Tài chính doanh nghiệp và sự cần thiết phải phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 2.1.1.Tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng không chỉ trong bản thând
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi với
sự cố vấn của Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM THỊ GÁI Tất cả cácnguồn tài liệu tham khảo đã được công bố đầy đủ Nội dung của luận văn là trungthực
Tác giả luận văn
BẠCH THU HIỀN
Trang 2Qua thời gian nghiên cứ lý luận và thực tế tác giả đã hoàn thành luận văn
thạc sỹ kinh tế với đề tài “Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô”.
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Thị Gái đã quan tâm giúp đỡ,chỉ bảo, hướng dẫn tận tình và đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tác giả hoànthành luận văn tốt nghiệp này
Xin gửi lời cảm ơn đến:
Các cán bộ lãnh đạo, cán bộ phòng kế toán của Công ty Cổ phần Kinh Đô đãgiúp đỡ và tạo điều kiện để tác giả tìm hiểu thực tế, học tập kinh nghiệm trong thờigian qua
Lãnh đạo cơ quan, các đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều kiện cho tác giả đihọc và hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện khó có thể tránh khỏi những hạn chế gặp phải vìvậy tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô giáo và bạn đọc
để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2011
Tác giả
Bạch Thu Hiền
Trang 3
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
BẠCH THU HIỀN 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 3
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 5
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ 40
CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ 76
PHỤ LỤC DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Phân tích cơ cấu tài sản 18
Bảng 2.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn 21
Bảng 2.3 Bảng phân tích tình hình thanh toán 23
Bảng 2.4 Bảng phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán 27
Bảng 3.1 Bảng phân tích tình cấu trúc tài sản năm 2010 48
Bảng 3.2 Bảng phân tích tỷ trọng tài sản ngắn hạn 51
Bảng 3.3 Bảng phân tích cấu trúc của nguồn vốn năm 2010 53
Bảng 3.4 Bảng phân tích tỷ suất nợ 55
Bảng 3.5 Bảng phân tích tỷ suất tự tài trợ 56
Bảng 3.6 Bảng phân tích các khoản phải thu năm 2010 57
Bảng 3.7 Bảng phân tích các tỷ suất liên quan đến khoản phải thu năm 2010 58
Bảng 3.8 Phân tích tình hình luân chuyển khoản phải thu năm 2010 59
Bảng 3.9 Bảng phân tích tình hình các khoản phải trả năm 2010 60
Trang 4Bảng 3.13 Bảng phân tích hiệu quả của tài sản cố định 66
Bảng 3.14 Bảng phân tích các tỷ suất sinh lời công ty năm 2010 68
Bảng 3.15 Phân tích khả năng luân chuyển của hàng tồn kho 70
Bảng 3.16 Phân tích giá trị cổ phiếu của công ty 71
Bảng 3.17 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính qua cơ cấu nợ 73
Bảng 3.18 Phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ 74
Bảng 3.19: Phân tích tỷ trọng các dòng tiền của các hoạt động 76
Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời theo phương pháp Dupont 16
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần Kinh Ðô 44
Sơ đồ 3.2: Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Kinh Đô 45
Trang 5CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, nền kinh tế đang mở cửa hộinhập với nền kinh tế thế giới, ngày càng nhiều hoạt động diễn ra trong tất cả cáclĩnh vực sản xuất kinh doanh, ngân hàng, tài chính Thị trường tài chính ở ViệtNam vẫn còn hết sức mới mẻ, chưa phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình Việcđầu tư vào lĩnh vực tài chính chứa đựng nhiều nhạy cảm, rủi ro, đòi hỏi các nhà đầu
tư phải cân nhắc, tính toán hết sức kỹ lưỡng Trước khi ra quyết định đầu tư bất kỳmột nhà đầu tư nào cũng phải đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Công cụ dễ dàng nhất để các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp hiểu
rõ về tình hình tài chính của doanh nghiệp nhất thông qua các báo cáo tài chính củacông ty Do đó phân tích báo cáo tài chính là bức tranh phải ánh rõ nét nhất tìnhhình tài chính của doanh nghiệp Liệu rằng doanh nghiệp đó có được kỳ vọng là sẽphát triển trong tương lai hay sẽ xuống dốc
Công ty Cổ phần Kinh Đô là công ty đại chúng đã niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam, vì vây yêu cầu cung cấp thông tin và phân tích báo cáo tàichính nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát, toàn diện về tình hình tài chính của Công
ty là một yêu cầu cấp thiết Do đó để giúp các nhà đầu tư nắm bắt được xu hướnghoạt động, khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai, dưới đây, tác giả lựa
chọn đề tài “Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô” Bên
cạnh việc đưa ra những phân tích, nhận xét về các chỉ số tài chính trong hoạt độngkinh doanh, tác giả cũng đề xuất một số những giải pháp để có thể cải thiện tìnhhình tài chính của doanh nghiệp
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là cơ sở quan trọng giúp nhà quảntrị và các nhà đầu tư ra quyết định chính xác Việc phân tích báo cáo tài chính sẽgiúp các doanh nghiệp và các cơ quan thấy được rõ thực trạng hoạt động tài chính,
Trang 6kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Từ đó đánh giáđược tiềm năng cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như những rủi ro vàtriển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp Chính vì vậy phân tích báocáo tài chính luôn được chú trọng và quan tâm Trong thời gian qua đã có rất nhiềucác công trình, luận văn thạc sỹ, luận văn cao học nghiên cứu về phân tích báo cáotài chính của các tập đoàn, công ty đặc biệt là các công ty cùng ngành, cụ thể như:
- “Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Bánh kẹo caocấp Hữu Nghị” Hồ Phan Thanh Loan, Luận văn tốt nghiệp khoa Kế toán tài chính,2009
- “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh tại công ty Cổ phần Tràng An”,Nguyễn Thị Dung, Luận văn tốt nghiệp khoa Kế toán tài chính, 2009
- “Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Sữa ViệtNam”
- “Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại Tập đoàn Công nghiệp ThanKhoáng Sản Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ - Trần Thị Thu Thuỷ
- “Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại công ty gang Thép TháiNguyên”, Luận văn thạc sỹ - Nguyễn Thị Phương Thảo
Sau khi nghiên cứu các công trình trên, tác giả nhận thấy, các công trình đã
hệ thống hoá được những vấn đề chung nhất về phân tích báo cáo tài chính và thựctrạng phân tích tài chính tại doanh nghiệp Đưa ra được những kết quả đạt đượccũng như những tồn tại, đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiệncông tác phân tích báo cáo tài chính hay phân tích tình hình tài chính tại doanhnghiệp Tuy nhiên trong thời gian qua chưa có một nghiên cứu cụ thể về phân tíchbáo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Kinh Đô, chưa có nghiên cứu chuyên sâu đểđánh giá tình hình hoạt động của công ty thông qua các báo cáo tài chính Để có cáinhìn chuyên sâu và khách quan hơn về tình hình kinh doanh của Công ty, tác giảchọn đề tài nghiên cứu phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô Vìvậy, những nghiên cứu trong công trình này không giống với bất kỳ nghiên cứu nàotrước đó
Trang 71.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Đề tài nghiên cứu và góp phần hoàn thiện một số vấn đề lýluận về phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp;
- Về mặt thực tiễn: Đề tài xem xét và đánh giá thực trạng nội dung phân tích báocáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô Đánh giá tình hình hoạt động kinhdoanh, tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô thông qua việc việc phântích báo cáo tài chính Mặt khác đề tài cũng kiến nghị một số giải pháp nhằm nângcao năng lực tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Những nội dung lý luận nào là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu của đề tài?
- Đặc điểm tổ chức tại doanh nghiệp ảnh hưởng thế nào đến phân tích tài chínhcủa doanh nghiệp?
- Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô như thếnào?
- Đánh giá về thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh
Đô trên những khía cạnh nào và ra sao?
