1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại nha trang

86 438 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 463,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy trong những năm qua hoạt động ngân hàng nói chung, và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Nha Trang nói riêng tuy ủaừ cùng với các ngành kinh tế khác đóng góp mộ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-

NGUYỄN ĐÌNH CƯỜNG

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI TẠI NHA TRANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang, tháng 06 năm 2008

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-

NGUYỄN ĐÌNH CƯỜNG

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI TẠI NHA TRANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành : Kinh tế thủy sản

Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Thị Hiển

Nha Trang, tháng 06 năm 2008

Trang 3

LễỉI MễÛ ẹAÀU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình hội nhập của nền kinh tế đặt ra là Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực nâng cao các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và dịch vụ để từng bước bắt kịp các quốc gia trên thế giới và trong khu vực nhằm thực hiện mối quan hệ bình đẳng và cùng có lợi giữa các nước với nhau

Là một đất nước đang trên đà phát triển, Việt Nam tiến hành công nghiệp hoá, hiện

đại hoá trong môi trường có nhiều khó khăn, nhất là vấn đề thiếu hụt nguồn vốn Thị trường vốn ở mức độ phôi thai, dòng vốn chủ yếu để cung ứng cho nền kinh tế là dòng vốn tín dụng trong đó cơ bản là tín dụng ngân hàng Trong khi đó, hệ thống ngân hàng thương mại chỉ là

định chế tài chính trung gian có nhiệm vụ thu hút nguồn vốn đối với mọi thành phần kinh tế trong xaừ hội, đồng thời có nhiệm vụ truyền tải vốn đến nơi mà ở đó có khả năng tạo sự tăng trưởng cho nền kinh tế, nghĩa là giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư

Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trong thị trường tài chính tiền tệ

là hoạt động rất nhạy cảm Mọi biến động của nền kinh tế đều nhanh chóng tác động đến lĩnh vực ngân hàng Do vậy trong những năm qua hoạt động ngân hàng nói chung, và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Nha Trang nói riêng tuy ủaừ cùng với các ngành kinh tế khác đóng góp một cách đáng kể cho sự nghiệp phát triển kinh tế, nhất là từng bước hình thành và phát triển kinh tế tại tỉnh nhà; nhưng cũng bộc lộ nhiều tồn tại đáng kể trong công cuộc đổi mới đất nước, dẫn đến lợi ích kinh tế bị suy giảm, thậm chí chưa thật sự tạo niềm tin cho khách hàng

Vì vậy, làm thế nào để hạn chế các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng là quá trình được nhiều người quan tâm, kể cả cộng đồng tài chính quốc tế

Từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài: “ Giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại Nha Trang “

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống cơ sở lý luận về rủi ro, các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh ngân hàng

Đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Nha Trang

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò hoạt động của ngân hàng, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh ngân hàng để phát triển vị thế cạnh tranh trong tiến trình hội nhập

Trang 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động và rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng

Phạm vi nghiên cứu: Các Ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Nha Trang Trong luận văn này chỉ xin giới hạn phân tích các loại rủi ro làm ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà các nhà quản trị ngân hàng cần quan tâm một cách thường xuyên bao gồm : Rủi ro thanh khoản – Rủi ro tín dụng – Rủi ro tỷ giá – Rủi ro laừi suất Trong đó đề cập sâu hơn là Rủi ro tín dụng

đến các loại rủi ro đối với các ngân hàng thương mại tại Nha Trang

Phân tích những mặt mạnh, mặt yếu của hoạt động kinh doanh ngân hàng trong thời gian qua Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

6 Kết cấu luận văn

Lời mở đầu

Chương 1 Cơ sở lyự luận về rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Chương 2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Nha Trang

Chương 3 Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Nha Trang

Kiến nghị và kết luận

Trang 5

CHƯƠNG 1 Cễ SễÛ LYÙ LUAÄN VEÀ RUÛI RO TRONG HOAẽT ẹOÄNG NGAÂN HAỉNG

1.1 LYÙ THUYEÁT VEÀ HOAẽT ẹOÄNG KINH DOANH NGAÂN HAỉNG

Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khoá X thông qua ngày 12 tháng 12 năm

1997, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004 giải thích từ ngữ: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Luật này còn giải thích: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy

định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm

dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán

Như vậy xét về bản chất thì ngân hàng là loại hình doanh nghiệp, vì có nguồn vốn riêng, thực hiện hoạt động mua, bán trên thị trường, có chi phí, lãi hoặc lỗ …Đồng thời là doanh nghiệp đặc biệt, vì đuợc kinh doanh hàng hoá đặc biệt là tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng theo quy định của pháp luật

Xuất phát từ nội dung trên thì hoạt động kinh doanh ngân hàng gồm các nghiệp vụ chủ yếu sau:

1.1.1 Nghiệp vụ nguồn vốn

Là nghiệp vụ hình thành nên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng

1.1.1.1 Vốn điều lệ và các quỹ

- Vốn điều lệ: là nguồn vốn khi ngân hàng mới bắt đầu đi vào hoạt động đuợc ghi vào

điều lệ hoạt động của ngân hàng Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật Vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp nếu là ngân hàng thương mại nhà nước; Do các

cổ đông góp nếu là ngân hàng thương mại cổ phần Vốn điều lệ được thay đổi theo xu hướng tăng lên thông qua việc cấp vốn bổ sung hoặc phát hành cổ phiếu bổ sung hoặc được kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật Vốn điều lệ thường

được sử dụng trước tiên là tạo cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động ngân hàng như mua sắm tài sản cố định, phương tiện làm việc và quản lý Ngoài ra còn được phép sử dụng để hùn vốn liên doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác

- Các quỹ của ngân hàng: đuợc hình thành khi ngân hàng đi vào hoạt động, gồm các quỹ được trích từ lãi ròng hàng năm như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư và phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi Ngoài ra còn có các quỹ được hình thành bằng cách trích và tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng như quỹ khấu hao cơ bản, sửa chữa tài sản, dự phòng để xử lý rủi ro …

Trang 6

1.1.1.4 Nguồn vốn khác

Là nguồn vốn phát sinh không thuộc các nguồn vốn trên trong quá trình hoạt động như vốn nhận ủy thác từ ngân sách nhà nước , từ các tổ chức phi Chính phủ , vốn chiếm dụng của khách hàng trong quá trình thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt

1.1.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn

Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, thì ngân hàng sử dụng vốn như sau:

1.1.2.1 Thiết lập dự trữ

Các ngân hàng thương mại không sử dụng toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, mà phải dành một phần dự trữ thích hợp nhằm đáp ứng :

-Thực hiện dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước ( NHNN )

-Thực hiện các lệnh rút tiền và thanh toán chuyển khoản của khách hàng

-Chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả tiền lãi

1.1.2.2 Hoạt động tín dụng

Các tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

1.1.2.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

Tổ chức tín dụng là ngân hàng được thực hiện các dịch vụ thanh toán sau:

-Cung ứng các phương tiện thanh toán

-Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng

-Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

Trang 7

-Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác do Ngân hàng Nhà nước quy định

Tổ chức tín dụng được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng

-Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và quốc tế

-Nghiệp vụ ủy thác và đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng -Kinh doanh bất động sản

-Kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm theo quy định của pháp luật

-Dịch vụ tư vấn tài chính , tiền tệ cho khách hàng

-Các dịch vụ khác như bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ

và các dịch vụ khác

Tóm lại, dịch vụ ngân hàng rất đa dạng và phong phú Các ngân hàng sẵn sàng cung cấp dịch vụ theo nhu cầu của khách hàng Có loại hình dịch vụ ngân hàng thực hiện thu phí dịch vụ, có loại dịch vụ ngân hàng được hưởng hoa hồng, nhưng cũng có những dịch vụ ngân hàng miễn phí Điều này thể hiện một mặt dịch vụ ngân hàng là một mảng hoạt động kinh doanh có hiệu quả; mặt khác dịch vụ ngân hàng góp phần tạo điều kiện để mở rộng và phát triển các hoạt động kinh doanh cơ bản khác

1.2 RUÛI RO TRONG HOAẽT ẹOÄNG KINH DOANH NGÂN HAỉNG

Rủi ro nhìn chung có hai đặc tính cơ bản:

-Thứ nhất là biên độ rủi ro, nghĩa là sự thiệt hại ở mức độ nào

-Thứ hai là tần số xuất hiện rủi ro thường xuyên hay không thường xuyên

Với những đặc tính trên thì có thể phân rủi ro thành nhiều loại khác nhau:

Trang 8

Phân theo nguyên nhân

-Rủi ro tĩnh: là rủi ro do các điều kiện tĩnh gây ra

-Rủi ro động: là rủi ro do các điều kiện động gây ra, thường là kết quả của quá trình vận động nền kinh tế, gồm:

+Rủi ro sản xuất: là do sai biệt về số lượng, chất lượng sản phẩm

+Rủi ro thị trường: là do thay đổi về giá của hàng hóa, dịch vụ

Phân theo hiệu qủa

-Rủi ro thuần túy : là rủi ro dẫn đến hậu quả tổn thất chung như thiên tai, hỏa hoạn,

động đất, sóng thần

-Rủi ro suy tính: là rủi ro dẫn đến kết quả lãi , lỗ trong kinh doanh

Trong thực tiễn, đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng theo bản chất nguyên thuỷ thường phải đối mặt với vô vàn rủi ro Dưới đây là các loại rủi ro chính mà các ngân hàng hay

đối mặt:

-Rủi ro thanh khoản: do ngân hàng không có khả năng điều tiết sự giảm sút trong taứi saỷn nụù ( TSN ) hoặc tăng việc chuyển tín dụng ngắn hạn sang tín dụng trung, dài hạn Trong những trường hợp đặc biệt hệ số thanh khoản thấp so với tiêu chuẩn có thể dẫn đến ngân hàng không có khả năng trả được nợ

-Rủi ro tín dụng: Việc khơi tăng khối lượng tín dụng là hoạt động căn bản của hầu hết các ngân hàng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro chủ yếu mà ngân hàng phải đối mặt do người vay

vỡ nợ

-Rủi ro tỷ giá: xảy ra do biến động tỷ giá trên thị trường

-Rủi ro laừi suất: thể hiện sự bất ổn về điều kiện tài chính của một ngân hàng đối với

sự biến động ngược lại của laừi suất

-Rủi ro thị trường: thường xảy ra do thay đổi giá cả trên thị trường

-Rủi ro hoạt động: là rủi ro liên quan đến việc phân chia hoạt động kiểm soát nội bộ

và điều hành ngân hàng, đồng thời do sự cố của hệ thống công nghệ thông tin hoặc do thiên tai , hoả hoạn …

-Rủi ro pháp lý: là loại rủi ro bởi những văn bản hoặc tư vấn pháp lý không đúng, không phù hợp hoặc do pháp luật hiện hành không giải quyết được các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động của ngân hàng

