Hàng loạt truyện ngắn Bảo Ninh là sự đào sâu hiện thực chiến tranh bằng những trải nghiệm cá nhân để làm phong phú thêm cái nhìn của cộng đồng về hiện thực lịch sử một cách sâu sắc, cảm
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-*** -
NGUYỄN THỊ CHIẾN
TRUYỆN NGẮN BẢO NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN BÍCH THU
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2Lời cảm ơn
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
PGS.TS Nguyễn Bích Thu, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong
suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới BGH, bạn bè, đồng nghiệp trường THPT Văn Chấn, Sở GD & ĐT tỉnh Yên Bái cùng những người thân yêu đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Chiến
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề……… 2
3 Mục đích, ý nghĩa của luận văn….……… … .5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu….……… 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 6
6 Phương pháp nghiên cứu……… .6
7 Cấu trúc của luận văn…… ……… 6
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN BẢO NINH TRONG DÒNG CHẢY CỦA TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ CHIẾN TRANH THỜI HẬU CHIẾN 7
1.1 Giới thuyết về truyện ngắn……… ……….7
1.2 Truyện ngắn viết về chiến tranh thời hậu chiến……… 9
1.2.1 Tiền đề lịch sử, chính trị - xã hội, văn hoá – tư tưởng làm nảy sinh nền văn học mới 9
1.2.1.1 Tiền đề lịch sử, chính trị - xã hội………….……… 9
1.2.1.2 Tiền đề văn hoá – tư tưởng……… …… 10
1.2.2 Những cách tân của truyện ngắn viết về chiến tranh thời hậu chiến…… 13
1.3 Bảo Ninh – Cây bút truyện ngắn xuất sắc viết về chiến tranh thời hậu chiến 22
1.3.1 Tiểu sử……… 22
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác ……… …… 22
1.3.3 Ký ức chiến tranh trong truyện ngắn Bảo Ninh……… … 28
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH…… 35
2.1 Giới thuyết về nhân vật……….……… 35
2.1.1 Khái niệm nhân vật ……… 35
2.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học……… 36
2.2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh……… 36
2.2.1 Kiểu nhân vật chịu nhiều mất mát thiệt thòi ……….… 36
2.2.1.1 Những hy sinh, mất mát trong chiến tranh… ……….…… 36
2.2.1.2 Những thiệt thòi, bất hạnh sau chiến tranh ……… ……… 42
Trang 42.2.2 Kiểu nhân vật tự thú và sám hối……… 46
2.2.2.1 Nhân vật với những góc khuất của con người cá nhân…… 46
2.2.2.2 Nhân vật sống trong day dứt, sám hối……… 51
2.2.3 Kiểu nhân vật lạc thời……… … 55
2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật……….… 64
2.3.1 Xây dựng nhân vật qua ngoại hình… ……… … 64
2.3.1 Xây dựng nhân vật qua hồi ức… … ……… … 69
CHƯƠNG 3: KẾT CẤU, NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH… ……… 74
3.1 Kết cấu……… 74
3.1.1 Khái niệm kết cấu……… 74
3.1.2 Kết cấu trong truyện ngắn Bảo Ninh……… 75
1.2.1 Cách mở đầu………75
1.2.2 Cách kết thúc……… 77
3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật……… 84
3.2.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật……… 84
3.2.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh……… 84
3.2.2.1 Ngôn ngữ đậm chất triết lý, chất trữ tình……… 84
3.2.2.2 Một số phương tiện đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh……… .92
3.3 Giọng điệu trần thuật……… 103
3.3.1 Khái niệm giọng điệu……… …… 103
3.3.2 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh……… 105
3.3.2.1 Giọng điệu ngậm ngùi, nuối tiếc, xót xa……… 105
3.3.2.2 Giọng điệu khách quan, lạnh lùng……… 108
PHẦN KẾT LUẬN……… 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 115
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Chiến tranh đã đi qua gần 40 năm nhưng những dấu vết về quá khứ đau
thương vẫn hằn lên trong tâm thức mỗi con người Việt Nam Vết thương da thịt năm tháng có thể lành còn vết thương tâm hồn mãi mãi hằn sâu Đề tài chiến tranh và người lính vẫn luôn là đề tài lớn của văn học nước nhà Nhưng nó đã được thể hiện với “những cảm hứng mới, những cách thức tiếp cận mới, những cách viết mới, chứ không phải là sự nối dài của quá khứ” (Phong Lê) Văn học Việt Nam đã có rất nhiều tác phẩm hay, có giá trị về đề tài này nhưng những người cầm bút vẫn chưa thể hài lòng với thành tựu của chính mình Họ vẫn luôn có ý thức tìm tòi, đổi mới trong bút pháp sáng tạo, trong tư duy thể loại, để thai nghén và cho ra đời những tác phẩm tương xứng với tầm vóc của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc Trên đường hướng đó, văn xuôi Việt Nam đặc biệt là truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh và người lính đã có những bước chuyển mới mẻ và đạt được những thành tựu nhất định
Năm 1987, với truyện ngắn Trại “Bảy chú lùn”, nhà văn Bảo Ninh chính
thức xuất hiện trong đời sống văn học Việt Nam Từ đó đến nay, trên hành trình sáng tạo hơn hai thập kỷ, Bảo Ninh đã có nhiều đóng góp với nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt với dòng văn học viết về chiến tranh thời hậu chiến
1.2 Bên cạnh tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận của tình yêu) đạt
giải nhất Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, đã làm nên tên tuổi Bảo Ninh trên văn đàn Việt Nam và thế giới, là những tác phẩm tự sự cỡ nhỏ của một Bảo Ninh truyện ngắn “bặt thiệp và tinh tế” Những điều ông viết có thể được xem như một sự tri ân cho những cuộc đời mà tuổi trẻ của người lính đã dâng hiến cho dân tộc với những trải nghiệm sâu sắc: “Chiến tranh và đồng đội, ấy là tình yêu của chúng tôi, lớp trẻ trưởng thành lên trong hầm trú ẩn và làm nên ý
nghĩa cuộc đời mình trong trận mạc” (Rửa tay gác kiếm) [60,213]
Truyện ngắn Bảo Ninh đã đem đến cho người đọc một cái nhìn mới về chiến tranh, về cuộc sống của con người trong và sau chiến tranh Dưới cái nhìn
Trang 6hồi cố, nhân vật trong những trang văn của Bảo Ninh đã suy tư, chiêm nghiệm các vấn đề của hôm qua và hôm nay đầy đặn hơn, trọn vẹn hơn Hàng loạt truyện ngắn Bảo Ninh là sự đào sâu hiện thực chiến tranh bằng những trải nghiệm cá nhân để làm phong phú thêm cái nhìn của cộng đồng về hiện thực lịch sử một cách sâu sắc, cảm động, để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc
1.3 Với sức hấp dẫn riêng của thể loại tự sự cỡ nhỏ, sau tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh, truyện ngắn Bảo Ninh đã thu hút được sự chú ý của bạn đọc và
giới nghiên cứu, phê bình văn học đương đại Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào các phương diện: đề tài, cốt truyện, điểm nhìn và nhịp điệu trần thuật… Nhưng bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy truyện ngắn Bảo Ninh vẫn còn tiềm ẩn những vấn đề thôi thúc người đọc tìm hiểu và khám phá như: nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu
Đó là lý do gợi dẫn chúng tôi chọn đề tài “Truyện ngắn Bảo Ninh”, với
mong muốn góp thêm một tiếng nói khẳng định tài năng cùng những đóng góp đáng kể của nhà văn Bảo Ninh đối với nền văn xuôi Việt Nam đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Thời gian gần đây, truyện ngắn Bảo Ninh đã nhận được sự quan tâm của
giới sáng tác cũng như phê bình văn học đương đại Bùi Việt Thắng trong Văn
học Việt Nam thế kỷ XX khẳng định Bảo Ninh là “một trong những nhà văn có
duyên với truyện ngắn” [19,337] Với Những thành tựu của truyện ngắn sau
1975, PGS.TS Bích Thu cũng xem Bảo Ninh là “một cây bút ấn tượng với
người đọc” [75,32]
Trong bài “Nỗi buồn chiến tranh” viết về chiến tranh thời hậu chiến – Từ chủ
nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp, Phạm Xuân Thạch chủ yếu khai
thác những cách tân của Bảo Ninh trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh từ lối viết,
những mạch ngầm văn bản, thế giới nhân vật đến cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh thời hậu chiến Tác giả nhận xét truyện ngắn Bảo Ninh “giống như những mảnh vỡ của tiểu thuyết hoặc phản chiếu, hoặc soi sáng thế giới của tiểu thuyết”;
Trang 7“như một sự đào sâu hiện thực chiến tranh bằng sự trải nghiệm cá nhân để làm phong phú thêm cái nhìn của cộng đồng về hiện thực lịch sử” [43,251]
WayneKarlin trong lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn Tình yêu sau chiến tranh nhận thấy truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh “in dấu
niềm khao khát tình yêu” [83,12], “đối diện trực tiếp với hậu quả chiến tranh, những bậc cha mẹ bị mất con” [83,14]
Với bài giới thiệu tập truyện ngắn Lan man trong lúc kẹt xe - Nxb Hội nhà
văn, 2005, Nguyễn Chí Hoan đã chú ý đến một số yếu tố nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh Tác giả cho rằng: “Cuốn sách này với các câu chuyện của nó là một suy tư chiêm nghiệm vô tận về thân phận” qua cái nhìn hồi cố Các nhân vật trong truyện kể về sự kiện và con người “như là những ấn tượng mạnh mẽ khác thường mà ký ức còn lưu giữ” Do vậy, các mạch truyện “nối vào nhau như những đoạn phim tư liệu được một tay đạo diễn dựng lại một cách ngẫu nhiên” Cái nhìn hình tượng ấy cho ta thấy quá khứ được kể là “cao nhất, lớn hơn, hư ảo hơn đồng thời là thực hơn” Đó là “cái nhìn vào ý nghĩa” mà “không phải nhìn vào sự kiện, biến cố, con người một cách thông thường” [60]
Đi vào tìm hiểu thi pháp truyện ngắn Bảo Ninh, tác giả cuốn sách Bình luận truyện ngắn chỉ ra truyện ngắn Khắc dấu mạn thuyền là kiểu tình huống
tượng trưng [71,49]
Tập truyện ngắn Chuyện xưa kết đi, được chưa? – Nxb Văn học, 2009 nhận
được nhiều sự quan tâm của độc giả Trong bài viết Bảo Ninh - nhìn từ thân phận truyện ngắn, Đoàn Ánh Dương đã có nhận xét khá sắc sảo về tập truyện ngắn này: “là một đối ứng với Nỗi buồn chiến tranh, trong sự thống nhất gần như
