Danh mục các bảng Bảng 1.1 Thành phần hoá học của tinh dầu nhựa thông Bảng 1.2 Thành phần hoá học của tinh dầu nhựa thông ba lá trồng tại Zambia Bảng 1.3 Hàm lượng, tính chất của tinh dầ
Trang 1Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình và đồ thị xi
Mở đầu 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Đại cương về họ Thông 2
1.1.1 Đặc điểm chung ngành Lõa tử 2
1.1.2 Đặc điểm chung lớp Thông 3
1.2 Giới thiệu cây thông ba lá 5
1.2.1 Phân loại và danh pháp 5
1.2.2 Đặc điểm thực vật 6
1.2.3 Phân bố và sinh thái 7
1.3 Tinh dầu thông 10
1.3.1 Các thuật ngữ 10
1.3.2 Trạng thái 10
1.3.3 Công dụng 11
1.4 Những nghiên cứu trước đây về tinh dầu thông 12
1.4.1 Nhựa thông 12
1.4.1.1 Tình hình mua bán tinh dầu nhựa thông trên thế giới [11] 12
1.4.1.2 Thành phần hoá học 13
1.4.2 Lá thông 18
1.4.2.1 Thành phần hoá học 18
1.4.2.2 Hoạt tính sinh học 23
1.4.2.2.1 Hoạt tính kháng khuẩn 23
1.4.2.2.2 Hoạt tính kháng nấm 23
1.4.3 Đại cương về α-pinen 26
1.4.3.1 Danh pháp và cấu tạo 26
1.4.3.2 Đồng phân 27
Trang 21.4.3.4 Các phương pháp định tính 29
1.4.3.4.1 Dẫn xuất nitrosoclorur 29
1.4.3.4.2 Dẫn xuất hidroclorur 29
1.4.3.4.3 Phản ứng với anhidrid maleic 29
1.4.3.4.4 Oxid hoá 29
1.4.3.5 Các phương pháp cô lập 30
1.4.3.5.1 Chưng cất phân đoạn 30
1.4.3.5.2 Phản ứng nitroso 31
1.4.3.5.3 Sắc ký 31
1.4.3.6 Sinh tổng hợp 34
1.4.3.7 Công dụng 35
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN 2.1 Nguyên liệu 36
2.2 Giải phẫu học tuyến tinh dầu 37
2.2.1 Bộ phận chứa tinh dầu ở lá 37
2.2.2 Bộ phận chứa tinh dầu ở cành 38
2.3 Khảo sát sự ly trích tinh dầu thông ba lá 39
2.3.1 Khảo sát sự ly trích tinh dầu nhựa thông 40
2.3.1.1 Khảo sát khối lượng tinh dầu theo lượng nước thêm vào nguyên liệu 40
2.3.1.2 Khảo sát khối lượng tinh dầu nhựa thông theo thời gian ly trích 41
2.3.1.2.1 Phương pháp chưng cất hơi nước đun nóng truyền thống (CHHD) 41
2.3.1.2.2 Phương pháp MIHD 42
2.3.1.2.3 So sánh hàm lượng tương đối giữa hai phương pháp 43
2.3.2 Khảo sát sự ly trích tinh dầu lá thông 44
2.3.2.1 Khảo sát khối lượng tinh dầu lá thông theo lượng nước thêm vào nguyên liệu 44
2.3.2.2 Khảo sát khối lượng tinh dầu lá thông theo thời gian chưng cất 46
2.3.2.2.1 Phương pháp CHHD 46
2.3.2.2.2 Phương pháp MIHD 47
Trang 32.3.2.2.3 So sánh hàm lượng tương đối giữa hai phương pháp 47
2.3.3 Khảo sát ly trích tinh dầu cành thông 49
2.3.3.1 Khảo sát khối lượng tinh dầu cành thông theo lượng nước thêm vào nguyên liệu 49
2.3.3.2 Khảo sát khối lượng tinh dầu cành thông theo thời gian ly trích 50
2.3.2.2.1 Phương pháp CHHD 50
2.3.2.2.2 Phương pháp MIHD 51
2.3.2.2.3 So sánh hàm lượng tương đối giữa hai phương pháp ly trích 52
2.3.2.3 So sánh sự ly trích giữa các bộ phận 52
2.3.2.4 So sánh hàm lượng tinh dầu giữa luận văn và các nghiên cứu trước 54
2.3.2.4.1 Nhựa thông 54
2.3.2.4.2 Lá thông 54
2.3.3 Xác định chỉ số vật lý của tinh dầu thông ba lá 55
2.3.3.1 Tỷ trọng 55
2.3.3.2 Chỉ số khúc xạ 56
2.3.3.3 Góc quay cực 56
2.3.4 Xác định chỉ số hoá học của tinh dầu thông ba lá 57
2.3.4.1 Chỉ số acid (IA) 57
2.3.4.2 Chỉ số savon hoá (IS) 58
2.3.4.3 Chỉ số ester hoá 58
2.3.4.4 Nhận xét chung về chỉ số hoá học của tinh dầu thông ba lá 59
2.3.5 So sánh chỉ số vật lý và hoá học của tinh dầu thông ba lá với các nghiên cứu trước đây 59
2.4 Thành phần hoá học 60
2.4.1 Thành phần hoá học của tinh dầu nhựa thông ba lá 60
2.4.2 Thành phần hoá học của tinh dầu lá thông ba lá 62
2.4.3 Thành phần hoá học của tinh dầu cành thông ba lá 66
2.4.4 So sánh thành phần hoá học của tinh dầu thông ba lá với các nghiên cứu trước 70
Trang 42.4.4.1 Tinh dầu nhựa thông 70
2.4.4.2 Tinh dầu lá thông 71
2.5 Hoạt tính sinh học 72
2.5.1 Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu nhựa thông 73
2.5.2 Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu lá thông 74
2.5.3 Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu cành thông 75
2.6 Cô lập α-pinen từ tinh dầu thông 76
2.6.1 Chưng cất 76
2.6.2 Sắc ký 77
2.6.2.1 Sắc ký bản mỏng 77
2.6.2.2 Sắc ký cột 78
CHƯƠNG : THỰC NGHIỆM 3.1 Nguyên liệu 79
3.2 Giải phẫu học tuyến tinh dầu 79
3.2.1 Dụng cụ, thiết bị, hoá chất 79
3.2.2 Thao tác 79
3.3 Khảo sát sự ly trích tinh dầu 80
