1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852) GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH

72 712 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Ảnh Hưởng Của Các Loại Thức Ăn Khác Nhau Và Số Lần Cho Ăn Lên Sinh Trưởng Và Tỷ Lệ Sống Của Cá Bống Tượng (Oxyeleotris Marmorata, Bleeker 1852) Giai Đoạn Cá Bột Và Cá Hương Tại Bình Định
Tác giả Trần Văn Phúc
Người hướng dẫn PGS.TS. Lại Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN VĂN PHÚC NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU VÀ SỐ LẦN CHO ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ BỐNG TƯỢNG Oxyeleotris marmorata, Blee

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN VĂN PHÚC

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU

VÀ SỐ LẦN CHO ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA

CÁ BỐNG TƯỢNG (Oxyeleotris marmorata, Bleeker 1852)

GIAI ĐOẠN CÁ BỘT VÀ CÁ HƯƠNG TẠI BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang, 01/2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN VĂN PHÚC

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU

VÀ SỐ LẦN CHO ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA

CÁ BỐNG TƯỢNG (Oxyeleotris marmorata, Bleeker 1852)

GIAI ĐOẠN CÁ BỘT VÀ CÁ HƯƠNG TẠI BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

Mã số: 60 62 70

Người hướng dẫn khoa học:

Nha Trang, 01/ 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố

TRẦN VĂN PHÚC

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin gửi đến Ban Giám Hiệu nhà trường, khoa Nuôi trồng Thuỷ sản - Trường đại học Nha Trang sự kính trọng và lòng tự hào đã được học tập và nghiên cứu tại trường trong những năm qua

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến thầy PGS-TS Lại Văn Hùng đã dìu dắt, động viên, giúp đỡ và những lời khu yên quí báu trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quí thầy cô đã giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quí báu cho tôi trong suốt thời gian học tập ở lớp cao học Nuôi trồng thuỷ sản khoá 2007-2010

Xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Định, Trung tâm giống thủy sản Bình Định đã quan tâm tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian tham gia khoá học và hoàn thành cuốn luận văn

Xin cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành cuốn luận văn

Cuối cùng, là lời cảm ơn đến gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập cũng như nghiên cứu thực hiện đề tài

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Phân loại, phân bố và môi trường sống của cá bống tượng 4

1.1.1 Phân loại 4

1.1.2 Phân bố 4

1.1.3 Môi trường sống 5

1.2 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng của cá bống tượng 5

1.2.1 Sinh trưởng 5

1.2.2 Dinh dưỡng 9

1.2.2.1 Tính ăn 9

1.2.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng 11

1.2.3 Lượng thức ăn và tần suất cho ăn 17

1.3 Đặc điểm sinh sản của cá bống tượng 18

1.3.1 Tuổi và kích thước thành thục 18

1.3.2 Mùa vụ và tập tính sinh sản 18

1.3.3 Sinh thái sinh sản 19

1.3.4 Sức sinh sản 19

1.4 Tình hình nuôi cá Bống tượng trên Thế giới và tại Việt nam 19

1.4.1Trên thế giới 19

1.4.1.1 Sản xuất giống 19

1.4.1.2 Nuôi thương phẩm 20

1.4.2 Tại Việt nam 21

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23

Trang 6

2.2.1 Hệ thống thí nghiệm 23

2.2.2 Nguồn nước thí nghiệm 23

2.2.3 Cá bố trí thí nghiệm 23

2.2.3.1 Thí nghiệm 1 24

2.2.3.2 Thí nghiệm 2 25

2.2.4 Chăm sóc, quản lý 26

2.3 Phương pháp thu và xử lý số liệu 28

2.3.1 Các thông số môi trường trong hệ thống nuôi 28

2.3.2 Thu mẫu và phân tích mẫu cá bột, cá hương 28

2.3.3 Phương pháp phân tích thành phần sinh hóa trong thức ăn 30

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của các các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá bột 31

3.1.1 Một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm 31

3.1.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm ương nuôi cá Bống tượng giai đoạn cá bột 34

3.1.3 Ảnh hưởng của các các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá bột 37

3.1.3.1 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá bột ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 37

3.1.3.2 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá bột ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 40

3.2 Ảnh hưởng của các các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá hương 41

3.2.1 Một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm 41

3.2.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn ương nuôi cá Bống tượng giai đoạn cá hương 45 3.2.3 Ảnh hưởng của các các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid

Trang 7

béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ

sống của cá Bống tượng giai đoạn cá hương 48 3.2.3.1 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai

đoạn cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 48 3.2.3.2 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai

đoạn cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 52

Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN

KẾT LUẬN .55

ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Biến động của một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm 31 Bảng 3.2 Thành phần sinh hoá của thức ăn thí nghiệm ương nuôi cá bột 34 Bảng 3.3 Thành phần và hàm lượng acid béo (% trong tổng acid béo)

của thức ăn thí nghiệm ương cá bột 35 Bảng 3.4 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá

bột ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 37 Bảng 3.5 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá

bột ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 40 Bảng 3.6 Biến động của một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí

nghiệm ương nuôi cá Bống tượng giai đoạn cá hương 42 Bảng 3.7 Thành phần sinh hoá của thức ăn thí nghiệm ương nuôi cá Bống tượng giai đoạn cá hương tính theo khối lượng khô 45 Bảng 3.8 Thành phần và hàm lượng acid béo (% trong tổng acid béo) của mẫu thức ăn thí nghiệm ương nuôi cá Bống tượng giai đoạn cá hương 46 Bảng 3.9 Sinh trưởng của cá Bống tượng giai đoạn cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 48 Bảng 3.10 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá

hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 52

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Tên hình Trang

Hình 1.1 Cá Bống tượng Oxyeleotris marmorata 4

Hình 1.2 Sự tăng chiều dài cá bột Bống tượng sau khi nở 7

Hình 1.3 Tăng chiều dài thân và giảm dần khối noãn hoàng cá bột Bống tượng sau khi nở 7

Hình 1.4 Tăng chiều dài thân và tăng khẩu độ miệng cá bột Bống tượng sau khi nở 8

Hình 1.5 Tỷ lệ sống của cá bột Bống tượng trong điều kiện nhiệt độ 27-30,5oC và không cho ăn tính từ sau khi nở 8

Hình 2.1 Hệ thống ương nuôi cá Bống tượng giai đoạn cá bột .24

Hình 2.2 Hệ thống ương cá Bống tượng giai đoạn cá hương 24

Hình 2.3 Thu hoạch cá bột 30 ngày tuổi 28

Hình 2.4 Thu hoạch cá hương 60 ngày tuổi .29

Hình 3.1 Biến động nhiệt độ của bể ương 32

Hình 3.2 Biến động pH của bể ương 32

Hình 3.3 Biến động hàm lượng oxy hòa tan của bể ương ……….33

Hình 3.4 Biến động hàm lượng NH3-N ở các nghiệm thức ương nuôi 34

Hình 3.5 Thức ăn ương nuôi cá bột Bống tượng giai đoạn cá bột .36

Hình 3.6 Chiều dài cá bột ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 38

Hình 3.7 Tỷ lệ sống cá bột ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 39

Hình 3.8 Chiều dài cá bột các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 40

Hình 3.9 Tỷ lệ sống cá bột các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 41

Hình 3.10 Biến động nhiệt độ của bể ương 43

Hình 3.11 Biến động pH của bể ương 43

Hình 3.12 Biến động hàm lượng oxy hòa tan của bể ương 44

Hình 3.13 Biến động hàm lượng NH3-N ở các nghiệm thức ương nuôi 45

Hình 3.14 Thức ăn trùn chỉ (TC) và trùn quế (TQ) sử dụng ương nuôi cá hương 47

Hình 3.15 Thức ăn cá tạp (CT) và công nghiệp CP(CN) sử dụng ương nuôi cá hương .47

Trang 10

Hình 3.16 Chiều dài cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 49 Hình 3.17 Khối lượng cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 50 Hình 3.18 Tỷ lệ sống của cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 51 Hình 3.19 Chiều dài cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 53 Hình 3.20 Khối lượng cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 53 Hình 3.21 Tỷ lệ sống cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 54

Trang 11

HUFA: highly unsaturated fatty acids

PUFA: polyunsaturated fatty acids

TC: Trùn chỉ

TQ: Trùn quế

Trang 12

MỞ ĐẦU

Cá Bống tượng (Oxyeleotris marmorata Bleeker) thuộc họ Eleotridae được

xem là loài cá có giá trị kinh tế ở một số quốc gia Châu Á Cá Bống tượng thường được nuôi trong bè trên sông hay hồ chứa, được nuôi trong ao hay eo ngách ở một số nước như Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia (Suwansart, 1979, được trích

dẫn bởi Cheah, 1994; Jee, 1980; Menasveta, 1999; Lương et al, 2005) Ở Việt Nam, cá