trọn vẹn của những vấn đề được đề cập: nỗi buồn hậu phương” Tác giả cũng khẳng định: “với Bảo Ninh, chiến tranh là một chấn thương” Trở về sau chiến tranh, ám ảnh bởi những gì mà cuộc chiến mang lại, “Bảo Ninh đã viết về nó, nhìn đời qua lăng kính đó, để vượt lên chấn thương và vượt thoát cái chết mà chấn thương đó quy định” Và “chủ âm trong sáng tác của Bảo Ninh là những hồi tưởng về quá vãng” Do vậy, “ký ức là chất liệu chủ đạo trong sáng tác của
Trang 8Bảo Ninh, còn Bảo Ninh là kẻ “ăn mày ký ức” ấy” Tác giả bài viết còn đưa ra kết luận “đã đến lúc phải đọc Bảo Ninh theo một cách khác: văn Bảo Ninh là câu chuyện đời của chính ông Ở đó, ký ức cá nhân trở thành chất liệu của hư cấu còn hư cấu xét đến cùng như một lẽ viết, và vì thế, một lẽ sống” [16]
Nhị Linh trong bài viết Chuyện xưa kết đi…, trên trang web của báo Quân đội nhân dân cũng có những nhận xét khái quát về tập truyện ngắn này Theo
Nhị Linh, Bảo Ninh đã “không lấy chiến tranh làm trọng tâm cho tác phẩm của mình”, “chiến tranh giống như là một tiếng vọng” và “cảm giác buồn bã buông phủ lên cả tập truyện” [41]
Với Luận văn Thạc sĩ Đề tài chiến tranh chống Mỹ trong truyện ngắn Bảo Ninh, Đại học Vinh, 2006, tác giả Lưu Thị Thanh Trà đi sâu nghiên cứu đề tài
chiến tranh trong truyện ngắn Bảo Ninh trong sự đối sánh với tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh Tác giả khẳng định: “Bảo Ninh đã đem đến cho người đọc
một hiện thực chiến tranh với nỗi buồn dằng dặc, bàng bạc, đau xót trong các truyện ngắn Nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn hậu chiến đã tác động vào số phận, nhân cách của mỗi người lính” [78,95] Từ đó giúp người đọc thấy được những cách nhìn mới của Bảo Ninh trong cách thể hiện đề tài này
Nguyễn Công Danh trên blog của mình cũng có nhận xét về tập truyện
ngắn Chuyện xưa kết đi, được chưa?: “Tập truyện là tập hợp của những câu
chuyện không có gì quá phi phàm Nó giống những điều nhàn tản mà ta thường
hay kể, hay bàn ra tán vào lúc rỗi rãi” Thế nhưng, Chuyện xưa kết đi, được chưa? đã đem đến cho văn chương thời hậu chiến cái nhìn thật khác về chiến
tranh và con người sau chiến tranh: “Như biết bao những cây bút đã từng có thời cầm súng, văn chương Bảo Ninh vẫn ngắt nhịp, chấp câu bằng những tràng tiểu liên, bằng những hố bom sâu hoắm không thể nào khuất lấp trong những con người thời lửa đạn” [13]
Nguyễn Thị Hoá trong Luận văn Thạc sĩ Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Bảo Ninh, Đại học Vinh, 2010 đã đi sâu vào nghiên cứu một số đặc điểm về
nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh Về nội dung, tác giả luận văn tìm
Trang 9hiểu đề tài chiến tranh và đề tài thế sự Về nghệ thuật, tác giả nhận xét: “Các kiểu cốt truyện trong truyện ngắn Bảo Ninh là kết quả của sự lồng ghép các mảng hiện thực, các hình thức của tư duy về hiện thực, các hình thức khái quát hiện thực và
sự dẫn dắt của nghệ thuật văn xuôi, của tư duy văn xuôi hiện đại” [28,27]
Ở Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh,
Đại học Vinh, 2010, tác giả Trần Vân Anh nhận xét: Truyện ngắn Bảo Ninh bộc lộ “sự đa dạng, linh hoạt, uyển chuyển trong lựa chọn điểm nhìn và các thủ pháp trần thuật” [3,34]
Điểm qua các công trình nghiên cứu và một số bài viết về truyện ngắn Bảo Ninh, chúng tôi nhận thấy các tác giả đều thống nhất:
- Bảo Ninh đã đem đến cho người đọc cái nhìn khác về chiến tranh Văn Bảo Ninh là câu chuyện đời của chính mình Với ông, viết về chiến tranh như một lẽ sống, như một nhu cầu tự thân
- Nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu trong truyện ngắn Bảo Ninh chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống
Những ý kiến của các nhà nghiên cứu về truyện ngắn Bảo Ninh là kết quả của nhiều cách tiếp cận khác nhau Luận văn của chúng tôi được kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước với những nhận định, khái quát có tính chất khơi
mở Đó là tiền đề khoa học quý báu giúp chúng tôi tiếp cận đề tài này
3 Mục đích, ý nghĩa của luận văn
Thông qua việc khảo sát, tìm hiểu truyện ngắn Bảo Ninh, luận văn nhằm:
3.1 Nhận diện một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn
Bảo Ninh Trên cơ sở đó chỉ ra những nét đặc sắc, riêng biệt của Bảo Ninh trong cách thể hiện đề tài chiến tranh, cuộc sống người lính thời hậu chiến
3.2 Khẳng định vị trí và ghi nhận đóng góp của Bảo Ninh trong nền văn
xuôi Việt Nam đương đại không chỉ ở tiểu thuyết mà còn ở thể loại truyện ngắn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Bảo Ninh sáng tác nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, ký và phê bình văn học Ở đây, luận văn của chúng tôi chỉ tập trung vào thể loại truyện ngắn
Trang 10Trong truyện ngắn Bảo Ninh, chúng tôi tập trung khai thác các khía cạnh: nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi sẽ tập trung vào các tập truyện:
- Trại “Bảy chú lùn” – Nxb Hà Nội, 1987
- Truyện ngắn Bảo Ninh – Nxb Công an nhân dân, 2002
- Lan man trong lúc kẹt xe – Nxb Hội nhà văn, 2005
- Chuyện xưa kết đi, được chưa? – Nxb Văn học, 2009
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có sự đối sánh giữa truyện ngắn với
tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và một số truyện ngắn của các
nhà văn khác
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như: truyện ngắn, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu
Nhận diện một cách hệ thống truyện ngắn Bảo Ninh và đặt truyện ngắn của nhà văn trong dòng chảy của truyện ngắn viết về chiến tranh từ sau 1975
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp hệ thống
6.2 Phương pháp thống kê, phân loại
6.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
6.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Thư mục tham khảo, Nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Truyện ngắn Bảo Ninh trong dòng chảy của truyện ngắn viết
về chiến tranh thời hậu chiến
Chương 2: Nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh
Chương 3 Kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu trong truyện ngắn Bảo Ninh
Trang 11PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TRUYỆN NGẮN BẢO NINH TRONG DÒNG CHẢY
CỦA TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ CHIẾN TRANH THỜI HẬU CHIẾN 1.1 Giới thuyết về truyện ngắn
Ngay từ tên gọi của thể loại, ta đã thấy truyện ngắn tự nó đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong “một hình thức nhỏ xinh, gọn ghẽ và truyền dẫn cực nhanh những thông tin mới mẻ” Đây là một thể loại có nội khí “một lời mà thiên cổ, gợi mà trăm suy”
Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã đưa ra định nghĩa: “Truyện
ngắn là tác phẩm cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của
nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [23,314]
Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cũng đưa ra khái niệm tương
tự Truyện ngắn là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận đọc nó liền một mạch không nghỉ” [4,359]
Truyện ngắn, nói một cách đơn giản như Nguyễn Công Hoan, trước hết phải “ngắn” Nhưng chính cái sự “ngắn” kia lại là một thách thức mà bất kỳ cây bút nào muốn thử sức để đạt tới thành công đều không dễ vượt qua Dù nhà văn
có thể sáng tác truyện ngắn ở những dạng thức mới ít nhiều mang tính “phi cổ điển” và dù các nhà nghiên cứu có thể đưa ra thêm nhiều định nghĩa về truyện ngắn thì dường như đa số tác giả vẫn khó lòng vượt qua khỏi ý nghĩa truyện ngắn như là một “lát cắt” của hành động “Lát cắt” ấy không chỉ là một phiến đoạn thông thường, mà có khả năng giúp người đọc hồi suy về quá khứ, đồng thời gợi mở các liên tưởng về tương lai
Trang 12Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu của truyện ngắn để phân biệt nó với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có rất nhiều tác phẩm rất ngắn nhưng thực chất là những truyện dài được viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại… lại không phải là truyện ngắn Với tư cách là một thể tài tự sự, truyện ngắn hiện đại ít nhiều mang những đặc tính của tư duy tiểu thuyết Truyện ngắn hiện đại
là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên, truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học
Với dung lượng nhỏ gọn, truyện ngắn có thể có mặt kịp thời trước sự biến chuyển của đời sống Mấy chục năm qua, dân tộc ta đã trải qua nhiều biến chuyển to lớn, phong phú Truyện ngắn rất thích hợp để nhà văn nhanh chóng tìm hiểu, phản ánh và bày tỏ ý kiến trước những vấn đề mới, nóng bỏng đang đặt ra trong xã hội Có thể nói, truyện ngắn là một thể loại “xung kích” giàu tính năng động, được ví như “một người lính trinh sát trên các bước chuyển của đời sống và văn học” [42,221]
Nếu tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó thì truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn thường không nhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh mà thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong quan hệ con người hay đời sống tâm hồn con người Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người
Trang 13Tóm lại, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đã có những ý kiến tương đồng khi đưa ra định nghĩa về thể loại truyện ngắn Tất cả coi truyện ngắn là một “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ”, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Điểm chung cơ bản là sự giới hạn về dung lượng của truyện ngắn và thích hợp với người tiếp nhận đọc “liền một mạch không nghỉ”
