Cây tiêu lốt du nhập vào nước ta từ rất lâu, được trồng phổ biến tại Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh và các vùng ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh như Gò Vấp, Thủ Đức.. Trên thế
Trang 1Lời Mở Đầu
Tinh dầu tự nhiên là món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, đó là những phần tinh túy nhất của cỏ cây hoa lá Với mùi thơm tự nhiên, quyến rũ và những hoạt chất quý giá, tinh dầu đem lại cho chúng ta rất nhiều tác dụng Từ xa xưa, con người
đã biết sử dụng tinh dầu như một phương thuốc thần kì để giữ gìn sức khỏe, trong đó phải
kể đến tinh dầu tiêu Tinh dầu tiêu là một trong những loại tinh dầu phổ biến nhất trong việc trị liệu các vấn đề về cảm cúm khi trời lạnh, giúp tăng sức đề kháng, giảm triệu chứng buồn nôn, giúp giữ ấm cơ thể Ngoài các tác dụng dược lý, tiêu còn được biết đến như một gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn hàng ngày Nhu cầu sử dụng tiêu ngày càng gia tăng, tiêu trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của một số nước trên thế giới
Tiêu lốt có tên khoa học Piper longum Linn., là một loại cây phổ biến của họ Tiêu,
Piperaceae Cây tiêu lốt du nhập vào nước ta từ rất lâu, được trồng phổ biến tại Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh và các vùng ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh như
Gò Vấp, Thủ Đức Trong y học cổ truyền, tiêu lốt được sử dụng để trị bệnh hen phế quản, khó tiêu, sâu răng, thuốc kích thích tình dục
Trên thế giới và tại Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về các dịch chiết quả tiêu lốt trong các dung môi khác nhau và cô lập các alkaloid chính từ quả tiêu lốt như piperin, hoạt tính sinh học của các dịch chiết cũng như của piperin đã cô lập được… Tuy nhiên, vấn đề khảo sát về tinh dầu tiêu lốt thì rất hạn chế Mục đích của đề tài là nhằm khảo sát các phương pháp ly trích tinh dầu từ lá và quả tiêu lốt, ảnh hưởng về độ chín của quả đến hàm lượng tinh dầu, xác định thành phần hóa học của tinh dầu tiêu lốt trồng ở Việt Nam, bên cạnh đó chúng tôi khảo sát các tính chất lý, hóa và các hoạt tính sinh học khác của tinh dầu như hoạt tính kháng vi sinh vật, kháng oxid hóa nhằm góp phần cho việc khai thác và sử dụng nguồn nguyên liệu này có hiệu quả tốt hơn
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Trang 31.1 Nguồn gốc của hạt tiêu, Piper nigrum Linn
Hạt tiêu là một gia vị quan trọng được phổ biến ở nhiều nước phương Đông cách đây hơn 2000 năm về trước [9]
Hạt tiêu bắt nguồn từ bờ biển Malabar phía Nam Ấn Độ nằm ở vùng Ghats và Assam, mọc hoang trong rừng (đây là vùng nhiệt đới ẩm) được người Ấn Độ phát hiện, sử dụng đầu tiên Sau đó hạt tiêu được lan truyền khắp thế giới thông qua dân di cư người Indonesia và Malaysia Thời bấy giờ, hạt tiêu có thể dùng làm lễ vật cống triều hoặc bồi thường chiến tranh [44]
Đến đầu thế kỷ 13 cây tiêu mới được trồng rộng rãi và sử dụng trong bữa ăn hàng ngày [44]
Từ Ấn Độ sau đó được trồng lan rộng các nước vùng Nam Á, Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Srilanka, Campuchia, Việt Nam, Lào …) [44]
Đến thế kỷ 19 mới đưa sang trồng ở châu Phi và châu Mỹ, nhiều nhất là ở Madagasca và Brazil [44]
Hiện nay tiêu được trồng nhiều ở các nước nằm trong vùng xích đạo khoảng 15o vĩ
độ Bắc và 15o vĩ độ Nam (do xuất xứ từ vùng nhiệt đới ẩm) [44]
Những cây họ Tiêu thường là thảo mộc thơm, dây leo thân thảo, phát triển tự nhiên như cây bụi, được phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt đới Chúng được sử dụng cách đây hàng ngàn năm như một gia vị nổi tiếng, ngoài ra còn là một trong những cây dược liệu quan trọng được sử dụng nhiều trong y học [17,50]
Họ Tiêu gồm 12 giống và khoảng 1400 loài, chủ yếu được tìm thấy ở vùng nhiệt đới [10]
Trong đó, nguồn gốc xuất xứ của một vài loại tiêu nổi tiếng được biết:[9]
Piper nigrum từ Ấn Độ, Malaysia và Indonesia
Piper longum Linn từ vùng núi của dãy Himalaya
Piper retrofractum Vahl từ Malaysia và Indonesia
Piper guineense Schum từ vùng nhiệt đới của châu Phi
