Rất Rất Hay !
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng dong riềng tại huyện Ba Bể
(2001 - 2011) 35Bảng 3.2: Kết quả điều tra về tình hình chế biến dong riềng tại huyện Ba Bể
(2001 - 2011) 36Bảng 3.3: Về thị trường tiêu thụ dong riềng tại huyện Ba Bể (2001 - 2011) 37Bảng 3.4: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng của cây
dong riềng trên đất đồi tại huyện Ba Bể 38Bảng 3.5: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất và chất lượng của cây
dong riềng trên đất đồi tại huyện Ba Bể 41Bảng 3.6: Kết quả hạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng
trong thí nghiệm 43Bảng 3.7: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng của cây
dong riềng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể 44Bảng 3.8: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất và chất lượng của cây
dong riềng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể 46Bảng 3.9: Kết quả hoạch toán kinh tế của các mật độ trồng dong riềng
trong thí nghiệm 48Bảng 3.10: Ảnh hưởng của mức bón phân đạm đến khả năng sinh trưởng của
cây dong riềng trên đất đồi tại huyện Ba Bể 50Bảng 3.11: Ảnh hưởng của mức bón phân đạm đến năng suất và chất lượng
của cây dong riềng trên đất đồi tại huyện Ba Bể 52Bảng 3.12: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm trong
thí nghiệm 54Bảng 3.13: Ảnh hưởng của mức bón phân đạm đến khả năng sinh trưởng của
cây dong riềng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể 55
Trang 3Bảng 3.14: Ảnh hưởng của mức bón phân đạm đến năng suất và chất lượng
của cây dong riềng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể 57Bảng 3.15: Kết quả hạch toán kinh tế của các mức bón phân đạm trong
thí nghiệm 60Bảng 3.16: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất và chất lượng
của cây dong riềng trên đất đồi tại huyện Ba Bể 61Bảng 3.17: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm 63Biểu 3.18: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất và chất lượng
của cây dong riềng trên đất ruộng 1 vụ tại huyện Ba Bể 63Bảng 3.19: Kết quả hạch toán kinh tế của các thời điểm thu hoạch trong
thí nghiệm 65
Trang 4DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Năng suất tinh bột khô mật độ trồng trên đất ruộng 47Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tinh bột mức bón phân đạm trên đất đồi 53Biểu đồ 3.3 Năng suất, tỷ lệ tinh bột các mức bón phân đạm trên đất ruộng 59Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ tinh bột thời điểm thu hoạch trên đất đồi 62Biểu đồ 3.5 Năng suất tinh bột các thời điểm thu hoạch trên đất đồi 62
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảm bảo an ninh lương thực không chỉ là mối quan tâm hàng đầu củacác quốc gia nghèo mà nó đã trở thành vấn đề thời sự mang tính toàn cầu Đặcbiệt trong điều kiện hiện nay nền sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuấtcây lương thực nói riêng đang đứng trước nhiều thử thách, như: Biến đổi khíhậu; dân số gia tăng; diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do đô thịhóa, công nghiệp hóa
Ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, an ninh lương thực được coi làmục tiêu hàng đầu Kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc cải cách nềnkinh tế, nhờ việc phát triển đúng hướng các ngành kinh tế, trong đó đẩy mạnhphát triển nông nghiệp và sản xuất lương thực- thực phẩm với mục tiêu đẩylùi nạn đói nghèo, mưu sinh bền vững và nâng cao mức sống cho người dân
An ninh lương thực và mưu sinh bền vững quốc gia đã được thiết lập và đạtđược nhiều thành công Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã tiếntới đứng hàng thứ hai trên Thế giới về xuất khẩu lúa gạo và đã thoát khỏidanh sách những quốc gia có mức thu nhập thấp và đứng vào hàng nhữngquốc gia có mức thu nhập trung bình
Tuy nhiên, mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và sinh kế bền vữngcho mọi người, cho mọi đối tượng còn nhiều hạn chế Đặc biệt, một bộ phậndân cư các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người vẫncòn tình trạng thiếu đói, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo so với khu vựcvùng thấp và đô thị không những không được rút ngắn mà có nguy cơ ngàycàng giãn rộng
Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào
Trang 6Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, Phú Thọ, Bắc Giang, trung tâm
29% diện tích toàn quốc), tổng dân số năm 2011 là 11.290.500 người (chiếm12,85% dân số cả nước (trong đó có 40% là người dân tộc thiểu số), mật độkhoảng 119 người/km²
Đây là vùng địa hình, khí hậu phức tạp và được xác định là vùng có tiềmnăng lớn về phát triển nông lâm nghiệp Trong những năm qua, nông lâmnghiệp của vùng này có nhiều thay đổi nhờ các chính sách hỗ trợ phát triểncủa của nhà nước và địa phương Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ dân trí,điều kiện địa lý, giao thông và tập quán canh tác lạc hậu… nên vùng Trung
du, miền núi phía Bắc vẫn là vùng chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo khá cao( năm 2011 là 29,5%), thu nhập bình quân/người ở mức thấp so với mức thunhập trung bình toàn quốc Hiện nay, vùng đang phải tập trung giải quyếtnhiều lĩnh vực trong phát triển kinh tế như: Vấn đề an toàn lương thực và xoáđói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo tồn phát triển nguồn tàinguyên về đa dạng sinh học tiến tới sự phát triển bền vững Giải quyết vấn
đề trên cần có nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó việc phát triển cây trồng cógiá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh thái và trình độ canh tác củangười dân nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập cho người dân làvấn đề được ưu tiên hàng đầu
Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), họ Dong riềng
(Cannaceae) có nguồn gốc từ Nam mỹ được người Pháp giới thiệu và trồng ởnước ta vào đầu thế kỷ 19 Dong riềng là cây trồng sinh trưởng pháttriển mạnh, có khả năng thích ứng rộng, trồng được trên nhiều loại đất kể cảcác vùng đất nghèo dinh dưỡng, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bấtthuận đặc biệt là chịu hạn, năng suất củ tươi có thể đạt từ 45 - 60 tấn/ha, hàmlượng tinh bột 13,36- 16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và cs., 2010) Trên thực tế
Trang 7cây Dong riềng có thể cho năng suất củ tươi đạt từ 80 đến 150 tấn/ha và hàmlượng tinh bột đạt từ 19 đến 24% Do có hàm lượng tinh bột cao nên củ dongriềng thường được dùng để chế biến tinh bột, chăn nuôi gia súc, đặc biệt làđược sử dụng để làm miến dong, bánh đa, bánh mì, bánh bao, kẹo … Ngoài
ra, thân, lá dong riềng còn dùng cho chăn nuôi gia súc nên góp phần tận dụngthúc đẩy chăn nuôi phát triển Theo đánh giá của người dân, dong riềng dễtrồng, ít tốn công chăm sóc nên trồng dong riềng có hiệu quả kinh tế cao, lãixuất có thể đạt 50 – 60 triệu đồng/ha Trước kia do không thấy được giá trịcủa cây dong riềng nên chúng chủ yếu được trồng trên đất cằn cỗi, đất tậndụng mà các cây khác không phát triển được hoặc trên đất đồi núi Từ năm