Theo chúng tôi, để nhận diện truyện ngắn cần dựa vào hai tiêu chí chính là
dung lượng và thi pháp Các yếu tố như nhân vật, cốt truyện, tình huống, kết
cấu, lối trần thuật, giọng điệu được coi là cơ bản khi tìm hiểu thể loại này Tuy nhiên, như một cơ thể sống bất kỳ, truyện ngắn trong quá trình hình thành
và phát triển lại thâu nạp thêm những đặc điểm mới bởi sự thâm nhập, tác động lẫn nhau giữa các thể loại văn học cũng như do cách đọc của thời đại quy định
Truyện ngắn sau 1975 tập trung nghiên cứu hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh Đó là hiện trạng phức tạp và đa dạng đan xen các mặt tích cực và tiêu cực Trước thực trạng đó, các nhà văn đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, viết về sự thật Chính vì vậy, văn học sau 1975 nói chung, truyện ngắn nói riêng đã mở rộng biên độ phản ánh, có cái nhìn đa diện về hiện thực và con người nên đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận
1.2 Truyện ngắn viết về chiến tranh thời hậu chiến
1.2.1 Tiền đề lịch sử, chính trị - xã hội, văn hoá – tư tưởng làm nảy sinh nền văn học mới
Sau thắng lợi mùa xuân 1975, đất nước bước sang một trang mới Cùng với niềm hạnh phúc của cuộc sống thời bình, chúng ta phải đứng trước vô vàn khó khăn thử thách Đất nước lại phải đối mặt với một cuộc chiến khác không
Trang 14tiếng súng nhưng đầy cam go, quyết liệt Đó là cuộc đọ sức giữa cái tốt và cái xấu, cái thật và cái giả, cái thiện và cái ác ngày càng phức tạp, tinh vi Đúng như nhà văn Nguyên Ngọc nhận định: “Trong cuộc vận động quyết liệt đó, cái thiện vươn lên, thắng lợi một keo Cái ác phải lùi lại, có lúc tưởng đã bị tiêu diệt Nhưng rồi té ra nó chỉ chuyển đổi vị trí Một bộ phận của cái thiện lại chuyển sang phía cái ác Cái ác càng mạnh hơn Và cuộc đấu tranh lại bắt đầu mãi mãi ” [50]
Từ thực tiễn lịch sử, chính trị - xã hội ấy, đổi mới về mọi mặt trong đó có văn học nghệ thuật là một yêu cầu bức thiết Đại hội VI của Đảng đã đem tới một “làn gió mới” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và đời sống văn học nghệ thuật nói riêng Đây là thời điểm ghi nhận sự đổi mới tư duy trên tất cả các lĩnh vực để bắt kịp với quy luật của sự phát triển Vì lẽ đó, văn học không thể đứng ngoài guồng quay ấy và đã cùng các lĩnh vực khác góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới của dân tộc
Như vậy, công cuộc đổi mới mà Đảng đã và đang tiến hành đem đến cho đất nước một sinh khí mới trên các lĩnh vực: chính trị - xã hội, kinh tế và văn hoá tư tưởng Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực ấy, xã hội vẫn tồn tại những hạn chế, tiêu cực làm cho chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người đang có chiều hướng xuống cấp Do vậy, nói như Nguyễn Minh Châu, đấu tranh đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội là “chiến đấu cho quyền sống của từng con người ngày càng tốt đẹp” Chính cuộc chiến đấu đó mới lâu dài
1.2.1.2 Tiền đề văn hoá – tư tưởng
Hiện thực cuộc sống thay đổi Hiện thực ấy không chỉ là hiện thực cách mạng với các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà còn là hiện thực của đời sống hàng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan, phức tạp, chằng chịt đan xen những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống Hiện thực còn là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư cá thể
Chính vì hiện thực cuộc sống thay đổi nên nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu thưởng thức văn nghệ của công chúng cũng thay đổi Công chúng độc giả yêu
Trang 15cầu và mong muốn có được một nền văn nghệ đổi mới Nếu như văn học giai đoạn trước chủ yếu được nhìn nhận như là vũ khí tư tưởng của cách mạng và đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp cách mạng thì văn học hôm nay cũng không
từ bỏ vai trò vũ khí tinh thần, tư tưởng của nó, nhưng được nhấn mạnh ở sức khám phá thực tại, thức tỉnh ý thức về sự thật với vai trò dự báo và tiên cảm Văn học không chỉ là tiếng nói chung của cộng đồng dân tộc, của thời đại như trước đây mà nó còn là phát ngôn của mỗi cá nhân
Quan niệm về kiểu nhà văn cũng được thay đổi Người đọc hôm nay đòi hỏi ở mỗi nhà văn một nhà tư tưởng, một nhà hành động xã hội để không chỉ soi sáng mà còn gợi suy nghĩ của họ để cùng bàn bạc, đối thoại với mọi vấn đề trong cuộc sống Từ đó, mối quan hệ giữa bạn đọc và nhà văn cũng được thay đổi theo hướng dân chủ hoá Người đọc thực sự được tôn trọng, là chủ thể tiếp nhận Nhà văn cũng không còn là người độc quyền ban bố, phán truyền các chân lý nữa mà song hành cùng người đọc khám phá chân lý Nhà văn trở thành người đối thoại bình đẳng với người đọc cùng thời về tất cả những vấn đề mà
cả hai bên cùng quan tâm, lo lắng và đang tìm lời giải cho chính mình Nếu trước đây, nhiệm vụ của nhà văn chủ yếu là ngợi ca và khẳng định cuộc chiến đấu vĩ đại của cả dân tộc thì giờ đây, cuộc sống đòi hỏi nhà văn trở thành người phát hiện, phân tích và đánh giá những vấn đề đang biến động để tìm ra những
sự thật lịch sử, dù đó là niềm vui hay nỗi buồn, là thành công hay thất bại, là ánh sáng hay bóng tối, là cái đã xác định được hướng đi hay là những nghi vấn đối với xã hội và con người
Những điều này đòi hỏi văn học phải chuyển kịp với thời đại, phù hợp với hiện thực mới Có thể nói, sự thay đổi của văn học diễn ra trên mọi thể loại Trong đó, văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn là thể loại có sự thay đổi nhanh nhất, dễ nhận ra nhất
Đề tài chiến tranh vẫn là nguồn cảm hứng lớn cho nhiều nhà văn Trong các tác phẩm, phạm vi hiện thực được mở rộng, có sự bổ sung những miền hiện thực mới mà trước đây chưa có hoặc rất ít được nói đến Nếu hiện thực trong
Trang 16chiến tranh đề cập đến những cam go, khốc liệt nhưng rất hào hùng của dân tộc thì hiện thực sau chiến tranh còn nêu lên những mặt trái của cuộc chiến với những thất bại, những sai lầm, thiếu sót, thậm chí cả sự tha hoá, phản bội, hèn nhát trong hàng ngũ cách mạng Và không phải ngẫu nhiên Nguyễn Minh Châu
kêu gọi văn nghệ sĩ “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” Đó là lời khẩn thiết về tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân nghệ sĩ
trong mối quan hệ với đời sống xã hội Theo đó, người nghệ sĩ không chỉ phản chiếu cái nhìn hiện thực của cộng đồng mà còn có trách nhiệm, bằng lao động nghệ thuật, làm phong phú hơn cái nhìn đó bằng những sáng tạo cá nhân
Trong văn học Việt Nam từ sau năm 1986, người đọc liên tục chứng kiến những “đột biến”, những hiện tượng “lạ”, cả những phẩm chất chưa từng có trước đó Công chúng từ chỗ thờ ơ với văn học nghệ thuật đã trở lại theo dõi văn học nghệ thuật một cách thích thú, hồi hộp, ngạc nhiên, sửng sốt Thậm chí
như bị “shok” (sốc) Đó là sự xuất hiện tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu
(1986) Tác phẩm này đã trở thành sự kiện của văn học, góp phần quan trọng cho sự khởi sắc của thể loại tiểu thuyết Tiếp nữa là sự xuất hiện của Nguyễn
Huy Thiệp với Tướng về hưu in trên báo Văn nghệ ngày 20/6/1987 làm xôn xao
dư luận Truyện ngắn này được xem như sản phẩm của một tài năng độc đáo
Đó còn là sự xuất hiện của Phạm Thị Hoài với tiểu thuyết Thiên sứ, Phùng Gia Lộc với bút ký Cái đêm hôm ấy đêm gì…
Đặc biệt, năm 1991, ba cuốn tiểu thuyết đạt giải nhất Giải thưởng Hội nhà
văn Việt Nam: Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều
ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) gây được một sự bất ngờ lớn đối với bạn đọc Trong đó, Nỗi buồn chiến tranh đã tạo phản ứng
nhiều chiều cho bạn đọc cả khi xuất bản lẫn khi nhận giải thưởng… Gần đây, một số tiểu thuyết viết về chiến tranh đã gây được tiếng vang trong công chúng
như Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh (2000), Khúc bi tráng cuối cùng của Chu
Lai (2004), Những bức tường lửa của Khuất Quang Thuỵ (2005), Cõi đời hư thực của Bùi Thanh Minh (2007), Sóng chìm của Đình Kính (2008)…
Trang 17Truyện ngắn ở mảng đề tài chiến tranh và người lính có thể kể đến: Hai
người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi), hàng loạt truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu: Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Cơn giông…; truyện ngắn của Bảo Ninh: Trại “Bảy chú lùn”, Khắc dấu mạn thuyền, Rửa tay
gác kiếm…; Đêm nguyệt thực của Trung Trung Đỉnh; Có một đêm như thế của Phạm Thị Minh Thư; Chiều vô danh của Hoàng Dân; Tiếng vạc sành của Phạm Trung Khâu; Làng xa và Nhịp điệu khải hoàn của Đỗ Văn Nhâm…
Văn học sau 1975, đặc biệt là sau 1986 đang vận động, chuyển biến do những yêu cầu và tác động xã hội mạnh mẽ, sâu sắc Nó đang tự biến đổi do chính những nhu cầu và đòi hỏi bên trong, vì sự tồn tại và phát triển hợp với quy luật Trong quá trình đó, nó vừa kế thừa những truyền thống tốt đẹp nhất của nền văn học dân tộc đã hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch
sử riêng biệt, vừa phải dần khước từ những gì đã lỗi thời để làm giàu có thêm những đặc điểm mới
1.2.2 Những cách tân của truyện ngắn viết về chiến tranh thời hậu chiến
“Văn học hậu chiến là một khái niệm ước lệ chỉ một giai đoạn văn học ngay