3.3.1 Thiết bị và hoá chất 80
3.3.2 Phương pháp chưng cất hơi nước đun nóng truyền thống 80
3.3.3 Phương pháp chưng cất hơi nước chiếu xạ vi sóng 81
3.4 Xác định chỉ số vật lý 81
3.4.1 Tỷ trọng 81
3.4.1.1 Lý thuyết 81
3.4.1.2 Thực hành 82
3.4.2 Chỉ số khúc xạ 84
3.4.2.1 Lý thuyết 84
3.4.2.2 Thực hành 84
3.4.3 Góc quay cực 86
Trang 53.4.3.2 Thực hành 86
3.5 Xác định chỉ số hoá học 88
3.5.1 Chỉ số acid (IA) 88
3.5.1.1 Lý thuyết 88
3.5.1.2 Thực hành 88
3.5.2 Chỉ số savon hoá 90
3.5.2.1 Lý thuyết 90
3.5.2.2 Thực hành 90
3.5.3 Chỉ số ester hoá (IE) 91
3.6 Xác định thành phần hoá học 92
3.6.1 Phân tích GC/FID 92
3.6.2 Phân tích GC/MSD 92
3.7 Thử nghiệm hoạt tính kháng vi sinh vật 93
3.7.1 Thiết bị và hoá chất 93
3.7.2 Phương pháp tiến hành 94
3.8 Cô lập α-pinen từ tinh dầu 94
3.8.1 Dụng cụ, hoá chất 94
3.8.2 Thực hành 95
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
PHỤ LỤC
Trang 6Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
CHHD (Conventional heating hydrodistillation): Phương pháp chưng cất hơi nước đun nóng truyền thống
MIHD (Microwave-assisted hydrodistillation): Phương pháp chưng cất hơi nước chiếu
xạ vi sóng
IA (Indice d’acide): Chỉ số acid
IE (Indice d’ester): Chỉ số ester hoá
IS (Indice de saponification): Chỉ số savon hoá
GC/MSD (Gas Chromatography- Mass Spectrometry Detector): Sắc ký khí ghép khối phổ
GC/FID (Gas Chromatography- Flame Ionization Detector): Sắc ký khí đầu dò ion hoá ngọn lửa
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 1.1 Thành phần hoá học của tinh dầu nhựa thông
Bảng 1.2 Thành phần hoá học của tinh dầu nhựa thông ba lá trồng tại Zambia
Bảng 1.3 Hàm lượng, tính chất của tinh dầu một số loại thông
Bảng 1.4 Đường kính vòng vô khuẩn của tinh dầu nhựa thông
Bảng 1.5 Thành phần hoá học của tinh dầu lá một số loại thông thường gặp
Bảng 1.6 Một số cấu phần chính trong tinh dầu nón thông Thổ Nhĩ Kỳ
Bảng 1.7 Hoạt tính kháng nấm của một số loại thông
Bảng 1.8 Kết quả MIC90 của tinh dầu thông P sylvestris
Bảng 1.9 Kết quả thử nghiệm độc tính của tinh dầu một số loại lá thông
Bảng 1.10 Một số chỉ số vật lý của α-pinen
Bảng 1.11 Kết quả giá trị Rf đo được của một số monoterpen
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát khối lượng tinh dầu nhựa thông theo thể tích nước chưng cất
Bảng 2.2 Khối lượng tinh dầu nhựa thông theo thời gian chưng cất bằng phương pháp CHHD
Bảng 2.3 Khối lượng tinh dầu nhựa thông theo thời gian chưng cất bằng phương pháp MIHD
Bảng 2.4 So sánh hàm lượng và thời gian ly trích của hai phương pháp
Bảng 2.5 Khối lượng tinh dầu lá thông theo thể tích nước thêm vào nguyên liệu
Bảng 2.6 Khối lượng tinh dầu lá thông theo thời gian chưng cất bằng phương pháp CHHD
Bảng 2.7 Khối lượng tinh dầu lá thông theo thời gian chiếu xạ
Trang 8Bảng 2.9 Khối lượng tinh dầu cành thông theo lượng nước thêm vào nguyên liệu Bảng 2.10 Khối lượng tinh dầu cành thông theo thời gian ly trích bằng phương pháp CHHD
Bảng 2.11 Khối lượng tinh dầu cành thông theo thời gian chiếu xạ bằng phương pháp MIHD
Bảng 2.12 So sánh thời gian và khối lượng tinh dầu giữa hai phương pháp
Bảng 2.13 So sánh hàm lượng và thời gian ly trích tối ưu giữa các bộ phận cây thông
ba lá
Bảng 2.14 So sánh hàm lượng nhựa thông ba lá của luận văn và các nghiên cứu trước Bảng 2.15 So sánh hàm lượng tinh dầu lá thông ba lá
Bảng 2.16 Tỷ trọng của tinh dầu thông ba lá
Bảng 2.17 Chỉ số khúc xạ của tinh dầu thông ba lá
Bảng 2.18 Góc quay cực của tinh dầu thông ba lá
Bảng 2.19 Chỉ số acid của tinh dầu thông ba lá
Bảng 2.20 Chỉ số savon hoá của tinh dầu thông ba lá
Bảng 2.21 Chỉ số ester hoá của tinh dầu thông ba lá
Bảng 2.22 So sánh chỉ số vật lý và hoá học của tinh dầu nhựa thông của luận văn và các nghiên cứu trước đây
Bảng 2.23 Thành phần hoá học của tinh dầu nhựa thông ba lá thu được từ phương pháp CHHD
Bảng 2.24 Thành phần hoá học của tinh dầu nhựa thông ba lá thu được từ phương pháp MIHD
Bảng 2.25 So sánh các cấu phần chính của tinh dầu nhựa thông ba lá thu được từ hai phương pháp ly trích
Trang 9Bảng 2.26 Thành phần hoá học của tinh dầu lá thông ba lá thu được theo phương pháp CHHD
Bảng 2.27 Thành phần hoá học tinh dầu lá thông ba lá thu được từ phương pháp MIHD