Bống tượng phân bố tự nhiên ở sông, kênh rạch, ao hồ có nước lưu thông thuộc đồng bằng sông Cửu Long, là đối tượng nuôi thuỷ đặc sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao,

cá thương phẩm lớn hơn 400g /con có giá khoảng 150.000 – 250.000 đồng/ kg

Trên thế giới, năm 1973 K.K Tan và T J Lam lần đầu tiên cho đẻ nhân tạo cá Bống tượng thành công bằng cách tiêm kích dục tố HCG với phương pháp thụ tinh ướt, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất cao (90%), nhưng tất cả cá bột đã chết sau vài ngày Vào những năm cuối của thập niên 70 (thế kỷ XX) các nước Đông nam Á đã bắt đầu nuôi và cho đẻ nhân tạo thành công như Indonesia (1978), Singapore (1980) và Thailand (1980)

Ở Việt Nam từ năm 1985, các trường Đại học, cơ quan Nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu đối tượng này Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu về hình thái giải phẩu, đặc điểm sinh lý cá con, đặc điểm tiền phôi và bệnh trên cá Bống tượng Đại học Nông lâm Thành Phố Hồ Chí Minh nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sinh sản nhân tạo Viện Nghiên Cứu Nuôi trồng Thủy sản II nghiên cứu đặc điểm phân loại, sinh học, kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ, ương cá bột lên cá hương và cá giống Năm 1993 Trại thực nghiệm giống thủy sản Đồng Tháp đã cho sinh sản và ương nuôi cá bống tượng đến sau một tháng tuổi đạt tỷ lệ sống 25%

Với hiệu quả kinh tế cao, những năm gần đây nhân dân đang phát triển nuôi loài cá này trong ao, đìa và trong lồng Trước tiên là ngư dân khu vực hồ Trị An, sau

đó mở rộng ra các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như : Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long và nay đang phát triển tại một số tỉnh miền Trung Nhiều diện tích ao, hồ và hàng ngàn lồng cá Bống tượng đã được nuôi trên sông, trên

hồ chứa đem lại hiệu quả kinh tế cao và tạo ra hàng hoá xuất khẩu và việc làm cho người lao động

Trang 13

Năm 1994, Bình Định đã di giống cá Bống tượng từ hồ Trị An về nuôi trong lồng trên các hồ chứa, sông Kôn, sông Lại Giang Hiện nay, trong thuỷ vực nước ngọt tại Bình Định có cá Bống tượng phân bố Những năm qua, nguồn giống cho người nuôi chủ yếu đánh bắt ngoài tự nhiên Nhằm chủ động nguồn giống đảm bảo chất lượng cho cho việc nuôi cá bống tượng thương phẩm, Bình Định đã cho sản xuất giống nhân tạo cá Bống tượng Thế nhưng khâu ương con giống giai đoạn bột lên cá

60 ngày tuổi chưa hiệu quả, tỷ lệ sống thấp Một trong những nguyên nhân làm cho cá sinh trưởng chậm, tỷ lệ sống thấp là do thức chưa đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của cá bột, cũng như kích cỡ thức ăn, mật độ, số lần cho ăn chưa phù hợp

Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại

thức ăn khác nhau và số lần cho ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ của cá Bống tượng

(Oxyeleotris marmorata, Bleeker 1852) giai đoạn cá bột và cá hương tại Bình

Định” được đề xuất thực hiện

Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu này nhằm xác định loại thức ăn có hàm lượng protein, acid béo

trong thức ăn và số lần cho ăn phù hợp vừa có thể nâng cao hiệu quả ương cá bống

tượng giai đoạn cá bột lên cá 60 ngày tuổi vừa dễ áp dụng vào thực tiễn ở Bình Định

Nội dung của đề tài:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai

đoạn cá bột (mới nở đến 30 ngày tuổi)

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá hương (từ 30 đến 60 ngày tuổi)

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Góp phần bổ sung những kiến thức khoa học về dinh dưỡng protein và acid béo của cá Bống tượng giai đoạn cá bột và cá hương

Trang 14

- Đưa ra các loại thức ăn và số lần cho ăn phù hợp trong ương nuôi cá Bống tượng giai đoạn cá bột và cá hương

- Góp phần nâng cao chất lượng con giống, phục vụ nghề nuôi cá thương phẩm

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Phân loại, phân bố và môi trường sống của cá bống tượng

Giống cá Bống tượng Oxyeleotris

Loài cá Bống tượng Oxyeleotris marmorata

(Bleeker 1852)

1.1.2 Phân bố

Cá Bống tượng (Oxyeleotris marmorata) thuộc họ Eleotridae, là loài lớn nhất

trong họ cá Bống [46] Cá phân bố tự nhiên ở lưu vực các sông Mê Kông, sông Chao Phraya và bán đảo Malay, Đông Dương, Philippines và Indonesia [29] Cá sống ở sông, hồ chứa, đầm lầy, kinh rạch, phân bố từ vĩ độ 23o N – 18o S, nơi có nhiệt độ trung bình trong khoảng từ 22-28oC [29] [37]

Hình 1.1: Cá Bống tượng Oxyeleotris marmorata Bleeker 1852 (Theo FAO)

Trang 16

Bống tượng được xem là loài có giá trị kinh tế ở một số quốc gia Châu Á, cá thường được nuôi trong bè trên sông hay hồ chứa và cũng được nuôi trong ao hay eo ngách hồ chứa ở một số nước Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia [2], năm

1975, cá Bống tượng được nhập vào Đài Loan từ nguồn cá ở Campuchia [29]

Ở Việt Nam, cá phân bố tự nhiên ở các lưu vực thuộc hệ thống sông Cửu Long

và sông Đồng Nai Bống tượng thương phẩm được xuất khẩu với giá cao nhất trong các loài cá nuôi nước ngọt [7], do vậy trong những năm gần đây cá Bống tượng được nhiều tỉnh miền Trung, miền Bắc đã di giống về nuôi

1.1.3 Môi trường sống

Cá Bống tượng được xem là loài cá có kích thước lớn, chậm chạp và sống dưới đáy những sông suối yên tĩnh hay kênh đào, ao hồ [7] Cá sống ở nước ngọt và cũng có thể sống ở nước lợ đến 15‰ nếu được thuần hoá một cách từ từ Khi lượng oxy hoà tan trong nước thấp, cá có hiện tượng phùng mang nổi đầu trên mặt nước [7] Khi gặp nguy hiểm cá có thể vùi sâu trong bùn 1 m và sống được nhiều giờ Đặc biệt cá có thể sống nhiều ngày không ăn, không hoạt động trong điều kiện bị giữ trong lu hoặc xô có nước không ngập hết thân cá [7] Cá có tập tính sống đáy, ban ngày ít hoạt động, thường vùi mình dưới bùn, ban đêm hoạt động bắt mồi tích cực Cá ưa ẩn náu nơi cây

cỏ rậm ven bờ và rình mồi [7]

Ở Thái Lan, nơi cá giống bống tượng tìm thấy nhiều ở môi trường sống với hàm lượng oxy hòa tan 6,0-7,0ppm, pH 6,5-7,2 và nhiệt độ 24-30°C, tương tự như kết quả nghiên cứu của Manop (1984) [21] Cá bống tượng nhờ có cơ quan hô hấp phụ, cá

có thể chịu được trong điều kiện oxy thấp và ngay cả chui rúc trong bùn trong nhiều giờ Cá có thể sống trong khoảng nhiệt độ 15,0 – 41,5 oC Nhiệt độ thích hợp nhất là từ

Trang 17

cm) phải 4 tháng nữa Muốn đạt đến cỡ cá có kích thước 100g/con phải mất thêm 4-5 tháng tiếp theo Trong tự nhiên cá 1 năm tuổi có kích thước 100-200 g Để đạt cỡ cá thương phẩm 500g/con trở lên, phải có thời gian nuôi là 5-8 tháng trong ao hoặc trong

bè từ cá có cỡ 100-300 g

Quá trình phát triển cá Bống tượng từ giai đoạn trứng thụ tinh đến cá bột, cá hương đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Theo Tavarutmaneegul và Lin.(1988), trứng cá Bống tượng đã thụ tinh được ấp trong điều kiện có sục khí, nhiệt độ 26-30oC

nở sau 2-4 ngày, các trứng trong cùng một tổ nhưng có thời gian nở khác nhau, tỷ lệ trứng thụ tinh ấp nở được ước tính là 80% Cũng theo các tác giả trên, cá bột mới nở

có chiều dài khoảng 3mm, có túi noãn hoàng lớn, hệ thống tiêu hoá chưa phát triển, sau 4-5 ngày cá đã sử dụng gần hết noãn hoàng, chiều dài cơ thể cá trung bình đạt 4

mm và khẩu độ miệng cá bột lúc này là từ 0,08-0,2 mm và theo Bundit,(2007) trung bình khoảng 0,1 mm [21]