Trang 4Hạt tiêu đen (Piper nigrum) và hạt tiêu dài (Piper longum) là hai loài được biết đến
nhiều nhất trên thế giới Trong y học, chúng còn là các loại thảo mộc rất hữu ích trong việc điều trị các chứng bệnh về đường hô hấp và tiêu hóa [16]
Tiêu là một trong những mặt hàng được trao đổi buôn bán sớm nhất giữa các nước Phương Đông và châu Âu Nó có một lịch sử lâu đời hơn các cây gia vị khác và mang lại những lợi nhuận khổng lồ Ngoài ra, tiêu còn có một vị trí nhất định trong lịch sử của thế giới vì nó là cây gia vị được dùng để cống nạp đối với các triều đại phong kiến trước đây [45]
Năm 2001, nước sản xuất tiêu lớn nhất thế giới là Ấn Độ, tiếp theo là Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Sri Lanka Năm 2002, sản lượng xuất khẩu hồ tiêu ở Việt Nam đứng thứ hai thế giới sau Ấn Độ Từ năm 2003, Việt Nam bắt đầu vượt qua Ấn Độ, trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng xuất khẩu hồ tiêu Ở Mỹ La tinh có Brazil
và Mexico là hai nhà sản xuất lớn nhất [9] Việc sản xuất tiêu tại Brazil đã gia tăng mạnh
mẽ trong những năm vừa qua [45]
1.2 Giới thiệu cây tiêu lốt, Piper longum Linn
1.2.1 Vài nét về cây tiêu lốt
Các quốc gia như Ấn Độ có điều kiện khí hậu và mùa màng thuận lợi cho sự phát
triển của nhiều loài thực vật Trong đó, Piper longum Linn thuộc họ Piperaceae, là một
cây thuốc quan trọng được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền ở châu Á, các đảo Thái Bình Dương và đặc biệt là trong các bài thuốc Ấn Độ [29]
Piper longum Linn hay còn gọi là Pippali và Pippalimulam Pippali chỉ trái tiêu chín
và được phơi khô Pippalimulam là tên gốc của loại cây này [26]
Piper longum Linn có nguồn gốc Đông Bắc Ấn Độ Nó xuất hiện ở các vùng đất
nóng nhất Ấn Độ, từ Himalaya đến Assam, Khasi và đồi Mikis, các đồi thấp hơn của Tây Bengal, tìm thấy tại các khu rừng Tây Ghats từ Konkan đến Travancore, nó cũng được phát hiện tại các quần đảo Car Nicobar Trên phạm vi toàn cầu, nó được phân phối tại Indo-Malesian và Sri Lanka [26,27,29]
Trang 5Tiêu lốt đến với Châu Âu trước cả tiêu đen hiện nay Theo Fluckiger và Hanbury, tiêu lốt được phát hiện bởi người Hy Lạp và người La Mã Người châu Âu đầu tiên biết
đến tiêu lốt là người Hy Lạp, họ gọi gia vị này là “peperi”, gần giống với từ gốc tiếng Phạn “pippali” Khi sự thống trị Địa Trung Hải chuyển từ người Hy Lạp sang người La
Mã thì người La Mã tiếp tục được thừa hưởng món gia vị quý giá này Tiêu lốt có giá trị cao trong thời đế chế La Mã lúc bấy giờ, giá của tiêu lốt gấp 3 lần so với tiêu đen [19,45,51]
Với hương vị vừa cay nồng vừa ngọt ngào, nó được chọn là gia vị ưu tiên trong bữa
ăn Sau đó, tiêu lốt cũng được biết đến và phổ biến ở Châu Phi, chủ yếu ở khu vực Hồi giáo Bắc Phi và Đông Phi [14,47]
Tiêu lốt có nguồn gốc chủ yếu từ thực vật hoang dã Các nguồn cung cấp chính là Assam, Tây Bengal và Uttar Pradesh Số lượng nhỏ cũng được thu thập từ rừng Kerala, Tây Bengal và vùng trung tâm của Andhra Pradesh.[14,48]
Cây tiêu lốt Piper longum Linn được du nhập vào nước ta từ rất lâu, được trồng phổ
biến tại các vườn cây, hàng rào ở Nam Bộ, Bắc Bộ như Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh và các vùng ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh như Gò Vấp, Thủ Đức [1] Tuy nhiên, cho đến nay tiêu lốt cũng ít được sử dụng nên việc trồng trọt không được phổ biến [3]
Hình 1.1 Cây Tiêu lốt – Piper longum Linn
Trang 6Tên tiếng Anh: Piper longum Linn thuộc giống Piper, họ Tiêu Piperaceae
Tên đồng nghĩa: Piper latifolium Hunter, Piper saramentosum Wall., Chavica
roxburghii Miq [31]
Tiêu dài Ấn Độ còn được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau: Long pepper, dried
catkins (tiếng Anh), poivre long (tiếng Pháp), Pipli, Pipar, Pipal (tiếng Hindi), Hippali, Thippali balli (tiếng Kannada), Tippali, Pippali (tiếng Malayalam), Pimpli (tiếng
Marathi), Pippli, Tippili (tiếng Tamil), Pippallu, Pippali (tiếng Telegu), Pippali,
Magadhi, Kana, Ushana (tiếng Phạn) [11,27,46]
1.2.3 Mô tả cây
Cây thân thảo có phần gốc mọc bò, dây leo như tiêu đen Piper nigrum Linn Thân