1980 cây dong riềng đã được chú ý phát triển như là cây hàng hóa, có giá trịkinh tế Một số địa phương đã chuyển đổi dong riềng thành cây trồng hànghóa như Bắc Kạn, Sơn La, Hưng Yên, Hà Nội, Hòa Bình, Quảng Ninh,Đồng Nai
Hiện nay dong riềng không được đưa vào danh mục thống kê quốc gia,tuy vậy một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra con số ước đoán về diện tích dongriềng nước ta những năm gần đây vào khoảng 30 nghìn ha với các giống dongriềng lấy củ và dong riềng cảnh được trồng phổ biến khắp cả nước, từ vùngđồng bằng, trung du đến các vùng núi cao như tỉnh Lào Cai, Hà Giang, TuyênQuang, Bắc Kạn, Thái Nguyên Trong đó Bắc Kạn có diện tích trồng dongriềng năm 2012 là 1.800 ha, năm 2013 là 2940ha tập trung ở các huyện Na Rì,
Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông; Pác Nặm
Ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, dong riềng được trồng chủyếu trên đất dốc với phương thức canh tác nương rẫy truyền thống, không sửdụng biện pháp bảo vệ đất, nguy cơ thoái hoá đất xẩy ra ngày càng nghiêmtrọng Người dân thường trồng mật độ trồng không đồng đều, có nơi trồngquá thưa nên lãng phí đất, nơi lại trồng quá dày dẫn đến củ nhỏ, năng suất
Trang 8không cao Phân bón ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của dongriềng nhưng nông dân thường không bón phân hoặc bón phân theo hình thức
tự phát, không cân đối giữa đạm, lân, kali, đặc biệt phân hữu cơ hầu nhưkhông được sử dụng làm cho đất bị chai cứng, năng suất giảm nhanh sau 1 – 2
vụ trồng
Huyện Ba Bể nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tựnhiên là 68.412ha (bằng 14,1% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn) Nằm
độ Đông ranh giới hành chính của huyện như sau:
Trong phát triển sản xuất nông nghiệp, bên cạnh việc phát huy lợi thế đấtrừng để phát triển lâm nghiệp, lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát triển cácloại cây cao sản, có năng suất, chất lượng và đem lại giá trị kinh tế cao cũngđược chú trọng đầu tư phát triển như cây Dong riềng Cây Dong riềng là mộttrong những cây trồng có tiềm năng, năng suất cao, thích hợp với điều kiện tựnhiên của huyện Ba Bể, là cây trồng được chọn là cây xoá đói, giảm nghèo vàtiến tới làm giầu cho người dân Ba Bể
Cây Dong riềng ở Ba Bể đã được người dân trồng từ nhiều năm, nhưngviệc sản xuất Dong riềng hiện nay chủ yếu vẫn là dựa theo kinh nghiệm vàcanh tác theo phương thức truyền thống trồng trên đất nương rẫy, không sửdựng biện pháp bảo vệ đất, nguy cơ thoái hoá đất xẩy ra ngày càng nhiều,việc áp dụng những biện pháp kỹ thuật thâm canh còn hạn chế đặc biệt làkhông sử dụng phân bón và trồng không đảm bảo mật độ dẫn tới năng suất vàchất lượng sản phẩm dong riềng chưa cao Vì vậy, việc thực hiện đề tài
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và
năng suất của cây dong riềng tại huyện Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn” là cần thiết.
Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác câyDong riềng phù hợp cho người dân huyện Ba Bể để sản xuất dong riềng trên
Trang 9địa bàn huyện đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao tạo được vùng nguyênliệu phục vụ cho mục tiêu chế biến Dong riềng của huyện và tỉnh phát triển
- Xác định được mật độ trồng dong riềng hợp lý
- Xác định được lượng bón phân đạm phù hợp đối với cây dong riềngtrồng tại huyện Ba Bể
- Xác định được thời điểm thu hoạch phù hợp
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Xác định cơ sở khoa học cho việc định hướng khu vực trồng và pháttriển dong riềng theo hướng sản xuất chuyên canh
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu, vàchuyển giao cho sản xuất
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng vànăng suất của cây dong riềng tại huyện Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở xâydựng các biện pháp kỹ thuật trồng dong riềng, như: mật độ, phân bón thâmcanh tăng năng suất và chất lượng dong riềng để khuyến cáo, phát triển
mở rộng diện tích cây Dong riềng theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung
ổn định, bền vững góp phần xoá đói, giảm nghèo nâng cao đời sống chongười dân
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác cho giống dong riềngđịa phương trồng trên đất đồi (nương rẫy) và đất ruộng một vụ tại xã MỹPhương huyện Ba Bể
- Thời gian thực hiện 12 tháng từ tháng 02 năm 2012 đến tháng 02năm 2013
Trang 11Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng
1.1.1 Nguồn gốc
gốc ở Peru, Nam Mỹ Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở các nướcnhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới Nam Mỹ là trung tâm đa dạng của dongriềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi là những nơi trồng và sử dụng dongriềng nhiều nhất (Cecil, 1992; Hermann, 1999) Dong riềng được gọi bằngmột số tên khác nhau như Queenland Arrowroot, Canna Indica (L.), CannaEdulis (Kerr- Gawl) (Cecil,1992)
Dong riềng được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩn là chính(Mai Thạch Hoành và cs, 2011) Hiện nay, người ta đã xác định được 7 loàidong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington vàJanaki, 1945) đó là:
- Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới,
- C Flauca ở Tây Ấn và Mêhico,
- C flaccida ở Nam Mỹ,
- C edulis ở châu Mỹ nhiệt đới,
- C Indica ở châu Mỹ nhiệt đới,
- C.libata ở Braxin,
- C.humilis ở Trung Quốc
Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới cókhí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng ditruyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng nhiều ở cácnước châu Á, châu Phi, Châu Úc
Trang 121.1.2 Phân loại cây dong riềng
- Tên khoa học: Canna Edulis Ker
- Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea
- Bộ: Scitaminales
Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội2n = 2X = 27
1.1.3 Phân bố và các giống dong riềng
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nướcvùng Nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương Tại châu Á,dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và ĐàiLoan (Hermann, M et al 2007)
1.1.4 Đặc điểm thực vật học của cây dong riềng
Là loại cây thân thảo đứng, cao từ 1,2 – 1,5m, màu tía Thân ngầmphình to thành củ, chứa nhiều tinh bột Củ nằm ngay dưới mặt đất Lá hìnhthuôn, dài 50- 60cm, rộng 25-30cm có gân to chính giữa lá.Thời gian sinhtrưởng 10 - 12 tháng: 1 tháng đầu (từ khi cây mọc) là thời kỳ cây con; 5 thángtiếp theo là thời kỳ cây đẻ nhánh phát triển hoàn chỉnh về thân lá; 4 - 5 thángcuối là thời kỳ củ phình to, tích luỹ tinh bột Thời kỳ này được nhận biết từkhi dong riềng đẻ nhánh đông đặc kín đất và cây bắt đầu ra hoa Sau 12 thángcây sinh trưởng trở lại khi đó củ non nảy mầm, hàm lượng tinh bột trong củchính sẽ giảm dần Cụ thể:
Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ.
Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể caotrên 2,5m Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím Thân gồm những lóngkéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ.Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bìgồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những
Trang 13bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ
và trong cùng là nhu mô
Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể
đạt chiều dài 60 cm Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột,thân rễ nằm trong đất; Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới
ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần; Trên mỗi đốtcủa thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phânchia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3 Vỏ của thân có thể có màu trắng,vàng kem đến màu tía hồng Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vàogiống và điều kiện chăm bón Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của
củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có những bócương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô chứa ítmột số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu môchứa nhiều hạt tinh bột So với thân khí sinh thân rễ có ít bó cương mô hơn.Năng suất cây dong riềng rất cao Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khómdong riềng có thể thu được 15 – 20kg củ Trồng thâm canh trên diện tích lớndong riềng cho năng suất 50 – 60 tấn/ha
Lá: Lá dong riềng gồm phiến lá và cuống lá với bẹ lá ở phía gốc, lá của
cây dong riềng thuôn dài, mặt trên của lá có màu xanh hoặc xanh lục xen tím,mặt dưới màu xanh hoặc màu tím Lá dài khoảng 35 – 60 cm và có chiều rộng
22 – 25cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng mầutím đỏ hoặc màu trắng trong; Phiến lá có gân giữa to, gân phụ song song, cómàu xanh hoặc tím đỏ; Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân có chiều dài khoảng 8 –
15 cm
Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, rất phát triển; Rễ mọc từ
các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì ở đốt thân củ phát triển ra thành rễ Rễ
của cây dong riềng phát triển liên tục phân thành rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (tùy
Trang 14thuộc vào giống) Do củ phát triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất
khoảng 20 - 30cm
Hoa: Hoa dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, Hoa mọc ở
ngọn cây Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều Cụm hoa được baobởi một mo chung như hoa chuối Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có từ 6– 8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có 1 hoa
Cấu tạo hoa gồm có 3 lá đài hình cánh rời nhau, 3 cánh hoa dài thoncuộn theo chiều dài Hoa có 5 nhị đực, ngoài có 3 nhị thì 2 nhị biến thành bảnhình cánh hoa, 1 nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước Vòng trong có 2nhị, trong đó 1 nhị thì chỉ còn vết, nhị kia thì một nửa cánh mang 1 bao phấn,nửa còn lại cũng biến thành hình cánh Tất cả các nhị đều có màu sắc sặc sỡ,màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ Bầu hoa có 3 ô,mỗi ô có từ 6 – 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết mùi Thời gian từ nụ đến
nở hoa từ 3 – 5 ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài;Hoa nở vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày
Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng qủa nang, hình trứng ngược,
kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều dai mềm
Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 – 5
mm Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 - 13g
1.1.5 Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng
Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25-30oC, điều kiện ấm
áp dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và đẩynhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quátrình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ Tuy nhiên cây dong riềng chịu
Trang 15Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể
trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng Vì vậyrất thuận lợi cho việc trồng xen với các loại cây khác trong hệ thống canh tácđất dốc bền vững Ngày dài có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành củ Điềukiện ngày ngắn, cường độ ánh sáng mạnh thúc đẩy sự hình thành phát triển
củ, trong khi ngày dài lại thúc đẩy sự phát triển thân lá
Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất không khắt khe
so với cây trồng khác, nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau Tuynhiên trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suấtcao Dong riềng là loại cây chịu úng kém do vậy đất trồng dong riềng phải lànơi dễ thoát nước Đất đọng nước làm cho bộ rễ hô hấp kém có thể dẫn đếnthối củ Là cây có độ che phủ rất lớn trong suốt mùa mưa nên có thể trồngtrên đất dốc núi cao
Yêu cầu nước: Dong riềng có đặc điểm chịu hạn tốt, có thể bố trí trên đất
ngập úng cây thường bị vàng lá, thối củ Vùng trồng dong riềng ở vùng cólượng mưa thích hợp 900- 1200 mm
Chất dinh dưỡng: Cũng như các cây có củ khác, dong riềng yêu cầu có
đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng NPK, trong đó K có ý nghĩa trong việc tăngkhối lượng củ Cây dong riềng yêu cầu đất tốt giàu mùn để cho năng suất cao.Những nơi đất quá cằn cỗi cần bón thêm phân hữu cơ Phân bón rất có ýnghĩa trong việc tăng năng suất củ của cây dong riềng
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nướcvùng nam Mỹ, châu Phi, châu Á và một số nước nam Thái Bình Dương Diệntích dong riềng trên thế giới khoảng 3.000.000 ha Năng suất trung bình đạt
30 tấn/ha Châu Phi là châu lục có diện tích trồng dong riềng lớn nhất thế
Trang 16Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, nam TrungQuốc, Úc, và Đài Loan (Hermann, M et al 2007) Trung Quốc là nước códiện tích dong riềng lớn nhất châu Á
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam
Cây dong riềng chưa được đưa vào các báo cáo số liệu chính thức củangành Thống Kê, tuy nhiên trong những năm gần đây dong riềng đang đượcphát triển mạnh ở nhiều địa phương, như: Trảng Bom, Đồng Nai; Hướng Hóa,Quảng Trị; Tam Đường, Sơn La; Bình Liêu, Quảng Ninh; Nguyên Bình, CaoBằng; Bắc Kạn; Tuyên Quang; Hà Giang; Hòa Bình; Cây dong riềng đãthực sự trở thành cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, được người nôngdân lựa chọn để làm cây trồng xóa đói giảm nghèo Không chỉ diện tích trồngdong riềng phát triển mở rộng ra nhiều địa bàn mà các sản phẩm chế biến từtinh bột dong riềng cũng đã được nhiều địa phương quan tâm đầu tư, nhưQuảng Ninh, Bắc Kạn đã xây dựng thương hiệu cho sản phẩm miến dong vàđược Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa Học công nhận
Diện tích dong riềng của Việt Nam đạt khoảng 30.000 ha/năm Sảnlượng hàng năm đạt khoảng 450.000 tấn củ tươi Dong riềng được trồng ởnhững chân đất khô hạn, trên đất dốc Các tỉnh trồng nhiều dong riềng để sửdụng làm miến là Hà Nội, Hưng Yên, Hòa Bình và Đồng Nai Tại nhữngvùng có diện tích trồng đáng kể, dong riềng hầu hết được chế biến thành tinhbột, sau đó làm miến (N K Quỳnh và T V Hộ, 1996) Tuy nhiên, các quytrình chế biến miến dong ở nước ta hiện nay vẫn mang tính thủ công chưađảm bảo chất lượng và chỉ có một số ít nhà máy sử dụng tinh bột dong để sảnxuất miến ăn liền Dong riềng hiện nay được chế biến với khối lượng lớn chủyếu tại một số làng nghề tại Quốc Oai, Hoài Đức, Ba Vì (Hà Nội), Trảng Bom(Đồng Nai), Yên Mỹ, Khoái Châu (Hưng Yên) Nhu cầu sử dụng miến ngày
Trang 17càng tăng, trong khi đó nguồn nguyên liệu cho chế biến lại chưa đủ nên hàngnăm nước ta vẫn phải nhập hàng ngàn tấn tinh bột dong ẩm từ tỉnh Vân Nam,Trung Quốc.
