HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆTNAM NGUYỄN THỊ THANH HIỀN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN SINH THÁI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ RA HOA CỦA GIỐNG HOA ĐÀO GL2-2 TẠI MIỀN BẮ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT
NAM
NGUYỄN THỊ THANH HIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN SINH THÁI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ RA HOA CỦA GIỐNG HOA ĐÀO GL2-2
TẠI MIỀN BẮC VIỆT
NAM
Chuyên ngành: Khoa học cây tr nồ g
Mã số: 62.62.01.10
Người hương dan khoa học:
1 PGS.TS Đoàn Văn Điếm
2 PGS.TS Đ nặ g Văn Đông
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 3i 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu
đã trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo
Trang 4i 4
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận án, ngoài nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi nhận được nhiều sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình quí báu của các thầy, cô giáo và các nhà khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành và hỗ trợ khoa học của các thầy,
cô giáo Khoa Môi trường, Khoa Nông học, Bộ môn Sinh thái nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam và các đồng nghiệp, cơ quan công tác đã ủng hộ, giúp tôi trong quá trình làm luận án.
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đoàn Văn Điếm, PGS.TS Đặng Văn Đông là những người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn sinh vật cảnh Việt Nam, Công ty
Tư vấn và Dịch vụ khoa học Nông nghiệp I, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện Gia Lâm (Hà Nội), Định Hóa (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La) và các xã trên địa bàn huyện đã cung cấp số liệu, hỗ trợ thực hiện các thí nghiệm phục vụ đề tài.
Xin cảm ơn bố mẹ, chồng, bạn bè và các con luôn luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Hiền
Trang 53 3
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan .i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục thuật ngữ viết tắt vi
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình x
Trích yếu luận án xi
Thesis abstact .xiii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Những đóng góp mới của luận án 3
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 4
2.1 Phân loại thực vật, nguồn gốc và đặc điểm thực vật học cây hoa đào 4
2.1.1 Phân loại thực vật 4
2.1.2 Nguồn gốc 4
2.1.3 Đặc điểm thực vật học 5
2.2 Yêu cầu về điều kiện sinh thái của cây hoa đào 8
2.2.1 Yêu cầu điều kiện nhiệt độ 8
2.2.2 Yêu cầu điều kiện ánh sáng 10
2.2.3 Yêu cầu lượng mưa và độ ẩm 10
2.2.4 Yêu cầu điều kiện đất đai 11
2.3 Yêu cầu dinh dưỡng của cây hoa đào 14
Trang 64 4
2.3.1 Nhu cầu các chất dinh dưỡng chính 14
2.3.2 Vai trò của phân bón đối với cây đào 14
2.4 Cơ sở khoa học việc điều khiển ra hoa cho cây đào 16
2.4.1 Các mối tương quan sinh trưởng, phát triển của cây 16
2.4.2 Các phương pháp điều khiển sinh trưởng, phát triển cây 18
2.5 Tình hình sản xuất cây hoa đào 23
2.5.1 Tình hình sản xuất cây hoa đào trên thế giới 23
2.5.2 Tình hình sản xuất hoa đào ở Việt Nam 23
2.6 Các vấn đề đặt ra cần nghiên cứu 26
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Vật liệu nghiên cứu 28
3.1.1 Giống cây trồng 28
3.1.2 Phân bón 28
3.1.3 Số liệu khí tượng 29
3.2 Phạm vi nghiên cứu 30
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 30
3.2.3 Giới hạn của đề tài 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 31
3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên ở các vùng trồng đào miền Bắc 31
3.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng tới sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa của giống đào GL2-2 31
3.3.3 Một số biện pháp kỹ thuật điều chỉnh sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa của đào GL2-2 31
3.4 Phương pháp nghiên cứu 31
3.4.1 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 31
3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu thí nghiệm 37
3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế 38
Phần 4 Kết quả và thảo luận 40
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên các vùng trồng đào 40
4.1.1 Vùng trồng đào đồng bằng sông Hồng 40
4.1.2 Vùng trồng đào Định Hóa tỉnh Thái Nguyên vùng trung du Đông Bắc 44
Trang 75 5
4.1.3 Vùng trồng đào Mộc Châu, tỉnh Sơn La thuộc vùng núi Tây Bắc 49
4.1.4 Đánh giá chung 54
4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng đối với sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa đào GL2-2 58
4.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng tới sinh trưởng đường kính thân và đường kính tán của đào GL2-2 58
4.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng tới sự xuất hiện nụ đào GL2-2 70
4.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng tới chất lượng hoa đào GL2-2 77
4.2.4 Tình hình sâu bệnh hại tại 3 vùng trồng hoa đào 88
4.2.5 Hiệu quả kinh tế trồng đào ở các vùng sinh thái 89
4.2.6 Đánh giá chung về ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng tới sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa đào GL2-2 90
4.3 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật tới sinh trưởng, phát triển ra hoa và chất lượng hoa đào GL2-2 92
4.3.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật bón bổ sung phân lót cho đào GL2-2 92
4.3.2 Biện pháp cắt tỉa điều chỉnh sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa 98
4.3.3 Ảnh hưởng của thời điểm khoanh vỏ đến sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa 102
4.3.4 Ảnh hưởng của thời điểm tuốt lá đến chất lượng hoa đào 108
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 112
5.1 Kết luận 112
5.2 Kiến nghị 113
Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 114
Tài liệu tham khảo 115
Phụ lục 122
Trang 86 6
GR Tổng thu (Gross Return)
GTNC Giá trị ngày công
Học viên nông nghiệp Việt Nam Khoanh vỏ
Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa với mức ý nghĩa 0,05 (Least Significant Difference)
MBCR Tỷ suất lợi nhận biên (Marginal Benefit Cost Ratio)
MI Thu nhập hỗn hợp (Mix Income)
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 97 7
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
RCB Kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (Randomized Complete Block)
ST, PT Sinh trưởng, phát triển
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
TVC Tổng chi phí biến động (Total Variable Cost)
UBND Ủy ban Nhân dân
Σ(t0C) Tổng nhiệt độ (0C)
R mm Tổng lượng mưa (mm)
Sgiờ Tổng số giờ nắng (giờ)
Trang 108 8
DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang
2.1 Cơ cấu số lượng một số loại hoa ở Việt Nam qua một số năm 24
4.1 Một số tính chất vật lý và hóa học đất phù sa cổ sông Hồng tại huyện Gia Lâm 42
4.2 Tần số một số loại thời tiết đặc biệt thường gặp ở Hà Nội 44
4.3 Các loại đất chính tại huyện Định Hóa, Thái Nguyên 46
4.4 Một số tính chất vật lý và hóa học đất tại huyện Định Hóa, Thái Nguyên 47
4.5 Tần số một số loại thời tiết đặc biệt thường gặp ở Định Hóa 49
4.6 Các nhóm đất chính ở huyện Mộc Châu 50
4.7 Một số tính chất vật lý và hóa học đất đỏ vàng tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 51
4.8 Tần số một số loại thời tiết đặc biệt thường gặp ở Mộc Châu 53
4.9 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sự tăng trưởng đường kính thân, đường kính tán cây hoa đào tại các vùng sinh thái khác nhau 59
4.10 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng đối với tăng trưởng đường kính thân và đường kính tán cây đào GL2-2 ở các giai đoạn sinh trưởng 60
4.11 Ảnh hưởng của nhiệt độ trung bình đối với tăng trưởng đường kínhthân và đường kính tán cây ở các giai đoạn sinh trưởng 61
4.12 Ảnh hưởng của số ngày có nhiệt độ dưới 150C trong các giai đoạn sinh trưởng tới đường kính thân và đường kính tán cây đào GL2-2 63
4.13 Ảnh hưởng của số ngày có nhiệt độ dưới 200C đối với sinh trưởng đường kính thân và đường kính tán cây đào GL2-2 65
4.14 Ảnh hưởng của tổng nhiệt độ đối với sinh trưởng đường kính thân và đường kính tán câyđào GL2-2 66
4.15 Ảnh hưởng của số giờ nắng trong các giai đoạn sinh trưởng đối với tăng trưởng đường kính thânvà đường kính tán cây đào GL2-2 68
4.16 Ảnh hưởng của lượng mưa ở các giai đoạn sinh trưởng đối với đường kính thân và đường kính tán cây đào GL2-2 69
4.17 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến thời gian ra nụ hoa của cây đào GL2-2 ở các vùng sinh thái khác nhau 71