sau chiến tranh mà cảm hứng chính của nó vẫn là suy ngẫm về chiến tranh trong hoàn cảnh mới, của những con người vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, còn bị chi phối bởi quán tính cuộc chiến” [30] Việc xác định khung thời gian tồn tại của văn học hậu chiến chưa được thống nhất Có người cho đó là văn học hai mươi năm sau chiến tranh (1975 - 1995), có người lại nhấn mạnh vào mười lăm năm trước thềm thế kỷ mới (1986 - 2000) Khi dư âm của cuộc chiến còn sâu đậm và tạo thành lực hút mạnh mẽ với người cầm bút thì nhu cầu nhìn lại cuộc chiến vừa qua trở thành một tâm lý thường trực Đó là lúc cuộc sống thời hậu chiến đặt con người, nhất là người lính vào những ngổn ngang, bộn bề, phức tạp, những lạc lõng, chơi vơi khiến họ bật lên những câu hỏi về hôm qua và hôm nay như một sự tái nhận thức chiến tranh và cuộc sống Như vậy, việc xác định thời gian chỉ mang tính tương đối, không thể vạch ra một ranh giới cụ thể và khái niệm văn học hậu chiến cũng chỉ mang tính ước lệ
Trang 18Chiến tranh dù đó là loại gì và diễn biến trong một thời gian dài hay ngắn thì đều để lại những dấu ấn đặc biệt, không thể phai mờ trong lịch sử và số phận của một dân tộc Ý nghĩa và quy mô của cuộc chiến tranh càng lớn, thời gian của cuộc chiến càng dài thì sức tác động của nó càng trở nên sâu sắc và mãnh liệt Về phương diện này, hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ trong 30 năm (1945 - 1975), (nếu tính cả chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc cuối những năm 70 thì ngót 40 năm) là những sự kiện cực kì quan trọng trong lịch sử nhân loại thời kì hiện đại Hiếm có một dân tộc nào phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh có quy mô lớn và tính chất khốc liệt trong một thời gian dài như vậy Với ý nghĩa
đó, mặc dù đất nước đã hòa bình nhưng hậu quả và dư âm chiến tranh chưa hề chấm dứt Thậm chí, nó vẫn tồn tại dai dẳng trong tâm trí nhiều thế hệ Dấu ấn chiến tranh đã và đang khắc sâu trong toàn bộ đời sống tinh thần - tâm lý của
xã hội và ở từng con người
Sinh ra và phát triển trong lòng của cuộc đấu tranh vĩ đại ấy, văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 đã phản ánh trung thành, chân thật, sinh động hiện thực chiến tranh cách mạng của nhân dân ta Trước một hiện thực đang diễn ra cực kì sôi động, phức tạp, ngay từ đầu văn học phải giải quyết nhiệm vụ không đơn giản: vừa phải bao quát cuộc chiến tranh trong tiến trình rất khẩn trương, đầy biến đổi với những chiều rộng luôn luôn mở ra trên mọi bình diện của đời sống, vừa phải chiếm lĩnh, đi vào bản chất, chiều sâu của hiện thực với những vấn đề cốt lõi, nóng bỏng của nó Văn học giai đoạn này đã vươn lên không ngừng làm người bạn đường thân thiết và tin cậy của nhân dân đang chiến đấu, góp phần không nhỏ cho công cuộc đánh đuổi quân xâm lược Nhiệm vụ lịch
sử ấy của văn học trong những năm chiến tranh đã hoàn thành Đó là một nền văn học “xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay” Văn học đã lên án mạnh mẽ tính chất vô nhân đạo của chiến tranh xâm lược, đồng thời khẳng định lý tưởng
Trang 19giải phóng dân tộc và giải phóng con người, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng
Chiến tranh kết thúc, đề tài chiến tranh, cho đến nay vẫn cứ là một đề tài lớn, “một kho chất liệu không thể nào vơi cạn trong nghĩ suy và cảm xúc của con người” (Phong Lê) Tuy không chiếm vị trí số một như văn học giai đoạn trước nhưng đề tài chiến tranh và người lính vẫn phản ánh rõ nét quá trình chuyển biến của ý thức văn học, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kì đổi mới Trong quan niệm của nhiều nhà văn, chiến tranh vẫn là “siêu đề tài”, người lính vẫn là “siêu nhân vật”, càng khám phá càng thấy những “độ rung không mòn nhẵn” Điều đó khẳng định văn học thời bình vẫn luôn quan tâm dành cho đề tài chiến tranh và người lính những trang viết đầy tâm huyết và chân thành
Văn học suy cho cùng là sự phản ánh đời sống, là “một cách sống với hiện thực” bởi “hồn cốt của văn chương là đời sống con người” Văn học những năm sau chiến tranh đã bước sang một quỹ đạo mới, với sự hình thành một đội ngũ viết mới bên cạnh thế hệ cầm bút đã đi qua chiến tranh Họ đã viết về hiện thực của ngày hôm qua và hôm nay từ những cảm quan của hiện tại Các nhà văn đã ý thức được việc phải thay đổi lối viết Nói cách khác, đổi mới là yêu cầu tự thân của người cầm bút Sự thay đổi trạng thái đời sống, ý thức cách tân của chủ thể sáng tạo đã dẫn đến những đột phá trong cách tiếp cận và xử lý chất liệu hiện thực Trong văn học sau 1975, tâm điểm sáng tạo của các cây bút không còn là con người xã hội, con người công dân mà là con người bản thể trong tính đa diện, phức tạp Cùng với cái nhìn mới về con người, các cây bút truyện ngắn đã
đem đến cho văn học những sắc thái mới Sự xuất hiện của truyện ngắn Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi) năm 1977 đã làm cho người đọc ngỡ
ngàng bởi lối tiếp cận đời sống từ những góc khuất mà trước đó văn học chưa chạm tới: con người của đời thường trong chiến tranh Trước đây, đối tượng thẩm mỹ của nhà văn là con người biết hy sinh vì Tổ quốc, hết mình vì công việc chung và luôn tâm niệm trong mình ý nghĩ “còn thằng Mỹ thì không ai có hạnh phúc cả” Con người đó thường được miêu tả trong xu hướng chiến thắng
Trang 20và chủ yếu nghiêng về con người xã hội Với Hai người trở lại trung đoàn, Thái
Bá Lợi đã cho thấy hai mặt sáng tối trong một con người Ở đây, con người được phát hiện và thể hiện chủ yếu trên bình diện đạo đức, được tìm hiểu trong tiến trình hình thành nhân cách mà chiến tranh lại chính là môi trường bộc lộ tính chất phức tạp của tính cách con người Nhân vật Trí vốn là một tổ trưởng trinh sát giỏi trong chiến đấu nhưng trong tình yêu anh ta sẵn sàng dùng thủ đoạn để hạ tình địch của mình Cho dù đó là người bạn đã từng vào sinh ra tử với anh ta nhưng trong lòng chỉ gợn lên một chút ân hận Nó “chỉ thoáng qua như tiếng xẹt của một viên đạn cỡ nhỏ trong một trận đánh lớn” Sau này, trong những bậc thang danh vọng của cuộc đời mình, anh ta còn tiếp tục dẫm đạp lên nhiều giá trị tinh thần khác Ở truyện ngắn này, tác giả đã từ bỏ lối nhìn giản đơn, một chiều về con người nhưng vấn đề đạo đức con người mới được đặt ra một cách khá dè dặt Cách xử lí của tác giả cũng rất nhẹ tay Vì thế, chúng ta thấy nhân vật vẫn chưa phải nhận bất kì sự trả giá nào cho những vi phạm đạo đức mà anh ta gây ra
Sau Hai người trở lại trung đoàn, nhiều tác phẩm khác đã hướng tới việc
khám phá con người trong tính đa diện hơn, toàn vẹn hơn: từ con người nhận
thức trong Bức tranh (Nguyễn Minh Châu), con người với những khao khát hạnh phúc trong Hai người đàn bà xóm trại (Nguyễn Quang Thiều), trong sáng tác
của các nhà văn nữ (Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo, Trần Thuỳ
Mai…) đến con người với những mảng khuất của thế giới tâm linh trong Bến trần gian (Lưu Minh Sơn), con người tha hoá nhân cách trong Tướng về hưu
(Nguyễn Huy Thiệp)… Chưa bao giờ như bây giờ, con người trong văn chương
và những vấn đề của đời sống hiện đại được người viết khai thác ở nhiều chiều kích, được lý giải ở nhiều khía cạnh, nhiều phương diện khác nhau đến vậy
Do nhu cầu mới của xã hội đang ở giai đoạn bước ngoặt, văn học cần phải
nhận thức lại một cách nghiêm khắc quá khứ của chính mình để rút ra kinh
nghiệm và bài học cho hiện tại Do nhu cầu, trình độ của người đọc và sự phát triển về chiều sâu tư duy sáng tạo của đội ngũ đông đảo nhà văn chuyên viết về
Trang 21chiến tranh mà từ đầu những năm 1980, lần đầu tiên chiến tranh bắt đầu hiện ra như đối tượng của sự nghiên cứu và phân tích thông qua văn học, bằng văn học Văn học bắt đầu trở thành hình thái độc đáo để phân tích, đánh giá sự tác động lẫn nhau cực kì phức tạp giữa chiến tranh và số phận con người Sau chiến tranh, nhu cầu được nói thẳng, nói thật trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Điều này được cổ vũ bởi tinh thần dân chủ của đời sống Do vậy, nhiều mặt khác nhau của hiện thực chiến tranh, nhiều vấn đề bức xúc về số phận con người trong chiến tranh trước đây bị bỏ ngỏ hoặc né tránh giờ đã trở lại Chiến tranh không còn là cái nhìn bằng phẳng, ở đó con người hành động để bộc lộ mình mà nó trở thành sức mạnh ghê gớm, khốc liệt nhào nặn chi phối con người, biến đổi con người đến tận cùng trên cả hai cực tốt và xấu, cao thượng và thấp hèn, có cả sự trộn lẫn hai cực đó trong một tính cách, một số phận Sau
1975, các nhà văn nhìn chiến tranh bằng con mắt bình tĩnh và tỉnh táo hơn Họ
có “độ lùi” để nhìn chiến tranh một cách khách quan và đa diện với những khám
phá ở tầng sâu nhân tính mang tính phổ quát hơn Tướng về hưu, Hai người đàn
bà xóm trại, Xưa kia chị đẹp nhất làng, Người sót lại của rừng cười, Họ đã trở thành đàn ông, Cỏ lau… là những truyện ngắn tiêu biểu viết về chiến tranh thời
hậu chiến, thể hiện cách nhìn mới về hiện thực của ngày hôm qua và hôm nay Chiến tranh ngày càng lùi xa nhưng bóng đen về nó vẫn không thôi ám ảnh trong đời sống mỗi người Với những người lính đã từng tham gia chiến trận, chiến tranh vẫn là một kí ức nguyên vẹn trong tâm trí Theo dòng hồi tưởng, chiến tranh hiện ra như nó vốn có, đó là những chiến công, tinh thần quyết chiến nhưng đó cũng là chết chóc, tan tác, chia lìa, đau thương Các tác phẩm cho người đọc thấy rõ sự thật của chiến tranh, phía sau những tấm huân chương và vầng hào quang chiến thắng là những mất mát, hy sinh, những nỗi buồn trĩu nặng Viết về đề tài này, các tác giả như được “giải tỏa” cảm xúc, như được “tri ân” với những người đã khuất và cả với những người còn sống hôm nay Hơn nữa, các nhà văn giai đoạn này viết về chiến tranh với những tư cách khác nhau: “là những công dân, họ viết về chiến tranh trong một trách nhiệm