Tuy nhiên Amornsakun, et al.(2002) thì cho rằng cá bột Bống tượng mới nở có kích thước là 2,39±0,12 mm, mang túi noãn hoàng có thể tích 55,32±14,85 µm3, trong điều kiện nhiệt độ nước từ 27,0-30,5oC, túi noãn hoàng sẽ còn 54,68% thể tích sau 36 giờ sẽ nở và được sử dụng hết sau 82 giờ [14]

Cũng theo các tác giả trên, cá bột mới nở, miệng chưa hình thành, sau 36 giờ lúc này cá bột dài 2,86±0,97 mm, hầu hết cá bột đã có miệng được mở và chiều cao miệng đo được là 332,29±17,76 µm Cũng theo các tác giả trên ở nhiệt độ 27,0-30,5oC thì 80 giờ sau khi nở cá bột Bống tượng bắt đầu ăn luân trùng và lúc này khối noãn hoàng còn 6,16 % thể tích ban đầu, ống tiêu hoá phát triển tương đối hoàn chỉnh, chiều cao miệng lúc này là 549,69±47,94 µm [21] Ở nhiệt độ nước như trên nếu không được cho ăn cá bột Bống tượng sẽ bắt đầu chết vào thời điểm 84 giờ sau khi nở và sẽ chết hoàn toàn sau 130 giờ

Trang 18

Thời gian sau khi nở (giờ)

Hình 1.2 Sự tăng chiều dài cá bột Bống tượng sau khi nở (Theo Amornsakun và

cộng sự, 2002.)

Thời gian sau khi nở (giờ)

Hình 1.3: Tăng chiều dài thân và giảm dần khối noãn hoàng cá bột Bống tượng sau

khi nở, (Theo Amornsakun và cộng sự, 2002.)

Trang 19

Việc ương nuôi cá Bống tượng từ cá bột mới nở đến cá 30 ngày tuổi là công đoạn khó khăn nhất của việc sản xuất giống đại trà hiện nay Cá bột ương sau 30

Thời gian sau khi nở (giờ)

Hình 1.4: Tăng chiều dài thân và tăng khẩu độ miệng cá bột Bống tượng sau khi nở

(Theo Amornsakun, T và cộng sự, 2002)

Thời gian sau khi nở (giờ)

Hình 1.5: Tỷ lệ sống của cá bột Bống tượng trong điều kiện nhiệt độ 27-30,5oC và không cho ăn tính từ sau khi nở (Theo Amornsakun, T và cộng sự, 2002)

Trang 20

ngày có chiều dài trung bình 1 cm, tỷ lệ sống từ 7-55% (trung bình 20%)[46] Cũng trong thí nghiệm của Tavarutmaneegul và Lin (1988), cá giống 30 ngày tuổi ương đến 60 ngày với các mật độ ương thứ tự 100, 80, 40, 20con/m2 đạt tỷ lệ sống rất cao

từ 75-100% và chiều dài trung bình cá khi thu hoạch theo thứ tự là 2,5; 2,9; 3,3; 3,5 cm[46] Sompong (1980) đã tiến hành thí nghiệm ương nuôi cá bột 5 ngày sau khi

nở trong hệ thống bể xi măng có hệ thống sục khí và sử dụng nước xanh, sử dụng lòng đỏ trứng gà và luân trùng cho ăn sau 24 ngày ương cá đạt kích cỡ 1,5 -2,0 cm

Để lý giải về tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi thấp, Tan và Lam (1973) cho rằng trong tập hợp cá bột mới nở, số nở sớm là phát triển kém hơn

số nở muộn nên dẫn đến tỷ lệ sống thấp Tuy nhiên theo Tavarutmaneegul và Lin (1988), có hai nguyên nhân: thứ nhất là vì cá Bống tượng bột có cơ thể quá bé (dài

4 mm), lại yếu, tập tính bơi giật từng hồi, lắng đáy mà chúng lại thụ động trong tìm mồi nên rất khó kiếm được mồi ăn; thứ hai là vì khẩu độ miệng rất nhỏ chỉ xấp xỉ 0,1 mm rất hạn chế có mồi thích hợp bởi vì hầu hết bọn động vật phù du phổ biến đều có kích thước lớn hơn

Theo Cheah và cộng sự (1994) kết quả ương nuôi thử nghiệm tại Singapore

từ cá bột trong ao đất sau 67 ngày thu cá giống có khối lượng trung bình 0,57g/con Cũng theo thí nghiệm của Tawee và Amnaj (1986) tiến hành ương nuôi cá ở kích

cỡ 0,04 -0,39 g trong ao với mật độ 13con/m2 sử dụng thức ăn phối trộn giữa cá tạp, cám gạo, khoáng chất và vitamin tỷ lệ cho ăn hàng ngày bằng 10% khối lượng cơ thể, sau 30 ngày cá đạt kích cỡ trung bình 2,4g/con và tỷ lệ sống 40%

Trang 21

trứng, bột đậu nành Đến ngày thứ 10, chúng ăn được giáp xác thấp như Moina,

Cyclop, ấu trùng Artemia[7]

Ở nhiệt độ nước 25-29ºC, cá bột 3-18 ngày tuổi ăn luân trùng thường phải mất 130-180 phút để tiêu hoá hết hoàn toàn, trong khi đó cá 21-27 ngày tuổi được

cho ăn ấu trùng Artemia thì mất 110-120 phút, và cá 30-45 ngày tuổi ăn Moina thì

chỉ mất 80-100 phút đã tiêu hoá xong thức ăn Thời gian tiêu hoá thức ăn nhanh hơn khi tuổi cá tăng [15]

Những thông tin gần đây cho ta có cái nhìn tương đối rõ hơn về khởi đầu đặc điểm dinh dưỡng cá bột và cũng cho ta cách tiếp cận vấn đề tốt hơn Việc phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa của cá Bống tượng con đã được thực hiện bởi Liem (2001)[8] Kết quả cho thấy vào ngày thứ hai sau khi nở, cá bột đã ăn thực vật phù

du với tần suất xuất hiện từ 95%, lên 100% vào ngày thứ 3 Bắt đầu từ ngày thứ 5 thì tần suất xuất hiện của tảo đã giảm xuống còn 20% sau đó thì được thay thế bởi động vật phù du ở ngày thứ 7[21]

Abol-Munafi et al (2002), đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau và môi trường ương khác nhau lên tỉ lệ tăng trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá Bống tượng, kết quả cho thấy tỉ lệ sống và tỉ lệ tăng trưởng cao nhất ở nghiệm thức được cho ăn ấu trùng copepods trong môi trường nước xanh (0,14mm/ngày và 43,20%)[12]

Ở cá Bống tượng, hàm lượng trypsin và chymotrypsin ở cá cho ăn các loại

thức ăn khác nhau trong môi trường ương nước trong thấp hơn (p<0,05) cá ương trong môi trường nước xanh Điều đó chứng tỏ, vi tảo đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hoá của cá Bống tượng bột [12]

Cá Bống tượng trưởng thành được xem là chậm chạp và sống dưới đáy những sông suối yên tĩnh hay kênh đào, ao hồ Khảo sát thành phần thức ăn trong

dạ dày của cá Bống tượng: Duangsawasdi et al.(1992) cho biết rằng cá Bống tượng

ăn các loài cá nhỏ và tôm con Chúng ăn động vật sống, những loài mồi hiện diện trong tầm mắt của chúng [7] Mồi sống có thể trở thành loại thức ăn thích hợp cho ương nuôi cá Bống tượng Tuy nhiên, việc cung cấp mồi sống phải bảo đảm đủ số lượng, đúng mật độ và đúng cỡ Ngoài ra việc sử dụng mồi sống làm thức ăn ương

Trang 22

trong thời gian dài cần được theo dõi thêm để xem xét mức độ tăng trọng và sự phân đàn của cá Bống tượng [2]