-Rủi ro uy tín: xảy ra do bản chất kinh doanh của ngân hàng đòi hỏi đến sự an toàn của người gửi tiền, người cho vay và thị trường Rủi ro uy tín tăng lên do sự đổ vỡ trong kinh doanh và có liên quan đến luật, các quy định khác

Trang 9

1.2.2 Phaõn loaùi ruỷi ro

1.2.2.1 Ruỷi ro thanh khoaỷn trong hoaùt ủoọng cuỷa ngaõn haứng

a Khái niệm rủi ro thanh khoản

Thanh khoản là khả năng đáp ứng các yêu cầu về vốn khả dụng của ngân hàng Khả năng và yêu cầu về thanh khoản được thể hiện trong nguồn cung và cầu thanh khoản

Bảng 1: Cung - Cầu thanh khoản

Tín dụng được hoàn trả Hoàn trả các khoản đi vay

Doanh thu từ các sản phẩm dịch vụ Cấp tín dụng

Sự khác biệt cung cầu thanh khoản được xác định trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng

Trạng thái thanh khoản ròng = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Trường hợp Cung lớn hơn Cầu dẫn đến thặng dư thanh khoản Do vậy cần xác định nên đầu tư hiệu quả khoản thặng dư này nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản tương lai

Trường hợp Cung nhỏ hơn Cầu thanh khoản dẫn đến thâm hụt thanh khoản Do vậy cần xác định bổ sung vốn thanh khoản ra sao, vào thời gian nào Từ trạng thái thâm hụt có thể hiểu rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản: là khả năng ngân hàng không có đủ nguồn vốn khả dụng ( cung thanh khoản ) với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần đáp ứng cho cầu thanh khoản

b Nguyên nhân rủi ro thanh khoản

Có 3 nguyên nhân chính mà hệ thống ngân hàng thường đối mặt với rủi ro thanh khoản:

Thứ nhất, Rủi ro thanh khoản xảy ra khi tài sản có và tài sản nợ mất cân bằng về thời

Trang 10

Từ đó có thể thấy sự mất cân xứng là do ngân hàng huy động vốn với thời hạn ngắn nhưng cho vay với thời hạn nợ dài hơn, dẫn đến quy mô các dòng tiền ra vào ngân hàng khác biệt về thời điểm xuất hiện, sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản

Thứ hai, do sự nhạy cảm của tài sản tài chính với sự thay đổi laừi suaỏt

Khi laừi suất tăng, người đi vay sẽ hạn chế vay hoặc tìm cách sử dụng hết hạn mức tín dụng ủaừ thoả thuận; người gửi tiền sẽ rút tiền nhằm tìm cơ hội đầu tư với mức laừi suất cao hơn …Từ đó ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng

Thứ ba, ngân hàng thường xuyên phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho khách hàng

Ngân hàng luôn phải đáp ứng lượng tiền mặt cần thiết của khách hàng; hoặc ngân hàng phải thường xuyên xây dựng kế hoạch dòng tiền vào, ra để có phương án thanh khoản thích hợp

c Sự cần thiết phải quản trị rủi ro thanh khoản

Hàng ngày, các ngân hàng phải đối mặt với tính thanh khoản trong hoạt động kinh doanh Vì vậy vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản là hết sức cần thiết, bởi vì:

-Có sự đối kháng giữa thanh khoản và khả năng sinh lời Nếu ngân hàng dự trữ nhiều vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thì khả năng sinh lời thấp và ngược lại Vì thế phải quản trị thanh khoản nhằm tăng khả năng sinh lời, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh

-Sự mất uy tín của ngân hàng nếu rủi ro thanh khoản xảy ra, do sự mất niềm tin của dân chúng và khách hàng

-Trường hợp đăc biệt thì rủi ro thanh khoản làm cho ngân hàng bị phá sản hoặc bị sát nhập Ngoài ra rủi ro thanh khoản mang tính hệ thống có thể đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính, an ninh quốc gia

d Đo lường khả năng thanh khoản

Để đo lường rủi ro thanh khoản, các nhà quản trị ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sửỷ dụng vốn: Phương pháp này thực chất là

đo lường cung cầu thanh khoản, trong đó phần chủ yếu của cung thanh khoản là các khoản tiền gửi, của cầu thanh khoản là các khoản cho vay Các nguồn cung về thanh khoản và các nhu cầu sử dụng thanh khoản như sau:

Trạng thái thanh khoản ròng = Tổng cung thanh khoản -Tổng cầu thanh khoản Phương pháp này bao gồm các bước sau:

Bước một: Dự báo nhu cầu vay vốn và tiền gửi

Bước hai: Tính toán sự tăng giảm dự tính về cho vay và tiền gửi

Trang 11

Bước ba: Xác định khe hở thanh khoản bằng cách tính độ chênh lệch giữa tổng cung thanh khoản ( tăng tiền gửi và giảm cho vay ) và cầu thanh khoản ( tăng cho vay và giảm tiền gửi )

- Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn : Phương pháp này chủ yeỏu quan tâm đến Cầu

thanh khoản Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa trên cơ sở cơ cấu nguồn vốn huy

động theo khả năng giảm nguồn để xác định yêu cầu thanh khoản của ngân hàng Đây là phương pháp phụ thuộc vào kinh nghiệm, đánh giá của nhà quản trị ngân hàng

Phương pháp này bao gồm các bước sau:

Bước một: Xác định cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng dựa trên khả năng vốn bị rút có thể chia thành các nhóm:

-Nguồn vốn ổn định

-Nguồn vốn ít ổn định

-Nguồn vốn nóng

Bước hai: Xác định nhu cầu dự trữ thanh khoản cần thiết cho nguồn vốn trên

Bước ba: Xác định yêu cầu thanh khoản đối với khoản cho vay có chất luợng

Bước bốn: Xác định tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng

- Phương pháp thang đáo hạn

Đây là phương pháp so sánh các dòng tiền vào và dòng tiền ra trong một thời kyứ nhất

định để xác định trạng thái thanh khoản ròng và trạng thái thanh khoản tích lũy

1.2.2.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng

Theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng (Được Quốc hội thông qua ngày 12.12.1997, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.1998) và Luật các tổ chức tín dụng được sửỷa

đổi, bổ sung năm 2004 thì “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sửỷ dụng nguồn vốn

tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng“ Cũng theo điều này thì “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sửỷ dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo laừnh ngân hàng và các nghiệp

vụ khác”

a Khái niệm rủi ro tín dụng

Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sửỷ dụng vốn giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22.04.2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

Trang 12

là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết

b Đặc điểm của rủi ro tín dụng

-Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp

Xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sửỷ dụng vốn cho khách hàng trong một thời hạn nhất định Vì thế những thất thoát, thiệt hại về vốn trước hết là do khách hàng sửỷ dụng vốn

Biểu hiện rõ ràng trong thực tế ngân hàng thường thấy không đầy đủ, chính xác quá trình sửỷ dụng vốn của khách hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng

-Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp

Đây là đặc điểm tất yếu do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính, kinh doanh tiền tệ Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm trên vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro tín dụng khiến sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng càng biểu hiện rõ ràng

-Rủi ro tín dụng có tính tất yếu

Nguồn thông tin không cân xứng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế và ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng Do không thể có được thông tin cân xứng về việc sửỷ dụng vốn vay trong hoạt động kinh doanh của khách hàng, nên bất cứ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro

c Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều cách thức để phân loại, trong luận văn này chỉ đề cập đến hai cách phân loại:

- Phân loại theo tính khách quan và chủ quan

+Rủi ro khách quan: do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, địch họa, khách hàng vay bị chết, mất tích không có người thừa kế hoặc do các biến động khác ngoài

dự kiến làm thất thoát vốn vay

+Rủi ro chủ quan: do các nguyên nhân thuộc về chủ quan của người đi vay, người cho vay vì vô tình hay cố yự làm thất thoát vốn vay

- Phân loại theo nguồn gốc hình thành

+Rủi ro từ phía người cho vay:

- Rủi ro danh mục bao gồm: “Rủi ro nội tại“ xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế “Rủi ro tập trung“ xuất phát do dư nợ tập

Trang 13

- Rủi ro giao dịch bao gồm: “Rủi ro lựa chọn“ là rủi ro liên quan đến kết quả thẩm

định và phân tích tín dụng “Rủi ro bảo đảm“ xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm được quy

định trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản làm đảm bảo nợ vay và mức an toàn của tài sản

“Rủi ro nghiệp vụ“ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng nhằm định hướng việc cho vay, kiểm soát danh mục cho vay; tái xét các danh mục cho vay, bao gồm cả việc sửỷ dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xửỷ lý các khoản cho vay có vấn đề

+Rủi ro từ phía người đi vay:

- Rủi ro về đạo đức: xảy ra khi người vay không có thiện chí hoàn trả nợ, sửỷ dụng vốn vay sai mục đích hoặc cố tình lừa đảo

- Rủi ro về khả năng tài chính yếu kém của người vay

Rủi ro do biến động khả năng không đáp ứng được yêu cầu kinh doanh của người vay không theo kịp những thay đổi về chế độ, chính sách, không thích ứng được với sự cạnh tranh của thị trường

- Rủi ro từ phía người điều hành xảy ra do năng lực quản lý kém

d Nguyên nhân rủi ro tín dụng

- Nguyên nhân khách quan

Với chức năng, nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, các tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh trong một môi trường chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan khác nhau, chủ yếu gồm: Các yếu tố thời tiết, khí hậu – Môi trường kinh tế không thuận lợi chịu sự tác động của nhiều nhân tố như thay đổi chính sách thuế, laừi suất; Các chỉ số cán cân thanh toán ;Hoạt

động đầu tư nước ngoài ; Giá trị của đồng bản tệ ; Mối quan hệ giữa các ngành, khu vực kinh

tế – Chu kyứ hoạt động của doanh nghiệp và của ngành – Thông tin không cân xứng trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng

- Nguyên nhân từ phía ngân hàng

- Chính sách tín dụng không hợp lý được biểu hiện như: cơ cấu tín dụng thiết lập không căn cứ trên cơ sở cơ cấu kinh tế trên địa bàn và khả năng nguồn vốn của ngân hàng; Chính sách laừi suất và “giá” không linh hoạt so với đối thủ cạnh tranh Quy trình nghiệp vụ thiếu chặt chẽ và chưa phát huy được sự chủ động sáng tạo của cán bộ tín dụng; Cơ chế giám sát cán bộ thiếu tính khoa học, và chính sách thưởng, phạt chưa nghiêm minh

- Quy trình tín dụng thiếu chặt chẽ và không phù hợp dẫn đến hiện trạng không phát huy được tác dụng kích thích nền kinh tế tăng trưởng, mà còn làm tăng rủi ro tín dụng do một

số nguyên nhân:

