếu trường hợp kiểm toán viên đã kiểm tra tính thường xuyên, kịp thời của việc ghi sổ kế toán chi tiết hàng hóa theo từng mặt hàng, khi đó kiểm toán viên,
có thể không cần phải tính toán lại trị giá hàng xuất kho mà chỉ cần đối chiếu số liệu về đơn giá số lượng hàng xuất kho trên sổ kế toán hàng hóa với chi phí trên
Trang 35sổ kế toán chi phí Hoặc có thể làm lại một vài phép tính ở một vài mặt hàng cụ thể để xem xét và đối chiếu tăng thêm tính thuyết phục của các kết quả kiểm tra (2.2) Kiểm tra quy trình tập hợp chi phí và tính giá thành sản xuất sản phẩm
Kiểm toán viên phải xem xét chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung khi tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm cho từng đối tượng sản phẩm cá biệt Việc kiểm tra từng yếu tố chi phí này phức tạp hơn kiểm toán nguyên vật liệu, thành phẩm và hàng hoá xuất kho Khi kiểm tra quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành thông thường kiểm toán viên sẽ thực hiện các công việc sau:
- Kiểm tra xem xét đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành của doanh nghiệp có gì thay đổi so với kỳ trước không
- Xem xét có những khoản chi phí nào không thuộc phạm vi của chi phí sản xuất mà được tính vào giá thành sản xuất không, hoặc ngược lại có những khoản chi phí sản xuất nhưng lại không tính vào giá thành sản xuất, mà tính vào chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc hàng hóa trên Bảng cân đối tài sản tạo ra những sai sót trọng yếu
- Các phương pháp tính toán và phương pháp phân bổ chi phí có được nhất quán với các kỳ trước không
Thí dụ: Phương pháp trích khấu hao TSCĐ, phương pháp phân bổ chi phi chung cho các đối tượng tính giá, phương pháp tính giá thành sản phẩm Việc thay đổi các phương pháp đó đôi khi cũmg gây ra những sai sót trọng yếu đối với kết quả kinh doanh và hàng hóa trên báo cáo tài chính
(2 2 1) Kiểm tra chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Kiểm tra quá trình tính giá nguyên vật liệu xuất kho đã được trình bày ở phần trên Khi xem xét khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kiểm toán viên cần quan tâm đến những điểm cơ bản:
Trang 36Đối chiếu và xem xét chi tiết nguyên vật liệu xuất dùng cho các đối tượng
có được hạch toán đúng vào tài khoản chi phí của đối tượng đó không
Bằng cách lấy mẫu một số mẫu vật tư để kiểm tra việc ghi sổ vào các tài khoản chi phí có phù hợp và đúng đằn không Ngoài ra có thể đối chiêu phiếu xuất vật sử dụng với phiếu yêu cầu sử dụng vật tư của bộ phận sử dụng và sự phê chuẩn chúng, hoặc đối chiếu với báo cáo sử dụng vật tư của bộ phận phân xưởng sản xuất bằng các cách đó, kiểm toán viên có thể phát hiện hạch toán sai chi phí vật liệu tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp, hoặc ngược lại
- Kiểm toán viên có thể tính toán và xác định số lượng đơn vị vật liệu
thực tế tiêu hao cho một đơn vị sản phầm có hợp lý không
Bằng cách so sánh đối chiếu với định mức nguyên vật liệu tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm để phát hiện những chênh lệch bất hợp lý và những sai số khả dĩ trong hạch toán chi phí nguyên vật liệu
(2 2 2) Kiểm tra chi tiết chi phí nhân công trực tiếp
Kiểm tra chi phí nhân công trực tiếp đã là một phần cửa kiểm tra chi tiết chu trinh tiền lương và nhân viên Vì vậy trong phần kiểm tra chi tiết chi phí sản xuất ở chu kỳ hàng hóa, kiểm toán viền cần chú ý một số điểm sau:
- Xem xét thêm chi phí tiền lương và các khoản trích trên tiền lương được hạch toán đúng đắn vào các tài khoản chi phí của đối tường (bộ phận) không Việc xem xét đó được thực hiện bằng cách đối chiếu các bảng tính và phân bổ tiền lương, các koản trích trên lương của từng bộ phận có được hạch toán đúng vào chi phí của bộ phận đó không: Mục đích của kiểm tra đó là tìm những sai sót trong hạch toán chi phí nhân công
Thí dụ : Tiền lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp lại tính vào tài khoản chi phí nhân công trực tiếp chẳng hạn, hoặc tiền lương của công nhân sản xuất ở phân xưởng lại hạch toán vào chi phí XDCB Những hạch toán sai đó
sẽ dẫn đến sai số khả dĩ về giá thành sản xuất của sản phẩm
- Tương tự như kiểm tra chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kiểm tra chi phí nhân công trực tiếp cũng có thể so sánh giữa chi phí theo giờ lao động trực tiếp thực tế của một đơn vị sản phẩm với định mức chi phí theo giờ lao
Trang 37động của một đơn vị sản phẩm để có thể phát hiện những phụ trội bất hợp lý và sai số khả dĩ:
(2 2 3) Kiểm tra chi tiết chi phí sản xuất chung
Khi kiểm tra chi tiết chi phí sản xuất chung có thể sẽ phức tạp hơn các khoản mục chi phí trên Nhưng thông thường kiểm toàn viên chủ yếu xem xét những khoản chi phí cơ bản và có số tiền tương đối lớn như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí bằng tiền khác: Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí nhân viên phân xưởng