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Bắc Kạn
Nằm trong khu vực Trung du miền núi phía bắc, Bắc Kạn là tỉnh có địahình phức tạp, độ dốc cao, đất sản xuất nông nghiệp ít và manh mún, chủ yếuđất lâm nghiệp và đất đồi núi Trong những năm qua tỉnh Bắc Kạn đã banhành nhiều chính sách tập trung phát triển nông nghiệp Tại Nghị quyết Đạihội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ X, nhiệm kỳ 2010 – 2015 xác định: “Tiếptục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 7 ( khóa X) về nông nghiệp,nông dân, nông thôn, từng bước xây dựng nông thôn mới theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động tạo sựchuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của người dân, nhất là việc chuyển dịch
cơ cấu sản xuất nông – lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng caogiá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác Xây dựng và nhân rộng các
mô hình sản xuất nông – lâm nghiệp hàng hóa đạt giá trị thu nhập 50 – 70triệu đồng/ha … phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng và nhu
cầu thị trường” [ trích Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần
thứ X, trang 96- 97] Thực hiện hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, các
Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ năm 2011, 2012 đều xác định mụctiêu và giao nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể phát triển cây dong riềng trở thành câytrồng hàng hóa trong sản xuất nông – lâm nghiệp của tỉnh Hội đồng nhân dântỉnh ban hành Nghị quyết số 22/2011 về các chính sách hỗ trợ phát triển sảnxuất cây dong riềng Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo nhiều biện pháp để pháttriển sản xuất và chế biến đối với cây dong riềng như, lồng ghép vốn cácchương trình dự án, vốn ngân sách của tỉnh để hỗ trợ giống, lãi suất vay phân
Trang 18bón trả chậm, hỗ trợ các hợp tác xã các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sởchế biến; tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ cho sản xuất và chế biến;xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm trí tuệ tập thể đối với sản phẩmmiến dong Bắc Kạn; Tham gia các hội chợ thương mại quảng bá giới thiệusản phẩm dong riềng đến các thành phố lớn
Cây dong riềng là cây trồng phù hợp và có khả năng phát triển ở BắcKạn và cho hiệu quả kinh tế cao Thực hiện các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạoquyết liệt, sản xuất dong riềng đã tăng cả về diện tích trồng và quy mô chếbiến: năm 2010, toàn tỉnh trồng được 270 ha, năng suất 100 tấn/ha, năm 2011trồng được 551 ha (tăng 2 lần so với 2010), sản lượng đạt 51.000 tấn củ, năm
2012, diện tích trồng dong riềng của tỉnh tăng lên 1.800 ha (tăng 2,4 lần sovới 2011), năm 2013 diện tích dong riềng toàn tỉnh là 2.940ha
Để cây dong riềng phát triển bền vững, tỉnh Bắc Kạn tiếp tục tiến hànhđồng loạt nhiều giải pháp, như: quy hoạch vùng trồng dong riềng, thực hiệncác đề tài nghiên cứu để xây dựng quy trình kỹ thuật phù hợp với từng vùng,từng loại đất đưa vào áp dụng trong sản xuất, đặc biệt giải quyết đầu ra chosản phẩm dong riềng, phát triển các cơ sở chế biến dong riềng luôn được tỉnhchú trọng Đến hết năm 2013 trên địa bàn tỉnh với gần 90 cơ sở chế biến, tiêuthụ sản phẩm dong riềng với quy mô từ 5 đến 150 tấn dong riềng/ngày Tuynhiên với diện tích trồng gần 3000ha năm 2013, khả năng chế biến của toàn
bộ các cơ sở trên địa bàn tỉnh chỉ đáp ứng được 70-80% sản lượng củ thuhoạch Hiện nay tỉnh đang tập trung thực hiện chính sách hỗ trợ để khuyếnkhích một số cơ sở nghiền tinh bột và chế biến miến thành lập mới, các cơ sở
mở rộng quy mô sản xuất để đảm bảo tiêu thụ được hết sản lượng củ dongriềng cho người dân
Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến nay đã có một số cơ sở chế biến tinh bột
và miến dong riềng ở quy mô khá và hiện đại, như: Cơ sở Nhất Thiện tại xã
Trang 19Mỹ Phương, huyện Ba Bể sản xuất 60 tấn củ và 1,5- 1,8 tấn miến/ ngày; Công
ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Giang tại xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể sản xuất
150 tấn củ và 2,5 – 3 tấn miến/ngày; Cơ sở sản xuất miến dong Tân Sơn,Thác Riềng sản xuất 0,5 – 0,6 tấn miến/ngày; HTX miến dong Côn Minh,Kim Lư, Cư Lễ, Lạng San huyện Na Rì sản xuất khoảng 1,2 – 1,5 tấnmiến/ngày; ngoài ra còn nhiều cơ sở sản xuất nhỏ khác
Sản phẩm miến dong tỉnh Bắc Kạn, đã được bảo hộ nhãn hiệu sản phẩmtrí tuệ tập thể, là một loại hàng hóa có giá trị, có uy tín trên thị trường khôngchỉ được thị trường trong nước ưa chuộng, tin dùng vì chất lượng đặc biệt mà
đã bước đầu vươn ra xuất khẩu ra thị trường ngoài nước (cơ sở miến dongNhất Thiện cung cấp cho 2 doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh 15tấn/tháng để cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu)
Với kết quả đạt được là nhãn hiệu sản phẩm trí tuệ tập thể sẽ là cơ hội tốt
để bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng, cũng như quảng
bá sản phẩm để có thương hiệu và thị trường tiêu thụ ngày càng lớn hơn Từ
đó, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, tạo việc làm và tăng thu nhập chonhiều lao động tại địa phương, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, góp phầnvào công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và thực hiện chươngtrình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới Đồng thời cũng đặt rayêu cầu để bảo vệ được thương hiệu sản phẩm, tỉnh Bắc Kạn cần tăng cườngmạnh công tác tuyên truyền và các giải pháp quản lý, kỹ thuật để gắn kết giữanhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân cùng xây dựng, bảo vệ
và phát triển nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm đặc thù của địa phương
1.2.4 Tình hình sản xuất Dong riềng tại Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Người dân Ba Bể đã trồng cây dong riềng từ khá lâu, khoảng từ nhữngnăm 1985 Ban đầu cây dong riềng chỉ được trồng ở hai thôn người dân tộckinh ở Thái Bình lên khai hoang, đó là thôn Bản Lạ, xã Yến Dương và thôn
Trang 20Tiền Phong, xã Địa Linh Mục đích những năm đầu người dân trồng giốngdong đỏ địa phương trong vườn nhà để ăn củ, sau đó đã tìm được đầu mối tiêuthụ tinh bột người dân đã mở rộng diện tích, trồng chủ yếu trên nương rẫy vàchế biến tinh bột theo phương pháp thủ công để cung cấp tinh bột cho khuvực làng nghề chế biến miến xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây
cũ và xã Phú Cường, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Đến năm 2003 diện tích cây dong riềng toàn huyện là 534ha, nhưng dongười dân đã canh tác liên tục nhiều năm mà không có biện pháp bón phân vàphòng trừ sâu bệnh nên năng suất giảm rất nhiều thậm trí nhiều diện tích mấttrắng Vì vậy diện tích trồng cây trồng này trên địa bàn huyện đã giảm hẳn chỉcòn giao động trong khoảng từ 30 đến 50ha/năm
Từ năm 2008, trên địa bàn huyện đã hình thành một số cơ sở sản xuất miếnquy mô hộ gia đình, trong đó điển hình là cơ sở miến Nhất Thiện với công xuất1,5 – 1,8 tấn miến/ ngày, có chất lượng tốt được thị trường ưa chuộng
Từ năm 2010 tỉnh Bắc Kạn xác định phát triển cây dong riềng là câytrồng hàng hóa để giảm nghèo trên địa bàn toàn tỉnh, diện tích cây Dong riềng
đã tăng dần Đến năm 2011 huyện Ba Bể đã trồng 105ha Năm 2012 diện tíchtrồng là 470ha ( Yến Dương 134ha, Mỹ Phương 118ha) Năm 2013 diện tíchtrồng là 870 ha
- Về diện tích, năng suất và sản lượng: Theo kết quả điều tra diện tíchthống kê trồng Dong riềng của huyện Ba Bể trong ba năm gần đây (từ năm
2011 đến năm 2013) như sau:
Diện tích, năng suất, sản lượng dong riềng huyện Ba Bể năm 2011 – 2013
Trang 21Diện tích trồng Dong riềng chủ yếu trên đất nương rẫy, canh tác theophức thức truyền thống chiếm trên 90% Trên đất ruộng, soi bãi, vườn nhà cókhoảng 10% có được đầu tư phân bón Tuy nhiên lượng phân bón đầu tư cònthấp và phụ thuộc vào từng hộ gia đình.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có công bố kết quả của chương trìnhnghiên cứu nào về cây Dong riềng đối với các biện pháp kỹ thuật canh tácphù hợp với điều kiện sản xuất tỉnh Bắc Kạn
1.3 Các kết quả nghiên cứu về cây dong riềng trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Các kết quả nghiên cứu về cây dong riềng trên thế giới.
