1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày – 60ngày)

48 402 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus guttatus (lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30 ngày – 60 ngày)
Tác giả Trần Thị Mai Hương
Người hướng dẫn PGS.TS Lại Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Nuôi trồng thuỷ sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN THỊ MAI HƯƠNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG ĐẬU TƯƠNG LÊN CHẤT LƯỢNG GỐNG CỦA CÁ LĂNG CHẤM HERMIBAGRUS GUTTATUS LACÉPÈDE, 180

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN THỊ MAI HƯƠNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG ĐẬU TƯƠNG LÊN CHẤT LƯỢNG GỐNG CỦA CÁ

LĂNG CHẤM HERMIBAGRUS GUTTATUS

(LACÉPÈDE, 1803) GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG LÊN

CÁ GIỐNG (30 NGÀY – 60 NGÀY)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS LẠI VĂN HÙNG

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI CAM ĐOAN 4

LỜI CẢM ƠN 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ 7

DANH MỤC CÁC HÌNH 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 9

1 MỞ ĐẦU 1

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Một số đặc điểm sinh học sinh sản cá Lăng chấm 3

2.1.1 Vị trí phân loại 3

2.1.2 Đặc điểm phân bố 4

2.1.3 Đặc điểm về sinh trưởng 4

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4

2.1.5 Đặc điểm sinh sản 5

2.2 Dinh dưỡng và thức ăn của cá Lăng chấm 5

2.2.1 Dinh dưỡng của cá giai đoạn nhỏ (cá bột, cá hương, cá giống) 5

2.2.2 Thức ăn của ấu trùng cá Lăng chấm 6

2.3 Tình hình nghiên cứu cá Lăng chấm 8

2.3.1 Tình hình nghiên cứu cá Lăng chấm tại Trung Quốc 8

2.3.2 Tình hình nghiên cứu cá Lăng chấm ở Việt Nam 9

3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 11

3.2 Phương pháp nghiên cứu 11

3.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 11

3.2.2 Thí nghiệm giai đoạn cá hương lên cá giống (30 ngày – 60 ngày) 12

3.2.3 Chế độ thay nước theo ngày tuổi 12

3.2.4 Các phương pháp thí nghiệm 13

Trang 3

3.2.4.3 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu 14

3.2.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: 15

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16

4.1 Một số yếu tố môi trường của hệ thống thí nghiệm 16

4.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỉ lệ sống 17

4.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến dị hình xương 21

5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 25

5.1 Kết luận 25

5.2 Đề xuất ý kiến 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

PHỤ LỤC 29

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Trang 5

LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lại Văn Hùng, TS Nguyễn Văn Tiến đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn toàn bộ cán bộ công nhân viên tại Phòng Sinh học thực nghiệm và Phòng Di truyền & Chọn giống đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, gia đình đã luôn bên cạnh động viên, ủng hộ hết mình cho tôi thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm 16

Bảng 2: Một số thành phần dinh dưỡng trong nguyên liệu 17

Bảng 3: Tăng trưởng chiều dài của cá sau 2 lần kiểm tra 18

Bảng 4: Tăng trưởng khối lượng cá sau khi kiểm tra 20

Bảng 5: Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) của 3 công thức TĂ 21

Bảng 6: Tỉ lệ sống trung bình của cá sau 2 lần kiểm tra 21

Bảng 7: Các loại dị hình xương xuất hiện ở các nhóm cá sử dụng thức ăn khác nhau 24

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 11Biểu đồ 1: Chế độ thay nước theo ngày nuôi 12Biểu đồ 2: Biểu đồ chiều dài trung bình của 3 nhóm sử dụng 3 công thức thức

ăn khác nhau qua 2 lần đo 19

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 : Cá Lăng chấm H.guttatus (Lacépède, 1803) 3

Hình 2 : Hình thái ngoài của Copepoda 7

Hình 3 : Hình thái ngoài của Moina 7

Hình 4: Một số dị hình xương cá (từ trên xuống, trái qua phải) 24

Hình 5: Bộ xương cá bình thường (không dị hình) 24

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TĂ: thức ăn

Trang 10

1 MỞ ĐẦU

Cá Lăng chấm (Hermibagrus guttatus Lacépède,1803) là loài cá hoang

dã có giá trị kinh tế cao phân bố chủ yếu ở hệ thống sông Hồng (Bộ Thuỷ sản, 1966) Do khai thác quá mức và bằng các phương tiện hủy diệt nên sản lượng

cá Lăng đã giảm sút nghiêm trọng (Phạm Báu và ctv, 2000,) Năm 2008 cá Lăng đã được xếp ở mức nguy cấp bậc 2 trong Sách Đỏ Việt Nam, cần có những biện pháp bảo vệ (Bộ Thuỷ sản, 2008, Sách đỏ Việt Nam) Việc nghiên cứu sản xuất nhân tạo giống cá Lăng chấm có ý nghĩa quan trọng, không những giúp chủ động về con giống trong sản xuất mà còn giảm áp lực khai thác ngoài tự nhiên; là một trong những biện pháp hiệu quả giúp bảo vệ đối tượng có giá trị kinh tế cao này