Đối với chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ và chi phí nhân viên phân xướng được xem như khảo sát cùng với chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp ở chu trình Mua vào và Thanh toán, chu trình Tiền lương và Nhân viện
đã thực hiện khảo sát chi tiết chi phí sản xuất trực tiếp ở phần trên
Đối với kiểm tra chi phí bằng tiền khác cũng được kiểm tra cùng với kiểm tra chi tiết các tài khoản tiền
(2 2 4) Kiểm tra chi tiết đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
Việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ đúng đắn và hợp lý sẽ tạo cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm đúng đắn và hợp lý Do vậy khi kiểm tra chi tiết đánh gía sản phẩm dở dang cuối kỳ cần phải xác định tính đúng đắn và tinh chính xác của việc tính toán và đánh giá sản phẩm dở dang nhằm phát hiện những sai sót đáng kể làm ảnh hưởng đến giá thành sản xuất và kết quả kinh doanh
Khi kiểm tra chi tiết đánh giá sản phẩm dở đang cuối kỳ, kiểm toán viên có thể tiến hành các công việc:
- Xem xét chi tiết kết quả kiểm kê vật chất sản phẩm dở dang cuối kỳ, có thể kiểm toán viên kiểm tra mẫu một số chi tiết sản phẩm dở dang để xác định tính đúng đắn của kiểm kê sản phẩm dở dang
- Xem xét quá trình đánh giá sản phẩm dở dang của doanh nghiệp, xem doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính nào, phương pháp sản lượng hoàn thành tương đương, hay phương pháp tính theo giá trị nguyên vật liệu trực tiếp, hoặc theo chi phí định mức… hoặc theo một phương pháp nào đó và phương
Trang 38pháp đó có được thừa nhận hay không
- Đồng thời xem xét quá trình tính toán đánh giá sản phẩm dở dang có chính xác không Bởi vì thay đổi phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang và kỹ thuật tính toán không đúng đắn sẽ dẫn đến kết quả tính toán sẽ không đúng Trên đây là những nội dung có thể áp dụng cho cuộc kiểm toán hàng hóa, tùy đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, hình thức tổ chức kế toán hàng hóa, thực trạng thiết kế và áp dụng các thủ tục kiểm soát nội bộ để kiểm toán viên áp dụng các trắc nghiệm kiểm toán một cách linh động nhằm đem lại các bằng chứng đủ để kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét của mình
về chu trình hàng hóa của doanh nghiệp Những nội dung trên chỉ là các nội dung cơ bản mang tính chất lý thuyết, trong thực tế kiểm toán viên có thể thêm hoặc bớt những công việc không cần thiết hoặc không thiết thực đối với từng cuộc kiểm toán cụ thể
3 Kết thúc kiểm toán
Trong quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải ghi ghép các thông tin thu nhập được cũng như các kết luận sau khi thực hiện các thủ tục kiểm toán trên giấy tờ làm việc và lưu các tài liệu vào hồ sơ kiểm toán Khi các kiểm toán viên hoàn tất các công việc theo phầntrình kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán sẽ xem xét lại toàn bộ giấy tờ làm việc và các tài liệu được lưu trong hồ sơ kiểm toán Các tài liệu phải đầy đủ cho kiểm toán viên đưa ra ý kiến của mình về các khoản mục trên Báo cáo tài chính Nếu chưa đáp ứng điều đó, chủ nhiệm kiểm toán sẽ thiết kế các thủ tục kiểm toán bổ sung Nếu chưa đáp ứng điều đó, chủ nhiệm kiểm toán sẽ thiết kế các thủ tục kiểm toán bổ sung Giấy tờ làm việc được lưu trên hồ sơ kiểm toán là căn cứ để lập báo cáo kiểm toán đồng thời các bút toán điều chỉnh phải được thương lượng với khách hàng trước khi phát hành báo cáo kiểm toán
Đối với chu trình kiểm toán hàng hóa, kiểm toán viên thực hiện các thủ tục kiểm toán ở các giai đoạn trước, ở giai đoạn này kiểm toán viên tổng hợp các bằng chứng thu được để điều chỉnh các chênh lệch (nếu có) và đưa ra ý kiến của mình về các số dư của các tài khoản(4 loại ý kiến ), về hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 39thuộc chu trình hàng hóa
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH SÀI GÒN AFC - CHI NHÁNH HÀ NỘI THỰC HIỆN TẠI
CÔNG TY A
2.1 Khái quát chung tình hình hoạt động kinh doanh của công ty kiểm toán
và tư vấn tài chính Sài Gòn AFC - Chi nhánh Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Tiền thân của Công ty Kiểm toán và Tư vấn tài chính Sài Gòn – AFC là Công ty Tư vấn tài chính ASC được thành lập theo quyết định của Bộ trưởng
Bộ Tài Chính
Công ty Kiểm toán và Tư vấn tài chính Sài Gòn được thành lập theo Quyết định số 108/TC-TCCB ngày 13 tháng 2 năm 1995 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Tách Công ty AASC thành công ty kiểm toán và Tư vấn tài chính Sài Gòn và công ty AASC
- Công ty có tên giao dịch quốc tế là Auditing Accouting Financial Consulting Company (AFC) Trụ sở chính đặt tại 138 Nguyễn thị Minh Khai –
Quận 3 – TP HCM
+Chi nhánh tại Hà Nội : Số 93B Đường Câù Giấy –Hà Nội
+ Chi nhánh tại Cần Thơ: 68Phan Đình Phùng – Thành phố Cần Thơ