Nghiên cứu về dong riềng ở các nước còn nhiều hạn chế Theo Hermann
và CS (năm 2007) cây dong riềng là loài cây triển vọng cho hệ thống nônglâm kết hợp vì nó có những đặc điểm quí như chịu bóng râm, trồng đượcnhững nơi khó khăn như thiếu nước, thời tiết lạnh Củ dong riềng có nhiềucông dụng: Luộc để ăn, làm bột, nấu rượu Bột dong riềng dễ tiêu hoá nên cóthể làm nguồn thức ăn rất tốt cho trẻ nhỏ và người ốm Bột dong riềng có thểdùng làm hạt trân châu, miến, bánh đa, bánh mì, bánh bao, mì sợi, kẹo và thức
ăn chăn nuôi Đối với miền núi, những nơi kinh tế còn khó khăn, dong riềngcũng là cây có thể đảm bảo an ninh lương thực Trong thân cây dong riềng cósợi màu trắng, có thể được sử dụng để chế biến thành sợi dệt thành các loạibao bì nhỏ Củ dong riềng có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi, tuy nhiên cả củ,thân, lá đều dùng được vào mục đích này
Những vùng có truyền thống trồng dong riềng chế biến thành bột thì bã
có thể dùng để nấu rượu, nấu rượu xong có thể dùng bã rượu (hèm) phục vụchăn nuôi Bã thải của chế biến tinh bột cũng có thể ủ làm phân bón cho câytrồng và làm giá thể trồng nấm ăn Ngoài ra, hoa dong riềng có màu sắc sặc
sỡ , bộ lá đẹp nên cũng có thể sử dụng dong riềng làm cây cảnh trong vườn
Trang 22Ở Ecuador, dong riềng được trồng trên đất cát pha, ở độ cao 2340m trên
đầu người ta trồng xen với khoai tây, sau 12 tháng thu hoạch cho năng suất củtrung bình 56 tấn/ha, chỉ số thu hoạch 56+8%
Nghiên cứu đánh giá 26 mẫu giống dong riềng từ ngân hàng gen dongriềng quốc tế của CIP tại Ecuador, trong nhà lưới ở độ cao 2400m, biên độ 12-
CS đã thu được kết quả rất thú vị Năng suất củ tươi đạt từ 17-96 tấn/ha, hàmlượng tinh bột trong củ tươi đạt 4-22% và đạt 12-31% qui về chất khô, hàmlượng đường hòa tan trong củ tươi là 5-11 độ Brix
Nhóm tác giả trong công bố của mình đã kết luận, mặc dù hàm lượngtinh bột trong củ dong riềng thấp nhưng do năng suất củ rất cao nên vẫn cónăng suất tinh bột đạt 2,8-14,3 tấn/ha và chỉ số thu hoạch cao nên dong riềng
là cây tăng thu nhập của nông dân nghèo ở các vùng cao nhiệt đới Tuy nhiêncho đến nay, tại các nước có trồng dong riềng thì vẫn chưa được quan tâmnghiên cứu Ở châu Á, Trung Quốc và Việt Nam là những nước trồng và sửdụng dong riềng hiệu quả nhất (Hermann, M et al 2007)
Hiện nay trên thế giới chọn tạo giống dong riềng chủ yếu chọn lọc từnguồn gen hoang dại, sau đó tiến hành cải tiến nguồn gen để chọn lọc giốngmới Nhưng cũng có một số ít công trình đã nghiên cứu chọn giống dongriềng bằng chỉ thị phân tử
1.3.2 Các kết quả nghiên cứu về cây dong riềng ở Việt Nam
Dong riềng có nhiều tên địa phương khác nhau như khoai chuối, khoailào, dong tây, củ đao, khoai riềng, củ đót, chuối nước
Dong riềng được nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ 19 Năm 1898, ngườiPháp đã trồng thử dong riềng ở nước ta nhưng công việc đã bị dừng lại vì thời
Trang 23đó chưa biết cách chế biến tinh bột dong riềng (Lý Ban, 1963) Từ năm 1961đến 1965 một số nghiên cứu về nông học với cây dong riềng đã được thựchiện tại Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp (INSA) nhằm mục đích mở rộngdiện tích dong riềng, tuy nhiên vấn đề trồng dong riềng vẫn không được quantâm vì thiếu công nghệ chế biến và tiêu thụ thấp Từ năm 1986 do nhu cầu sảnxuất miến từ bột dong riềng ngày càng tăng nên diện tích loại cây này đãđược người dân tự phát mở rộng Những địa phương trồng dong riềng vớidiện tích lớn là Hoà Bình, Ngoại thành Hà Nội, Sơn La, Lai Châu, ThanhHoá, Hưng Yên, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Đồng Nai
Dong riềng có sức sống rất mạnh, có khả năng thích nghi cao với điềukiện ngoại cảnh, có sức chống chịu tốt với sâu bệnh Cây không có nhu cầunhiều về ánh sáng nên có thể sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng Câydong riềng có khả năng chống chịu tốt nhiệt độ thấp, có thể trồng ở những nơi
mà khoai lang, sắn không trồng được Hơn nữa, dong riềng còn là cây trồng
dễ tính, yêu cầu đất không nghiêm khắc nên có thể trồng trên nhiều loại đất
cho năng suất củ cao Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm có thể thu được
15-20 kg Trồng trên diện tích lớn dong riềng có thể cho năng suất đạt tới 45-75tấn củ/ha nếu thâm canh Với những đặc điểm này, dong riềng đã trở thànhmột loại mặt hàng có nhiều triển vọng phát triển ở vùng miền núi nước ta, cóthể phát triển cây dong riềng trên một phạm vi rộng lớn ở nhiều vùng để tăngnguồn vật liệu cho sản xuất ngành hàng miến, tinh bột và các sản phẩm khác(Nguyễn Ngọc Huệ, Đinh Thế Lộc, 2005)
Dong riềng có nhiều đặc tính sinh học quý như kích thước hạt tinh bộtlớn nhất trong nhóm cây có củ, tới 150 micron (tinh bột sắn là 35 micron).Điều này giúp cho việc tách chiết tinh bột dong riềng dễ dàng hơn so với một
Trang 24số cây có củ khác Hàm lượng amiloza trong tinh bột dong riềng cao đạt từ38% - 41%, gần bằng hàm lượng amiloza trong tinh bột đậu đỗ (46% - 54%)(Lê Ngọc Tú và cs., 1994) Điều này làm cho sợi miến dong riềng dai và giòntương tự miến đỗ xanh, trong khi giá thành miến dong chỉ bằng một nửa sovới miến đậu xanh Đây là lợi thế canh tranh của miến dong so với miến đậuxanh Dong riềng chế biến thành bột lãi gấp 2-3 lần trồng lúa trong điều kiệnkhó khăn.
Dong riềng đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc xoá đói,giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn miền núi.Trong những năm qua, sản xuất dong riềng và các sản phẩm chế biến đã thuhút nhiều ngày công lao động của nông dân, thợ thủ công, góp phần tạo việclàm cho nhiều người lao động, đồng thời đã góp một phần quan trọng trongviệc nâng cao nguồn thu cho người sản xuất
Dong riềng là cây tăng thu nhập cho nông dân tại một số vùng sinh tháiđặc thù như nơi đất khô hạn (vùng đồi núi của Huế, Sơn Tây), đất dốc, khíhậu lạnh như Mộc Châu, Sơn la, Hòa Bình Tuy nhiên trong những năm gầnđây do không có sự đầu tư về chọn lọc, phục tráng giống cũng như các kỹthuật canh tác phù hợp, các giống dong riềng có tiềm năng và chất lượng caođang bị suy giảm Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng làmcho diện tích trồng dong riềng đang có xu hướng giảm khiến cho nguồn cungcấp nguyên liệu ngày càng bị cạn kiệt trong khi nhu cầu tiêu dùng các sảnphẩm của nó vẫn không ngừng tăng lên ở Việt Nam cũng như trên thế giới Tại Việt Nam trong những năm 60 cây dong riềng đã được một số tác giảnghiên cứu về đặc điểm thực vật học, giải phẫu lá và một số biện pháp kỹthuật trồng (Bùi Công Trừng, Nguyễn Hữu Bình, 1963; Tổ nghiên cứu cây cócủ., 1969) Theo Mai Thạch Hoành (2003), nước ta thường trồng 3 nhómgiống: Nhóm dong đỏ, nếu thâm canh tốt năng suất đạt 40 tấn/ha, bột ướt
Trang 25chiếm 27% củ tươi, thời gian sinh trưởng 8,5 – 10 tháng; Nhóm dong xanhnăng suất đạt 40-42 tấn/ha nếu thâm canh tốt, bột ướt chiếm từ 25 – 27% củtươi, thời gian sinh trưởng 9-12 tháng; Nhóm Việt-CIP năng suất đạt trên diệntích nhỏ thâm canh có thể tới 60 tấn/ha, bột ướt chiếm 23% củ tươi, thời giansinh trưởng 7,5 tháng Những năm 1993-1994, Trung tâm Nghiên cứu khoaitây rau, nay là Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây có củ với sự hợp táctài trợ của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển quốc tế Canada (IDRC), đãbước đầu thu thập nguồn gen dong riềng tại nhiều vùng sinh thái trong cảnước, đây là cuộc thu thập có quy mô lớn nhất và rộng nhất từ trước đến nay.Hiện tại Ngân hàng gen cây trồng quốc gia có 71 mẫu giống dong riềng gồm
cả địa phương và nhập nội từ CIP, tuy nhiên vẫn chưa khai thác hiệu quả tàinguyên này do điều kiện kinh phí hạn hẹp chỉ đủ cho hoạt động bảo quản lưugiữ và đánh giá ban đầu (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và Cs, 2006)
Về kỹ thuật trồng dong riềng đạt năng suất cao, Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn tỉnh Bắc Kạn khuyến cáo: Thời vụ trồng dong riềng từ tháng 1đến tháng 3 dương lịch, tốt nhất là tháng 2 Mật độ từ 1,6 – 2,5 vạn cây, hàngcách hàng 0,8 – 1 m, cây cách cây 0,5 – 0,6 m Phân bón: 15 – 25 tấn phânhữu cơ + 200 – 400 kg đạm + 500 – 650 kg lân + 200 kg kali Phân hữu cơ vàlân bón 1 lần trước khi trồng, phân đạm bón 3 lần (trước trồng, sau trồng 1 và
4 – 5 tháng), kali bón 2 lần (sau trồng 1 và 4 – 5 tháng) Làm cỏ và vun gốc 3lần (sau mọc 1, 2 và 4 – 5 tháng) Thu hoạch sau trồng 10- 11 tháng, nếu thusớm củ non giảm năng suất và hàm lượng tinh bột, nếu thu muộn cây có thể ramầm mới làm giảm hàm lượng tinh bột
Theo Nguyễn Thiếu Hùng (2012), dong riềng có thể trồng quanh năm trừnhững tháng quá nóng hoặc quá rét, nhưng thích hợp nhất là từ tháng 2 đếntháng 5 Dong riềng có thể trồng trên rất nhiều loại đất, từ đất bạc màu, đấtđồi núi, đất mặn… nhưng tốt nhất là đất xốp, nhiều mùn Nếu trồng dong
Trang 26riềng trên đất đồi núi, đất đá, bãi thoát nước thì không cần phải làm đất màsau khi dọn cỏ, bổ hốc đường kính khoảng 20cm, sâu khoảng 20 đến 25cmsau đó mới trồng Trồng trên đất ruộng, vườn, bãi đọng nước thì cần lên luốngrộng 1,4 đến 2m; cao 15cm- 20cm và rãnh rạch ngang luống sâu khoảng15cm Mật độ trồng từ 4 đến 5 vạn cây/ha, khoảng cách khóm cách khóm là
45 đến 50 cm, hàng cách hàng: 50 cm, nếu trồng xen với ngô và đậu tương thìgiảm mật độ trồng Lượng phân bón: 10 đến 15 tấn phân hữu cơ + 200 kg N +
xới đất và vun nhẹ vào gốc; sau trồng 4 tháng bón lượng phân còn lại kết hợpvới vun cao gốc Thu hoạch để ăn tươi sau khi trồng 6 đến 8 tháng, còn thuhoạch để chế biến tinh bột phải sau trồng 10 đến 12 tháng
Như vậy trên thế giới và ở Việt nam có rất ít các công trình nghiên cứu
về cây dong riềng, đặc biệt là chưa có nghiên cứu xây dựng quy trình canh táctổng hợp và bền vững cho vùng Trung du và miền núi phía Bắc Vì vậy việcđiều tra, thu thập, đánh giá và tuyển chọn một số giống dong riềng có năngsuất, chất lượng cao và quy trình kỹ thuật phù hợp với những điều kiện sinhthái vùng Trung du và miền núi phía Bắc được coi là một giải pháp quantrọng góp phần vào công tác xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn miền núi đồngthời từng bước phát triển sản xuất dong riềng tại vùng khô hạn ở Việt Nam
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn
tỉnh Cao Bằng, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp tỉnh TháiNguyên và phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang Dân số tỉnh theo điều tra dân sốngày 01/04/2009 là 294.660 người, là tỉnh ít dân nhất cả nước
Tỉnh Bắc Kạn có 1 thị xã và 7 huyện, bao gồm 112 xã, 4 phường và 6
Trang 27thị trấn.
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi cao, địa hình bị chi phối bởi những dãynúi vòng cung quay lưng về phía đông xen lẫn với những thung lũng BắcKạn có thể phân thành 3 vùng như sau:
Chợ Đồn, Pác Nặm, Ba Bể chạy theo hướng vòng cung tây bắc–đông
cao nhất là Phia Bióoc - 1578m
chạy theo hướng bắc-nam, mở rộng thung lũng về phía đông bắc
Bắc Kạn Là tỉnh vùng núi cao, có địa hình phức tạp, cơ sở vật chất vàkinh tế chưa phát triển Tuy nhiên những năm gần đây tỉnh Bắc Kạn đã có 1
số bước phát triển đáng kể Một số chỉ tiêu kinh tế của tỉnh năm 2011: Tổnggiá trị gia tăng (theo giá cố định 1994) ước đạt 1.477.155 triệu đồng, tăng13% so với năm 2010 (kế hoạch 13,5%), trong đó: Khu vực kinh tế nông,lâm, ngư nghiệp đạt 551.839 triệu đồng, tăng 11,36% (kế hoạch 7,5%); khuvực kinh tế công nghiệp - XDCB đạt 298.426 triệu đồng, tăng 2,64% (kếhoạch 23%); khu vực kinh tế các ngành dịch vụ đạt 626.890 triệu đồng, tăng20,29% (kế hoạch 14%) Tổng giá trị gia tăng (theo giá thực tế) ước đạt4.349.665 triệu đồng, tăng 22,81% so với năm 2010 Thu nhập bình quân đầungười đạt 14,6 triệu đồng, tăng 2,7 triệu đồng so với năm 2010 Cơ cấu kinhtế: Khu vực nông - lâm nghiệp chiếm 42%; khu vực công nghiệp - xây dựng
cơ bản chiếm 14,2%; khu vực dịch vụ chiếm 43,8% So với cùng kỳ năm
Trang 282010, khu vực kinh tế nông - lâm nghiệp tăng 3,5%, công nghiệp - xây dựnggiảm 3%; dịch vụ tăng 0,4% Các chương trình, dự án, mô hình giảm nghèotiếp tục được các cấp, ngành, đoàn thể tổ chức thực hiện hiệu quả Tỷ lệ hộnghèo năm 2011 con 26,52%.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có 37.798 ha đất sản xuất nôngnghiệp, chiếm 7,76% diện tích tự nhiên Bình quân diện tích đất sản xuất
Bắc Kạn có 333.058 ha đất lâm nghiệp, chiếm 68,41% diện tích tựnhiên Bình quân diện tích đất lâm nghiệp là 1,11 ha/người cao hơn mức bìnhquân chung của cả nước (0,15 ha/người)
Bắc Kạn có thế mạnh phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biếnkhoáng sản, vật liệu xây dựng, nông lâm nghiệp và du lịch
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - huyện Ba Bể
Huyện Ba Bể nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tựnhiên là 68.412ha (bằng 14,1% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn) Nằm
độ Đông ranh giới hành chính của huyện như sau:
Phía Bắc giáp huyện Pác Nặm và tỉnh Cao Bằng
Phía Nam giáp huyện Bạch Thông
Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn
Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn và tỉnh Tuyên Quang
* Về địa hình:
Huyện có địa hình đặc trưng miền núi cao, bị chia cắt mạnh, có độ dốclớn, hướng núi không đồng nhất Độ cao trung bình trên 600m so với mặt
Trang 29nước biển, nơi có địa hình cao nhất là 1.571m (đỉnh Phja Bjoóc), nghiêng dầntheo hướng Đông Bắc – Tây Nam và có thể chia làm 3 dạng địa hình chính.
* Về đất đai:
- Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn huyện khoảng 6770ha,chiếm 9,9% tổng diện tích tự nhiên
- Đất lâm nghiệp toàn huyện là 54.876ha
* Về dân cư, lao động:
Huyện Ba Bể có 5 dân tộc chính cùng sinh sống trên 16 đơn vị hànhchính xã, thị trấn (202 thôn bản) gồm Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùng với10.052 hộ khoảng 47.000 người Trong đó dân số nông thôn khoảng 43.545
* Về phát triển kinh tế:
Sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản vẫn là ngành kinh tế chủ lực và cóđóng góp quan trọng nhất vào tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn huyện.Sản lượng lương thực có hạt năm 2011 đạt trên 27.000 tấn, bình quânlương thực đầu người đạt 630kg/người/năm Thu nhập bình quân trên 1ha đạtkhoảng 30 triệu đồng, mô hình nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích đangđược phát triển rộng khắp trong toàn huyện, một số cánh đồng thu nhập đạt từ
50 – 70 triệu đồng trên 1ha
Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 7 - 8 triệu đồng/người/năm
Tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 còn 29,63% (tỉnh Bắc Kạn là 26,52%, vùngTây Bắc là 29,5%)
Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế văn hoá – xã hội với các huyện trong tỉnh và các tỉnh lân cận Trên địa bànhuyện cũng được thiên nhiên phú cho nhiều danh lam, thắng cảnh mà điểnhình là Hồ Ba Bể với tiềm năng du lịch rất lớn Tuy nhiên do cơ sở hạ tầng,
Trang 30-nhất là giao thông chậm phát triển nên chưa khai thác được tiềm năng thếmạnh của địa phương.
Những kiểu địa hình trên tuy có gây khó khăn cho việc phát triển nôngnghiệp nhưng lại là điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp đa dạngvới nhiều loại cây trồng, vật nuôi tạo điều kiện cho phát triển nông lâm sảnhàng hoá
Trong lĩnh vực nông nghiệp, bên cạnh việc phát huy lợi thế đất rừng đểphát triển lâm nghiệp, lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát triển các loại câycao sản, có năng suất, chất lượng và đem lại giá trị kinh tế cao cũng được chútrọng đầu tư phát triển như cây Dong riềng Cây Dong riềng là một trongnhững cây trồng có tiềm năng, năng suất cao, thích hợp với điều kiện tự nhiêncủa huyện Ba Bể, là cây trồng được chọn là cây xoá đói, giảm nghèo và tiếntới làm giầu cho người dân Ba Bể
1.5 Đặc điểm khí hậu vùng nghiên cứu
* Kết quả theo dõi 5 năm
Tổng lượng mưa (mm)
Tổng số giờ nắng (giờ)
Trang 31* Kết qủa theo dõi năm 2012
Tổng lượng mưa (mm)
Tổng số giờ nắng (giờ)
Trang 32Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu sử dụng giống dong lai, nhập từ Hà Tây vào huyện
từ năm 2006 – 2007, hiện nay đang được trồng phổ biến ở địa phương(Khoảng 95% diện tích)
2.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài
2.2.1 Điều tra, đánh giá tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dong riềng tại huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
- Điều tra, thu thập số liệu về các giống dong riềng tại huyện Ba Bể, tỉnhBắc Kạn
- Điều tra, đánh giá tình hình phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụdong riềng
2.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh cây dong riềng
- Nghiên cứu về mật độ trồng dong riềng thích hợp tại huyện Ba Bể, tỉnh
Bắc Kạn
- Nghiên cứu về lượng phân đạm bón phù hợp cho dong riềng tại huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất và chất
lượng của dong riềng trồng tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.Điều tra thu thập số liệu để đánh giá tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dong riềng tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
- Điều tra, thu thập số liệu về tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dongriềng tại huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn và đánh giá những thuận lợi, khó khăn,triển vọng phát triển Dong riềng trên địa bàn huyện
Trang 33- Niên độ điều tra 10 năm từ 2001 – 2011.
- Địa bàn điều tra 5 xã: Địa Linh, Yến Dương, Mỹ Phương, Chu Hương,Phúc Lộc
- Phương pháp điều tra phỏng vấn thu thập số liệu có liên quan qua phiếuđiều tra, mẫu câu hỏi, thực hiện 30 phiếu điều tra/xã
2.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác cây dong riềng tại
- Bố trí thí nghiệm theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
(RCBD) Thí nghiệm được bố trí trên đất nương rẫy, đất vàn cao không chủ
động nước tưới (đất ruộng 1 vụ) Mỗi công thức thí nghiệm có diện tích
- Quy trình phân bón (áp dụng theo hướng dẫn kỹ thuật của Sở Nông
nghiệp & PTNT ban hanh với mức bón trung bình):
Trang 34đương với 200 kg Urea + 500kg lân + 200 kg kalyclorua).