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1 đã cho sinh sản nhân tạo thành công cá Lăng chấm trong điều kiện nuôi Trong thời gian từ đầu năm 2002 tới năm 2004, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đã tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm trong điều kiện nuôi” và

đã thu được những kết quả khả quan Viện đã sản xuất được 7800 cá bột,

5000 cá giống (năm 2003), 20 vạn cá bột, trên 12 vạn cá hương và cá giống cá Lăng chấm (năm 2004) Các chỉ tiêu kĩ thuật về sản xuất giống như tỷ lệ cá

đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lế sống khi ương nuôi cá bột, cá hương và cá giống đạt tương đối cao (Nguyễn Đức Tuân và ctv, 2005) Tuy số lượng cá giống sản xuất ra ngày càng tăng, nhưng hiện chỉ đáp ứng được một số ít nhu cầu cá giống cho nghề nuôi cá Lăng Viện đã và đang chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá Lăng chấm cho 2 tỉnh là Nam Định và Hà Tây, trong thời gian tới sẽ chuyển giao tiếp cho các tỉnh Nghệ An, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình (Nguyễn Dương Dũng, Nguyễn Đức Tuân và ctv, 2001) Trong điều kiện ương nuôi nhân tạo, tỷ lệ dị hình của cá Lăng khá cao với những biểu hiện như vẹo thân, cong lưng, dị hình xương đầu Để nâng cao chất lượng cá giống, ngoài việc lựa chọn cá bố mẹ có chất lượng cao, việc cải

Trang 11

thiện chất lượng thức ăn ở giai đoạn phát triển sớm của cá có vai trò quan trọng trong việc cải thiện tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ dị hình ở cá Lăng giống

Từ những vấn đề trên mà tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của

hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá Lăng chấm Hermibagrus

guttatus (Lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –

60ngày)”

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá được tác động của thức ăn lên, tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và chất lượng giống cá Lăng chấm nhằm nâng cao chất lượng giống cá Lăng trong điều kiện sản xuất giống nhân tạo, góp phần giảm áp lực vào việc khai thác nguồn lợi cá Lăng trong tự nhiên

Trang 12

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Một số đặc điểm sinh học sinh sản cá Lăng chấm

Hình 1 : Cá Lăng chấm H.guttatus (Lacépède, 1803)

Tên thường gọi :

Tên tiếng phổ thông là : Cá Lăng chấm (lúc lớn), cá Quất (lúc nhỏ) Tên tiếng Tày là : Pia Cốt

Tên tiếng Thái là : Pa Chưng

Trang 13

2.1.2 Đặc điểm phân bố

Cá Lăng chấm là loài cá nước ngọt chủ yếu phân bố ở các sông thuộc miền núi, cá Lăng chấm có mặt ở một số nước Châu Á như : Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia (Chu xin lua, 1990, Robert Tyson, 1995,

Mai Đình Yên, 1978) Họ Cá Lăng Bagridae ở Việt Nam có 7 giống gồm 18 loài trong đó giống Hemibaggrus có 3 loài (Nguyễn Văn Hảo, 1993 ; Mai Đình Yên, 1978 ; Mai Đình Yên, 1983) Trong các loài thuộc họ Bagridae thì

cá Lăng chấm H.guttatus là loài có kích thước lớn nhất, phân bố rộng rãi ở

thượng lưu và trung lưu các sông suối lớn ở miền Bắc nước ta Cũng thuộc họ này có cá Lăng nam Mystus nemurus (Cuvier&Valencieness) phân bố chủ yếu ở miền Nam, là loài có giá trị kinh tế cao, kích thước lớn, có thể đạt tới

80cm (Ngô Văn Ngọc, 2002)

2.1.3 Đặc điểm về sinh trưởng

Cá Lăng chấm thuộc loài cá sinh trưởng tương đối nhanh Trong bốn năm đầu, cá tăng nhanh về chiều dài, ở 4 năm đầu cá đạt 13-17cm/năm, sau