4.18 Ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố khí tượng đối với thời gian từ tuốt lá đến ra nụ 72
Trang 119 9
4.19 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng trước khoanh vỏ đối với số
ngày từ tuốt lá đến ra nụ đào GL2-2 73
4.20 Ảnh hưởng của tổng nhiệt độ giai đoạn từ tuốt lá đến ra nụ đối với thời gian xuất hiện nụđào GL2-2 75
4.21 Ảnh hưởng của tích ôn và số ngày có nhiệt độ thấp hơn 150C tới thời gian sinh trưởng từ trồng đến ra nụ giống đào GL2-2 77
4.22 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng hoa đào GL2-2 ở các ở các vùng sinh thái khác nhau 78
4.23 Ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố khí tượng đối với chất lượng hoa đào GL2-2 80
4.24 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng ở các giai đoạn sinh trưởng đối với số hoa trên cành của cây đào GL2-2 82
4.25 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng ở các giai đoạn sinh trưởng đối với đường kính hoa đào GL2-2 85
4.26 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng tới thời gian từ nụ đến nở hoa của cây đào GL2-2 86
4.27 Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng ở các giai đoạn sinh trưởng tới độ bền cành hoa tự nhiên 87
4.28 Tình hình sâu bệnh hại của giống hoa đào GL2-2 tại 3 vùng nghiên cứu 88
4.29 Hiệu quả kinh tế trồng đào ở các địều kiện sinh thái 90
4.30 Động thái tăng trưởng đường kính thân, đường kính tán ở các công thức bổ sung phân bón lót cho đào Phai GL2-2 93
4.31 Số lượng và chất lượng hoa đào GL2-2 ở các công thức bón lót 95
4.32 Tình hình sâu bệnh hại của đào Phai GL2-2 ở các công thức cắt tỉa 96
4.33 Hiệu quả kinh tế các các chế độ bón phân lót bổ sung 97
4.34 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng của giống hoa đào Phai GL2-2 99
4.35 Ảnh hưởng của chế độ cắt tỉa đến sự ra hoa và chất lượng hoa 100
4.36 Tình hình sâu bệnh hại của đào GL2-2 ở các công thức cắt tỉa 101
4.37 Hiệu quả kinh tế các biện pháp cắt tỉa cho đàoGL2-2 102
4.38 Động thái tăng trưởng chiều dài và đường kính cành lộc của đào GL2-2 ở các công thức khoanh vỏ 103
4.39 Ảnh hưởng của thời điểm khoanh vỏ đến ra hoa, chất lượng hoa 105
4.40 Hiệu quả kinh tế của biện pháp kỹ thuật thời điểm khoanh vỏ 107
4.41 Ảnh hưởng của thời điểm tuốt lá đến sự ra hoa và chất lượng hoa 108
4.42 Hiệu quả kinh tế của thời điểm tuốt lá 110
Trang 1210 1
0
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
3.1 Giống đào phai GL2-2 28
4.1 Sơ đồ vị trí các vùng nghiên cứu cây đào miền Bắc Việt Nam 41
4.2 Diễn biến một số chỉ tiêu khí hậu ở Hà Nội TB 6 năm (2008-2014) 43
4.3 Diễn biến một số chỉ tiêu khí hậu ở Định Hóa, Thái Nguyên 48
4.4 Diễn biến một số chỉ tiêu khí hậu ở Mộc Châu, Sơn La 52
4.5 Diễn biến nhiệt độ qua các tháng ở 3 vùng sinh thái 55
4.6 Diễn biến số giờ nắng qua các tháng ở 3 tiểu vùng sinh thái 56
4.7 Diễn biến lượng mưa qua các tháng ở 3 tiểu vùng sinh thái 57
4.8 Đồ thị hồi quy giữa tăng trưởng đường kính 62
4.9 Đồ thị hồi quy giữa tăng trưởng đường kính với số ngày có t<150C ở các giai đoạn sinh trưởng 64
4.10 Đồ thị hồi quygiữa tăng trưởng đường kính với tích ôn củacác giai đoạn sinh trưởng 67
4.11 Đồ thị hồi quy giữa tăng trưởng đường kính thân và đường kính tánvới lượng mưa 69
4.12 Đồ thị hồi quy giữa số ngày từ tuốt lá đến ra nụ với nhiệt độ trung bình và thời gian có t<150C từ trồng đến khoanh vỏ 74
4.13 Đồ thị hồi quy giữa thời gian từ tuốt lá đến ra nụ với tích ôn hữu hiệu và lượng mưa 76
4.14 Đồ thị hồi quy giữa thời gian sinh trưởng với tích ôn hữu hiệu và số ngày có t<150C từ trồng đến ra nụ 76
4.15 Đồ thị hồi quy giữa số hoa trên cành với các yếu tố khí tượng giai đoạn từ trồng đến khoanh vỏ 83
4.16 Đồ thị hồi quy biểu diễn tương quan giữađường kính hoa với các yếu tố khí tượng 84
4.17 Đồ thị hồi quy giữa độ bền cành hoa tự nhiên với các yếu tố khí tượng ở giai đoạn từ trồng đến khoanh vỏ 87
Trang 1311 11
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
1 Tóm tắt
Tác giả luận án: Nguyễn Thị Thanh Hiền
Tên luận án: Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh thái và một số
biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và ra hoa của giống đào GL2-2 tại miền Bắc Việt Nam.
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 62 62 01 10
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Nội dung
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được ảnh hưởng của điều kiện sinh thái và một số biện pháp kỹ thuật đối với sinh trưởng, phát triển nhằm nâng cao chất lượng hoa của giống đào GL2-2, góp phần bảo tồn và phát triển nghề trồng hoa đào ở Việt Nam.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng
2 Phương pháp phân tích số liệu thí nghiệm
Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính
Phân tích sai số thí nghiệm bằng phần mềm IRRISTAT 5.0
3 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
2.3 Kết quả nghiên cứu
Luận án đã đánh giá được ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái tới sinh trưởng,
ra hoa, chất lượng hoa của giống đào GL2-2 và xác định được các yếu tố chi phối chính
là nhiệt độ trung bình ( tngay ); số ngày có nhiệt độ dưới 150C, n(t<150C); số ngày có nhiệt độ dưới 200C, n(t<200C); tích ôn (∑(t0C)); tổng số giờ nắng (S giờ) và tổng lượng mưa (R
mm) Trên cơ sở các yếu tố sinh thái, luận án đã nghiên cứu một số biện kỹ thuật điều
Trang 1412 12
chỉnh sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa cho giống đào GL2-2 nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất hoa đào phục vụ nhu cầu thưởng thức hoa ngày Tết Nguyên đán Các biện
Trang 1513 13
pháp đề xuất là bón lót bổ sung thêm N trực tiếp bằng phân uUrê hoặc dùng dung dịch vi sinh EM (cải tiến 1 và 2); cắt tỉa 1 tháng 1 lần và 1½ tháng 1 lần liên tục sau trồng 2 tháng; khoanh vỏ trước Tết Nguyên đán 140-150 ngày và tuốt lá trước Tết Nguyên đán 50-60 ngày giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, kéo dài thời gian nở hoa, tăng số lượng hoa, đường kính hoa, độ bền cành hoa tự nhiên và hoa nở trước Tết Nguyên đán Các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng hoa đều sai khác có ý nghĩa thống
kê ở mức xác suất P=95% so với đối chứng Các biện pháp kỹ thuật này cũng cho thu nhập, lãi thuần, hiệu quả đồng vốn và tỷ suất lợi nhuận biên (MBCR) đều tăng so với các biện pháp kỹ thuật khác Các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh sinh trưởng, phát triển, ra hoa và chất lượng hoa đào GL2-2 chỉ yêu cầu đầu tư ít, hàm lượng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và hóa chất kích thích sinh trưởng không đáng kể ở mức cho phép, không gây ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng hoa phục vụ nhu cầu hoa đào vào dịp Tết Nguyên đán.
Trang 16xiii 14
THESIS ABSTACT
1 Summary
Name of Ph.D Student: Nguyen Thi Thanh Hien
Thesis Title: Study of effects of ecological conditions and technical
measures on growth and flowering of peach variety GL2-2
2.2 Methods
1 Field experiment
2 Analysis of experimental data
Linear regression analysis
ANOVA analysis by IRRISTAT 5.0
3 Evaluation of economic efficiency
2.3 Results
Thesis evaluated effects of ecological conditions and technical measures on growth, flowering and flower quality of peach variety GL2-2 Thesis pointed out that main ecological factors affecting peach GL2-2 consist of mean day temperature, number
of days that have lower 15-200C temperature, total effective temperature, total sunshine hours and total rainfall Study results also showed that technical measures such as basal dressing with supplement of urea nitrogen or EM solution; pruning every month after growing two months; cutting stem bark before Tet holiday 140-150 days and plucking off leaves before Tet holiday 50-60 days increased production efficiency of flower
Trang 17xiii 15
peach GL2-2 Application of above technical measures makes peach flower bloom on the occasion of Tet holidays, increases flower number, flower diameter and living time
of flower contributing to increase of socio- economic and environmental efficiency of GL2-2 flower peach production in Northern Vietnam Value of indicators of growth and flower quality of experimental treatments are significant different from control treatment with probability 95% Application of above technical measures increased considerably net income and marginal benefit- cost ratio (MBCR) as well as decreased use of plant protection chemicals and growth stimulators contributing to environmental conservation, increasing peach flower quality to met requirement of people in Tet holidays.