* Cách bón:
+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và lân cộng 1/3 lượng đạm
+ Bón thúc lần 1: sau khi cây mọc 1 tháng nhằm giúp cây đẻ nhánhnhanh, nhiều: bón 1/3 lượng đạm cộng 1/2 lượng kali
+ Bón thúc lần 2: sau trồng khoảng 4 - 5 tháng: 1/3 lượng đạm cộng 1/2lượng kali còn lại, để cây sinh trưởng phát triển tốt và tích lũy đường bột nhiều
- Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: (do chưa có quy trình của Nhà
nước quy định về phương pháp theo dõi đối với cây dong riềng nên chúng tôitheo dõi các chỉ tiêu theo một số nội dung và phương pháp trong thí nghiệmđồng ruộng)
* Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cây dong riềng gồm:
- Tỷ lệ mọc: Tỷ lệ mọc của cây dong riềng được tính bằng % số cây mọctrên tổng số cây trồng
- Độ đồng đều: Đánh giá ở giai đoạn 50 đến 75 ngày sau trồng với 5 mứcđánh giá bằng cách so sánh theo thang điểm 1 – 9:
Điểm 1 Rất không đồng đều
- 3 Không đồng đều
- 5 Trung bình
- 7 Khá đồng đều
- 9 Rất đồng đều
- Đo chiều cao cây: dùng tay vuốt từ gốc lên trên, lấy lá có dọc dài nhất,
đo từ mặt đất đến hết phần cuống lá, 20 ngày đo một lần đến khi cây ra hoa,
đo mỗi ô 10 cây (dùng thước đo)
- Theo dõi số lá: bằng cách buộc đánh dấu ngày lá bắt đầu xòe của lá đầutiên cho đến số lá cuối cùng, 20 ngày đếm 1 lần đến khi cây ra hoa, mỗi ô thínghiệm theo dõi 10 cây
- Thời gian sinh trưởng, phát triển của Dong riềng trong các công thức
Trang 35thí nghiệm (ngày): Được tính từ khi trồng đến khi cây lụi 70 % số lá trên câytại thời điểm thu hoạch (hầu hết các lá lụi, chỉ còn 1-2 lá xanh).
* Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
- Số thân/khóm
- Khối lượng trung bình của một gốc: Thu hoạch 10 cây liền nhau sau đótính trung bình
- Năng suất thống kê: thu toàn bộ ô thí nghiệm
- Năng suất ( tấn/ha)
- Tỷ lệ tinh bột ướt, tinh bột khô, năng suất tinh bột ướt, tinh bột khô
*Phương pháp xác định tỷ lệ tinh bột (tinh bột ướt và tinh bột khô):
Mẫu được rửa sạch, cân chính xác khối lượng (cả vỏ), đem nghiền thànhbột mịn Sau khi nghiền xong cho vào chậu, đổ nước cất hoà tan đều bộtnghiền rồi lọc qua vải lọc nhiều lần để lấy bã bỏ đi Nước dịch sau khi đã lọcqua vải lọc để lắng trong 24 giờ rồi gạn bỏ nước lấy phần lắng đọng trongchậu Tiếp tục cho nước cất vào hoà tan phần lắng đọng đó rồi để ngâm tiếptrong 24 giờ nữa Làm như vậy 4-5 lần ta sẽ thu được tinh bột ướt Tinh bột ướtđược lấy ra cho vào giấy thấm để cho thoát nước đến khi nào tay cầm vào thấybột mịn không dính tay thì cân để tính tỷ lệ tinh bột ướt
thời gian 10-12 phút (thử bằng độ bám của bột ở da tay) Cân lại khối lượng,tính được tỷ lệ tinh bột khô
2.3.2.2 Nghiên cứu về lượng phân đạm thích hợp
- Các công thức về phân bón gồm 5 công thức được ký hiệu như sau:
Trang 36+ Công thức 3: 5tấn phân hữu cơ + 110KgN+80kgP205 + 100K20;
- Cách bón thống nhất như nhau:
+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và lân cộng 1/3 lượng đạm
+ Bón thúc lần 1: sau khi cây mọc 1 tháng nhằm giúp cây đẻ nhánhnhanh, nhiều: bón 1/3 lượng đạm cộng 1/2 lượng kali
+ Bón thúc lần 2: sau trồng khoảng 4 - 5 tháng: 1/3 lượng đạm cộng 1/2lượng kali còn lại, để cây sinh trưởng phát triển tốt và tích lũy đường bột nhiều
- Bố trí thí nghiệm theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
(RCBD) Thí nghiệm được bố trí trên đất nương rẫy, đất vàn cao không chủ động
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
2.3.2.3 Nghiên cứu thời điểm thu hoạch thích hợp đối với giống dong địa phương
Công thức 1; Thu hoạch sau trồng 240 ngày (Ngày trồng: 20/02/2012;Ngày thu hoạch: 19 -20/10/2012)
Trang 37Công thức 2; Thu hoạch sau trồng 260 ngày (Ngày trồng: 20/02/2012;Ngày thu hoạch: 10 – 11/11/2012)
Công thức 3; Thu hoạch sau trồng 280 ngày (Ngày trồng: 20/02/2012;Ngày thu hoạch: 29 – 30/11/2012)
Công thức 4; Thu hoạch sau trồng 300 ngày (Ngày trồng: 20/02/2012;Ngày thu hoạch: 19- 20/12/2012)
- Bố trí thí nghiệm theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD).Thí nghiệm được bố trí trên đất nương rẫy, đất vàn cao không chủ động nướctưới Mỗi công thức thí nghiệm có diện tích 100m2 x 3 lần nhắc lại
- Quy trình phân bón (áp dụng theo hướng dẫn kỹ thuật của Sở Nông
nghiệp & PTNT ban hanh với mức bón trung bình):
đương với 200 kg Urea + 500kg lân + 200 kg kalyclorua).
* Cách bón:
+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và lân cộng 1/3 lượng đạm
+ Bón thúc lần 1: sau khi cây mọc 1 tháng nhằm giúp cây đẻ nhánhnhanh, nhiều: bón 1/3 lượng đạm cộng 1/2 lượng kali
+ Bón thúc lần 2: sau trồng khoảng 4 - 5 tháng: 1/3 lượng đạm cộng1/2 lượng kali còn lại, để cây sinh trưởng phát triển tốt và tích lũy đườngbột nhiều
- Các chỉ tiêu nghiên cứu
Trang 38+ Khối lượng củ tươi / gốc
+ Năng suất củ tươi
+ Tỷ lệ tinh bột ướt, tinh bột khô, năng suất tinh bột ướt, tinh bột khô
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm xử lý thống kê IRRISTAT
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dong riềng tại huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
3.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng dong riềng tại huyện Ba Bể (2001 - 2011)
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng dong riềng tại huyện Ba Bể (2001
Trang 40Qua kết quả tại bảng 3.1, cho thấy từ năm 2001 đến năm 2003 diệntích trồng dong riềng ở huyện Ba Bể tăng dần và trồng tập trung ở 2 xãYến Dương, Địa Linh, năng suất tương đối ổn định Năm 2004 do ảnhhưởng của bệnh cháy lá, thối thân gây hại nặng làm cho năng suất dongriềng giảm mạnh, có diện tích bị mất trắng không cho thu hoạch Từ năm
2005 dến năm 2009 diện tích trồng không đáng kể Giai đoạn này sử dụnggiống dong đỏ địa phương là chính
Từ năm 2010 đến năm 2011 diện tích trồng tăng dần trở lại, thờigian này chủ yếu sử dụng giống dong lai nhập từ tỉnh Hà Tây
3.1.2 Tình hình chế biến dong riềng tại huyện Ba Bể (2001 - 2011)
Bảng 3.2: Kết quả điều tra về tình hình chế biến dong riềng
tại huyện Ba Bể (2001 - 2011)
Linh
Yến Dương
Mỹ Phươn g
Chu Hương
Phúc Lộc
Toàn Huyện