- Giải pháp nào để hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phầnKinh Đô
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sử dụng xuyên suốt trong đề tài là phương pháp duy vật biệnchứng, bên cạnh đó kết hợp với phương pháp thống kê, liệt kê, phân tích các nguồn
số liệu Trong quá trình nghiên cứu đề tài được áp dụng nguyên tắc khách quan,
Trang 8logic trong phân tích và nhận xét Ngoài ra đề tài còn áp dụng phương pháp diễndịch, quy nạp, so sánh trong quá trình phân tích và làm rõ vấn đề.
1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơbản liên quan đến phân tích báo cáo tài chính, đưa ra cái nhìn chính xác về cácphương pháp phân tích báo cáo tài chính
- Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phân tích báo cáo tàichính tại công ty Cổ phần Kinh Đô, đề tài giúp người đọc có cái nhìn tổng quan vềtình hình tài chính, hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty Mặt khác tác giả cònđưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện, khắc phục những tồn tại trong côngtác phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô
- Về bản thân tác giả: Qua nghiên cứu phân tích báo cáo tài chính tại Công ty
Cổ phần Kinh Đô, tác giả có điều kiện tiếp cận thực tế về phân tích báo cáo tàichính, qua đó học hỏi, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong công tác phân tích tàichính tại doanh nghiệp
1.8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu;
Chương 2: Cơ sở lý luận về báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính;Chương 3: Phân tích thực trạng báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần KinhĐô;
Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và giải pháp nâng cao năng lực tàichính tại Công ty Cổ phần Kinh Đô
Trang 9CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH
VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
2.1 Tài chính doanh nghiệp và sự cần thiết phải phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
2.1.1.Tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng không chỉ trong bản thândoanh nghiệp mà cả trong nền kinh tế, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗiquốc gia mà tại đây diễn ra quá trình sản xuất kinh doanh: đầu tư, tiêu thụ và phânphối, trong đó sự chu chuyển của vốn luôn gắn liền với sự vận động của vật tư hànghoá
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phátsinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính là những mối quan hệtiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốnmột cách có hiệu quả
Để nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp mình cũng như tình hìnhtài chính của các đối tượng quan tâm thì việc phân tích tình hình tài chính thông quacác báo cáo tài chính là rất quan trọng Thông qua việc phân tích hệ thống báo cáotài chính, người ta có thể sử dụng thông tin đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinhdoanh, triển vọng cũng như rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp Bởi vậy, việcphân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm đốitượng khác nhau như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông,các chủ nợ, các nhà cho vay tín dụng, nhân viên ngân hàng, các nhà bảo hiểm và kể
cả cơ quan Nhà nước cũng như nhóm có những xu hướng tập trung vào các khíacạnh riêng trong bức tranh tài chính của mỗi doanh nghiệp
2.1.2 Sự cần thiết phải phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nềnkinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển đượcthì phải bảo đảm một tình hình tài chính vững chắc và ổn định Thông qua phân tíchbáo cáo tài chính sẽ thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp Phân tích báocáo tài chính là nghiên cứu khám phá hoạt động tài chính đã được biểu hiện bằng
Trang 10con số Cụ thể hơn, phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đốichiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ thông qua phân tích cáccon số đó có ý nghĩa lớn đối với những người quan tâm đến tình hình tài chính củadoanh nghiệp Nhiệm vụ của phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp là sửdụng các công cụ, phương pháp và kỹ thuật để làm các con số nói lên thực chất củatình hình tài chính của doanh nghiệp Các quyết định của người quan tâm sẽ chínhxác hơn nếu như họ nắm bắt được cơ chế hoạt động tài chính thông qua việc sửdụng thông tin của phân tích báo cáo tài chính Mặc dù việc sử dụng thông tin tàichính của một nhóm người trên những góc độ khác nhau, song phân tích báo cáo tàichính cũng nhằm thoả mãn một cách duy nhất cho các đối tương quan tâm, cụ thểlà:
- Đối với bản thân doanh nghiệp: Việc phân tích báo cáo tài chính sẽ giúpcho các nhà lãnh đạo và bộ phận tài chính doanh nghiệp thấy được tình hình tàichính của đơn vị mình và chuẩn bị lập kế hoạch cho tương lai cũng như đưa ra cáckết quả đúng đắn kịp thời phục vụ quản lý Qua phân tích, nhà lãnh đạo doanhnghiệp thấy được một cách toàn diện tình hình tài chính trong doanh nghiệp trongmối quan hệ nội bộ với mục đích lợi nhuận và khả năng thanh toán để trên cơ sở đódẫn dắt doanh nghiệp theo một chiều hướng sao cho chỉ số của các chỉ tiêu tài chínhthoả mãn yêu cầu của chủ nợ cũng như của các chủ sở hữu
- Đối với các chủ Ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: Phân tích báo cáotài chính cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp về các khoản nợ và lãi.Đồng thời, họ quan tâm đến số lượng vốn của chủ sở hữu, khả năng sinh lời củadoanh nghiệp để đánh giá đơn vị có trả nợ được hay không trước khi quyết địnhcho vay
- Đối với nhà cung cấp: Doanh nghiệp là khách hàng của họ trong hiện tại vàtương lai Họ cần biết khả năng thanh toán có đúng hạn và đầy đủ của doanhnghiệp đối với món nợ hay không Từ đó họ đặt ra vấn đề quan hệ lâu dài đối vớidoanh nghiệp hay từ chối quan hệ kinh doanh
- Đối với các nhà đầu tư : Phân tích báo cáo tài chính giúp cho họ thấy khảnăng sinh lợi, mức độ rủi ro hiện tại cũng như trong tương lai của doanh nghiệp đểquyết định xem có nên đầu tư hay không
- Đối với công nhân viên trong doanh nghiệp: Nhóm người này cũng muốnbiết về thu nhập của mình có ổn định không và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Trang 11- Đối với Nhà nước: Cần thông tin cho việc áp dụng các chính sách quản lý
vĩ mô, để điều tiết nền kinh tế
Như vậy, hoạt động tài chính tập trung vào việc mô tả mối quan hệ mật thiếtgiữa các khoản mục và nhóm các khoản mục nhằm đạt được mục tiêu cần thiết phục
vụ cho chủ doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm khác nhằm đưa ra quyết địnhhợp lý, hiệu quả phù hợp với mục tiêu của đối tượng này Mục đích tối cao và quantrọng nhất của phân tích báo cáo tài chính là giúp cho nhà quản trị lựa chọn đượcphương án kinh doanh tối ưu và đánh giá chính xác tiềm năng của doanh nghiệp
2.2 Cơ sở dữ liệu để phân tích báo cáo tài chính
2.2.1 Hệ thống báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, cáckhoản nợ, nguồn hình thành tài sản, tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt độngkinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Nói cách khác, báo cáo tài chính là phươngtiện trình bày khả năng sinh lợi và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho nhữngngười quan tâm
Hệ thống báo cáo tài chính có những vai trò sau đây:
- Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết, giúp kiểm tra phân tíchmột cách tổng hợp toàn diện có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh, tình hìnhthực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của doanh nghiệp
- Cung cấp thông tin, số liệu để kiểm tra, giám sát tình hình hạch toán kinhdoanh, tình hình chấp hành chính sách chế độ kế toán - tài chính của doanh nghiệp
- Cung cấp thông tin và số liệu để phân tích đánh giá tình hình, khả năng vềtài chính - kinh tế của doanh nghiệp, giúp cho công tác dự báo và lập kế hoạch tàichính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập với mục đích sau:
- Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát và toàn diện tình hình biến động
về tài sản, công nợ và nguồn vốn chủ sở hữu, tình hình kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán
- Cung cấp các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu cho việc đánh giá, phântích tình hình kết quả hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệptrong kỳ hoạt động vừa qua, làm cơ sở để đưa ra các quyết định kinh tế trong tươnglai Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng trong việc đề ra các quyếtđịnh về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh
Trang 12nghiệp của chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanhnghiệp
Nhìn chung, hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp ở bất kỳquốc gia nào trên thế giới đều cũng phải trình bày 4 báo cáo chủ yếu sau:
- Bảng cân đối kế toán, mẫu số B01-DN
- Báo cáo kết quả kinh doanh, mẫu số B02-DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, mẫu số B03-DN
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính, mẫu số B04-DN
Ngoài ra, để phục vụ cho yêu cầu quản lý kinh tế tài chính, yêu cầu chỉ đạo
mà các ngành, các công ty, các tập đoàn sản xuất, các liên hiệp xí nghiệp, các công
ty liên doanh có thể quy định thêm các báo cáo tài chính kế toán khác Tuy nhiên,trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng ta sẽ đề cập đến các báo cáo cơ bản như đãtrình bày ở trên
2.2.1.1 Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN)
Khái niệm và ý nghĩa của bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổngquát toàn bộ tài sản hiện có của đơn vị tại một thời điểm nhất định, theo hai cáchphân loại là kết cấu nguồn vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh
Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có củadoanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn Căn cứ vào bảng cân đối kế toán
có thể nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
Về mặt kinh tế, qua xem xét phần tài sản, cho phép đánh giá tổng quát năng
lực và trình độ sử dụng vốn Khi xem xét phần nguồn vốn, người sử dụng thấy đượcthực trạng tài chính của doanh nghiệp
Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền
quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tươnglai Phần nguồn vốn cho phép người sử dụng bảng cân đối kế toán thấy được tráchnhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh với Nhà nước, về sốtài sản đã hình thành bằng vốn vay ngân hàng và vốn vay đối tượng khác cũng nhưtrách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ với người lao động, với người cho vay,với nhà cung cấp, với cổ đông, với ngân sách Nhà nước…
Trang 13 Nguồn số liệu để lập bảng cân đối kế toán
Khi lập bảng cân đối kế toán, nguồn số liệu được lấy từ:
- Bảng cân đối kế toán ngày 31/12 năm trước
- Sổ kế toán tổng hợp và chi tiết (sổ cái và sổ chi tiết) các tài khoản có số
dư cuối kỳ phản ánh tài sản, công nợ và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Kết cấu của Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN)
Bảng cân đối kế toán được thể hiện dưới dạng bảng cân đối số dư các tàikhoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý Bảng cân đối kếtoán được chia làm 2 phần là phần “Tài sản” và phần “Nguồn vốn”
Phần “Tài sản” cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tạithời điểm lập báo cáo đang tồn tại dưới dạng các hình thái và trong tất cả các giaiđoạn, các khâu của quá trình kinh doanh Trên cơ sở tổng số tài sản và kết cấu tàisản hiện có mà có thể đánh giá một cách tổng quát quy mô tài sản năng lực và trình
độ sử dụng vốn của doanh nghiệp
Tài sản được chia thành hai mục là:
A Tài sản ngắn hạn
B Tài sản dài hạn
Phần “Nguồn vốn” phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanhnghiệp đến cuối kỳ hạch toán Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn được sắp xếp theotừng nguồn hình thành tài sản của đơn vị (nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp -vốn chủ sở hữu, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn chiếm dụng…)
Nguồn vốn được chia thành hai mục:
Trang 142.2.1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Khái niệm và ý nghĩa
Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) là một báo cáo tài chính kế toántổng hợp phản ánh tổng quát doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong một kỳ
kế toán
Báo cáo kết quả kinh doanh là tài liệu quan trọng cung cấp số liệu cho người
sử dụng thông tin có thể kiểm tra phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp trong kỳ, so sánh với các kỳ trước và các doanh nghiệpkhác trong cùng ngành để nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệptrong kỳ và xu hướng vận động nhằm đưa ra các quyết định quản lý và quyết địnhtài chính cho phù hợp
Nguồn số liệu để lập BCKQKD
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được lập dựa trênnguồn số liệu sau:
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước
- Sổ kế toán trong kỳ của các tài khoản từ loại 5 đến loại 9
Nguyên tắc lập BCKQKD
Việc lập và trình bày báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ 6nguyên tắc được quy định tại chuẩn mực số 21 - Trình bày báo cáo tài chính là:Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ, có thể sosánh
Lấy doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ cộng doanh thu hoạtđộng tài chính trong kỳ trừ đi các khoản chi phí trong kỳ (kể cả chi phí hoạt động tàichính) sẽ được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trong kỳ; lấy thu nhập khác trừchi phí khác sẽ được lợi nhuận từ hoạt động khác Tổng lợi nhuận từ hoạt động kinhdoanh và lợi nhuận từ hoạt động khác là tổng lợi nhuận trước thuế trừ đi thuế thunhập doanh nghiệp phải nộp sẽ được chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế
Trang 152.2.1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hìnhthành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Thông tin
về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ
sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đãtạo ra đó trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”, tiềntại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn, còn các khoản tươngđương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (không quá 3 tháng kể từ ngày mua khoảnđầu tư đó), có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không
có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền (kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc,chứng chỉ gửi tiền…) Doanh nghiệp được trình bày các luồng tiền từ các hoạt độngkinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhấtvới đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp
Có hai phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Phương pháp giántiếp và phương pháp trực tiếp Hai phương pháp này chỉ khác nhau trong phần I
“Lưu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất – kinh doanh”, còn phần II “Lưu chuyểntiền từ hoạt động đầu tư” và phần III “Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính”thì giống nhau
Lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp:
Theo phương pháp này, báo cáo Lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cách xácđịnh và phân tích trực tiếp các khoản thực thu, thực chi bằng tiền theo từng nộidung thu, chi trên các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết của doanh nghiệp
Lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp:
Theo phương pháp gián tiếp, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cáchđiều chỉnh lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp của hoạt động sản xuất kinhdoanh khỏi ảnh hưởng của các khoản mục không phải bằng tiền, các thay đổi trong
kỳ của hàng tồn kho, các khoản phải thu, phải trả từ hoạt động kinh doanh và cáckhoản mà ảnh hưởng về tiền của chúng thuộc hoạt động đầu tư Luồng tiền từ hoạtđộng kinh doanh được tiếp tục điều chỉnh với sự thay đổi vốn lưu động, chi phí trảtrước dài hạn và các khoản thu, chi khác từ hoạt động kinh doanh
Trang 162.2.1.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Bản thuyết minh báo cáo tài chính là một báo cáo kế toán tài chính tổng quátnhằm mục đích giải trình và bổ sung, thuyết minh những thông tin về tình hình hoạtđộng sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo,
mà chưa được trình bày đầy đủ, chi tiết hết trong các báo cáo tài chính khác
Căn cứ chủ yếu để lập bản Thuyết minh báo cáo tài chính là:
- Bảng cân đối kế toán của kỳ báo cáo (Mẫu B01 – DN)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo (Mẫu B02 – DN)
- Báo cáo thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước
- Tình hình thực tế của doanh nghiệp và các tài liệu khác có liên quan
Để bản thuyết minh báo cáo tài chính phát huy tác dụng cung cấp bổ sung,thuyết minh thêm các tài liệu, chi tiết cụ thể cho các đối tượng sử dụng thông tinkhác nhau ra được quyết định phù hợp với mục đích sử dụng thông tin của mình,đòi hỏi phải tuân thủ các quy định sau:
- Đưa ra các thông tin về cơ sở lập báo cáo tài chính và các chính sách kếtoán cụ thể được chọn và áp dụng đối với các giao dịch và các sự kiện quan trọng
- Trình bày các thông tin theo các quy định của các chuẩn mực kế toán màchưa được trình bày trong các báo cáo tài chính khác
- Cung cấp thông tin bổ sung chưa được trình bày trong các báo cáo tài chínhkhác nhưng lại cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý
- Phần trình bày bằng lời văn phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu Phần trình bàybằng số liệu phải đảm bảo thống nhất với số liệu trên các báo cáo tài chính khác.Mỗi khoản mục trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh và Báo cáolưu chuyển tiền tệ cần được đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong Bảnthuyết minh báo cáo tài chính
2.2.2 Các tài liệu khác
Các thông tin trên hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp là các thôngtin nội bộ nhưng để phân tích báo cáo tài chính nhằm phản ánh một cách kháchquan và trung thực về tình hình tài chính của doanh nghiệp thì ta cần phải thu thậpthêm các thông tin bên ngoài làm căn cứ để đối chiếu so sánh hoặc các nhân tố ảnhhưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cụ thể:
- Thông tin chung của nền kinh tế: là các thông tin có liên quan đến trạngthái của nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, thị trường tiêu thụ
Trang 17- Thông tin về ngành kinh tế: bao gồm các thông tin liên quan đến vị tríngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, số liệu trung bình ngành, sản phẩm ngành,tình trạng công nghệ, thị phần;
- Thông tin về pháp lý kinh tế như cơ chế chính sách của Nhà nước: Cơ chếquản lý Nhà nước, sở hữu, chính sách thuế, tín dụng tài chính, chế độ báo cáo, kiểmsoát doanh nghiệp của Nhà nước
2.3 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính kế toán là một hệ thống các công
cụ, biện pháp, các kỹ thuật và cách thức nhằm tiếp cận, nghiên cứu các hiện tượng
và các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng tiền chuyển dịch và biến đổitài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tàichính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Từ đó giúp các đối tượng
sử dụng báo cáo tài chính kế toán có các quyết định phù hợp tuỳ theo mục đích vàyêu cầu của từng đối tượng Để đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng báocáo tài chính kế toán, người ta có nhiều phương pháp phân tích khác nhau nhưphương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ, phương pháp hồiquy tương quan… để có thể nắm được thực trạng tài chính của doanh nghiệp dướinhiều góc độ, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau
2.3.1 Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích báo cáo tàichính nhằm nghiên cứu kết quả, sự biến động và mức độ biến động của chỉ tiêuphân tích
So sánh số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướngthay đổi tình hình tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng hay tụt lùi tronghoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
• So sánh số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu củadoanh nghiệp
• So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số trung bình của ngành, củacác doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình là tốthay xấu, được hay chưa được
So sánh có ba hình thức: so sánh theo chiều dọc, so sánh theo chiều ngang và
so sánh theo xu hướng
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu với tổng thể
Trang 18- So sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về sốtương đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các kỳ tiếp theo.