Trang 181 1
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hoa, cây cảnh có một vị trí quan trọng trong đời sống con người, là mộtloại sản phẩm đặc biệt vừa mang lại giá trị kinh tế, vừa đóng góp giá trị văn hóatinh thần Những năm gần đây, nghề trồng hoa cây cảnh ở Việt Nam phát triểnnhanh cả về số lượng và chất lượng Hiệu quả trồng hoa, cây cảnh cũng tăng lên
rõ rệt từ mức thu nhập trung bình đạt 58 triệu đồng/ha/năm (2005) lên 500 triệuđồng/ha/năm (2014) (Hữu Khánh, 2014)
Cây hoa đào có tên khoa học là Prunus persia (L.) Batsch, xuất hiện ở Việt
Nam từ rất lâu Hoa đào là loại hoa đẹp, tượng trưng cho mùa xuân Thú chơi đàongày tết đã trở thành một phong tục, một nét văn hóa đặc sắc không thể thiếuđược của người dân miền Bắc Việt Nam mỗi độ xuân về Ngày nay, dù cuộcsống đã thay đổi, con người hướng tới nhiều cái mới lạ, hiện đại nhưng dườngnhư vẫn không quên thú chơi hoa đào ngày tết Trên các bức tranh tứ thường vẽbốn thứ hoa tượng trưng cho bốn mùa trong năm thì hoa đào được coi là loài hoatượng trưng cho mùa xuân, đứng đầu trong các loại hoa Hoa đào ngày tết có màuthắm hồng, thân cây được uốn tạo nhiều dáng thế tượng trưng cho nét mềm mạithanh lịch duyên dáng của con người Ngày tết, đào được bày ở phòng kháchhoặc cắm trên bàn thờ tổ tiên, với dáng thế đẹp, màu hoa hồng đỏ sẽ đem lạinhiều sự may mắn trong năm cho gia chủ Ngoài ra, cành đào ngày tết còn mang
ý nghĩa sâu xa là xua đuổi điềm xấu, cản luồng gió độc, tà khí ra ngoài (Vũ CôngHậu, 1999)
Cây hoa đào phân bố rải rác ở nhiều vùng sinh thái khác nhau từ Nghệ Antrở ra, nhưng để trở thành hàng hóa thì chủ yếu tập trung ở Hà Nội, Hải Dương,Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang… Hiện nay cây đào là một trong những loại câyhoa chiếm diện tích lớn nhất ở miền Bắc Hoa đào dễ trồng, dễ chăm sóc, thíchnghi với nhiều vùng sinh thái và có nhu cầu tiêu dùng khá cao Trước kia cây hoađào chỉ được trồng ở miền Bắc nhưng ngày nay đã được di thực vào một số vùng
ở miền Nam như Đà Lạt, Lâm Đồng… và tỏ ra khá thích ứng, có khả năng pháttriển (Đặng Văn Đông và Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010)
Hiện nay, trong quá trình đô thị hoá, diện tích trồng đào truyền thống ở một
số vùng đang dần bị thu hẹp Do đó, các vùng lân cận tiếp thu phát triển nghề
Trang 192 2
trồng hoa đào như Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Nguyên… nhưng năng suất,chất lượng hoa chưa cao vì chưa tiếp cận được kỹ thuật trồng và chăm sóc Câyđào yêu cầu điều kiện khí hậu ôn hòa và phải có mùa đông đủ lạnh mới có thể rahoa được Những vùng khí hậu nóng, không có mùa đông trồng đào không đemlại hiệu quả kinh tế Ngoài ra, cây đào còn nhu cầu về điều kiện ánh sáng, chế độmưa ẩm thích hợp thì chất lượng hoa mới cao
Tuy nhiên, những nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện sinh thái tới sinhtrưởng, phát triển, ra hoa và chất lượng hoa đào còn chưa nhiều Một số nghiêncứu cho rằng, cây đào yêu cầu một “độ lạnh” thích hợp thì mới ra hoa nhưng “độlạnh” được thể hiện bằng chỉ tiêu nào? Ở miền Bắc nước ta chế độ nhiệt mùa đông
đã đáp ứng được yêu cầu về “độ lạnh” của cây đào chưa? Độ dài thời gian có nhiệt
độ thấp khi thời tiết rét đậm, rét hại ảnh hưởng tới sinh trưởng, ra hoa vàchất lượng hoa đào như thế nào? Ngoài chế độ nhiệt, chế độ mưa ẩm và thờigian có nắng có ảnh hưởng như thế nào đối với đời sống cây đào? Nếu biếtđược các chỉ tiêu sinh thái và mức độ chi phối của chúng đối với cây đào sẽ giúpviệc chọn địa điểm trồng, thời vụ, mật độ, phân bón, chăm sóc phù hợp Trong sảnxuất, để đáp ứng được nhu cầu chơi hoa của thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế,người trồng đào cần phải điều khiển cho hoa đào nở vào dịp Tết Nguyên đán Mặc
dù cây hoa đào đã được trồng từ lâu nhưng kinh nghiệm dân gian về điều khiển
nở hoa cũng bị thất truyền đi nhiều và không thể áp dụng ở các vùng sinh tháikhác nhau Chính vì vậy, việc nghiên cứu điều kiện sinh thái cũng như các biệnpháp kỹ thuật có tác động đến sinh trưởng và sự ra hoa của cây đào là việc làm rấtcần thiết
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 203 3
- Nghiên cứu được một số biện pháp kỹ thuật tác động đến sinh trưởng,phát triển, ra hoa, chất lượng và hiệu quả sản xuất hoa đào ở miền Bắc Việt Nam
Trang 214 4
1.3 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Đã xác định các yếu tố khí tượng chính chi phối sự sinh trưởng và ra hoacủa giống đào GL2-2 tại miền Bắc Việt Nam là nhiệt độ trung bình, số ngày cónhiệt độ nhỏ hơn 150C và 200C, tích ôn hữu hiệu, tổng số giờ nắng và tổng lượngmưa Tùy theo giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây hoa đào mà mức độ ảnhhưởng của các yếu tố đó thay đổi
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật chính như bónphân lót bổ sung, cắt tỉa, khoanh vỏ, tuốt lá đến sinh trưởng, ra hoa và chất lượnghoa của giống đào GL2-2 trồng tại Gia Lâm, Hà Nội Để giống đào GL2-2 ra hoađúng dịp Tết Nguyên đán cần khoanh vỏ trước tết 140-150 ngày và tuốt lá trướctết 50-60 ngày
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Cung cấp dẫn liệu khoa học có giá trị về ảnh hưởng của điều kiện khí hậu
và những yếu tố sinh thái chi phối chính đối với sinh trưởng, phát triển, ra hoa vàchất lượng hoa đào ở miền Bắc Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị trong giảng dạy vànghiên cứu cho ngành trồng trọt nói chung và cây hoa đào nói riêng
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đề xuất được vùng trồng phù hợp từ việc xác định được những yếu tố sinhthái chi phối chính đối với sinh trưởng, phát triển, ra hoa và chất lượng hoa đào ởmột số điều kiện sinh thái miền Bắc
- Hoàn thiện được quy trình trồng giống hoa đào GL2-2 để phổ biến chosản xuất từ việc đánh giá được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật chínhnhư bón phân lót bổ sung, cắt tỉa, khoanh vỏ, tuốt lá đến sinh trưởng, ra hoa vàchất lượng hoa của giống đào GL2-2 trồng tại Gia Lâm, Hà Nội
Trang 225 5
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 PHÂN LOẠI THỰC VẬT, NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CÂY HOA ĐÀO
2.1.1 Phân loại thực vật
Theo Võ Văn Chi (2004), Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978), cây đào
Prunus persica (L.) Batsch thuộc:
Giới (regnum): Thực vật (Plantae)
Ngành (divisio): Thực vật có hoa (Magnoliophyta)
Phân chi (subgenus): Amygdalus
Loài (species): P persica
Tên khoa học: Prunus persica (L.) Batsch
2.1.2 Nguồn gốc
Cây đào (Prunus persica (L.)) có nguồn gốc từ Trung Quốc Theo các nhà
khảo cổ người Trung Hoa biết trồng đào ít nhất từ bốn nghìn năm Đào từ TrungQuốc được di chuyển vào Trung Á rồi đến Ba Tư (Iran ngày nay) theo con đường
tơ lụa Đến thế kỷ thứ III, Alexandre Le Grand mang giống đào từ xứ Ba Tư vềRome (Italia) và đến thế kỷ thứ XVII, cây đào được du nhập vào Châu Mỹ Cácnhà thực vật học đầu tiên lầm tưởng Ba Tư (phiên âm từ “perse”) là quê hương
của đào, nên đặt cho nó cái tên khoa học là Prunus persica Sau này họ mới biết cây hoa đào thuộc họ hoa hồng (Rosaceae), phân họ mận nhưng vẫn để nguyên tên đó theo thói quen, thay vì phải đổi là Prunus sinensis, họ Rosaceae Có nhiều
bằng chứng chứng minh rằng Trung Quốc có lịch sử trồng đào lâu nhất thế giới.Năm 1973, tại Chiết Giang, người ta đã phát hiện được những viên đá có vẽ hoađào niên đại từ 6000-7000 năm trước công nguyên Từ 1973-1976, Viện Hàn lâm
Trang 23Khoa học Trung Quốc đã phát hiện ra nguồn tài nguyên đa dạng di truyền củacây đào hoang dại đang được lưu giữ rộng rãi ở các khu vườn sản xuất của TrungQuốc, bao gồm Tây Tạng, Cam Túc, Thiểm Tây Còn trong lịch sử trồng trọt củaTrung Quốc, cây hoa đào được trồng và thuần hoá cách đây 4.000 năm (Hu and
Zhang, 2005; Hu et al., 2006).
