Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn --- NGUYỄN ĐỨC NĂNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ DÒNG, GIỐ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
-
NGUYỄN ĐỨC NĂNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ
DÒNG, GIỐNG SẮN MỚI TẠI HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - NĂM 2011
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN ĐỨC NĂNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ
DÒNG, GIỐNG SẮN MỚI TẠI HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI NĂM 2010
CHUYÊN NGÀNH: TRỒNG TRỌT
MÃ SỐ: 60 62 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Viết Hưng
THÁI NGUYÊN - NĂM 2011
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
Nguyễn Đức Năng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, tôi đã hoàn thành bản luận văn nghiên cứu khoa học Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sau Đại học; Khoa Nông Học, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên; Cán bộ và nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành hoàn thành
đề tài nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Viết Hưng
đã luôn quan tâm nhiệt tình giúp đỡ tôi, trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu hoàn thành luận văn
Nhân dịp này, tôi cũng xin trân trọng gửi tới gia đình sự biết ơn sâu sắc nhất
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Học viên
Nguyễn Đức Năng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
I Đặt vấn đề 1
II Mục tiêu nghiên cứu 2
III Yêu cầu nghiên cứu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn tại Việt Nam 7
1.2 Tình hình nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn trên thế giới và trong nước 15
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn trên thế giới 15
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn ở Việt Nam 20
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp, quy trình, chỉ tiêu nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp và quy trình bố trí thí nghiệm 27
2.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30
2.4.2.1 Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng 30
2.4.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi về các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất 31
2.4.2.3 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu Lào Cai năm 2010 33
3.2 Kết quả nghiên cứu về 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm tại huyện Bảo Yên - tỉnh Lào Cai năm 2010 34
3.2.1 Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của các giống sắn tham gia thí nghiệm 34
3.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 35
3.2.3 Tốc độ ra lá của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 37
3.2.4 Tuổi thọ lá của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 38
3.2.5 Một số chỉ tiêu nông học của 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 40
3.2.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 42
3.2.7 So sánh năng suất, chất lượng của 9 dòng giống sắn tham gia thí nghiệm 48
3.2.8 Hiệu quả kinh tế của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 51
3.3 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất của giống sắn KM98-7 tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai -
năm 2010 54
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của
giống sắn KM98-7 54
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ ra lá của giống sắn KM98-7 55
3.3.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tuổi thọ lá của giống sắn KM98-7 57
3.3.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống sắn KM98-7 58
3.3.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn KM98-7 59
3.3.6 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất của giống sắn KM98-7 61
3.3.7 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế của giống
sắn KM98-7 63
3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đối với giống sắn KM98-7 tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - năm 2010 65
3.4.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống sắn KM98-7 65
3.4.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của
giống sắn KM98-7 66
3.4.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tuổi thọ lá của
giống sắn KM98-7 67
3.4.4 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chỉ tiêu sinh trưởng và các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn KM98-7 68
3.4.5 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất củ tươi, năng suất thân lá, năng suất sinh vật học của giống sắn KM98-7 69
3.4.6 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống sắn KM98-7 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
1 Kết luận 75
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2 Đề nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
I Tài liệu tiếng Việt 76
II Tài liệu tiếng Anh 79
PHỤ LỤC
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CATAS : Học Viện Cây trồng Nhiệt đới Nam Trung Quốc
CIAT : Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới
CTCRI : Viện Nghiên cứu Cây có củ
CTTN : Công thức thí nghiệm
FAO : Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc
FCRI : Viện Nghiên cứu Cây trồng Thái Lan
GSCRI : Viện Nghiên cứu Cây trồng Cận Nhiệt đới Quảng Tây Trung Quốc HSTH : Hệ số thu hoạch
IFPRI : Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới
IITA : Viện Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới
MARIF : Viện Nghiên cứu Cây Lương thực Marlang – Indonexia
NLSH : Năng lượng sinh học
NSCK : Năng củ khô
NSCT : Năng suất củ tươi
NSSVH : Năng suất sinh vật học
NSTL : Năng suất thân lá
TLCK : Tỷ lệ chất khô
TLTB : Tỷ lệ tinh bột
TTDI : Viện Tinh bột Sắn Thái Lan
XVP : Giống sắn Xanh Vĩnh Phú
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới giai đoạn 2000 -
2009 3
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của những nước trồng sắn chính trên thế giới năm 2009 (sản lượng hơn 1 triệu tấn) 4
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2009 8
Bảng 1.4 Diễn biến diện tích, sản lượng sắn của các vùng trồng sắn của Việt Nam từ năm 2000 - 2009 9
Bảng 1.5 Diện tích và năng suất của một số giống sắn đang sử dụng ở Việt Nam hiện nay 11
Bảng 3.1 Thời tiết khí hậu năm 2010 tại Lào Cai 33
Bảng 3.2 Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 34
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 36
Bảng 3.4 Tốc độ ra lá của 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 37
Bảng 3.5 Tuổi thọ lá của 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 39
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu nông học của 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 40