- So sánh theo xu hướng thường dùng số liệu từ ba năm trở lên để thấy được
sự tiến triển của các chỉ tiêu so sánh đặt trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác làmnổi bật sự biến động về tình hình tài chính hiện tại và dự đoán tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp trong tương lai
Khi tiến hành so sánh phải giải quyết các vấn đề về điều kiện so sánh và tiêuchuẩn so sánh:
Điều kiện so sánh được: Khi so sánh theo thời gian, các chỉ tiêu cần thống
nhất về nội dung kinh tế, về phương pháp và đơn vị tính Khi so sánh về khônggian, thường là so sánh trong một ngành nhất định nên cần phải quy đổi về cùngmột quy mô với các điều kiện kinh doanh tương tự nhau
Tiêu chuẩn so sánh được: Là các chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh (còn
gọi là kỳ gốc) Tuỳ theo mục đích, yêu cầu của phân tích mà chọn các chỉ tiêuchuẩn so sánh thích hợp
Để phục vụ cho mục đích cụ thể của phân tích, phương pháp so sánh thườngđược sử dụng dưới các dạng sau:
So sánh bằng số tuyệt đối:
Khi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ biết được qui mô biếnđộng (mức tăng hay giảm) của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốcbiểu hiện bằng tiền, hiện vật hay giờ công cụ thể
So sánh bằng số tương đối:
Số tương đối phản ánh kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển và mức độ phổbiến của chỉ tiêu nghiên cứu Do vậy, so sánh bằng số tương đối, các nhà quản lý sẽnắm được xu hướng biến động của các chỉ tiêu
So sánh bằng số bình quân:
Số bình quân phản ánh mức độ bình quân hay đặc điểm điển hình của 1 tổ, 1
bộ phận, 1 đơn vị,… Khi so sánh bằng số bình quân, các nhà quản lý sẽ biết đượcmức độ mà doanh nghiệp đạt được so với bình quân chung của tổng thể, củangành… Từ đó, xác định được vị trí của doanh nghiệp trong tổng thể, trong ngành
2.3.2 Phương pháp loại trừ
Phương pháp loại trừ được sử dụng nhằm xác định xu hướng và mức độ ảnhhưởng của lần lượt từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Theo phương pháp này, khi
Trang 19nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân
tố còn lại
Phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích dưới hai cách là phươngpháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch:
Phương pháp thay thế liên hoàn
Thay thế liên hoàn là phương pháp thay thế lần lượt từng nhân tố từ giá trịgốc sang kỳ phân tích để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêunghiên cứu Các nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên kỳ gốc Sau đó, sosánh trị số của chỉ tiêu nghiên cứu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu nghiên cứutrước khi thay thế nhân tố Mức chênh lệch về trị số của chỉ tiêu nghiên cứu sau vàtrước khi thay thế nhân tố chính là ảnh hưởng của nhân tố đó đến sự biến động củachỉ tiêu
Để áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn cần đảm bảo điều kiện và trình
tự sau:
- Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiêncứu Các nhân tố này phải có quan hệ chặt chẽ với chỉ tiêu phản ánh đối tượngnghiên cứu dưới dạng tích số hoặc thương số
- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứuvào một công thức toán học theo thứ tự từ nhân tố số lượng đến chất lượng
- Thay thế lần lượt giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu nghiêncứu Có bao nhiêu nhân tố thì có bấy nhiêu lần và nhân tố nào đã thay thế thì giữnguyên giá trị đã thay thế (kỳ phân tích) cho đến lần thay thế cuối cùng Sau mỗilần thay thế trị số của từng nhân tố, phải xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tốvừa thay thế đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng (nếu có);
- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiêncứu giữa kỳ phân tích và kỳ gốc
Phương pháp chênh lệch
Điều kiện và trình tự vận dụng phương pháp số chênh lệch cũng tương tựnhư phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác ở chỗ: để xác định mức độ ảnh hưởngcủa nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với kỳ gốccủa nhân tố đó để xác định
Trang 202.3.3 Phương pháp Dupont
Trong phân tích báo cáo tài chính các nhà phân tích còn sử dụng mộtphương pháp khá phổ biến để phân tích các tỷ số tài chính là tháp tỷ số Đây cònđược gọi là phương pháp phân tích Dupont, lấy theo tên của công ty đầu tiên đã sửdụng cách phân tích này Nội dung cơ bản của phương pháp này là tìm cách chianhỏ một tỷ số tài chính tổng hợp ra thành các tỷ số tài chính nhỏ hơn Rồi các tỷ sốtài chính nhỏ hơn đó lại được tiếp tục chia nhỏ ra tiếp Mỗi tỷ số nhỏ ở bên dướiđược xem như là một nhân tố tác động làm thay đổi tỷ số tổng hợp Bằng cách này,người phân tích có thể tìm hiểu được đến gốc rễ những nguyên nhân có thể làm thayđổi tỷ số tổng hợp đầu tiên Thông thường thì tỷ số tổng hợp ở trên đỉnh của tháp tỷ
số được chọn là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản hoặc tỷ suất lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu, …Theo phương pháp này, khi phân tích suất sinh lời của vốn chủ sở
hữu (ROE) thì sẽ dựa vào mối quan hệ giữa suất sinh lời của vốn chủ sở hữu vớisuất sinh lời của tài sản (ROA) và suất sinh lời của doanh thu (ROS) Có thể biểudiễn mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời theo sơ đồ 2.1:
Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời theo phương
pháp Dupont
Trang 212.3.4 Phương pháp đồ thị
Phương pháp này dùng để minh hoạ các kết quả tài chính thu được trong quátrình phân tích bằng các biểu đồ, sơ đồ,… Phương pháp đồ thị giúp người phân tíchthể hiện được rõ ràng, trực quan về diễn biến của các đối tượng nghiên cứu vànhanh chóng có phân tích định hướng các chỉ tiêu tài chính để tìm ra nguyên nhân
sự biến đổi các chỉ tiêu, từ đó kịp thời đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh
2.4 Nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp vàcác đối tượng quan tâm khác, phân tích báo cáo tài chính phải đạt được các mụctiêu sau:
• Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin để đánh giá rủi ro từhoạt động đầu tư cho vay của nhà đầu tư, ngân hàng
• Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin để đánh giá khả năngtạo ra tiền và tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp
• Phân tích báo cáo tài chính phải làm rõ sự biến đổi của tài sản, nguồn vốn
và các tác nhân gây ra sự biến đổi đó
Trên cơ sở đó, ta có thể đề xuất các biện pháp hữu hiệu và ra quyết địnhcần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh và nâng cao hiệuquả kinh doanh Để cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết có giá trị về xu thếphát triển của doanh nghiệp, về các mặt mạnh, mặt yếu của hoạt động tài chính,chúng ta sẽ tiến hành phân tích báo cáo tài chính thông qua các nội dung chủ yếu
về tình hình tài chính của doanh nghiệp sau đây:
- Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp;
- Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp;
- Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh;
- Phân tích rủi ro tài chính
- Phân tích lưu chuyển tiền tệ
Sau đây chúng ta đi sâu phân tích cụ thể:
Trang 222.4.1 Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
2.4.1.1 Phân tích tình hình biến động và cấu trúc tài sản của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cuối kỳ với đầunăm còn phải xem xét tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tống số tài sản dễthấy mức độ bảo đảm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Khi xem xét cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cũng như từngloại tài sản cuối kỳ so với đầu năm còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếmtrong tổng số và xu hướng biến động của chúng để thấy được mức độ hợp lý củaviệc phân bổ Tuỳ theo từng loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh để xem xét tỷtrọng từng loại tài sản là cao hay thấp Nếu là doanh nghiệp sản xuất thì cần phải cólượng dự trữ nguyên vật liệu đầy đủ nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất sản phẩm Nếu
là doanh nghiệp thương mại thì cần phải có lượng hàng hoá dự trữ đầy đủ để cungcấp cho nhu cầu bán ra
Đối với các khoản nợ phải thu, tỷ trọng càng cao thể hiện doanh nghiệp bịchiếm dụng vốn càng nhiều Do đó, hiệu quả sử dụng vốn thấp Ngoài ra khi nghiêncứu đánh giá phải xem xét tỷ suất đầu tư trang bị TSCĐ, đầu tư ngắn hạn và dàihạn
Căn cứ vào số liệu trên BCĐKT vào ngày cuối kỳ (quý, năm) ta lập bảngphân tích cấu trúc tài sản:
Bảng 2.1 Phân tích cơ cấu tài sản
Tài sản
với kỳ gốc Số
tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
A Tài sản ngắn hạn
1 Tiền & tương đương tiền
2 Đầu tư tài chính ngắn hạn
3 Phải thu
B Tài sản dài hạn
Trang 23Tài sản
với kỳ gốc Số
tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
1 Phải thu dài hạn
Từ cơ sở số liệu trên ta có thể phân tích như sau:
Nếu tổng số tài sản của doanh nghiệp tăng lên, thể hiện quy mô vốn củadoanh nghiệp tăng lên và ngược lại Cụ thể:
• Về TSCĐ của doanh nghiệp: nếu tăng lên thể hiện cơ sở vật chất kỹ thuật củadoanh nghiệp được tăng cường, quy mô vốn về năng lực sản xuất được mở rộng và
xu hướng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng tốt
Đầu tư dài hạn của doanh nghiệp nếu tăng thì đây là xu hướng tốt vì sẽ tạonguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp Việc đầu tư theo chiều sâu, việc đầu tưthêm trang thiết bị được đánh giá qua chỉ tiêu tỷ suất đầu tư Tỷ suất này được xácđịnh bằng công thức 2.1:
Tỷ suất đầu tư = TSCĐ và Đầu tư dài hạn x 100 (2.1)
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật nói chung vàmáy móc thiết bị nói riêng của doanh nghiệp Nó cho biết năng lực sản xuất và xuhướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp Trị số của chỉ tiêu này tuỳ thuộc vàotừng ngành kinh tế cụ thể
Trang 24• Chi phí XDCB: nếu tăng lên thể hiện doanh nghiệp đầu tư thêm công trìnhXDCB dở dang, nếu giảm thể hiện một số công trình XDCB đã hoàn thành, bàngiao đưa vào sử dụng làm tăng giá trị TSCĐ.
• Vốn bằng tiền của doanh nghiệp: nếu tăng lên sẽ làm cho khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp thuận lợi và ngược lại Tuy nhiên, vốn bằng tiền ở một mức độhợp lý là tốt, vì nếu quá cao sẽ làm cho hiệu quả sử dụng vốn không cao, nhưng quáthấp lại ảnh hưởng đến nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp
• Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: nếu tăng lên thể hiện doanh nghiệp ngoàiđầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh còn đầu tư cho lĩnh vực tài chính khác vàngược lại
• Các khoản phải thu: nếu tăng thì doanh nghiệp cần tăng cường công tác thu hồivốn, tránh tình trạng bị ứ đọng và sử dụng vốn không có hiệu quả Nếu các khoảnphải thu giảm thì chứng tỏ doanh nghiệp đã tích cực thu hồi các khoản nợ phải thu,giảm bớt được hiện tượng bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán làm cho việc sửdụng vốn có hiệu quả hơn
• Hàng tồn kho: nếu giảm chứng tỏ sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp có chấtlượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường Nếu tăng doanh nghiệp phải xem xétlại sản phẩm hàng hoá của mình có phù hợp với nhu cầu của thị trường không Mặtkhác, để đánh số dư hàng tồn kho tốt hay chưa tốt, cần phải so sánh với số dự trữtheo kế hoạch Số dư hàng tồn kho tăng hay giảm so với dự trữ cần thiết là đềukhông tốt, bởi vì nếu tăng sẽ gây ứ đọng vốn, nếu giảm sẽ dẫn đến thiếu nguyên vậtliệu cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gây ảnh hưởng đến tính liên tục của hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Như vậy, qua bảng phân tích trên không những cung cấp thông tin về sự tănglên hay giảm đi về cả số tương đối và số tuyệt đối của mỗi loại tài sản mà còn biếtđược cơ cấu của từng loại trong tổng số Từ đó, có thể đánh giá mức độ hợp lý củaviệc phân bổ, nhìn vào đây để nhận định sự biến động của các khoản mục trongtương lai
Trang 25Bên cạnh việc phân tích được cơ cấu tài sản, chúng ta cần phân tích cơ cấunguồn vốn nhằm biết được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệpcũng như mức độ độc lập, tự chủ trong kinh doanh hay những khó khăn mà doanhnghiệp phải đương đầu.