1.2.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng

Các nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cá Bống tượng là rất ít Nhu cầu dinh dưỡng của động vật nói chung luôn thay đổi theo các giai đoạn phát triển trong vòng đời của chúng Các thay đổi quan trọng về hình thái và sinh lý của động vật thủy sinh từ lúc mới nở đến khi trưởng thành được thể hiện qua các nhu cầu về dinh dưỡng và tính ăn ở giai đoạn ấu trùng, con giống và trưởng thành Sự thay đổi đó

diễn ra ở các cơ quan tiêu hoá và trong tiến trình tiêu hoá (Silva &Anderson, 1995)

Nhu cầu Protein và các acid amin

Protein và acid amin là một trong những chất dinh dưỡng thiết yếu, có vai trò quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp protein và quá trình sinh trưởng của cơ thể động vật nói chung và cá Bống tượng nói riêng Những kết quả nghiên cứu về nhu cầu protein và về nhu cầu một số acid amin cần thiết đối với cá Bống tượng vẫn rất hạn chế

Nhu cầu protein

Protein là thành phần chất hữu cơ chính của cơ thể động vật thuỷ sản, chiếm khoảng 60-75% trọng lượng khô của cơ thể (Halver, 1988) Nên protein có vai trò quan trọng hàng đầu trong thành phần thức ăn của tôm cá, nó ảnh hưởng tới tốc độ lớn, nếu thiếu có thể gây ra một số triệu chứng như: nhiễm trùng đường ruột, đường

hô hấp và dễ bị bệnh [11]

Nhu cầu protein của các loài cá thay đổi khá lớn, trong khoảng 25-55% Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein, sự khác biệt protein còn do: giống loài và phản ánh tập trung dinh dưỡng của từng loài Tổng quát, những loài cá ăn tạp hay ăn thực vật có nhu cầu protein (trong khoảng 25-30%), thấp hơn nhu cầu protein của các loài cá ăn động vật (nhu cầu khoảng 40-52%)

Bên cạnh chức năng là vật chất xây dựng, protein còn có vai trò là nguồn năng lượng cần thiết cho cơ thể khi thức ăn không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng,

vì vậy nhu cầu protein phụ thuộc vào năng lượng có trong thức ăn

Trang 23

Trong 3 nhóm chất sinh năng lượng là lipid, protein và carbohydrate thì protein là nguồn cung cấp năng lượng sau lipid Tuy nhiên, khả năng tiêu hoá được của protein để cung cấp năng lượng là cao hơn lipid Do vậy, dù luôn cố gắng duy trì khẩu phần thức ăn giàu năng lượng (nâng cao hàm lượng lipid trong thức ăn) nhưng thật ra khẩu phần thức ăn giàu protein còn giàu năng lượng hơn nếu tính theo lượng chất được tiêu hóa Các tác giả đề nghị rằng tăng trưởng của cá ở mức protein cao nhất có thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng và ở mức protein thấp hơn có thể thoả mãn được nhu cầu protein của cá

Nhu cầu protein của cá lệ thuộc rất nhiều vào chất lượng thức ăn Loại protein có cân bằng các acid amin thiết yếu và có độ tiêu hóa cao, sẽ dẫn đến nhu cầu protein thấp hơn loại protein không cân bằng Do đó, những kết quả về nhu cầu protein thường kèm theo giá trị năng lượng và protein nào được sử dụng [4]

Theo FAO 1987 đối với cá Bống tượng thức ăn ở giai đoạn 0,5-10 g chứa 49

% protein và cá ở giai đoạn 10-50 g có mức protein là 47% cho kết quả sinh trưởng của cá Bống tượng là tốt nhất [21]

Nhu cầu acid amin

Nhu cầu về amino acid thiết yếu được nghiên cứu nhiều bởi vì tôm cá không thể tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn Cũng như động vật bậc cao, các loài động vật thủy sản nói chung cần 10 loại amino acid thiết yếu, gồm: arginine, histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine (Halver, 1989)

Trong 10 amino acid kể trên có methionine và phenylalanine có quan hệ mật thiết với amino acid không thiết yếu tương ứng là cystine và tyrosine Khi có mặt cystine và tyrosine trong thức ăn thì nhu cầu methionine và phenylalanine sẽ giảm Cystine có thể thay 1/2 nhu cầu methionine (cystine và methionine là 2 acid amin cùng có S) Chẳng hạn một khẩu phần có 0,5% cystine và 0,2% methionine mà nhu cầu của một loài nào đó là 0,8%, như vậy khẩu phần còn thiếu 0,6% methionine (0,8-0,2) Ở đây cystine có 0,5% mà cystine có khả năng thay thế cho 1/2 nhu cầu methionine (tức 0,4%) như vậy trong trường hợp này nhu cầu 0,8% về methionine

đã được đáp ứng 0,6% chỉ còn thiếu 0,2% Ở cá nheo Mỹ, cystine có thể thay thế

Trang 24

60% methionine Tyrosine có khả năng thay thế cho 30% nhu cầu của phenylalanine (2 acid amin này cùng có gốc phenyl) Tôm cá không thể dự trữ acid amin tự do Nếu như có một acid amin nào đó chưa được dùng ngay để tổng hợp protein thì sẽ được chuyển thành acid amin khác hoặc cung cấp năng lượng Trường hợp này (chuyển acid amin này thành acid amin khác hoặc cung cấp năng lượng), nếu xảy ra ở acid amin thiết yếu thành acid amin không thiết yếu hoặc cung cấp năng lượng thì rất lãng phí [5]

Do đó, sự mất cân đối acid amin sẽ dẫn đến lãng phí acid amin Thiếu cũng như thừa bất kỳ acid amin nào cũng đều làm giảm hiệu quả sử dụng protein

Nhu cầu acid amin thiết yếu thường được tính theo % protein Nhu cầu arginine của cá hồi là 3,5% của mức protein thức ăn Khi hàm lượng protein thức

ăn 40% thì nhu cầu arginine là 1,4% tính theo vật chất khô Như vậy, nhu cầu các acid amin thiết yếu thay đổi theo hàm lượng protein thức ăn [5]

Nhu cầu acid amin thiết yếu, tính theo % mức protein, không khác nhau nhiều giữa các giống loài Ví dụ: arginine thay đổi trong khoảng 3,5-4,5% hay lysine thay đổi trong khoảng 5,12-5,3% Riêng nhu cầu methionine và phenylalanine có khác nhau giữa các loài cá [5]

Nhu cầu lipid và các acid béo cần thiết

Lipid tổng số

Lipid là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu và cung cấp acid béo cần thiết cho cá bống tượng Lipid là một nguồn dự trữ năng lượng trong tất cả các loài cá, đặc biệt là loài cá ăn động vật, cá hạn chế sử dụng carbohydrate (Pei et al.2004) Lipid trong thức ăn cũng đóng vai trò như là chất vận chuyển vitamin tan trong dầu

và sterols

Lipid hỗ trợ việc hấp thu vitamin tan trong chất béo (SRAC,1998) Lipid được sử dụng để cung cấp năng lượng thay cho protein (Watanable,1982; Tacon,1997) Lipid là nguồn cung cấp các acid béo thiết yếu, cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển, bao gồm cả việc phát triển sinh sản [21]

Trang 25

Lipid chứa năng lượng nhiều nhất so với các dưỡng chất khác trong thức ăn Lượng năng lượng do lipid cung cấp gần gấp đôi năng lượng do protein và hơn hai lần so với năng lượng do carbohydrate sản sinh Một số nghiên cứu đã được tiến hành để xác định khả năng sử dụng lipid làm nguồn chủ yếu cung cấp năng lượng cho cơ thể (Sakaras et al.1988, 1989; Catacutan & Coloso 1995; Williams et al 2003)

Nhìn chung, 10-20% lipid trong các khẩu phần của cá cho tốc độ sinh trưởng tối ưu mà không tạo ra cơ thể quá béo (Cowey và Sargent, 1979) Những sự sai khác giữa các loài về khả năng của các loài khác nhau sử dụng lipid như một nguồn năng lượng là phổ biến Chắng hạn như khi cá hồi cầu vòng được cho ăn các khẩu phần có các hàm lượng lipid 5-20% và các hàm lượng protein là 16-48% tỷ lệ tối ưu của protein với lipid phát hiện là 35% protein và 18% lipid [11]