Bảng 3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống sắn tham gia thí nghiệm 43
Bảng 3.8 Năng suất và chất lượng của 9 dòng, giống sắn tham gia
thí nghiệm 49
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 52
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
của giống sắn KM98-7 54
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ ra lá của giống sắn
KM98-7 56 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tuổi thọ lá giống sắn KM98-7 57 Bảng 3.13 Ảnh hưởng mật độ trồng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống
sắn KM98-7 58 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
của giống sắn KM98-7 60 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất giống sắn KM98-7 61 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế trồng giống
sắn mới KM98-7 63 Bảng 3.17 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều
cao cây của giống sắn KM98-7 65 Bảng 3.18 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của giống sắn
KM98-7 66 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tuổi thọ lá của giống sắn
KM98-7 67 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chỉ tiêu sinh trưởng và các
yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn KM98-7 68 Bảng 3.21 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất của giống sắn
KM98-7 69 Bảng 3.22 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống
sắn KM98-7 72
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 28 Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 29 Hình 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3 30 Hình 3.1 Biểu đồ năng suất củ tươi, năng suất thân lá, năng suất sinh vật học
của 9 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 44 Hình 3.2 Biểu đồ năng suất củ khô và năng suất tinh bột của 9 dòng, giống
sắn tham gia thí nghiệm 50 Hình 3.3 Biểu đồ hiệu quả kinh tế của 9 dòng, giống tham gia thí nghiệm 53 Hình 3.4 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất củ tươi, năng
suất thân lá, năng suất sinh vật học của giống sắn KM98-7 62 Hình 3.5 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế của giống
sắn KM98-7 64 Hình 3.6 Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất củ tươi, năng
suất thân lá, năng suất sinh vật học của giống sắn KM98-7 70 Hình 3.7 Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của
giống sắn KM98-7 73
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề
Cây Sắn (Manihot esculenta Crantz) là một trong những cây lương
thực dễ trồng, có khả năng thích ứng rộng, và trồng được trên những vùng đất nghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc Nó được trồng rộng rãi ở 300
Bắc đến 300 Nam và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là châu Phi, châu Mĩ và châu Á Theo Tổ chức lương thực thế giới (FAO) xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì Tinh bột sắn là một thành
phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới (www
TTTA Food market, 2009) [33] Đồng thời, sắn cũng là cây thức ăn gia súc
quan trọng tại nhiều nước trên thế giới và cũng là cây hàng hoá xuất khẩu có giá trị để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm
Cây sắn du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII Đã được trồng hầu hết ở các tỉnh của Việt Nam, từ Bắc đến Nam: Vùng núi và trung du phía bắc, vùng ven biển Nam Trung Bộ, vùng Khu bốn cũ và vùng Đông Nam Bộ
Hiên nay, ở Việt Nam, sắn không những là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô, đồng thời là nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho các nhà máy chế biến tinh bột cũng như thức ăn gia súc với sản phẩm khá đa dạng và phong phú, mà còn là cây dùng để là nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học Ethanol Do đó sắn đã trở thành cây hàng hoá xuất khẩu của nhiều tỉnh
Tuy vậy năng suất sắn tại nhiều địa phương ở Việt Nam cũng như ở huyện Bảo Yên - tỉnh Lào Cai vẫn còn thấp hơn nhiều so với tiềm năng, năng suất của các giống sắn mới Lý do là người nông dân thường quan niệm sắn là
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
cây trồng dễ trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu được chua, nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm canh
và chọn giống phù hợp với điều kiện sinh thái Để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bền vững ở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, việc nghiên cứu về giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn là vấn đề rất cần thiết Với những lý do trên
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện
pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và năng suất của một số dòng, giống sắn mới tại huyện Bảo Yên - tỉnh Lào Cai năm 2010”
II Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của các giống sắn tham gia nghiên cứu Nhằm lựa chọn được dòng, giống sắn mới có
năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện sinh thái vùng nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật về mật độ và tổ hợp phân bón từ đó bổ sung vào quy trình kỹ thuật thâm canh, để nâng cao năng suất, chất lượng và tăng hiệu quả kinh tế của giống sắn KM98-7 tại huyện
Bảo Yên - tỉnh Lào Cai
III Yêu cầu nghiên cứu
- So sánh các đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống
sắn tham gia nghiên cứu
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống tham gia nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống sắn mới KM98-7
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, tổ hợp phân bón đến các yếu
tố cấu thành năng suất và năng suất của giống sắn KM98-7
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Trên thế giới sắn được trồng trên 100 nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới từ 30 vĩ độ Bắc đến 30 vĩ độ Nam chủ yếu thuộc ba châu lục: Châu
Á, châu Phi và châu Mĩ La Tinh Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới giai đoạn
2000 - 2009
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Có được kết quả đó là do chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự tôn vinh giá trị của cây sắn, vì sắn là cây lương thực dễ trồng, thích
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
hợp với đất nghèo dinh dưỡng và là cây công nghiệp có khả năng cạnh tranh
cao với nhiều cây công nghiệp khác (FAO STAT, 2010) [32]
Hiện nay cây sắn được trồng tại 105 quốc gia, năm 2009 toàn thế giới
có 19.06 nghìn ha sắn, trong đó có 64,8% diện tích sắn được trồng ở Châu Phi, Châu Á chiếm 21,2%, Châu Mỹ chiếm 14% Năm 2009 trên thế giới có 51,8% sản lượng sắn được sản xuất ở châu Phi, Châu Á 33,8% và chỉ có 14,4% ở Châu Mỹ (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của những nước trồng sắn