Trang 14

+ Thông tin cần phải thực hiện trong các bước không được quy định đầy đủ và phù hợp

+ Mối quan hệ giữa các bước không được nhận thức đầy đủ: Việc thiết lập hồ sơ khách hàng mới dừng lại ở việc tuân thủ quy định mà không nhận thức những yêu cầu cần thiết khác

+ Chất lượng thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác thẩm định Công tác kiểm tra, giám sát khách hàng chưa được duy trì trong suốt qúa trình quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng

+ Cán bộ ngân hàng còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn ngân hàng, không am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, đạo đức nghề nghiệp yếu kém gây ra tiêu cực trong công tác, chất lượng tín dụng kém

- Nguyên nhân từ phía khách hàng

- Đối với khách hàng là doanh nghiệp

Việc quản lý doanh nghiệp không hiệu quả do hạn chế trong triển khai kế hoạch và giám sát; Yếu kém trong quản lý thanh khoản; Kinh doanh vượt qúa khả năng quản lý; Giải quyết không đồng bộ và ổn dịnh đối với thị trường đầu vào – đầu ra; Sự hạn chế của đội ngũ nhân viên về trình độ nghiệp vụ và yếu kém về đạo đức

- Đối với khách hàng là hộ gia đình – cá nhân

Rủi ro có thể là hoạt động kinh doanh không thuận lợi, khả năng quản lý yếu kém; Nguồn hoàn trả nợ chính từ thu nhập bị mất hoặc suy giảm; Đạo đức không tốt được biểu hiện sửỷ dụng vốn sai, lừa đảo ngân hàng

- Nguyên nhân từ phía bảo đảm tín dụng

Việc thẩm định giá trị tài sản làm đảm bảo nợ vay ngân hàng bao gồm thế chấp, cầm

cố, bảo laừnh là một trong những điều kiện để ngân hàng quyết định cho vay Hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép các ngân hàng thương mại tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm khi xác định giá trị tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng Đây là một vấn đề khó khăn cho các ngân hàng thương mại , bởi vì:

- Khó định giá các loại tài sản

Trang 15

- Các dấu hiệu tài chính: Để có thể đánh giá một cách khách quan về hoạt động kinh

doanh của khách hàng, ngân hàng có thể sửỷ dụng một số công cụ tài chính để phân loại

khách hàng thông qua một số chỉ tiêu:

+ Các hệ số về khả năng thanh toán: gồm hệ số thanh toán chung – hệ số thanh toán nhanh – hệ số thanh toán laừi vay

+ Các hệ số cơ cấu tài chính: gồm hệ số nợ – Tỷ suất tự tài trợ

+ Các hệ số hiệu quả hoạt động: gồm Số vòng quay hàng tồn kho – Số vòng quay các khoản phải thu – Vòng quay vốn lưu động

+ Các hệ số sinh lời: gồm Doanh lợi doanh thu – Doanh lợi tổng tài sản – Doanh lợi vốn chủ sở hữu

- Các dấu hiệu phi tài chính

Ngoài các dấu hiệu tài chính nêu trên, các dấu hiệu phi tài chính cũng là công cụ để

đánh giá các hoạt động của khách hàng, bao gồm:

Thứ nhất: Dấu hiệu liên quan đến ngân hàng

Ngân hàng cần xem xét một cách thường xuyên đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng thông qua việc khách hàng có thiết lập quan hệ tín dụng thường xuyên hay không Các ngành, nghề kinh doanh của khách hàng có chiều hướng ổn định và phát triển như thế nào Nhu cầu vốn vay có vượt quá nhu cầu vốn cần thiết hay không Khách hàng vay vốn ngân hàng mà không cần tính toán lãi suất vay Kế hoạch trả nợ có phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh không Khách hàng có chậm trễ trong việc hoàn trả nợ ngân hàng không

Thứ hai: Dấu hiệu liên quan đến tính quản lý của khách hàng

Hoạt động kinh doanh của khách hàng luôn gắn liền với việc quản lý nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất Mô hình quản lý có thể khác nhau ở từng nhóm khách hàng Nhưng nhìn chung khi tài trợ tín dụng cho khách hàng thì cần có sự đánh giá về nhân sự và

sự thay đổi về cơ cấu nhân sự có ảnh hưởng ở mức độ nào trong hoạt động Đồng thời cần xem xét tính thống nhất, đồng bộ trong cách quản lý điều hành của bộ phận quản trị Ngoài ra ngân hàng cần tính toán các khoản chi phí quản lý của khách hàng có phù hợp với biện pháp

điều hành hay không nhằm tiết giảm những khoản phí không cần thiết, hoặc cố tình tăng chi phí quản lý, gây nguyên nhân lỗ trong hoạt động kinh doanh

Thứ ba: Dấu hiệu liên quan đến vấn đề kỹ thuật – thương mại

Vấn đề về kỹ thuật, thương mại là nội dung chủ yếu để đánh giá hoạt động kinh doanh của khách hàng mang tính chất ngắn hạn, dài hạn ra sao thông qua khâu sản phẩm

được sản xuất; Việc thay thế sản phẩm hoặc phát triển sản phẩm mới trên thị trường; Hoặc khách hàng có giải pháp thay đổi ngành, nghề kinh doanh có thích ứng với phương pháp quản

Trang 16

lý, trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ …để cạnh tranh với các đối tác khác Ngoài ra cần thường xuyên thu thập thông tin về việc điều chỉnh, bổ sung hoặc thay đổi cơ chế, chính sách của Nhà nước trong các lĩnh vực để hạn chế rủi ro, thậm chí có thể dẫn đến giải thể, phá sản

Thứ tư: Dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính

Quá trình hoạt động của khách hàng luôn gắn liền với các báo cáo số liệu hoạt động

Do vậy ngân hàng cần thiết nắm bắt các các số liệu hoạt động kinh doanh có liên quan, bao gồm kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; tình hình nộp ngân sách nhà nước nhằm có thể phân tích, đánh giá những mặt được, những mặt tồn tại để làm cơ sở cho việc tài trợ tín dụng

có hiệu quả hơn

f Quản trị rủi ro tín dụng

Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong các quyết định cho vay và đầu tư, các ngân hàng cần có các giải pháp đo lường rủi ro tín dụng nhằm mục đích:

- Xác định khả năng hoàn trả của khoản vay

- Xác định mức bù rủi ro tương ứng trong laừi suất của một khoản vay

Muốn làm được việc này các ngân hàng cần phải thu thập thông tin khách hàng một cách đầy đủ và cần có các mô hình để đánh giá rủi ro tín dụng đã được các nhà kinh tế, các ngân hàng và các nhà phân tích sửỷ dụng Các mô hình này phản ánh cả về số lượng, chất lượng của rủi ro tín dụng nhưng không loại trừ lẫn nhau Do vậy một ngân hàng có thể sửỷ dụng nhiều mô hình để phản ánh rủi ro tín dụng từ nhiều góc độ khác nhau

- Mô hình định tính

Việc một ngân hàng đánh giá xác suất rủi ro của người vay, trên cơ sở đó định giá các khoản nợ chính xác đến đâu phụ thuộc nhiều vào lượng thông tin về người vay mà ngân hàng thu thập được Nói chung số lượng thông tin cần thu thập cho mỗi khoản đầu tư phụ thuộc vào qui mô của khoản đầu tư đó và chi phí thu thập thông tin Các yếu tố liên quan đến các quyết định đầu tư được phân như sau:

- Nhóm các yếu tố liên quan đến người vay vốn:

+Tư cách (Character): thể hiện tiếng tăm của công ty, thiện chí trả nợ và lịch sửỷ quan

hệ tín dụng của khách hàng Nếu trong suốt quá trình đi vay người vay luôn trả nợ đầy đủ,

đúng hạn gốc và lãi thì sẽ tạo được uy tín đối với ngân hàng

+Vốn (Capital): thể hiện sự đóng góp của các chủ sở hữu và các tỉ số nợ Nếu nguồn vốn chủ sở hữu cao thì xác suất rủi ro thấp Ngược lại nếu tỷ số nợ cao thì xác suất rủi ro cao

+Năng lực (Capacity): thể hiện năng lực hoạt động và năng lực trả nợ của khách hàng Nội dung này thể hiện năng lực điều hành và quản lý của doanh nghiệp trong quá trình hoạt

Trang 17

động kinh doanh Trường hợp người đứng đầu doanh nghiệp điều hành đúng theo định hướng kinh doanh, nắm bắt được thị trường, quản lý tốt các yếu tố về chi phí thì doanh nghiệp làm

ăn có lãi Ngược lại thì hiệu quả thấp hoặc bị lỗ trong kinh doanh

+Tài sản thế chấp (Collateral): là điều kiện chủ yếu trong bất kỳ một quyết định cho vay nào Thông thường các ngân hàng sử dụng các biện pháp như thế chấp, cầm cố tài sản bảo lãnh tài sản .nhằm thúc đẩy, khuyến khích việc sử dụng vốn có hiệu quả và thực hiện nghĩa vụ trả nợ sòng phẳng cho ngân hàng; đồng thời tạo điều kiện cho ngân hàng khi bị rủi

ro vẫn có khả năng thu hồi một phần hoặc toàn bộ số vốn cho vay bằng cách phát mãi tài sản Tuy nhiên cần lưu ý rằng mọi khoản vay có bảo đảm bằng tài sản không có nghĩa là không có nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tín dụng, bởi vì việc phát mãi tài sản làm đảm bảo mất nhiều thời gian

và đôi khi gặp nhiều cản trở mà ngân hàng không lường trước được

- Nhóm yếu tố liên quan đến thị trường

+Chu kyứ kinh tế (Cycle) : Chu kỳ kinh tế cũng có ảnh hưởng lớn tới việc đánh giá xác suất rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng Ví dụ như trong thời kỳ kinh tế suy thoái thì các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp thường bất lợi hơn so với các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu, bởi vì người tiêu dùng trong thời kỳ này thường tiết giảm các khoản chi cho nhu cầu cao cấp và duy trì các nhu cầu chi thiết yếu như lương thực, thực phẩm

- Mô hình định lượng

Các mô hình định lượng thường sửỷ dụng các dữ liệu phản ánh đặc điểm của người vay

để tính toán xác suất rủi ro tín dụng hoặc để phân loại khách hàng căn cứ mức độ rủi ro ủaừ ủửụùc xác định Để sửỷ dụng các mô hình này, ngân hàng cần phải xác định các chỉ tiêu phản

ánh được các đặc điểm tài chính và kinh doanh có liên quan đến rủi ro tín dụng cho từng đối tượng cho vay cụ thể Sau khi các dữ liệu đã được xác định, kỹ thuật thống kê sẽ được sử dụng để tính toán xác suất rủi ro tín dụng hoặc để phân loại rủi ro tín dụng