Ngày nay, cây đào được trồng ở nhiều nước hầu khắp trên thế giới nhưTrung Quốc, Iran, Pháp, Nhật Bản, Mông Cổ, Lào, Việt Nam với 2 mục đích làlấy quả và chơi hoa Ở Việt Nam, chưa ai biết cây đào được trồng từ bao giờnhưng hoa đào ở Nhật Tân đã được nhắc đến từ mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789).Lúc đó, vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Thanh tiến vào đất Thăng Long
đã sai người đến Nhật Chiêu (Nhật Tân ngày nay) lấy một cành đào, hỏa tốc đưa
về Phú Xuân tặng công chúa Ngọc Hân gọi là báo tin thắng trận Công chúaNgọc Hân vốn là người sành hoa đào đất Thăng Long nên nhìn sắc hoa đã có thểbiết được xuất xứ Đến đầu thế kỷ XX, Nhật Tân bắt đầu trồng một loại hoa đàomới rất đẹp đó là giống đào Bích Đến nay, kỹ thuật trồng đào Bích ở Nhật Tân
đã đạt đến một trình độ cao ít nơi nào theo kịp (Vũ Công Hậu, 1999), (Đặng VănĐông và cs., 2010)
Theo Hu and Zhang (2005), trên thế giới (Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản,Mỹ ) có 51 giống đào cảnh, các giống này phân biệt với nhau chủ yếu bởi cácđặc điểm về hoa, lá và dáng thân như màu sắc hoa (trắng, hồng nhạt, hồng, đỏ, đỏthẫm), kiểu hoa (hoa đơn, hoa mai, hoa cúc, hoa hồng, hoa mẫu đơn), màu sắc lá(màu xanh nhạt, màu xanh đậm, màu đỏ), kích cỡ lá (nhỏ, trung bình, to), dángcây (có 18-20 giống đào thân thẳng đứng, 10 giống đào lùn (Thất Thốn), 10giống cành rủ, 9 giống cành mọc hình chóp, ngoài ra còn một số dáng cây lai từcác giống này)
2.1.3 Đặc điểm thực vật học
Đặc tính sinh vật học quan trọng nhất của cây hoa đào là tốc độ sinh trưởngphát dục nhanh Thời tiết thuận lợi vào tháng 3-4 đào mọc mầm rất nhanh, saumột thời gian ngắn trên thân chính mọc ra cành cấp 1, từ cành cấp 1 ra cành cấp
2, 3… một mùa sinh trưởng có thể ra đến 4, 5 cấp cành (Nguyễn Hữu Tề vàĐoàn Văn Điếm, 2004)
Theo Đặng Văn Đông và Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) cây hoa đào có một
số đặc điểm thực vật học như sau:
Trang 24- Rễ: là bộ phận nằm dưới mặt đất, cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây.
Đào có bộ rễ khá phát triển, rễ cọc ăn sâu và phân nhánh khoẻ, do vậy đào có khảnăng chịu hạn tốt nhưng chịu úng kém Trồng đào ở những nơi có mực nướcngầm cao, rễ bị thối đen, nụ hoa bị thui
- Thân, cành: thuộc loại thân gỗ nhỏ, cành dài, mềm, dễ uốn, có khả năng
phân cành khoẻ, thân có màu xanh hoặc màu đỏ tía Thân, cành bao gồm thânchính và cành Thân chính của cây đào ghép từ chỗ giới hạn giữa gốc ghép và thânghép đến chỗ phân cành đầu tiên, còn với cây con mọc từ hạt thì thân chính từ cổ
rễ tới chỗ phân cành đầu tiên Trên thân chính sẽ mọc các cành chính, chúnghợp lại tạo thành tán cho cây, tạo cho cây một thế vững chắc Thân chính càngcao, khoảng cách giữa các bộ phận trên không và rễ dưới đất càng xa, cây chậm rahoa Do đó, muốn cây có thân chính thấp thì phải tạo cành trong tán không nênquá dày, cành mang hoa không nên vượt quá xa thân chính và cành chính
Mối quan hệ giữa sinh trưởng thân cành và ra hoa có một sự gắn bó hết sứcmật thiết, đặc biệt là sự hình thành, sinh trưởng của cành lộc mới với việc phânhoá mầm hoa Nếu cành lá sinh trưởng quá yếu, khả năng đồng hoá sẽ kém dẫntới việc phân hoá mầm hoa, nở hoa không thuận lợi Ngược lại, cành lá sinhtrưởng quá mạnh, thời gian sinh trưởng kéo dài thì tiêu hao nhiều dinh dưỡng chocác phần non trên cành, cho nên tuy lá có nhiều nhưng sản phẩm đồng hoá tíchluỹ được ít, do đó việc phân hoá mầm hoa cũng gặp khó khăn, bởi vậy cành láchỉ phát triển với một độ vừa phải là tốt nhất (Đặng Văn Đông và Nguyễn ThịThu Hằng, 2009a)
- Lá: là cơ quan quang hợp chính của cây Hiệu suất quang hợp của lá có ý
nghĩa rất lớn đến màu sắc, chất lượng hoa, mỗi lá nằm ở cành hoa sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến hoa đó Phiến lá hoa đào có hình mũi mác, hình ô van hay elíp, dài7-15 cm và rộng 2-3 cm Mặt dưới của phiến lá có gân nổi rõ Đào là loại cây cónguồn gốc ôn đới nên bộ lá phát triển theo mùa rõ rệt, mùa xuân ra lộc, mùa hèphát triển lá, mùa thu lá vàng, mùa đông lá rụng Lá mọc khá sít vào nhau, tuỳtừng giống mà lá có màu xanh đậm, xanh nhạt hay màu đỏ, lá có mùi hắc (ĐặngVăn Đông và Nguyễn Thị Thu Hằng, 2013)
Theo Nguyễn Thị Kim Lý (2009), khi tác động các biện pháp kỹ thuật cầnchú ý đối với lá cây, phải luôn luôn giữ cho lá xanh tốt, lá rụng đúng kỳ hạn,trong thời kỳ sinh trưởng mạnh không để rụng lá đột ngột hoặc rụng lá bất
Trang 25thường, tạo điều kiện để lá chuyển lục tốt Cần tìm mọi biện pháp để tăng cườngkhả năng đồng hoá của lá đạt đến tối đa Do đó khi trồng phải đảm bảo mật độ,cung cấp nước, phân bón đầy đủ, cắt tỉa hợp lí, phòng trừ sâu bệnh kịp thời.
- Hoa: Mục tiêu cuối cùng của người trồng cũng như những nhà khoa học
nghiên cứu cây đào cảnh là làm cho hoa đẹp Hoa đào do mầm hoa phân hoáthành, vị trí của hoa nằm ở các nách lá Hoa đào là loại hoa lưỡng tính có đầy đủnhị đực, nhị cái Đào thường ra hoa vào cuối đông, đầu xuân, xung quanh dịp tết
âm lịch, đào là cây thụ phấn chéo (một số giống có khả năng tự thụ phấn) Cánhhoa đào thường có nhiều màu sắc: trắng, hồng nhạt, hồng đậm, đỏ Số lượngcánh hoa tuỳ vào từng giống có thể thay đổi từ 5-25 cánh hoặc hơn 25 cánh Hoathường có nhiều hình dạng như cánh đơn, cánh mai, cánh hoa hồng, cánh hoacúc, cánh hoa mẫu đơn Nụ hoa có các hình dạng như hình trứng, hình elíp, hìnhcầu, hình trám (Đặng Văn Đông và cs., 2010)
- Quả: Quả đào thuộc loại quả hạch, đầu nhọn có một rạch nhỏ lõm chạy
dọc theo quả Quả đào chứa một hạt to được bao bọc trong một lớp vỏ gỗ cứnggọi là vỏ hạt Cùi thịt quả màu vàng hay ánh trắng, có vị thơm ngon và lớp vỏ cólông tơ mềm như nhung (Vũ Công Hậu, 1999)
- Hạt: Hạt đào có dạng hạch, được bao bọc một lớp gỗ cứng chắc chắn, vì
vậy muốn hạt nhanh nảy mầm phải xử lý hạt trước khi gieo (Hoàng Kiến Nam vàNguyễn Viết Chi, 2003; Jiang, 2000)
Ở Việt Nam, dựa vào đặc điểm màu sắc hoa và hình thái thân, cành, lá phânbiệt các giống hoa đào khác nhau: đào Bích, đào Phai, đào Bạch và đào Thất Thốn,đào GL2-1, GL2-2, GL2-3 (Đặng Văn Đông và Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010)
Đào Bích: Giống này được trồng phổ biến ở nước ta, nó xuất hiện ở tất cả
các vùng trồng đào cảnh trên cả nước và được nhiều người ưa thích Đào Bích cóhoa kép, cánh dầy với trên 16 cánh, màu đỏ thắm, nhụy vàng Hiện nayđào Bíchđang được trồng nhiều ở Nhật Tân, Đông Anh (Hà Nội), Hải Dương, Thái Bình,Thái Nguyên, Bắc Giang
Đào Phai: Giống như tên gọi, đào Phai có màu đỏ đặc trưng tập trung ở
phần giữa hoa, xen lẫn các nhị và nhụy màu vàng, màu sắc "phai" dần từ giữa raphía đầu cánh khiến cho cánh hoa có màu hồng Nhóm giống này lại có các loạigiống khác nhau như: phai đơn cánh, phai cánh bán kép và phai cánh kép ĐàoPhai được trồng phổ biến ở Hải Phòng, Hải Dương và các tỉnh miền núi phía
Trang 26Bắc Hiện nay do thị hiếu của người chơi, đào Phai đang phát triển rộng thịtrường tại Hà Nội.