Các acid béo cần thiết

Theo Webster & Lim (2002), các acid béo là thành phần chính của mọi lipid Các acid béo có trong mỡ (một dạng tồn tại phổ biến của lipid) thường có mạch carbon không phân nhánh, có số carbon chẵn và được chia làm hai nhóm: acid béo

no và acid béo không no Căn cứ vào số lượng nối đôi, người ta chia acid béo không no thành các dạng PUFA (polyunsaturated fatty acids - có ít nhất hai nối đôi trong mạch carbon) và HUFA (highly unsaturated fatty acids - có từ 4-6 nối đôi trong mạch carbon) Giá trị dinh dưỡng của các acid béo không no phụ thuộc vào số lượng carbon, số lượng nối đôi và vị trí nối đôi đầu tiên trong mạch carbon

Một số axít béo thường gặp và có giá trị dinh dưỡng cao trong thành phần thức ăn của động vật thủy sản:

Trang 26

Tỷ lệ phù hợp giữa các acid béo họ n-3 và n-6 PUFA trong khẩu phần thức

ăn đảm bảo tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng cao ở ấu trùng cá Heterobranchus longifilis Tuy nhiên, nếu hàm lượng các acid béo này cung cấp vượt quá nhu cầu

sẽ ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng của cá

Giống như các loài động vật có xương sống khác, cá có nhu cầu các loại HUFA để sinh trưởng bình thường và phát triển, thực hiện quá trình sinh sản Vai trò sinh lý, tế bào, sinh hóa của các loại HUFA này đối với cá cũng như các loài động vật có xương sống đã được biết đến một cách rộng rãi và thường là hai loại sau:

- Vai trò trong việc duy trì toàn bộ cấu trúc và chức năng của màng tế bào

- Vai trò đặc biệt hơn là tiền chất của nhóm hormone có vai trò quan trọng trong cơ thể được gọi chung là eicosanoid

Cũng giống như các loài động vật sống trên cạn khác, đối với cá, DHA, EPA

và ArA đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cấu trúc và chức năng của màng

tế bào Tuy nhiên, trái với động vật ở cạn, đối với cá, DHA và EPA chứ không phải

Trang 27

là ArA, đóng vai trò là những HUFA chính của màng tế bào [17, 18] Như vậy, khẩu phần thức ăn thiếu DHA có thể làm cho cá xuất hiện những khiếm khuyết lớn trong phát triển thần kinh và thị giác, nghiêm trọng hơn sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sinh lý và hoạt động của các cơ quan chịu sự điều khiển của tuyến nội tiết

Theo một số nghiên cứu đã công bố các mô của cá nhìn chung có hàm lượng DHA và EPA cao hơn ArA, vì vậy cá có nhu cầu về n-3 HUFA cao Tuy vậy, không nên bỏ qua một sự thật, mặc dù là một thành phần nhỏ trong màng tế bào của

cá, ArA có thể đảm nhiệm một vai trò không nhỏ trong cấu trúc màng tế bào của

Việc xác định nhu cầu acid béo thiết yếu rất khó và thường đạt mức chính xác không cao Trước hết, tiêu chuẩn tăng trưởng không nhạy với sự thay đổi các thành phần acid trong thức ăn Kế đến, có sự tác động hỗ tương giữa các acid béo Nếu xác định nhu cầu một loại acid béo riêng lẻ, sẽ cho kết quả khác với nhu cầu của acid béo đó khi cùng hiện diện với các acid béo khác Ngoài ra, do khả năng chuyển đổi giữa các acid béo trong cơ thể, việc xác định nhu cầu acid béo thiết yếu

là tương đối [5]

Những loài cá ăn thực vật không có khả năng để tổng hợp linoleic (18:2n-6) hay linolenic (18:3n-3) Do đó, một trong hai chất này phải được cung cấp từ thức

ăn, tùy thuộc vào nhu cầu EFA của mỗi loài (Wilson, 1995) Có thể tất cả các loài

cá đều có nhu cầu cho cả 2 acid béo n-3 và n-6, nhưng điều đó có thể theo dõi qua

cơ thể dự trữ và không phát hiện trong các thử nghiệm thức ăn thông thường Không giống như các loài cá nước mặn, hầu hết các loài cá nước ngọt có khả năng chuyển đổi 18:2n-6 thành 20:4n-6 (arachidonic acid, AA) và 22:5n-6 (docosapentaenoic acid, DPA), cũng như 18:3n-3 thành 20:5n-3 (eicosapentaenoic acid, EFA) và 22:6n-3 (docosahexaenoic acid, DHA) (Steffens, 1997) Nói chung, thức ăn trong các loài cá nước ngọt yêu cầu có linoleic hoặc linolenic acid hay cả 2 acid béo này [21]

Mặc dù chưa có công bố về nhu cầu của cá bống tượng đối với từng loại acid béo riêng lẻ nhưng người ta đã suy đoán nhu cầu của một số acid quan trọng Có

Trang 28

thể nhu cầu của cá Bống tượng đối với một số acid béo như 20:4n-6, 18:3n-3 và 18:2n-6 cũng tương tự như các kết quả nghiên cứu trên các loài cá khác

Để cân đối nhu cầu acid béo thiết yếu khi thiết lập công thức thức ăn, nhà sản xuất phải biết nhu cầu acid béo họ n3 hay n6 và khả năng sinh tổng hợp của acid béo này Cá biển và tôm có nhu cầu cao n3 HUFA, đặc biệt là EPA và DHA Dầu cá biển và dầu nhuyễn thể có tỷ lệ cao hai acid béo này, lần lượt là 10% và 12% EPA và DHA Dầu thực vật như: dầu đậu nành, dầu bắp chứa tỷ lệ cao n6 PUFA và n6 HUFA mà các loài cá nước ngọt nhiệt đới có nhu cầu thiết yếu Việc phối hợp dầu cá và dầu đậu nành trong thức ăn, để cân đối nhu cầu acid béo thiết yếu, là nhu cầu mà người thiết lập công thức thức ăn phải đáp ứng [5]

1.2.2.3 Lượng thức ăn và tần suất cho ăn

Ngoài tính chất và thành phần thức ăn; giai đoạn phát triển và giống loài; điều kiện môi trường thì lượng thức ăn và tần suất cho ăn (phương thức cho ăn) có ảnh hưởng lớn đến độ tiêu hóa thức ăn Khi khối lượng thức ăn càng lớn thì tốc độ tiêu hóa càng chậm và thức ăn cũng không được sử dụng một cách triệt để Khối lượng thức ăn không những làm chậm tốc độ tiêu hoá mà còn làm giảm sự hấp thu chất dinh dưỡng Khi khối lượng thức ăn càng lớn, men tiêu hóa khó ngấm vào bên trong và mức độ ngấm không đều dẫn đến quá trình tiêu hoá chậm lại, ảnh hưởng đến độ tiêu hóa thức ăn [4]

Độ tiêu hóa thức ăn tăng khi số lần cho ăn tăng, vì vậy với cùng một lượng thức ăn trong ngày nếu chia làm nhiều lần cho ăn thì mỗi lần cho ăn với một lượng thức ăn ít, men tiêu hóa sẽ hoạt động tốt, dẫn đến khả năng tiêu hóa và hấp thu thức

ăn tốt hơn [4]

Mức độ cho ăn cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu protein của cá Khi cho cá ăn ở mức độ giới hạn (tính theo trọng lượng thân) có thể làm tăng nhu cầu protein Nếu mức cho ăn thấp gần bằng mức cần thiết để duy trì

cơ thể sẽ dẫn đến hệ số chuyển hóa thức ăn cao và tăng trưởng rất chậm hoặc bị ngừng lại Ngược lại, nếu dư thừa lượng thức ăn cũng làm cho hiệu quả chuyển hóa thức ăn kém do thức ăn bị hao hụt và sự tiêu hóa thức ăn giảm đi [26]

Trang 29

Ngoài ra, theo Cho, Cowey và Watanable (1985), tăng nhịp cho ăn nhưng giảm lượng thức ăn của mỗi lần cho ăn còn có thể tránh làm giảm sút oxy hoà tan, tránh dư thừa thức ăn Mà thức ăn thừa vừa gây lãng phí, góp phần gây ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm phát triển, tất cả các thứ đó đều có thể gây ra bệnh