Bảng 2.28 So sánh các cấu phần chính trong tinh dầu lá thông thu được từ hai phương pháp ly trích
Bảng 2.29 Thành phần hoá học của tinh dầu cành thông ba lá thu được từ phương pháp CHHD
Bảng 2.30 Thành phần hoá học tinh dầu cành thông ba lá thu được từ phương pháp MIHD
Bảng 2.31 So sánh các cấu phần chính của tinh dầu cành thông ba lá thu được từ hai phương pháp ly trích
Bảng 2.32 So sánh các cấu phần chính trong tinh dầu nhựa thông của luận văn và các nghiên cứu trước
Bảng 2.33 So sánh thành phần hoá học của tinh dầu lá thông ba lá của luận văn và các nghiên cứu trước
Bảng 2.34 Kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu nhựa thông Bảng 2.35 Kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu lá thông
Bảng 2.36 Kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu cành thông Bảng 2.37 Chỉ số vật lý của α-pinen
Bảng 3.1 Tỷ trọng ở 20 oC của tinh dầu thông ba lá
Bảng 3.2 Chỉ số khúc xạ ở 20 oC của tinh dầu thông ba lá
Bảng 3.3 Góc quay cực của tinh dầu thông ba lá
Bảng 3.4 Chỉ số acid của tinh dầu thông ba lá
Trang 10Bảng 3.5 Chỉ số savon hoá của tinh dầu thông ba lá
Trang 11Danh mục các hình và đồ thị
Hình ảnh
Hình 1.1 Chu trình sống của cây thông (Pinus)
Hình 1.2 Rừng thông ba lá
Hình 1.3 Cách cạo vỏ hình chữ V trên thân cây
Hình 1.4 Khai thác nhựa thông
Hình 1.5 Cơ chế sinh tổng hợp pinen
Hình 2.1 Lá thông ba lá tươi
Hình 2.2 Nhựa thông ba lá
Hình 2.3 Tuyến tinh dầu ở lá thông dưới kính hiển vi phóng đại 100 lần
Hình 2.4 Tuyến tinh dầu ở lá thông dưới kính hiển vi phóng đại 400 lần
Hình 2.5 Tuyến tinh dầu ở cành thông
Sơ đồ
Sơ đồ 2.1 Quy trình ly trích tinh dầu từ cây thông ba lá
Đồ thị
Đồ thị 2.1 Khối lượng tinh dầu nhựa thông theo thể tích nước thêm vào
Đồ thị 2.2 Khối lượng tinh dầu nhựa thông theo thời gian chưng cất bằng phương pháp CHHD
Đồ thị 2.3 Khối lượng tinh dầu nhựa thông theo thời gian chưng cất bằng phương pháp MIHD
Đồ thị 2.4 So sánh hàm lượng và thời gian ly trích của hai phương pháp
Đồ thị 2.5 Khối lượng tinh dầu lá thông theo thể tích nước thêm vào nguyên liệu
Đồ thị 2.6 Khối lượng tinh dầu lá thông theo thời gian chưng cất bằng phương pháp
Trang 12Đồ thị 2.7 Khối lượng tinh dầu lá thông theo thời gian chiếu xạ bằng phương pháp MIHD
Đồ thị 2.8 So sánh thời gian và hàm lượng tinh dầu giữa hai phương pháp
Đồ thị 2.9 Khối lượng tinh dầu cành thông ba lá theo thể tích nước thêm vào nguyên liệu
Đồ thị 2.10 Khối lượng tinh dầu cành thông ba lá theo thời gian ly trích
Đồ thị 2.11 Khối lượng tinh dầu cành thông theo thời gian chiếu xạ
Đồ thị 2.12 So sánh thời gian ly trích và hàm lượng tinh dầu cành thông qua hai phương pháp ly trích
Đồ thị 2.13 So sánh thời gian và hàm lượng tinh dầu tương đối giữa các bộ phận thông ba lá
Trang 13MỞ ĐẦU
Nước Việt Nam ta có điều kiện thiên nhiên thích hợp cho rất nhiều loài sinh vật sinh sống và phát triển Từ những loại cây chỉ thích hợp với khí hậu ôn đới đến các loài thực vật nhiệt đới điển hình đều có thể tìm thấy tại nước ta Vì vậy, chúng ta có điều kiện sản xuất các sản phẩm từ thiên nhiên một cách phong phú và đa dạng
Trong các chế phẩm từ thiên nhiên, tinh dầu được chú ý như một sản phẩm có nhiều ứng dụng trong các mặt của đời sống, từ mỹ phẩm, dược phẩm đến thực phẩm…
Do đó, trên thế giới ngày càng có nhiều nghiên cứu cũng như khai thác nguồn tinh dầu
từ nhiều loại thực vật khác nhau
Cây thông ba lá là loại cây được trồng nhiều tại miền Bắc và Tây Nguyên Đây
là loại cây cho gỗ nhiều, chất lượng gỗ tốt và cũng đồng thời cung cấp thêm một lượng nhựa thông dồi dào, cung ứng cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau Tuy nhiên, trong thực tế, ngoài gỗ và nhựa thông, cây thông còn có các bộ phận cho tinh dầu khác
mà trước đây ở nước ta chưa chú ý khai thác Trong khi đó trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu cho kết quả khả quan về tinh dầu thông, và sản phẩm này cũng được thương mại hoá rộng rãi, ứng dụng trong nhiều sản phẩm chăm sóc sức khoẻ và sắc đẹp
Chính vì sự lý thú về những tác dụng hữu ích trên nên đã thuyết phục chúng tôi chọn cây thông ba lá làm đề tài nghiên cứu Đặc biệt, đây cũng là lần đầu tiên ở Việt Nam có một đề tài nghiên cứu chi tiết và có hệ thống về tinh dầu thông ba lá Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các phương pháp ly trích tinh dầu từ nhựa, lá