Đào Bạch: Hoa có màu trắng, nhụy vàng, cánh mỏng và thưa, hiện được
trồng nhiều ở vùng núi tỉnh Lạng Sơn
Đào Thất Thốn: xuất hiện ở Việt Nam hơn chục năm nay song giống này
không phát triển rộng, hiện chỉ còn thấy ở một vài tư gia Đào Thất Thốn có hoamọc đôi rất đặc biệt, tán cây thường rậm vì lá to chen nhau, có màu xanh thẫm.Đào Thất Thốn có đốt cây (khoảng cách 2 lá) rất ngắn, cứ 1cm có 5-7 lá Đóchính là lý do khiến chiều cao của cây hoa phát triển chậm Cành và thân đàoThất Thốn cứng và giòn nên khó uốn, nhất là khi đã hoá mộc Thân cây có nhiềuvảy sẹo, vỏ thân đã hoá mộc thường có màu xám hoặc màu nâu đậm, hoa thưaphân bố không đều trên cành Kiểu hoa kép, hoa to, nhuỵ vàng, cánh dầy Nhómđào Thất Thốn cũng có các giống khác nhau như: các giống có hoa màu đỏ, màutrắng, màu hồng; các giống có lá màu đỏ hay lá màu xanh (Đặng Văn Đông vàNguyễn Thị Thu Hằng, 2009b)
Đào Mãn Thiên Hồng: là giống đào mới được Viện Nghiên cứu Rau quả
phối hợp với công ty TYC Quảng Châu nhập về một số lượng nhỏ để trồng thử
nghiệm từ năm 2006 Đào Mãn Thiên Hồng (Prunus persica Lin.) được các
nhà tạo giống Trung Quốc lai tạo từ đào hoang dại và đào Bích Đặc điểm củađào Mãn Thiên Hồng là cành nhiều hoa, cánh dày, màu hồng đậm hoặc phớt
hồng, độ bền cao (Hu et al., 2003) Hiện nay diện tích trồng đào Mãn Thiên
Hồng đang được mở rộng tại một số tỉnh như Thái Bình, Quảng Ninh (ĐặngVăn Đông và cs., 2010)
Đào GL2-1, GL2-2, GL2-3 là các giống đào mới Viện Nghiên cứu Rau quảtuyển chọn từ các dòng đào địa phương, đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn công nhận là giống mới Đặc điểm của các giống đào này là số lượnghoa trên cây cao, cánh hoa dày, nhiều cánh, đường kính hoa to, độ bền hoa cao (Đặng Văn Đông và cs., 2013; 2015)
2.2 YÊU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN SINH THÁI CỦA CÂY HOA ĐÀO
2.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp và hô hấp, quyết định đến sựsinh trưởng, phát triển, nở hoa và chất lượng của hoa đào Nhiệt độ thấp là yếu tốquan trọng nhất đối với đào, đặc biệt là giai đoạn phân hoá mầm hoa Đào có thể
Trang 27sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 20-300C Nếu gặp mùa hè nhiệt độ cao
với thời gian kéo dài, cây sẽ ngừng sinh trưởng (Дроздов, 1989; (Shen et al.,
1999) Khi nghiên cứu giống hoa đào Mãn Thiên Hồng ở Sơn Đông (Trung
Quốc) Hu and Dongyan et al., (2007) nhận thấy nhu cầu về “độ lạnh” của đào
khoảng 300 - 500 CU, trong đó có khoảng 200-300 giờ độ nhiệt thấp dưới 7,20Ccho phân hóa hoa và trên 500 giờ độ nhiệt thấp dưới 7,20C cho hoa nở Hàng nămcây yêu cầu có một thời gian với một độ lạnh nhất định để phân hoá mầm hoa và
ra hoa Trong điều kiện không đủ lạnh, cây phát triển yếu, chỉ mọc các mầmchồi, mầm hoa ra ít Các mầm hoa thường bị chết đi ở khoảng nhiệt độ từ -50Cđến -100C Nếu mùa đông trời lạnh kéo dài, nhiệt độ thấp dưới 70C thì chồi hoa
sẽ nở chậm hoặc không nở, người ta gọi đó là hiện tượng “đào mù” (Shen et al.,
1999; Nguyễn Quang Thạch, 2000)
Yêu cầu về thời gian lạnh của mỗi giống đào là khác nhau nhưng thôngthường các giống đào có yêu cầu độ lạnh từ 10-15°C để phá ngủ mầm hoa vàmầm lá Đối với các giống đào cận nhiệt đới yêu cầu số giờ lạnh là 150-250 giờ,còn đối với một số giống đào nhiệt đới cần số giờ lạnh là 600-1000 giờ (Vũ CôngHậu, 1999)
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ lạnh đến sự phát triển nụ hoa đào
Prunus persica (L.) Batsch Quamme (2012) nhận thấy khi nhiệt độ lạnh đến
-1oC sẽ làm hư hại 30% nụ hoa, khi nhiệt độ lạnh đến -5oC sẽ làm hư hại hoàntoàn nụ hoa, hoa không phát triển được
Kết quả nghiên cứu cây mai vàng Yên tử (loại cây có đặc tính giống câyhoa đào) của tác giả Đặng Văn Đông và cộng sự cho biết nhiệt độ ảnh hưởng lớnđến quá trình phân hóa mầm hoa và ra hoa của cây mai, với cây mai vàng miềnNam chỉ ra hoa thích hợp trong điều kiện miền Nam, còn cây mai Yên Tử lạithích hợp ra hoa ở điều kiện vùng núi Yên Tử (Uông Bí - Quảng Ninh)
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã chothấy tầm quan trọng của nhiệt độ đối với cây đào Nhiệt độ thấp đã giúp cây đàotrải qua được các giai đoạn phát triển để xúc tiến phân hóa mầm hoa Tuy nhiên,các kết quả nghiên cứu chưa chỉ rõ được thời gian nhiệt độ thấp cần có đối vớicác giống, tích ôn hữu hiệu ở các giai đoạn phát triển có ảnh hưởng như thế nàođối với sự ra hoa và chất lượng hoa đào trong điều kiện khí hậu miền Bắc ViệtNam, đó là những câu hỏi cần được quan tâm nghiên cứu sâu hơn
Trang 2810 10
2.2.2 Ánh sáng
Ánh sáng là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây Ánh sángcung cấp năng lượng cho phản ứng quang hợp để tạo ra chất hữu cơ cho cây.Nhờ phản ứng quang hợp, chất hydratcacbon được tổng hợp từ các chất vô cơ(CO2 và H2O) cung cấp cho quá trình sinh trưởng, phát triển Có tới 90% chấtkhô trong cây là do quang hợp tạo nên Ánh sáng đầy đủ sẽ làm tăng bề dầy của
mô, tăng hàm lượng diệp lục, thúc đẩy quá trình quang hợp Trái lại, trong điềukiện ánh sáng yếu thì cây sinh trưởng kém, hàm lượng diệp lục giảm, thịt lámềm, gian bào chứa đầy nước do đó cây sinh trưởng chậm, cành thường bị vống,
ra hoa chậm, hay bị rụng nụ, rụng hoa, màu sắc hoa trở nên nhợt nhạt (Будыко,1971; Дроздов, 1989; Đoàn Văn Điếm và cs., 2005)
Cường độ quang hợp phụ thuộc vào điều kiện ánh sáng, thiếu ánh sáng câykhông thể quang hợp được, quang hợp phụ thuộc vào thành phần quang phổ củaánh sáng và cường độ chiếu sáng Cường độ quang hợp của cây trồng tăng khicường độ chiếu sáng tăng, song nếu cường độ ánh sáng vượt quá giới hạn thìquang hợp bắt đầu giảm (Lê Quang Vĩnh, 2001; Nguyễn Xuân Linh và NguyễnThị Kim Lý, 2005)
Đào là cây ưa sáng, cần cường độ ánh sáng từ 30.000-72.000 lux, thời gianchiếu sáng từ 6-8 giờ/ngày, vì vậy đào cần được trồng ở nơi có nhiều ánh nắngvới sự thông thoáng tốt (Đặng văn Đông và cs., 2009b) Trong vườn đào nếu phíanào bị thiếu ánh sáng, tán cây sẽ khuyết về phía đó Do vậy, cần đốn tỉa tạo bộtán thông thoáng giúp tất cả các cành đều nhận được nhiều ánh sáng (Vũ CôngHậu, 1999; Nguyễn Hữu Tề và Đoàn Văn Điếm, 2004)
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu còn chưa đề cập đến ảnh hưởng của sốgiờ nắng đến sinh trưởng, ra hoa và chất lượng của hoa đào
Đào là cây ưa cạn nên nó cần sự cung cấp nước ổn định vào mùa hè, yêucầu lượng mưa 1.250-1.500mm, độ ẩm không khí 80-85%, độ ẩm đất 60-70% đểsinh trưởng phát triển bình thường
Trang 29có đầy đủ nước và môi trường thích hợp giúp tế bào phân chia thuận lợi, cây sinhtrưởng, phát triển nhanh Khi thiếu nước các quá trình sinh lý, sinh hoá trong câygiảm, các hợp chất hữu cơ được tạo thành ít, cây còi cọc, phát triển kém Nếu sựthiếu nước kéo dài, cây có thể khô héo và chết.