2.4.1.2 Phân tích tình hình biến động và cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu nguồn được thực hiện nhằm đánh giá tình hình huy độngvốn của doanh nghiệp Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng sốnguồn vốn thì doanh nghiệp có khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độđộc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ là cao và ngược lại, nếu công nợ phảitrả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn thì khả năng đảm bảo về mặt tài chínhcủa doanh nghiệp sẽ thấp Điều này được thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ(2.2):
Tỷ suất tự tài
Nguồn vốn chủ sở hữu
x 100 (2.2)Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tài trợ này càng cao chứng tỏ khả năng độc lập về mặt tài chính haymức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng tốt Tỷ suất này bằng 0.5 được coi là bìnhthường
Dựa vào BCĐKT cuối kỳ ta lập bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn sau đây:
Bảng 2.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Nguồn vốn
so với kỳ gốc
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
A Nợ phải trả
I Nợ ngắn hạn
II Nợ dài hạn
Trang 262.4.2 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
2.4.2.1 Phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phátsinh việc thu, chi và thanh toán Việc chiếm dụng vốn lẫn nhau trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thể hiện tình hình chấp hành kỷ luậtthanh toán và tôn trọng pháp luật Thực tế cho thấy, doanh nghiệp hoạt động tàichính tốt, lành mạnh sẽ không phát sinh tình trạng dây dưa nợ nần Ngược lại, mộtdoanh nghiệp lâm vào tình trạng nợ nần dây dưa kéo dài thì chắc chắn chất lượnghoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có hoạt động quản lý nợ khôngcao Vấn đề thanh toán trở nên đặc biệt quan trọng đối với những doanh nghiệp bịchiếm dụng vốn với tỷ lệ cao Do vậy việc phân tích tình hình thanh toán, tình hìnhcông nợ của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân của mọi sự ngưng trệ, khê đọng củacác khoản công nợ nhằm tiến tới làm chủ về tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Từ số liệu của bảng cân đối kế toán và một số tài liệu khác ta có bảng phântích sau:
Trang 27Bảng 2.3 Bảng phân tích tình hình thanh toán
Các khoản phải thu Đầu
năm
Cuốikỳ
Chênhlệch Các khoản phải trả
Đầunăm
Cuốikỳ
Chênhlệch
3 Người mua trảtrước
4 Phải nộp ngânsách
5 Phải trả CNV
6 Phải trả nội bộ
7 Nợ dài hạn đếnhạn trả
8 Các khoản phảitrả khác
Tổng cộng
Tình hình thanh toán và công nợ của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêuphản ánh nợ phải thu và nợ phải trả Khi phân tích tình hình thanh toán và công nợ,nhà phân tích, so sánh nhận xét dựa vào sự biến động của các chỉ tiêu sau:
Phân tích các khoản phải thu:
- Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với nợ phải trả (%): Chỉ tiêu này phản ánhcác khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng bằng bao nhiêu phần trăm so với các khoảndoanh nghiệp chiếm dụng của các tổ chức, cá nhân khác Chỉ tiêu này được tínhtheo công thức 2.3:
Tỷ lệ các khoản nợ phải thu
so với các khoản nợ phải trả =
Tổng số nợ phải thu
x 100 (2.3)Tổng số nợ phải trả
Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn càng nhiều vàngược lại
Nếu T > 1: sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp vì các khoản phải thu quá lớn
sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng vốn Do đó, doanh nghiệp phải có biện phápthu hồi nợ, thúc đẩy quá trình thanh toán đúng hạn
Trang 28Nếu T ≤ 1: có giá trị càng nhỏ với phương thức thanh toán không thay đổitheo đúng thời hạn quy định chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi vốn tốt, công nợ và sốvốn đi chiếm dụng được càng nhiều.
- Số vòng quay các khoản phải thu: Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ kinh doanh các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này được tính theocông thức 2.4:
Số vòng quay các
khoản phải thu =
Tổng doanh thu bán chịu
(2.4)
Bình quân các khoản phải
thuVới:
Bình quân các
khoản phải thu =
Tổng số nợ phải thu đầu kỳ và cuối
kỳ
(2.5)2
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư của các khoản phải thu, hiệuquả của việc thu hồi nợ Nếu các khoản phải thu được thu hồi nhanh thì số vòngluân chuyển các khoản phải thu sẽ cao và công ty ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên,
số vòng luân chuyển các khoản phải thu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởngđến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ (chủ yếu làthanh toán ngay hay thanh toán trong thời gian ngắn)
- Thời gian thu tiền (thời gian quay vòng các khoản phải thu)
Phân tích các khoản phải trả
Trang 29- Số vòng quay các khoản phải trả: Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ kinhdoanh, các khoản phải trả quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này được tính theocông thức 2.7:
- Thời gian thanh toán tiền hàng (Thời gian quay vòng các khoản phải trả):
Thời gian quay vòng
các khoản phải trả =
Thời gian của kỳ phân tích
(2.9)
Số vòng quay các khoản phải trả
Ngoài việc tính và so sánh các chỉ tiêu trên, để nắm được tình hình thanhtoán các khoản nợ phải thu và các khoản nợ phải trả trong kỳ của doanh nghiệp, cácnhà phân tích tiến hành so sánh các khoản nợ phải trả cuối kỳ và đầu kỳ về mặt tổng
số cũng như đối với từng khoản nợ phải thu phải trả và số tiền nợ quá hạn cả về sốtuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu và dựa vào sự biến động cụ thể của từngchỉ tiêu để rút ra nhận xét Số nợ còn phải thu được thu thập dựa vào Bảng cân đối
kế toán và Thuyết minh báo cáo tài chính Riêng số nợ phải thu quá hạn, các nhàphân tích phải dựa vào sổ chi tiết các đối tượng liên quan Số nợ còn phải trả cũngđược thu thập dựa vào Bảng cân đối kế toán và Thuyết minh báo cáo tài chính
Ngoài các tài liệu trên, để có thể nhận xét, đánh giá đúng đắn về tình hìnhthanh toán và công nợ của doanh nghiệp, khi phân tích còn phải sử dụng các tài liệuhạch toán hàng ngày để xác định tính chất, thời gian và nguyên nhân các khoản phảithu, phải trả; xem xét các biện pháp mà đơn vị áp dụng để thu hồi nợ hoặc thanhtoán nợ, phân tích các nguyên nhân dẫn đến các khoản tranh chấp nợ phải thu, phảitrả…
2.4.2.2 Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Trang 30Để phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán, trước hết, cần tính ra và sosánh giữa cuối kỳ với đầu năm trên các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán như
hệ số thanh toán hiện hành, hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số thanh toán của tàisản lưu động, hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toán nợ dài hạn
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát (công thức 2.10):
Hệ số khả năng thanh toán
Tổng tài sản
(2.10)Tổng số nợ phải trả
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khảnăng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Nếu doanh nghiệp cóchỉ số này luôn lớn hơn hoặc bằng 1 thì doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanhtoán và ngược lại
- Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn (công thức 2.11):
Hệ số thanh toán nợ
Tổng giá trị tài sản ngắn hạn
(2.11)Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắnhạn của doanh nghiệp là cao hay thấp Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanhnghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính bìnhthường hoặc khả quan Ngược lại, nếu hệ số thanh toán nợ ngắn hạn càng nhỏ hơn 1thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp
- Hệ số thanh toán nhanh (công thức 2.12):
Hệ số thanh toán
Tổng số tiền và tương đương tiền
(2.12)Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh cho biết các khoản tiền và tương đương tiền hiện cócủa doanh nghiệp có đủ khả năng để trang trải các khoản nợ ngắn hạn hay không.Thực tế cho thấy, nếu chỉ tiêu này > 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan,còn nếu < 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ
và do đó, có thể phải bán gấp hàng hoá, sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanhtoán Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại phản ánh một tình hình không tốt vì vốnbằng tiền quá nhiều, vòng quay vốn chậm, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
- Hệ số thanh toán tài sản ngắn hạn (công thức 2.13):
Hệ số thanh toán tài
sản ngắn hạn =
Tổng số tiền và tương đương tiền
(2.13)Tổng giá trị của tài sản ngắn hạn
Trang 31Chỉ tiêu này cho biết việc khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắnhạn nhanh hay chậm, từ đó xác định được doanh nghiệp có đủ tiền, thiếu tiền haythừa tiền phục vụ cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Nếu chỉ tiêu này lớnhơn 0,5 thì lượng tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp quá nhiều, bảo đảmthừa khả năng thanh toán, sẽ gây ứ đọng vốn, còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệplại không đủ tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn.