Trang 22văn hoá: tìm đến cội nguồn lý giải sức mạnh của con người Việt Nam đi qua cái tàn khốc của chiến tranh và làm nên chiến thắng; là người lính, họ viết về chiến tranh trong một món nợ tinh thần với những người đã khuất: làm sống lại hình ảnh của những “đồng đội thân yêu và ruột thịt, vô số và vô danh, những liệt sĩ của lòng nhân, đã làm sáng danh đất nước này và làm nên vẻ đẹp tinh thần cho cuộc kháng chiến”; là những nghệ sĩ có bản lĩnh tri thức, họ đối diện với thực tại của chiến tranh để phản ánh những mất mát thực sự đối với một dân tộc: sự tổn thương nhân tính và tình người” [43,249]
Trong quá trình đổi mới, khi tầm hiểu biết được mở mang, nền văn học được dân chủ hóa thì văn học viết về đề tài chiến tranh đã xuất hiện những dấu hiệu mới Từ vai trò là người cổ vũ cho cuộc chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp, giờ đây khi thắng lợi đã thuộc về dân tộc ta, nhà văn trở thành người đào sâu trực tiếp vào hiện thực cuộc chiến để trình bày, phát hiện mọi mặt của nó Mặt khác,
từ sự thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần VI - 1986, văn học được “cởi trói” theo phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ
sự thật” Nhà văn tự coi mình có nhiệm vụ hấp dẫn là “mổ xẻ” hiện thực chiến tranh, tìm đến những mặt khác nhau của sự thật chiến tranh dù đó là anh hùng hay hèn nhát, niềm vui hay nỗi buồn, chiến công hay thất bại, ánh sáng hay bóng tối, cao cả hay thấp hèn, những cái giá phải trả cho chiến thắng hay những vết hằn, nỗi đau, âm vang của quá khứ chiến tranh trong hiện tại đối với người lính, với cả dân tộc từng phải đương đầu với chiến tranh để đứng vững, để tự bảo vệ mình Nhiều tác phẩm viết theo hướng này đã để lại niềm xúc động sâu
xa trong lòng độc giả Mai (Thanh Quế) là câu chuyện xúc động của người cha
đi tìm mộ con Nỗi đau của người cha sẽ không sao xóa được dù chiến tranh đã
đi qua Chiến tranh không chỉ làm cha mất con, chồng mất vợ, anh mất em mà còn có những người may mắn sống sót đến ngày chiến thắng lại bị hy sinh bởi
những tàn tích của nó để lại Đó là trường hợp của Cần trong truyện ngắn Chú Viễn của Triệu Huấn Trong chiến tranh, Cần là một chiến sĩ đặc công, so với
những người cùng đơn vị, anh may mắn vượt qua nhiều cuộc chiến đấu cam go
Trang 23cho đến ngày thắng lợi Nhưng dù chiến tranh đã ở lại phía sau thì nhiệm vụ của người lính công binh vẫn còn ở phía trước Bao nhiêu bom đạn dội xuống trong chiến tranh bây giờ để lại bấy nhiêu mầm mống tai họa trong lòng đất Cần nhận nhiệm vụ gỡ mìn để giải phóng đất đai Đây là một công việc hết sức phức tạp và nguy hiểm Nó đòi hỏi người chiến sĩ không được có một sai sót nào, nếu không họ có thể phải trả giá bằng cả mạng sống Cần đã đi qua 614 trường hợp nhưng anh không vượt qua được trường hợp 615 Viết về chiến tranh theo hướng này, các nhà văn giúp người đọc không chỉ nhận rõ sự khốc liệt của chiến tranh mà đằng sau chiến công chói lọi là biết bao sự hi sinh thầm lặng, bao sự đau thương mất mát
Sau 1975, hình tượng con người trong văn học được “mổ xẻ” một cách tinh
vi để vạch ra những mặt còn khuất lấp, đồng thời cũng nhân văn hơn bởi sự thấm thía về cái giá phải trả cho hoà bình Sự mất mát, đau thương đâu chỉ với những người lính mà còn là những người phụ nữ Trong truyện ngắn viết thời chiến tranh, người phụ nữ được xây dựng với nét tính cách lý tưởng, họ vượt lên trên hoàn cảnh, chiến thắng hoàn cảnh Sau chiến tranh, những mất mát, thiếu thốn một thời do chiến tranh gây nên trở thành một vết thương đau nhức thường trực trong phần đời còn lại của mỗi người Một nhân vật của Lã Thanh Tùng đã thốt lên: “Đối với phụ nữ, chiến tranh là điều gì đó thật kinh khủng Họ là người chịu thiệt thòi nhất Mãi sau này tớ mới hiểu được điều đó” Nỗi đau do hậu quả chiến tranh người phụ nữ phải gánh chịu xuất hiện ở nhiều truyện ngắn thời kỳ này:
Người mẹ tội lỗi (Xuân Thiều), Núi đợi (Bùi Thị Như Lan), Điều ấy bây giờ con mới hiểu ra (Y Ban), Hai người đàn bà xóm trại (Nguyễn Quang Thiều), Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu)…
Nếu như vấn đề bản năng của con người với những cảm xúc rất thực, rất đời thường bị né tránh trong văn học 1945 - 1975 thì giờ đây, vấn đề này đã được các nhà văn quan tâm và trở thành tâm điểm của nhiều truyện ngắn từng gây được sự chú ý Nhiều truyện ngắn viết về chiến tranh mang đậm tính nhân bản và ít nhiều đề cập đến đến phần bản năng con người Trước những nhu cầu
Trang 24thường tình cá nhân, mỗi người phải đấu tranh, chịu đựng và tìm cho mình
những cách xử lý khác nhau Cốt truyện của Trại “Bảy chú lùn” của Bảo Ninh,
Họ đã trở thành đàn ông của Phạm Ngọc Tiến, Xưa kia chị đẹp nhất làng, Gã thọt của Tạ Duy Anh, Truyền thuyết quán Tiên của Xuân Thiều… đều được
xây dựng trên những ý tưởng đó Qua đây, người đọc cảm nhận được nhiều hơn
sự gian khổ phức tạp của cuộc sống thời chiến
Nếu như chất giọng sử thi tràn ngập trong những tác phẩm văn học trước
1975 thì sau 1975 chất giọng ấy đã dần trở nên ít hơn Truyện ngắn viết về chiến tranh thời hậu chiến có thêm những giọng điệu mới: từ giọng điệu thâm trầm,
khắc khoải trong Họ đã trở thành đàn ông (Phạm Ngọc Tiến), Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu) đến chất giọng xót xa trong Xưa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy Anh), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo)… Sự tìm tòi trong việc khám phá chiều sâu của hiện thực đời sống đã
dẫn đến một nghịch lý: nếu như trước đây, các truyện ngắn viết về nhiều đề tài
có thể chung một giọng điệu, một âm hưởng thì sau chiến tranh lại có thể cùng một đề tài nhưng lại có nhiều âm hưởng, nhiều giọng điệu khác nhau Ví dụ: cùng viết về cuộc gặp gỡ tình cờ của đôi trai gái trên đường chiến tranh nhưng
giọng điệu trong Khắc dấu mạn thuyền của Bảo Ninh khác với giọng điệu trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu Xuyên suốt Mảnh trăng cuối rừng là giọng điệu tin tưởng, lạc quan của người kể chuyện: “Trong tâm hồn
người con gái nhỏ bé, tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, cái sợi chỉ xanh óng ả ấy biết bao bom đạn dội xuống cũng không hề đứt, không thể nào tàn
phá nổi ư?” Còn Khắc dấu mạn thuyền lại là một giọng nuối tiếc, xót xa, da diết
khi nhớ về một kỷ niệm đã ngót hai chục năm rồi mà “nhắm mắt lại, nhìn sâu vào những nẻo đường của ký ức bao giờ cũng thấy hiện lên” Kỷ niệm đó
“không hẳn một nỗi niềm mà chỉ bâng quơ một cảm giác, không thành một câu chuyện mà chỉ như là một nốt sầu vương lại của thời trai trẻ chiến tranh, một thời trai trẻ đã hoàn toàn mai một như là một dư âm vang vọng suốt đời” Hiện tượng
đa giọng điệu không chỉ thể hiện ở các tác giả mà còn ở ngay trong một tác giả
Trang 25Có thể kể đến giọng điệu thâm trầm, day dứt trong Cỏ lau, giọng điệu vừa buồn
bã, tái tê vừa giận dữ trong Mùa trái cóc ở miền Nam… của Nguyễn Minh Châu
Đa phần các truyện ngắn viết sau 1975 đều mang “chất giọng bi và tính bi” Câu chuyện buồn của cô y sĩ Trường Sơn trở về sau chiến tranh trong
Người ở bến sông Châu (Sương Nguyệt Minh) hay nỗi lòng của người mẹ lặn lội đi tìm con trong Thời gian của Cao Duy Thảo được thể hiện với một chất
giọng trầm buồn Những tình huống và tình tiết có trong truyện ngắn nhất quán với vấn đề tác giả đặt ra: Ra khỏi chiến tranh, con người liệu còn gặp những nỗi đau nào nữa? Và thời gian liệu có thể trở thành thứ thuốc giảm đau để giúp người mẹ già đã từng dâng cho Tổ quốc đứa con yêu quý nhất mà rồi bao năm vẫn nhức nhối một nỗi đau ngậm ngùi Chất bi trong giọng điệu ở các truyện ngắn này là sản phẩm của lịch sử Nó ít xuất hiện trong văn học chiến tranh mặc dù hàng ngày con người phải chứng kiến bao đau thương mất mát bởi họ
có một mục đích lớn lao: Vượt lên trên tất cả để giải phóng Tổ quốc, giải phóng dân tộc Chỉ đến sau chiến tranh, chất bi đó mới trở thành giọng điệu phổ biến
Nó được ra đời từ sự nhận thức sâu sắc, thấm thía một cái gì đau hơn nỗi đau
cụ thể và tạo thành những giọng điệu khác nhau Chính sự đa dạng trong cách nhìn và cách thể hiện đó đã tạo ra một bức tranh hiện thực phong phú, đa dạng, phản ánh đúng bản chất cuộc đời và con người
Một đặc điểm không thể không kể đến trong việc đổi mới trong văn học viết về chiến tranh thời hậu chiến là sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật về chiến tranh Đó là sự xuất hiện tính đa dạng của phương thức khái quát hiện thực chiến tranh và tính đa thanh của việc đánh giá hiện thực đó trong tác động của nó đối với số phận đất nước, dân tộc và từng con người Điều này làm cho diện mạo của văn học về chiến tranh trở nên phong phú hơn nhiều, có khả năng đáp ứng nhu cầu và cuốn hút người đọc ngày hôm nay vốn có những đòi hỏi mới, ngày càng phức tạp
Việc thay đổi tư duy nghệ thuật, thay đổi quán tính viết không chỉ là tuyên ngôn mà đã được thể hiện qua các sáng tác Viết về những trạng thái sống của con
Trang 26người trong và sau chiến tranh, các tác giả đã chạm được đến tầng sâu của đời
sống tâm linh, đời sống bản thể của con người Đó là những tác phẩm: Hai người đàn bà xóm trại (Nguyễn Quang Thiều), Xưa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy Anh), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Họ đã trở thành đàn ông (Phạm Ngọc Tiến), Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu)…