đó giảm dần, ở tuổi 9+ - 12+ còn 4-7cm/năm Cá tăng chậm về khối lượng trong những năm đầu : năm 1 tuổi 30-60g/năm, 2 tuổi 190-240g/năm Tăng nhanh từ năm thứ 4 đạt 1000-1400g/năm, những năm cuối giảm (Phạm Báu

và ctv,2000)

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá trong đó có cá Lăng chấm Cá Lăng chấm là loài cá dữ điển hình, tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân = 89,35% Thức ăn chủ yếu của cá Lăng chấm là cá, tôm, cua, giun chiếm 28-60% về thành phần, 15,8-36,0% về khối lượng

Trang 14

2.1.5 Đặc điểm sinh sản

Cá đực thành thục ở tuổi 4+, cỡ cá nhỏ nhất có chiều dài 72cm, trọng lượng 2,7kg Cá cái thành thục ở tuổi 3+, cỡ cá nhỏ nhất có chiều dài 61cm, trọng lượng 1,6kg Tuy nhiên, chỉ có 25% cá cái và 20% cá đực thành thục ở

cỡ tuổi 3+ và 4+ Sức sinh sản cá Lăng chấm thấp, hệ số thành thục trung bình 7,48 ; sức sinh sản tuyệt đối của cá tuổi 3+ - 11+ đạt 6342 – 54575 trứng/cá thể, sức sinh sản tương đối trung bình đạt 3750 trứng/kg (Phạm Báu và ctv,2000,)

Cá Lăng chấm đẻ theo từng con lũ, nhiệt độ nước 26 – 280C Cá đẻ trong các hang, hốc đá ở ven sông, suối Theo nghiên cứu về cá lăng của Phạm Báu tại sông Hồng cho thấy do các con lũ ở các nhánh sông suối trên hệ thống sông Hồng rất khác nhau, nên các đợt đẻ trứng của cá Lăng cũng khác nhau, nhưng nhìn chung hầu hết cá lớn đẻ vào tháng 6, cá nhỏ đẻ muộn hơn vào tháng 7, 8 hàng năm

Trứng cá Lăng thành thục có đường kính 3 – 3,5cm, tròn, căng, rời, màu vàng mỡ gà Trứng cá mới đẻ hơi dính, có xoang bao trứng nhỏ, noãn hoàng lớn Trứng nở sau thụ tinh từ 60 – 64giờ ở nhiệt độ 27 – 290C

Cá Lăng chấm bột khi mới nở có khối noãn hoàng lớn hình cầu, chiếm hầu hết khối lượng thân, màu vàng mỡ gà, chiều dài cá bột 7mm, đường kính noãn hoàng 3mm Cá bột sau khi nở 34giờ chỉ có khả năng di động theo chiều ngang, sau 96giờ cá có màu đen, sau 120giờ bơi được trong tầng nước, sau 10 ngày tiêu hết noãn hoàng ở nhiệt độ 27 – 290C (Phạm Báu và ctv,2000,) Lúc này cá bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài

2.2 Dinh dưỡng và thức ăn của cá Lăng chấm

2.2.1 Dinh dưỡng của cá giai đoạn nhỏ (cá bột, cá hương, cá giống)

Cá Lăng chấm là loài cá dữ điển hình, tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân = 89,35% Thức ăn chủ yếu của cá Lăng chấm là cá, tôm, cua, giun

Trang 15

chiếm 28-60% về tần số gặp, 15,8-36,0% về khối lượng Độ mỡ của cá Lăng chấm ở hồ Hòa Bình khá cao đạt 1,90 – 3,69 Độ mỡ của cá sông Lô thấp hơn đạt 1,42 – 1,93 Độ mỡ giảm dần từ tháng 4, thấp nhất vào tháng 7, 8, sau đó tăng dần Độ béo Fulton của cá hồ Hòa Bình cũng cao hơn cá sông Lô-Gâm, tương ứng 0,76 – 1,24/0,56 – 1,15 Sự biến động của độ béo Fulton theo lứa tuổi giảm nhất ở lứa tuổi 4 – 9tuổi, điều này có thể liên quan tới mùa vụ sinh sản, tuổi sinh sản của cá (Phạm Báu và ctv,2000,)

Giai đoạn từ cá bột lên cá hương cá Lăng chấm chỉ ăn thức ăn sống và

có hàm lượng Protein cao từ 28% - 55% Giai đoạn cá hương lên cá giống có thể luyện cho cá ăn cám tự chế với hàm lượng Protein từ 30% - 40% (Lubzen, 1989)