chính trên thế giới năm 2009 (sản lượng hơn 1 triệu tấn)
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Châu Phi có tổng diện tích trồng sắn năm 2009 là 12.353 nghìn ha, năng suất củ tươi bình quân 10,10 tấn/ha, sản lượng 124,83 triệu tấn [32] Ở Châu Phi nước có diện tích sắn lớn nhất là Angola với 994,42 nghìn ha, năng suất đạt 12,9 tấn/ha, sản lượng 12,83 triệu tấn Angola là nước có diện tích sắn lớn nhất nhưng năng suất lại thấp hơn Ghana 0,91 tấn/ha Sắn là nguồn lương thực chính của người dân tại nhiều nước ở vùng này Châu Phi là nơi tình trạng suy dinh dưỡng tăng lên gấp đôi trong hai thập kỷ qua nên cây sắn hiện được coi là giải pháp an toàn lương thực hàng đầu
Năm 2009 tổng diện tích sắn trồng ở Châu Mỹ là 2.668 nghìn ha, năng suất củ tươi bình quân 13,00 tấn/ha, sản lượng 34,68 triệu tấn Năng suất trung bình ở Châu Mỹ cao hơn năng suất trung bình của Châu Phi là 2,9 tấn/ha Brazil là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất thế giới với 1.872,81 nghìn ha, Thái Lan là nước có diện tích lớn thứ 2 trên thế giới với 1.326,74 nghìn ha, thấp hơn so với Brazil là 546,07 nghìn ha Tồn tại chính trong sản xuất và tiêu thụ sắn ở Châu Mỹ là trình độ kỹ thuật thâm canh chưa cao, công nghiệp chế biến tinh bột sắn không phát triển bằng Châu Á, sắn chủ yếu sử dụng tươi và làm thức ăn gia súc
Châu Á cùng với Châu Phi và Châu Mỹ là một trong ba vùng sắn quan trọng của thế giới Diện tích sắn Châu Á hiện có 4.037 nghìn ha, sản lượng 81,47 triệu tấn đứng thứ hai sau Châu Phi, năng suất sắn ở Châu Á hiện đạt bình quân 20,18 tấn/ha cao hơn Châu Phi 10,08 tấn/ha Ấn Độ hiện là nước có năng suất đạt cao nhất trên thế giới với 34,37 tấn/ha, Thái Lan là nước có năng suất cao đứng thứ 2 trên thế giới (22,68 tấn/ha) thấp hơn so với Ấn Độ là 11,69 tấn/ha Sản xuất sắn tại Châu Á tăng ở mức cao của 3%/năm trong thời gian cuối những năm 70 và đầu 80, những năm 90 sản xuất sắn phát triển chậm lại Sản xuất sắn được phát triển khá nhanh trở lại ở 3,3%/năm trong suốt 10 năm qua
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Kết quả về sản xuất sắn ở một số nước Châu Á năm 2009 được thể hiện
Tổ chức Lương thực thế giới (FAO) xếp sắn là cây lương thực quan trọng
ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì Sản lượng sắn của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT.1993) [41] Sắn không những là cây lương thực mà là cây thức ăn gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới đồng thời cũng là cây hàng hoá xuất khẩu có giá trị nhằm chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván
ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm
Hiện nay các nước trên thế giới ngoài phần sắn sử dụng ăn tươi ra thì còn dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến tinh bột
Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) Năm 2008 Trung Quốc đã sản xuất một triệu tấn ethanol, họ đã thoả thuận với một số quốc gia lân cận để cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol…
Tại Thái Lan, nhiều nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng năm 2008 Indonesia đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt đầu từ năm 2010 [29]
Các nước như Lào, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đang nghiên
cứu thử nghiệm để sản xuất ethanol
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Về xuất khẩu Thái Lan là nước xuất khẩu sắn nhiều nhất trên thế giới,
số lượng sắn xuất khẩu chiếm trên 85% lượng xuất khẩu sắn toàn cầu, kế đến
là Indonesia và Việt Nam Thị trường xuất khẩu sắn chủ yếu của Thái Lan là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và cộng đồng châu Âu với tỷ trọng xuất khẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bột sắn, 25% là sắn lát và sắn viên
Giá sắn trên thị trường thế giới biến động nhiều Đầu năm 2008 tăng mạnh, có thời điểm giá sắn lát nhập khẩu vào trung Quốc đạt 200 USD/tấn và giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan đạt khoảng 440 USD/tấn Nhưng từ cuối năm 2008 do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, giá sắn đã giảm rất mạnh Giá tinh bột sắn vào tháng 2/2009 chỉ còn 240 USD/tấn, giảm 40%
so với cùng kỳ 2008 Tuy vậy trong những tháng gần đây, sự phục hồi của giá dầu thô và nhu cầu tiêu thụ sắn của Trung Quốc tăng mạnh đã giúp giá sắn tăng trở lại Hiện giá tinh bột sắn tại Thái Lan đã tăng lên 285 USD/tấn, tăng 19% so với tháng 2/2009
Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020 Năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275.10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274.7 triệu tấn, các nước đã phát triển khoảng 0.40 triệu tấn Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254.60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20.5 triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176.3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53.4 triệu tấn Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1.98% và 0.95% [35]
1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn tại Việt Nam
Ở Việt Nam cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực thành cây công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản lượng sắn đã tăng nhanh ở thập
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
kỷ đầu của thế kỷ XXI Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và
kinh tế nông hộ (Hoàng Kim và Phạm Văn Biên, 1999) [1]
Ở Việt Nam sắn là một trong bốn cây trồng, có vai trò quan trọng trong
chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô Việt Nam là nước nông
nghiệp với dân số trên 80 triệu người Trong đó hiện có 5% hộ đói và 20% hộ
nghèo, cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo [15]
Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn của Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước tiến đáng kể Tại Việt Nam sắn được canh tác phổ biến
ở hầu hết các tỉnh của các vùng sinh thái nông nghiệp Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam qua các năm và phân theo các vùng sinh thái được thể hiện qua bảng 1.3
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn ở Việt Nam
giai đoạn 2000 - 2009
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Sản xuất lương thực là ngành trọng tâm và có thế mạnh của Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020 Chính phủ Việt Nam chủ trương đẩy mạnh sản xuất lúa, ngô và coi trọng việc sản xuất sắn, khoai lang ở những vùng, những vụ có điều kiện phát triển
Diện tích sắn của Việt Nam dự kiến ổn định khoảng 500 nghìn ha nhưng