Theo Lê Thanh Hùng (2008), lượng cho ăn và số lần cho ăn hàng ngày ảnh hưởng đến độ tiêu hóa của cá của cá, đã gây tranh cãi ở các tác giả khác nhau Lượng thức ăn hàng ngày và số lần cho ăn trong ngày, không ảnh hưởng trực tiếp lên độ tiêu hóa thức ăn Thí nghiệm trên cá chép kích cỡ 30-50g cho thấy, độ tiêu hóa protein, lipid và chất bột đường của cám gạo không khác nhau đáng kể, khi tăng lượng thức ăn Trái lại, ở cá hồi, không thấy sự thay đổi tiêu hóa protein và lipid khi tăng lượng thức ăn từ 0,4% lên 1,6% thể trọng, mặc dù độ tiêu hóa carbohydrate và độ tiêu hóa vật chất khô giảm xuống [5]

Tần số cho ăn cũng không ảnh hưởng lên độ tiêu hóa thức ăn Nhiều thí nghiệm trên các loài cá cho thấy không có sự khác nhau về độ tiêu hóa chất khô, protein, lipid và năng lượng, khi cho cá ăn 2 đến 6 lần/ngày [5]

1.3 Đặc điểm sinh sản của cá bống tượng

1.3.1 Tuổi và kích thước thành thục

Trong tự nhiên cá thành thục sau 1 năm, mùa vụ đẻ bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến tháng 10 Trong nuôi cho đẻ nhân tạo cá có thể thành thục sớm hơn 1-2 tháng, bắt đầu sinh sản vào cuối tháng 2 và kéo dài tới tháng 11 Cá đẻ tập trung vào tháng 5,6,7,8 và giảm dần vào các tháng cuối năm (trung bình 5 lần) Sức sinh sản của cá Bống tượng khá cao Sức sinh sản tuyệt đối đạt tới 76.000 trứng (cá 350 g) [7]

1.3.2 Mùa vụ và tập tính sinh sản

Cá đực và cá cái được nhận biết dễ dàng khi chúng thành thục Cá đực có gai sinh dục nhỏ, đầu gai nhọn hình tam giác, con cái có gai sinh dục lớn, nhưng không nhọn đầu Trong mùa sinh sản, gai sinh dục của con cái lồi ra và đỏ mọng [7] Cá Bống tượng thuộc nhóm cá đẻ nhiều lần trong năm, đẻ trứng dính [7,46]

Trang 30

1.3.3 Sinh thái sinh sản

Cá Bống tượng có tập tính ghép đôi khi sinh sản, cá đẻ trứng dính thành hình ô tròn ở dưới hốc cây, hang hốc ven bờ Trứng Bống tượng giống hình quả lê, chiều dài 1,3-1,4 mm Sau khi sinh đẻ cá bơi quanh tổ và dùng đuôi quạt nước để tạo đủ oxy cho trứng phát triển cho đến khi trứng cá nở hết [7]

Cá Bống tượng là loài đẻ nhiều lần trong năm và được xem là có sức sinh sản cao, người ta ước tính cá cái Bống tượng thành thục có sức sinh sản từ 130-300 trứng/g khối lượng cơ thể [21] Trong khi đó theo Kok (1982) và Ali (1999) thì với

cá lóc Ophiocephalus punctatus và Channa striata có sức sinh sản theo thứ tự từ

2-17 và 11-36 trứng /g khối lượng cơ thể [21]

1.4 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá bống tượng trên thế giới và Việt nam 1.4.1 Trên thế giới

1.4.1.1 Sản xuất giống

Từ 1973 được Tan và Lam ở Singapore thử nghiệm cho sinh sản nhân tạo thành công với quy mô trong phòng thí nghiệm Năm 1988, Tavarutmaneegul và Lin đã thử nghiệm tại Thái Lan và thành công việc sản xuất giống với quy mô ao 1600m2 [14] Các ông cho cá đẻ tự nhiên không sử dụng kích dục tố, đặt giá thể để thu trứng, ấp nở trong điều kiện nhân tạo, bước đầu cho cá bột số lượng lớn, tuy nhiên kết quả ương từ cá bột lên cá giống các loại còn thấp Người ta đã biết cá Bống tượng là bọn đẻ nhiều lần trong năm và có sức sinh sản cao [21,22]

Như vậy mặc dù sức sinh sản và tỷ lệ nở của trứng cá Bống tượng khá cao,

kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo đã thành công từ cuối những năm 80 thế kỷ trước, nhưng tỷ lệ sống trong giai đoạn ương nuôi từ cá bột lên các giống thường còn rất

Trang 31

thấp [46], đây là nguyên nhân mà hiện nay việc cung cấp con giống cho phong trào nuôi cá Bống tượng thương phẩm chủ yếu vẩn dựa vào nguồn giống từ tự nhiên [3, 21]

Việc sản xuất giống Bống tượng đại trà cho đến gần đây vẫn còn hạn chế [21] Lý do là tỷ lệ sống của cá Bống tượng sau khi nở đến 30 ngày tuổi thường rất thấp và không ổn định

1.4.1.2 Nuôi thương phẩm

Cá Bống tượng thường được nuôi trong bè trên sông hay hồ chứa, được nuôi trong ao hay eo ngách ở một số nước như Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia [30] Theo Nguyễn Phú Hoà (2006), nguồn cung cấp cá giống (>20g) cho các ao hay bè nuôi hiện nay phần lớn là từ đánh bắt ngoài tự nhiên

Theo Bundit (2007), cá Bống tượng được nuôi nhiều vùng ở Thái Lan Có hai hình thức nuôi là nuôi trong lồng trên hồ chứa hoặc trên sông và nuôi Bống tượng trong ao[21]

Nuôi cá Bống tượng trong lồng được Bundit (2007) mô tả như sau Lồng nuôi có thể được làm bằng tre, gỗ toàn bộ hoặc có loại lồng khung gỗ hoặc thép với túi lưới và phao Lồng nuôi thường có kích thước 3x1,5x1,5 m hay là 3x3x2 m Lồng được đặt trên sông nơi có độ sâu ít nhất 3 m, nếu nuôi trên hồ chứa thì nơi đặt

có độ sâu ít nhất 10 m Nuôi Bống tượng trong lồng có 2 dạng, nuôi chuyên và nuôi ghép với cá khác Trong nuôi chuyên Bống tượng, người ta thả 80-100con/m2, cỡ

cá 100-200g/con, thời gian nuôi 5-8 tháng Nuôi Bống tượng ghép với cá khác thì mật độ thả thường 30 con/m2, với cỡ cá 100-300g/con, thời gian nuôi 8-12 tháng [21]

Đối với nuôi cá Bống tượng trong ao ở Thái Lan, tác giả trên cho biết, ao nuôi thường nhỏ, có diện tích khoảng từ 400-1600 m2, mật độ cá thả nuôi chuyên trong ao là 1- 4con/m2, cỡ cá 50-100g/con [6] Giống cá Bống tượng thả nuôi chủ yếu là mua lại của người thu vớt từ tự nhiên Thức ăn cho Bống tượng là cá tạp nước mặn, cá tạp nước ngọt hay phế phẩm lò mổ gia cầm, cũng có nơi tự chế thức

ăn theo công thức cá tạp, cám gạo, muối, vitamin premixed theo tỷ lệ 10:1:1:0,1

Trang 32

Cá nuôi có khối lượng đạt trên 400 g được thu hoạch bán sống Bình thường sau

5-8 tháng nuôi có tỷ lệ sống từ 40-70% [21]

Cũng theo Bundit (2007), có ba vấn đề tồn tại trong việc nuôi cá Bống tượng

ở Thái Lan Thứ nhất là dịch bệnh, nhất là trong hệ thống nuôi lồng, người ta cho

cá ăn bằng cá tạp, cá thường bệnh chết trước khi đạt cỡ 300-400g/con Bệnh lớn gan ở cá là hay gặp Thứ hai là về số lượng và chất lượng giống thường không được chắc chắn, mà theo mùa Số lượng phụ thuộc trực tiếp từ tự nhiên Mặc dù đã thành công trong sinh sản nhân tạo và ương nuôi tuy nhiên về công nghệ vẫn còn hạn chế Thứ ba là nguồn thức ăn dùng nuôi cá Bống tượng là phụ thuộc vào cá tạp đánh bắt

tự nhiên [21]

Năm 2008, Wirat Jiwyam khảo sát nhiều ao nuôi quảng canh cá Rô phi ghép Bống tượng tại huyện Muang, tỉnh Nong Khai, Thái Lan, sản lượng Bống tượng có thể đạt 22,1-316kg/ha trung bình 81±78kg/ha và người nuôi coi Bống tượng như là sản phẩm chính [27]