và cành thông, bên cạnh đó chúng tôi khảo sát tính chất vật lý, hoá học và sinh học của tinh dầu nhằm góp phần mở ra một hương khai thác mới đối với cây thông ba lá Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1
Trang 151.1 Đại cương về họ Thông
1.1.1 Đặc điểm chung ngành Lõa tử
Ngành Lõa tử là ngành có mức độ phát triển cao, biểu hiện trong việc phức tạp hóa cơ quan dinh dưỡng và cơ quan sinh sản để thích ứng với lối sống trên đất
Gồm những đại diện có thân gỗ, thân bụi, không có thân cỏ, có cấu tạo thứ cấp, chưa có mạch thông, gỗ có quản bào núm, chưa có sợi gỗ và nhu mô gỗ Là những cây thường xanh Lá có hình chân vịt, hình vẩy, hình kim
Cơ quan sinh sản gồm 2 loại bào tử:
- Bào tử nhỏ là hạt phấn, nằm trong túi bào tử nhỏ là túi phấn và nằm ở mặt dưới lá bào tử nhỏ, tập trung lại thành nón đực ở đầu cành, nhỏ, màu vàng nhạt
- Bào tử lớn nằm trong túi bào tử lớn là noãn, noãn nằm ở mặt bụng hoặc hai bên sườn của lá bào tử lớn Lá bào tử lớn tập trung thành nón cái, mọc riêng rẽ
ở giữa cành, lớn hơn nón đực nhiều Noãn về sau phát triển thành hạt Noãn
chưa được lá noãn bọc kín nên gọi là lõa tử
Dựa vào đặc điểm này mà Theophraste (372 - 287 TCN) đã đặt tên là nosperm” để mô tả những loài cây mà hạt không được bảo vệ
“Gym-• Lõa tử là nhóm rất cổ của thực vật có hạt Là những cây có hạt đầu tiên xuất
hiện trên trái đất vào đầu kỷ Devon thuộc Đại Cổ sinh Ở Đại Trung sinh chúng phát triển mạnh, gồm 20.000 loài Đến nay có nhiều loài đã tuyệt diệt chỉ còn khoảng 600 - 700 loài
• Thể bào tử chiếm ưu thế tuyệt đối, cây trưởng thành với rễ thân lá và hoàn toàn thích nghi với đời sống ở cạn
• Không còn sự sinh sản bằng bào tử
Trang 16• Thể giao tử tiêu giảm cao độ, nguyên tản đực chỉ còn lại 1-2 tế bào trong hạt phấn, nguyên tản cái với noãn cầu to Tinh trùng được ống phấn mang đến tận túi phôi để thụ tinh với noãn cầu
• Sự thụ tinh không cần nước
• Hạt là đặc điểm tiến hóa quan trọng bảo đảm cho sự giữ gìn và phát tán loài Nguồn gốc, Lõa tử phát sinh từ các thực vật có bào tử khác nhau của nhóm Dương xỉ
[41]
Về phân loại, ngành lõa tử được phân thành các lớp:
- Lớp Dương xỉ có hạt (Lyginopteridopsida): là lớp cổ nhất và đã bị tuyệt diệt
- Lớp Tuế (Cycadopsida)
- Lớp Á tuế (Bennettiopsida): đã tuyệt diệt
- Lớp Lá quạt (Ginkgopsida): chỉ còn 1 loài được trồng ở các nước ôn đới:
Ginkgoa biloba
- Lớp Thông (Pinopsida)
- Lớp Dây gắm (Gnetopsida)
1.1.2 Đặc điểm chung lớp Thông
Là những cây gỗ lớn, có lá nhỏ, phân cành mạnh, có thể đạt tới 150 m, có cấu tạo gỗ giống nhau: vỏ mỏng, trụ thân lớn, gỗ gồm nhiều quả bào Lá hình kim, hình vảy hay mũi mác
Cơ quan sinh sản là nón đơn tính
- Nón đực gồm các lá bào tử nhỏ xếp chung quanh một trục bền, dưới mỗi lá bào tử nhỏ có mang 2 túi phấn 2 bên trong chứa nhiều hạt phấn Hạt phấn của Thông có mang 2 túi khí ở hai bên
Trang 17- Nón cái gồm các lá bào tử lớn xếp chung quanh một trục theo đường xoắn ốc Gốc có lá bắc, mặt bên có noãn Sự thụ phấn nhờ gió
Trong sự thụ tinh chỉ có một tinh tử của ống phấn phối hợp với tế bào trứng Còn tinh tử thứ hai không dùng đến (nên gọi là sự thụ tinh đơn)
Phôi thường có nhiều lá mầm Hạt phán tán nhờ có lớp vỏ của lá noãn làm thành cánh ở phía trên
Khác với Tuế, ở Thông tinh trùng không có roi Sự thụ tinh không cần nước
Hình 1.1 Chu trình sống của Thông (Pinus)
Theo Takhtajan (1986), lớp Thông gồm có 6 bộ với 8 họ, 55 giống và gần 600 loài Đó là các bộ: Đỉnh tùng (Cephalotaxales), Kim giao (Podocarpales), Thông đỏ (Taxales), Bách tán (Araucariales), Thông (Pinales) và Hoàng đàn (Cupressaceae) Lớp Thông có nhiều ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế như gỗ, dầu và đối với việc hình thành thảm thực vật như trên trái đất [1,41]
Các đại diện thường gặp:
- Thông hai lá / thông nhựa (P merkusiana Cool et Gau.)
Trang 18- Thông ba lá (P kesiya Royle)
- Thông 5 lá Đà Lạt (P dalatensis de Ferre) : Mọc ở vùng núi cao Đà Lạt,
là loài đặc hữu của Việt Nam
- Thông nước (Pglyptostrobus pensilis (Staunt.) K Koch)
- Pơ mu (Fokienia hodginsii A Henry et Thomas.)
- Trắc bách diệp (Biota orientalis (L.) Endl.)