Đối với đào, nếu trồng ở nơi đất trũng, thừa nước thì rễ bị thối, cây dễ bịchết Trồng trong bóng râm, ít ánh nắng, đất ẩm, lá sẽ xanh tốt quanh năm, nhưngđến mùa thu hoạch đào có rất ít hoa Trong suốt đời sống của cây đào, cần có sựcung cấp nước ổn định và tăng lên trong một khoảng thời gian ngắn trước khi thuhoạch quả Hương thơm của đào chỉ có được khi cây đào được tưới nước đầy đủtrong cả vụ (Nguyễn Hữu Tề và Đoàn Văn Điếm, 2004)
Nghiên cứu về kỹ thuật canh tác, các tác giả Scorza et al (2006) cho rằng
cần bố trí trồng cây ưa bóng dưới gốc đào nhằm cải thiện độ ẩm đất, chống xóimòn, đồng thời che phủ lớp đất mặt, hạn chế lượng nước bay hơi, mặt khác là nơi
ẩn nấp cho thiên địch, giảm tỷ lệ sâu hại trên cây đào
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu còn chưa đề cập đến lượng mưa có ảnhhưởng tới sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa đào như thế nào? Ở miền Bắcnước ta, tùy theo điều kiện địa hình, lượng mưa thường có nhiều biến động, vìthế cần phải có những nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của lượng mưa tới sự rahoa và chất lượng hoa đào ở các vùng trồng đào
2.2.4 Đất đai
Theo Thái Phiên (2000), địa hình là một yếu tố phức tạp ảnh hưởng đếnnhiều yếu tố sinh thái khác Trước hết địa hình ảnh hưởng đến tình hình thời tiết,khí hậu Độ cao của một địa điểm, vị trí của nó ở đỉnh đồi, sườn đồi hay dướithung lũng thì sẽ có chế độ nhiệt, chế độ mưa, ẩm khác nhau
Theo Đặng Văn Đông và Nguyễn Thị Thu Hằng (2009b), đào yêu cầu đấtthoát nước tốt, nếu trồng đào ở chỗ đọng nước rễ thường bị thối Đất có thành
Trang 3012 12
phần cơ giới là cát pha, thịt nhẹ thích hợp nhất đối với cây đào Đất nhiều mùn ởcác bờ suối có độ dày tầng đất sâu, dễ thoát nước ở các tỉnh miền núi phía Bắcnước ta là những chỗ trồng đào rất tốt Đào chịu được đất hình thành trên đávôi nhưng pH không cao quá Nếu bón nhiều vôi, đào thường bị vàng lá do bịthiếu sắt
Cây đào có thể chịu được đất xấu, đất dốc có độ cao 700-900m Đào sinhtrưởng tốt ở đất feralit đỏ vàng, hơi chua hoặc đất cát, sỏi nhiều, đất tơi xốp nhiềumùn, đất có pH 5,5-6 là thích hợp (Nguyễn Hữu Tề và Đoàn Văn Điếm, 2004)
Cây đào thích hợp với các loại đất feralit hình thành ở các điều kiện khácnhau Đất feralit là loại đất phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi, phổ biến có màu đỏvàng do tích luỹ sắt (Fe), nhôm (Al) Về mùa mưa ẩm, nước hoà tan sắt nhôm ởtrạng thái khử di chuyển xuống mạch nước ngầm, đến mùa khô nhờ tác dụngmao dẫn, các oxit Fe, Al đó bị thấm lên trên và bị oxi hoá, kết tủa lại hình thànhkết von và đá ong…, đó là quá trình tích lũy tuyệt đối Quá trình tích luỹ tươngđối thì do silic oxit (SiO2) bị hoà tan, rửa trôi trong nước có nhiều khí cacbonic(CO2), quá trình feralit hoá làm thay đổi tỉ lệ hàm lượng SiO2 với R2O3 (Al2O3+
Fe2O3) Vì SiO2 bị rửa trôi, đương nhiên hàm lượng của nó giảm đi tương đối sovới các oxit sắt và nhôm Hàm lượng của các oxit R2O3 (Al2O3+ Fe2O3) lại tănglên tương đối so với SiO2 nên tỉ lệ SiO2/R2O3 càng thấp, khi đó quá trình feralithoá càng mạnh hơn (Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên, 1999)
Thành phần cơ giới của đất Feralit với hàm lượng khoáng nguyên sinh thấp,SiO2/R2O3 nhỏ hơn 2, hàm lượng kaolinit chiếm ưu thế thì dung tích hấp thucation thấp, cấu trúc bền Trong mùn axit funvic trội hơn axit humic Ở Việt Namcác loại đất feralit tuỳ theo đá mẹ, phân biệt (1) đất đỏ vàng trên đá sét và đá biếnchất (khoảng 6 triệu ha) có tầng đất dày, chua, thành phần cơ giới nặng, độ phìkhá; (2) đất vàng đỏ trên macma axit (4,6 triệu ha) thường có tầng đất mỏng,chua, ít mùn, nghèo lân, độ phì trung bình; (3) đất nâu đỏ trên macma kiềm vàtrung tính (2,6 triệu ha) là đất rất tốt để trồng cà phê, cao su, hồ tiêu, ; (4) đấtvàng nhạt trên đá cát (2 triệu ha) có tầng mỏng, nhiều cát hoặc pha cát, nghèochất dinh dưỡng, thường bị xói mòn mạnh Đất đỏ vàng thường được khai thác
để trồng cao su, cà phê, chè, ca cao, dâu tằm, cây ăn quả, cây đào (Thái Phiên,2000; Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)
Trang 3113 13
Các loại đất Feralit đỏ vàng ở nước ta gồm có:
+ Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét: diện tích 11.155 ha Đất
có tầng dầy đến trung bình, khi lớp thảm bị phá hoại thường có hiện tượng bị xóimòn hoặc kết vón Đất phân tầng rõ, kém tơi xốp, thành phần cơ giới thịt nặng.Hàm lượng mùn trung bình (2-4%), hàm lượng cation trao đổi và độ no bazơ thấp
+ Đất feralit vàng đỏ trên đá macma axit: diện tích 10.425 ha, phân bố trên
các sườn dốc hiểm trở Đất tuy tơi xốp hơn loại trên nhưng độ dày tầng đấtthường mỏng, chua, ít mùn (1-1,5%) Trong tầng đất còn tồn tại nhiều mảnhthạch anh
+ Đất feralit vàng nhạt trên đá cát kết: diện tích 3.700 ha, tầng đất mỏng
đến trung bình, thành phần cơ giới nhẹ, đất chua, nghèo mùn (0,5-1,5%) (Vũ CaoThái và cs., 1997; Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên, 1999)
Theo Nguyễn Huy Trí và Đoàn Văn Lư (1994), đất trồng đào phải là đấtpha cát, pH thích hợp 6,5-7, thoát nước tốt Các tác giả cũng cho biết nếu pH<5,5phải khử độ chua bằng 1 kg vôi bột cho 10m2 đất Kích thước hố trồng đào là 0,4
m x 0,4 m; khoảng cách hố 1,8m x 1,8m Lượng phân bón thúc (180kg N + 90kg
P2O5+130kg K2O)/ha/năm, chia làm 4 đợt bón Các tác giả đã đưa ra kết luận,thời vụ khoanh vỏ hãm đào từ 10-20/8 âm lịch để đào nở hoa vào dịp tết, thúc vàhãm hoa nở trong trường hợp cần thiết Thúc để hoa nở rộ bằng 3 cách: tưới phânđạm pha loãng, bới gốc tưới phân bắc hoặc tưới nước ấm 35-400C Hãm hoa nởsớm bằng cách không tưới nước, thiến, chặt bỏ bớt rễ hoặc che giảm ánh sáng.Theo Đặng Văn Đông và Nguyễn Thị Thu Hằng (2010), đào hố trồng đàotheo kích thước 0,4m x 0,4m, khoảng cách hố 1m x 1m, tương đương mật độ trồng
300 cây/sào Bón lót 10-15 kg phân chuồng + 100kg super lân + 0,1kg vôi bột/sào.Bón thúc lần 1 vào tháng 8: 0,3kg N + 0,1kg P2O5 + 0,1kg K2O/lần/cây; bón thúclần 2 vào tháng 9-10: 0,1kg N + 0,1kg P2O5 + 0,1kg K2O Khoanh vỏ hãm đào vào15/8 âm lịch; tuốt lá từ 5-15/10; đào phai từ 1-10/11; đào bích từ 5-
20/11
Theo Trần Hợp (1993) và Đào Mạnh Khuyến (1993), mật độ và khoảngcách trồng đào phải đạt 200 cây/sào Bắc Bộ, bón phân lót 5 kg phân chuồng hoai+ 1 kg supe lân/gốc, bón thúc sau đợt cắt tỉa cành trước tháng 7 với lượng bón0,05 kg/gốc; khoanh vỏ vào thời điểm giữa tháng 8 âm lịch, tuốt lá trước Tết
Trang 3214 14
Nguyên đán 50- 60 ngày, đào Phai cần tuốt lá sớm hơn đào bạch
Trang 33Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, cây đào cần phân vi lượng rất ítnhưng không thể thiếu Trong số các nguyên tố vi lượng (Mg, Fe, Mn, B, Zn…),
Bo và Zn được coi là hai nguyên tố quan trọng nhất Bo (B) có tác dụng rất tốt tới
sự phân hoá mầm hoa, quá trình thụ phấn, thụ tinh và sự phát dục của cơ quansinh thực, đồng thời cũng có tác dụng tốt tới sự chuyển hoá và vận chuyểnđường Nếu thiếu Bo, phần chóp ngọn cây ngừng sinh trưởng, lá và cành cong,đốt ngắn lại Nhiều Bo quá, mép lá biến thành màu nâu, các phần khác biến thànhvàng Kẽm (Zn) kích thích sự khử CO2 trong diệp lục, thúc đẩy quá trình quanghợp Kẽm có liên quan đến sự hình thành kích tố sinh trưởng Nếu thiếu kẽm,chất kích thích sinh trưởng khó hình thành, ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cây,đốt ngắn lại, lá và gân lá thiếu màu xanh sau đó chuyển sang vàng, trắng và chếtkhô (Nguyễn Quang Thạch và cs., 2000; Nguyễn Văn Uyển, 1995)