1.4.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam từ năm 1985, các trường Đại học, cơ quan nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu đối tượng này như đại học Cần Thơ đã nghiên cứu hình thái giải phẩu, đặc điểm sinh lý cá con, đặc điểm tiền phôi, bệnh cá Đại học Nông lâm Thành Phố Hồ Chí Minh nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sinh sản nhân tạo Viện Nghiên Cứu nuôi trồng thủy sản II nghiên cứu đặc điểm phân loại, sinh học, kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ, ương cá bột lên cá hương cá giống Năm 1993 Trại thực nghiệm giống thủy sản Đồng Tháp đã cho sinh sản và ương nuôi cá Bống tượng thành công đến sau một tháng tuổi đạt tỷ lệ sống 25%

Nghiên cứu của Vũ Cẩm Lương và cộng sự (2003) tại 5,34 ha eo ngách Trường Đảng của hồ chứa Trị An từ tháng 6-2002 đến tháng 5-2003 cho thấy: nuôi tổng hợp nhiều loài cá Bống tượng, cá Mè trắng, Mè hoa, Chép và Trắm cỏ với mật

độ thả tuần tự là 960, 470, 470, 470 và 170con/ha Sau 7 tháng nuôi từ 10-2002 đến 5-2003, sản lượng cá Bống tượng thu được 251,1kg/ha, cá Mè trắng, Mè hoa, Chép

và Trắm cỏ sản lượng thu được là 90,5; 114,3; 14,3; 84,6 và 35,0 kg/ha Tỷ lệ sống Bống tượng là 73,7%, các loài cá khác là từ 55,1–62,8% [30]

Trang 33

Theo kết quả điều tra tại xã Tân Thành, thành phố Cần Thơ của Nguyễn Phú Hoà và Dương Hữu Tâm (2007) cho thấy cá Bống tượng được nuôi thương phẩm trong ao đất có kích thước thường 100-300 m2 độ sâu 1,2-1,5 m, thường giống được thả mật độ từ 1- 2con/m2, cỡ 7-15con/kg Nguồn cá giống từ các trại ương chiếm khoảng 22%, số còn lại có nguồn từ thu vớt ngoài tự nhiên 100% hộ dân ở đây sử dụng cá tạp chủ yếu là cá Rô phi làm thức ăn cho Bống tượng Tuỳ theo cỡ giống thả nuôi mà có thể thu hoạch cá thương phẩm có cỡ 500-800g/con sau 10-14 tháng nuôi, cá Bống tượng nuôi phát triển không đồng đều, khi thu hoạch người nuôi giữ lại những con nhỏ để nuôi thêm một thời gian Tỷ lệ sống cá nuôi đạt được từ 66-98% [3]

Trang 34

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: cá Bống tượng (Oxyeleotris marmorata) giai đoạn cá

bột lên cá 60 ngày tuổi

- Địa điểm nghiên cứu Trạm thực nghiệm nuôi trồng thủy sản Mỹ Châu trực thuộc Trung Tâm giống thủy sản Bình Định

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2009 - 8/2010

2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Hệ thống thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí trong hệ thống bể composit, thể tích 200 lít/bể đối với thí nghiệm ương giai đoạn cá bột và 500 lít/bể đối với thí nghiệm ương giai đoạn cá hương

2.2.2 Nguồn nước thí nghiệm

Nước được lấy từ ao chứa, cấp vào ao nuôi cá Rô phi Tảo Chrorella sp được gây nuôi từ ao nuôi cá Rô phi và lấy nước từ ao nuôi cá Rô phi cấp cho hệ thống bể ương

2.2.3 Cá bố trí thí nghiệm

- Cá bột: Chọn cá Bống tượng bố mẹ khỏe mạnh nuôi vỗ trong ao có diện tích 500m2 được chuẩn bị theo tiêu chuẩn ngành 28 TCN – 64 – 79 Mật độ 1con/m2 Đặt giá thể để thu trứng Trứng cá được ấp bằng phương pháp nước tỉnh có sục khí nhẹ Dụng cụ ấp là thau nhựa có dung tích 30 lít Sau khi trứng nở 70-80%, chuyển tổ trứng qua thau khác để ấp Một ngày sau khi nở cá bột, thu cá bột khỏe mạnh, hoạt động nhanh nhẹn để đưa vào thí nghiệm

- Cá hương: Cũng từ lượng cá bột thu được đem ương trong bể xi măng không

có sục khí với thể tích 9m3/bểvới mật độ 1con/l, ương 30 ngày sử dụng thức ăn CB2, sau khi thu cá hương, chọn cá hương khẻo mạnh kích cỡ tương đối đồng đều để đưa

vào thí nghiệm

Trang 35

Hình 2.1: Hệ thống ương nuôi cá bống tượng giai đoạn cá bột

Hình 2.2:Hệ thống ương cá bống tượng giai đoạn cá hương

2.2.3.1 Thí nghiệm 1

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá bột (mới nở đến 30 ngày tuổi)

Thí nghiệm được bố trí 18 bể composit, thể tích 200lít/bể, mật độ 10con/l, với 6 nghiệm thức là tổ hợp của 3 loại thức ăn (CB1, CB2, CN) và số lần cho ăn

Trang 36

/ngày (3 và 4 lần), các thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại Thành phần nguyên liệu thức ăn như sau:

- Thức ăn CB1: Thành phần 53,8% sữa bột Anlene, 41,7% trứng gà, 3 % dầu mực và 1,5% lecithin (Công thức này dựa trên công thức thức ăn cho ấu trùng của Ang (1986) và của Trần Thị Thanh Hiền (2004)

- Thức ăn CB2: Thành phần 53,8% bột đậu nành, 41,7% trứng gà, 3 % dầu mực và 1,5% lecithin

- Thức ăn CN: Thức ăn công nghiệp (INVE) dùng cho cá chẽm

Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau

2.2.3.2 Thí nghiệm 2

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá hương (từ 30 đến 60 ngày tuổi)

