MỤC LỤC DANH SÁCH NHÓM 08 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG I 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 2 1.1. Khái niệm công ty chứng khoán. 2 1.2. Hình thức tổ chức. 2 1.3. Chức năng nhiệm vụ của công ty chứng khoán 6 1.3.1. Chức năng môi giới chứng khoán 6 1.3.1.1. Khái niệm 6 1.3.1.2. Chức năng 6 1.3.2. Chức năng tự doanh chứng khoán 6 1.3.2.1. Khái niệm: 6 1.3.2.2. Mục đích của hoạt động tự doanh. 6 1.3.2.3. Những yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh. 6 1.3.3. Chức năng bảo lãnh phát hành chứng khoán 7 1.3.4. Chức năng tư vấn đầu tư 8 1.3.4.1. Khái niệm 8 1.3.4.2. Nguyên tắc 8 1.3.5. Chức năng quản lý danh mục đầu tư 8 CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 9 2.1. Hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam 9 2.1.1. Hoạt động môi giới. 9 2.1.2. Hoạt động tự doanh 10 2.1.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành 11 2.1.4.Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán. 12 2.2.Một số thông tin về thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 –2012. 12 2.2.1.Biến động trong thị trường chứng khoán giai đoạn 20092012. 12 2.2.2. Thị Trường Chứng Khoán Quý 1 2013 14 2.3. Khó Khăn Và Thuận Lợi Của Các Công Ty Chứng Khoán 16 2.3.1. Khó Khăn 16 2.3.2. Thuận Lợi 16 2.4. Giải Pháp Phát Triển 16 2.4.1. Về Phía Nhà Nước 16 2.4.2. Về Phía Các Công Ty Chứng Khoán 17 KẾT LUẬN 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 LỜI NÓI ĐẦU Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội trong những năm qua ở Việt Nam, thị trường chứng khoán cũng chuyển mình và có những bước phát triển vượt bậc, là một trong những kênh cung cấp vốn cho nền kinh tế. Sự lớn mạnh của thị trường chứng khoán gắn liền với hoạt động của các công ty chứng khoán mang lại những dịch vụ thiết yếu hỗ trợ các nhà đầu tư và góp phần không nhỏ vào việc điều tiết nền kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, điều này đồng nghĩa với việc các công ty chứng khoán đã và đang cải cách để phát triển về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển để có thể cạnh tranh trực tiếp với các tổ chức tài chính quốc tế. Xuất phát từ thực tế trên nhóm chúng tôi đã nghiên cứu và thực hiện tiểu luận với đề tài “Công ty chứng khoán và hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Hy vọng những hiểu biết của chúng tôi sẽ phần nào đó mang lại một cái nhìn tổng quát về hoạt động của các công ty chứng khoán trên thị trường Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Trang 1CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
- -BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
ĐỀ TÀI:
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Thanh Hóa, ngày …… tháng …… năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
Trang 4MỤC LỤC
DANH SÁCH NHÓM 08
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I 2
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 2
1.1 Khái niệm công ty chứng khoán 2
1.2 Hình thức tổ chức 2
1.3 Chức năng nhiệm vụ của công ty chứng khoán 6
1.3.1 Chức năng môi giới chứng khoán 6
1.3.1.1 Khái niệm 6
1.3.1.2 Chức năng 6
1.3.2 Chức năng tự doanh chứng khoán 6
1.3.2.1 Khái niệm: 6
1.3.2.2 Mục đích của hoạt động tự doanh 6
1.3.2.3 Những yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh 6
1.3.3 Chức năng bảo lãnh phát hành chứng khoán 7
1.3.4 Chức năng tư vấn đầu tư 8
1.3.4.1 Khái niệm 8
1.3.4.2 Nguyên tắc 8
1.3.5 Chức năng quản lý danh mục đầu tư 8
Trang 52.2.Một số thông tin về thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 –2012.