- Hệ số vốn bị chiếm dụng (công thức 2.14):
Hệ số vốn bị chiếm dụng = Tổng số nợ phải thuTổng tài sản (2.14)
Tiếp theo, dựa vào bảng cân đối kế toán và các tài liệu liên quan, ta lập bảngphân tích nhu cầu và khả năng thanh toán
Bảng 2.4 Bảng phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán
Nhu cầu thanh toán Đầu
năm
Cuồi
kỳ Khả năng thanh toán
Đầunăm
Cuốikỳ
3 Phải trả công nhân viên
B Các khoản phải thanh
toán trong thời gian tới
I Tiền mặt
1 Tiền Việt Nam
2 Ngoại tệ
3 Vàng bạc
II Tiền gửi ngân hàng
1 Tiền Việt Nam
2 Ngoại tệ
3 Vàng bạcIII Tiền đang chuyển
1 Tiền Việt Nam
2 Ngoại tệ
IV Đầu tư ngắn hạn
B Các khoản có thể dùng để thanh toán trong thời gian tới
1 Tháng tới+
2 Quý tới+
Trang 32+ +
Trên cơ sở phân tích này, ta so sánh giữa khả năng thanh toán với nhu cầuthanh toán trong từng giai đoạn (thanh toán ngay, thanh toán trong thời gian tới,thanh toán trong quý tới,…) Doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toántrong từng giai đoạn nếu các khoản có thể dùng để thanh toán nhỏ hơn các khoảnphải thanh toán
Đồng thời, trên cơ sở bảng phân tích trên, cần tính ra chỉ tiêu “hệ số khảnăng thanh toán”, (công thức 2.15):
Hk ≥ 1: thì doanh nghiệp có khả năng thanh toán, tình hình tài chính ổn định
và khả quan
Hk < 1: thì doanh nghiệp không có khả năng trang trải hết công nợ, tình hìnhtài chính gặp khó khăn
2.4.3 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất trongquá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất Hiệu quả kinh doanh được tiếp cậndưới nhiều góc độ khác nhau, vì thế cũng có nhiều chỉ tiêu khác nhau phản ánh nó
Để đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh các nhà phân tích thường sử dụngmột số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Tỷ suất sinh lời của tài sản (Return on assets – ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sauthuế Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sảncàng hợp lý và hiệu quả Chỉ tiêu này được xác định theo các công thức sau:
Suất sinh lời của tài
Lợi nhuận sau thuế
(2.16)Tổng số tài sản bình quân
Hệ số khả năng thanh
Khả năng thanh toán
(2.15)Nhu cầu thanh toán
Trang 33Suất sinh lời của tài sản có thể được viết lại như sau:
ROA = Doanh thu thuần x Lợi nhuận sau thuế (2.17)
Tổng số tài sản bình quân Doanh thu thuần
ROA = Số vòng quay của tổng
Suất sinh lời củadoanh thu (2.18)
- Suất sinh lời của doanh thu (Return on sales – ROS):
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị doanh thu thuần đem lại bao nhiêu đơn vịlợi nhuận Trị số chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn càng cao
và hiệu quả kinh doanh càng lớn Chỉ tiêu này được xác định theo các công thứcsau:
Suất sinh lời của
doanh thu (ROS) =
Lợi nhuận sau thuế
(2.19)Doanh thu thuần
Suất sinh lời của doanh thu có thể được viết lại như sau:
ROS = Tổng số tài sản bình quân x Lợi nhuận sau thuế (2.20)
Doanh thu thuần Tổng số tài sản bình quân
ROS = Hệ số tài sản trên
doanh thu thuần x
Suất sinh lời của
- Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (Return on equity – ROE):
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị vốn chủ sở hữu đem lại bao nhiêu đơn vịlợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời củavốn chủ sở hữu càng cao và ngược lại Chỉ tiêu này được xác định theo các côngthức sau:
Suất sinh lời của vốn
chủ sở hữu (ROE) =
Lợi nhuận sau thuế
(2.22)Vốn chủ sở hữu bình quân
Hay:
Trang 34ROE =
Tổng số tài sản
Doanh thu thuần x
Lợi nhuận sau thuế (2.23)Vốn chủ sở hữu
bình quân
Tổng số tàisản bình quân
Tổng số tài sảnbình quân
ROE = Hệ số tài sản trên
vốn chủ sở hữu x
Số vòngquay của tàisản
x
Suất sinhlời của Doanhthu
ROE = Hệ số tài sản trên vốn
Bên cạnh các chỉ tiêu nói trên, khi phân tích hiệu quả kinh doanh đối với cácdoanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, các nhà phân tích còn chútrọng xem xét thêm các chỉ tiêu sau đây:
- Suất sinh lời của vốn cổ phần thường ROCE (Return on common equity):Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận mà các cổ đông thường thu được trên mỗiđơn vị đầu tư của họ Chỉ tiêu này được tính theo công thức 2.26:
Suất sinh lời của
Trang 35Đối với những người tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp, chỉ tiêu nàyđược họ quan tâm hàng đầu Các nhà đầu tư muốn biết lợi nhuận sẽ có được là baonhiêu từ các khoản đầu tư này
- Lợi nhuận cho mỗi cổ phiếu thường (EPS – Earning per common share): Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận mà các cổ đông thường thu được trênmỗi cổ phiếu thường là bao nhiêu Chỉ tiêu này được tính theo công thức 2.27: Lợi nhuận cho
Số cổ phiếu thường bình quân
Trong đó: Số lượng cổ phiếu bình quân được tính bằng cách lấy bình quân
số cổ phiếu phát hành trong năm theo thời gian:
12Vi: là số lượng cổ phiếu i phát hành
Ti : là số tháng lưu hành trong năm của cổ phiếu i
EPS là chỉ số đánh giá khả năng nội tại của doanh nghiệp trong việc tạo ralợi nhuận trên một cổ phần mà mỗi cổ đông đóng góp vốn chứ không từ việc lênhay xuống giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Các nhàphân tích nên xem xét các chỉ tiêu này trong một giai đoạn nhất định để đánh giá xuhướng ổn định và khả năng tăng trưởng của nó, qua đó sẽ thấy được hiệu quả quátrình hoạt động của doanh nghiệp
- Hệ số giá cả thị trường so với lợi nhuận mỗi cổ phiếu P/E:
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đơn vị lợi nhuận mà mỗi cổ phiếu thu được tươngứng với mấy đơn vị giá cổ phiếu trên thị trường Chỉ tiêu này được tính theo côngthức 2.29:
Hệ số giá cả thị trường = Giá thị trường của mỗi cổ phiếu (2.29)
Trang 36so với lợi nhuận mỗi
cổ phiếu
Lợi nhuận cho mỗi cổ phiếu
Chỉ số P/E cho biết thị trường sẵn sàng trả bao nhiêu đồng để có một đồnglợi nhuận từ cổ phiếu của công ty
- Mức chi trả cổ tức so với lợi nhuận cổ phiếu (Dividend Payout)Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ cổ tức chi trả cho mỗi cổ phiếu thường so với lợinhuận thu được trên mỗi cổ phiếu Trị số của chỉ tiêu tính ra càng lớn, chứng tỏ cổ
tức chi trả càng cao, số lợi nhuận giữ lại hoặc phân phối cho các lĩnh vực khác càng
thấp và ngược lại Chỉ tiêu này được tính theo công thức 2.30:
Mức chi trả cổ tức so với
lợi nhuận cổ phiếu =
Mức cổ tức chi trả cho mỗi cổ phiếu thông thường
(2.30)Lợi nhuận cho mỗi cổ phiếu
- Mức cổ tức so với giá thị trường cổ phiếu (Dividend Yield)\
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng giá thị trường cổ phiếu đem lại cho chủ sởhữu mấy đồng cổ tức Chỉ tiêu này được tính theo công thức 2.31:
Mức chi trả cổ tức so với
giá thị trường cổ phiếu =
Mức cổ tức chi trả cho mỗi cổ phiếu thông thường
(2.31)Giá trị thị trường của mỗi cổ phiếu
- Hệ số giá trị thị trường so với giá trị sổ sách:
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị giá trị sổ sách của chủ sở hữu tương ứngvới mấy đơn vị giá thị trường Trị số của chỉ tiêu tính ra càng lớn chứng tỏ giá trị
đồng vốn của chủ đầu tư trên thị trường càng cao và ngược lại Chỉ tiêu này được
Trang 37Ngoài các chỉ tiêu nêu trên, khi phân tích hiệu quả kinh doanh các nhà phân tích cón
sử dụng các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản cố định, hiệu quả sử dụng tài sảnngắn hạn
- Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định là chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanhcủa doanh nghiệp trong dài hạn Dù được đầu tư bằng bất kỳ nguồn vốn nào thì việc
sử dụng tài sản cố định đều phải đảm bảo tiết kiệm và đạt hiệu quả cao Hiệu quả sửdụng tài sản cố định được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu, nhưng phổ biến là các chỉtiêu sau:
+ Sức sản xuất của tài sản cố định:
Sức sản xuất của tài sản
Doanh thu thuần
(2.34)Nguyên giá bình quân Tài sản cố định
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định dùngvào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ phân tích đem lại bao nhiêu đồngdoanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản cố địnhcàng tốt Do đó, để nâng cao chỉ tiêu này, đồng thời với việc tăng lượng sản phẩmbán ra, doanh nghiệp phải giảm tuyệt đối những tài sản cố định thừa, không cầndùng vào sản xuất, bảo đảm tỷ lệ cân đối giữa tài sản cố định tích cực và không tíchcực, phát huy và khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có của tài sản cố định
+ Sức sinh lợi của tài sản cố định
Sức sinh lợi của tài sản
Lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế
(2.35)Nguyên giá bình quân Tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem lạibao nhiêu đồng lợi nhuận, tỷ lệ này càng cao được đánh giá là tốt Do đó, để nângcao chỉ tiêu này doanh nghiệp phải nâng cao tổng lợi nhuận thuần đồng thời sửdụng tiết kiệm và hợp lý tài sản cố định
+ Suất hao phí của tài sản cố định
Suất hao phí của tài sản
Nguyên giá bình quân tài sản cố định
(2.36)Doanh thu thuần hoặc lợi nhuận trước thuế
Trang 38Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thuần hoặc lợi nhuận trướcthuế cần bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định Đây là chỉ tiêu nghịch đảo vớichỉ tiêu sức sản xuất của tài sản cố định và chỉ tiêu sức sinh lợi của tài sản cố định.