ngày

Số lần cho ăn 3lần/

ngày

Số lần cho ăn 4lần/

ngày

Số lần cho ăn 3lần/

ngày

Số lần cho ăn 4lần/ ngày

Ngày đăng: 15/08/2014, 18:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Phú Hòa, Yang Yi và Lê Thanh Hùng (2008), “Giác quan bắt mồi và khả năng tiêu hóa loại mồi khác nhau của cá Bống tượng giống (Oxyeleotrismarmorata)”, Trường Đại học Cần Thơ, Tạp chí Khoa học 2008 (1): 112-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giác quan bắt mồi và khả năng tiêu hóa loại mồi khác nhau của cá Bống tượng giống (Oxyeleotris marmorata)”, Trường Đại học Cần Thơ, "Tạp chí Khoa học 2008
Tác giả: Nguyễn Phú Hòa, Yang Yi và Lê Thanh Hùng
Năm: 2008
2. Nguyễn Phú Hòa (2006), “Khảo sát khả năng lựa chọn thức ăn của cá Bống tượng (Oxyeleotris marmorata)” Trường Đại học Cần Thơ, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006, tr . 275-280 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát khả năng lựa chọn thức ăn của cá Bống tượng (Oxyeleotris marmorata)” Trường Đại học Cần Thơ, "Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006
Tác giả: Nguyễn Phú Hòa
Năm: 2006
3. Nguyễn Phú Hoà và Dương Hữu Tâm (2007), “Tình hình nuôi cá Bống tượng (oxyeleotris marmorata) tại xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau”, Tạp chí Đại học Nông Lâm TP HCM, KHKT Nông Lâm nghiệp, Số1&amp;2/2007, tr . 143- 145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nuôi cá Bống tượng (oxyeleotris marmorata) tại xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau"”, Tạp chí Đại học Nông Lâm TP HCM, KHKT Nông Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Phú Hoà và Dương Hữu Tâm
Năm: 2007
4. Lại Văn Hùng (2004), Dinh dưỡng và thức ăn trong nuôi trồng thủy sản, giáo trình giảng dạy cao học nuôi trồng thủy sản, Đại học Thủy sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng và thức ăn trong nuôi trồng thủy sản
Tác giả: Lại Văn Hùng
Năm: 2004
6. Lavens, P (1996), Cẩm nang về sản xuất và sử dụng thức ăn sống để nuôi thủy sản. Trong: Tài liệu kỹ thuật nghề cá của FAO số 361 (Sorgeloos, P. chủ biên).FAO, Rôma, 295 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang về sản xuất và sử dụng thức ăn sống để nuôi thủy sản
Tác giả: Lavens, P
Năm: 1996
7. Phạm Văn Khánh, Nguyễn Mạnh Hùng (2003), Kỹ thuật nuôi cá Bống tượng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 46 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi cá Bống tượng
Tác giả: Phạm Văn Khánh, Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
8. Dương Tấn Lộc (2001), Kỹ thuật nuôi thủy đặc sản nước ngọt, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 83 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi thủy đặc sản nước ngọt
Tác giả: Dương Tấn Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh
Năm: 2001
9. Sen S.De Silva – Trevor A.Anderson (Lê Anh Tuấn biên dịch) ( 2006), Dinh dưỡng cá trong nuôi trồng thủy sản, Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng cá trong nuôi trồng thủy sản
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
10. Nguyễn Hữu Tân (1998), Đặc điểm sinh học và sản xuất giống nhân tạo cá Bống tượng Oxyoleotris marmoratus (Bleeker), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Thuỷ Sản Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh học và sản xuất giống nhân tạo cá Bống tượng Oxyoleotris marmoratus
Tác giả: Nguyễn Hữu Tân
Năm: 1998
12. Mai Viết Văn, A.B. Abol-Munafi, và A.W.M. Effendy (2006), “Ảnh hưởng của thức ăn khác nhau lên hoạt tính cuả men trypsin và hymotrypsin ở cá bống tượng bột (Oxyeleotris marmoratus)”, Trường Đại học Cần Thơ, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006, tr. 193-199.Phần tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thức ăn khác nhau lên hoạt tính cuả men trypsin và hymotrypsin ở cá bống tượng bột (Oxyeleotris marmoratus)”, Trường Đại học Cần Thơ, "Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006
Tác giả: Mai Viết Văn, A.B. Abol-Munafi, và A.W.M. Effendy
Năm: 2006
13. Abol-Munafi, A. B, P. T. Liem, M. V. Van, M. A. Ambak ( 2006), “Histological ontogeny of the digestive system of Marble Goby (Oxyeleotris Marmoratus) larvae”, Journal of Sustain. Sci &amp; Mngt, 2006 Vol. 1(2), pp. 79-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histological ontogeny of the digestive system of Marble Goby (Oxyeleotris Marmoratus) larvae"”, Journal of Sustain
14. Amornsakun, T. , Sriwatana, W. and Chamnanwech, U (2002) Some aspects in early life stage of sand goby, Oxyeleotris marmoratus Larvae, Songklanakarin J.Sci. Technol, 2002, 24(4), pp. 611-619 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Some aspects in early life stage of sand goby, Oxyeleotris marmoratus Larvae
15. Amornsakun, T., Sriwatana, W., and Chamnanwech, U.(2003), The culture of sand goby, Oxyeleotris marmoratus II: Gastric emptying times and feed requirements of larvae Songklanakarin J. Sci. Technol., 2003, 25(3), pp. 373-379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The culture of sand goby, Oxyeleotris marmoratus II: Gastric emptying times and feed requirements of larvae
Tác giả: Amornsakun, T., Sriwatana, W., and Chamnanwech, U
Năm: 2003
16. Amornsakun, T., Sriwatana, W., and Chamnanwech, U.(2003), The culture of sand goby, Oxyeleotris marmoratus I: Feed and feeding scheme of larvae and juveniles, Songklanakarin J. Sci. Technol., 2003, 25(3), pp. 367-371 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The culture of sand goby, Oxyeleotris marmoratus I: Feed and feeding scheme of larvae and juveniles
Tác giả: Amornsakun, T., Sriwatana, W., and Chamnanwech, U
Năm: 2003
17. Bell M.V., Batty R.S., Dick J.R., Fretwell K., Navarro J.C. &amp; Sargent I.R. (1995a) Dietary deficiency of docosahexaenoic acid impairs vision at low light intensities in juvenile herring (Clupea harengus L.). Lipids 30(5), pp. 443 - 449 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dietary deficiency of docosahexaenoic acid impairs vision at low light intensities in juvenile herring
18. Bell M.V., Catel J.D., Tocher D.R., MacDonald F.M. &amp; Sargent J.R. (1995b) Effects of different combinations of arachidonic and docosahexaenoic acids ratios on phospholipid fatty acid compositions and prostaglandin production in juvenile turbot (Scophthalmus maximus), Fish Physiology Biochemistry 14, pp. 139-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of different combinations of arachidonic and docosahexaenoic acids ratios on phospholipid fatty acid compositions and prostaglandin production in juvenile turbot
19. Bell, J.G., Ghioni, C. and Sargent, J.R. (1994) Fatty acid c omposition of 10 freshwater invertebrates which are natura l food organisms of Alantic salmon parr (Salmosalar):comparison with commercial die ts. 128, pp. 301-313 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fatty acid c omposition of 10 freshwater invertebrates which are natura l food organisms of Alantic salmon parr
21. Bun it, J. (2007), The Nutrition and Feeding of a Native Thai Species, The Marble Goby (Oxyeleotris Marmoratus), Involving on-Farm and Experimental Studies Thesis Submitted for The Degree of Doctor of Philosophy , Institute of Aquaculture, University of Stirling, Stirling, Scotland Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Nutrition and Feeding of a Native Thai Species, The Marble Goby (Oxyeleotris Marmoratus), Involving on-Farm and Experimental
Tác giả: Bun it, J
Năm: 2007
22. Cheah, S.H., S. Senoo, S.Y. Lam and K.J. Ang, (1994), Aquaculture of a high- value freshwater fish in Malaysia: the marble or sand goby (Oxyeleotris marmoratus, Bleeker), Naga ICLARM Q, 17(2), pp. 22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aquaculture of a high-value freshwater fish in Malaysia: the marble or sand goby (Oxyeleotris marmoratus
Tác giả: Cheah, S.H., S. Senoo, S.Y. Lam and K.J. Ang
Năm: 1994
23. Chatterjee I.B. (1973) Evolution and biosynthesis of ascorbic acid, Science 182, pp. 1271-1272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evolution and biosynthesis of ascorbic acid

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Sự tăng chiều dài cá bột Bống tượng sau khi nở (Theo Amornsakun  và - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 1.2. Sự tăng chiều dài cá bột Bống tượng sau khi nở (Theo Amornsakun và (Trang 18)
Hình 1.3: Tăng chiều dài thân và giảm dần khối noãn hoàng cá bột Bống tượng sau - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 1.3 Tăng chiều dài thân và giảm dần khối noãn hoàng cá bột Bống tượng sau (Trang 18)
Hình 1.4: Tăng chiều dài thân và tăng khẩu độ miệng cá bột Bống tượng sau khi nở - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 1.4 Tăng chiều dài thân và tăng khẩu độ miệng cá bột Bống tượng sau khi nở (Trang 19)
Hình 2.1: Hệ thống ương nuôi cá bống tượng giai đoạn cá bột. - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 2.1 Hệ thống ương nuôi cá bống tượng giai đoạn cá bột (Trang 35)
Hình 2.2:Hệ thống ương cá bống tượng giai đoạn cá hương. - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 2.2 Hệ thống ương cá bống tượng giai đoạn cá hương (Trang 35)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm như sau (Trang 36)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau: - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm như sau: (Trang 37)
Hình 2.3: Thu hoạch cá bột 30 ngày tuổi - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 2.3 Thu hoạch cá bột 30 ngày tuổi (Trang 39)
Hình 2.4: Thu hoạch cá hương 60 ngày tuổi. - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 2.4 Thu hoạch cá hương 60 ngày tuổi (Trang 40)
Bảng 3.1: Biến động của một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm. - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.1 Biến động của một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm (Trang 42)
Hình 3.1: Biến động nhiệt độ của bể ương - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 3.1 Biến động nhiệt độ của bể ương (Trang 43)
Hình 3.3: Biến động hàm lượng oxy hòa tan của bể ương - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 3.3 Biến động hàm lượng oxy hòa tan của bể ương (Trang 44)
Hình 3.4: Biến động hàm lượng NH 3 -N ở các nghiệm thức ương nuôi. - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Hình 3.4 Biến động hàm lượng NH 3 -N ở các nghiệm thức ương nuôi (Trang 45)
Bảng 3.2: Thành ph ần sinh hoá của thức ăn thí nghiệm ương nuôi cá bột - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.2 Thành ph ần sinh hoá của thức ăn thí nghiệm ương nuôi cá bột (Trang 45)
Bảng 3.3: Thành phần và hàm lượng acid béo (% trong tổng acid béo) của thức - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU  và số lần CHO ăn lên SINH TRƯỞNG và tỷ lệ SỐNG của  cá BỐNG TƯỢNG (oxyeleotris marmorata, bleeker 1852)  GIAI đoạn cá bột và cá HƯƠNG tại BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.3 Thành phần và hàm lượng acid béo (% trong tổng acid béo) của thức (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w