cành đứng thẳng, nhẵn [1] Mặt trên của lá láng, mặt dưới có lông mịn và màu nhạt hơn mặt trên [3] Lá mọc so le, hình trứng thuôn dài khoảng 10 cm, rộng 3 cm, gốc hình tim hơi lệch, đầu nhọn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông nhỏ, nhất là ở gân, gân lá 5-7, cuống
lá ngắn hơi có lông, có bẹ ở gốc [1] Cụm hoa mọc thành bông, hoa đơn tính, bông đực
Trang 7dài khoảng 5.5 cm, có trục nhẵn, lá bạc tròn, nhị 2, chỉ nhị rất ngắn, bông cái ngắn hơn khoảng 1.5 cm, trục cũng nhẵn có cuống ngắn, bầu có 3 đầu nhụy hình trứng [1] Quả tiêu thuộc loại quả kép, rất nhiều quả kết hợp với nhau tạo thành khối hình nón, mọc ở nách lá [3] Quả mọng, mùa hoa quả: tháng 3-5 [1]
1.2.4 Bộ phận sử dụng
Bộ phận quả được sử dụng nhiều trong y học, bộ phận rễ được sử dụng ít hơn
1.2.5 Phân bố sinh thái
Piper longum Linn thường được biết đến dưới tên gọi “long pepper”, tức “tiêu dài”,
nó được phân phối rộng rãi ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của thế giới, tại các
quốc gia Ấn Độ, Sri Lanka, các quốc gia Trung Đông và châu Mỹ [31]
Khu vực châu Á, tiêu lốt phân bố chủ yếu ở Ấn Độ, sau đó được trồng lan rộng ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và một vài nước khác [1,44] Ở Việt Nam, tiêu lốt phân bố tương đối phổ biến ở các tỉnh miền núi và trung du, nhất là các tỉnh có rừng núi đá vôi Cây ưa ẩm, thích bóng râm, thường mọc rải rác, đôi khi tạo thành rừng núi đất ở hai bên bờ khe suối và ven rừng núi đá vôi ẩm [1] Đến thế kỷ 19 mới đưa sang trồng ở châu Phi và châu Mỹ, nhiều nhất là ở Madagasca và Brazil [44]
1.2.6 Trồng trọt, thu hái, bảo quản
1.2.6.1 Đất [15,27]
Đất trồng là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của cây tiêu lốt Các loại đất giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt với pH từ 5.5 đến 8.5 như đất phù sa, đất mùn hoặc đất núi lửa đều thích hợp
Đất đá ong với hàm lượng chất hữu cơ cao, khả năng giữ nước tốt rất phù hợp với loại cây này
Trang 8Lượng mưa hàng năm đạt 2000-4000 mm là phù hợp đối với cây
1.2.6.3 Nhân giống [15,27]
Trong môi trường sống tự nhiên, cây tiêu lốt phát triển như một cây bụi Vì vậy, người ta thường trồng nó như một loại dây leo bám vào thân cây dừa, cây cau, những thân cây gỗ lớn hoặc cho cây leo lên các bờ rào
Tiêu lốt có bộ thân rễ phát triển, bò lan đến đâu ra rễ đến đó, phần thân mang lá
vươn cao, phân nhánh khỏe và ra hoa quả nhiều hơn loài lá lốt (Piper lolot Linn.) Cây
nhân giống tự nhiên bằng hạt, tái sinh khỏe sau khi bị cắt, trồng được bằng giâm cành [2] Nhà vườn thường trồng tiêu lốt bằng 2 cách: giâm cành hoặc trồng bằng hạt
Giâm cành: chọn phần thân cứng cáp, mập mạnh, cắt 1 đoạn dài 10-12 cm, có ít nhất
3 nốt, sau đó mang trồng ở nơi bóng râm của vườn ươm Mỗi cành trồng cách nhau 12-15
cm Giâm từ 10 đến 15 ngày, đến khi rễ phát triển được 60-70% thì trồng thẳng ra vườn Trồng bằng hom: hom cắt hơi xiên, vết cắt cách mắt 3-4 cm, mỗi hom cắt 3-4 mắt
Ươm hom tiêu trong bầu, đất trong bầu phải là lớp đất tươi xốp, sau đó chuyển hom vào vườn ươm che kín gió và điều chỉnh ánh sáng đạt 30% Hom được ươm từ 4-5 tháng trong vườn ươm, có ít nhất 1 chồi mọc, 5-6 lá trở lên mới đem trồng ra vườn Các hom được trồng với khoảng cách 2 x 2 m trong các hố được đào sâu khoảng 20-30 cm Hom tiêu khi mới được trồng ra vườn dễ bị nhiễm bệnh, cần có chế độ chăm sóc đặc biệt
Trang 91.2.6.4 Thu hái, bảo quản và năng suất [15,27]
Khi gié bông đầu tiên kết trái thì có màu xanh, khoảng 2 tuần tiêu chín có màu đỏ cam hoặc đỏ máu Tiêu lốt thu hoạch quanh năm Sau khi thu hoạch có thể sử dụng ngay làm gia vị hoặc đem phơi nắng nhẹ
Vụ thu hoạch đầu tiên là khi cây sau sáu tháng trồng
Người ta thu hoạch quả tiêu lốt khi nó có màu xanh đen và hăng nhất Nếu để quả chín hơn thì vị cay và hăng của tiêu sẽ giảm đi Do đó, các nhà vườn thường thu hoạch khi trái tiêu còn xanh và sau đó phơi khô, vì khi chín thì tiêu dễ dập Tiêu khô và được xay thành bột có trên thị trường thì xuất phát từ tiêu xanh nhiều hơn là tiêu chín