2.2.2 Thức ăn của ấu trùng cá Lăng chấm

Những điều kiện để ấu trùng có thể bắt được mồi bao gồm sự sẵn có của các loại thức ăn có trong môi trường, mật độ thức ăn, kích cỡ, hình dạng, mùi vị (tính hấp dẫn), chất lượng và thành phần dinh dưỡng, dễ tiêu hóa, ổn định và khả năng vận động của cá Khi nuôi ấu trùng cần tiếp cận để sớm biết

sự chuyển hóa giai đoạn của ấu trùng để cung cấp thức ăn cho phù hợp Chuẩn bị kết thúc giai đoạn dinh dưỡng trong, cá đã có thể bắt mồi để có hình thức dinh dưỡng kết hợp sau đó mới chuyển hẳn sang dinh dưỡng ngoài Năng suất của ấu trùng cá phụ thuộc vào việc sử dụng thức ăn sống (động vật phù du, luân trùng) được cung cấp trong những ngày đầu sau khi nở (Hold,

1993 ; Person Le Ruyet và ctv, 1993)

Các loại thức ăn của ấu trùng cá như sau :

Trang 16

 Copepoda

Hình 2 : Hình thái ngoài của Copepoda Copepoda ở biển cũng là thức ăn rất tốt cho ấu trùng cá Lăng chấm, chúng chứa hàm lượng rất DHA và PUFA rất cao (Rietan và ctv, 1994) Tuy nhiên cá Lăng chấm được nuôi ở vùng nước ngọt không sẵn có Copepoda nên

ta có thể sử dụng Copepoda đã được cấp đông, cho ấu trùng cá ăn dần Hiện nay, Copepoda đã và đang được sử dụng như 1 loại thức ăn giàu dinh dưỡng Copepoda có nhiều kích cỡ khác nhau 289-447m hoặc 540m hoặc 841 -

947m (Svennevig, 2003)

 Động vật phù du nước ngọt(Dapnia và Moina - Rận nước và bobo)

Hình 3 : Hình thái ngoài của Moina Dapnia và Moina là các loài giáp xác nhỏ ở nước ngọt Moina có nhiều kích thước phù hợp với từng giai đoạn của cá bột Moina mới nở có

Trang 17

kích thước 400m, chỉ bằng một nửa Dapnia, xấp xỉ bằng ấu trùng bánh xe và nhỏ hơn ấu trùng Artemia Moina trưởng thành có kích thước 700 - 1000m

lớn gấp đôi ấu trùng Artemia

Giá trị dinh dưỡng của Moina phụ thuộc vào lứa tuổi và loại thức ăn

mà chúng được nuôi dưỡng dù vậy lượng Protein vẫn chiếm 50% khối lượng chất khô, hàm lượng chất béo trong Moina trưởng thành 20 - 27% khối lượng chất khô và trong con non là 4 – 6% khối lượng chất khô (R.W Rottmann, J Scott Graves, Craig Watson và Roy P.E Yanong)

Trong giai đoạn lớn hơn từ 30-60 ngày trở đi cá Lăng được luyện để

sử dụng cám tự chế cho phù hợp khi ương nuôi đại trà Công thức thức ăn thông thường khi ương nuôi cá hương lên cá giống là sử dụng 50% bột cá và 50% cá mè đã lọc bỏ da và xương có bổ sung thêm vitamin C Trong thí nghiệm của mình tôi đã sử dụng đậu tương nấu chín để thay thế một phần bột

cá Đậu tương là nguyên liệu được sử dụng nhiều trong nuôi trồng thủy sản, nguồn nguyên liệu này dồi dào, sẵn có trong nước, và giá thành ít rẻ hơn so với bột cá Theo Wee và Shu nghiên cứu năm 1989 khi ương nuôi cá rô phi bằng 58% đậu tương nấu chín cho tốc độ tăng trưởng và chuyển hóa thức ăn tốt (Wee, Shu, 1989) Nghiên cứu năm 1987 của Shiau và các cộng sự khi nuôi cá rô phi bằng cách thay thế bột cá bằng 24% đậu tương không cần bổ sung methionine cũng cho kết quả tăng trưởng tốt (Shiau, 1987) Từ các lý do trên mà tôi chọn đậu tương làm nguyên liệu thay thế