12
2.2.1.Biến động trong thị trường chứng khoán giai đoạn 2009-2012 12
2.2.2 Thị Trường Chứng Khoán Quý 1/ 2013 14
2.3 Khó Khăn Và Thuận Lợi Của Các Công Ty Chứng Khoán 16
2.3.1 Khó Khăn 16
2.3.2 Thuận Lợi 16
2.4 Giải Pháp Phát Triển 16
2.4.1 Về Phía Nhà Nước 16
2.4.2 Về Phía Các Công Ty Chứng Khoán 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội trong những năm qua
ở Việt Nam, thị trường chứng khoán cũng chuyển mình và có những bước pháttriển vượt bậc, là một trong những kênh cung cấp vốn cho nền kinh tế Sự lớnmạnh của thị trường chứng khoán gắn liền với hoạt động của các công ty chứngkhoán mang lại những dịch vụ thiết yếu hỗ trợ các nhà đầu tư và góp phần khôngnhỏ vào việc điều tiết nền kinh tế
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO,điều này đồng nghĩa với việc các công ty chứng khoán đã và đang cải cách để pháttriển về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển để có thể cạnh tranh trực tiếpvới các tổ chức tài chính quốc tế
Xuất phát từ thực tế trên nhóm chúng tôi đã nghiên cứu và thực hiện tiểuluận với đề tài “Công ty chứng khoán và hoạt động của công ty chứng khoán trênthị trường chứng khoán Việt Nam” Hy vọng những hiểu biết của chúng tôi sẽphần nào đó mang lại một cái nhìn tổng quát về hoạt động của các công ty chứngkhoán trên thị trường Việt Nam giai đoạn hiện nay
Trang 7CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Khái niệm công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanhchứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứngkhoán, kinh doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tưchứng khoán
Các công ty chứng khoán cũng là một loại hình công ty nhưng do hoạt độngnghiệp vụ của nó khác các công ty sản xuất hay thương mại nên về mặt tổ chức củachúng cũng có nhiều sự khác biệt Các công ty chứng khoán ở các nước hay trongcùng một nước vẫn được tổ chức rất khác nhau tủy thuộc vào tính chất công việccủa mỗi công ty hay mức độ phát triển của thị trường Tuy nhiên, dù phát triển hay
tổ chức ở hình thức nào thì chúng vẫn có cùng một số đặc trưng cơ bản sau:
*Chuyên môn hóa và phân cấp quản lý:
Các công ty chứng khoán chuyên môn hóa ở mức độ cao trong từng bộ phận,từng phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ Do chuyên môn hóa cao nên dẫn đếnphân cấp quản lý và làm nảy sinh việc có quyền tự quyết
Một số bộ phận trong tổ chức công ty nhiều khi không phụ thuộc lẫn nhau (ví
dụ bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh, hay bộ phận bảo lãnh phát hành…)
*Nhân tố con người
Nói chung, trong công ty chứng khoán, quan hệ với khách hành có tầm quantrọng nhất Sản phẩm càng trừu tượng thì nhân tố con người càng quan trọng
Trang 8*Ảnh hưởng của thị trường tài chính
Thị trường tài chính nói chung, thị trường chứng khoán nói riêng có ảnhhưởng lớn tới chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và khả năng thu lợi của các công tychứng khoán Thị trường chứng khoán càng phát triển thì càng có khả năng tạothêm các công cụ tài chính và đa dạng hóa dịch vụ, qua đó có thêm các cơ hội thulợi nhuận Với những mức độ phát triển khác nhau của thị trường, cơ cấu tổ chứccủa các công ty chứng khoán cũng khác nhau để đáp ứng những nhu cầu riêng Vídụ: Công ty chứng khoán ở một số nước như Mỹ, Nhật Bản có cơ cấu rất phức tạp,trong khi cơ cấu tổ chức công ty chứng khoán ở một số nước mới có thị trườngchứng khoán như ở Đông Âu hoặc là Việt Nam thì đơn giản hơn nhiều
*Cơ cấu tổ chức công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ chứngkhoán và công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoáncủa nó Đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng được chia ra làm haikhối tương ứng với hai khối công việc mà công ty chứng khoán đảm nhận
Khối I (front office): Do một phó giám đốc trực tiếp phụ trách, thực hiện các
giao dịch mua bán kinh doanh chứng khoán Khối này đem lại thu nhập cho công