sẽ tăng năng suất và sản lượng sắn bằng cách chọn tạo và phát triển các giống sắn tốt có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác sắn bền vững và thích hợp vùng sinh thái
Bảng 1.4 Diễn biến diện tích, sản lƣợng sắn của các vùng trồng sắn của
Việt Nam từ năm 2000 - 2009 Năm
Vùng
Diện tích (1.000ha) Sản lƣợng (1.000 tấn)
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
sắn ở miền Nam Việt Nam được trồng chủ yếu trên đất cát màu xám, các loại đất này phẳng và nghèo chất dinh dưỡng, các khu vực ven biển miền Trung và Đông Nam, chiếm khoảng 60% diện tích sắn toàn miền Nam Trong khi đó hơn 30% diện tích sắn được trồng ở Tây Nguyên và Đồng Nai, Bình Phước của khu vực Đông Nam trên đất đỏ màu vàng với địa hình đồi núi
Năm 2009 diện tích trồng sắn đã đạt 560.400 ha (bảng 1.4), trong đó có khoảng 78% tổng diện tích được phân bố ở các bờ biển miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Có thể thấy rằng việc sản xuất sắn tại Việt Nam đã được chuyển dần sang miền Trung và khu vực Đông Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là ở các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Đắk Lắk (chiếm 26,78%); ở miền Đông Nam Bộ như Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Thuận (chiếm 20.52%); các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (chiếm 30,33%) Ba khu vực đã tăng tất
cả các lĩnh vực sản xuất sắn với các mức độ khác nhau Nổi bật trong số ba vùng
là Tây Nguyên gia tăng đáng kể trong giai đoạn 2005 - 2009 Sản lượng sắn và diện tích sắn ở nhiều tỉnh đã tăng lên, điều này có được do việc xây dựng các nhà máy chế biến sắn mới có quy mô lớn trong khu vực Sản lượng sắn trong từng khu vực/tỉnh có liên quan chặt chẽ đến diện tích gieo trồng và năng suất, mà chủ yếu phụ thuộc vào việc áp dụng các giống sắn mới năng suất cao ở mỗi tỉnh và thông qua các kỹ thuật thực hành sản xuất bền vững
Trong thập niên 1980 và 1990 sản lượng sắn tại Việt Nam đã suy giảm Nhưng trong mười năm qua (2000-2009), sản lượng sắn tăng từ 1.986.300 tấn trong năm 2000 lên 9.455.500 tấn trong năm 2009 [2]
Kết quả này đạt được thông qua hai yếu tố đó là mở rộng diện tích và trồng các giống sắn cao sản mới Năm 2000 có diện tích trồng sắn từ 237.600 ha, năm 2009 là 560.400 ha, tăng so với năm 2000 là 322.800ha và
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
đánh dấu sự gia tăng năng suất từ 8,36 tấn/ha trong năm 2000 lên 16,87 tấn/ha vào năm 2009
Việt Nam đã đạt tiến bộ kỹ thuật nhanh nhất châu Á về chọn tạo và nhân giống sắn Tiến bộ này là do nhiều yếu tố mà yếu tố chính là thành tựu trong chọn tạo và nhân giống sắn lai Năng suất và sản lượng sắn của nhiều tỉnh đã tăng lên gấp đôi do trồng các giống sắn mới năng suất cao và áp dụng
kỹ thuật canh tác sắn thích hợp, bền vững
Diện tích canh tác giống sắn mới toàn quốc hiện đạt trên 500 nghìn ha, chủ yếu là KM94, KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26, KM98-7 Sắn lát và tinh bột sắn có lợi thế cạnh tranh cao và thị trường sắn là triển vọng Sự kết hợp giữa phát triển sản xuất, chế biến sắn làm tinh bột, thức ăn gia súc và làm cồn sinh học đã tạo ra nhiều việc làm, tăng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá một số khu vực nông thôn
Bảng 1.5 Diện tích và năng suất của một số giống sắn đang sử dụng ở
Việt Nam hiện nay
Giống
Diện tích thu hoạch năm 2008
Năng suất củ tươi (tấn/ha) Tỷ lệ
tinh bột (%)
Năng suất tinh bột (tấn/ha)
Sản lượng
củ tươi (1000 tấn) 1000ha % Trung
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo bảng số liệu trên (bảng 1.5) ta thấy ngoài giống sắn KM94 đã được nông dân chấp nhận thì còn rất nhiều các giống khác có tiềm năng cho năng suất
củ tươi và năng suất tinh bột cao, việc tiến hành lựa chọn các giống mới có tiềm năng cho năng suất cao phù hợp với từng vùng sinh thái là rất cần thiết
Đã từ lâu cây sắn đã trở thành cây có củ đứng hàng đầu về diện tích và sản lượng so với các cây có củ ở nước ta và hiện nay sắn ngoài sử dụng làm lương thực ra thì sắn cũng đã trở thành cây công nghiệp hàng hoá xuất khẩu
và chế biến làm thức ăn cho gia súc có giá trị kinh tế cao trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới
Về chế biến sắn ngoài sắn tươi và sắn lát khô ra thì hiện nay cả nước có
60 nhà máy chế biến tinh bột sắn, với tổng công suất khoảng 3,8 triệu tấn củ tươi/năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rải rác ở hầu hết các tỉnh trồng sắn Việt Nam hiện mỗi năm sản xuất khoảng từ 800 - 1.200 nghìn tấn tinh bột sắn, trong đó 70% xuất khẩu, 30% tiêu thụ trong nước [3]
Ngoài ra, trong tương lai sắn sẽ là nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) Đó là cơ hội tốt mở ra cho việc tiêu thụ sản phẩm sắn lát khô của Việt Nam Như vậy, sẽ góp phần làm cây sắn phát triển một cách bền vững và ổn định Vì khi tiến hành sản xuất ethanol Việt Nam sẽ tiến tới không còn phải xuất khẩu nguyên liệu sắn lát khô Như vậy, chúng ta sẽ không rơi vào tình trạng bị ép giá, vừa giúp người nông dân an tâm sản xuất [24]
Thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Việt Nam dự báo là có thuận lợi và có thể cạnh tranh cao do thế giới có nhu cầu sắn để chế biến ethanol, bột ngọt, thức ăn gia súc và những sản phẩm tinh bột biến tính
Xuất khẩu sắn của Việt Nam những năm trước giữ một vị trí khá khiêm tốn trong số những mặt hàng nông sản xuất khẩu nhưng năm 2009 đã tăng nhanh và đem lại một khoản ngoại tệ không nhỏ cho đất nước Kim ngạch
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 8 tháng đầu năm 2009 ước đạt 429 triệu USD, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước và cao hơn nhiều so với kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng rau quả, hạt tiêu, chè
Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2009 có thể đạt trên dưới 800 triệu USD Vì vậy, Bộ Công Thương đã đưa mặt hàng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn vào nhóm những mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Tuy nhiên, sự tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu sắn cũng mang lại những mối lo không nhỏ, nhất là nguy cơ tái diễn tình trạng phát triển ồ ạt diện tích trồng sắn trong cả nước, vừa gây xói mòn đất vừa ảnh hưởng bất lợi đến giá cả thị trường Hơn nữa, với số nhà máy và cơ sở chế biến sắn ở nước
ta cũng tác động không nhỏ đến môi trường ở nhiều vùng nông thôn, nhất là các tỉnh có diện tích trồng sắn lớn như Tây Ninh, Bình Phước Mặt khác, dù nhu cầu tiêu thụ trên thế giới khá lớn, nhưng đầu ra cho mặt hàng sắn của Việt Nam thực sự chưa ổn định, lại tập trung quá nhiều vào thị trường Trung Quốc Thị trường này chiếm tới 90% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn của Việt Nam Nếu thị trường này giảm nhu cầu thì giá sắn có thể sẽ giảm mạnh và có nguy