+ Mô hình xác suất tuyến tính

Mô hình xác suất tuyến tính sửỷ dụng các số liệu về tài chính, về tình hình chi trả các khoản vay trong quá khứ làm dữ liệu đầu vào dự đoán xác suất chi trả cho các khoản vay mới ( pi )

Giả sử các khoản vay cũ được chia làm 2 nhóm:

- Nhóm có rủi ro mất vốn : Zi = 1

- Nhóm không có rủi ro : Zi = 0

Thiết lập mối quan hệ giữa nhóm này với nhân tố ảnh hưởng tương ứng (Xij) được biểu diễn qua mô hình đường thẳng tuyến tính sau:

Trang 18

Z: Chỉ số biến động đo lường toàn bộ mức độ rủi ro của người vay

X1: Tỷ lệ tài sản lưu động và tổng tài sản có

X2: Tỷ lệ giữa lợi nhuận tích lũy và tổng tài sản có

X3: Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế và laừi trên tổng tài sản có

X4: Tỷ lệ giữa giá thị trường của cổ phiếu và giá kế toán của các khoản nợ dài hạn

X5: Tỷ lệ giữa doanh thu và tổng tài sản có

Giá trị của Z càng lớn thì mức độ rủi ro dự tính của người vay càng nhỏ

Giá trị của Z nhỏ hoặc âm có thể là căn cứ để xếp loại người vay vào nhóm có rủi ro cao

Theo mô hình này thì:

+ Z > 3: người vay không có khả năng vỡ nợ

+ 1,8 < Z < 3: không xác định được

+ Z < 1,8: người vay có khả năng rủi ro

Việc sửỷ dụng mô hình này tương đối đơn giản; tuy vậy nó chứa đựng một số tồn tại sau:

Thứ nhất, chỉ cho phép phân loại hai nhóm người vay có rủi ro và không có rủi ro.Thứ hai, không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức trên là bất biến, dù trong thời gian ngắn Tương tự

Trang 19

như vậy các chỉ số được chọn trong công thức cũng không phải là không thể bất biến, đặc biệt khi các điều kiện kinh doanh và thị trường tài chính đang thay đổi liên tục

Thứ ba, không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có vai trò quan trọng như uy tín, danh tiếng của khách hàng làm ảnh hưởng mức độ rủi ro của khoản vay Mặt khác mô hình này ít khi sử dụng các thông tin thị trường như giá cả các tài sản tài chính, giá các khoản nợ hoặc giá cổ phiếu của công ty

+ Đo lường rủi ro tín dụng thông qua chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng

Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là một quy trình đánh giá xác suất một khách hàng không thực hiện các nghĩa vụ tài chính của mình như không trả được lãi

và gốc nợ vay khi đến hạn hoặc vi phạm các điều kiện tín dụng khác

Các tình huống là các rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng khách hàng và đuợc xác định thông qua quá trình

đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng

Mục đích của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nhằm:

+ Ra quyết định cấp tín dụng: được thể hiện xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi suất, biện pháp bảo đảm tiền vay, phê duyệt hay không phê duyệt cho vay

+ Giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản tín dụng đang còn dư nợ Hạng khách hàng cho phép ngân hàng lường trước những dấu hiệu cho thấy khoản vay đang

có chất lượng xấu đi và có những biện pháp chấn chỉnh kịp thời

+ Phát triển chiến lược marketing nhằm hướng tới các khách hàng có ít rủi ro hơn + Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ khó thu hồi được để trích lập dự phòng tổn thất tín dụng

Kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng được ngân hàng ứng dụng trong việc ra quyết định cấp tín dụng và giám sát sau khi cho vay như sau:

Trang 20

Loại Cấp tín dụng Giám sát sau khi cho vay AAA Ưu tiên đáp ứng tối đa nhu cầu tín dụng với

mức ưu đãi về lãi suất, phí, thời hạn và biện

pháp bảo đảm tiền vay

Kiểm tra khách hàng định kỳ nhằm cập nhật thông tin và tăng cường mối quan hệ

AA Ưu tiên đáp ứng nhu cầu tín dụng với mức

ưu đãi về lãi suất, phí, thời hạn và biện pháp

bảo đảm tiền vay

Kiểm tra khách hàng định kỳ nhằm cập thông tin và tăng cường mối quan hệ

A Ưu tiên đáp ứng nhu cầu tín dụng Không

yêu cầu cao về biện pháp bảo đảm tiền vay

Kiểm tra khách hàng định kỳ nhằm cập nhật thông tin

BBB Có thể mở rộng tín dụng; không hoặc hạn

chế các điều kiện ưu đãi

Đánh giá kỹ về chu kỳ kinh tế và tính hiệu

quả khi cho vay dài hạn

Kiểm tra khách hàng định kỳ nhằm cập nhật thông tin

BB Hạn chế mở rộng tín dụng; tập trung cho

vay ngắn hạn với các biện pháp bảo đảm

tiền vay hiệu quả

Chú trọng kiểm tra việc sử dụng vốn vay, tình hình tài sản làm

đảm bảo

B Hạn chế mở rộng tín dụng và tập trung thu

hồi nợ vay Các khoản vay mới phải thật sự

có hiệu quả và với biện pháp bảo đảm tiền

vay

Tăng cường kiểm tra khách hàng để thu nợ và giám sát hoạt

động

CCC Hạn chế tối đa mở rộng tín dụng Biện pháp

gia hạn nợ chỉ thực hiện nếu có phương án

khắc phục khả thi

Tăng cường kiểm tra khách hàng Tìm cách bổ sung tài sản bảo đảm

CC Không mở rộng tín dụng Tìm mọi biện

pháp để thu hồi nợ

Tăng cường kiểm tra khách hàng Tìm cách bổ sung tài sản bảo đảm

C Tìm mọi biện pháp để thu hồi nợ Xem xét phương án đưa ra Toà

án xử

D Tìm mọi biện pháp để thu hồi nợ Xem xét phương án đưa ra Toà

án xử

Trang 21

1.2.2.3 Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động của ngân hàng

a Khái niệm

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này được biểu thị thông qua một đơn

vị tiền tệ khác

b Rủi ro tỷ giá hối đoái

Theo Peter S.Rose: Rủi ro hối đoái là khả năng tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu

do sự biến động giá cả tiền tệ thế giới

Theo Hennie Van Greunung và Soja Brajovic Bratanovic: Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất phát từ sự thay đổi tỷ giá hối đoái giữa nội tệ và ngoại tệ

c Nguyên nhân rủi ro hối đoái

- Nguyên nhân thứ nhất là do các ngân hàng giao dịch các đồng tiền nước ngoài nhằm phục vụ cho khách hàng và chính bản thân ngân hàng

- Nguyên nhân thứ hai là do các ngân hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng các loại ngoại tệ

Cả hai nguyên nhân trên tạo ra xu hướng trạng thái ngoại hối ròng trong mua bán ngoại hối và trong cơ cấu tài sản bằng ngoại tệ Cụ thể:

Bảng 2 : Tài sản ròng bằng ngoại tệ

Tài sản ròng bằng ngoại tệ = Tài sản có bằng ngoại tệ - Tài sản nợ bằng ngoại tệ

Tài sản ròng bằng ngoại tệ Tỷ giá tăng Tỷ giá giảm

Bảng 3 : Trạng thái ngoại tệ ròng

Trạng thái ngoại tệ ròng = Ngoại tệ mua vào – Ngoại tệ bán ra

Trạng thái ngoại tệ ròng Tỷ giá tăng Tỷ giá giảm

@ Trạng thái rủi ro hối đoái ròng = Tài sản ròng bằng ngoại tệ i + Trạng thái ngoại tệ ròng i

= ( TSC bằng ngoại tệ i - TSN bằng ngoại tệ i ) + ( DS ngoại tệ mua vào i - DS ngoại tệ bán ra i )

Trang 22

Từ bảng trên, có thể nhận thấy trạng thái ngoại hối có thể xảy ra:

- Tài sản có ngoại tệ bằng tài sản nợ ngoại tệ Hiện trạng này không xuất hiện rủi ro

về tỷ giá Tuy nhiên trên thực tế thường xuyên có sự chuyển đổi từ nội tệ sang ngoại tệ và

giữa các ngoại tệ với nhau Vì vậy tình huống này khó có khả năng xảy ra

- Tài sản có một ngoại tệ lớn hơn tài sản nợ một ngoại tệ, được gọi là độ lệch dương

và mức chênh lệch đó gọi là trường thể Trường hợp này ngân hàng phải đối mặt rủi ro tỷ giá

khi đồng tiền đó giảm giá so với đồng bản tệ

- Tài sản có một ngoại tệ nhỏ hơn tài sản nợ một ngoại tệ, được gọi là độ lệch âm và

mức chênh lệch đó gọi là đoản thể Trường hợp này ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá

khi đồng tiền đó lên giá so với đồng bản tệ

Trường thể và đoản thể luôn có mối quan hệ với nhau Trường thể của loại tiền tệ

này tất yếu dẫn đến đoản thể của loại tiền tệ khác, vì nó là kết quả của sự chuyển đổi giữa các

loại tiền tệ trong kinh doanh

Việc phân tích mức độ rủi ro ngoại hối được thực hiện theo hai chỉ tiêu:

-Thứ nhất : Trường thể ( Đoản thể )

Hai hệ số này càng lớn thì mức độ rủi ro càng cao

Do vậy, để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro ngoại hối, các ngân hàng phải thường

xuyên tiến hành phân tích và quản trị trạng thái ngoại hối Trạng thái ngoại hối này phải nằm

trong biên độ cho phép của ngân hàng trung ương và căn cứ vào tình trạng ngoại hối vào từng

thời điểm Từ đó ngân hàng phải có biện pháp xửỷ lyự kịp thời nhằm giảm thiểu rủi ro

1.2.2.4 Rủi ro lãi suất trong hoạt động của ngân hàng

a Khái niệm laừi suất

Laừi suất được hiểu là chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thời gian

nhất định

b Khái niệm rủi ro laừi suất

Rủi ro laừi suất là tổn thất thiệt hại tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi có sự

thay đổi về laừi suất trên thị trường

Trang 23

c Nguyên nhân rủi ro laừi suất

- Do sự biến động của laừi suất trên thị trường

- Do sự không cân xứng về kyứ hạn tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng

Rủi ro laừi suất thường xuất hiện trong các trường hợp sau:

- Đi vay với laừi suất cố định và cho vay với laừi suất thả nổi

- Đi vay với laừi suất thả nổi và cho vay với laừi suất cố định

- Đi vay và cho vay với laừi suất thả nổi nhưng khác nhau về thời điểm định giá Ngoài ra, chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương cũng là một trong những nguyên nhân gây rủi ro đối với các ngân hàng thương mại Trường hợp ngân hàng trung ương