Có thể nói, với cái nhìn sâu sắc về chiến tranh, các nhà văn hôm nay đã góp phần tạo nên một không khí sôi nổi trên văn đàn Một số tác giả trẻ đã có sáng tác về chiến tranh như: Nguyễn Thế Hùng, Bùi Thị Như Lan, Trần Thanh Hà… Tuy nhiên, phải thừa nhận văn học viết về chiến tranh dường như vẫn là thách thức với các nhà văn trẻ Dễ nhận ra các gương mặt nổi bật viết về chiến tranh phần lớn là những nhà văn cầm súng đã có cống hiến đáng ghi nhận trong
cuộc chiến và trong sáng tạo nghệ thuật
1.3 Bảo Ninh – Cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học viết về chiến tranh thời hậu chiến
1.3.1 Tiểu sử
Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1952 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Quê ông ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Bảo Ninh vào bộ đội năm 1969 Ông từng chiến đấu ở mặt trận B3 Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10 Năm
1975, ông giải ngũ Từ 1976 - 1981 học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam Từ 1984 - 1986 Bảo Ninh học khoá 2 Trường viết
văn Nguyễn Du Làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ Là hội viên Hội Nhà văn Việt
Trang 27Rời quân ngũ cùng bộ đồ lính bạc phếch trên người, Bảo Ninh kiếm sống với những công việc chẳng lấy gì làm vui vẻ Chỉ đến khi cha ông, giáo sư ngôn ngữ học Hoàng Tuệ, dẫn ông đến nhà bạn thân là Hoàng Ngọc Hiến (trường viết văn Nguyễn Du) thì cuộc đời Bảo Ninh bước sang một trang khác Trong hành trang tâm hồn ông, chiến tranh là “nỗi buồn nguyên khối”, là nỗi nhớ da diết, là kí ức không thể phai mờ Viết về chiến tranh thời hậu chiến, với Bảo Ninh và các nhà văn quân đội chính là niềm khao khát, niềm hạnh phúc và say mê hay cũng là món nợ văn chương cần phải trả đối với cuộc đời Nói như nhà văn Chu Lai, “Bây giờ sau 35 năm, có thể gác lại quá khứ, nhưng không có nghĩa là quên đi quá khứ Vì nếu chúng ta quên đi quá khứ thì lại là có lỗi với những người đã hi sinh, với những bà mẹ Việt Nam anh hùng”
Bảo Ninh ra mắt công chúng bằng truyện ngắn đầu tay Trại “Bảy chú lùn” in trên tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1987 Ít lâu sau, cuốn tiểu thuyết đầu tay Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh xuất hiện nhưng do thị hiếu người đọc lúc bấy giờ nhà xuất bản đã đặt cho nó cái tên Thân phận của tình yêu Đến
năm 1991, tác phẩm đạt giải nhất Giải thưởng Hội nhà văn cùng với hai tác
phẩm khác là Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng thì tên tuổi của Bảo Ninh mới thực sự thu hút
sự chú ý của đông đảo người đọc cùng giới lý luận phê bình và sáng tác Tâm
sự về thành công ban đầu ấy, nhà văn bộc lộ: “Thật ra, đấy là sự ghi dấu của nền văn học Việt Nam thời đổi mới nên một tác giả mới như tôi vẫn được chú ý
và cuốn Nỗi buồn chiến tranh đã được nhận giải thưởng vào thời kì đặc biệt đó,
thời kì văn học có những thay đổi sâu sắc và đích thực”
Nỗi buồn chiến tranh là một tác phẩm không có cốt truyện, tình tiết rành
mạch mà chỉ là những mảng hồi ức chắp nối của nhân vật Kiên - một người lính của tiểu đoàn 27 độc lập hoạt động trên địa bàn B3 còn sống sót - về cuộc chiến tranh đẫm máu vừa qua và về mối tình với cô bạn học trường Bưởi tên Phương Tính chất tự sự và tính chất tự truyện đã giúp Bảo Ninh thể hiện táo bạo quan niệm nghệ thuật cũng như cái nhìn mới về người lính trong chiến
Trang 28tranh sau những “độ lùi” của thời gian Là một nhân chứng bước ra cuộc từ chiến, Bảo Ninh không nhìn chiến tranh bằng những tấm huân chương, những bản anh hùng ca chiến thắng như một số tác phẩm viết trong chiến tranh (như
Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu…) Trong Nỗi buồn chiến tranh, người lính được nhìn
nhận bằng sự thật trần trụi về nỗi đau, nỗi mất mát, nỗi ám ảnh kinh hoàng về
sự tàn khốc của chiến tranh còn chiến tranh hiện lên với tất cả sự tàn khốc, sự ghê rợn… Nó không chỉ bi tráng, bi hùng mà còn là bi thảm Tất cả những gì khốc liệt nhất, đau thương nhất của chiến tranh đều được Bảo Ninh thể hiện
trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh là đứa con tinh thần của một “tay nhà văn
phường” vốn là “binh nhì trong chiến tranh” cố gắng vật lộn để viết một cuốn sách trình bày những cảm nhận, những kỷ niệm về đồng đội, về bạn bè, người thân, tình yêu của mình trong những tháng ngày chiến chinh dằng dặc Người lính năm xưa, nhà văn phường hôm nay đang trong tình trạng “bấn loạn, rối bời” đã ý thức được rất sâu sắc cái giá mà bản thân anh và đồng đội phải trả cho chiến tranh, cho vinh quang và chiến thắng ngày hôm nay Nhưng trước sự thờ ơ, vô cảm của con người hiện tại, anh thấy hụt hẫng, xót xa Anh đã chọn con đường viết văn để trả món nợ tinh thần cho quá khứ, cho đồng đội
Không ai biết đích xác con số tái bản cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh
trong hai chục năm qua là bao nhiêu, nhưng chắc chắn Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh được tái bản khá nhiều lần ở trong và ngoài nước Cho đến nay, đây là cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Việt Nam trong nước được in nhiều
nhất ở nước ngoài Theo thông tin mới nhất, Nỗi buồn chiến tranh đã được
chuyển ngữ và giới thiệu trên 18 quốc gia trên thế giới Tác phẩm sẽ được Nxb Trẻ độc quyền xuất bản bản tiếng Việt kể từ tháng 5/2011 theo thỏa thuận nhượng quyền giữa Nxb và nhà văn Năm 1994, cuốn sách được dịch sang tiếng Anh bởi Frank Palmos và Phan Thanh Hảo đã được ca tụng rộng rãi, đón
nhận một cách nồng nhiệt dưới cái tên The Sorrow of War Tờ Independent,
một trong những nhật báo có uy tín của nước Anh nhận xét về cuốn tiểu thuyết
Trang 29của Bảo Ninh: “Vượt ra ngoài sức tưởng tượng của người Mỹ, Nỗi buồn chiến tranh đi ra từ chiến tranh Việt Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại của thế kỉ Mặt trận phía tây yên tĩnh của Eerrich Maria
Rơmáccơ – Một cuốn sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn Một thành quả lao động tuyệt đẹp”
Nhân danh quá khứ, nỗi buồn đau và nhân danh những người đã ngã xuống, Kiên đối thoại với thời hậu chiến còn chưa hiểu hết về chiến tranh, chưa hiểu hết về nỗi đau của người lính Đây là một tiểu thuyết mang cấu trúc kiểu lồng ghép “tiểu thuyết trong tiểu thuyết”, “tiểu thuyết na ná dòng ý thức” với sự dẫn dắt của nhiều ý tưởng và nguyên tắc khá đặc biệt Vì thế, Bảo Ninh đã đưa
ra một món ăn tinh thần trái với khẩu vị quen thuộc, tạo cho người đọc một cái
nhìn đa chiều, gây nên một làn sóng phê bình rộng rãi “Thân phận của tình yêu
không chỉ nói về chiến tranh mà còn nói về hôm nay Những người lính đã kết thúc chiến tranh một cách vinh quang có đủ tư cách để nói tiếng nói không bằng lòng với những điều tiêu cực ngày hôm nay… Để bạn đọc biết chiến tranh
có nhiều con đường, con đường nào cũng nhằm mục đích mang lại hạnh phúc cho mọi người và bao giờ cũng phải trả giá rất đắt” (Cao Tiến Lê)
Bảo Ninh đã đem lại vinh quang cho nền văn học nước nhà bằng Giải thưởng châu Á 2011 - Nikkei Asia Prizes Đây là giải thưởng thường niên của báo Kinh tế Nhật Bản dành cho những cá nhân và tập thể người châu Á có cống hiến xuất sắc trên 3 lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật và văn hóa Lễ trao giải diễn ra ngày 25/5/2011 tại Tokyo, Nhật Bản Hội đồng xét duyệt trao giải đánh giá nhà văn Bảo Ninh là người có những đóng góp lớn trong lĩnh vực văn học với thiên
tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Cuốn tiểu thuyết này đã được dịch, giới thiệu
tại Nhật Bản liên tiếp trong hai năm 1997, 1999 và được coi là một trong những tác phẩm kinh điển của văn học thế giới về chiến tranh
Nếu như ký ức chiến tranh trở thành nỗi ám ảnh đeo đẳng nhân vật trong
tiểu thuyết của Bảo Ninh thì đối với ông, Nỗi buồn chiến tranh cũng trở thành
nỗi ám ảnh toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông, ít nhất cho tới thời điểm hiện tại
Trang 30Sau Nỗi buồn chiến tranh, tác giả hầu như chỉ sáng tác truyện ngắn Thông qua
hệ thống truyện ngắn, Bảo Ninh đã chứng tỏ được tài năng của mình ở “thể loại
tự sự cỡ nhỏ” này Ông là một cây bút “có duyên” và gây “ấn tượng” với bạn
đọc Trong cuốn Truyện ngắn Bảo Ninh do Nxb Công an nhân dân ấn hành năm 2004 và cuốn Bảo Ninh - Lan man trong lúc kẹt xe - Những truyện ngắn hay nhất và mới nhất của Nxb Hội nhà văn 2005 có 28 truyện ngắn thì đến 22 truyện viết về đài tài chiến tranh và người lính, gồm các truyện: Ba lẻ một, Bên
lề cuộc tấn công, Bí ẩn của làn nước, Cũ xưa, Giang, Mùa khô cuối cùng, Gọi con, Hà Nội lúc không giờ, Hỏa điểm cuối cùng, Hữu khuynh, La Mác - xây - e,
Ngàn năm mây trắng, Rửa tay gác kiếm, Thách đấu, Tình thư, Tiếng vĩ cầm của
quân xâm lăng, Kì ngộ, Lá thư từ Quý Sửu, Ngôi sao vô danh, Thời tiết của kí
ức, Trại “Bảy chú lùn”, Khắc dấu mạn thuyền Sáu truyện ngắn còn lại viết về
đề tài khác trong cuộc sống hiện tại sau chiến tranh Mặc dù không viết trực tiếp
về chiến tranh nhưng những tác phẩm ấy đều là hệ lụy nảy sinh từ chiến tranh Trong 22 truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh và người lính chỉ có ba
truyện được kể ở thời điểm hiện tại: La Mác - xây - e, Ngàn năm mây trắng, Kì ngộ còn lại là truyện xen lẫn giữa quá khứ và hiện tại Trong 22 truyện ngắn ấy
có 15 truyện nhân vật chính là người lính, gồm: Trại “Bảy chú lùn”, Ba lẻ một,
Lá thư từ Quý Sửu, Ngôi sao vô danh, Rửa tay gác kiếm, Khắc dấu mạn thuyền, Bên lề cuộc tấn công, Hữa khuynh, Hà nội lúc không giờ, Cũ xưa, Giang, Mùa khô cuối cùng, Hỏa điểm cuối cùng, Thách đấu, Tình thư Qua sự thống kê trên,
ta thấy viết về chiến tranh và người lính vẫn là “đề tài ruột” của Bảo Ninh
Đầu năm 2009, Nxb Văn học cho ra mắt tập truyện ngắn mới có cái tên