cơ xảy ra tình trạng ế đọng sắn với khối lượng lớn như cuối năm trước
Từ thực trạng sản xuất sắn trên, để cây sắn hiện nay có thể phát triển một cách ổn định, bền vững thì cần một số giải pháp như sau:
1 Cần phát triển thêm những nhà máy chế biến tinh bột ở các tỉnh trong cả nước để thu mua sắn của bà con nông dân mỗi khi đến vụ thu hoạch, nhưng phải có hợp đồng rõ ràng giữa nhà máy và người dân, chứ không phải mua bừa bãi, chèn ép giá, mua với giá cả ổn định Có đầu ra bà con sẽ yên tâm sản xuất
2 Cần nghiên cứu, chọn tạo ra nhiều giống sắn mới có năng suất cao, chất lượng tốt, để khuyến cáo cho bà con trồng, tăng sản lượng bằng cách tăng năng suất, không nên tăng diện tích và kỹ thuật canh tác sắn bền vững để đạt năng suất lợi nhuận cao và duy trì độ phì nhiêu của đất
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
3 Cần khuyến cáo bà con nông dân không mở rộng thêm diện tích sắn, không phá rừng làm nương rẫy, nếu tiếp tục phá rừng để trồng sắn thì sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng với đất, gây mất cân bằng sinh thái, làm ô nhiễm môi trường sống và có thể xảy ra thiên tai, sẽ để lại hậu quả rất nặng nề Nếu diện tích vẫn tăng thì sẽ dẫn đến hiện trạng cung vượt quá cầu, như vậy giá sắn sẽ thấp, người nông dân trồng sắn sẽ không có lãi Vì vậy, nên bố trí các cây trồng khác phù hợp với điều kiện địa phương và thế mạnh của từng vùng sản xuất
4 Cần tìm hiểu và mở rộng thị trường nước ngoài để xuất khẩu, tránh hiện tượng phụ thuộc vào Trung Quốc, bị chèn ép giá và gây ra nhiều điều kiện bất lợi
5 Cần xây dựng các nhà máy công nghiệp trong tương lai để sản xuất
ra các sản phẩm như rượu, cồn, bánh kẹo Do vậy sẽ không phải bán nguyên liệu sắn với giá rẻ cho thị trường nước ngoài nữa, mà có thể tạo ra sản phẩm cuối cùng vì giá trị thặng dư nằm ở sản phẩm cuối cùng Điều đó sẽ mang lại rất nhiều lợi nhuận cho cả người trồng sắn và các nhà máy công nghiệp
6 Áp dụng kỹ thuật chế biến và phối hợp thực phẩm để nâng cao giá trị dinh dưỡng của các sản phẩm sắn
7 Ứng dụng dây chuyền công nghệ chế biến sắn hiện đại, tận dụng phế phụ phẩm để làm thức ăn gia súc, phân bón, thường xuyên đánh giá tác động môi trường
8 Quy hoạch sản xuất, chế biến và tiêu thụ sắn Hình thành và phát triển chương trình sắn Việt Nam để liên kết mạng lưới hợp tác nghiên cứu, giảng dạy, khuyến nông, quản lý, đầu tư, sản xuất, kinh doanh, chế biến và tiêu thụ sắn
Trên đây là một số những giải pháp có thể thực hiện được trong tương lai đối với cây sắn nói riêng và những cây trồng khác nói chung, để một nước đang phát triển như Việt Nam có một vị thế về nông nghiệp, được khẳng định
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
trên trường quốc tế, nhà nước cần đầu tư và quan tâm nhiều hơn nữa về nông nghiệp để cuộc sống của người nông dân cao hơn
1.2 Tình hình nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn trên thế giới
* Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới
Cùng với việc sản xuất và tiêu thụ sắn thì việc nghiên cứu sắn trên thế giới cũng ngày càng được quan tâm và phát triển mạnh Chính vì vậy
mà nhiều trung tâm nghiên cứu, chọn tạo giống sắn được ra đời
Trên thế giới, việc nghiên cứu giống sắn được thực hiện chủ yếu ở Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới - CIAT- tại Colombia, Viện Quốc
tế Nông nghiệp Nhiệt đới - IITA tại Nigeria, cùng với các Trường, Viện nghiên cứu quốc gia ở những nước trồng và tiêu thụ nhiều sắn; CIAT, IITA
đã có những chương trình nghiên cứu rộng lớn đồng thời kết hợp chặt chẽ các chương trình sắn của mỗi quốc gia để tiến hành thu thập, nhập nội, chọn tạo
và cải tiến giống sắn Mục tiêu của chiến lược cải tiến giống sắn được thay đổi tuỳ theo sự cần thiết và khả năng của từng chương trình quốc gia đối với công tác tập huấn, phân phối nguồn vật liệu giống ban đầu đã được điều tiết bởi các chuyên gia chọn tạo giống sắn của CIAT
CIAT hiện có những nghiên cứu rất sâu về di truyền số lượng, ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống và bảo tồn nguồn gen sắn, xây dựng bản đồ gen; ứng dụng di truyền phân tử và công nghệ chuyển gen để tạo giống sắn ngắn ngày, chất lượng cao, giàu protein, carotene và vitamin; đồng thời chọn ra những giống sắn kháng bệnh virus, bệnh héo vi khuẩn
(Xanthomonas manihotis), bệnh đốm nâu lá (Cercospora spp.), bệnh thán thư (Coletotrichum spp.), nhện (Tetranychus sp.), bọ phấn, rệp, sâu đục thân [16]
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tại Châu Mỹ Latinh, chương trình chọn tạo giống sắn của CIAT đã phối hợp với CLAYUCA và những chương trình sắn quốc gia của các nước Braxin, Colombia, Mehicô, … giới thiệu cho sản xuất ở các nước này những giống sắn tốt như SM 1433-4,cm 3435-3, SG 337-2, CG 489-31, MCol 72,
AM 273-23, MBRA 383,… Do vậy đã góp phần đưa năng suất và sản lượng sắn trong vùng tăng lên một cách đáng kể [30]
Tại Hội thảo Sắn Quốc tế lần thứ Tám tổ chức tại thủ đô Viên Chăn, Lào ngày 20-24 tháng 10 năm 2008 Các nhà khoa học đã xác định tương lai mới cho sắn ở Châu Á là làm thực phẩm, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học có lợi cho
người nghèo, mục tiêu là chọn tạo được những giống mới đáp ứng được yêu cầu
sử dụng củ và lá sắn làm thức ăn gia súc, phát triển mới trong chế biến sắn, đặc biệt là làm nhiên liệu sinh học, tinh bột, tinh bột biến tính, màng phủ sinh học, công nghiệp thực phẩm (Reinhardt Howeler 2010) [30]
* Tình hình nghiên cứu về mật độ, khoảng cách trồng thích hợp đối với sắn trên thế giới
Trên thế giới mật độ và khoảng cách trồng sắn đã được nông dân, nhà khoa học tiến hành nghiên cứu
Theo tác giả Ociano (1980) [36] cho biết rằng khoảng cách trồng sắn thích hợp nhất đối với giống sắn có mức độ phân cành ít, thân gọn là 75cm x 75cm/cây (17.700 cây/ha)
Theo tác giả Tongglum (1987) [37] cho biết mật độ và khoảng cách trồng có sự ảnh hưởng khác biệt lớn đến năng suất Khoảng cách mật độ trồng phụ thuộc vào giống: giống Rayong 2 mật độ trồng thích hợp có thể thay đổi
từ 7.000 - 27.000 cây/ha, còn giống Rayong 3 là 10 - 15 nghìn cây/ha
Kết quả nghiên cứu của Weite (1987) [38] cho rằng mật độ trồng sắn phụ thuộc vào loại đất và mùa vụ trồng Thường những đất có độ phì cao thì trồng sắn với mật độ thưa còn đối với đất có thành phần dinh dưỡng thấp thì trồng với mật
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
độ dày Mật độ trồng sắn còn liên quan đến đặc tính phân cành và sự sinh trưởng thân lá của từng giống: Giống phân cành nhiều, thân lá phát triển nhanh trồng với mật độ thưa và ngược lại Cũng theo tác giả Weite thì mật độ trồng thích hợp với các giống sắn ở phía Nam Trung Quốc thay đổi từ 10 - 15 nghìn cây/ha