Quả sau thu hoạch được phơi nắng cho khô trong 4-5 ngày cho đến khi nó khô hoàn toàn Sau đó quả khô được lưu trữ trong các thùng
Mùa thu hoạch kéo dài từ tháng mười một đến tháng một đối với vùng đồng bằng khô cằn và từ tháng giêng đến tháng ba trên những ngọn đồi Năng suất thu hoạch thay đổi tùy thuộc từng khu vực, độ cao, nhiệt độ, lượng mưa…
Trong năm đầu tiên, quả khô cho năng suất khoảng 100 đến 150 kg cho mỗi ha và tăng lên 750 đến 1000 kg trên mỗi ha trong năng thứ ba và năm thứ tư Sau ba năm, thông thường năng suất cây giảm và phải được trồng lại Thời gian thu hoạch tối đa của cây là 5 năm
1.2.7 Tính vị, công dụng của các bộ phận cây tiêu lốt
Tiêu lốt có vị hăng cay hơn tiêu đen, do đó cần cẩn thận khi sử dụng [14]
Tiêu lốt có vị cay, tính nóng (nhiệt), vào các kinh, tỳ, vị, có tác dụng ôn trung, tán hàn, hạ khí, chỉ thống [1]
Tại Ấn Độ, tiêu lốt được dùng chủ yếu trong món dưa chua (achar), ngoài ra còn có trong món bánh markout với hương vị cay ngọt Ở Indonesia, tiêu lốt được sử dụng trong món cà ri hầm nổi tiếng (gulé) Đất nước Ethiopia, tiêu lốt thường được tìm thấy trong các món thịt hầm truyền thống (wat) [47,50,51]
Trang 10Trong y học cổ truyền, tiêu lốt được sử dụng để trị bệnh hen phế quản, khó tiêu, sâu răng, thuốc kích thích tình dục Tiêu lốt là một loại thuốc có khả năng quan trọng trong việc nâng cao trí nhớ, trí tuệ, dùng khôi phục sức khỏe sau khi bị bệnh [2]
Là thuốc chữa ho, khó thở, bệnh phong, tiểu đường, đau bụng, thiếu máu, ăn không ngon [26] Nó cũng được sử dụng như một loại thuốc giải độc rắn cắn, bò cạp chích [27] Quả và rễ tiêu lốt được dùng như thuốc lá để hít khi bị hôn mê, sử dụng là thuốc an thần khi bị mất ngủ, sử dụng trong điều trị bệnh gút, bại liệt và đau lưng [14,16]
Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy tiêu lốt rất hiệu quả trong việc điều trị viêm phế quản ở trẻ em [7,13] Các em nhỏ bị hen suyễn thường xuyên sử dụng loại tiêu này sẽ giảm được 58% mức độ nghiêm trọng của cơn hen Trong một nghiên cứu liên quan đến
240 trẻ em của các nhóm tuổi khác nhau thường xuyên bị hen suyễn 25 bệnh nhân trong
số đó cho thấy không có sự tái phát của cơn suyễn, 161 bệnh nhân cho thấy cải thiện lâm sàng, 47 bệnh nhân bình thường và 7 bệnh nhân xấu đi Trong một nghiên cứu khác, 20 trẻ em bị bệnh hen suyễn được sử dụng tiêu lốt làm thuốc với liều lượng khác nhau, từ 9.35-15.75 g hàng ngày trong vài tuần Kết quả của điều trị này, tất cả các bệnh nhân đều cho thấy hiệu quả cải thiện lâm sàng [16]
Hội nghị chuyên đề "Phương pháp điều trị bệnh sốt rét" năm 1983 tại Bombay, Ấn
Độ, tiêu lốt được đưa ra thảo luận là một phương thuốc dùng điều trị bệnh sốt rét kinh niên Tiêu lốt được sử dụng cho bệnh nhân sốt rét mãn tính với hiện tượng lá lách to (lá lách mở rộng), bắt đầu sử dụng với 3 quả hàng ngày, tăng dần mỗi ngày 3 quả đến 30 quả, sau đó giảm liều từ 30 quả xuống 3 quả, mỗi ngày giảm 3 quả Cũng theo kinh nghiệm dân gian, đun sôi hạt tiêu lốt với sữa và nước, uống mỗi ngày một lần vào buổi sáng sớm Bệnh nhân bị sốt rét uống nước sắc này thường xuyên thì tình trạng bệnh được cải thiện
rõ rệt đồng thời không còn hiện tượng lá lách to [16]
Trong y học Ấn Độ, rễ tiêu lốt được sử dụng như là một thuốc tống hơi, thuốc bổ gan, thuốc dễ tiêu, kích thích tình dục, quả tiêu lốt được cho lợi tiểu, dễ tiêu hóa, là một thành phần trong thuốc bổ, hữu ích trong điều trị viêm gan, đau ở các khớp, đau lưng, rắn cắn, bò cạp chích và bệnh quáng gà [11]
Trang 11Trong y học cổ truyền ở nước ta, tiêu lốt được dùng chữa đau bụng, dạ dày lạnh, nôn
ra nước chua, sôi bụng, tiêu chảy, đau nhức đầu, chảy nước mũi, viêm xoang, sâu răng, kinh nguyệt không đều Liều dùng: ngày 1.5-3.0 g quả hoặc 2.0-5.0 g rễ dưới dạng thuốc sắc bột hoặc viên hoàn Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác [2]
1.2.8 Một số bài thuốc có tiêu lốt [1]
- Chữa thương hàn tích lạnh, tạng phủ hư nhược, sôi bụng, tiêu chảy, đau tức vùng hông, toát mồ hôi