Các loại phân vô cơ (đạm, lân, kali…), hữu cơ (phân bắc, phân chuồng,nước giải, phân vi sinh ) và vi lượng (Cu, Fe, Zn, Mn, Bo…) có ý nghĩ hết sứcquan trọng đối với sinh trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất của hoa đào(Lê Văn Tri, 1992)
2.3.2 Vai trò của phân bón đối với cây đào
2.3.2.1 Phân đạm
Cây hoa đào có yêu cầu cao về nitơ (N) hơn các loại cây hoa quả khác Nitơ
là yếu tố dinh dưỡng cơ bản, thành phần chính của protein, nitơ đóng vai trò quantrọng trong sự hình thành các cơ quan, là thành phần của nhiều hợp chất hữu cơcần thiết như ancaloid, chất điều tiết sinh trưởng, glucozit, diệp lục… (Đặng VănĐông và Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010)
Trang 3416 16
Bón đạm làm cho cây xanh tốt, thúc đẩy quá trình quang hợp, kích thíchthân, lá phát triển Nếu bón đạm dư thừa sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng, chồilộc phát triển mạnh, chồi hoa không được hình thành, thân, cành vống, mềm,yếu, mất cân đối giữa thân, lá và hoa, tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển Khithiếu phân đạm thì lá xanh chuyển sang màu vàng nhạt, các gân chính bị mấtmàu, cây còi cọc, thân lá nhỏ bé, cây ra hoa sớm nhưng hoa nhỏ, thậm chí gây rahiện tượng rụng nụ, rụng hoa (Nguyễn Quang Thạch và cs., 2000; Vũ Ngọc Lan
và cs., 2011)
2.3.2.2 Phân lân
Phân lân cung cấp nguyên tố phốt pho cho cây trồng Phốt pho giữ vai tròquan trọng trong quá trình hô hấp, quang hợp và làm tăng cường quá trình hútđạm Phân lân có tác dụng lớn nhất khi cây còn nhỏ, lân kích thích rễ cây pháttriển Tuy nhiên, phân lân cũng đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ hình thành nụ
và hoa Cây đào có nhu cầu về phân lân thấp, ít khi có biểu hiện thiếu phốt pho.Thiếu phốt pho lá đào trở nên già, chuyển màu xanh tím, hoa nhỏ và thưa,chóng tàn, màu sắc nhợt nhạt Do phân lân thường ở dạng khó tiêu nên cần bónlót trước khi trồng (Võ Minh Kha, 2003; Nguyễn Hữu Tề và Đoàn Văn Điếm,2004)
2.3.2.3 Kali
Kali tham gia vào quá trình tổng hợp nhiều chất hữu cơ quan trọng như diệplục, sắc tố, protein , kích thích hoạt động các enzyme, tham gia quá trình vậnchuyển các chất trong cây, thúc đẩy quá trình quang hợp Kali còn làm tăng khảnăng chống chịu với điều kiện bất thuận như tăng khả năng chịu rét, chịu hạn,chống chịu sâu bệnh hại… Trong quá trình sinh trưởng, phát triển đào cần bónphân kali vào thời kỳ ra nụ và nở hoa Nếu thiếu K màu sắc hoa nhợt nhạt, cánhhoa mềm, chóng tàn Người trồng đào sử dụng phân kali như một biện pháp kíchthích, thúc cho hoa nở sớm (Nguyễn Quang Thạch và cs., 2000)
2.3.2.4 Vi lượng
Vi lượng là những nguyên tố cây đào cần một lượng rất ít, nhưng nó chiếm
vị trí rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Nếu thiếunguyên tố vi lượng sẽ làm thay đổi sự trao đổi chất, các hoạt động sống của cây.Thiếu vi lượng cây sinh trưởng, phát triển không bình thường, dễ bị nhiễm một
Trang 3517 17
số loại bệnh và ảnh hưởng tới chất lượng hoa Nếu thiếu Mg thì lá giòn, biếndạng cong queo, chuyển thành mầu đỏ, lá ít, cuống dài, nhỏ, gân lá gồ ghề, ức
Trang 3618 18
chế sự hình thành hoa nên hoa nhỏ, thưa Thiếu Fe làm phiến lá chuyển màuvàng nhạt, gân lá màu trắng, cây sinh trưởng chậm Thiếu Mn làm cây bị bệnhvàng lá do đồng hóa nitơ (N) gặp trở ngại (Lê Văn Tri, 1992)
2.3.2.5 Phân hữu cơ
Phân hữu cơ là một loại phân hỗn hợp, chứa hầu hết các nguyên tố đa lượng
và vi lượng mà cây đào cần Bón phân hữu cơ sẽ tạo ra sự cân đối về dinh dưỡngcho cây, đồng thời còn có tác dụng cải tạo đất, tăng độ mùn và độ tơi xốp của đất.Phân hữu cơ được sử dụng để bón lót (phải là phân hoai mục) hoặc dùng để ngâm
ủ, lấy nước để tưới (Võ Minh Kha, 2003; Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên, 1999)
2.4 CƠ SỞ KHOA HỌC VIỆC ĐIỀU KHIỂN RA HOA CHO CÂY ĐÀO
2.4.1 Các mối tương quan sinh trưởng, phát triển của cây
Khoanh vỏ hoặc tuốt lá là các biện pháp điều khiển sự ra hoa dựa trên cơ sởkhoa học về tương quan sinh trưởng, phát triển giữa các bộ phận trên cây TheoHoàng Minh Tấn và cs (2005), thực vật có các mối tương quan sinh trưởng, pháttriển sau đây:
- Tương quan kích thích sinh trưởng: Khi bộ phận này sinh trưởng sẽ kích
thích bộ phận khác sinh trưởng theo (ví dụ: rễ sinh trưởng tốt thì sẽ kích thíchthân lá sinh trưởng mạnh và ngược lại) Rễ cung cấp nước và chất khoáng chocác bộ phận trên mặt đất và ngược lại, các bộ phận trên mặt đất sẽ vận chuyểncác sản phẩm quang hợp từ lá xuống cho rễ sinh trưởng… Rễ là cơ quan tổnghợp xytokinin và vận chuyển lên cung cấp cho sự sinh trưởng của các chồi, làmtrẻ hoá các bộ phận trên mặt đất Ngược lại, chồi ngọn và lá là cơ quan tổng hợpauxin và gibberelin cung cấp cho sự hình thành và sinh trưởng của hệ thống rễ
- Tương quan ức chế sinh trưởng: khi bộ phận này sinh trưởng sẽ ức chế
sinh trưởng của bộ phận khác (ví dụ: sự sinh trưởng của chồi ngọn ức chế sinhtrưởng của các chồi bên hoặc sự ức chế lẫn nhau giữa cơ quan dinh dưỡng và cơquan sinh sản…) Thân, lá, rễ sinh trưởng mạnh sẽ ức chế việc hình thành cơ quansinh sản, ngược lại sự hình thành hoa, quả sẽ ức chế sự sinh trưởng của các cơquan dinh dưỡng Khi các cơ quan dinh dưỡng sinh trưởng mạnh, nguồn chất dinhdưỡng sẽ được ưu tiên tập trung cho sự sinh trưởng của chúng và do đó, thiếu chấtdinh dưỡng cho việc hình thành cơ quan sinh sản và dự trữ Ngược lại, khihoa, quả, củ được hình thành, chúng là cơ quan tiêu hao, thu hút chất dinh dưỡng
và do đó các cơ quan dinh dưỡng sẽ bị thiếu chất không thể sinh trưởng được
Trang 3719 19
Các hormon hình thành trong cơ quan dinh dưỡng và cơ quan sinh sảnthường có tác dụng đối kháng nhau Các chất kích thích sinh trưởng được hìnhthành trong cơ quan dinh dưỡng (auxin được hình thành trong chồi ngọn,gibberelin trong lá non, xytokinin trong hệ thống rễ) lại ức chế sự hình thành hoa.Ngược lại, các chất ức chế sinh trưởng (ABA, ethylen…) được hình thành mạnhtrong cơ quan sinh sản và dự trữ lại ức chế sự sinh trưởng của các cơ quan dinhdưỡng Do vậy, khi thân lá tốt thì mầm hoa sẽ hình thành chậm và ngược lại, khimầm hoa xuất hiện thì thân lá sẽ ngừng hoặc chậm sinh trưởng… (NguyễnQuang Thạch và cs., 2000; Hoàng Kiến Nam và Nguyễn Viết Chi, 2003)
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lý Anh và cs (2009) về kỹ thuật nuôi
cấy mô in vitro cây hoa đào Nhật Tân cho thấy: khử trùng mẫu cây với cồn 70%
trong 5 phút và HgCl2 0,1% trong 5 phút rồi nuôi cấy trên môi trường MS lỏng
bổ sung 1000 mg/l cefotaxime cho tỷ lệ mẫu sống và vô trùng cao nhất, đạt 65,0%sau 14 ngày Ở giai đoạn nhân chồi, môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l TDZ
(thidiazuron) và 0,1 mg/l α - NAA cho hiệu quả nhân chồi khá tốt, chồi xanh khỏe.
Trên môi trường MS bổ sung 3 mg/l IBA (indole-3-butyric acid) các chồi đạt tỷ
lệ ra rễ 100% sau 3 tuần nuôi cấy Đây là những kết quả ban đầu có ý nghĩa rất
lớn, làm tiền đề cho các nghiên cứu bảo tồn in vitro giống đào Nhật Tân.
Khi nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây đào, Pagès et al (2011) cho thấy sự phát triển của hệ thống rễ của đào (Prunus persica L Batsch)
ở giai đoạn mới trồng tương quan chặt chẽ đến sự sinh trường của thân lá, bộ rễphát triển mạnh, thân lá cũng phát triển tương ứng
Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây đào, Pawasut et al.