Theo tác giả Villamayor (1983) [40] mật độ trồng sắn chịu ảnh hưởng bởi các đặc điểm về hình thái của giống Đối với những giống sắn ít phân nhánh có tán gọn thì năng suất ít bị ảnh hưởng bởi khoảng cách mật độ trồng Trái lại những giống phân cành nhiều thân lá phát triển mạnh trồng với mật độ cao năng suất sẽ giảm Mật độ trồng sắn thích hợp có thể thay đổi từ 13 - 20 nghìn cây/ha
Một số kết quả nghiên cứu khác của Lian (1987) [34] cũng cho thấy mật độ trồng sắn thích hợp với những giống sắn có thân lá phát triển mạnh và phân nhánh nhiều là từ 10 - 12 nghìn cây/ha thì cho năng suất sắn đạt được cao nhất
* Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho sắn trên thế giới
Trên thế giới cây sắn được trồng trong một phạm vi đất biến động khá rộng từ cát nhẹ đến sét nặng, pH từ 3,5 - 7,8, ngoại trừ đất úng nước và đất có hàm lượng muối cao Sắn đạt năng suất cao trên đất có tưới, hàm lượng dinh dưỡng cao, đất tơi xốp, có kết cấu trung bình, pH khoảng 7 - 8
Theo tác giả Weite, Z (1996) [39] cho rằng sắn được trồng trên đất giàu dinh dưỡng hoặc được bón đầy đủ và hợp lý các loại phân vô cơ, hữu cơ thì sức sinh trưởng tốt dấn đến năng suất củ, năng suất sinh học, tỷ lệ tinh bột đạt cao Nếu sắn trồng trên đất nghèo dinh dưỡng có sức sinh trưởng yếu, năng suất củ, năng suất sinh học và tỷ lệ tinh bột trong củ thấp Bón quá nhiều phân đặc biệt là đạm đối với một số giống sắn có tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ dẫn đến thân lá phát triển nhiều, năng suất sinh vật học cao, năng suất củ tươi giảm, chỉ số thu hoạch thấp Nếu cung cấp P, K vượt mức giới hạn cho phép
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
sẽ ức chế đến sự hấp phụ các chất dinh dưỡng khác như Fe và Zn hoặc Ca,
Mg làm cho sắn sinh trưởng và phát triển kém, năng suất củ giảm Việc cung cấp dư thừa đạm dẫn đến cây sắn phát triển rất mạnh về thân lá, ẩm độ không khí của bộ lá cao, không bào lá lớn, lá non hơn dẫn đến cây sắn dễ bị sâu bệnh phá hoại Bón phân dư thừa sẽ làm tăng giá thành sản xuất và đôi khi làm giảm năng suất dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp Chính vì vậy duy trì việc cung cấp dinh dưỡng cân đối cho cây sắn là rất cần thiết để đạt năng suất cao
Tác giả Duangpatra (1987) [31] cho biết đạm là nguyên tố rất cần thiết đối với sinh trưởng và phát triển của cây sắn Cây sắn hấp thu một lượng N rất lớn từ đất, nên bón đạm làm tăng số lá trên thân, số đốt, số rễ củ và năng suất
củ Tuy nhiên, theo các tác giả khác thì bón đạm làm giảm tỷ lệ tinh bột chứa trong củ Ở các thí nghiệm dài hạn và ngắn hạn cho thấy sắn phản ứng với đạm rất mạnh, nhất là trên các loại đất nghèo dinh dưỡng Phản ứng của sắn đối với các liều lượng N khác nhau đã thể hiện rõ ngay từ năm đầu thí nghiệm đầu tiên Ngoài ra có mối quan hệ khá rõ giữa lượng N bón vào đất và hàm lượng N chứa trong thân lá sắn Hàm lượng N trong thân lá tăng khi mức bón đạm tăng
Tác giả Anneke M (2005) [26] cho rằng để đạt được mức năng suất củ tươi 20 tấn/ha thì cây sắn đã hấp thu một lượng dinh dưỡng là: 87kgN + 37kgP2O5 + 177kgK2O + 35,1kgMgO
Theo tác giả Weite (1987) [38] nếu lúc thu hoạch người ta lấy toàn bộ sinh khối của sắn có trên đồng ruộng (củ tươi, các bộ phận thân lá) thì họ đã lấy đi hầu hết các chất hữu cơ do cây sắn hấp thụ được trong quá trình sinh trưởng và phát triển bao gồm 75%N, 92%Ca, 76%Mg Số liệu phân tích được cho thấy tổ hợp lân chứa trong củ lúc thu hoạch tương đương với lượng P ở bộ phận trên mặt đất (thân, lá) khi thu hoạch cộng với lượng P ở nhiều bộ phận lá đã rụng (lá già) Riêng ở rễ và củ sắn thì tỷ lệ N:P:K bị lấy đi khi thu hoạch là 2:1:4 Song tính chung cho tất cả các bộ phận ở dưới và trên mặt đất thì tỷ lệ là 3:1:3
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo tác giả Weite (1987) [38] từ những kết quả nghiên cứu hơn 100 thí nghiệm trên đồng ruộng của nông dân tại Thái Lan và Trung Quốc cho rằng cây sắn phản ứng mạnh với mức bón phân N từ 50 đến 200kgN/ha nhưng cũng có sự khác nhau tuỳ theo giống (giống SC205 phản ứng với mức bón 200kgN/ha còn giống SC201 ở mức 50kgN/ha)
Tác giả Howeler khi tập hợp nhiều kết quả nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng đối với cây sắn của các tác giả khác nhau trên thế giới đã đi đến kết luận: Để đạt năng suất 15 tấn củ tươi/ha, cây sắn lấy đi lượng dinh dưỡng trung bình là 74kgN, 16kgP2O5, 87kgK2O, 27kgCa và 12kgMg Nhiều công trình nghiên cứu về bón N, P, K đơn lẻ hoặc kết hợp, so sánh phản ứng của cây sắn đối với phân bón là tuỳ thuộc vào tình trạng dinh dưỡng ban đầu của đất, điều kiện sinh thái của vùng cũng như các loại phân và phương pháp bón khác nhau
Kết quả nghiên cứu của Ashokan và Sreedhanan (1985) [27] về vai trò của P2O5 cho thấy cây sắn hấp thu một lượng P2O5 có tác dụng làm tăng tỷ lệ tinh bột và giảm axit cyanhydric (HCN) trong củ
K là nguyên tố được cây sắn hấp phụ nhiều nhất và là nguyên tố hạn chế năng suất củ của cây sắn Theo tác giả Aiyer và cộng sự (1995) [25] triệu chứng thiếu hụt K2O được đặc trưng bởi sự giảm tốc độ sinh trưởng của cây sắn và dễ dàng nhận thấy triệu chứng thiếu K2O xuất hiện ở phiến lá và cuống những lá già, thiếu K2O dẫn đến những lá này bị rụng sớm Khi cung cấp quá nhiều K sẽ làm giảm sự hấp thu Mg và Ca Theo các kết quả nghiên cứu khác tại Colombia [30] bón K2O làm tăng năng suất sắn từ 23,0 lên 43,7 tấn/ha và
có sự tương quan thuận giữa năng suất và hàm lượng K2O chứa trong lá
Những kết quả nghiên cứu khác tại Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Philippin và Trung Quốc cho thấy bón cân đối N, P, K có thể làm tăng năng suất sắn lên 48% so với không bón phân Cũng theo các kết quả nghiên cứu tại các quốc gia này thì mức bón N, P, K dao động trong khoảng: [100kgN +
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
50kgP2O5 + 100kgK2O]/ha; [60kgN + 60kgP2O5 + 120kgK2O]/ha; [80kgN + 40kgP2O5 + 80kgK2O]/ha Nghĩa là bón tỷ lệ N:P:K là 2:1:2 và 2:2:4 đều cho năng suất và tỷ lệ tinh bột cao, đồng thời có thể duy trì được độ phì của đất Những công trình nghiên cứu của tiến sĩ Lian thực hiện trên đất than bùn ở Malaysia cho thấy công thức bón N:P:K thích hợp cho sắn là 150 - 250kgN + 30khP2O5 + 80 - 160kgK2O/ha [34]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn ở Việt Nam
* Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn ở Việt Nam
Chọn giống sắn tốt, năng suất cao, phù hợp với đất đai và yêu cầu của sản xuất lớn là việc làm cần thiết để phát huy những ưu điểm của giống Nhưng trong điều kiện sản xuất trên diện rộng nếu không có một kế hoạch chọn lọc bồi dưỡng giống sắn thường xuyên thì sau một vài năm giống sắn tốt cũng dễ thoái hoá làm năng suất giảm xuống Thấy được tầm quan trọng của công tác chọn tạo giống sắn, các nhà khoa học Việt Nam đã không ngừng nghiên cứu chọn lọc các giống sắn mới để phục vụ cho sản xuất [23]
Cây sắn được du nhập vào nước ta khoảng giữa thế kỷ XVIII và có mặt ở miền Nam trước sau đó mới đưa ra trồng ở miền Bắc và hiện nay
sắn được trồng rộng khắp trong cả nước (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [15]
Trước năm 1975 tại Viện khảo sát nông nghiệp Sài Gòn đã nhập nội, thu thập và khảo sát nguồn gen giống sắn (Lê Xuân Hoa, 1962, 1964,
1968, 1972) Ở miền Bắc, tác giả Đinh Văn Lữ cũng thực hiện một số thí
nghiệm so sánh giống sắn và rút ra một số kết luận về tập đoàn giống sắn
Trong giai đoạn 1976 - 1990, tại Viện khoa học Nông nghiệp miền Nam và trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Hưng Lộc đã thu thập và đánh giá các giống sắn địa phương kết quả đã chọn lọc và giới thiệu một số giống mới để đưa ra sản xuất đại trà đó là HL23, HL24, HL20; những giống này có năng suất cao hơn
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
giống H34 và Mì Gòn địa phương Tại miền Bắc từ 1980 - 1985, trường Đại học Nông Lâm Bắc Thái đã đánh giá 20 giống sắn địa phương và kết luận giống Xanh
Vĩnh Phú là giống địa phương tốt nhất miền Bắc (Trần Ngọc Ngoạn, 2004) [17]
Từ năm 1988, công tác nghiên cứu chọn giống sắn ở Việt Nam có quan
hệ chặt chẽ với CIAT Trong suốt 18 năm (1988 - 2005), chương trình sắn Việt Nam đã phối hợp với CIAT chọn lọc và phát triển hai giống sắn mới KM60 và KM94 ra sản xuất Đây là hai giống sắn có năng suất củ tươi cao (25 - 40 tấn/ha) có tỷ lệ tinh bột cao (27 - 30%), thích hợp với chế biến tinh bột Cũng từ 1993 trở lại đây nhiều nhà máy chế biến tinh bột sắn được xây dựng - cây sắn đã chuyển sang hướng sản xuất hàng hoá Do đó các giống sắn mới đã và đang được phát triển mạnh ở cả hai miền Nam - Bắc Việc giới thiệu và phát triển hai giống sắn mới này vào sản xuất, đã là một bước đột phá mới trong nghề trồng sắn ở Việt Nam [23]
Với sự hợp tác của CIAT, chương trình sắn Việt Nam cũng đã tiến hành đánh giá vào khoảng 30.000 hạt lai do CIAT/Colombia, CIAT/Thái giới thiệu và khoảng 7.000 hạt lai từ nguồn lai tạo trong nước Hàng chục dòng triển vọng tiếp tục được chọn ra từ nguồn vật liệu này như: KM98-1, KM98-
5, KM95-3, KM98-7, KM140… Trong số các dòng này, có những dòng rất
có triển vọng vừa thích hợp chế biến, vừa có thể sử dụng ăn tươi [3]
Trong giai đoạn 1991 - 2005, Chương trình sắn Việt Nam đã hợp tác chặt chẽ với CIAT, VEDAN và mạng lưới Nghiên cứu sắn Châu Á để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển sắn với mục tiêu là chọn tạo
ra những giống sắn có năng suất củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao, phục vụ cho chế biến công nghiệp; đồng thời cũng tuyển chọn được những giống sắn ngắn ngày, đa dạng, thích hợp cho cả chế biến công nghiệp cũng như nhu cầu về lương thực ở vùng sâu, vùng xa Do đó đã tạo được bước đột phá quan trọng trong nghề trồng sắn của Việt Nam
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hiện nay mục tiêu của chương trình cải thiện di truyền sắn tại Việt Nam là:
- Tăng tiềm năng năng suất, hàm lượng chất khô và hàm lượng tinh bột
- Rút ngắn thời gian thu hoạch
- Xác định các giống có năng suất cao phù hợp với từng khu vực và vùng sinh thái khác nhau nhằm thúc đẩy sự hội nhập của các hệ thống canh tác nông hộ nhỏ [10]
- Lựa chọn giống sắn tốt nhất cho sản xuất ethanol sinh học
Mà mục tiêu cụ thể của chương trình nhân giống sắn là để chọn và phát hành giống mới có năng suất cao từ 35-40 tấn /ha, hàm lượng tinh bột từ 27-30%, thời gian sinh trưởng và phát triển từ 8-10 tháng, cây mọc thẳng đứng, đốt ngắn, ít phân nhánh, tán nhỏ gọn, kích thước gốc, củ thống nhất và phù hợp cho chế biến công nghiệp
Thực hiện mục tiêu trên hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu
về chọn tạo giống đạt kết quả tốt nhờ đó mà nhiều giống sắn mới được đưa vào sản xuất như KM60, KM94, KM95, KM95-3, SM937-26, KM98-1, KM98-5, KM98-7, KM140 đã thực sự mang lại lợi nhuận cao cho nông dân trên diện rộng, cho nên tạo được công ăn việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa và miền núi, đồng thời tăng sức cạnh tranh của tinh bột sắn xuất khẩu và các sản phẩm khác chế biến từ sắn trên thị trường trong và ngoài nước [3]
Những tiến bộ vượt bậc về công tác chọn tạo giống sắn trên thế giới và
ở Việt Nam đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của phương pháp tuyển chọn giống sắn thích hợp theo vùng khí hậu, đất đai và tạo nguồn vật liệu khởi đầu phong phú để tạo nên sự đột phá về năng suất Công tác thực nghiệm tuyển chọn giống sắn trên đồng ruộng chỉ có kết quả khi bảo đảm vững chắc được
cơ sở di truyền những tính trạng nông học Trong đó, năng suất củ tươi, chỉ số
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thu hoạch có hệ số di truyền cao, tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột có hệ số di truyền thấp và ít biến động bởi điều kiện môi trường [16]
* Tình hình nghiên cứu về mật độ, khoảng cách trồng thích hợp đối với sắn ở Việt Nam
Ở Việt Nam tác giả Nguyễn Hữu Hỷ cho biết mật độ trồng sắn thích hợp với các giống sắn KM60, KM94 trồng vụ đầu mùa mưa trên đất đỏ ở Đông Nam Bộ là 10.000 cây/ha và trên đất xám là 11.080 cây/ha sẽ đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao [9]
Theo TS Nguyễn Viết Hưng (2004)[6] thì mật độ thích hợp cho giống sắn KM94 và KM98-7 được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam là 15.625 cây/ha và 12.500 cây/ha sẽ cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất
Khái quát thông tin từ những kết quả nghiên cứu sắn trên thế giới và trong nước chúng tôi đã rút ra những vấn đề cơ bản làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho đề tài nghiên cứu
- Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô Hiện nay ở nước ta cây sắn đang được chuyển đổi nhanh chóng từ cây lương thực thành cây công nghiệp xuất khẩu và làm thức ăn gia súc
- Những công trình nghiên cứu về giống sắn và kỹ thuật thâm canh sắn trên thế giới và trong nước đã đạt được những tiến bộ kỹ thuật quan trọng như: chọn tạo được những giống sắn tốt năng suất cao, chất lượng tốt và thích nghi với điều kiện sinh thái, nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cây sắn và