- Tiêu lốt 2 g, nhục kế 2 g, cao lương khương 3 g, can khương 3 g Tất cả nghiền thành bột, trộn với hồ, chế thành viên to bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống 20 viên trước bữa ăn (Thái bình huệ dân hoà tế cục phương – Trung Quốc)
- Chữa phụ nữ khí huyết bất hoà, kinh nguyệt không đều, đau bụng liên miên
Tiêu lốt (sao muối), bồ hoàng (sao), 2 vị lượng bằng nhau, tán thành bột, trộn với mật ong, chế thành viên to bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống 30 viên vào lúc đói, với rượu
ấm hoặc nước cơm Ngày 2 lần
- Chữa đau răng
Tiêu lốt, hùng hoàng, băng phiến mỗi vị 50 g Nghiền thành bột, nhét vào chỗ đau răng, sâu răng
- Chữa chảy nước mũi
Trang 12- Chữa nôn mửa, bụng trương đầy, ăn không tiêu
Rễ tiêu lốt 2-3 g, sắc nước uống (Trung dược từ hải)
1.2.9 Tác dụng của tinh dầu tiêu lốt [2]
Tinh dầu tiêu lốt rất ít được sử dụng trong các ngành kĩ nghệ có liên quan Tuy nhiên, người ta nhận thấy nó có tính ấm, có khả năng tăng tiết dịch vị, dịch tụy, kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng
Với liều lớn kích thích niêm mạc dạ dày, có thể dẫn tới sung huyết, tiểu tiện ra máu, gây hắt hơi
Mùi của tinh dầu tiêu lốt đuổi được sâu bọ, côn trùng Do đó dùng để bảo vệ quần áo len khỏi bị gặm nhắm
Trên thị trường người ta có thể dùng tinh dầu tiêu lốt Piper longum Linn thay thế cho tinh dầu tiêu đen Piper nigrum Linn (có giá trị cao) vì chúng có mùi vị gần nhau và
thành phần tương tự nhau
1.3 Giới thiệu một số phương pháp ly trích tinh dầu [4]
1.3.1 Phương pháp chưng cất hơi nước đun nóng truyền thống
Đây là phương pháp được áp dụng nhiều nhất
Dựa trên sự thẩm thấu, hoà tan, khuyếch tán và lôi cuốn theo hơi nước của những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu chứa các mô khi tiếp xúc hơi nước ở nhiệt độ cao
Nguyên liệu đã được cắt nhỏ, mô chứa tinh dầu vỡ vụn, khi nguyên liệu này tiếp xúc hơi nước, tinh dầu thoát ra ngoài, phần lớn tinh dầu còn lại trong các mô thực vật hòa tan vào trong nước có sẵn trong tế bào thực vật, dung dịch này sẽ thẩm thấu dần ra bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước cuốn đi sang hệ thống ngưng tụ
Các dạng chưng cất tinh dầu: Có 3 dạng chưng cất tinh dầu như sau
- Chưng cất với nước
- Chưng cất bằng hơi nước không có nồi hơi riêng
- Chưng cất bằng hơi nước có nồi hơi riêng
Trang 131.3.2 Phương pháp chưng cất hơi nước chiếu xạ vi sóng
Dưới sự tác dụng của vi sóng nước trong tế bào thực vật bị nóng lên thật nhanh, áp suất bên trong tăng đột ngột, làm cho các mô chứa tinh dầu bị vỡ ra Tinh dầu thoát ra ngoài bị lôi cuốn hơi nước sang hệ thống ngưng tụ ta thu được tinh dầu
* Ưu điểm
- Áp dụng tốt cho nguyên liệu chứa nhiều hợp chất phân cực
- Dễ thực hiện, chọn lọc trực tiếp và nhanh chóng
- Tinh dầu có mùi tự nhiên
* Nhược điểm
- Không áp dụng được cho nguyên liệu khô
- Chưa triển khai trong công nghiệp
1.4 Những nghiên cứu trước đây về tinh dầu tiêu lốt
1.4.1 Hàm lượng tinh dầu
Trong một nghiên cứu cách đây khá lâu, năm 1963, tác giả Handa và cộng sự cho biết quả tiêu lốt có 0,7% tinh dầu [21,22]
Năm 1997, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Shankaracharya thì quả tiêu lốt có nguồn gốc Ấn Độ cho 0.4% tinh dầu [25]
Năm 2000, kết quả nghiên cứu của Chatterjee cho biết quả tiêu lốt chứa 1% tinh dầu [12]
Trang 14Cũng trong năm 2000, theo nghiên cứu khác của tác giả Tewtrakul, quả tiêu lốt có nguồn gốc Indonesia cho 0.6% tinh dầu [28]
Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất của Sawangjaroen và cộng sự năm 2004 thì quả tiêu lốt chứa 1-2.5% tinh dầu [24]
Tiêu lốt chứa ít tinh dầu hơn các cây họ hàng của nó khoảng 1% [31]
Bảng 1.1 Tổng kết hàm lượng tinh dầu quả tiêu lốt của các TLTK
heptadecan (5.7%), α-zingiberen (5%), germacren-D (4.9%), cis farnesen (3.7%),
spatulenol (3%), globulol (2.6%) và heptadecan (2.3%) [25]
Năm 2000, theo kết quả nghiên cứu của Tewtrakul và cộng sự thì tinh dầu quả tiêu lốt trồng ở Indonesia chứa 0.1% monoterpen, 49.7% sesquiterpen và 47.6% hidrocarbon chi phương Tinh dầu tiêu lốt có 20 cấu phần, trong đó các thành phần chính bao gồm: β-cariophilen (10.2%), ar-curcumen (4.8%), germacren-D (16.5%), 8-heptadecen (18.8%),