Do đó, chỉ tiêu này có giá trị càng nhỏ càng chứng tỏ doanh nghiệp ít tốn chi phí cốđịnh hơn, có hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
Trong các chỉ tiêu trên thì:
Nguyên giá bình quân
tài sản cố định =
Tổng nguyên giá TSCĐ đầu kỳ + cuối kỳ
(2.37)2
- Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thì không chỉ cần có tài sản cố định
mà tiền, nguyên vật liệu, sản phẩm… cũng hết sức cần thiết Do đó, trong hoạt độngsản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn đóng một vai trò quan trọng trong việc phântích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả tài sản ngắn hạn, ta dựa vào các chỉ tiêu phân tíchsau:
+ Sức sản xuất của tài sản ngắn hạn
Sức sản xuất của tài
sản ngắn hạn =
Tổng doanh thu thuần
(2.38)Tài sản ngắn hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản ngắn hạn bình quân đem lại mấyđồng doanh thu thuần Sức sản xuất của tài sản ngắn hạn càng lớn, hiệu quả sử dụngtài sản ngắn hạn càng tăng và ngược lại, nếu sức sản xuất của tài sản ngắn hạn càngnhỏ, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng giảm
+ Sức sinh lợi của tài sản ngắn hạn
Sức sinh lợi của tài
sản ngắn hạn =
Lợi nhuận sau thuế
(2.39)Tài sản ngắn hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản ngắn hạn bình quân làm ra mấy đồnglợi nhuận hay lãi gộp trong kỳ Đây là chỉ tiêu rất quan trọng trong hệ thống chỉ tiêuchung đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Để nâng cao
Trang 39chỉ tiêu này cần phải tăng tổng lợi nhuận đồng thời đẩy mạnh tốc độ chu chuyển củatài sản ngắn hạn.
+ Phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn vậnđộng không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (dựtrữ - sản xuất - tiêu thụ) Đẩy mạnh tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn sẽ gópphần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sửdụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng Để xác định tốc độ luân chuyển củatài sản ngắn hạn cần xem xét các chỉ tiêu sau:
Số vòng quay của
tài sản ngắn hạn =
Tổng doanh thu thuần
(2.40)Tài sản ngắn hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh tài sản ngắn hạn quay được mấy vòng trong kỳ Nếu
số vòng tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại Chỉ tiêu này cònđược gọi là “hệ số luân chuyển”
+ Thời gian của một vòng luân chuyển
Thời gian của một
vòng luân chuyển =
Thời gian của kỳ phân tích
(2.41)
Số vòng quay của tài sản ngắn hạn trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho tài sản ngắn hạn quay được mộtvòng Thời gian của một vòng (kỳ) luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyểncàng lớn Trong công thức trên, thời gian của kỳ phân tích được tính theo ngày vàđược quy định 1 tháng là 30 ngày, 1 quý là 90 ngày, 1 năm là 360 ngày
+ Hệ số đảm nhiệm của tài sản ngắn hạn
Hệ số đảm nhiệm
của tài sản ngắn hạn =
Tài sản ngắn hạn bình quân
(2.42)Tổng doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thuần thì cần mấy đồng tàisản ngắn hạn Hệ số này tỷ lệ nghịch với chỉ tiêu sức sản xuất của tài sản ngắn hạncho nên càng nhỏ càng tốt
Cách tính từng chỉ tiêu theo công thức trên như sau:
Trang 40+ Tổng số doanh thu thuần = Tổng doanh thu bán hàng trong kỳ - (tổng sốthuế doanh thu hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, thuế xuất khẩu phải nộp +chiết khấu hàng bán, giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại).
+ Tài sản ngắn hạn bình quân được tính theo công thức 2.43:
Tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn đầu kỳ + cuối kỳ
(2.43)2
- Phân tích khả năng sinh lợi của vốn
Ngoài việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh dưới góc độ
sử dụng tài sản ngắn hạn và tài sản cố định còn cần xem xét hiệu quả sử dụng vốndưới góc độ sinh lời Đây là một trong những nội dung phân tích được các nhà đầu
tư, các nhà cho vay và các cổ đông quan tâm đặc biệt do nó gắn liền với lợi ích của
họ về hiện tại và tương lai Để đánh giá khả năng sinh lời của vốn, người ta sử dụngcác chỉ tiêu sau:
Hệ số doanh lợi của
doanh thu thuần =
Lợi nhuận
(2.44)Doanh thu thuần
Chỉ tiêu trên cho biết trong một đồng doanh thu thuần đạt được có mấy đồnglợi nhuận Trong thực tế người ta xem xét khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu vìkhả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu phản ánh sự vững mạnh trong nội lực và antoàn cho bản thân doanh nghiệp khi kinh doanh trên vốn của mình
2.4.4 Phân tích rủi ro tài chính
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên phải đương đầu vớinhiều rủi ro trên mọi phương diện Qua phân tích các nhà quản lý dự báo đượcnhững rủi ro tiềm ẩn về tài chính trên khía cạnh thanh toán, thậm chí cả cả rủi ro vềphá sản mà doanh nghiệp có thể phải đương đầu Từ đó các nhà quản lý sẽ đề ra các
kế sách, các quyết định kịp thời, hợp lý để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro chodoanh nghiệp
Rủi ro tài chính gắn liền với cấu trúc nguồn vốn và rủi ro mà các chủ sở hữuphải chịu do việc sử dụng nợ mang lại Khi xem xét rủi ro tài chính thường phảixem xét rủi ro thanh toán nợ và ảnh hưởng cơ cấu nợ đến khả năng sinh lời trênnguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Để đánh giá rủi ro thanh toán của doanhnghiệp, các nhà phân tích sử dụng các chỉ tiêu sau:
* Rủi ro thanh toán nợ: