Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển của lan Đai châu Rhynchostylis .... Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
************
NGUYỄN THỊ MAI LY
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LAN ĐAI CHÂU
(RHYNCHOSTYLIS) TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN MAI THƠM
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Ly
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ về nhiều mặt của các cấp lãnh đạo, tập thể, cá nhân của Trung tâm Thực nghiệm và Đào tạo nghề, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới TS Nguyễn Mai Thơm, người đã trực tiếp hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quan trọng từ những bước nghiên cứu ban đầu và trong quá trình thực hiện viết luận văn Tôi xin cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Nông học, đặc biệt là các thầy cô trong
Bộ môn Canh tác học, Khoa Nông học, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tác giả hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, người thân, và toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã cỗ vũ, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Ly
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan 1
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt v
Danh mục bảng v
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu chung về cây lan 3
1.1.1 Nguồn gốc lịch sử, vị trí, phân loại và đặc điểm thực vật của cây lan 3
1.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây lan 8
1.1.3 Các điều kiện cơ bản để trồng lan 13
1.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất lan trên Thế giới và Việt Nam 18
1.2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, phát triển lan trên Thế giới 18
1.2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất hoa lan ở Việt Nam 20
1.3 Điều kiện tự nhiên và hiện trạng sản xuất hoa lan của Hà Nội 25
1.3.1 Điều kiện tự nhiên của Thành phố Hà Nội 25
1.3.2 Hiện trạng sản xuất hoa lan tại Thành phố Hà Nội 25
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Địa điểm và thời gian 28
2.1.1 Địa điểm 28
2.1.2 Thời gian 28
2.2 Vật liệu nghiên cứu 28
2.2.1 Mô tả đặc điểm của ngọn hoa lan dùng làm vật liệu nghiên cứu 28
2.2.2 Các vật liệu thí nghiệm 28
2.2.3 Các yếu tố phi thí nghiệm 29
2.3 Nội dung nghiên cứu 29
2.4 Phương pháp nghiên cứu 32
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 32
Trang 52.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 32
2.5 Xử lý số liệu 33
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Nghiên cứu các đoạn mắt ghép phù hợp khi ghép lan lên giá thể của lan Đai châu (Rhynchostylis) 34
3.2 Ảnh hưởng của một số giá thể đến sinh trưởng và phát triển của lan Đai châu (Rhynchostylis) 41
3.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển của lan Đai châu (Rhynchostylis) 45
3.4 Ảnh hưởng của các mức che sáng đến sinh trưởng và phát triển của lan Đai châu (Rhynchostylis) 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 65
Trang 7DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 : Đặc điểm thực vật của một số giống lan Đai châu 6
1.2 Một số loại lan được nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội 26
3.1 Tỷ lệ cây sống, chết của các đoạn mắt ghép của lan Đai châu 34
3.2 Ảnh hưởng của các đoạn mắt ghép đến động thái ra rễ lan Đai châu 35
3.3 Ảnh hưởng của các đoạn mắt ghép đến tăng trưởng chiều dài rễ mới lan Đai châu 36
3.4 Ảnh hưởng của các đoạn mắt ghép đến các chỉ tiêu sinh trưởng của lá lan Đai châu 37
3.5 Ảnh hưởng của các đoạn mắt ghép đến chỉ tiêu sinh trưởng của bộ lá lan Đai châu 38
3.6 Ảnh hưởng của các đoạn mắt ghép đến chỉ tiêu sinh trưởng của hoa lan Đai châu 39
3.7 Mức độ nhiễm bệnh hại của cây lan Đai châu 40
3.8 Tỷ lệ cây sống, chết của lan Đai châu khi ghép lên các giá thể khác nhau 41
3.9 Ảnh hưởng của một số giá thể đến các chỉ tiêu sinh trưởng của rễ và thân lan Đai châu 41
3.10 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến các chỉ tiêu sinh trưởng của bộ lá lan Đai châu 43
3.11 Ảnh hưởng của một số giá thể đến các chỉ tiêu sinh trưởng của hoa lan Đai châu 44
3.12 Mức độ nhiễm bệnh hại của cây lan Đai châu 45
3.13 Tỷ lệ cây sống, chết của lan Đai châu khi ghép lên các giá thể khác nhau 46
3.14 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái ra rễ mới lan Đai châu 46
Trang 83.15 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tăng trưởng chiều dài rễ
lan Đai châu 48
3.16 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái ra lá lan Đai châu 49
3.17 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các chỉ tiêu sinh trưởng của bộ lá lan Đai châu 50
3.18 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các chỉ tiêu sinh trưởng của hoa lan Đai châu 51
3.19 Mức độ nhiễm bệnh hại của cây lan Đai châu 52
3.20 Tỷ lệ cây sống, chết của lan Đai châu ở các mức che sáng khác nhau 53
3.21 Ảnh hưởng của các mức che sáng đến động thái ra rễ lan Đai châu 53
3.22 Ảnh hưởng của các mức che sáng đến sinh trưởng của bộ rễ lan Đai châu 55
3.23 Ảnh hưởng của các mức che sáng đến động thái ra lá lan Đai châu 56
3.24 Ảnh hưởng của các mức che sáng đến các chỉ tiêu sinh trưởng của bộ lá lan Đai châu 57
3.25 Ảnh hưởng của các mức che sáng đến các chỉ tiêu sinh trưởng của hoa lan Đai châu 58
3.26 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của cây lan Đai châu 59
Trang 9DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang 3.1 Ảnh hưởng của các đoạn mắt ghép đến động thái ra rễ lan Đai châu 36 3.2 Ảnh hưởng của các đoạn mắt ghép đến tăng trưởng chiều dài rễ mới lan
Đai châu 37 3.3 Ảnh hưởng của các đoạn mắt ghép đến các chỉ tiêu sinh trưởng của lá
lan Đai châu 39 3.4 Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến sự tăng trưởng rễ và thân lan
Đai châu 42 3.5 Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến tăng trưởng chiều dài rễ lan Đai
châu 43 3.6 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái ra rễ lan Đai
châu 47 3.7 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tăng trưởng chiều dài rễ lan
Đai châu 49 3.8 Ảnh hưởng của các mức che sáng đến động thái ra rễ lan Đai châu 54 3.9 Ảnh hưởng của các mức che sáng đến sinh trưởng của bộ rễ lan Đai
châu 56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế giới các loài hoa, hoa lan là một loài kỳ hoa dị thảo, cấu hình lạ màu sắc đẹp, hương thơm độc đáo và được người đời coi là hoàng hậu của các loài hoa Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của các loại hoa Hoa lan không chỉ là một loài hoa có vẻ đẹp rực rỡ về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, đường nét của cánh hoa tao nhã, đến những hình dạng thân, lá cành duyên dáng, ít có hoa nào sánh nổi Hơn nữa, hoa lan là một loài hoa đẹp có giá trị kinh tế, văn hoá cao và được nhiều người ưa chuộng Chính vì thế, hoa lan không chỉ chiếm ưu thế trong đời sống tinh thần của con người mà chúng trở thành một mặt hàng mang lại nguồn thu lớn
Hoa lan thực sự trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, nó thúc đẩy ngành sản xuất kinh doanh phát triển mạnh mẽ: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia… trong đó Thái Lan có kim ngạch xuất khẩu hoa lan cắt cành năm 1987 là 21 triệu USD, năm 1990 26 triệu USD, năm 1991 là 30 triệu USD, Singapore thu lợi nhuận từ hoa cắt cành mỗi năm là 10 triệu USD
Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, đời sống của nhân dân ta đã được cải thiện rõ rệt, nên nhu cầu thưởng thức về hoa lan nhất
là các giống lan bản địa truyền thống có màu sắc đẹp, có hương thơm tăng rất cao
so với những năm trước đây
Lan Đai châu (Rhynchostylis) là một loại lan khá phổ biển ở Việt Nam,
được nói là lan của Tết cổ truyền dân tộc vì nó luôn nở hoa vào dịp tết, do vậy nó còn có tên gọi khác là Lan Nghinh Xuân (đón xuân)
Đất nước ta là một trong những khu vực xuất phát các loài lan quý trên thế giới Do vị trí địa lý, khí hậu, ẩm độ, nhiệt độ và cường độ ánh sáng của nước ta rất thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển của cây lan Trên thực tế, trồng lan Đai châu mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng chưa có nhiều địa phương, cá nhân làm được Một nguyên nhân cơ bản là người trồng lan chưa hiểu hết các đặc tính
Trang 11sinh trưởng, phát triển của lan Về mặt khoa học chưa có biện pháp kỹ thuật phù hợp
để nuôi trồng, chăm sóc và sản xuất một cách có hệ thống cho loài hoa này
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và phát triển của cây lan Đai châu (Rhynchostylis) tại Gia Lâm Hà Nội”
2 Mục đích, yêu cầu
2.1 Mục đích
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và quá trình phát hoa nhằm góp phần xây dựng quy trình trồng, chăm sóc, ra hoa và nhân giống cây lan Đai châu, phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng
2.2 Yêu cầu
- Xác định số mắt ghép phù hợp khi ghép lan lên giá thể
- Xác định giá thể phù hợp với sinh trưởng và phát triển của lan Đai châu
- Xác định phân bón lá thích hợp với sinh trưởng của lan Đai châu
- Xác định mức che sáng phù hợp với sinh trưởng, phát triển của lan Đai châu
- Tạo ra mô hình kiểu mẫu để chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong vùng nông nghiệp đô thị và ven đô thị
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung về cây lan
1.1.1 Nguồn gốc lịch sử, vị trí, phân loại và đặc điểm thực vật của cây lan
1.1.1.1 Nguồn gốc lịch sử
Hoa lan (Orchidaceace) là một trong loài hoa đỉnh cao của sự tiến hoá của
các loài cây có hoa Hoa lan được con người biết đến từ rất sớm
Theo Bretchneider, từ đời vua Thuần Nông – Trung Quốc (2800 TCN) trong một tài liệu về cây thuốc còn ghi lại hai loại lan được dùng làm thuốc trị bệnh Tiếp đến đời nhà Tần (255 - 206 TCN), đời nhà Tống – Trung Quốc (906 - 279) cây hoa lan vẫn được coi là vị thuốc để chữa bệnh Ở phương Đông lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá, hương thơm của hoa do đó Khổng
Tử đề cao lan là vua của những loài cỏ cây có hương thơm Đến đời nhà Minh – Trung Quốc (1278 - 1368) cây hoa lan mới được biết đến, hoạ thành tranh và tranh hoa lan là tranh nghệ thuật đẻ trang trí nội thất thời bấy giờ (Trần Hợp, 1990)
Theo Trần Hợp (1990), người đặt nền tảng cho môn học về lan là John Lindley (1799 - 1856), ông đã công bố sắp xếp các tông họ lan và tên họ lan do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay
Ngày nay, các loại lan đã xếp thành một họ trong hệ thống phân loại
chung gọi là Orchidaceace, xác định được khoảng 750 giống và hơn 25.000 loại
và có hơn 300.000 loại lai (Trần Hợp, 1990)
Ở Việt Nam, hoa lan được biết đến từ những bông hoa đẹp, từ những vị thuốc chữa bệnh được lưu truyền trong dân gian Hoa lan là một loài hoa cao quý, đối với người Việt Nam hoa lan tượng trưng cho sự trong sạch, thanh cao,
số người hiều biết về lan và tuy còn ít ỏi và những người chơi hoa lan trước đây chủ yếu là những người giàu có, những Nho sĩ…
Từ thời vua Trần Anh Tông, nhà vua thích sưu tầm các loại hoa, các cây cảnh uốn thế và các loại hòn non bộ Đặc biệt là đã sưu tập được 500 loài cây lan quý, lập nên “Ngũ bách viên” – niềm kiêu hãnh của một ông vua hào hoa phong
Trang 13nhã Các xứ thần Trung Quốc và các nước mỗi khi đến Việt Nam, vua Anh Tông thường đích danh dẫn họ đi xem vườn Ai cũng tấm tắc khen và cho rằng Đông phương có một không hai, không ai có được vườn lan quý như vậy
Phạm Hoàng Hộ (1972) trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” (quyển II) đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở miền Nam Việt Nam Sau năm 1975, các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm kiếm và nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam Gunnar Seidenfaden (1972) đã phát hành cuốn
“Hoa lan tại Đông Dương” gồm 200 giống và 2.000 loài, trong đó có khoảng 136 giống và 720 loài của Việt Nam Theo Phạm Hoàng Hộ (1992), ở Việt Nam có tới 755 loài lan
1.1.1.2 Vị trí phân bố
Cây hoa lan mọc khắp mọi nơi trên thế giới từ miền gió tuyết đến sa mạc nóng bỏng khô cằn từ miền núi cao rừng thẳm đến đồng cỏ miền Bình Nguyên và ngay cả các vùng sình lầy cũng có lan, qua lịch sử biến đổi, cho đến ngày nay, người ta đã biết họ lan có một số lượng loài rất lớn khoảng 15.000 – 35.000 loài
Điển, Alasksa) xuống đến các đảo cuối cùng của cực Nam ở Australia
Theo Briger (1971) vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài,
Bắc Mỹ có 170 loài Họ lan (Orchidaceae) thuộc vào một loài hoa đông đảo với
khoảng chừng 750 chi và 30.000 loài nguyên thủy và khoảng một triệu loài lai; là
loài hoa có số lượng lớn đứng thứ 2 sau họ cúc (Asteraceae)
Theo Peresley (1981) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6.801 loài
trong đó chi Dendrobium có 1.400 loài, chi Coelogyne có 200 loài, chi
Phalaenopsis có 35 loài Vùng Châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8.266 loài Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài hoa như Colombia có 1.300 loài, Tân Ghinê có 1.450 loài (Phan Thúc Huân, 2005)
Khảo sát sơ bộ ở Việt Nam, chi Dendrobium có khoảng 100 loài,
Paphipoedium có 10 loài, chi Aerdes có 7 loài, chi Cymbidium có 20 loài, chi
Phalaenopsis có 6 loài… (Trần Hợp, 1990)
Trang 141.1.1.3 Phân loại hoa lan
Theo Trần Hợp (1990), Nguyễn Tiến Bân (1997), Võ Văn Chi – Dương Đức Tiến (1978), Phạm Hoàng Hộ (1992), Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn
Thịnh (1991) và Koopwitz (1986), cây hoa lan thuộc họ lan (Orchidaceae), ở trong lớp 1 lá mầm (Monocotyledoneae), thuộc ngành ngọc lan – thực vật hạt kín
Magnoliophyta , phân lớp hành Lilidae, bộ lan Orchidales
Gần đây do phân tích hoa đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính di truyền, các nhà khoa học đã chia họ phong lan thành 6 họ phụ
1.1.1.4 Nguồn gốc và đặc điểm thực vật của cây lan Đai châu
Lan Đai châu (Rhynchostylis gigantean) thuộc chi lan Ngọc điểm (Rhynchostylis Blume) là một loài lan thường được trồng phổ biến nhất, ra hoa
vào dịp Tết Lan Đai châu là một loại lan có nhiều ở Việt Nam phân bố ở các vùng cao nguyên Nam Trung Bộ, đặc biệt các vùng giáp biên giới Lào và Campuchia ở cao độ thấp nhưng ở vùng nóng
Lan Đai châu – Rhynchostylis được phát hiện trong chuyến viếng thăm
Java vào khoảng cuối thập niên 1800, Carl Blume một nhà thảo mộc học người Đức đã tìm thấy loài lan đẹp đẽ này Thoạt tiên cây lan được xếp vào loài
Sacolabium và sau đó chuyển sang Rhynchostylis Tên này dùng theo tiếng La
Trang 15tinh gồm 2 chữ: Rhynchos (mỏ) và stylos (cột trụ) để tả theo hình dáng của trụ
cm, thân
có nhiều cuống lá bao bọc
Lá thuôn, hình dải, dày, cứng, màu xanh đậm, mặt dưới lá nhìn
rõ các vân trắng
kẻ dọc Lá dày xếp đều đặn trên thân Đầu lá chia
2 thuỳ không đều, đôi khi vắt chéo Kích thước (20 - 40 cm) x (5 – 6,5 cm)
Rễ to, mập, phân nhánh mạnh, đường kính 1,1-1,3
2 – 2,2 cm, môi có sọc tía, đỉnh chia 3 thuỳ nhỏ, mỏng, dài 8 mm, màu trắng Hoa thơm, bền 15
cm, thân
có nhiều cuống lá bao bọc
Ở mặt trên và mặt dưới có nhiều chấm đốm màu đỏ đậm và xếp thưa dần về phía đầu lá
Kích thước lá (20 - 40) x (5 – 6,5 cm)
Rễ to, mập, phân nhánh mạnh, đường kính 1,1 – 1,3 cm
Hoa chùm mọc từ nách
lá, buông xuống, dài 15 -
25 cm, đường kính 7 - 8
cm Mỗi cây ra 1 - 4 chùm hoa , mỗi chùm hoa gồm nhiều hoa nhỏ xếp dày xít trên cuống chung Hoa màu trắng đốm tím đậm, kích thước hoa 2 - 2,2cm,
Trang 16môi có sọc tía, đỉnh chia
3 thuỳ nhỏ, mỏng, dài 8
mm, màu trắng Hoa thơm, bền 20 - 25 ngày
15 cm, đường kính 2,5 – 3,2 cm
Thân màu tím đậm
Lá dài, hẹp, đầu
lá hơi cong xuống, phân thuỳ lệch, nông
Kích thước (32 – 35 cm) x (3,3 – 3,5 cm) Lá xanh sọc tím ở
cả 2 mặt và nhạt dần từ gốc lá lên ngọn lá
Rễ to, buông dài hoặc bám vào giá thể, đường kính rễ 0,7 cm
Hoa chùm mọc từ nách
lá, buông xuống, dài 15 – 25 cm, đường kính 7 –
8 cm Mỗi cây ra 1 - 4 chùm hoa , mỗi chùm hoa gồm nhiều hoa nhỏ xếp dày xít trên cuống chung Hoa màu đỏ đậm, kích thước hoa 2 – 2,2
cm, đỉnh chia 3 thuỳ nhỏ, mỏng, dài 8 mm, màu trắng Hoa thơm, bền 20 -30 ngày
20 cm, đường kính 3 – 3,5 cm
Thân xanh sọc trắng
Phiến lá cứng, kích thước lá (32 – 35 cm) x (5,6 – 6 cm) Lá xanh đậm, sọc trắng, đầu lá xẻ lệch, sâu
Rễ dài, đường kính 0.75
cm, rễ xanh, đầu rễ trắng
5 Đai
châu
cam
Đơn thân, cao 10 –
12 cm,
Lá mọc cách dọc 2 bên thân, phiến lá cứng,
Rễ to, khoẻ
Hoa chùm mọc từ nách
lá, buông xuống, dài 15 – 20 cm Hoa màu cam
Trang 17(Nhập
nội)
đường kính 2,4 – 2,7 cm
Thân có đốm màu cam
kích thước lá (25 – 30 cm) x (4,5 – 5 cm) Lá xanh đậm, sọc trắng, chia thuỳ lệch
đốm trắng Cánh môi thẳng, đầu lưỡi gấp lên trên màu vàng cam, đốm
đỏ ở giữa Hoa rất thơm, bền 25 – 30 ngày
70 cm, thân có nhiều cuống lá bao bọc
Lá thuôn, hình dải, dày, cứng, màu xanh đậm, mặt dưới lá nhìn
rõ các vân trắng
kẻ dọc Lá dày xếp đều đặn trên thân Ở mặt trên
và mặt dưới có nhiều chấm đốm màu đỏ đậm và xếp thưa dần về phía đầu lá
Rễ to, mập, phân nhánh mạnh, đường kính 1,1 – 1,3 cm
Hoa chùm mọc từ nách
lá, buông xuống, dài 15 – 25 cm Mỗi cây ra 1 -
4 chùm hoa , mỗi chùm hoa gồm nhiều hoa nhỏ xếp dày xít trên cuống chung Hoa màu trắng đốm tím đậm, kích thước hoa 2 - 2.2 cm, môi có sọc tím, đỉnh chia 3 thuỳ nhỏ, mỏng, dài 8 mm, màu trắng Hoa thơm, bền 25 -30 ngày
(Nguồn: Viện Nghiên cứu rau quả, 2009)
1.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây lan
Muốn cho cây phong lan sinh trưởng và phát triển tốt, trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu kỹ tập tính sinh trưởng của nó, người xưa khái quát cây lan thích ẩm sợ ướt, thích sáng sợ nắng, thích ấm sợ nóng, thích thoáng sợ gió (Nguyễn Công Nghiệp, 2000)
1.1.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một nhân tố có tính chất quyết định đến sự phân bố, sinh trưởng, phát triển của các loài lan trên thế giới Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự ra hoa của lan
Trang 18Căn cứ vào từng vùng xuất xứ, nhiệt độ nuôi trồng hoa lan, theo Charles Marden Fitch (1981) chia làm ba loại:
Ngoài yêu cầu về nhiệt độ trung bình, biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm
có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển của lan Biên độ nhiệt độ ngày đêm càng lớn thì trồng lan càng lý tưởng, vì cây tăng trưởng nhanh do nhiệt độ ban đêm thấp làm giảm cường độ hô hấp và nhiệt độ ban ngày tăng làm tăng cường độ quang hợp, cây tích luỹ chất khô nhiều hơn
1.1.2.2 Ánh sáng
Cây lan sống không thể thiếu ánh sáng vì ánh sáng cung cấp năng lượng cho cây tạo lập thức ăn thông qua quá trình quang hợp, ánh sáng còn ảnh
hưởng đến sự hình thành hoa và nở hoa, hầu hết các loài thuộc chi Cattleya,
Dendrobium… Nếu thiếu ánh sáng cây không ra hoa, nhưng nhu cầu về ánh sáng lại khác nhau tùy thuộc vào từng loại lan (Lin, WC và CS, 1983), (Wang-
YT 1995)
Dựa vào nhu cầu ánh sáng của từng loại người ta chia thành 3 nhóm:
- Nhóm ưa sáng: cần ánh sáng ≈ 100% ánh sáng trực tiếp như các loài
Vanda, Renanthera…
- Nhóm ưa sáng trung bình: bao gồm các loài có nhu cầu ánh sáng khoảng
58 – 80% như các loài Cattleya, Denrobium (Widiastaety và cộng sự, 1995)
- Nhóm ưa ánh sáng yếu: bao gồm các loài có nhu cầu ánh sáng khoảng 30
– 40% như Phaleanopsis, Paphiopedilum…
Như vậy tùy theo từng loại lan cụ thể mà ta bố trí giàn che khác nhau
Trang 191.1.2.3 Ẩm độ
Ẩm độ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến toàn bộ quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lan, đa số các loài lan thích hợp ở mức ẩm độ tương đối, tối thiểu 70%, ở Việt Nam ẩm độ tương đối trung bình hàng năm thay đổi 80 – 90 % Tuy nhiên trong từng mùa vụ cụ thể ẩm độ tương đối có sự thay đổi đã làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển cũng như khả năng ra hoa của lan, do đó khi đề cập đến ẩm độ với hoa lan, người ta chú ý đến 3 ẩm độ sau:
• Ẩm độ của vùng: là ẩm độ của khu vực rộng lớn, nơi mà ta sẽ thiết lập vườn lan, ẩm độ này do điều kiện địa lý, địa hình quyết định
• Ẩm độ vườn: là ẩm độ của chính vườn lan, ẩm độ này có thể cải tạo theo
ý muốn như đào ao, xây bể, làm mương…
• Ẩm độ trong chậu trồng lan: gọi là ẩm độ cục bộ, do cấu tạo của giá thể, thể tích chậu, số lần tưới, ẩm độ này phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật của người trồng lan
Sự hài hòa của ẩm độ vùng, ẩm độ vườn giúp cho người trồng lan có thể sáng tạo sử dụng giá thể, lượng nước tưới, thiết kế giàn che hợp lý… cần chú ý
ẩm độ trong vườn cao sẽ tốt hơn ẩm độ cục bộ trong chậu cao bởi cây lan ít bị chết do ẩm độ trong vườn cao mà thường bị chết do ẩm độ cục bộ trong chậu cao, do đó việc lựa chọn giá thể là biện pháp hữu hiệu để điều tiết ẩm độ thích hợp cho cây lan
1.1.2.4 Độ thông thoáng khí
Độ thông thoáng là yếu tố quan trọng giúp cho cây lan sinh trưởng, phát triển bình thường, bản xứ của các loài lan là mọc ở rừng và môi trường sống thường ở trên cây cao và thông thoáng, đặc biệt đối với những loài lan có hệ rễ cộng sinh với nấm và phát triển vươn dài trong không khí Vì vậy, vườn trồng lan đòi hỏi phải có độ thông thoáng nhất định đảm bảo không khí luôn mát mẻ, nếu vườn lan không thông thoáng, khi gặp điều kiện ẩm độ cao, nhiệt độ tăng cây dễ bệnh Ngược lại nếu vườn quá trống trải, gió thổi mạnh sẽ làm cây mất nước cũng ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của lan
Trang 201.1.2.5 Dinh dưỡng
Theo Ajchara – Boonrote (1987), Richard – HW (1985), Soebijanto và cộng sự (1988), dinh dưỡng đối với lan hết sức quan trọng, nó không đòi hỏi số lượng lớn nhưng phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng
Khi cây không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng sẽ còi cọc, kém phát triển, không ra hoa hoặc ít ra hoa, hoa nhỏ, màu sắc kém đặc trưng và nhanh tàn Nhu cầu dinh dưỡng của cây tùy thuộc vào thời kỳ sinh trưởng và phát triển của chúng
Vai trò các nguyên tố sinh dinh dưỡng đối với cây lan:
* Nhóm 1: gồm các nguyên tố cacbon (C), hydro (H), oxy (O), những nguyên tố này có sẵn trong tự nhiên, mà cây có thể sử dụng được thông qua quá trình quang hợp
* Nhóm 2: gồm các nguyên tố đa lượng
- Vai trò của nitơ (N): N là hợp phần quan trọng của chất hữu cơ tạo diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein Là nguyên tố giúp cây tăng trưởng
và phát triển các mô sống
- Vai trò của photpho (P): P có vai trò trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và protein… là thành phần tất yếu của aminoaxit, adenosine triphotphat, nó cần thiết cho sự phân chia tế bào, là thành phần của nhiễm sắc thể, kích thích rễ phát triển, P cần thiết cho sự phát triển mô phân sinh, kích thích
ra hoa và khó hồi phục
- Vai trò của kali (K): K giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh pH và lượng nước ở khí khổng Hoạt hóa enzym có liên quan đến quang hợp và tổng hợp hydratcacbon, giúp vận chuyển hydratcacbon, tổng hợp protein, cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi gặp điều kiện bất lợi
- Vai trò của canxi (Ca): Ca là thành phần của màng tế bào dưới dạng canxi pectate, cần thiết cho sự phân chia tế bào được bình thường, giúp cho màng
tế bào vững chắc, duy trì cấu trúc nhiễm sắc thể, hoạt hóa nhiều enzym như: phospholipase, agnine, triposphate
Trang 21- Vai trò magie (Mg): Mg là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, thúc đẩy
sự vận chuyển lân của cây, là hoạt chất của hệ enzym gắn liền với sự chuyển hóa hydratcacbon và tổng hợp axit nucleic
- Vai trò của lưu huỳnh (S): S là thành phần của các axit amin chứa lưu huỳnh cũng như các aminoaxit liên quan đến hoạt động trao đổi chất của vitamin, thiamin, biotin và coenzym A giúp cho cấu trúc protein được vững chắc
- Vai trò của kẽm (Zn): Zn có liên quan đến sự tổng hợp sinh học của axit indolacetic, là thành phần thiết yếu của một số men, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp axit nucleic và protein; tăng cường khả năng sử dụng lân và đạm
- Vai trò của đồng (Cu): Cu là thành phần của men cytochrome oxydase
và thành phần của nhiều enzym: ascorbic, axit oxidase… xúc tiến quá trình hình thành vitamin
- Vai trò của sắt (Fe): Fe cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì chất diệp lục
tố trong cây là thành phần chủ yếu của nhiều enzym, đóng vai trò chủ yếu trong
sự chuyển hóa axit nucleic, ảnh hưởng đến sự chuyển hóa axit ribonucleic hoặc diệp lục
- Vai trò của mangan (Mn): Mn làm xúc tác trong một số phản ứng enzym và sinh lý trong cây, là thành phần của pyruvate carboxydase, liên quan đến quá trình
hô hấp của cây, hoạt hóa các enzym liên quan đến sự chuyển hóa đạm và tổng hợp diệp lục tố, kiểm soát thế oxy hóa khử trong tế bào ở các pha sáng và tối
- Vai trò của bo (B): B ảnh hưởng đến hoạt động một số enzym, B có khả năng tạo phức và các hợp chất polyhydroxy khác nhau, tăng khả năng thấm ở màng tế bào, B liên quan đến quá trình tổng hợp lignin và sự phân chia tế bào, sự tổng hợp protein…
- Vai trò của molypden (Mo): Mo làm xúc tiến quá trình cố định đạm và quá trình sử dụng đạm của cây, Mo tham gia vào thành phần của men khử nitrat
và men nitrogenase
Nói tóm lại, hầu hết các loài lan đều sống tự dưỡng, một số loài cộng sinh với nấm nên việc lấy dinh dưỡng từ môi trường bên ngoài khá thuận lợi, lan là
Trang 22loài cây không cần nhiều dinh dưỡng do đó, bón phân cho lan tốt nhất là bón thường xuyên với liều lượng thấp, tùy loài lan khác nhau mà bón với liều lượng ở các giai đoạn cũng khác nhau (Nguyễn Công Nghiệp, 2000)
1.1.2.6 Nhân giống lan
Cũng như các loại cây trồng khác nhau, hoa lan có 2 phương pháp nhân giống đó là nhân giống hữu tính và vô tính
Nhân giống hữu tính: là sự kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái tạo ra hợp tử sau đó phát triển thành hạt và hạt phát triển thành cây con, trong tự nhiên hạt lan nẩy mầm được là nhờ nhiễm nấm
Nhân giống vô tính: là sự phân chia, tăng trưởng liên tục của các tế bào từ một tế bào ban đầu hoặc của các cây từ cây mẹ ban đầu nên chúng giống nhau về mặt di truyền, có mấy phương pháp nhân giống vô tính sau:
- Tách chiết: là quá trình tách các cây lan từ những tổ hợp lan thuộc chi đa
thân (Cattleya, Dendrobium…), nhưng lượng cây nhân giống không nhiều
- Nhân giống bằng nuôi cấy tế bào: Phương pháp này có ưu điểm là hệ số nhân giống cao, quần thể tạo đồng đều, rút ngắn thời gian sản xuất cây giống và
có thể áp dụng nhân giống trên quy mô công nghiệp
1.1.3 Các điều kiện cơ bản để trồng lan
1.1.3.1 Cây giống
Cần tuyển chọn những giống lan, loài lan đang được ưa chuộng trên thị trường và có giá trị kinh tế cao, chọn những cây khoẻ mạnh, không sâu bệnh Hiện nay có một số loài, chi đang có giá trị thương mại cao như chi
Rhynchostylis, Dendrobium, Vanda, Cattleya…
Có thể nhân giống vô tính và hữu tính hoa lan, tuy nhiên phương pháp vô tính được sử dụng nhiều hơn Các kỹ thuật tách cụm, tách củ, tách cây con (keili), nuôi cấy mô, tách ngọn… thể hiện những ưu điểm vượt trội so với nhân giống hữu tính bằng hạt Tuỳ từng loại lan, từng nhóm lan cụ thể mà sử dụng từng phương pháp cho phù hợp
Trang 231.1.3.2 Chậu và giá thể
Tùy theo loài lan và ở các độ tuổi khác nhau mà có loại, cỡ chậu cho phù hợp, có rất nhiều loại chậu, chậu đất nung, chậu nhựa… trong đó, chậu nhựa hay dùng hơn vì rẻ và bền, ngoài ra còn có chậu gỗ hoặc gắn vào các thân cây như:
Vanda, Aerides…
Giá thể là từ dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng, việc sử dụng giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt với cây trồng nhất là cây ở giai đoạn vườn ươm, hiện nay các giá thể được sử dụng: than củi, gạch nung, rêu, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, xơ dừa… các giá thể khác nhau có những ưu nhược điểm khác nhau, tùy theo mục đích trồng và các loài lan khác nhau thì trồng trên các nền giá thể tương ứng
Với các loại lan có bộ rễ lớn như Đai châu, Giáng hương… giá thể có thể
là những thân cây gỗ đã chết, chậu đất nung có các lỗ thoáng có bổ sung vỏ cây hoặc than hoa vào chậu để giữ ẩm (Trần Văn Bảo, 2001) Các loại gỗ thường được dùng để ghép cây như gỗ nhãn, vải, ổi, sung…
1.1.3.4 Tưới nước
Nước cần cho sự sống của cây lan nhất là lúc nó đang ở giai đoạn phát triển dinh dưỡng, thiếu nước lan sẽ khô héo dần và chết, nhưng thừa nước lại làm cho chúng dễ thối và chết, người ta thường nói rằng cây lan bị chết do tưới nước
Trang 24không đúng hơn bất kỳ lý do nào khác do đó khi tưới nước cho lan cần quan tâm đến lượng nước tưới và chất lượng nước tưới
+ Lượng nước tưới phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Theo mùa: mùa mưa ẩm độ không khí tương đối cao thích hợp cho sự phát triển của cây lan
- Theo loài lan: cây có nhiều lá và lá lớn, cần tưới nhiều nước, còn cây mập và dày thì tưới ít nước hơn, những cây có rễ giả nhiều thì cần phải tưới thường xuyên vào thời kỳ tăng trưởng, còn thời kỳ nghỉ thì cần ít nước
- Theo giá thể, chậu trồng và môi trường trồng: cường độ ánh sáng, giá thể, loại chậu và độ thông thoáng Tất cả đều liên quan đến độ ẩm ở cây lan giúp chúng ta quyết định lượng nước tưới cho cây lan
+ Chất lượng nước tưới: nước tưới với lan cực kỳ quan trọng, do đó nước phải sạch, không nhiễm mặn, phèn và pH phải thích hợp
- Nước mưa: là nguồn nước lý tưởng cho lan, nước mưa có pH = 6 – 7, tuy nhiên ngày nay nước mưa chỉ tốt ở những vùng không bị ô nhiễm môi trường, còn những vùng công nghiệp thường có mưa axít do đó rất nguy hiểm đến cây trồng
- Nước sông suối: rất tốt cho lan, chỉ cần đến độ phèn, độ mặn, phù sa
- Nước máy: phải để bay hơi Clo
- Nước giếng: phải chú ý đến hàm lượng kim loại nặng như: Mg, Mn, Fe… + Dụng cụ tưới: vòi tưới bông sen + máy bơm nước hợp với những vườn lan lớn, khi tưới, lật ngược vòi phun thành hình cầu vòng hạt nước rơi xuống nhẹ nhàng, còn đối với những vườn lan nhỏ ta dùng bơm tay, khi tưới không phải tưới đậm ngay một khu vực mà tưới đi tưới lại cho giá thể ngấm
+ Thời gian tưới: tưới vào sáng sớm hoặc chiều mát, nếu trời nắng nóng,
độ ẩm không khí thấp vào buổi trưa ta nên phun môi trường xung quanh
1.1.3.5 Bón phân
Rễ là cơ quan chính giúp lan hấp thụ nước và muối khoáng, ngoài ra lá và thậm chí là thân cũng có khả năng này Khi tưới phân ở dạng dung dịch, dung dịch ấy bám vào rễ, lá và giá thể, các chất tan dù ở dạng phân tử hay ion sẽ xuyên qua màng tế bào để vào bên trong nguyên sinh của tế bào, cho nên phun phân
Trang 25vào lá sẽ xâm nhập liên tục vào bên trong tế bào Ngược lại, tưới phân không lâu
đã thấy chúng khô đọng lại các vết trắng ở ngoài lá thì chỉ ít phân được hấp thụ vào lá, vấn đề được đặt ra là tưới làm sao cho ướt toàn bộ cây mà vẫn tiết kiệm phân bón và người ta đã làm như sau: trước khi tưới phân nên tưới qua một lượt nước để giúp cây hấp thụ phân bón được dễ dàng hơn Thường tưới phân và dinh dưỡng vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát, tuyệt đối tránh tưới vào buổi trưa Phân tưới cho lan nên ở dạng dung dịch, tuỳ theo điều kiện khí hậu, giá thể… mà khoảng cách giữa các lần tưới phân cần điều chỉnh phù hợp
* Chọn phân bón:
Theo Nguyễn Hạc Thúy (2001) hiện nay ở Việt Nam có khoảng 4.000 loại phân bón khác nhau, trong đó phần lớn là phân bón vô cơ ngoại nhập hoặc sản xuất liên doanh với nước ngoài như Growmore (Mỹ), Yogen (Nhật)… do có rất nhiều chủng loại như vậy cho nên cần phải xác định nên bón phân loại nào cho phù hợp với từng loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao
Phân bón thường có 2 loại:
- Phân vô cơ:
Lan Hồ Điệp con từ trong ống nghiệm tới 3 tháng tuổi: thời kỳ này chủ yếu dùng NPK (Đạm – Lân - Kali) rất loãng
Thời kỳ từ 4 tháng – 10 tháng, tỷ lệ bón (N : P : K = 3: 1: 1)
Thời kỳ từ 10 tháng – 24 tháng, tỷ lệ bón (N : P : K = 1: 2: 2)
Thời kỳ kích thước và có cụm dầy, tỷ lệ bón (N : P : K = 1: 2: 3)
Còn theo Trần Duy Quý (1996) đối với lan Vũ Nữ và Vanda; khi cây còn
bé nên bón phân hóa học theo NPK có tỷ lệ 30 : 10 : 10 hoặc 20 : 20 : 20 cho tới khi cây có bao hoa thì đổi sang NPK có tỷ lệ 6 : 30 : 30, khi hoa rụng thì đổi sang NPK có tỷ lệ 30 : 10 : 10, trong quá trình đó ta có thể phun xen kẻ nước tiểu pha loãng, nước ốc ngâm, nước đậu tương
Nói tóm lại để cây sinh trưởng và phát triển tốt cần đáp ứng lượng phân tối ưu ở từng giai đoạn
Trang 26- Phân hữu cơ: còn gọi là phân chuồng; phân xác vỏ, bột xương, nước tiểu, phân trâu, phân ngựa, phân gia cầm … những loại phân hữu cơ không thể dùng
để bón trực tiếp, phải ủ hoai mục sau đó mới sử dụng
Theo Bốc Kim Chấn (1998): lấy một lon sữa bột than củi ngâm trong 10 lít nước trong 2 tuần, mỗi ngày khuấy trộn 1 lần, sau khi lắng trong thì cho 4 phần nước, tưới định kỳ mỗi tuần 1 lần sẽ làm tăng độ dày của lá
1.1.3.6 Phòng trừ sâu bệnh
Trong tự nhiên mỗi cây có một số sâu và bệnh tấn công riêng, do đó cây lan cũng không nằm ngoài quy luật này Vì vậy, để tránh những thiệt hại không đáng có, việc phòng trừ sâu bệnh ngay từ đầu là cần thiết, cho nên cần phải có biện pháp quản lý sâu bệnh một cách tổng hợp
* Bệnh đốm lá (Corcospora sp.) do nấm Colletotrichum glueosporioides
gây ra: bệnh này làm cho lá màu vàng, mặt dưới lá nhiều mảng đen có chấm nhỏ Bệnh nặng lá có 3 – 4 đốm lớn màu vàng, sau 10 – 15 ngày xuất hiện đốm nâu đen dầy lá
Phòng trừ: cắt bỏ lá bị bệnh, xử lý thuốc Carbenda Supper
* Bệnh thán thư (Colletotrichum sp.) do nấm Colletotrichum
glueosporioides gây ra: bệnh này làm cho lá màu nâu và giả hành có vết dạng hình tròn, lõm không đều, màu sắc vàng hơi xanh nhạt, các lá già thường bị nặng Phòng trừ: cắt bỏ lá bị bệnh, xử lý thuốc Zineb, Ridomil, Anvil
* Bệnh thối nhũn (Erwinia sp.) do vi khuẩn Erwinia carotovorasub.sp và
Erwinia chrysanthemi gây ra: Triệu chứng khi nhiệt độ cao kết hợp với độ ẩm cao thì các vi khuẩn này ký sinh trên lá và xâm nhập vào những mô đã bị thương tổn, chỗ bị bệnh sẽ úa mềm, có màu nâu và mùi rất khó chịu
Phòng trừ: dùng thuốc diệt khuẩn như Phusan, Caviben 50HB, Fhirama, Kitazin đặc biệt là dùng Steptomicin + Penicilin
* Bệnh thối trắng rễ (Rhizoctnia solani): phá hoại trên nhiều giống
nhưVanda, Denrobium, Cattleya… bệnh này làm cây sinh trưởng chậm lại, bệnh làm cho cây bị thối rễ mất sinh lực (W.Simone, 1995)
Trang 27* Bệnh virus: đây là loại rất nguy hiểm, virus rất khó chữa, khi cây bị bệnh cần phải cách ly hoặc hủy bỏ Hiện nay công tác phòng ngừa virus xâm nhập là chính, virus làm thay đổi hình thái của cây hoa lan từ chóp rễ đến đỉnh sinh trưởng, các triệu chứng virus biến đổi nhiều tùy thuộc vào nòi virus và điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, dinh dưỡng Virus làm biến đổi màu sắc trong mô tế bào cây chủ mà còn hạn chế sự phát triển của cây
* Các loài sâu hại lan thường phát sinh và phát triển trong suốt quá trình nuôi trồng Lan là loại hoa tập trung nhiều côn trùng phá hoại như: rệp sáp, rệp bông, bộ trĩ, rệp dính, nhện đỏ, rồng trắng hút nhựa cây, bọ xít dài chích hút… Biện pháp phòng trừ bằng phương pháp cơ giới, vật lý Hoặc dùng một trong các loại thuốc: Sherpa (0,1 %), Depterex (0,2 %), Pegasus (0,1 %), Danitol (0,1 - 0,2 %) (Vũ Triệu Mân, Lê Lương Tề, 1998)
Ngoài ra lan còn bị một số loài khác phá hoại như: chim, ốc sên, chuột, gián… vì vậy phải thường xuyên kiểm tra và theo dõi để có biện pháp phòng trừ kịp thời
1.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất lan trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, phát triển lan trên Thế giới
Tình hình sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và
đã trở thành một ngành thương mại có lợi cho nền kinh tế các nước trồng và xuất khẩu hoa Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày được mở rộng và không ngừng tăng lên, nhiều tạp chí về hoa lan được xuất bản, nhiều cuộc hội thảo về lan đã được tổ chức Trước đây việc nuôi trồng và xuất khẩu chủ yếu là lan rừng nên nguy cơ khoảng 13 loài tuyệt chủng, ngày nay việc trồng lan dần theo quy mô công nghiệp, việc xuất khẩu lan đã đạt tới số lượng hàng trăm ngàn giò, hàng vạn cành lan trong một năm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
* Hiện nay, Thái Lan là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan đạt
150 triệu USD trong năm 2012, Thái Lan có 18 phòng nuôi cấy mô hoa lan thương mại hoạt động ở Băng Cốc và các phụ cận, nhờ khả năng thực hiện công nghệ mới trong nuôi cấy mô và lai tạo Năm 1993, Thái Lan xuất đi 70,7% cho thị trường Anh, 81,4% cho Hà Lan về lan cắt cành, 64 triệu cành cho Ý và 5 triệu
Trang 28cành cho Nhật Không chỉ thế mà xu hướng phát triển mới của ngành hoa lan thương mại ở Thái Lan phải kể đến sự gia tăng diện tích của các trại lan, ở đây đã
có những trại lan chuyên trồng Dendrobium rộng 39 ha
* Đài Loan: có khí hậu ấm áp, mưa nhiều và gần giống với khí hậu Việt Nam nên có thể sản xuất hoa tươi quanh năm, Đài Loan đang tăng nhanh sản
xuất Phalaenopsis và chọn tạo nhiều giống mới, hiện nay đã tạo ra được một số
giống lan quí có khả năng cắt hoa và trồng trong chậu (Segrback, 2003)
* Malaysia: với sự quan tâm của chính phủ và sự phát triển nhanh chóng của nghề trồng hoa, đến nay đã có đủ khả năng cạnh tranh với thế giới và chiếm phần đáng kể ở Châu Á, công nghiệp lan cắt cành tăng khoảng 7 triệu USD năm
1998 và 20 triệu USD năm 1994, thị trường xuất khẩu chủyếu là Singapore, Nhật, Úc… (Ngô Quang Vũ, 2002)
* Hà Lan: đã đầu tư 20 triệu USD vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy móc đầu tư cho sản xuất hoa lan xuất khẩu Tính đến năm 2012, kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan của Hà Lan đạt 3 tỷ USD Hoa phong lan của Hà Lan được trồng trong nhà kính với tổng diện tích là 3081,75ha
* Nhật Bản: đã đầu tư 6,6 triệu USD cho Thái Lan để mở rộng cơ sở sản xuất với công suất 10 triệu cây lan mỗi năm và hiện nay Nhật cũng là khách hàng lớn nhất của Singapore với khả năng tiêu thụ 60 % số cây lan của nước này (Phan Thúc Huân; 1989)
Trong nhiều năm qua, các nước tiên tiến đã sử dụng các kỹ thuật truyền thống và hiện đại vào chọn tạo giống hoa nói chung và hoa lan nói riêng đã đạt được những kết quả rất khả quan, đặc biệt là trên một số giống lan công nghiệp như Hồ Điệp, Vũ Nữ, Địa lan…, từ đó ngành sản xuất hoa lan đã mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn cho nền kinh tế của nhiều nước như Hà Lan, Trung Quốc, Thái Lan… Các phương pháp chủ yếu đã được thế giới áp dụng gồm: lai hữu tính, nhân giống vô tính, xử lý đột biến, chuyển gen
+ Nhân giống bằng phương pháp hữu tính: Là sự kết hợp giữa hai giao tử, giao tử đực và giao tử cái tạo hợp tử sau đó phát triển thành hạt và từ hạt phát triển thành cây con
Trang 29+ Nhân giống vô tính cây hoa lan, trên thế giới việc nhân giống vô tính hoa lan bằng hình thức tách chiết thông thường rất ít được áp dụng, do kỹ thuật phát triển mạnh nên phương pháp nhân giống vô tính cây hoa lan bằng nuôi cấy
mô tế bào ra đời, từ một tế bào với các tác nhân nhân tạo có thể tạo ra một cơ thể hoàn chỉnh, phương pháp này có thể nhân giống lan nhanh với tốc độ cao
N Vajrabhaya và T Vajrabhaya (1970) đã cấy mô thành công loài lan đơn thân Năm 1974 các nhà khoa học đã cấy mô thành công hầu hết các loại lan thuộc nhóm đơn thân khác và cũng nhờ có phương pháp nuôi cấy mô tế bào các cây lan đã chọn lọc từ phương pháp lai hữu tính được nhân với tốc độ cao có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, môi trường có vai trò rất quan trọng trong quá trình nuôi cấy, nó cung cấp chất dinh dưỡng đảm bảo cho sự sinh trưởng của
mô cấy Môi trường dinh dưỡng thích hợp cho việc nuôi cây là môi trường MS (Marushige – Shoog, 1962), VW (Vacine – Went, 1949), KC (Knudsonc)…
1.2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất hoa lan ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm rất thuận lợi cho việc trồng hoa, cây cảnh Theo thống kê, trong các thảm rừng khác nhau có tới khoảng 152 chi, 897 loài đã được tìm thấy Vậy ta có thể nói rằng Việt Nam có tiềm năng để trở thành một nước sản xuất hoa lan lớn trong khu vực Tuy nhiên hiện nay chưa được đầu tư thích đáng nên ngành trồng hoa nói chung và ngành trồng lan nói riêng vẫn chưa thực sự phát triển, sản xuất lan ở Việt Nam mới chỉ phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Đà Lạt và thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh có khí hậu ấm áp quanh năm là trung tâm văn hóa kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật của miền Nam có một tiềm năng lớn về nuôi trồng và kinh doanh hoa lan
Năm 1980 Việt Nam đã xuất khẩu lan sang Liên Xô, Tiệp Khắc Từ năm
1980, năm nào thành phố cũng tổ chức Hội Hoa Xuân; hội Hoa Xuân là nơi hội
tụ những tác phẩm đặc sắc và độc đáo nhất của các vườn lan Năm 1987 ở thành phố Hồ Chí Minh đã có các vườn lan quốc doanh và tư nhân cùng với sự ra đời của nhiều hội lan, cây cảnh và có nhiều cơ sở nghiên cứu ra đời; các vườn quốc
Trang 30doanh tư nhân phải kể đến là vườn lan T78, vườn lan Hàng Không dân dụng Mới đây thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đầu tư 20 ha nuôi trồng hoa lan và 20
ha trồng cây kiểng (Dự án đầu tư, cây và cá kiểng tại thành phố Hồ Chí Minh, T7/2005), đặc biệt là phải kể đến trang trại Risun tại Gia Hiệp – Di Linh – Lâm Đồng đã đầu tư trang thiết bị hiện đại có thể tự tạo ra nguồn cây giống để sản xuất, sản phẩm đặc biệt ở đây là lan Hồ Điệp với 16 – 17 màu khác nhau Theo
số liệu điều tra tính đến năm 2010 thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 100 gia
Ngành sản xuất hoa lan ở các tỉnh, thành phố phía Nam phát triển mạnh hơn miền Bắc Nói chung vấn đề sản xuất – kinh doanh – xuất khẩu hoa lan ở Việt Nam từ trước đến nay vẫn còn ở mức tiềm tàng, trong khi đó sức cạnh tranh thị trường trên thế giới là rất lớn, những hoạt động, kinh doanh và xuất khẩu trong thời gian qua chỉ có ý nghĩa khởi động và hứa hẹn sự phát triển trong tương lai Việt Nam là nước có khí hậu gió mùa nóng ẩm, được thiên nhiên ưu đãi vì khắp vùng rừng núi từ Nam chí Bắc, từ đồng bằng đến tận Cao Nguyên, nhiều vùng nổi tiếng có nhiều giống lan quý hiếm được thế giới công nhận, chính vì vậy đã có những nghiên cứu về lan ở Việt Nam từ rất sớm
1.2.2.1 Nghiên cứu về thu nhập, chọn tạo và đánh giá nguồn gen
Nghiên cứu về cây lan ở Việt Nam những buổi ban đầu không rõ rệt lắm, nhiều tác giả cho rằng người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro (1789) nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên trong cuốn “Flora cohin chinensis” và sau này đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera Planterum” (1862 – 1883) Sau khi người Pháp đến Việt Nam đã công bố những công trình nghiên cứu đáng kể là F.Gagnepain và A.Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương Trung bộ “Thực vật Đông Dương chí” (H Lecomte, 1932)
Bên cạnh đó cũng có một số nhà khoa học Việt Nam cũng có bước đầu nghiên cứu về lan như Phạm Hoàng Hộ với 289 loại đựợc mô tả và vẽ hình trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam” Năm 1991, Phân viện sinh học Đà Lạt đã tổ chức thu
Trang 31nhập các loại lan rừng của Lâm Đồng việc xác định tên khoa học của các lòai lan rừng được L.Vaveryano thực hiện, đến nay ở Lâm Đồng nói riêng đã xác định được tên khoa học của 217 loài, thuộc 64 chi, trong số 239 loài lan của bộ sưu tập
và danh mục 217 loài đã xác định tên khoa học và được ghi nhận có hai loài mới
của Việt Nam là Liparis Compress Lindl và Thriv Spermum Leucarachne – Ridl
Anh Trần Tuấn Anh – một người chơi lan, gắn bó với lan hơn 20 năm, từng ngược xuôi khắp mọi miền đất nước để săn lùng lan Qua tháng năm, vườn lan ở Từ Liêm – Hà Nội của anh hội tụ được hơn 300 loài luôn giành được sự kính trọng của giới chơi lan Năm 2002, anh tìm được một loài lan hoàn toàn mới
tại miền núi Tây Bắc – Việt Nam Loài lan này có tên khoa học là Dendrobium
tuananhii được thế giới công nhận năm 2003 và tên anh được đặt cho loài hoa đặc biệt quý hiếm này Sau đó anh tiếp tục phát hiện ra 3 loại lan quý nhất thế
giới là Vanda tuananhii (2004), Dendrobium vietnamica (2006) và
Paphiopedilum trantuanhii (2007)
1.2.2.2 Những nghiên cứu về nhân giống vô tính cây hoa lan ở Việt Nam
* Nhân giống bằng phương pháp tách chiết
Là phương pháp đơn giản, dễ làm, không tốn kém, tuy nhiên hệ số nhân giống là không cao Nguyễn Việt Thái (2002) cho rằng bất kể tháng nào trong năm cũng có thể tách chiết lan để trồng, tuy nhiên thời điểm tốt nhất cho việc tách là đầu tháng mùa mưa, khí trời mát mẻ, cây đang đà phát triển, cũng theo Nguyễn Việt Thái (2002) đối với lan đơn thân kinh nghiệm cho thấy phần ngọn được tách ra trồng mau ra hoa hơn là các lan đoạn ở phần thân Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000) phương pháp nhân giống bằng tách chiết với 3 giả hành có
thể dùng cho tất cả các loài lan đa thân, trừ một số giống như Cymbidium,
Phaius… có thể dùng 2 giả hành duy nhất, đối với các loài khoẻ như
Dendrobium Caesar Alba, Dendrobium Caesar Latil… có thể cắt cây con để
nhân giống khi giả thành cây con trưởng thành, nếu cắt quá non sẽ cho kết quả
không tốt, còn đối với các loài yếu như Dendrobium Jacqueline Thomas,
Trang 32Dendrobium Theodore Takiguchi… Ta có thể đợi cây con mọc thêm một giả hành mới thì nhân giống đảm bảo hơn
* Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy tế bào
Công nghệ invitro, trong thời gian ngắn có thể sản xuất một số lượng các giống khỏe, đồng đều và sạch bệnh và Học viện Nông Nghiệp Việt Nam là một trong những cơ sở chính nghiên cứu về nuôi cấy mô nói chung, theo Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (2005), cây lan dễ nhân trong ống nghiệm và có hệ số nhân giống cao, môi trường chính cho nuôi cấy lan là môi trường Knudson C, cùng với Học viện Nông Nghiệp Hà Nội, Trung tâm Hoa cây cảnh kết hợp với
Bộ môn nuôi cấy tế bào của Viện Di truyền Nông nghiệp đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng đến quá trình nhân nhanh và khả năng ra rễ của chồi và từ đây đã đưa ra quy trình nhân giống lan Hồ Điệp bằng nuôi cấy mô tế bào
Hoàng Ngọc Thuận và cộng sự (2007) cho rằng: việc nhân giống lan bằng hạt trong môi trường invitro khá phổ biến ở nhiều phòng thí nghiệm Việt Nam với các ưu điểm sau: thời gian cho cây con nhanh, hệ số nhân giống cao, giá thành hạ…
Phạm Thị Kim Hạnh và cộng sự (2008) đã nghiên cứu nhân nhanh in vitro loài lan Đai châu (Rhynchostylis gigantean) trong bioreactor và cho kết quả về tỷ
lệ nảy mầm cũng như tốc độ sinh trưởng của cây con in vitro tốt hơn so với môi
trường đặc Môi trường nuôi cấy là VW bổ sung vitamin, axit amin, bằng phương
khí 0,5 lít/phút, thời gian 45 ngày, chu kỳ 4 ngày ngập : 1 ngày khô là tốt nhất để tăng tỷ lệ tạo cây con (91,1%), giảm thời gian phát triển mầm (5 tuần) đồng thời
kích thích sinh trưởng cây con in vitro Cây con được cấy chuyển sang môi trường
đặc sau 3 tháng đạt được 5,8 lá; 5,2 rễ; dài lá 6,1 cm; rộng lá 1,35 cm, rễ mập 0,41
cm Giá thể nuôi cây ngoài vườn ươm bọt núi + than củi + tảo Đài Loan
Trang 331.2.2.3 Những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hoa lan
Nguyễn Xuân Linh (1998) cho rằng nên tưới phân cho lan vào buổi sáng sớm hoặc lúc chiều mát và không nên tưới vào buổi trưa, bình thường tưới một tuần 1 lần, nếu thời tiết mát mẻ thì nên tưới 10 – 15 ngày/lần, ngược lại vườn lan
có nhiều ánh sáng có thể tưới 2 lần/tuần Sau khi tưới phân nên tăng lượng nước tưới của ngày sau đó để rửa bớt muối còn đọng lại trên lan
Nguyễn Công Nghiệp (2000) đã kết luận: mùa tăng trưởng của lan không nên dùng phân tổng hợp NPK có tỷ lệ 30 : 10 : 10, khi chớm nở hoa phải dùng loại phân có nồng độ lân cao có tỷ lệ 10 : 10 : 20 hoặc 6 : 30 : 30, trước khi cây bước vào mùa nghỉ phải dùng loại phân có nồng độ kali cao để tăng sức chịu đựng có tỷ lệ 10 : 20 : 30, theo Nguyễn Công Nghiệp không nên dùng nồng độ phân bón quá 1 g/lít nước vì sẽ làm cây lan chết hoặc thoái hóa
Bên cạnh những nghiên cứu về phân bón cho lan các nhà khoa học cũng
đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác như chọn giá thể, tưới nước, làm giàn che, lắp đặt hệ thống thông gió… Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) cho rằng tưới nước cho lan ở giai đoạn cây con là rất quan trọng, tưới phải nhẹ nhàng bằng vòi phun sương và tưới thường xuyên 3 – 4 lần/ngày nếu quá khô Hoàng Thị Loan (2006) khi nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của lan Đai châu đã đi đến kết luận “Giá thể than hoa kết hợp với rong biển thích hợp nhất cho sinh trưởng của lan Đai Châu nhập nội từ Thái Lan”
1.2.2.4 Những nghiên cứu về sâu bệnh hại
Hiện nay sự lo lắng nhất của các nhà vườn trồng lan là sâu và bệnh, trong thực tế cho thấy các loại côn trùng chỉ làm cho cây chậm phát triển chứ ít khi lan thành dịch nhưng ngược lại các loại bệnh có thể gây ra cái chết hàng loạt và dễ thành dịch, vì vậy việc phòng ngừa là việc làm rất quan trọng và cần thiết đối với các nhà vườn trồng lan
Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000) bệnh hại chủ yếu là thối đọt, khô căn hành, bệnh đốm lá, thối nhũn… Để phòng và trị các loại này ta nên dùng các loại thuốc sát khuẩn có gốc đồng: Oxiclorua nồng độ 0,5 – 1%, Booc đô… cũng theo tác giả trên lan thường có một số côn trùng: kiến, gián, rệp, sâu, bọ trĩ… dùng Bassa, Malathion để phòng trừ
Trang 341.3 Điều kiện tự nhiên và hiện trạng sản xuất hoa lan của Hà Nội
1.3.1 Điều kiện tự nhiên của Thành phố Hà Nội
Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao
Các làng hoa và cây cảnh ở Hà Nội như Nghi Tàm, Ngọc Hà, Quảng Bá, Láng, Nhật Tân, v.v đã có truyền thống từ lâu đời và khá nổi tiếng gần đây, nhiều làng hoa và cây cảnh được hình thành thêm ở các vùng ven đô như Vĩnh Tuy, Tây Tựu, và một số xã ở Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn cùng với các loài được chuyển từ các tỉnh phía Nam hoặc hội nhập từ nước ngoài làm cho tài nguyên sinh vật của Hà Nội ngày càng đa dạng và phong phú
1.3.2 Hiện trạng sản xuất hoa lan tại Thành phố Hà Nội
Trước đây việc trồng, sản xuất hoa chưa được phát triển mạnh, việc sản xuất hoa lan chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm truyền thống và nhân giống bằng phương pháp cổ truyền, dễ làm, quen với kinh nghiệm của người dân, chi phí thấp Do đó việc sản xuất và phương pháp trồng hoa dựa vào kinh nghiệm là chính yếu
Tuy nhiên trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, đội ngũ các nhà khoa học nông nghiệp, công nghệ sinh học ngày càng dồi dào, cũng như sự tìm tòi học hỏi không ngừng của những người dân trồng hoa Thành phố Hà Nội Do nhu cầu trồng hoa lan của người dân Thành phố Hà Nội ngày càng cao, nhiều người dân, đơn vị… đã mạnh dạn đầu tư các trang thiết
bị hiện đại để phục vụ và xây dựng mô hình trồng lan, mạnh dạn sử dụng các con giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào tạo cây giống khỏe và sạch bệnh Bên cạnh đó việc thu hái lan, trao đổi và thuần dưỡng lan ở Thành phố Hà Nội ngày càng đẩy mạnh, nhiều loại lan mới được phát triển, nhiều loài phù hợp được nuôi trồng rộng rãi hơn, việc hiểu biết về lan rừng cũng như lan nhập nội của người dân ngày càng cao như phân loại, sinh thái, điều kiện để nuôi trồng thích hợp
Trang 35Sản xuất hoa lan không đòi hỏi diện tích đất lớn, chất lượng đất tốt nhưng lại là một ngành sản xuất cần đầu tư lớn, yêu câu trình độ thâm canh cảo, sản phẩm có giá trị cao thích ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho nông thôn ngoại thành và những vùng ven đô thị Mặt khác sản phẩm hoa lan còn là cảnh quan, điểm xanh góp phần tôn tạo môi trường sinh thái thành phố Trong những năm gần đây, phong trào nuôi trồng hoa lan phát triển tự phát ở hầu khắp các vùng nội, ngoại thành, do đó vẫn còn nhiều hạn chế: việc trồng lan tự phát, ít quan tâm đến qui trình chăm sóc hoa lan, không có quy trình chăm sóc cho từng loại, trồng theo kinh nghiệm, nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào còn ít, chủ yếu