đặc biệt Chuyện xưa kết đi, được chưa? gồm 14 truyện ngắn, trong đó có 7 truyện ngắn đã được đông đảo bạn đọc biết đến trước đó gồm: Mắc cạn, Bội phản, Gọi con, Thách đấu, Cũ xưa, Giang, Hữu khuynh Còn lại 7 truyện ngắn mới là: Sách cấm, Cái búng, Mối ngờ, Bằng chứng, Chuyện xưa kết đi, được chưa?, Đêm trừ tịch, Quay lưng thì chỉ có Cái búng là không tác phẩm viết về
chiến tranh Tập truyện ngắn này là tập hợp của những câu chuyện “không có gì
Trang 31quá phi phàm” nhưng lại là những câu hỏi lớn đặt ra khi người lính hậu chiến Bước ra khỏi chiến tranh trở về với cuộc sống bình thường, họ bị đẩy vào dòng chảy của thời đại, bỡ ngỡ và lạ lẫm với hiện thực thời bình Họ như bị “mắc cạn” vào cái bản lề chuyển giao khắt khe của thời đại Đó là những câu chuyện chưa bao giờ hết của hai thế hệ, thế hệ hôm qua và thế hệ hôm nay
Ngoài cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận của tình yêu) và các tập truyện ngắn, Bảo Ninh còn viết một số bài trên báo Văn nghệ trẻ bàn về sự đổi mới của văn học Trong phần hai của bài viết Văn học đổi mới đến từ cuộc chiến, Bảo Ninh đã chỉ trích một số quan niệm ấu trĩ khi xử lí Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và lý giải về việc thưởng thức văn học của
độc giả Đồng thời đã khen ngợi sự đổi mới đề tài chiến tranh của Thái Bá Lợi (truyện ngắn) và Lê Lựu (tiểu thuyết) Tác giả viết: “Tôi nghĩ rằng họ, chẳng hạn
nhà văn Thái Bá Lợi của Hai người trở lại trung đoàn, nhà văn Lê Lựu của Thời
xa vắng có ý chí đổi mới sáng suốt và mãnh liệt đồng thời quả cảm và gan lỳ
chẳng kém gì người nông dân gan dạ dám chọn con đường đúng đắn nhưng đầy cay đắng và cô đơn của bí thư Kim Ngọc Tôi tự hỏi rằng nếu không có những người nông dân cựu chiến binh kháng chiến chống Mỹ ấy thì liệu nền kinh tế của đất nước và đời sống của mọi người ngày hôm nay sẽ như thế nào?” [63,3] Bảo Ninh là một trong những nhà văn góp phần đổi mới văn học viết về đề tài chiến tranh: “Nếu không có ý chí và tác phẩm sáng ngời tinh thần đổi mới ngay từ đầu những năm 1980 của các nhà văn mà hầu hết là cựu chiến binh thì ngày nay các nhà văn và cả độc giả nữa sẽ có kiểu tư duy văn học kiểu gì?” [63,3] Cũng trên
báo Văn nghệ trẻ ở bài viết Nói hay viết dở, Bảo Ninh đưa ra một quan niệm mới
về việc viết văn của lớp nhà văn sau chiến tranh Ông khẳng định, đổi mới là nhu cầu tự thân của văn học: “Mỗi thời mỗi khác, nhưng tựu trung đều kêu gọi và thôi thúc chúng tôi hãy khác đi, hãy mau mau đổi mới, hãy mạnh dạn cách tân, hãy từ bỏ lối mòn trong suy nghĩ và trong sáng tác” [62,2]
Có thể nói, Bảo Ninh thuộc về một kiểu người viết đặc biệt của văn học Việt Nam đương đại, những nhà văn từng đi qua chiến tranh với tư cách
Trang 32người lính Ở Việt Nam, hầu hết những thành tựu chính của văn học viết về chiến tranh đều thuộc kiểu tác giả này Bảo Ninh nói riêng và một số nhà văn viết về chiến tranh nói chung đã khẳng định một con đường tìm tòi nghệ thuật: Nhìn thẳng vào hiện thực chiến tranh bằng trải nghiệm và cái nhìn cá nhân, tái hiện cái chiều kích đau thương và bộ mặt tàn khốc không hề quy giản của chiến tranh, nói lên tiếng nói cảnh báo về những hiểm họa của chiến tranh để lại thời hậu chiến Đồng thời phục dựng lại hình ảnh của những con người bằng sự chịu đựng và sức mạnh anh hùng đã thực sự làm lên sức mạnh cho cuộc kháng chiến, tái sinh những khát vọng nuôi dưỡng cả một dân tộc trong chiến tranh
1.3.3 Ký ức chiến tranh trong truyện ngắn Bảo Ninh
Chiến tranh đã đi qua gần bốn mươi năm Thế nhưng, những ký ức về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, ký ức về những con người anh hùng trong một thời đại anh hùng thì vẫn tươi mới, vẹn nguyên mỗi khi ta đối diện từng trang sách trong những tác phẩm văn học của thời kỳ này Với Bảo Ninh cũng vậy, câu chuyện chiến tranh chắc chắn sẽ không thể phai mờ
trong ký ức nhà văn
Hầu hết các tác phẩm của Bảo Ninh đều viết về chiến tranh, viết về cuộc sống và những năm tháng chiến đấu của người lính, viết về kẻ thù bên kia chiến tuyến, và viết về những khó khăn trong cuộc sống ở hậu phương miền Bắc khi đất nước bị chia cắt… Có lẽ, không phải chỉ có Bảo Ninh đề cập đến vấn đề chiến tranh thời hậu chiến Nhưng, cái làm nên gương mặt Bảo Ninh chính là cách thể hiện những mất mát đau thương do chiến tranh gây ra cho đất nước và con người Việt Nam Bảo Ninh đã không ngần ngại đề cập đến những mặt trái
và khuất lấp về chiến tranh, về con người trong chiến tranh Những điều đó là
sự suy nghĩ lắng đọng nhất của “một người đã từng cùng vạn người nếm vị mặn của lệ chiến tranh” Đặc biệt, những vấn đề của thời hậu chiến (cuộc sống, con người, đạo đức, mối quan hệ giữa thế hệ hôm qua và thế hệ hôm nay ) được đặt ra một cách thường trực, bức xúc
Trang 33Đọc hàng loạt tác phẩm của Bảo Ninh và cũng từng nói chuyện trực tiếp với nhà văn, chúng tôi chợt nhớ đến một nhà văn Nga đã chia sẻ: “Cả thế hệ tôi đều kinh qua suốt cuộc chiến tranh, những người còn lại lác đác có thể đếm được (…) Cũng có thể vì vậy từ mặt trận trở về tôi cầm bút viết, cảm thấy mình mắc nợ với thế hệ mình, với những người mãi nằm lại trên chiến trường trong những chiến hào giờ đã bị phủ lấp Có những người ký ức là sự trừng phạt nhưng có những người ký ức là trách nhiệm” [73] Bảo Ninh thuộc loại thứ hai
Ký ức về cuộc sống và những năm tháng chiến đấu của người lính xuất hiện đậm đặc trong sáng tác của Bảo Ninh Cuộc sống đời lính với bao khó khăn gian khổ, thiếu thốn nhưng người lính sẵn sàng hy sinh cả tuổi trẻ, tình
yêu của mình để phục vụ cho sự nghiệp chung của cả dân tộc (Mộc trong Trại
“Bảy chú lùn”, Phúc trong Bên lề cuộc tấn công, Tuấn “bột” trong Bằng chứng…) Đó là ký ức về những ngày chiến tranh mà các nhân vật chính trong vai người kể chuyện bày tỏ: “như tôi còn thời nào nữa ngoài thời đã qua” (Hà Nội lúc không giờ), “giờ đây nhớ lại những ngày tháng cuối cùng của đời bộ đội lòng tôi vô hạn một nỗi buồn nhớ sâu lặng” (Rửa tay gác kiếm) Đó là ký ức
về một cuộc chiến tranh đã ăn sâu vào trong tiềm thức nhân vật: “Một cuộc chiến tranh chẳng những mãi mãi đè nặng, mãi mãi ám ảnh mà về thực chất nó còn nguyên nhân của mọi khúc đoạn và nông nỗi của đời anh, kể cả hạnh phúc,
kể cả khổ đau, niềm vui và nỗi buồn, tình yêu và oán hờn” [59,81]
Bảo Ninh trải lòng mình trong trang viết khi hồi tưởng những tháng năm tuyển quân đi nghĩa vụ của lớp người con ưu tú: “Mà thật ra, nào phải là tôi, thật ra là nhân dân, nhân dân muôn thuở dịu hiền, muôn thuở cầu ước sống bình yên, đã âm thầm cảm thấu con sóng thời đại mới đang ập thẳng tới bến bờ Tổ quốc tôi Một thời đại lớn lao và nghiệt ngã chưa từng có Thời của chiến tranh
và của cách mạng lay trời, thời của những đau thương vô hạn, những mất mát vô
bờ, thời của chủ nghĩa anh hùng tuyệt đỉnh, của sức chịu đựng vô cùng, thời của
tình yêu và của lòng quả cảm” (Hà Nội lúc không giờ) [60, 133] Trong truyện ngắn Bảo Ninh, người đọc bắt gặp những sự hội ngộ đẹp đến kỳ lạ Ba lẻ một là
Trang 34câu chuyện về người chiến sĩ xe tăng hơn 20 năm đi tìm đồng đội, trở lại Nhà Trang tình cờ vào lại điểm dừng chân ngày xưa trên đường hành quân
Ký ức về thời đi học, thời sơ tán, những tình cảm đầu đời được nhìn qua lăng kính của chiến tranh như một hệ luỵ nảy sinh từ việc nếm trải chiến tranh -
Ký ức nhuốm màu chấn thương Trong văn của Bảo Ninh, người ta tìm thấy những phút giây hạnh phúc đầy kỷ niệm của người lính, ngắn ngủi thôi nhưng
sẽ theo họ đi suốt cuộc đời Những tình cảm đó đến bất chợt nhưng ấn tượng nó
để lại thì còn mãi theo thời gian Người ta thấy một sự đồng điệu với hình
tượng sợi chỉ xanh óng ánh trong văn của Nguyễn Minh Châu Bảo Ninh viết trong tác phẩm Giang, câu chuyện về cuộc gặp gỡ tình cờ của anh lính trẻ với
Nhật Giang, cô con gái Tham mưu trưởng đêm trước khi về đơn vị: “Chiến tranh, đời lính, tuổi trẻ, mọi sự là như thế, chỉ thế thôi, thoảng nhanh Thoảng nhanh nhưng không tắt lịm Chỉ thế thôi nhưng để rồi sau này cứ nhớ mãi Trở thành nỗi đau Những nỗi đau mất mát âm thầm Chắc là bây giờ Nhật Giang vẫn còn nhớ đến tôi, người lính trẻ vô danh hơn ba chục năm về trước Tôi thì không bao giờ quên cô ấy, mặc dù thực ra là có gì đâu một tình cờ như thế, một gặp gỡ vẩn vơ, lưu luyến mơ hồ gần như không có thật mà năm tháng cuộc đời
cứ mãi chồng chất lên muốn xóa nhòa” [61,64] Lãng mạn hơn và cũng nuối tiếc hơn là cuộc hẹn ước hư ảo của cô gái và người lính quen nhau khi cùng trú bom Chàng trai sau này không tìm được nhà của cô nữa bởi anh chỉ nhớ được nơi đó ở gần ga và có đoàn tàu điện đỗ Bóng dáng thân yêu về kỷ niệm đó vẫn theo người lính cho đến những ngày trở về trong hòa bình: “Trở về sau chiến tranh, khi họa hoằn có dịp nào qua Hà Nội thì tôi vẫn chỉ một lối mòn xe điện
ấy để đi Cứ như thế thôi, chẳng phải để tìm thấy một cái gì, cũng chẳng phải là
để đi đến đâu” (Khắc dấu mạn thuyền)
Ký ức về thời sơ tán, thời đi học có thể bắt nguồn từ những tình huống nhỏ nhặt nhưng lại ám ảnh, day dứt, đi theo Bảo Ninh đến suốt cuộc đời Đó có thể
chỉ là một lời trêu chọc của đám thanh niên trong lần đầu tiên hẹn hò (Cái búng), là nỗi băn khoăn, ưu tư đi suốt cuộc đời của “tôi” về Thuỷ (Sách cấm),
Trang 35là sự ghen ghét, đố kỵ trước một người học giỏi hơn mình (Thách đấu), hay chỉ
vì phút nông nổi biến Tân thành Tấn (Mối ngờ)… Có thể nói, tất cả chỉ là
“những phác thảo” nhưng lại gợi ra thật nhiều Nó khiến người đọc đôi khi giật mình Bởi trong cuộc sống, chúng ta đã từng chứng kiến hoặc đã trải qua biết bao những tình huống thoảng qua như thế!