1.2 Giới thiệu cây thông ba lá
1.2.1 Phân loại và danh pháp
Tên khoa học: Pinus kesiya Royle
Trang 19- Benguet pine (Philippines)
- Son-sambai (Thái Lan) [2,3]
1.2.2 Đặc điểm thực vật
Hình 1.2 Rừng thông ba lá
Thông ba lá có chiều cao 20-30 m đường kính cây có thể lên đến 70 cm, cây mọc thẳng
Vỏ màu nâu sáng, nứt dọc thành rãnh sâu
Tán cây hình trứng rộng Lá kim, dài 15-20 cm, mọc thành 3 lá một cụm Lá cứng, màu xanh ngọc Đầu cành ngắn đính lá có độ dài khoảng 1 cm, đính cách vòng thành hình xoắn ốc trên cành lớn
Nón đơn tính cùng gốc, nón cái thường chín trong 2 năm, khi chín hóa gỗ Nón hình trứng, có kích thước: cao 5-9 cm, rộng 4-5 cm Cuống thường cong, có chiều dài
Trang 20thành vảy, mỗi vảy có 2 hạt, hạt có cánh Mặt vảy hình thoi, có gờ ngang nổi rõ, có rốn vảy hơi lồi
Hạt: Hạt giống bao gồm cả cánh dài 1,5-2,5 cm 1 kg hạt bao gồm 60.000 -
90.000 hạt Trọng lượng 1.000 hạt giống khoảng 14-17 g [7,42]
1.2.3 Phân bố và sinh thái
Thông được trồng bằng hạt Thông ba lá phân bố trong khu vực Đông Nam Á
và một phần Trung Quốc, Ấn Độ Cây thường mọc ở những nơi có độ cao từ 600-1200
m, trên núi đá vôi Ở Việt Nam, 90% diện tích thông ba lá là ở cao nguyên Langbian Thông 3 lá mọc ở độ cao từ 1.000 đến 1.800 m Tuy nhiên, loài thông này cũng có thể mọc được ở độ cao thấp hơn từ 800 đến 1.000 m trên cao nguyên Di Linh Thông 3 lá
có diện tích lớn nhất trong số các loài thông ở Việt Nam, mọc ở Hà Giang, Sơn La, Gia Lai, Kon Tum… Ngoài ra, thông ba lá còn được trồng ở các tỉnh như Điện Biên, Yên Bái, Đắk Lắk, Đồng Nai, Khánh Hoà, Ninh Thuận Ở các nước khác, thông ba lá tập trung nhiều ở vùng đông bắc Ấn Độ, Burma, Yunnan, Philippines
Phù hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, ở vùng núi hoặc những nơi có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình 14-20 °C, lượng mưa khoảng 700 - 1200 mm/năm
Thường mọc thành quần thể hoặc hỗn hợp với thông hai lá (Pinus merkusii) với
thông ba lá ở tầng cao hơn
Hiếm khi tái sinh tự nhiên. [43]
Trang 21tục chảy ra Như thế quá trình rút nhựa và tạo nhựa được lặp đi lặp lại Dựa vào nguyên lý này, người ta khai thác nhựa bằng cách gây tổn thương phần gỗ của cây theo chu kỳ
Thường trồng thông sau 15-20 năm mới bắt đầu khai thác nhựa Đối với thông
ba lá, thời gian trồng dài hơn (trên 25 năm) mới thu hoạch được Khi đó, cây có đường chu vi khoảng 60 cm Thường người ta phân biệt 2 loại thông: thông để sống lâu thì 4 năm lấy nhựa 1 lần, chỉ lấy nhựa nơi thân cây cách mặt đất 1,5m; với thông cần chặt đi cho quang bớt thì lấy nhựa cho đến hết, sau đó chặt cây Cây thông cho nhựa nhiều nhất đến năm 60 tuổi, sau đó giảm dần
Thời gian lấy nhựa bắt đầu thừ tháng 3 đến hết tháng 10 Ngay từ tháng 2, người ta đã cạo cho mỏng bớt vỏ trên một khoang rộng 10- 15 cm, dài 60 – 80 cm Đến tháng 3 người ta dùng một loại cuốc nhỏ riêng đẽo một mảnh vỏ rộng khoảng 9
cm, sâu 1 cm vào lớp gỗ giác cao 3-4 cm
Hình 1.3 Cách cạo vỏ hình chữ V trên thân cây
Trang 22Hình 1.4 Khai thác nhựa thông
Nhựa chảy từ miệng vết thương ra nhưng rất chóng ngừng Đó là giai đoạn chảy nhựa ban đầu có tính chất sinh lý Phần nhựa dự trữ trong cây bị dốc ra Quanh vết thương hình thành một lớp gỗ mới có rất nhiều mạch bài tiết Cạo lần sau nhựa sẽ chảy lại, nhựa chảy lần này có tính chất bệnh lý Hễ thấy ngừng chảy lại nạo, mỗi tuần nạo một lần
Để giữ cây sống lâu, cứ sau 4 năm lấy nhựa phải nghỉ 1 năm Nhựa chảy ra theo máng kẽm đính vào thân câu, được hứng vào 1 bình nhựa, sau đó cho vào bình sắt hay gỗ để cất giữ
Hàng năm, mỗi cây có thể cho khoảng 700 g tinh dầu và 2 kg colophan Nếu lấy kiệt cho đến hết thì một cây có thể cho tới 8 kg nhựa hay hơn nữa Năng suất 1 hecta thay đổi tuỳ theo tuổi của cây và số cây Trung bình 1 hecta có thể cho 350-400
kg nhựa Những năm mưa nhiều thì năng suất nhựa kém hơn nhưng nhựa có hàm
Trang 23Nhựa thông thu hoạch về có thể được tinh chế để sử dụng bằng cách: Cho nước vào nhựa rồi đun nóng, cặn và nước sẽ lắng xuống dưới, nhựa tốt nổi lên trên [4,44,45]
1.3.1 Các thuật ngữ
Tinh dầu thông (turpentin oil) thường được dùng để chỉ tinh dầu ly trích từ nhựa thông Phần còn lại của nhựa thông sau khi đã ly trích tinh dầu được gọi là tùng hương (colophan)
Tinh dầu thông còn được dùng để chỉ tinh dầu được ly trích từ các bộ phận của cây như lá (pine needle essential oil), cành non, trái (nón) (pine cone essential oil) Các loại tinh dầu này thường được sử dụng trong mỹ phẩm, trong y học hoặc trong các sản phẩm chăm sóc sức khoẻ (để xông, ngửi…)
Ngoài ra còn một số khái niệm thường được sử dụng Thí dụ
Nhựa thông (Pine oleoresin, gum oleoresin hoặc crude turpentin): Phần nhựa chảy ra từ cây thông khi nạo vỏ cây (tapping)
Colophan (resin hoặc rosin): Phần còn lại sau khi chưng cất nhựa thông để lấy tinh dầu
Dầu thông (Pine oil): Tinh dầu sau khi chế biến
Trang 24Những chỉ số vật lý đặc trưng của tinh dầu thông thương phẩm:
- Tỷ trọng (ở 25 oC): 0.8570 – 0.8650 g/cm3
- Chỉ số khúc xạ với tia D ở 20 oC: 1.4620 – 1.4720
Hơi tinh dầu đốt cháy sáng với ngọn lửa có nhiều khói
Tinh dầu thông không tan trong nước, tan được trong cồn 90o khoảng 70 %, tan trong etanol tuyệt đối và dietil eter với mọi thể tích
Tinh dầu thông có thể hoà tan được chất béo, sáp, cao su và nhiều chất hữu cơ khác
Tuỳ theo chất lượng, tinh dầu thông ở Việt Nam được chia thành 2 loại: I và II
Các bộ phận khác nhau của thông ba lá được sử dụng:
Chồi thông dùng trị đòn ngã tổn thương, viêm bàng quang, viêm niệu đạo
Lá thông dùng trị viêm thận, viêm các khớp xương và đề phòng cảm cúm
Mắt thông trị đau phong thấp, bạch đới
Vỏ thông trị thấp nhiệt bụng đau ỉa chảy, sởi
Trang 25Nhựa thông trị thấp nhiệt trong dạ dày và phong hồng, bạch điến
Quả thông non dùng trị đòn ngã tổn thương, gãy xương
Phấn thông trị viêm tai giữa, viêm mũi, ngoại thương xuất huyết, mẩn ngứa,
lở loét ngoài da
1.4.1 Tinh dầu nhựa thông
1.4.1.1 Tình hình mua bán tinh dầu nhựa thông trên thế giới
Trong khoảng thời gian từ năm 2001 – 2005, lượng tinh dầu nhựa thông buôn bán trên thế giới khoảng 1.2 tỉ tấn So sánh với những năm trong thập niên 1980, đã có
sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu về mặt hàng này Các nước sản xuất tinh dầu nhựa thông nhiều nhất trong những năm 80 là Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp và Mexico
Hiện nay, hai nước Trung Quốc và Bồ Đào Nha là nguồn cung cấp chủ yếu dầu thông cho thế giới Trung Quốc là quốc gia cung cấp lớn nhất với sản lượng hàng năm
từ 200000-250000 tấn Tiếp đến là Bồ Đào Nha với 90000 tấn Các nước sản xuất lượng lớn dầu thông khác là Mỹ, Tây Ban Nha, Mexico, Pháp, Ấn Độ, Malaysia, Nga,
Ba Lan và Honduras
Ngành công nghiệp dầu thông phát triển nhanh chóng ở các nước thuộc thế giới thứ ba Ví dụ như Brazil đã chuyển từ một nước chuyên nhập khẩu dầu thông thành một nước xuất khẩu mạnh với sản lượng hàng năm khoảng 51000 tấn Trong khu vực châu Á, Indonesia gần đây cũng trở thành một trong những nhà cung cấp chính của thế giới với sản lượng hơn 100000 tấn
Ở nước ta, có 5 loài thông phân bố tự nhiên, gồm: thông nhựa (thông 2 lá), thông 3 lá, thông đuôi ngựa, thông 5 lá, thông lá dẹp Trong đó, chỉ có 3 loại đầu là có giá trị kinh tế về gỗ và có thể sử dụng để khai thác nhựa Tổng diện tích rừng thông tự nhiên và rừng trồng khoảng 300000 ha Ngành khai thác nhựa thông ở Việt Nam có
Trang 26• Diện tích đồi trọc, đất trống có thể quy hoạch thành rừng trồng thông còn nhiều
• Các loài thông ở nước ta sinh trưởng nhanh, khoảng 25 năm có thể sử dụng để khai thác nhựa
• Thời gian khai thác nhựa trong năm lớn (hầu như quanh năm)
Với các lợi thế đó, hai trung tâm chế biến nhựa lớn nhất cả nước là Quảng Ninh
và Quảng Bình đã liên doanh chế biến với Nhật Bản và phía Nhật đã bao tiêu toàn bộ sản phẩm chế biến với tổng công suất 3000 tấn nhựa/năm
Bên cạnh đó, thông ba lá trồng tại Philippines cho hàm lượng nhựa cao hơn (23.4 %),
tỷ trọng tinh dầu 0.8593, góc quay cực +13 - +27o, chỉ số khúc xạ ( 30 oC) là 1.4656
Thành phần chính của tinh dầu là d-α-pinen và β-pinen [46,47,48]
Năm 1966, nhóm tác giả E Zavarin, N T Mirov, E N Cooling, K Snaberk và
K Costello thực hiện việc khảo sát tinh dầu thông tại Malaysia, trong đó có thông ba
lá và thông hai lá (Pinus merkusii), kết quả cho thấy thông ba lá có hàm lượng α-pinen
trong tinh dầu là 82.6%, thấp hơn hàm lượng hợp chất này trong tinh dầu thông hai lá (92.2%) [9]
Cũng trong năm 1966, nhóm tác giả E Zavarin, N T Mirov và K Snajberk công bố kết quả nghiên cứu về thành phần hoá học tinh dầu của các loại thông trồng tại Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam [10] Các loại thông được khảo sát trong đề tài
này bao gồm P khasya Royle, P yunnanenis Franchet và P insularis Endlicher Các
Trang 27loại thông này thường được xếp vào cùng một loài, gọi chung là P kesiya Royle
nhưng cũng có một số tác giả phân biệt chúng thành ba loài riêng biệt
Bảng 1.1: Thành phần hoá học của tinh dầu nhựa thông
Loại thông Nguồn gốc
Tinh dầu nhựa thông ba lá P khasya ở Việt Nam chứa nhiều α-pinen và được
đặc trưng bởi hàm lượng β-phelandren cao, nhưng chứa rất ít β-pinen so với các loại thông khác
Giữa các loại thông có sự khác nhau đáng kể về các cấu phần cũng như thành
phần của các hợp chất trong tinh dầu Tinh dầu thông P yunnanensis có hàm lượng pinen cao nhất, tinh dầu P khasya trồng tại Burma được đặc trưng bởi hàm lượng β-
α-pinen cao nhất trong các loại thông được khảo sát
Trang 28Sự khác nhau về thành phần hoá học trong tinh dầu là do nguồn gốc, thổ nhưỡng, khí hậu ở nơi trồng ảnh hưởng
Năm 1968, nhóm tác giả E Zavarin, N T Mirov, E N Cooling, K Snaberk
và K Costello thực hiện việc khảo sát tinh dầu thông ba lá trồng tại Zambia [49] Thông
ba lá ở Zambia (châu Phi) được trồng từ hạt giống có nguồn gốc tại các nước châu Á
Từ Ấn Độ (vùng Assam), Myanmar (Burma), vùng Đông Dương (Đà Lạt, Việt Nam), Philippines (phía bắc Luzon), và Madagascar, hạt thông giống được du nhập về trồng tại Zambia
Tinh dầu nhựa thông thu được được phân tích thành phần các terpen và sesquiterpen bằng phương pháp sắc ký khí-lỏng, sử dụng máy sắc ký Aerograph Hy-Fi Model 600 C kết nối với bộ thu tín hiệu Brown-Honeywell
Bảng 1.2: Thành phần hoá học của tinh dầu thông ba lá trồng tại Zambia
Trang 29Thông ba lá có nguồn gốc từ Assam có hàm lượng longifolen và β-pinen cao nhất Trong khi đó, những cây thông có nguồn gốc từ Việt Nam và Philippines được đặc trưng bởi hàm lượng hai hợp chất này thấp nhưng lại có β-phelandren chiếm tỉ lệ khá cao
Bảng số liệu cũng cho thấy những cây thông có nguồn gốc từ Burma có nồng
độ β-phelandren và β-pinen đều thấp nhưng hàm lượng longifolen lại chiếm tỷ lệ cao
Các loài thông đến từ Việt Nam, Myanmar và Madagascar tinh dầu giàu pinen, rất thích hợp cho việc ly trích pinen để làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp dược và mỹ phẩm
α-Năm 1983, Din Jingkai, Ding Lisheng, Yi Yuanfen, Wu Yu và Sun Handong
(Trung Quốc) xác định thành phần hoá học của tinh dầu nhựa thông ba lá (P kesiya
var lanbianensis (A Chev.) Gaussen trồng tại Vân Nam [11] Kết quả thành phần hoá học của tinh dầu gồm α-pinen (49.20%), β-pinen (25.9%), camphen (2.96 %), mircen (2.82%), ∆-3-caren (2.98 %), β-phelandren (9.49%), terpinolen (1.40 %) và longifolen (2.76 %)
Năm 1998, Nguyễn Trường Sơn thực hiện khảo sát tinh dầu thông ba lá trồng tại Đà Lạt, Lâm Đồng [5] Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng tinh dầu từ 13.5 –
14 %, lượng α-pinen trong tinh dầu chiếm từ 65 – 68%, ngoài ra còn có lượng β-pinen khá cao (khoảng 14 %), β-phelandren chiếm từ 6 – 7%
Năm 2008, nhóm tác giả Li Si-guang, Fu Yu-pin đã thực hiện việc khảo sát các
mẫu tinh dầu từ thông ba lá (P kesiya var langbianensis) tại Trung Quốc [50] , xác định tinh dầu của loài thông này chứa nhiều α-pinen, β-pinen (chiếm hơn 50%) và ∆-caren Cùng với sự ly trích tinh dầu, sản phẩm phụ của quá trình ly trích là tùng hương được xác định chứa nhiều acid isopimaric
Năm 1972, Mehra và Dwivedi (Ấn Độ) thực hiện các nghiên cứu trên các loài thông trồng phổ biến tại Ấn Độ, trong đó có thông ba lá [13] Khảo sát này được thực
Trang 30hiện trên diện rộng nhằm so sánh tính chất tinh dầu của chúng dựa trên các thông số như: màu sắc, thành phần hoá học, tỷ trọng, góc quay cực…
Các loại thông được khảo sát bao gồm:
Pinus roxburghii (Chir pine)
Pinus wallichiana (Blue pine)
Pinus kesiya (Khasi pine)
Pinus gerardiana (Chilgoza pine)
Bảng 1.3a: Hàm lượng, tính chất tinh dầu các loài thông
Loài
Hàm lượng (%)
Màu sắc
Góc quay cực
Bảng 1.3b: Cấu phần chính trong tinh dầu các loại thông
α-Pinen Camphen β-Pinen 3-Caren Limonen Longifolen
Trang 31Hàm lượng trung bình tinh dầu nhựa thông ba lá thấp hơn rất nhiều so với các loài thông khác
Tinh dầu thông ba lá ở Ấn Độ chứa chủ yếu là β-pinen, lượng α-pinen chiếm hàm lượng thấp (từ 25-30 %)
Góc quay cực của tinh dầu thông ba lá được xác định là -12.70o, thuộc loại tả triền
1.4.1.3 Hoạt tính kháng khuẩn
Theo nghiên cứu trước đây của Nguyễn Trường Sơn (1998), tinh dầu nhựa thông ba lá có hoạt tính kháng khuẩn yếu Tác giả sử dụng tinh dầu nhựa thông hai lá
và ba lá để khảo sát hoạt tính kháng khuẩn bằng hai phương pháp là phương pháp đục
lỗ và phương pháp đĩa giấy Kết quả thu được được trình bày trong bảng 1.4
Bảng 1.4: Đường kính vòng vô khuẩn của tinh dầu nhựa thông (mm)
Vi khuẩn
Tinh dầu nhựa thông có tính kháng khuẩn yếu
Tinh dầu nhựa thông hai lá có hoạt tính cao hơn so với tinh dầu thông ba lá
1.4.2 Lá thông
1.4.2.1 Thành phần hoá học
Trang 32Lá thông ba lá là một đối tượng ít được nghiên cứu và kháo sát về mặt tinh dầu Chỉ có một số ít các nghiên cứu của Philippines và Trung Quốc được công bố trên thế giới
Năm 1984, Manas và Exconde (Philippines) sử dụng bộ ly trích tinh dầu Clevenger để ly trích tinh dầu hai loại thông là thông hai lá và thông ba lá [51] Hiệu suất tinh dầu thông ba lá thu được từ 0.33 – 1.81% tuỳ thuộc vào độ tươi của lá Tác giả cũng sử dụng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ để xác định thành phần hoá học của tinh dầu Các cấu phần chính trong tinh dầu thông ba lá bao gồm α-pinen
(58.31%), d-limonen (22.40%), acetat bornil (6.73%), ngoài ra còn có các hợp chất
khác như camphen, β-pinen, mircen, 1,8-cineol, α-phelandren, linalol, cariophilen, borneol, terpineol, acetat geranil và γ-octalacton
Năm 2008, Ma Hui-fen và cộng sự sử dụng GC-MS để xác định thành phần hoá học của tinh dầu lá thông ba lá [13] Kết quả cho thấy các cấu phần chính trong tinh dầu