ty bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra các sản phẩm phù hợp vớicác nhu cầu đó Gồm các phòng: phòng môi giới, phòng tự doanh, phòng bảo lãnhphát hành, phòng tư vấn đầu tư, phòng quản lý quỹ đầu tư, phòng tư vấn tài chínhcông ty, phòng thanh toán và lưu trữ chứng khoán, phòng quản lý thu thập chứngkhoán, phòng ủy quyền, phòng cho vay chứng khoán Xem sơ đồ sau:
Trang 9Khối II (back office): Cũng do một phó giám đốc phụ trách, hỗ trợ cho khối
I Gồm: phòng nghiên cứu và phát triển, phòng hành chính và tổ chức, phòngthông tin và phân tích chứng khoán, phòng ngân quỹ, phòng kế toán, phòng kýquỹ, phòng hạch toán tín dụng, phòng kế hoạch kinh doanh, phòng phá triển sảnphẩm mới, phòng máy tính và tin học, phòng pháp chế (in nghiêng là những phòngkhông thể thiếu trong một công ty chứng khoán) Đối với các công ty chứng khoánlớn còn có thêm chi nhánh văn phòng ở các địa phương hoặc các nước khác nhau.Xem sơ đồ sau:
Phó Giám đốc điều hành khối I
Phòng
môi
giới
Phòng bảo lãnh phát hành
Phòng
tự doanh
Phòng
tư vấn đầu tư
Phòng quản lý quỹ đầu tư
Phòng
tư vấn tài chính
Phòng thanh toán và lưu trữ chứng khoán
Phòng quản lý thu thập chứng khoán
Phòng
Ủy quyền
Phòng cho vay chứng khoán
Trang 10Ngoài sự phân biệt rõ ràng 2 khối như vậy, công ty chứng khoán còn có thể
có thêm một số phòng như phòng cấp vốn, phòng tín dụng… nếu công ty này thựchiện các nghiệp vụ mang tính ngân hàng
Đối với các công ty chứng khoán lớn còn có thêm chi nhanh văn phòng ở cácđịa phương, các nước khác nhau hay còn có thêm phòng quan hệ quốc tế…
Mạng lưới tổ chức một công ty chứng khoán:
Phó Giám đốc điều hành khối II
Phòng
tổ chức hành chính
Phòng ngân quỹ
Phòng
kế toán ký quỹPhòng
Phòng hạch toán tín dụng
Phòng
kế hoạch kinh doanh
Phòng phát triển sản phẩm mới
Phòng tin học
Phòng pháp chế
Nhà đầu tư
Chi nhánh Cty CK
Trang 111.3 Chức năng nhiệm vụ của công ty chứng khoán
1.3.1 Chức năng môi giới chứng khoán
1.3.2.2 Mục đích của hoạt động tự doanh.
Mục đích của hoạt động tự doanh nhằm thu lợi nhuận cho chính mình Tuynhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường, pháp luật các nướcđều yêu cầu các công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh phải đápứng yêu cầu về vốn và con người
1.3.2.3 Những yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh.
Trang 12hàng với các tài sản của công ty.
*Ưu tiên khách hàng
- Công ty chứng khoán phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên cho khách hàng khithực hiện nghiệp vụ tự doanh Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàngphải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty
* Bình ổn thị trường
- Bên cạnh hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, các công ty chứngkhoán với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông qua hoạtđộng tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá của cácloại chứng khoán trên thị trường
1.3.3 Chức năng bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành là việc một tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thựchiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứngkhoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành
Bảo lãnh phát hành gồm có các phương thức sau:
- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ
chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phânphối được hết chứng khoán hay không
- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: là phương thức thường được áp
dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở cácnước phát triển Theo cách này chúng ta hiểu là tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mualại nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và
Trang 13tổ chức bảo lãnh yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số chứng khoán nhất định, nếukhông phân phối được sẽ hủy toàn bộ đợt phát hành.
- Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa: tổ chức phát hành yêu cầu tổ
chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn) Vượt trênmức ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quyđịnh (mức trần) Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn yêu cầu thìtoàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ
1.3.4 Chức năng tư vấn đầu tư
- Không bảo đảm chắc chắn về giá trị của chứng khoán
- Luôn nhắc nhỏ khách hàng rằng lời tư vấn của mình có thể hoàn toànkhông chính xác, không chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời khuyên đó
- Không lôi kéo khách hàng mua một loại chứng khoán nào đó nhằm chuộclợi cho bản thân
1.3.5 Chức năng quản lý danh mục đầu tư
Đây là một dạng nghiệp vụ tư vấn của công ty chứng khoán nhưng ở mức độcao hơn trong hoạt động này, khách hàng ủy thác cho công ty chứng khoán thaymặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã đượckhách hàng chấp nhận
Trang 14CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7năm 2000, tính đến tháng 7 năm 2007 tức là sau 7 năm Ủy Ban Chứng Khoán NhàNước đã cấp phép hoạt động kinh doanh chứng khoán cho 61 công ty, với tổng vốnđiều lệ đạt 6.959 tỷ đồng Và tính đến thời điểm đầu tháng 6 năm 2013 thì con sốcông ty chứng khoán hoạt động trên thị trường chứng khoán đã lên đến 327 tại sànHOSE( TPHCM), 406 tại sàn HNX(Hà Nội), 137 tại sàn UPCOM(Công ty đạichúng chưa niêm yết), 1906 tại sàn OTC(thị trường tự do) Như vậy có thể thấytốc độ phát triển và bùng nổ các công ty chứng khoán rất là nhanh chóng trongnhững năm gần đây Chúng ta sẽ đi sâu vào nghiên cứu hoạt động của những công
ty chứng khoán này trong những năm gần đây và tại thời điểm hiện tại
2.1 Hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Hoạt động môi giới.
Tính đến hết ngày 30/6/2007 , số tài khoản giao dịch chứng khoán tại cáccông ty chứng khoán đạt 255.185 tài khoản (tăng 169.001 tài khoản, tương đương196% so với thời điểm ngày 1/12/2006) Trong đó, đối với những công ty chứngkhoán đã có bề dày hoạt động, đều chiếm tỷ trọng cao về số lượng nhà đầu tư mởtài khoản giao dịch như VCBS, BVSC, CTCK, SSI, BVSC, BSC (xem bảng dướiđây)
Trang 15Trong giai đoạn từ giữa năm 2007 cho đến thời điểm đầu năm 2013, số lượngtài khoản giao dịch chứng khoán tại các công ty chứng khoán ngày càng tăngmạnh Điển hình ở một số công ty chứng khoán lớn như SSI, ACBS, HSC, KLS,BVSC, VNDS…và còn rất nhiều những công ty chứng khoán khác trên thị trường,
họ đều có một số lượng tài khoản đăng ký giao dịch khổng lồ, chiếm thị phần caotrong hoạt động môi giới chứng khoán
2.1.2 Hoạt động tự doanh
Ở thời điểm những năm 2005-2006 các công ty chứng khoán hoạt động tựdoanh vẫn chưa thực sự nổi bật, các công ty chứng khoán mới chỉ tập trung vàohoạt động môi giới Điều này có thể được nhìn nhận dưới rất nhiều lý do khác nhaunhu: tính chất phức tạp của hoạt động tự doanh hay các công ty chứng khoán chỉmuốn tập trung hoàn thiện nghiệp vụ môi giới trước để từ đó rút kinh nghiệm triểnkhai các hoạt động có lien quan trong tương lai Phức tạp bởi vì muốn tự doanhthành công phải trải qua nhiều bước như: xây dựng chiến lược đầu tư, khai thác vàtìm kiếm cơ hội đầu tư, phân tích đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư, thực hiện đầu
tư, quản lý và thu hồi vốn… Nhưng về mặt cơ bản trong giai đoạn từ năm 2007 trở
đi cho đến nay, đa phần các công ty chứng khoán đã kiểm soát và làm chủ đượcviệc hoàn thiện các nghiệp vụ trên nên nghiệp vụ tự doanh đang trên đà phát triểnnhanh chóng
Nghiệp vụ tự doanh có thể chia thành 2 lĩnh vực:
Các công ty chứng khoán thực hiện việc mua bán chứng khoán niêm yết chochính công ty mình Ở thời điểm 2005-2006 do số lượng chứng khoán niêm yếtcòn ít nên nghiệp vụ này hầu như chưa được triển khai Nhưng cho đến đầu năm