2.3 Tình hình nghiên cứu cá Lăng chấm

2.3.1 Tình hình nghiên cứu cá Lăng chấm tại Trung Quốc

Trên thế giới cá Lăng chấm phân bố ở sông Tây Dương, sông Nguyên (Vân Nam – Trung Quốc) Từ năm 1997 đến năm 2000, Trại cá giống đặc sản Long Phát ở Thuận Đức tỉnh Quảng Đông đã cho đẻ nhân tạo thành công cá

Trang 18

ngọt của Trung Quốc số 2 năm 2001 Theo báo cáo của tác giả Hứa Chấn Bình, việc nuôi vỗ thành thục cá Lăng chấm đóng vai trò rất quan trọng trong

kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo Thuốc dùng cho tiêm cá bố mẹ đẻ là LRHa+Dom với liều lượng rất thấp Thụ tinh nhân tạo cho trứng bằng phương pháp thụ tinh khô

Có thể ương cá bột bằng động vật Râu ngành (Cladocera) hoặc ấu trùng Artemia, luân trùng, trùn chỉ, thức ăn cá Chình (Hứa Chấn Bình, 2001,)

Tác giả Dương Gia Kiên thuộc Viện nghiên cứu Thuỷ sản tỉnh Quảng Tây đã công bố tài liệu về kết quả thí nghiệm ương cá bột cá Lăng chấm tại các mật độ và bằng các loại thức ăn khác nhau trong năm 2002 Theo tài liệu này, tỷ lệ sống qua các đợt ương đạt trung bình 60,2%, đợt có tỷ lệ cao nhất đạt 88,6% Mật độ ương cá từ cỡ 1,2 – 1,5cm thành cỡ 3 – 5cm theo khuyến cáo của tác giả nên từ 123 – 216 con/cm2, tốt nhất 178 con/cm2 Tác giả cũng ương nuôi cá bột bằng các loại thức ăn khác nhau như Artemia, trùn chỉ, thức

ăn cá Chình, lòng đỏ trứng gà, thịt cá xay Kết quả cho thấy dùng Artemia để ương cá trước 10 ngày tuổi sau đó cho cá ăn trùng chỉ đến ngày tuổi 25 cho kết quả tốt nhất (Hứa Chấn Bình, 2001,)

2.3.2 Tình hình nghiên cứu cá Lăng chấm ở Việt Nam

Ở nước ta, cá Lăng chấm đã được các tác giả Nguyễn Văn Hảo (1993), Mai Đình Yên (1983) nghiên cứu về hình thái, phân loại, phân bố Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy cá Lăng chấm thuộc bộ cá Nheo

Siluriformes, họ cá Lăng Bagridae, giống Hemibagrus và loài H.guttatus

(Lacépède,1803), cá Lăng chấm còn có các tên giống loài khác như Mystus

elongatus (Gunther,1865), Macrones elongatus, Mystus guttatus Tên thường

gọi theo tên địa phương vùng có phân bố của cá Lăng là cá Lăng (lúc lớn) và

cá Quất (lúc nhỏ) Ngoài ra còn có tác giả Phạm Báu cũng có đề tài: “Điều tra nghiên cứu hiện trạng và biện pháp bảo vệ, phục hồi một số loài cá hoang dã quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trên hệ thống sông Hồng: Cá Anh vũ

Semilabeo notabilis (Peters, 1880), cá Bỗng Spinibarbus denticulatus

Trang 19

(Oshima, 1926), cá Lăng Hemibagrus guttatus (Lacépède,1803), cá Chiên

Bagarius yarrelli (Sykes, 1841)”, thực hiện từ năm 1997 đến năm 1999

Trong 2 năm 1997 và 1998, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I đã tiến hành một số thử nghiệm sinh sản nhân tạo đối với cá Lăng chấm bố mẹ thành thục trong điều kiện tự nhiên tại sông Lô, Gâm thuộc địa bàn tỉnh Tuyên Quang và tại lòng hồ thuỷ điện Hoà Bình thuộc địa bàn tỉnh Hoà Bình Các thử nghiệm này đã thu được kết quả tỷ lệ rụng trứng khá cao, tuy nhiên tỷ

lệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất thấp thậm chí trứng ấp không nở Tổng số cá bột thu được của các đợt thí nghiệm là 30con Đến năm 2002 -2004, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất

giống cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus Lacépède,1803) trong điều kiện

nuôi vỗ” và đã thu được những kết quả khả quan Tỷ lệ cá bố mẹ thành thục

và tỷ lệ cá đẻ đạt trên 90%, tỷ lệ thụ tinh trung bình đạt 76%, tỷ lệ nở trung bình là 58%

Đề tài đã bố trí các thí nghiệm ương nuôi cá bột, cá hương và cá giống, tìm ra mật độ nuôi, loại thức ăn phù hợp Đề tài đã thu được 7800 cá bột,