và heptadecan (9.6%) [28]
Trang 15So sánh với các cấu phần chính trong tinh dầu tiêu lốt ở Indonesia: β-cariophilen (10.2%), pentadecan (6.6%), β-bisabolen (3.3%) [28] Như vậy hàm lượng các cấu tử chính trong tinh dầu của tiêu lốt trồng ở Indonesia đều thấp hơn so với tiêu lốt trồng ở Ấn
Độ
Họ Tiêu vốn dĩ khó trồng, nếu không có kinh nghiệm chăm sóc thì năng suất mùa vụ cũng như thời gian ra hoa kết quả sẽ không như ý muốn Tương tự như vậy các kết quả nghiên cứu về tinh dầu tiêu lốt nêu trên chưa thống nhất, điều này có thể do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến sự khác nhau về điều kiện thổ nhưỡng, vị trí địa
lý, địa hình, nguồn giống, độ tuổi nguyên liệu, khí hậu, nguồn nước… do đó hàm lượng tinh dầu cũng như hàm lượng các cấu phần chính có sự thay đổi
Bảng 1.2 Thành phần hóa học của tinh dầu quả tiêu lốt [25]
Trang 18Bảng 1.4 Tổng kết hàm lượng các cấu phần chính trong tinh dầu quả tiêu lốt chín,
Piper longum Linn của các TLTK
Trang 19Chỉ số ester sau acetil hóa 12.8
Dưới đây bảng các chỉ số lý hóa của tinh dầu tiêu lốt được đưa ra bởi Nigam, 1966 [18] Bảng 1.6 Các chỉ số lý hóa của tinh dầu Long Pepper (27 oC) theo Nigam, 1966
Mùi Cay
Tỷ trọng 0.8451 Chỉ số khúc xạ 1.4670 Góc quay cực +6.9
Chỉ số acid 0.975 Chỉ số ester 6.976
Trang 20Bảng 1.7 Tổng kết các chỉ số lý hóa tinh dầu quả tiêu lốt chín, Piper longum Linn
1.4.4 Hoạt tính sinh học
Theo một báo cáo gần đây, điều tra về tiềm năng kháng vi sinh vật của tinh dầu các
cây cùng họ Tiêu (Piperaceae) ở Nam Ấn Độ, trong đó có Piper longum Linn., cho thấy
tất cả các loại tinh dầu được kiểm tra đều thể hiện hoạt tính kháng vi sinh vật mạnh ở 2 nồng độ 25 µl, 100 µl, sử dụng dung môi DMSO để pha loãng Bảy loại tinh dầu của các
cây cùng họ Tiêu được kiểm tra là: P cubeba, P.longum, P betle, P nigrum, P
attenuatum, P barberi, P wightii Thử nghiệm trên 4 chủng vi khuẩn, trong đó có 2
chủng vi khuẩn gram dương là B subtilis, S aureus, 2 chủng vi khuẩn gram âm là E coli,
S typhi và 2 vi nấm là A niger, C albicans [23]
Trang 21Bảng 1.8 Hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu các cây họ Tiêu [23]
Người ta dự đoán hoạt tính kháng vi sinh vật mạnh của các loại tinh dầu trên có thể
xuất phát từ các cấu phần chính có trong tinh dầu như β-cariophilen, β-pinen, limonen,
sabinen [23]
Trang 221.5 So sánh hàm lượng tinh dầu và thành phần hóa học giữa tinh dầu tiêu đen
(Piper nigrum Linn.) và tinh dầu tiêu lốt (Piper longum Linn.)
Theo Govindarajan (1977) cấu phần chính của tinh dầu tiêu đen là β-cariophilen và limonen, trong khi đó cấu phần chính của tiêu lốt là β-cariophilen, pentadecan và β-bisabolen [20]
Năm 1997, Shankaracharya và cộng sự khi nghiên cứu về thành phần hóa học của tiêu lốt, nhận thấy rằng hàm lượng tinh dầu trong hạt tiêu lốt thấp hơn hạt tiêu đen Tiêu đen chứa 3.5% tinh dầu còn tiêu lốt chứa 1% tinh dầu [25]
Theo tài liệu của Tewtrakul và cộng sự năm 2000 thì tiêu đen (của Malaysia) chứa 31.4% monoterpen, 62.7% sesquiterpen và không chứa hidrocarbon Còn trong tiêu lốt
(của Indonesia) thì tỉ lệ các hợp chất trên là: 0.1%, 49.7% và 47.6% Piper nigrum Linn cho 2.2% tinh dầu và Piper longum Linn cho 0.6% tinh dầu [28]
Bảng 1.9 So sánh hàm lượng tinh dầu của Piper longum Linn và Piper nigrum Linn
Bảng 1.10 So sánh thành phần hóa học của tinh dầu Piper longum Linn và tinh dầu
Piper nigrum Linn [28]
Thành phần hóa học Piper longum Linn Piper nigrum Linn
Trang 23Tinh dầu tiêu lốt có 20 cấu phần, trong đó hàm lượng các cấu phần chính gồm: β–cariophilen (10.2%), ar-curcumen (4.8%), germacren-D (16.5%), 8-heptadecen (18.8%),
và heptadecan (9.6%) Tinh dầu tiêu đen có 15 cấu phần, trong đó hàm lượng các cấu tử chính như sau: β–cariophilen (39.7%), mircen (9.1%), δ-3-caren (10.9%) và limonen (8.7%) [28]
Bảng 1.11 So sánh hàm lượng các cấu phần trong tinh dầu Piper longum Linn (Indonesia) và Piper nigrum Linn (Malaysia) [28]
Stt Cấu phần Piper longum Linn Piper nigrum Linn