2008, số lượng chứng khoán niêm yết đã lên cao, hoạt động này đã manh nha pháttriển
Các công ty chứng khoán thực hiện tự doanh bằng hình thức mua chứngkhoán không niêm yết trên OTC Tuy nhiên nghiệp vụ này cần tuân thủ nhiềunhững hạn mức do pháp luật quy định
Ngoài ra, một hoạt động tự doanh phổ biến hiện nay của một số công ty
Trang 16chứng khoán là việc mua chứng khoán niêm yết số lượng ít, sau đó sẽ gộp lại đểniêm yết và có thể bán trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Đây là một lĩnh vực
có khả năng mang lại lợi nhuận tương đối lớn cho các công ty chứng khoán
Những công ty chứng khoán tự doanh cổ phiếu ví dụ như CTCK ĐệNhất, CTCK ACB Những công ty chứng khoán tự doanh nhiều trái phiếu làCTCK Ngân hàng NN&PTNT, CTCK Ngân hàng ngoại thương, CTCK Ngân hàngcông thương, CTCK Ngân hàng ĐT&PT Sự gia tăng về giá trị trái phiếu tự doanhtrong thời gian gần đây đã góp phần kích hoạt thị trường thứ cấp về trái phiếu, điều
mà nhiều năm trước đây không có được
2.1.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành
Ở Việt Nam, theo quy định tại thông tư 01/1998/TT-UBCK ngày 13/10/1998của UBCK Nhà nước hướng dẫn nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 vềphát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng thì bảo lãnh phát hành được thực hiệnbằng một trong hai phương thức sau:
- Mua toàn bộ số lượng cổ phiếu, trái phiếu được phép phát hành để bán lại.Đây chính là phương thức cam kết chắc chắn vì tổ chức bảo lãnh phát hành camkết mua toàn bộ lượng cổ phiếu hoặc trái phiếu của đợt phát hành
- Mua số cổ phiếu hoặc trái phiếu còn lại của đợt phát hành chưa phân phốihết Đây thực chất cũng là một dạng của phương thức cam kết chắc chắn, nhưng tổchức bảo lãnh phát hành cam kết mua hết số chứng khoán còn lại của đợt pháthành
Hoạt động bảo lãnh phát hành của các công ty chứng khoán vẫn tập trung
Trang 172013 thì số lượng hợp đồng đã tăng gần như cân đối được tỷ trọng giữa các hoạtđộng khác với hoạt động bảo lãnh phát hành.
2.1.4.Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán.
Tư vấn đầu tư chứng khoán
Mảng hoạt động này nhìn chung đã bắt đầu tiến triển với số hợp đồng tư vấnđầu tư chứng khoán của các công ty đạt 55 hợp đồng (tại thời điểm tháng 8 năm2007) Ở thời điểm 1/1/2007 chỉ có 6 hợp đồng tư vấn đầu tư Và cho đến nay, đã
có hàng trăm hợp đồng tư vấn đầu tư được ký kết và thực hiện Điều này cho thấytrong sự phát triển, các công ty chứng khoán đang dần chuyển sang hướng quantâm, chú trọng hơn đến hoạt động chăm sóc khách hàng
* Tư vấn niêm yết
Tổng số hợp đồng tư vấn niêm yết tại thời điểm tháng 8 năm 2007 của cáccông ty chứng khoán là 100 hợp đồng, trong đó có 9 hợp đồng được ký trong tháng6/2007 Cho đến nay tổng số hợp đồng tư vấn niêm yết tính đến tháng đầu năm
2013 đã lên tới hơn 1000 hợp đồng Như vậy hoạt động tư vấn niêm yết đã pháttriển rất nhanh trong giai đoạn 2007 – 2012, một con số đáng để chúng ta lưu tâm.Nhưng công ty chứng khoán đang thực hiện nhiều hợp đồng tư vấn niêm yết làCTCK Sài Gòn, CTCK Ngân hàng ACB CTCK Ngân hàng Đông Á…
2.2.Một số thông tin về thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012.
2.2.1.Biến động trong thị trường chứng khoán giai đoạn 2009-2012.
Nhìn lại quãng đường 4 năm qua, kể từ thời hoàng kim năm 2009, lợi nhuậncủa 27 công ty chứng khoán niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán làTP.HCM và Hà Nội cho thấy rõ chiều hướng đi xuống Tổng mức lợi nhuận sauthuế 203,4 tỷ đồng của năm 2012 chỉ bằng 6% so với năm 2009 Tuy vậy, con sốnày vẫn được coi là lạc quan hơn nhiều so với kết quả lỗ gần 1.800 tỷ của toànngành chứng khoán năm 2011 Khi đó, có tới 5 công ty gánh lỗ "khủng" hàng trăm
tỷ đồng
Một yếu tố quan trọng cơ cấu lợi nhuận của các công ty chứng khoán là tự