kỹ thuật bón phân khoáng NPK kết hợp với phân hữu đạt hiệu quả kinh tế cao; nghiên cứu xác định mật độ trồng sắn thích hợp đối với các giống sắn mới cải thiện Những kết quả nghiên cứu này đã góp phần to lớn vào việc nâng cao năng suất, chất lượng sắn và tăng thêm thu nhập cho các hộ nông dân nghèo, góp phần bảo đảm an toàn lương thực quốc gia cũng như bảo vệ đất trồng sắn được lâu dài và bền vững
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Thực tiễn sản xuất sắn ở miền núi và trung du phía Bắc đang đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu ảnh hưởng một số biện pháp kỹ thuật thâm canh chủ yếu đến năng suất và chất lượng của giống sắn mới Do vậy, việc nghiên cứu
đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và phân bón đến sinh trưởng và năng suất giống sắn mới KM98-7 tại huyện Bảo Yên - tỉnh Lào Cai-năm 2010”
là có ý nghĩa quan trọng về khoa học và thực tiễn trong sản xuất sắn hiện nay
* Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho sắn ở Việt Nam
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của tác giả Công Doãn Sắt và Hoàng Văn Tám (2000) [21] cho thấy sắn được trồng chủ yếu trên các loại đất có độ phì thấp, quá trình canh tác không bón phân hoặc bón ít và chưa áp dụng đầy
đủ các biện pháp bảo vệ đất trồng sắn Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn so với các cây trồng khác, mặt khác sắn trồng với mật độ thưa, diện tích che phủ thấp đã làm tăng quá trình rửa trôi, xói mòn đất, dẫn đến sự cạn kiệt và mất cân đối nguồn dinh dưỡng của cây, do vậy cần phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật bón phân để duy trì sản xuất sắn bền vững
Các tác giả Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh (1998) [20] chỉ ra rằng: Hậu quả của tập quán sản xuất độc canh sắn nhiều năm đã làm cho đất mất sức sản xuất Sự thoái hoá đất dẫn đến độ chua của đất tăng, hàm lượng mùn trong đất giảm kéo theo độ phì cũng như lý, hoá tính của đất bị suy giảm
Các tác giả Trần Công Khanh, Nguyễn Văn Long (1998) [11], [12] cho thấy bón phân NPK cân đối cho sắn có hiệu lực rõ rệt so với không bón phân hoặc bón mất cân đối, đồng thời ở các công thức bón cho 1ha: 160kgN + 80kgP2O5 + 100kgK2O và 120kgN + 80kgP2O5 + 160kgK2O đem lại hiệu quả cao nhất trên đất nâu đỏ ở Bình Long
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thế Đặng, Thái Phiên và cộng sự (1994) [4] cho thấy bón phân khoáng hợp lý cho sắn có tác dụng tốt đến việc
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
cải thiện các đặc tính lý - hoá của đất cũng như nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế sản xuất sắn
Theo tác giả Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh (1998) [20] khi trồng sắn 3 năm liên tục trên cùng một diện tích đất ở miền Bắc Việt Nam thì năng suất sắn giảm xuống chỉ còn 10 tấn/ha nếu không bón phân, ngược lại năng suất sắn tăng lên đến 20 tấn/ha khi cung cấp đầy đủ N; P; K và đặc biệt khi bón K ở mức cao
Theo tác giả Lê Hồng Lịch, Võ Thị Kim Oanh (2000) [14] lượng phân khoáng bón cho đất trồng sắn tại Đắc Lắc (đất phiến thạch sét và đất bazan nâu đỏ) là 70kgN + 50kgP2O5 + 100kgK2O/ha năng suất sắn tăng và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
Trên đất đỏ và đất xám ở miền Đông Nam Bộ, sắn phản ứng mạnh với các mức bón phân N, P, K đặc biệt là đối với N, K Công thức bón phân N, P,
K thích hợp cho sắn đạt năng suất củ và hiệu quả kinh tế cao trên đất đỏ và đất xám ở Đông Nam Bộ là [80kgN + 40kgP2O5 + 80kgK2O]/ha và [160kgN + 80kgP2O5 + 160kgK2O]/ha với tỷ lệ bón kết hợp giữa N:P:K là 2:1:2 [13]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Hỷ và cộng sự 2000) [7], [8] trên đất đỏ và đất xám Đông Nam Bộ, công thức bón phân khoáng thích hợp cho sắn là [80kgN + 40kgP2O5 + 80kgK2O]/ha
(1998-Một số công trình nghiên cứu thực hiện tại miền Bắc Việt Nam trên đất
đỏ vàng của trường đại học Nông lâm Thái Nguyên và một số địa điểm khác trên ruộng của nông dân cho thấy rõ phản ứng của cây sắn với N và K [5] Trong các nguyên tố đa lượng thì K là yếu tố hạn chế năng suất sắn Thí nghiệm bón N, P, K hàng năm trên đất đỏ vàng của Đại học Nông lâm Thái Nguyên chỉ ra rằng nêu bón N, K mà thiếu P thì năng suất sắn vẫn cao nhưng khi bón N, P mà không bón K năng suất sắn giảm
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010) [3] Nhiều kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy bón phân hữu cơ làm giảm dung trọng đất, tăng độ xốp, điều hoà được chế độ nhiệt và ẩm độ trong đất, dung tích hấp thu của đất được cải thiện, nhờ đó mà khả năng trao đổi ion và khoáng chất của đất được tốt hơn Phân hữu cơ còn có tác dụng chuyển lân từ dạng khó tiêu thành dạng
dễ tiêu cho cây trồng
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Vật liệu nghiên cứu bao gồm 9 dòng, giống sắn trong đó có 7 giống
(XVP(đ/c), NTB1, KM98-7, K140, NTB3, NTB2, KM94) và 2 dòng (OMR35-8-32, GM155-17)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian từ tháng 4 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011
Địa điểm tại huyện Bảo Yên - tỉnh Lào Cai
2.3 Nội dung nghiên cứu
- So sánh sự sinh trưởng và năng suất của 9 dòng giống sắn tham gia nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất giống sắn KM98-7
- Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và năng suất giống sắn KM98-7
2.4 Phương pháp, quy trình, chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp và quy trình bố trí thí nghiệm
Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, với 3 lần nhắc lại Các biện pháp kỹ thuật áp dụng theo quy trình trồng sắn của Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
* Thí nghiệm 1: So sánh 9 dòng, giống sắn tại huyện Bảo Yên - tỉnh Lào Cai
năm 2010
- Thí nghiệm với 9 công thức, tương đương với 9 dòng giống sắn, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi ô là 30m2, tổng diện tích 27 ô x 30m2
= 610m2, không tính dải bảo vệ
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Trong đó:
+ Công thức 1: Xanh Vĩnh Phú (đối chứng) + Công thức 2: Giống NTB1
+ Công thức 3: Giống KM98-7 + Công thức 4: Dòng OMR 35-8-32 + Công thức 5: Giống KM140 + Công thức 6: Giống NTB3 + Công thức 7: Giống NTB2
+ Công thức 8: Dòng GM155-17 + Công thức 9: Giống KM94
- Sơ đồ thí nghiệm so sánh giống:
- Ngày trồng: tháng 4 năm 2010; Ngày thu hoạch: tháng 1 năm 2011
- Mật độ trồng sắn với khoảng cách: 1m x 1m = 10.000 cây/ha
- Lượng phân bón: 10 tấn phân hữu cơ + 60 kgN + 40kgP2O5 + 80kgK2O/ha
- Kỹ thuật bón phân cho thí nghiệm như sau:
+ Bón lót: toàn bộ phân chuồng + 100% P2O5 + 1/3N + 1/3K2O + Bón thúc lần 1: Sau trồng 45 ngày với lượng 1/3N + 1/3 K2O kết hợp với xới cỏ
+ Bón thúc lần 2: Sau trồng 120 ngày với lượng 1/3N + 1/3K2O kết hợp với làm cỏ và vun cao cho sắn