Trang 24(*): không phân biệt được cấu hình
Qua bảng số liệu trên, có thể thấy thành phần hóa học của tinh dầu Piper longum Linn đa dạng hơn thành phần hóa học của tinh dầu Piper nigrum Linn Vì tinh dầu Piper
nigrum Linn có cầu phần chính là β-cariophilen chiếm hàm lượng khá lớn 39.7% Ngược
lại, cấu phần chính trong tinh dầu Piper longum Linn là germacren-D chiếm 16.5% thì không thấy xuất hiện trong tinh dầu Piper nigrum Linn
1.6 Khảo sát khả năng kháng oxid hóa của tinh dầu
1.6.1 Quá trình oxid hóa và khả năng kháng oxid hóa của cơ thể [52,53]
Bình thường, oxigen từ không khí tham gia vào quá trình chuyển hóa (oxid hóa) các chất để tạo ra năng lượng cung cấp cho cơ thể hoạt động Tuy nhiên, có khoảng 2% oxigen cơ thể sử dụng hằng ngày kết hợp trực tiếp với các chất hữu cơ (acid amin, acid béo, steroid ) không tạo ra năng lượng mà tạo ra các gốc tự do Các gốc tự do này tham gia phản ứng với các chất hữu cơ, đặc biệt là tấn công phospholipid màng tế bào (y học
Trang 25gọi là quá trình peroxid hóa lipid), gây tổn thương màng tế bào, rối loạn quá trình trao đổi các chất giữa tế bào với bên ngoài Các gốc tự do này còn tấn công hệ thống gen của tế bào, gây tích lũy các đột biến
Cơ thể của chúng ta có các hệ thống bảo vệ (được gọi là các hệ thống antioxidant) giúp cơ thể trung hòa các gốc tự do, duy trì chúng ở nồng độ nhất định (không gây hại cho tế bào) Một số chất hữu cơ tự nhiên như các vitamin A, C và E cũng có tác dụng bảo
vệ các tế bào trước sự tấn công của các gốc tự do, các chất này được gọi là chất kháng oxid hóa (antioxidant)
Tuy nhiên, khi cơ thể ngoài 30 tuổi và dưới ảnh hưởng của các yếu tố độc hại từ môi trường sống, sự hoạt động thể lực quá căng thẳng trong lao động sản xuất cũng như trong hoạt động thể thao, thói quen uống rượu, hút thuốc có thể gây rối loạn sự cân bằng này do
sự suy giảm hoạt động của các hệ thống antioxidant và sự sản sinh ồ ạt các gốc tự do trong cơ thể Chính lúc này sẽ diễn ra stress oxid hóa, gây tổn thương màng tế bào và bộ máy di truyền của các tế bào, tăng tốc độ lão hóa của các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là
ở mô da làm da trở nên chóng già, nhăn nheo Trong cơ thể, stress oxid hóa gây suy giảm miễn dịch, làm chậm các quá trình sinh sản của tế bào, giảm tốc độ chuyển hóa các chất, giảm sản xuất các hormon và rối loạn chức năng của các mô cơ Tất cả những điều này thúc đẩy quá trình lão hóa của cơ thể, phát triển các bệnh ở tuổi già như tim mạch, ung thư, tiểu đường
Các chất có tác dụng kháng oxid hóa có khả năng bảo vệ các cơ quan (não, tim, mạch máu, gan, thận) khỏi các tác động xấu của stress oxid hóa Do đó, cơ thể cần bổ sung các chất kháng oxid hóa từ bên ngoài vào thông qua chế độ dinh dưỡng hằng ngày
1.6.2 Chất kháng oxid hóa tự nhiên, vitamin C [55,56]
Môi trường ô nhiễm, tình trạng stress, dinh dưỡng không hợp lý, thói quen xấu như hút thuốc, uống rượu, là những nguyên nhân phổ biến làm tăng gốc tự do trong cơ thể gây
ra quá trình lão hóa Gốc tự do được tạo ra từ vô số các phản ứng hóa học hàng ngày, do
Trang 26tác động của tia cực tím, ảnh hưởng của khói thuốc lá, do viêm nhiễm mãn tính, hoặc do ảnh hưởng của thuốc trừ cỏ và các chất gây ô nhiễm khác
Gần đây, người ta nói nhiều về tác hại của gốc tự do Chúng tấn công vào màng tế bào, phân tử protein, tăng nhanh quá trình lão hóa của cơ thể và kích thích sự phát triển bệnh ung thư, gây ra chứng tắc động mạch, bệnh alzeimer, bệnh tim…
Tác hại của gốc tự do có thể được hạn chế nhờ chế độ dinh dưỡng giàu chất kháng oxid hóa có nhiều trong rau quả, trong đó phải kể đến vitamin C.Vitamin C hay còn gọi
là acid ascorbic, được sử dụng phổ biến trong đời sống hằng ngày, giúp tăng cường và duy trì sức khỏe Vitamin C là một chất kháng oxid hoá tốt, nó tham gia vào nhiều hoạt động sống quan trọng của cơ thể
Chúng ta có thể bổ sung lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể bằng cách sử dụng các loại thực phẩm giàu vitamin C bao gồm các loại trái cây tươi như chanh, cam, quít, bưởi, dâu, ổi và các loại rau củ như broccoli, khoai tây, khoai lang, tiêu Nhưng vitamin C