điều chỉnh laừi suất nhẹ nhàng thì những sự đột biến về thay đổi laừi suất là không lớn Mặt khác nếu ngân hàng trung ương thực hiện việc mở rộng cung ứng tiền tệ và cho laừi suất tự do biến động thì mức độ dao động laừi suất rất lớn Vì vậy quản trị rủi ro laừi suất là việc làm rất cần thiết đối với các nhà quản trị ngân hàng

Tóm lại trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, nhất là rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì có phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp Do cơ chế điều hành lãi suất, tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước và do bước đầu chuyển sang cơ chế thị trường nên các ngân hàng thương mại nhìn chung trước đây ít quan tâm đến việc quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh Những năm gần đây với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đồng thời các chính sách, định chế của Ngân hàng Nhà nước đã dần chuyển hướng theo tín hiệu thị trường tự do cạnh tranh nên các ngân hàng thương mại đã bắt đầu chú ý đến việc quản lý các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình

Qua tổng quan vấn đề nghiên cứu, theo hiểu biết của tác giả thì hiện nay trong nước

đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, đề tài luận văn thạc sỹ , tiến sỹ đã đề cập một

số vấn đề có liên quan đến nội dung của đề tài này Tuy vậy, các công trình nghiên cứu này mang tính phương pháp tiếp cận nghiên cứu chung và không liên quan đến rủi ro trong hoạt

động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Nha Trang

Những bài học kinh nghiệm về quản lý rủi ro đối với hoạt động của một số ngân hàng như sau:

- Một là, tránh áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng trong điều kiện nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát: Cuộc khủng hoảng tài chính vào thập niên 90 của khu vực Đông Nam AÙ đã

Trang 24

làm cho tình hình kinh tế của khu vực suy giảm mạnh Điển hình là chính sách tiền tệ có tính nới lỏng của Ngân hàng quốc gia Thái Lan đã tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại ồ

ạt cho vay dẫn đến hiện trạng thiếu tính thanh khoản khi tình hình lạm phát không có dấu hiệu được kiềm chế

- Hai là, cần có chiến lược xây dựng bộ phận quản trị rủi ro cho các ngân hàng: Hiện trạng khách hàng đua nhau rút nguồn tiền gửi tại Ngân hàng AÙ Chaõu taùi thaứnh phoỏ Hồ Chí Minh vào năm 2002 đã chứng tỏ sự thiếu quan tâm của các nhà lãnh đạo ngân hàng trong việc quản trị rủi ro Đây cũng chính là bài học cảnh báo cho các ngân hàng cần có chiến lược xây dựng bộ phận quản trị rủi ro nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh

- Ba là, kiểm soát chặt chẽ các khoản cho vay và nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ tín dụng: Tình hình cho vay ngoài địa bàn quản lý cùng với sự thiếu trách nhiệm của một vài cán bộ tại Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang dẫn đến hậu quả là khó thu hồi nợ, một vài cán bộ bị xử lý hình sự Việc thiếu kiểm tra , kiểm soát khi cho vay thông qua tổ vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp Khánh Hoà dẫn đến tình trạng xâm tiêu của một số tổ trưởng

- Bốn là, những ảo vọng về nhà đất đã làm cho ngân hàng bị phá sản: Ngân hàng Lehman Brothers là một trong những ngân hàng lớn tại Mỹ đã làm hồ sơ phá sản để bảo vệ tài sản và tối đa hoá giá trị sau khi chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính và

địa ốc

Tương tự ngân hàng tiết kiệm Washington Mutual tại Mỹ sụp đổ do khủng hoảng tín dụng, địa ốc kể từ năm 2005 Ngân hàng này đã thực hiện hàng loạt biện pháp cải tổ để tồn tại như thay đổi nhân sự, cắt giảm nhân viên, đóng cửa các cơ sở làm ăn thua lỗ nhưng do các khoản nợ khó đòi và chứng khoán mất giá trong lĩnh vực địa ốc gia tăng trong lúc khách hàng gửi tiền tiết kiệm đổ xô rút tiền dẫn đến tình trạng phá sản

Từ một số nội dung liên quan đến cơ sở lý luận về rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, có thể nhận thức sâu hơn về thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Nha Trang, đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng là lĩnh vực mang tính truyền thống của các ngân hàng thương mại

Trang 25

CHệễNG 2 THệẽC TRAẽNG HOAẽT ẹOÄNG KINH DOANH CUÛA CAÙC NGAÂN HAỉNG THệễNG MAẽI TREÂN ẹềA BAỉN NHA TRANG

2.1 MOÄT SOÁ ẹAậC ẹIEÅM KINH TEÁ AÛNH HệễÛNG ẹEÁN HOAẽT ẹOÄNG KINH DOANH CUÛA NGAÂN HAỉNG

2.1.1 ẹieàu kieọn tửù nhieõn vaứ kinh teỏ xaừ hoọi

Nha Trang là thành phố trung tâm thương mại, dịch vụ đối với các tỉnh Tây nguyên và các tỉnh Nam Trung bộ Đây là một trong nhũng địa phương tiếp cận nhanh và nhạy với cơ chế thị trường đang trong quá trình diễn biến sôi động Vì thế, thành phố Nha Trang được xem là môi trường thuận lợi và có nhiều tiềm năng lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, trong lĩnh vực tài chính tiền tệ nói riêng

Giá trị tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh Khánh Hòa (giá so sánh năm 1994) thực hiện trong năm 2007 là 9.022 tỷ đồng, tăng 10,41% so với năm 2006 Cụ thể, tình hình kinh tế đạt

được nhiều thành quả trên các lĩnh vực:

- Giá trị sản xuất Nông , Lâm – Thuỷ sản đạt 2.489 tỷ đồng, tăng 7,2% so năm 2006 Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm được 82.667 ha bằng 108,1% kế hoạch Sản lượng lương thực cả năm là 210.885 tấn, trong đó sản lượng 2 vụ lúa là 174.725 tấn Năng suất một

số loại cây hàng năm khác như mía, sắn cao hơn năm trước góp phần cải thiện đời sống của người dân nhiều vùng

- Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 11.178 tỷ đồng tăng 16,1% so năm 2006 Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp trung ưong 869 tỷ đồng tăng 11,1%,giá trị sản xuất công nghiệp

địa phương 3.361 tỷ đồng tăng 2,3%, giá trị sản xuất công nghiệp kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 2.762 tỷ đồng tăng 32,4%, giá trị sản xuất công nghiệp thành phần kinh tế khác 4.178

tỷ đồng tăng 20,6%

-Thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển theo chủ trương chính sách của Nhà nước và

định hướng của tỉnh là khuyến khích xuất khẩu, trong đó chú trọng những hàng hóa nội địa sản xuất được Cụ thể:

+Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ thị truờng được 23.010 tỷ đồng tăng 20,5% so năm 2006 Chủ yếu là các mặt hàng xăng dầu, phân bón, sữa hộp, ximăng, thuốc lá

+Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 530 triệu USD tăng 16,1% so năm 2006; Trong đó xuất khẩu địa phương 503 triệu USD tăng 20,8%; xuất khẩu hàng hóa 390 triệu USD tăng 9,5% Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thuỷ sản đông lạnh, cát , hàng thủ công

Trang 26

mỹ nghệ Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là thức ăn nuôi tôm, thiết bị máy móc, nguyên phụ liệu sản xuất thuốc lá, phân bón …(Niên giám thống kê năm 2007)

Tóm lại, đánh giá một cách tổng quan thì hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn Nha Trang có những mặt thuận lợi và khó khăn sau:

Thuận lợi:

-Kinh tế địa phương tăng trưởng và phát triển, góp phần thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng tiếp tục phát huy được tiềm năng Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể; các chỉ tiêu khác đều có mức tăng trưởng Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo đúng định hướng

-Các công cụ chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành linh hoạt nhằm giảm áp lực tăng tổng phương tiện thanh toán, ổn định laừi suất thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt

động kinh doanh của các tổ chức tín dụng Cụ thể :

+Chủ động điều tiết kịp thời thị trường tiền tệ thông qua nghiệp vụ thị trường mở và các kênh tái cấp vốn khác

+Thực hiện lãi suất cơ bản và điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm góp phần giảm lạm phát trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển nóng

+Chủ động can thiệp mua-bán ngoại tệ và thực hiện cơ chế giá thả nổi có kiểm soát của Nhà nước để duy trì giá Việt Nam đồng ( VND ) so với Dollar Mỹ ( USD ) biến động tăng ở mức độ thấp

+Khuyến khích các ngân hàng thương mại sửỷ dụng vốn khả dụng đầu tư trái phiếu Chính phủ, giấy tờ có giá khác để cung ứng vốn cho nền kinh tế và tăng tính thanh khoản

-Về điều hành tín dụng NHNN đaừ chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh Mặt khác NHNN cũng tiếp tục

bổ sung một số cơ chế, chính sách theo hướng phù hợp hơn, thuận lợi hơn như Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu, Quy chế bảo laừnh, Quy chế mua bán nợ của các tổ chức tín dụng, Quy chế thực hiện hoán đổi laừi suất …

-Cơ chế quản lý ngoại hối tiếp tục được hoàn thiện, thông qua việc Pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.06.2006 khẳng định thêm một bước nguyên tắc tự do hóa các giao dịch vãng lai và từng bước nới lỏng quản lý có chọn lọc giao dịch vốn

Khó khăn:

-Địa bàn thành phố Nha Trang nhỏ nhưng số lượng ngân hàng thương mại nhiều dẫn

đến hiện trạng cạnh tranh không lành mạnh kể cả trong lĩnh vực huy động và cho vay

-Thói quen của người dân phần lớn chưa hiểu các sản phẩm dịch vụ ngân hàng như sử dụng thẻ ATM (Automatic Teller Machine), các loại thẻ khác nên chưa tận dụng được các lợi

Trang 27

ích trong khâu thanh toán Do vậy việc thanh toán không dùng tiền mặt tuy đã được cải thiện rất nhiều nhưng vẫn còn hạn chế do thói quen người dân vẫn thích sử dụng tiền mặt

- Các ngân hàng thương mại ngày càng tăng cường các công cụ, trang thiết bị để phát triển dịch vụ Tuy nhiên giữa các ngân hàng chưa có sự kết nối liên thông để phục vụ khách hàng có hiệu quả Do vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyên truyền, tiếp thị đối với khách hàng

2.1.2 Môi trường kinh doanh

Hoạt động của ngân hàng thương mại luôn luôn gắn bó với sự vận hành của nền kinh

tế Trong những năm vừa qua, nền kinh tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định Tuy

vậy thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với khu vực và thế giới

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010 của

Đảng và Nhà nước Giai đoạn 2006-2010 mang đặc điểm nổi bật là tiến trình hội nhập quốc

tế của nước ta trở nên sâu rộng hơn, quyết liệt hơn và nhanh chóng hơn Hiện nay,Việt Nam

đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ; Vì thế yêu cầu hội nhập

đã làm ảnh hưởng lớn đến hàng hoá của Việt Nam Các nhà sản xuất, kinh doanh các mặt hàng bị tổn thương nhiều nhất bởi tiến trình hội nhập là: nhiên liệu, phân bón, sắt thép, xi măng, hàng thay thế nhập khẩu …là những khách hàng lớn của các ngân hàng thương mại Nếu hiệu quả sản xuất kinh doanh xấu đi do không thể cạnh tranh được với hàng hóa nhập khẩu thì cuối cùng mọi rủi ro sẽ tập trung vào các ngân hàng thương mại

Đồng thời, kể từ ngày 01.4.2008 thì các chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ được hoạt

động một cách rộng rãi ở Việt Nam Vì vậy, sự cạnh tranh diễn ra gay gắt giữa 4 nhóm hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam như sau:

+Các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN)

+Các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP)

+Các ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài

+Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

Trên địa bàn Nha Trang, có thể trước mắt chưa có chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động Do vậy sự cạnh tranh chủ yếu là giữa các ngân hàng thương mại nhà nước và cổ phần Tuy nhiên các ngân hàng thương mại trong nước cần xây dựng chiến lược nhằm đánh giá nguy cơ và thách thức khi xuất hiện các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thể hiện:

+Nguy cơ đối với khách hàng của ngân hàng: quá trình hội nhập làm gia tăng nguy cơ phá sản của các khách hàng truyền thống do suy giảm khả năng cạnh tranh trong lộ trình cắt giảm hàng rào bảo hộ nhập khẩu Từ đó làm suy yếu tình hình tài chính của ngân hàng

Trang 28

+Thách thức trực tiếp đối với ngân hàng: quá trình mở cửa thị trường tài chính cho các ngân hàng nước ngoài gia nhập thị trường tài chính trong nước làm các ngân hàng trong nước phải cạnh tranh với các đối thủ có ưu thế hơn hẳn về năng lực tài chính, trình độ công nghệ, trình độ quản trị kinh doanh

+Trình độ quản trị, điều hành, văn hoá ứng xử theo các nguyên tắc thị trường và chuẩn mực quốc tế của ngân hàng còn rất yếu, chưa bắt kịp yêu cầu của thời kỳ mới

+Cơ cấu sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng, còn quá nặng nề về sản phẩm truyền thống

là cho vay, bảo lãnh; các sản phẩm phi tín dụng chưa phát triển mạnh

+Thách thức do tính hệ thống của ngân hàng: Sự có mặt của ngân hàng nước ngoài trực tiếp kinh doanh trên thị trường tiền tệ, tín dụng sẽ tạo nên sự phức tạp trong hệ thống và một khi năng lực kiểm tra, kiểm soát của NHNN còn yếu thì bất cứ rủi ro nào xảy ra đối với một ngân hàng cũng sẽ ảnh hưởng đến các ngân hàng trong hệ thống

2.1.3 Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý đang trong quá trình hoàn thiện theo xu hướng hội nhập quốc tế Các chính sách vĩ mô trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng được hoàn thiện theo hướng cho các ngân hàng thương mại được tự chủ trong kinh doanh

Tuy vậy môi trường pháp lý vẫn chưa thật sự hoàn chỉnh đã gây ảnh hưởng không nhỏ

đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Cụ thể là:

+Các quy định của Nhà nước còn can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh làm ảnh hưởng đến tính tự chủ của các ngân hàng

+Nhà nước thay đổi cơ chế, chính sách liên tục

+Việc hướng dẫn không đồng bộ, không kịp thời giữa Luật và các văn bản dưới Luật gây ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng Cụ thể văn bản Nghị định

163 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, Luật Nhà ở có hiệu lực nhưng chưa có các thông tư hướng dẫn của các ngành có liên quan dẫn đến một số ất tắc trong hoạt động của ngân hàng

+Các văn bản liên quan đến thực hiện đảm bảo tiền vay liên tục thay đổi Các thủ tục pháp lý để xử lý tài sản làm đảm bảo tiền vay còn lắm nhiêu khê

2.2 TOÅNG QUAN HOAẽT ẹOÄNG CUÛA CAÙC NGAÂN HAỉNG THệễNG MAẽI TAẽI NHA TRANG

2.2.1 Heọ thoỏng ngaõn haứng treõn ủũa baứn thaứnh phoỏ Nha Trang

Trong một thời kyứ dài hệ thống ngân hàng ở Việt Nam là hệ thống ngân hàng một cấp mang tính chất điều hành tập trung, quan liêu bao cấp Kể từ khi Nhà nước ban hành Pháp

Trang 29

lệnh ngân hàng nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xaừ tín dụng và công ty tài chính có hiệu lực thi hành từ ngày 01.10.1990 thì hệ thống ngân hàng Việt Nam chính thức chuyển

đổi thành mô hình ngân hàng hai cấp Cụ thể:

- Hệ thống ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý của Nhà nước với chức năng quản

lý các hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán

- Hệ thống các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các sản phẩm phái sinh dịch vụ ngân hàng

Pháp lệnh ngân hàng ra đời ủaừ đánh dấu một bước ngoặt lịch sửỷ trong quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Điều quan trọng chủ yếu là tách bạch chức năng quản lý với vai trò điều tiết vĩ mô và chức năng kinh doanh mang tính chất vi mô nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngân hàng trong thời kyứ mới

Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam tiếp tục chuyển mình sau khi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ra đời nhằm đáp ứng dần cho sự hội nhập trong bối cảnh tình hình quốc tế đang xích lại gần nhau

Hiện nay Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ủaừ bước đầu được

điều chỉnh nhằm thích ứng dần cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước

Đối với Luật các tổ chức tín dụng ủaừ được Quốc hội khóa X thông qua ngày 12.12.1997, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.10.1998; Và đứng trước yêu cầu của công cuộc

đổi mới đất nước, để củng cố và nâng cao hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác, ngày 15.06.2004 Quốc hội khoá XI ủaừ thông qua Luật sửỷa

đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng

Trong Luật các tổ chức tín dụng, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

- Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng

- Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng

và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác

- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kyứ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công

ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác

Trang 30

- Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp luật nước ngoài

- Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo quy

định của Luật các tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xaừ nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống Tổ chức tín dụng hợp tác gồm ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân và các hình thức khác

Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ra đời đã mở đầu cho sự hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng trên địa bàn Nha Trang Cùng với tiến trình củng cố hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước thì các ngân hàng thương mại cổ phần đã hình thành và phát triển một cách nhanh chóng nhằm khai thác tiềm năng kinh doanh trên địa bàn

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Khánh Hoà, tính

đến 31.12.2007 trên địa bàn thành phố Nha Trang có 19 tổ chức tín dụng, ngân hàng hoạt

động gồm:

-01 Ngân hàng chính sách xaừ hội

-05 Ngân hàng thương mại nhà nước gồm các ngân hàng: Ngoại thương Nha Trang, Công thương Khánh Hoà, Đầu tư và Phát triển Khánh Hoà, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Khánh Hoà, Phát triển nhà và Đồng bằng sông Cửu long Khánh Hoà

-10 Ngân hàng thương mại cổ phần gồm các ngân hàng: Sài Gòn Thương tín, AÙ Châu

Kỹ thương, Xuất nhập khẩu, Hàng hải, Quốc tế, Phương Đông, Ngoài quốc doanh, Nam AÙ, ẹoõng Nam AÙ

-01 Công ty cho thuê tài chính

-02 Qũy tín dụng nhân dân gồm các quỹ tín dụng: Vĩnh Phương, Vĩnh Thái

Cùng 71 điểm giao dịch, tập trung chính ở thành phố Nha Trang ( 34 điểm ) và ủaừ có

sự phân bổ rộng raừi đến các huyện, thị phát triển như Cam Ranh, Ninh Hòa, Vạn Ninh, Diên Khánh

2.2.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

Sự ra đời của các ngân hàng thương mại cổ phần cùng với hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước ủaừ hợp thành đối trọng rất quan trọng của hệ thống ngân hàng trong nước với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động trên laừnh thổ Việt Nam Các ngân hàng ủaừ và đang nỗ lực đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh, khẳng định vị thế của

Trang 31

mình trong cơ cấu kinh tế thị trường đang ngày càng chuyển mình, hoà nhập với kinh tế quốc

tế

Hệ thống ngân hàng được xếp vào hạng kinh doanh đặc biệt Do vậy kinh doanh trong

lĩnh vực ngân hàng là hoạt động có nhiều rủi ro:

Trước tiên, xét về mặt lý luận, sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng kinh doanh là một loại sản phẩm đặc biệt, đó là kinh doanh tiền tệ; và ngân hàng chỉ kinh doanh lĩnh vực này

Thứ hai, xét về mặt thực tiễn, hàng loạt các vụ phá sản của các ngân hàng trên thế

giới và gần đây là cơn lốc khủng hoảng hệ thống tài chính tiền tệ ở các nước Đông Nam AÙ làm cho một số lớn các ngân hàng sở tại rơi vào hoàn cảnh rất khó khăn ễÛ Nha Trang sự sụp

đổ của Qũy tín dụng Chợ đầm vào đầu thập niên 1990, sự thua lỗ của các doanh nghiệp như công ty liên doanh thuỷ sản Nha Trang, công ty dịch vụ du lịch Nha Trang, xí nghiệp thuỷ tinh Cam Ranh hoặc những dự án còn dở dang như Rusaka liên quan đến một số cán bộ ngân hàng, kể cả cán bộ quản trị cao cấp Từ đó dẫn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thua lỗ, bị mất uy tín trên thương trường; một số nhân vật bị xửỷ hình sự …dẫn đến tình trạng

ảnh hưởng tiêu cực kinh tế tài chính của tỉnh, làm mất lòng tin của công chúng

Từ nhận thức này, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho các nhà quản trị ngân hàng là phải có sự trang bị kiến thức và nhận thức đúng đắn các loại rủi ro làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và phải có các quy trình quản lyự bao gồm sự giám sát cấp cao

và cấp đơn vị để nhận dạng, ước lượng, giám sát và kiểm soát tất cả các rủi ro hữu hình và duy trì vốn dự phòng để đạt được mục tiêu là lợi nhuận cao nhất

Nhìn chung, các ngân hàng thương mại trên địa bàn Nha Trang đã từng bước khẳng

định vai trò của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh Các ngân hàng đã huy động

được nguồn vốn đáng kể trong các thành phần kinh tế để thực hiện cấp tín dụng, thanh toán cho nền kinh tế Bên cạnh đó, trong những thời điểm nhất định các ngân hàng thương mại còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế trong công tác huy động vốn, cho vay, khả năng thanh toán, hoạt động kinh doanh ngoại hối chưa phát triển mạnh và còn nhiều tiềm ẩn rủi ro phải đuơng