Viết về đất nước mình, đồng đội mình là thế, vậy còn những người phía bên kia chiến tuyến thì Bảo Ninh nhìn nhận ra sao? Không bênh vực, cũng không đánh đồng, chỉ giản đơn như một sự trình bày những điều tai nghe mắt thấy, Bảo
Ninh ghi lại trong Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng thông qua cảm xúc của một người Việt Nam được nước Pháp ngày nay coi là một người bạn Pháp Me xừ
Bôn – một chứng nhân của thời gian, đã chứng kiến nước Pháp bảo hộ trở thành
kẻ thực dân xâm lược ra sao, rồi lại trở thành những người bạn của Việt Nam trong hòa bình thế nào Nhân vật ông già trong truyện này đã mất thăng bằng trong sự xô đẩy của thời cuộc, chỉ nhớ được tiếng vĩ cầm của cô thiếu nữ người Pháp xinh đẹp, dịu hiền với đôi mắt mù và nhớ được giai điệu bài hát tuổi trẻ của mình: “Tôi có hai mối tình: Quê hương tôi và Paris” [60,241]
Trong truyện ngắn của mình, Bảo Ninh đã tái hiện chân thực và sắc nét cuộc sống của người lính thời hậu chiến Chiến tranh kết thúc song hậu quả của nó để lại thật nặng nề Những thiệt hại về vật chất có thể khôi phục được nhưng những
tổn thương về tinh thần đâu dễ gì bù đắp “Tôi” trong Rửa tay gác kiếm cảm thấy
man mác buồn khi chứng kiến sự già đi của người thân, anh em “mỗi người một phương” “Tôi” trở thành nhà văn nhưng ngày càng cảm thấy “lạc lõng” với cuộc sống hiện tại và chìm đắm trong ký ức về những đồng đội, về quãng thời gian ở trại an dưỡng Phải chứng kiến những giấc mơ của Quang, Khương, Tú mới cảm nhận hết những hậu quả và di chứng chiến tranh Nhiều người đi ra từ chiến tranh
nhưng không thể thích nghi được với cuộc sống hiện tại (Mộc trong Trại “Bảy chú lùn”, Tư trong Hữu khuynh, ông già trong Ngôi sao vô danh…)
Người lính thời hậu chiến không chỉ cảm thấy cô đơn, lạc lõng với những người xung quanh, với xã hội mà còn cả khi bên cạnh những người thân thiết
Trang 36nhất Nhân vật bác Lân (Chuyện xưa kết đi, được chưa?) bị người con của
người đồng đội mà mình đã từng cưu mang phản đối gay gắt trước việc ôn lại quá khứ Tác phẩm còn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về thái độ của lớp trẻ đối với quá khứ hào hùng của ông cha…
Truyện ngắn Bảo Ninh là những “suy tư chiêm nghiệm vô tận về thân phận” Tác phẩm của ông không phải là một câu trả lời về số kiếp mà luôn luôn chỉ là những lời gợi ý với đầy những vang vọng sâu xa, những gợi ý dẫn dắt người ta vào suy tưởng Những câu chuyện, những biến cố trong truyện ngắn Bảo Ninh hầu hết đều nảy sinh và bắt nguồn từ bối cảnh chiến trận Điều khiến còn lại trong tâm tưởng người lính không có gì ngoài nỗi đau giống “những ngọn
gió điên rồ như có móng vuốt, cào xé mặt đất” Câu chuyện được kể trong Mùa khô cuối cùng “lẽ ra cũng có thể đặt cho cái tên là Thân phận của tình yêu”
Tình thế éo le trong câu chuyện tình giữa một người lính và một cô ca sĩ bị kẹt lại trong vùng mới giải phóng vào thời điểm hiệp định Paris, phải sống lang thang trầy trật là một kiểu biến cố bi thảm Cái éo le và bi thảm là ở chỗ người đàn ông (Tuấn) bị ràng buộc sinh tử vào bổn phận với cuộc chiến tranh, trong khi người đàn bà sa vào một cảnh sống lầy lữa - sẽ ngang với cái chết nếu không thể thoát ra Mà lối thoát duy nhất vào lúc ấy chỉ có được nếu người đàn ông kia từ bỏ bổn phận chiến đấu của mình trong cuộc chiến Đó là một đối chọi hoàn toàn phi đối xứng giữa một bên là nhân cách cộng đồng với một bên
là nhân cách cá nhân, mà cả hai đều cấp bách như nhau Bất kỳ lựa chọn về phía nào thì cũng là tìm cách phủ nhận cái thân phận mà mình đã lâm vào Sự lựa chọn có thể đáng giá bằng mạng sống hoặc bằng một món nợ tinh thần mà tâm trí người ta phải đeo mang suốt cuộc đời còn lại
Các nhân vật của Bảo Ninh hầu hết được xây dựng theo môtíp suy tưởng
về một vùng ký ức xa xăm Đặc biệt, họ đều là những người đàn ông đã bước qua ngưỡng của tuổi trẻ, đã kinh qua chiến trận nên có những suy tư chiêm nghiệm của con người từng trải Do vậy, trong truyện ngắn Bảo Ninh, ta bắt gặp hàng loạt những triết lý về chiến tranh, về con người trong và sau chiến
Trang 37tranh: “Thành phố chiến tranh - Như bên bờ vực” [60,59], “Trong chiến tranh, đau xé lòng người ta nhất là nỗi đau chia lìa, cho nên hạnh phúc lớn nhất trong ngày hoà bình đầu tiên là niềm vui sướng được đoàn tụ” [60,275], “Sự đời, tình người, thần tình vậy đó Tất cả nhẹ tênh Không có gì là vĩnh cửu hết, kể cả nỗi đau khổ, sự khiếp sợ và lòng căm thù” [60,162]…
Ký ức chiến tranh được hồi tưởng lại xuất hiện đậm đặc trong hầu hết các truyện ngắn Bảo Ninh cho nên tác giả thường chọn thời điểm hiện tại hướng về quá khứ Chiến tranh ấy là chiến tranh trong quá khứ, chiến tranh của nhiều thập
niên trước đó (Hà Nội lúc không giờ, Rửa tay gác kiếm, Khắc dấu mạn thuyền…)
Hà Nội lúc không giờ là câu chuyện hướng về dĩ vãng, qua cái nhìn hồi
tưởng của người kể chuyện Nhân vật “tôi” đứng từ thời điểm hiện tại ngược về quá khứ, nhớ về Hà Nội của năm Giáp Thìn xa lắc xa lơ Chiến tranh không phải chỉ ngày một ngày hai mà là cả chuỗi ngày dài đầy khó khăn gian khổ Thời điểm mà Bảo Ninh tạo ra cho nhân vật “tôi” nghĩ về chiến tranh là khoảnh khắc của “Hà Nội trong vắt lúc không giờ” để “về gần hơn với bạn bè một lứa bên trời, về gần hơn với tình yêu ban đầu, về gần hơn với tuổi thơ non dại”
[60,143] Nếu Hà Nội lúc không giờ dẫn người đọc trở về với chiến tranh trong một khoảnh khắc thời gian thì Rửa tay gác kiếm lại đưa độc giả đến với chuỗi
ngày trong quá khứ Dù quá khứ ấy lúc mờ, lúc tỏ, hơi hướng bao năm trận mạc chẳng còn tăm tích nhưng giữa những bộn bề của thời hậu chiến, nhân vật “tôi” cũng tìm lại được dòng chảy dư âm chiến tranh Dấu ấn chiến tranh trong tâm hồn nhân vật là nỗi khiếp sợ của người lính trước tiếng rền vang của máy bay
Mỹ, bom đạn và chất độc màu da cam Đó là những hình ảnh dù cho năm tháng
đi qua nhưng người chiến binh vẫn bị ám ảnh Nhà văn Bảo Ninh đã lần giở cho người đọc từng gian khổ mất mát của chiến tranh
Khi miêu tả chiến tranh trong sự hồi tưởng nhà văn đã dựng lên khoảng
cách nhìn của thời gian quá khứ: trong Khắc dấu mạn thuyền, khoảng cách của thời gian là “hai chục năm tròn”, Rửa tay gác kiếm với khoảng thời gian là
“hơn hai chục năm trời sau chiến tranh” Trại “Bảy chú lùn” cũng “hai chục vụ
Trang 38rẫy”, Thời tiết của ký ức cũng “đã non bốn chục năm trời” Với khoảng cách
này, người đọc nhận thấy những câu chuyện được hồi nhớ lại với những nỗi niềm đầy khắc khoải về cuộc chiến đã qua
Như vậy, ký ức về cuộc chiến của dân tộc vẫn còn hằn sâu trong tâm trí và trong những sáng tác Bảo Ninh Với “độ lùi” thời gian và với tư duy nghệ thuật của mình, Bảo Ninh đã cảm nhận chiến tranh, cuộc sống và con người trong và sau chiến tranh trọn vẹn hơn, đa chiều hơn qua cái nhìn hồi cố Nhà văn tập trung vào một cảm hứng chủ đạo: những vấn đề của thời chiến và hậu chiến gắn với những số phận “bị buộc vào và xoay quanh cái trục thời đại ấy”
Trang 39CHƯƠNG 2
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH
2.1 Giới thuyết về nhân vật
2.1.1 Khái niệm nhân vật
Thuật ngữ nhân vật vốn được lấy từ tiếng Pháp và có nguồn gốc từ tiếng
La tinh Lúc đầu người ta gọi bằng “Persona” – cái mặt nạ mà diễn viên đeo vào mặt, về sau gọi là nhân vật khi được miêu tả một cách nghệ thuật trong tác phẩm Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho rằng “nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”
Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Nhân vật văn học
là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng
như “thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong Truyện Kiều” [23,202] Như vậy, nhân
vật văn học được tạo bởi từ nhiều hiện tượng trong cuộc sống, nó không chỉ là con người mà còn là thế giới loài vật, những hình ảnh từ cuộc sống bước vào tác phẩm mang ý nghĩa khái quát cao
Nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên bằng tài nghệ của mình Nhân vật văn học rất phong phú Nó có thể là loài vật, đồ vật… nhưng chủ yếu vẫn là con người Sự thể hiện nhân vật cũng ở những hình thức đa dạng Dù nhân vật là con người hay loài vật, được mô tả đầy đặn hay chỉ một góc cạnh thì mỗi nhân vật đều có vai trò rất quan trọng trong sáng tác của nhà văn Mỗi tác phẩm lại có một hệ thống nhân vật mà trong đó các nhân vật gắn
bó thống nhất với nhau không chỉ bằng tiến trình sự kiện được miêu tả mà còn bằng lôgíc tư duy nghệ thuật của nhà văn Như vậy, “hệ thống nhân vật đem lại cho hình thức nghệ thuật của tác phẩm sự thống nhất và tính chỉnh thể” [53,33]
Trang 402.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học
Trên thực tế, một tác phẩm văn học được đánh giá là có giá trị, có chiều sâu và sức sống lâu bền khi tác phẩm ấy khắc hoạ rõ nét, sinh động hình tượng các nhân vật trong tác phẩm Văn học không thể thiếu nhân vật, vì nhân vật là linh hồn của tác phẩm; là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát, nhận thức hiện thực, cuộc sống và con người; là nơi để nhà văn gửi gắm những tâm tư, ước vọng, những triết lý nhân sinh Đồng thời, qua nhân vật, người đọc thấy được những tư tưởng nghệ thuật và phong cách của nhà văn
Nhân vật văn học mang chức năng cơ bản là “khái quát tính cách con người”, nhưng vì “tính cách là kết tinh của môi trường” nên nhân vật văn học là người dẫn dắt độc giả đi vào thế giới khác nhau của đời sống Thông qua nhân vật văn học, nhà văn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của chính bản thân mình về con người Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề muốn đề cập đến trong tác phẩm Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của
nó còn có thể nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn
mà nhân vật thể hiện
Đặc biệt với truyện ngắn, nhân vật có vai trò quan trọng Nhân vật là linh hồn của mỗi tác phẩm, là người phát ngôn cho tư tưởng nhà văn, thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả Vì vậy, tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn là việc làm hấp dẫn và hứa hẹn nhiều bất ngờ thú vị
2.2 Những kiểu nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh
2.2.1 Kiểu nhân vật chịu mất mát, thiệt thòi
2.2.1.1 Những hy sinh, mất mát trong chiến tranh
Văn học 1945 -1975 hướng về con người sử thi, con người cộng đồng mang nét đẹp lý tưởng của người anh hùng cách mạng, làm chủ thời cuộc Phát hiện lớn nhất trong văn học thời chiến là con người quần chúng, con người tập thể Mọi mâu thuẫn tập trung trên hai giới tuyến đối đầu địch - ta, chiến trận trở thành trung tâm giải quyết mâu thuẫn Trong truyện ngắn của mình, Bảo Ninh