lá thông bao gồm α-pinen, β-pinen, mircen và limonen
Trên thị trường có bán tinh dầu lá thông được ly trích từ thông Scotch (P
sylvestris) và thông lùn P nigra với các cấu phần chính tương tự như tinh dầu lá thông
Trang 35(29.3 %), β-mircen (9.6 %), sabinen (10.9 %), β-cadinen (10.2 %), đặc biệt có sự hiện
diện của các aldehid chi phương như n-hexanal (0.7 %) và 2-hexanal (4.5 %)
Mặt khác, tinh dầu lá thông trên thị trường thường được ly trích từ lá và cành non, hai nguyên liệu này thường không được tách riêng mà thường sử dụng chung trong ly trích, được gọi chung là tinh dầu lá thông để phân biệt với tinh dầu thông ly trích từ nhựa thông
Một số nghiên cứu khác còn thực hiện việc ly trích tinh dầu từ trái (nón) thông
Theo kết quả khảo sát trên nón thông P sylvestris tại Thổ Nhĩ Kỳ, thành phần hoá học
của tinh dầu nón thông như sau
Bảng 1.6: Một số cấu phần chính trong tinh dầu nón thông Thổ Nhĩ Kỳ [15]
Trang 36Tinh dầu nón thông chứa các cấu phần tương tự như tinh dầu lá thông Bên cạnh đó, trong tinh dầu nón thông còn có các acid thương hiện diện trong nhựa thông với hàm lượng khá cao
1.4.2.2 Hoạt tính sinh học
Hoạt tính kháng vi sinh vật của lá thông ba lá hầu như chưa được nghiên cứu trên thế giới Tuy nhiên, cũng như về thành phần hoá học, hoạt tính kháng vi sinh vật của lá thông của các loài thông khác đã được nghiên cứu rất chi tiết Hoạt tính kháng
vi sinh vật có thể được phân loại thành hoạt tính kháng khuẩn và hoạt tính kháng nấm 1.4.2.2.1 Hoạt tính kháng khuẩn
Tinh dầu lá thông nói chung kháng được nhiều loại vi khuẩn, cả vi khuẩn gram
âm và gram dương Tuỳ theo thành phần hoá học của mỗi loại tinh dầu mà hoạt tính kháng khuẩn biểu hiện cường độ mạnh yếu hoặc có tác dụng trên các chủng vi khuẩn khác nhau
Theo nghiên cứu của Oluwadayo-Sonibare và Olakunle (Nigeria) [16], tinh dầu
lá thông Pinus caribaea có thành phần chính là β-phelandren (67.9%), β-cariophilen
(10.2%) và α-pinen (5.4%) Các chủng vi khuẩn được sử dụng để thử nghiệm trong
nghiên cứu này là các vi khuẩn đường ruột Kết quả cho thấy tinh dầu lá thông P
caribaea chỉ có tác dụng ức chế sự phát triển trên chủng Pseudomonas aeruginosa,
nồng độ tinh dầu thử nghiệm tối thiểu là 10000 ppm, đường kính vòng vô khuẩn đo được là 25 mm
Theo Letizia và cộng sự, tinh dầu lá thông P nigra có tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn B.subtilis [17] Tác giả Opdyke cũng xác định lá thông P.sylvestris có
khả năng ức chế mạnh các loại vi khuẩn đường ruột được thử nghiệm trong khi lá
thông P.pumilio có khả năng kháng khuẩn mạnh trên chủng Staphylococus aureus và
một số loại vi khuẩn khác [18]
1.4.2.2.2 Hoạt tính kháng nấm
Trang 37Về tinh dầu lá thông ba lá, chưa có tác giả nào trên thế giới công bố nghiên cứu
về hoạt tính kháng nấm của loại tinh dầu này Tuy nhiên, thông qua các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của tinh dầu lá của các loại thông khác, cũng giúp ta có nhận định bước đầu về hoạt tính sinh học của tinh dầu lá thông ba lá
Năm 2002, các tác giả M Krauze-Baranowska, M Mardarowicz, M Wiwart
thực hiện khảo sát hoạt tính kháng nấm giống Fusarium trên tinh dầu lá các loại thông
P ponderosa, P resinosa và P strobes [19] Tinh dầu lá các loại thông này được khảo sát tại nồng độ 2 % và đo khả năng ức chế sự phát triển của nấm Kết quả được trình bày trong bảng 1.7
Bảng 1.7 Hoạt tính kháng nấm của tinh dầu lá một số loại thông
Tinh dầu lá thông P resunosa có hoạt tính ức chế yếu đối với chủng F
culmorum nhưng thể hiện hoạt tính mạnh đối với 2 chủng nấm còn lại
Tinh dầu lá thông P strobus có hoạt tính kém nhất trong các loại tinh dầu thử
nghiệm trên cả 3 chủng nấm
Năm 2004, tác giả Motiejūnaitė và Pečiulytė công bố kết quả nghiên cứu khả
năng diệt nấm của tinh dầu lá thông P sylvestris để nâng cao chất lượng không khí Tinh dầu P sylvestris được thử nghiệm khả năng ức chế các loại nấm, nấm men và vi
khuẩn thường có mặt trong không khí Kết quả MIC được trình bày trong bảng
Trang 38Bảng 1.8 Kết quả MIC90 (% v/v) của tinh dầu thông P sylvestris [20]
Trang 39Tinh dầu lá thông P sylvestris có hoạt tính phổ rộng ngay cả với nồng độ thấp
(nồng độ thử nghiệm là 2.5 %)
Vì khả năng kháng được nhiều loại vi khuẩn và vi nấm này nên tinh dầu thông
P sylvestris xuất hiện rất nhiều trong các mặt hàng dược phẩm và mỹ phẩm được buôn
1.4.3 Đại cương về α-pinen
1.4.3.1 Danh pháp và cấu tạo
Công thức cấu tạo
Trang 40Danh pháp theo IUPAC: 2,6,6-trimetilbiciclo[3.1.1]hept-2-en
α-Pinen có khung sườn pinan (biciclo[3.1.1]heptan) Trong tự nhiên, có nhiều monoterpen chiếm thành phần quan trọng trong các loại tinh dầu cũng mang khung sườn pinan như β-pinen, mirtenol, verbenon… Dạng sườn carbon này có một vòng bốn nguyên tử nên rất căng, đưa đến độ phản ứng rất cao Vì vậy, α-pinen hay xảy ra các phản ứng đồng phân hoá khi đun nóng [6]
67
1
2345
67