5000 cá giống (năm 2003) và 194000 cá bột, trên 12 vạn cá hương và cá giống (năm 2004) Tỷ lệ sống khi ương cá bột thành cá hương và ương từ cá hương lên cá giống đạt trên 80% Đề tài cũng đã thử nghiệm nuôi cá thương phẩm bằng các loại thức ăn tươi sống, thức ăn chế biến có hàm lượng đạm thô dao động 35 – 40 – 45% Kết quả nuôi thương phẩm cho thấy tốc độ tăng trưởng của cá tăng dần khi cho thức ăn có hàm lượng đạm tăng lên và cao nhất khi cho ăn thức ăn tươi sống Đề tài xây dựng được quy trình sản xuất cá Lăng chấm và đã được hội đồng khoa học công nghệ cấp Bộ thông qua Qua các nghiên cứu về cá Lăng đã được triển khai bước đầu thành công trong việc cho sinh sản nhân tạo cá Lăng, giảm lệ thuộc phần nào vào nguồn giống tự nhiên Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số vấn đề tồn đọng như

Trang 20

3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus

Lacépède,1803)

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4 - 12 năm 2010

- Địa điểm nghiên cứu: Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I - Từ Sơn - Bắc Ninh

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

K

Sơ đồ 1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Bể thí nghiệm: được tiến hành trên 9 bể

- Bể kính trong nhà có mái che, mỗi bể có thể tích 60lít nước

Nghiên cứu ảnh hưởng của nguyên liệu thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ

sống và dị hình xương cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus

Thu mẫu và phân tích

Xác định tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống và tỉ lệ dị hình xương

Trang 21

- 9 bể được chia thành 3 khối, mỗi khối 3 bể là nghiệm thức của một

loại thức ăn

3.2.2 Thí nghiệm giai đoạn cá hương lên cá giống (30 ngày – 60 ngày)

- Thức ăn cho cá Lăng giai đoạn cá 30 ngày tuổi lên cá 60 ngày tuổi:

thức ăn dạng viên ẩm

Cả 3 công thức thức ăn phải đảm bảo hàm lượng các chất như sau: độ

ẩm  40%, vật chất khô  60% (Pr  38%, năng lượng trao đổi  2.2kcal/g, )

+ TĂ 1: 50% bột cá 60%Pr + 49% cá mè băm nhỏ + 1% khoáng và

vitamin C

+ TĂ 2: 10%bột đậu tương + 40% bột cá 60%Pr + 49%cá mè băm nhỏ

+ 1%khoáng và vitamin C - hấp chín rồi ép viên

+ TĂ 3: 4%bột đậu tương + 46%bột cá 60%Pr + 49%cá mè băm nhỏ +

1%khoáng và vitamin C

- Mật độ ương nuôi: 2con/l

- Chế độ chăm sóc và thay nước:

Các bể đều được che lưới đen tránh ánh nắng mặt trời

Cho ăn ngày 3 lần vào 8h, 15h và 21h Khi cho ăn chú ý cho ăn từ từ

trong vòng 1 tiếng đến khi cá không ăn nữa thì thôi, cho ăn 3-5% trọng lượng

thân, tùy giai đoạn Vào ban đêm cá thường ăn nhiều hơn ban ngày

Thay nước sau khi cho ăn 1-2h thay 70 – 80% lượng nước

3.2.3 Chế độ thay nước theo ngày tuổi

Trang 22

- Phương pháp chế biến và bảo quản thức ăn

- Phương pháp thu mẫu

- Phương pháp bảo quản và nhuộm xương

- Phương pháp đánh giá tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống

3.2.4 Các phương pháp thí nghiệm

3.2.4.1 Phương pháp chế biến và bảo quản thức ăn

- Nghiền: Đậu tương nghiền mịn

Cá mè lọc thịt bỏ xương, bỏ da xay nhuyễn

- Cân: Cân từng loại nguyên liệu theo tỷ lệ

- Phối trộn: Các nguyên liệu phối trộn theo đúng tỷ lệ thí nghiệm

- Hấp: Vì cá thí nghiệm ít, mỗi lần sử dụng thức ăn không nhiều nên đưa vào nồi cơm điện để hấp cách thủy Buộc kín thức ăn để không thấm nước trong quá trình hấp

- Ép viên: Cá nhỏ nên không ép viên mà đưa qua rây nhỏ (d=0,2mm)