đầu Với sự cạnh tranh ngày một gia tăng, để có thể đứng vững và phát triển, các ngân hàng thương mại không những phải nâng cao trình độ nghiệp vụ, trình độ quản lý mà còn phải thể hiện tính năng động hơn nữa trong hoạt động kinh doanh

Có thể phân tích tình hình huy động vốn của một số các ngân hàng thương mại trên

địa bàn Nha Trang như sau:

Trang 32

Bảng 4 : Tình hình huy động vốn của một số NHTM trên địa bàn Nha Trang Đơn vị : Triệu đồng

Trang 33

- AÙ Châu (*) 135.961 225.974 88,2 552.255 144,3

(Nguồn số liệu: Báo cáo hoạt động năm 2005, 2006, 2007 của NHNN tỉnh Khánh Hoà)

* Ngân hàng AÙ Châu, Hàng hải năm 2004 chưa thành lập

Đánh giá về công tác huy động vốn :

Công tác huy động vốn trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng; năm 2005 tăng 33,9%; năm 2006 tăng 29,3% so năm 2005 và năm 2007 tăng 56,4% so với năm 2006 Tỷ trọng thị phần vốn huy động của các khối ngân hàng phân theo hình thức sở hữu như sau: năm 2005 khối NHTMNN chiếm 80,7%, khối NHTMCP chiếm 19,3%; năm 2006 khối NHTMNN chiếm 74,2%, khối NHTMCP chiếm 25,8%; năm 2007 khối NHTMNN chiếm 66,5%, khối NHTMCP chiếm 33,5%

Nhìn chung các ngân hàng thương mại đều coi trọng công tác huy động vốn, nhất là nguồn vốn huy động từ dân cư Đây chính là nguồn vốn nhàn rỗi và có tính ổn định để thực hiện việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả Ngoài ra các ngân hàng thực hiện công tác huy

động từ tiền gửi các tổ chức kinh tế, tiền gửi các tổ chức tín dụng Tuy nhiên có sự khác biệt giữa NHTMNN và NHTMCP là các NHTMNN được huy động vốn từ tiền gửi kho bạc nhà nước; còn các NHTMCP không được huy động nguồn vốn này Do vậy đây cũng là lợi thế của các NHTMNN được huy động nguồn vốn rẻ để phục vụ cho công tác kinh doanh Tuy nhiên theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến cuối năm 2008 các NHTMNN không còn được huy động vốn từ kho bạc nhà nước, chỉ trừ những khu vực không có ngân hàng nhà nước thì kho bạc nhà nước được phép gửi tiền tại các NHTMNN; tuy nhiên các NHTMNN không được sử dụng nguồn vốn này đưa vào kinh doanh Từ đó khả năng cạnh tranh trong việc khơi tăng nguồn vốn huy động giữa các ngân hàng từ những năm sau sẽ rất quyết liệt, trong đó chủ yếu vẫn là nguồn vốn huy động từ dân cư

Chỉ số giá cả tăng khá cao ủaừ ảnh hưởng đến công tác huy động vốn Ngoài việc điều chỉnh laừi suất, các chi nhánh tích cực đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi, đẩy mạnh tuyên truyền quảng cáo, quảng bá thương hiệu nhằm thu hút khách hàng; hầu hết các ngân hàng

đều có các chương trình tiết kiệm dự thưởng, phát hành kyứ phiếu, trái phiếu, nhận tiền gửi và trả tiền gửi tại nhà từ đó góp phần làm cho nguồn vốn huy động được tăng trưởng ổn định Nguồn vốn huy động từ dân cư bao gồm tiền gửi tiết kiệm và phát hành giấy tờ có giá giữ mức tăng trưởng cao, cụ thể năm 2005 đạt 2.912 tỷ đồng tăng 37,3% so năm 2004; năm

2006 đạt 3.878 tỷ đồng tăng 33,1% so năm 2005 và năm 2007 đạt 5.709 tỷ đồng tăng 47,2%

so năm 2006 Đối với các chi nhánh TCTD cổ phần thì đây là kênh huy động chủ yếu chiếm trên 70% nguồn vốn huy động

Trang 34

Từ nguồn vốn huy động có thể phân tích tình hình sử dụng vốn của các NHTM trên

địa bàn Nha Trang như sau:

Bảng 5 : Tình hình sửỷ dụng vốn của một số NHTM trên địa bàn Nha Trang

Trang 35

-Hàng hải * 0 0 0

(Nguồn số liệu: Báo cáo hoạt động năm 2005, 2006, 2007 của NHNN tỉnh Khánh Hoà)

*Ngân hàng AÙ Chaõu, Hàng hải năm 2004 chưa thành lập

@Ngân hàng Sài Gòn thương tín, Xuất nhập khẩu, AÙ Chaõu năm 2004 chưa có hoạt động ngoại tệ

Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, vốn trong nền kinh tế được khai thác và sửỷ dụng có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế của tỉnh Hệ thống ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ yếu cho nền kinh tế

Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng ủaừ và đang cung ứng kịp thời nhu cầu vốn cho nền kinh tế địa phương Năm 2006 tổng dư nợ tín dụng đạt 6.903 tỷ đồng, và năm 2007 tổng dư nợ đạt 10.417 tỷ đồng tăng 3.514 tỷ đồng với tỷ lệ tăng 150,9% so năm 2006 Trong

đó, khối NHTMNN tổng dư nợ cho vay năm 2006 đạt 5.781 tỷ đồng, và năm 2007 đạt 7.767

đồng chiếm tỷ trọng 74,6% trong tổng dư nợ, so với đầu năm tăng 1.986 tỷ đồng Khối NHTMCP tổng dư nợ năm 2006 đạt 1.123 tỷ đồng, và năm 2007 đạt 2.649 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 25,4% trong tổng dư nợ, so với đầu năm tăng 1.526 tỷ đồng

Về tốc độ tăng trưởng tín dụng, mục tiêu chung là các TCTD tăng trưởng bình quân từ 18-22%; Tuy nhiên với sự biến động của nền kinh tế thế giới, cùng với quá trình mở rộng của một số TCTD nên trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng tín dụng có phần vượt mức cung cần thiết cho hoạt động kinh doanh, trong đó một số TCTD chỉ tập trung vốn cho việc cho vay bất

động sản và kinh doanh chứng khoán thiếu sự quản lý của Nhà nước, dẫn đến khủng hoảng thừa và tiềm ẩn nhiều rủi ro

Các dịch vụ thanh toán kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thẻ, kiều hối …có nhiều bước tiến quan trọng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi đối tượng khách hàng Hoạt động dịch vụ ngân hàng phát triển, chất lượng dịch vụ được nâng cao cùng với kết quả của việc cải cách các thủ tục hành chính ngân hàng, Cụ thể:

- Dịch vụ thẻ: tiếp tục phát triển nhanh chóng trong năm 2006, 2007 Hệ thống mạng lưới rút tiền tự động (Automatic Teller Machine - ATM) và cổng POS (máy đọc thẻ) ngày càng mở rộng Số lượng máy ATM là 58 máy, máy đọc thẻ 130 máy Tổng số lượng thẻ của các TCTD trên địa bàn đang lưu hành đạt 96.500 thẻ Các tiện ích của dịch vụ thẻ ngày càng

đa dạng, thuận lợi cho khách hàng sửỷ dụng, và ngày thu hút sự chú yự của tầng lớp dân cư

Đây là một trong những dịch vụ ngân hàng điện tửỷ mà khả năng phát triển cũng như lợi ích kinh tế đem lại là rất lớn với ưu điểm vượt trội về thanh toán, chuyển tiền, rút tiền mặt; phát huy tối đa các lợi ích thanh toán không dùng tiền mặt của hệ thống ngân hàng Dịch vụ này

Trang 36

cho phép tiếp cận khách hàng phổ thông, các tầng lớp dân cư khác nhau, cho phép người sở hữu sử dụng các chức năng thẻ để thực hiện các nhu cầu khác nhau về giao dịch thanh toán, như thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, phí bảo hiểm, lĩnh lương …

- Dịch vụ kiều hối: Với cơ chế, chính sách về ngoại hối ngày một thông thoáng đaừ khuyến khích người dân chuyển tiền về nước ngày một nhiều hơn nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, góp vốn đầu tư, mua đất đai, nhà ở Năm 2007, luợng kiều hối chuyển về qua ngân hàng trên địa bàn đạt 85 triệu USD ( Theo báo cáo hoạt động ngân hàng năm 2007 của NHNN tỉnh Khánh hoà )

- Dịch vụ thanh toán hàng xuất nhập khẩu trong năm 2007 đạt 70% tổng doanh số thanh toán qua các NHTM trên địa bàn, với số tiền 550 triệu USD Trong đó, đặc biệt tỷ lệ thanh toán xuất khẩu các mặt hàng thuỷ hải sản là mặt hàng chiến lược của địa phương(Theo báo cáo hoạt động ngân hàng năm 2007 của NHNN tỉnh Khánh hòa )

- Dịch vụ thu đổi ngoại tệ: Doanh số thu đổi ngoại tệ năm 2007 đạt 8.960.000 USD tăng 23% so năm 2006 Cùng với sự phát triển về tiềm năng du lịch tại tỉnh Khánh Hòa, nhất

là khi thành phố Nha Trang trở thành 1 trong 29 Vịnh đẹp của thế giới thì lượng khách tham quan du lịch cũng như các hoạt động thương mại dịch vụ có quan hệ quốc tế ngày một phát triển, và cùng với hệ thống mạng lưới các bàn thu đổi ngoại tệ trên địa bàn ủaừ tạo ủieàu kiện cho hoạt động dịch vụ này có tốc độ tăng trưởng

- Dịch vụ chuyển tiền cá nhân: Trong năm 2007, dịch vụ chuyển tiền cá nhân tăng trưởng gắn liền với nhu cầu học tập, nghiên cứu, khám chữa bệnh và du lịch của tầng lớp dân cư; trong đó lượng tiền chuyển đi chủ yếu phục vụ cho nhu cầu học phí, sinh hoạt phí cho các

du học sinh Tổng số tiền chuyển trong năm gần 1.200.000 USD tăng gần 10% so năm 2006

- Các dịch vụ khác như cấp bảo laừnh cũng ngày được các ngân hàng phát triển mạnh

mẽ để hỗ trợ tích cực cho khách hàng tham gia baỷo laừnh dự thầu, thanh toán, thực hiện hợp

đồng, bảo hành công trình

Bên cạnh việc đa dạng hoá các loại hình sản phẩm dịch vụ, các ngân hàng thương mại