là nhập từ Trung Quốc, Thái Lan cho nên giá thành cao Vì vậy để đánh giá sơ bộ hiện trạng sản xuất hoa lan tại Thành phố Hà Nội được trình bày bảng 1.2
Bảng 1.2 Một số loại lan được nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội
Số lượng lan ở từng độ tuổi
Tổng
số
Cây kinh doanh (cây)
Cây giống (cây)
(Số liệu điều tra tính đến tháng 11/2014)
Trang 36Từ những kết quả điều tra tình hình sản xuất hoa lan nói chung và lan Đai châu nói riêng chúng tôi có nhận xét sau:
Hà Nội là một thành phố có tiềm năng để phát triển các loại hoa cao cấp, đặc biệt là hoa lan, hiện nay nhu cầu chơi hoa lan ngày càng cao, các loại hoa lan
được ưa chuộng Dendrobium, Hồ Điệp, Đai châu… Tuy nhiên, việc áp dụng các
biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất lan nói chung và Đai châu nói riêng ở Thành phố Hà Nội còn hạn chế; chưa quan tâm đến các yếu tố tác động đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây lan Đai châu: giá thể, phân bón, lượng phân bón, thời gian bón; sự hiểu biết về đặc điểm sinh lý đối với lan Đai châu của người trồng lan còn ở mức thấp, hầu như chưa có một quy trình cụ thể để người trồng lan áp dụng và học tập Đa số là trồng lan Đai châu chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm cũng như những hiểu biết nhất định, đây là vấn đề cần được quan tâm và khắc phục tại Thành phố Hà Nội
Xuất phát từ những thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu một số biện pháp
kỹ thuật góp phần phát triển nghề trồng lan nói chung và lan Đai châu nói riêng tại Thành phố Hà Nội
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian
2.1.1 Địa điểm
Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm Thực nghiệm và Đào tạo nghề -
Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trâu Quỳ - Gia Lâm – Hà Nội
2.1.2 Thời gian
Từ tháng 4/2014 đến tháng 3/2015
Thời gian ghép: ngày 1/4/2014
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Mô tả đặc điểm của ngọn hoa lan dùng làm vật liệu nghiên cứu
Các cây lan Đai châu thí nghiệm là giống Đai châu thường, nguồn gốc thu thập tự nhiên Đặc điểm cây đơn thân, mập, thân có nhiều cuống lá bao bọc; lá thuôn, hình dải, dày, cứng, màu xanh đậm, mặt dưới lá nhìn rõ các vân trắng kẻ dọc, lá dày xếp đều đặn trên thân, đầu lá chia 2 thuỳ không đều, lá bóng đẹp và đầy đặn, lá thuôn dài, không có lá vàng, không bị sâu bệnh hại; rễ to, mập, phân nhánh mạnh; hoa chùm mọc từ nách lá, buông xuống, mỗi cây ra 1 - 4 chùm hoa , mỗi chùm hoa gồm nhiều hoa nhỏ xếp dày xít trên cuống chung, hoa màu trắng đốm tím, môi có sọc tía, đỉnh chia 3 thuỳ nhỏ, mỏng, màu trắng, hoa thơm Tiến hành cắt bỏ bớt các rễ cũ để cây nhanh ra rễ mới
triethanoic ≥ 3,5%, axit polyhydroxydioic ≥1,5%, nitơ tổng số (N) ≥ 200 g/l, kali
Trang 38mg/l, canxi (Ca) ≥ 200 mg/l, magie (Mg) ≥ 200mg/l, boron (B) ≥ 200 mg/l, molypden (Mo) ≥ 10 mg/l, coban (Co) ≥ 5 mg/l Pha 20 cc cho bình 8 lít nước
- Phân Đầu Trâu 501 (Công ty Cổ phần phân bón Bình Điền) thành phần
canxi (Ca), 0,05% kẽm (Zn), 0,05% sắt (Fe), 0,05% đồng (Cu), 0,025% mangan (Mn), 0,005% molipden (Mo), 100 ppm gibberellin, 100 ppm α-NAA, 100 ppm β-NOA Pha 16 gam trong 8 lít nước
- Phân bón lá HVP 401.N (Công ty Cổ phần Dịch vụ Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh) có hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng đậm đặc: 60 g/l đạm (N), 30 g/l lân (P2O5), 30 g/l kali (K2O), 750 mg/l kẽm (Zn), 250 mg/l mangan (Mn), 800 mg/l magie (Mg), 120 mg/l boron (B), 5 mg/l molypden (Mo) Pha 20
cc cho bình 8 lít nước
- Lưới che nắng màu đen (hiệu Con Công) có độ che sáng 25%, 50%, 60%, 75%
2.2.3 Các yếu tố phi thí nghiệm
- Các vật liệu khác: bình tưới cây phun sương, đinh và dây nhựa cố định lan vào giá thể,
- Phân đạm động vật có thành phần 10 lít nước ốc quắn (1 kg ốc quắn ngâm trong 60 ngày) hoà với 2 gam supe lân
- Thuốc bảo vệ thực vật, thuốc sát trùng, α-NAA, vitamin B1
2.3 Nội dung nghiên cứu
<1> Xác định số mắt ghép phù hợp khi ghép lan lên giá thể
<2> Xác định giá thể phù hợp với sinh trưởng và phát triển của lan Đai châu
<3> Xác định phân bón lá thích hợp với sinh trưởng của lan Đai châu
<4> Xác định mức che sáng phù hợp với sinh trưởng, phát triển của lan
Đai châu
* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu các đoạn mắt ghép phù hợp khi cấy lan Đai
châu (Rhynchostylis) lên giá thể
Trang 39Chọn cây có 10 mắt ghép, dùng dao lam sạch, cắt các đoạn mắt ghép theo các công thức thí nghiệm Bôi thuốc sát trùng vào vết vừa cắt để tránh sâu bệnh
Để khô, sau đó nhúng vào dung dịch α-NAA 0,1 ppm và vitamin B1
+ Công thức 1: 4 mắt trên ngọn (Đối chứng (ĐC))
+ Công thức 2: 5 mắt trên ngọn
+ Công thức 3: 6 mắt trên ngọn
Điều kiện thí nghiệm:
- Giá thể gỗ nhãn khô, đường kính 10 cm, chiều dài 20 cm Ghép 3 cây/ giá thể
- Tưới phân định kỳ 10 ngày/ lần bằng bình phun sương, sử dụng phân đạm động vật
- Sử dụng lưới che nắng màu đen, độ che nắng 60% trong thời gian tháng 4/2014 đến hết tháng 10/2014, từ tháng 11/2014 đến hết tháng 3/2015 che 20% ánh sáng Khoảng cách từ cây đến lưới che là 3 m
- Tưới nước ngày 2 lần, buổi sáng sớm và chiều mát bằng hệ thống tưới
tự động
* Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của một số giá thể đến sinh trưởng và phát
triển của lan Đai châu (Rhynchostylis)
Các cây có khối lượng 50 g, chiều cao cây 23 cm, chiều dài lá 21 cm, chiều rộng lá 2,1 cm
+ CT1: Giá thể là gỗ nhãn khô
+ CT2: Giá thể là gỗ vải khô
+ CT3: Giá thể là gỗ sung khô
+ CT4: Giá thể là gỗ ổi khô (ĐC)
Điều kiện thí nghiệm:
- Giá thể gỗ cây khô, đường kính 10 cm, chiều dài 20 cm Ghép 3 cây/ giá thể
- Tưới phân định kỳ 10 ngày/ lần bằng bình phun sương, sử dụng phân đạm động vật
Trang 40- Sử dụng lưới che nắng màu đen, độ che nắng 60% trong thời gian tháng 4/2014 đến hết tháng 10/2014, từ tháng 11/2014 đến hết tháng 3/2015 che 20% ánh sáng Khoảng cách từ cây đến lưới che là 3 m
- Tưới nước ngày 2 lần, buổi sáng sớm và chiều mát bằng hệ thống tưới
tự động
* Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng
và phát triển của lan Đai châu (Rhynchostylis)
Các cây có khối lượng 50 g, chiều cao cây 23 cm, chiều dài lá 21 cm, chiều rộng lá 2,1 cm
+ CT 1: Không bón phân (ĐC)
+ CT2: Phân bón lá HVP Vitamin B-1
+ CT3: Phân Đầu trâu 501
+ CT4: Phân bón lá HVP 401.N
Điều kiện thí nghiệm:
- Giá thể gỗ nhãn khô, đường kính 10 cm, chiều dài 20 cm Ghép 3 cây/ giá thể
- Tưới phân định kỳ 7 ngày/ lần bằng bình phun sương, liều lượng pha theo hướng dẫn
- Sử dụng lưới che nắng màu đen, độ che nắng 60% trong thời gian tháng 4/2014 đến hết tháng 10/2014, từ tháng 11/2014 đến hết tháng 3/2015 che 20% ánh sáng Khoảng cách từ cây đến lưới che là 3 m
- Tưới nước ngày 2 lần, buổi sáng sớm và chiều mát bằng hệ thống tưới tự động
* Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của các mức che sáng đến sinh trưởng và
phát triển của lan Đai châu (Rhynchostylis)
Các cây có khối lượng 50 g, chiều cao cây 23 cm, chiều dài lá 21 cm,
chiều rộng lá 2,1 cm
+ CT1: Che 25% ánh sáng tự nhiên (ĐC)
+ CT2: Che 50% ánh sáng tự nhiên
+ CT3: Che 75% ánh sáng tự nhiên