- Bảo quản: Mỗi lần chế biến đủ sử dụng cho 2 ngày sau đó lại làm tiếp

mẻ mới Cám sau khi chế biến cho vào ngăn mát tủ lạnh để bảo quản

3.2.4.2 Phương pháp bảo quản và nhuộm xương (theo Matsuoka, 1987)

B1: Lọc bỏ vẩy cá (cá thí nghiệm nhỏ nên không cần loại bỏ vẩy)

B2: Cố định mẫu vật trong dung dịch formalin 10 – 15% (trong 3ngày)

2-B3: Bảo quản trong cồn 70 – 90% cho đến khi mang đi phân tích

B4: Khi phân tích phải loại nước: Chuyển mẫu vật sang dung dịch cồn 50% (1ngày) rồi chuyển sang cồn 99% (1ngày) Sau khi loại nước tiến hành nhuộm sụn bằng alcian blue (chuẩn bị dung dịch alcian blue bằng cách hoà tan 20mg alcian blue 8GN trong 70ml cồn 95% và 30ml acid glacial acetic

Trang 23

trong 4 giờ) Thường xuyên kiểm tra sự bắt màu bằng kính hiển vi Kết thúc qúa trình nhuộm khi phần cơ dày nhất bắt màu xanh (Alcian blue nhuộm màu cho sụn, cá thí nghiệm là cá nhỏ nên không cần bước này)

B5: Sau khi nhuộm chuyển sang trung hoà alcian blue bằng cách chuyển sang dung dịch Borats bão hoà trong 12h

B6: Tiếp theo tẩy màu bằng dung dịch gồm 15ml Oxy già 3% (H2O2)

và 85ml KOH 1% với thời gian 1 – 1,5h ở nhiệt độ 370C

B7: Làm trong mẫu vật bằng dung dịch gồm 30ml dung dịch Borats bão hoà + 70ml nước cất + 1g Tripsine ở nhiệt độ 370C trong 24h

B8: Sau khi làm trong chuyển sang nhuộm xương bằng dung dịch Alizaril (5ml glacial acetic + 10ml glycerine + 60ml chloral hydrate CCl3CHO.H2O) Trong khi làm ấm dung dịch trên cho Alizaril đỏ vào đến khi dung dịch có màu trà Cho dung dịch mẹ này vào dung dịch KOH 5% đến khi dung dịch KOH chuyển màu đỏ tươi (quá trình này diễn ra trong 1h)

B9: Làm sạch mẫu bằng cách chuyển mẫu lần lượt qua dung dịch glycerine : KOH với 3 tỉ lệ 3:1, 1:1, 1:3 đến khi mẫu trong suốt có thể quan sát dễ thì chuyển sang bảo quản trong glycerine nguyên chất

3.2.4.3 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu

- Các yếu tố môi trường: Đo các yếu tố môi trường T0, pH 2 lần/ngày vào lúc 7h, 14h

- Các chỉ tiêu tăng trưởng:

Đo chiều dài tiêu chuẩn (cm) và cân khối lượng (g) của ấu trùng cá, định kì 14ngày/lần với số lượng mẫu 30con/bể

+ Tốc độ tăng trưởng % theo chiều dài:

Trang 24

L(%): tốc độ tăng trưởng % theo chiều dài

+ Tốc độ tăng trưởng % theo khối lượng:

100 Wtd2

Wtd1 - Wtd2

S2: Số ấu trùng khi kiểm tra

S1: Số ấu trùng ban đầu

3.2.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:

Số liệu được xử lý trên phần mềm Exel Các thống kê được sử dụng với mức độ tin cậy 95%