(2004) cho rằng cây đào có tuổi thọ trung bình 35 năm, một số cây thọ tới 50năm Chiều cao cây tối đa đạt 8-10m, đường kính tán tối đa từ 12-15m Cây đàođòi hỏi có thời gian nghỉ đông, trong khoảng thời gian nghỉ đông lá sẽ rụng và nụhoa xuất hiện
Cũng theo Pawasut et al (2004) khi nghiên cứu 45 giống đào cảnh, đặc
điểm phát triển của đào là phân biệt các giai đoạn: thời kỳ sinh trưởng mầm, thời
kỳ già và rụng lá, thời kỳ ra hoa
Kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Đông và Nguyễn Thị Thu Hằng (2013)cho thấy, bốn giống hoa đào tại Hà Nội có đặc điểm thực vật học khác nhaunhưng đều sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện sinh thái của huyện Gia
Trang 382.4.2 Các phương pháp điều khiển sinh trưởng, phát triển cây
Cắt tỉa bỏ hết các cành mầm sinh trưởng yếu, bị sâu bệnh, giữ lại các cànhmầm to khỏe Khi cây cao 30-35 cm, buộc vào cọc cứng ở cạnh gốc, giữ cho câythẳng, khi cây cao 70-80 cm thì bấm ngọn Lúc này cần tỉa hết mầm gần ngọn,phía dưới giữ lại 3 cành khỏe hướng về 3 phía đều nhau Sau đó, khi cành dài 15-
20 cm lại bấm ngọn, để nắn tán cân đối, dùng dây đồng nhỏ buộc lại các cành bịlệch, các cành phải chĩa đều về bốn phía cho tán cây thật tròn Kết hợp việc uốncành, cần buộc các cành non vào với nhau hoặc vào một khung theo các thế đãđịnh, cắt tỉa bỏ những cành ngoài ý muốn (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn ThịKim Lý, 2005)
Ngoài ra, có thể kết hợp khắc vảy trên thân đào để tạo ra vẻ xù xì, cổ kínhcho thân cây Thế cây đào càng phức tạp, tốn nhiều thời gian và công phu sẽ cógiá trị hàng hóa cao, thu nhập lớn Vì vậy, người trồng đào phải hiểu biết đượccác loại thế cây cơ bản mà mình định tạo ra (Hạ Nhi, 2008; Bùi Thị Hồng vàĐặng Văn Đông, 2008)
Theo các tác giả Desmond and Daniele (2008), đối với cây đào, nếu bónnhiều phân, các chất dinh dưỡng tập trung kéo dài thời gian sinh trưởng dinh
Trang 3921 21
dưỡng, không có lợi cho sự ra hoa; cắt tỉa là biện pháp mấu chốt tạo dáng chocây đồng thời kích thích hình thành số lượng và chất lượng hoa trên cây
Theo Scorza et al (2006), cây đào không ưa đất trũng, nếu vùng trồng đào
trũng khi gặp mưa lớn không tiêu nước kịp thì cây chết rất nhanh Tác giả cũngcho biết cắt tỉa cho cây đào hàng năm là một trong những biện pháp làm tăngchất lượng hoa và hiệu quả kinh tế
Cắt tỉa là biện pháp kỹ thuật áp dụng đối với các loại cây trồng, cắt tỉa đốivới cây hoa đào tạo dáng cân đối, giảm thiểu sâu bệnh hại, tăng năng suất và chấtlượng hoa nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế Cắt tỉa đối với cây ăn quả nói chung
cụ thể cây vải hiệu quả giống như cây hoa đào Theo nghiên cứu của các nhàkhoa học Trung Quốc, biện pháp quan trọng để cây năm nào cũng ra hoa là phảigiữ lộc thu đúng thời điểm, sẽ cho năng suất cao (Nghê Diệu Nguyên và Ngô tốPhần, 1991)
Theo Hieke el al (2002), tùy thuộc vào từng giống mật độ cắt tỉa khác nhau
cho năng suất khác nhau, đối với cây Vải cắt tỉa 50% số cành trên cây đều cáchướng sẽ cho năng suất cao từ 30-40% so với cây không cắt tỉa Cũng theo Sten
et al (2005), thời gian cắt tỉa ảnh hưởng đến thời gian nở hoa, không cắt tỉa thì
chỉ 65-79% số cây nở hoa
Tác giả Nguyễn Văn Dũng (2005) và Hoàng Chúng Lằm (2005) cho rằngcắt tỉa làm tăng tỷ lệ hoa cái, số chùm quả/cây, làm tăng năng suất quả
Nguyễn Khắc Sơn (2006) cho rằng cắt tỉa cành sau khi thu hoạch từ 20-40
cm làm tăng đường kính cành lộc thu, tăng năng suất Cũng theo tác giả, biệnpháp cắt tỉa có ý nghĩa với việc rải vụ thu hoạch quả, làm cho Vải chín muộn hơn.Khi nghiên cứu về cắt tỉa Hoàng Lâm và cs (1999) cho rằng cắt tỉa khôngnhững giảm sâu bệnh mà cắt tỉa kết hợp với các biện pháp kỹ thuật khác chữađược bệnh chết rũ trên cây vải thiều
Trong kỹ thuật làm vườn hiện đại, cắt tỉa là khâu kỹ thuật then chốt đem lạinăng suất và chất lượng cao, cần có kỹ thuật và tay nghề (Phạm Văn Côn, 2004;Ngô Văn Bình, 2005)
2.4.2.2 Phương pháp khoanh vỏ
Khoanh vỏ là biện pháp kỹ thuật điều khiển cây đào ngắt dòng dinh dưỡngkhoáng từ rễ đi lên cung cấp cho thân lá nhằm kìm hãm thân, lá sinh trưởng, ngắtdòng vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá xuống rễ để ức chế sinh trưởng
Trang 4020 20
của bộ rễ Khi quá trình sinh trưởng bị ức chế, cây đào sẽ sản sinh ra chất ABAlàm già hóa cây, kích thích sự phân hóa mầm hoa và hình thành nụ (NguyễnQuang Thạch và cs., 2000; Hoàng Minh Tấn và cs., 2005)
Khoanh vỏ còn gọi là “thiến đào”, thường được tiến hành hàng năm từ
10-20 tháng 8 âm lịch Khoanh vỏ là dùng dao sắc khoanh một vòng ở phần cổ cây(gần phần phân nhánh) cho đứt vỏ vào tận phần gỗ Thông thường đối với câykhoẻ thì khoanh trước, cây yếu hơn thì khoanh sau Sau khoanh vỏ một tuần mà
lá đào sẽ chuyển từ màu xanh đậm sang vàng nhạt và hơi rủ xuống Nếu khoanh
vỏ phạm vào thân gỗ sâu, cây bị vàng lâu hơn thì phải bón phân, chăm sóc thêmcho cây mau hồi phục Nếu sau khi khoanh vỏ 1 tuần lá vẫn xanh tốt thì phải làmlại, lần sau vết cắt phải nằm dưới vết cắt cũ Sau khi bóc vỏ xong cần dùng túinilon cuốn lại, che bên trên vết khoanh, buộc chặt để nước mưa khỏi đọng ở chỗ
vỏ bị khoanh có thể làm thối vỏ Cũng có thể lấy dây thép cuộn vòng quanh gốchoặc thân cành nhằm điều khiển đào nở hoa đúng vào dịp Tết Nguyên đán, đồngthời tạo ra được những mấu sẹo già dặn và độc đáo Có khoanh vỏ, chất dinhdưỡng mới tập trung vào thân cành, hoa sẽ to và dày Nếu không khoanh vỏ vàtuốt lá, cây đào sẽ nở hoa tự nhiên, hoa nở rải rác, hoa thường nhỏ, thưa và nởmuộn, đến tháng giêng, tháng hai âm lịch, khi có gió Đông Nam mới nở (ĐặngVăn Đông và Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010)
Kỹ thuật canh tác là các biện pháp mấu chốt để trồng đào đạt chất lượng vàhiệu quả kinh tế cao Theo các tác giả Trần Hợp (1993), Nguyễn Huy Trí vàĐoàn Văn Lư (1994), việc chăm sóc cây đào chất lượng tốt, ra hoa nhiều khôngkhó bằng điều khiển cây đào ra hoa đúng dịp Tết Nguyên đán Trên cơ sở kinhnghiệm của các nghệ nhân trồng hoa đào lâu năm, nghiên cứu của phòng kỹ thuậtCông ty Công viên cây xanh Hà Nội, thời vụ trồng hoa đào tốt nhất là cuối vụđông, đầu vụ xuân, thời gian thiến đào từ ngày 15-31/8; thời điểm tuốt lá cho câyđào nở hoa đúng dịp Tết Nguyên đán đối với đào Bích từ 5-20/11 âm lịch; đàoPhai 1-10/11; đào Bạch từ 5-15/10 Những cây già cỗi cần thời gian tuốt lá sớmhơn những cây khỏe
Theo Đào Mạnh Khuyến (1993), thời vụ trồng đào tốt nhất là từ tháng 1 đếntháng 2 âm lịch, mật độ trồng 1 m x 1 m trên đất thịt nặng, thoát nước tốt Lượngphân bón lót cho đào từ 5-7 kg NPK, thời gian khoanh vỏ hãm đào từ 15- 31/8;tuốt lá 5-10/11 Nếu trời nồm ấm, hãm đào bằng cách tưới đẫm và bón thúc nhiềuphân cho cây trẻ lại hoặc ngược lại, hãm đào bằng cách để đất thật khô Nếu trờirét, hoa đào nở muộn thì thúc nở hoa bằng cách tưới phân đạm pha loãng