đã ngày càng chú trọng đến việc nâng cao chất lượng của những dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Bởi vì nếu chỉ tập trung đưa ra nhiều loại sản phẩm mà chất lượng của những sản phẩm không cao, không đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng sẽ dẫn đến hiện trạng không thu hút được khách hàng cũng như không giữ được khách hàng truyền thống

Với những thành tựu trên, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng qua các năm đều kinh doanh có hiệu quả Cụ thể thu nhập, chi phí, mức lợi nhuận đạt được của một số ngân hàng thể hiện:

Trang 37

Bảng 6: Thu nhập, chi phí của một số NHTM trên địa bàn Nha Trang

ẹụn vũ : Tyỷ ủoàng

Teõn ngaõn haứng

(Nguoàn soỏ lieọu: Baựo caựo giaựm saựt naờm 2005, 2006, 2007 cuỷa NHNN tổnh Khaựnh Hoaứ)

Trang 38

Qua số liệu trên có thể phân tích, đánh giá về thu nhập và chi phí của các ngân hàng

như sau:

-Mức thu nhập của ngân hàng qua các năm có xu hướng tăng; trong đó thu nhập chủ

yếu vẫn là thu từ hoạt động tín dụng Đối với khối NHTMNN thu từ hoạt động tín dụng

chiếm tỷ trọng từ 85-95% trong tổng thu nhập Đối với khối NHTMCP thu từ hoạt động tín

dụng chiếm tỷ trọng từ 70-90% trong tổng thu nhập Các khoản thu nhập còn lại là thu từ

hoạt động dịch vụ, thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, thu nhập khác

-Mức chi phí hoạt động ngân hàng tăng theo doanh số hoạt động; trong đó khoản chi

phí chủ yếu vẫn là chi cho hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng trên 65% Các khoản chi phí

còn lại bao gồm chi hoạt động dịch vụ, chi kinh doanh ngoại hối, chi phí cho nhân viên, chi

dự phòng và bảo hiểm tiền gửi, chi khác

Từ thu nhập, chi phí có thể đánh giá lợi nhuận của một số ngân hàng trong thời gian

qua như sau:

Baỷng 7: Lụùi nhuaọn cuỷa moọt soỏ NHTM treõn ủũa baứn Nha Trang

ẹụn vũ : Tyỷ ủoàng

(Nguồn số liệu: Báo cáo giám sát năm 2005, 2006, 2007 của NHNN tỉnh Khánh Hoà)

Đánh giá chung về lợi nhuận của một số ngân hàng như sau :

Trang 39

-Khối NHTMNN: các ngân hàng thương mại nhà nước trên địa bàn đã có một quá trình hoạt động kinh doanh lâu năm Do vậy lợi nhuận đạt được tương đối ổn định và có mức tăng trưởng, ngoại trừ Ngân hàng Nông nghiệp Nguyên nhân gây lỗ đối với Ngân hàng Nông nghiệp Khánh Hòa trong năm 2005 là do xử lý rủi ro theo cơ chế đối với công ty Đường Khánh Hoà từ nội bảng ra ngoại bảng để lành mạnh hoá dần tình hình tài chính Do vậy các năm tiếp theo đã thu nợ dần trên cơ sở hoạt động kinh doanh của đơn vị, từ đó tạo nguồn thu nhập có mức tăng trưởng khá

-Khối NHTMCP: các ngân hàng thương mại cổ phần mới thành lập chi nhánh tại Nha Trang từ năm 2004 trở lại đây; do vậy năm đầu tiên thường phải trang trải chí phí lớn như thuê nhà, mua sắm công cụ làm việc, chi phí đào tạo, tuyển dụng, chi phí quảng cáo .nên thường không đạt được lợi nhuận Những năm tiếp theo, các ngân hàng này đã vươn lên một cách đáng kể về mặt tăng trưởng nguồn vốn huy động, tăng trưởng dư nợ, tăng trưởng các dịch vụ thu ngoài tín dụng Từ đó góp phần tạo lợi nhuận ngày một nâng cao Riêng đối với ngân hàng Sài Gòn thương tín do chủ trương của Hội sở chính là bước đầu mở rộng mạng lưới

để cạnh tranh và thu hút khách hàng nên đã chi phí lớn trong việc mua đất xây dựng trụ sở, cũng như chi phí thuê nơi làm việc cho các phòng giao dịch, chi phí mua sắm công cụ, trang thiết bị Đây chính là nguyên nhân gây lỗ trong hoạt động kinh doanh

Hiện nay, theo cơ chế thị trường, các ngân hàng thương mại cấp tín dụng dưới hình thức đa lĩnh vực ngành nghề, không còn hiện trạng cho vay chuyên biệt như tên gọi vốn có của từng hệ thống ngân hàng trước đây Điển hình hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp thực hiện công tác cho vay trong lĩnh vực đầu tư thương mại, du lịch, xây dựng, giao thông vận tải, khách sạn, hoặc hệ thống Ngân hàng Đầu tư không còn chuyên cấp tín dụng cho các khách hàng có mục đích thực hiện công tác đầu tư, xây dựng cơ bản, hay như Ngân hàng Ngoại thương có nhiệm vụ thực thi công tác cho vay, thanh toán xuất nhập khẩu theo quy định của Nhà nước Ngoài ra hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần ra đời cùng với hệ thống ngân hàng nước ngoài được thành lập trên lãnh thổ Việt Nam đã và đang là cơ hội và thách thức cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng Việt Nam đánh giá lại mục tiêu phát triển của từng hệ thống trong bối cảnh hội nhập toàn cầu Điều này đã đáp ứng kịp thời các nội dung hoạt động kinh doanh của ngân hàng phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tạo môi trường hoạt động cạnh tranh giữa các ngân hàng

Từ quá trình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, thông qua kết quả giám sát có thể phân tích cơ cấu tài sản nợ, tài sản có của một số ngân hàng như sau:

Trang 40

Qua phân tích cơ cấu tài sản nợ cho thấy :

-Các khoản phải trả khách hàng chiếm tỷ trọng lớn trong trong tài sản nợ Cụ thể: +Ngân hàng Nông nghiệp các khoản phải trả khách hàng năm 2006 chiếm 72,7%, năm 2007 chiếm 88,9% trong tài sản nợ Năm 2007 các khoản phải trả khách hàng tăng 33,2% so năm 2006 Trong đó chủ yếu là các khoản tiền gửi của khách hàng là 746 tỷ đồng, các khoản tiền gửi tiết kiệm là 567 tỷ đồng, phát hành giấy tờ có giá là 1000,6 tỷ đồng

+Ngân hàng Nhà các khoản phải trả khách hàng năm 2006 chiếm 50%, năm 2007 chiếm 69,8% trong tài sản nợ Năm 2007 các khoản phải trả khách hàng tăng 103,9% so năm

2006 Trong đó chủ yếu là các khoản tiền gửi của khách hàng là 57 tỷ đồng, tiền gửi tiết kiệm

65 tỷ đồng, phát hành giấy tờ có giá 84 tỷ đồng

+Ngân hàng Sài Gòn thương tín các khoản phải trả khách hàng năm 2006 chiếm 96,9%, năm 2007 chiếm 97,9% trong tài sản nợ Năm 2007 các khoản phải trả khách hàng tăng 106,4% so năm 2006, chủ yếu phát hành giấy tờ có giá là 890 tỷ đồng chiếm gần 80%

+Ngân hàng Phương Đông các khoản phải trả khách hàng năm 2006 chiếm 48,7%, năm 2007 chiếm 54,9% trong tài sản nợ Năm 2007 các khoản phải trả khách hàng tăng 143,5% so năm 2006, chủ yếu phát hành giấy tờ có giá 140 tỷ chiếm 70%

Qua số liệu các khoản phải trả khách hàng nhận thấy rằng đối với ngân hàng thương mại nhà nước công tác huy động vốn một mặt huy động vốn từ dân cư, mặt khác huy động từ

tổ chức kinh tế, tổ chức khác trong đó có kho bạc nhà nước Đối với ngân hàng thương mại cổ phần công tác huy động vốn từ dân cư là trọng tâm Do vậy các ngân hàng thương mại cổ phần thường đi trước trong lĩnh vực quảng bá, giới thiệu sản phẩm huy động bằng nhiều hình thức, kể cả thưởng khách hàng

-Hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng được phân tích như sau:

+Ngân hàng Nông nghiệp hoạt động thanh toán năm 2006 chiếm 15,6%, năm 2007 chiếm 1,4% trong tài sản nợ So năm 2006 hoạt động thanh toán giảm 337 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 90% Do trong năm chi nhánh tăng được nguồn vốn huy động tại địa phương nên giảm nguồn

điều hoà vốn trong hệ thống

+Ngân hàng Nhà hoạt động thanh toán năm 2006 chiếm 46,5%, năm 2007 chiếm 25,4% trong tài sản nợ So năm 2006 nguồn vốn này giảm 19 tỷ đồng, nguyên nhân là do tăng trưởng được nguồn vốn huy động tại địa phương

Ngày đăng: 31/08/2014, 17:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cung - Cầu thanh khoản - luận văn thạc sĩ giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại nha trang
Bảng 1 Cung - Cầu thanh khoản (Trang 9)
Bảng 2 :  Tài sản ròng bằng ngoại tệ - luận văn thạc sĩ giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại nha trang
Bảng 2 Tài sản ròng bằng ngoại tệ (Trang 21)
Bảng 4 :  Tình hình huy động vốn của một số NHTM trên địa bàn Nha Trang - luận văn thạc sĩ giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại nha trang
Bảng 4 Tình hình huy động vốn của một số NHTM trên địa bàn Nha Trang (Trang 32)
Bảng 6: Thu nhập, chi phí của một số NHTM trên địa bàn Nha Trang - luận văn thạc sĩ giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại nha trang
Bảng 6 Thu nhập, chi phí của một số NHTM trên địa bàn Nha Trang (Trang 37)
Bảng 7: Lợi nhuận của một số NHTM trên địa bàn Nha Trang - luận văn thạc sĩ giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại nha trang
Bảng 7 Lợi nhuận của một số NHTM trên địa bàn Nha Trang (Trang 38)
Bảng 11a: Phân loại nợ theo cơ cấu nợ của các ngân hàng thương mại tại NhaTrang - luận văn thạc sĩ giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại nha trang
Bảng 11a Phân loại nợ theo cơ cấu nợ của các ngân hàng thương mại tại NhaTrang (Trang 50)
Bảng 12 : Nợ xấu của một số ngân hàng thương mại tại Nha Trang - luận văn thạc sĩ giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại nha trang
Bảng 12 Nợ xấu của một số ngân hàng thương mại tại Nha Trang (Trang 53)
Bảng 14: Trạng thái luồng tiền qua giao dịch thị trường tiền tệ - luận văn thạc sĩ giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại tại nha trang
Bảng 14 Trạng thái luồng tiền qua giao dịch thị trường tiền tệ (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w