Ngày đăng: 16/08/2014, 01:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyến Đức Tuân, Khương Văn Thưởng, Lê Thiên Lý, Ngô Ngọc Ninh (2005), Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm Hemibagrus guttatus (Lacépède, 1803) trong điều kiện nuôi, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm Hemibagrus guttatus (Lacépède, 1803) trong điều kiện nuôi
Tác giả: Nguyễn Đức Tuân, Khương Văn Thưởng, Lê Thiên Lý, Ngô Ngọc Ninh
Nhà XB: Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1
Năm: 2005
11. Mai Đình Yên, 1978. Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam. NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội
12. Mai Đình Yên, 1983. Các loài cá kinh tế miền Bắc Việt Nam. NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội.Nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài cá kinh tế miền Bắc Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội. Nước ngoài
11. R.W. Rottmann, J. Scott Graves, Craig Watson và Roy P.E. Yanong-nguồn http://edis.ifas.ufl.edu/FA024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CIR1054/FA024: Culture Techniques of Moina : The Ideal Daphnia for Feeding Freshwater Fish Fry
Tác giả: R.W. Rottmann, J. Scott Graves, Craig Watson, Roy P.E. Yanong
12. Shiau. S.Y.,Chuang J.L., and Sun, C.L.,1987. Inclusion of Soybean Meal in Tilapia O.niloticus x O.aureous diet at two Protein Levels.Aquaculture, 65: 251-261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: O.niloticus x O.aureous
13. Schmittou H. R., Cremer M.C và Zhang Jian, 1998. Những nguyên lý và ứng dụng nuôi cá với mật độ cao trong bè nhỏ. Bản dịch của Trần Trọng Chiển. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý và ứng dụng nuôi cá với mật độ cao trong bè nhỏ
Tác giả: Schmittou H. R., Cremer M.C, Zhang Jian
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2000
1. Boyd C.E. (1990), Water Quality in Ponds for Aquaculture (first printing), Birmingham Publíhing Co.Birmingham, Alabama Khác
2. Cahu, C.Zambonino Infante, J.Takeuchi, 2003. Nutritional component affecting skeletal development in fish larvae. Aquaculture 227.245 – 258 Khác
3. Chu Xin Lua, 1990 (Cá Vân Nam Trung Quốc), Robert Tyson, 1995 (Giống cá Mystus ở Thái Lan và Campuchia) Khác
4. Divanach, P.Boglione, C.Menu, M.Koumoundouros, G.Kentouri, M.Cataudella, 1996. Abnormalities in finfish mariculture. European Aquaculture Society, Verona, Italy, pp. 45-66. October 16-18 Khác
5. Dương Gia Kiên, 2000. Những vấn đề chủ yếu trong kỹ thuật nuôi cá Lăng chấm. Bản dịch của Thái Bá Hồ, Khoa học nuôi cá Trung Quốc Khác
6. Hứa Chấn Bình, 2001. Báo cáo tổng kết sinh sản nhân tạo cá Lăng tại Trung Quốc. Tạp chí nghề cá nước ngọt của Trung Quốc số 2 năm 2001.Bản dịch của Thái Bá Hồ Khác
7. Lall, S.P.., Lewis-McCrea, L.M.., 2007. Role of nutrients in skeletal metabolism and pathology in fish – an overview. Aquaculture 267, 3-19 Khác
9. Matsuoka, M..1987. Development of skeletal tissues and skeletal muscles in the red sea bream. Bull. Seikai Reg. Fish. Res. Lab. 65, 1-114 Khác
14. Wee, K.L and Shu, S.W., 1989. The Nutritive Value of Boiled Full- fat Soybean in Pelleted Feed for Nile Tilapia. Aquaculture, 81:303-314 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Cá Lăng chấm H.guttatus (Lacépède, 1803)  Tên thường gọi : - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Hình 1 Cá Lăng chấm H.guttatus (Lacépède, 1803) Tên thường gọi : (Trang 12)
Hình 2 : Hình thái ngoài của Copepoda - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Hình 2 Hình thái ngoài của Copepoda (Trang 16)
Hình 3 : Hình thái ngoài của Moina  Dapnia  và  Moina  là  các  loài  giáp  xác  nhỏ  ở  nước  ngọt - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Hình 3 Hình thái ngoài của Moina Dapnia và Moina là các loài giáp xác nhỏ ở nước ngọt (Trang 16)
3.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
3.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 20)
Bảng 1: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Bảng 1 Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm (Trang 25)
Bảng 3: Tăng trưởng chiều dài của cá sau 2 lần kiểm tra - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Bảng 3 Tăng trưởng chiều dài của cá sau 2 lần kiểm tra (Trang 27)
Bảng 4: Tăng trưởng khối lượng cá sau khi kiểm tra  Loại thức - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Bảng 4 Tăng trưởng khối lượng cá sau khi kiểm tra Loại thức (Trang 29)
Bảng 5: Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) của 3 công thức TĂ - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Bảng 5 Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) của 3 công thức TĂ (Trang 30)
Hình 4: Một số dị hình xương cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Hình 4 Một số dị hình xương cá (Trang 33)
Hình 5: Bộ xương cá bình thường (không dị hình) - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Hình 5 Bộ xương cá bình thường (không dị hình) (Trang 33)
Bảng 1: Chiều dài cá qua các lần đo khi sử dụng 3 loại thức ăn khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của  hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus  guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –  60ngày)
Bảng 1 Chiều dài cá qua các lần đo khi sử dụng 3 loại thức ăn khác nhau (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w