là một chất rất nhạy cảm, dễ hòa tan trong nước, bị phân hủy ở nhiệt độ cao, dưới ánh sáng mặt trời Vì thế cần phải chú ý khi chế biến để hạn chế tối đa việc tổn thất lượng vitamin C có trong thực phẩm
Ngoài ra, nếu chế độ ăn uống không đủ đáp ứng nhu cầu vitamin C của cơ thể, thì
có thể thay thế bằng dạng viên bổ sung Vitamin C là vitamin hòa tan trong nước, nếu lượng vitamin C trong cơ thể dư thừa, chúng sẽ tự động bài tiết khỏi cơ thể, không mang độc tính Đặc biệt đối với người hút thuốc lá, sử dụng aspirin, thuốc tránh thai, thường xuyên căng thẳng tâm lý và làm việc trong môi trường nóng bức cần tăng cường bổ sung lượng vitamin C cho cơ thể
1.6.3 Khảo sát hoạt tính kháng oxid hóa của tinh dầu bằng phương pháp DPPH [8,54]
Nguyên lý: DPPH (2,2-diphenil-1-picrilhidrazin) là gốc tự do không bền ở nhiệt độ phòng, nó có thể nhận một điện tử hoặc gốc hidrogen để trở thành phân tử bền Vì DPPH
có một điện tử tự do nên nó có màu tím đậm trong metanol và hấp thụ mạnh ở độ dài sóng
Trang 27cực đại 517 nm Khi điện tử tự do đó được ghép cặp thì độ hấp thu giảm và kéo theo đó là
sự giảm màu tỉ lệ với số điện tử được ghép cặp Khi có mặt chất kháng oxid hóa nó sẽ bị hoàn nguyên thành 2,2-diphenil-1-picrilhidrazen (DPPH-H) có màu vàng nhạt Đo độ giảm độ hấp thu ở bước sóng 517 nm để xác định khả năng hoàn nguyên gốc DPPH của chất kháng oxid hóa
Cơ chế phản ứng của gốc tự do DPPH và chất kháng oxid hóa :
Khả năng kháng oxid hóa của các hợp chất được tính dựa trên phần trăm ức chế Phần trăm ức chế:
Ao: độ hấp thu quang của dung dịch chuẩn
Am: độ hấp thu quang của dung dịch mẫu
Kết quả đo khả năng kháng oxid hóa của các hợp chất được đánh giá thông qua giá trị IC50 (inhibitory concentration) IC50 là nồng độ chất kháng oxid hóa cần để ức chế 50% gốc tự do DPPH trong khoảng thời gian xác định
Giá trị IC50: là giá trị dùng để đánh giá khả năng ức chế mạnh hay yếu của mẫu khảo sát IC50 được định nghĩa là nồng độ của mẫu mà tại đó nó có thể ức chế 50% gốc tự do hoặc enzim Mẫu có hoạt tính càng cao thì giá trị IC50 càng nhỏ
DPPH (màu tím) DPPH-H (màu vàng)
Trang 28tự do (IC50)
Trang 29CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU
Trang 302.1 Nguyên liệu
Mẫu cây tiêu lốt được thu hái tại vườn của ông Sáu Nốp ở A51, ấp Bình Hòa, xã Bình Nhâm, thị trấn Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương
Quả và lá tiêu lốt sau khi thu hái được rửa sạch, cho vào bao nilon, bảo quản lạnh
và để đảm bảo độ tươi của nguyên liệu thì thời gian sử dụng tối đa là 5 ngày sau khi thu hái
Hình 2.1 Cây tiêu lốt tại vườn thu hái Hình 2.2 Quả tiêu lốt sau thu hoạch
2.2 Xác định tên khoa học
Việc xác định tên khoa học của cây tiêu lốt đã được thực hiện bởi nhà thực vật học
Võ Văn Chi Kết quả định danh của mẫu cây tiêu lốt được mang đến có tên khoa học là:
Piper longum Linn., họ Tiêu, Piperaceae
2.3 Giải phẫu học tuyến tinh dầu
Mẫu được dùng để giải phẫu là lá và quả tươi, cắt lát mỏng quan sát dưới kính hiển
vi Từ đó xác định được các bộ phận chứa tinh dầu
Trang 31Quá trình giải phẫu bộ phận chứa tinh dầu được thực hiện tại Bộ môn Sinh học – Khoa Khoa học Cơ bản, trường Đại học Y Dược TP.HCM
2.3.1 Bộ phận chứa tinh dầu ở lá
Kết quả giải phẫu học tuyến tinh dầu ở lá cho thấy các mô tạo ra tinh dầu có dạng tế bào tiết, lông tiết và túi tiết tiêu bào
- Tế bào tiết: Tế bào tiết nằm rải rác trong vùng mô mềm khuyết của phiến lá
Hình 2.3 Tế bào tiết ở lá (a) và (b) với độ phóng đại 400 lần
- Lông tiết: ở biểu bì trên và biểu bì dưới của lá
Hình 2.4 Lông tiết ở biểu bì trên (a) và biểu bì dưới (b) của lá với độ phóng đại 400 lần
Trang 32- Túi tiết tiêu bào: Túi tiết tiêu bào nằm phía trên hệ thống dẫn của vùng gân giữa của lá
Hình 2.5 Túi tiết tiêu bào ở lá với độ phóng đại (a) 100 lần và (b) 400 lần
2.3.2 Bộ phận chứa tinh dầu ở quả
Kết quả giải phẫu tuyến tinh dầu ở bộ phận quả cho thấy tinh dầu chứa trong các tế bào tiết, các tế bào tiết này có rất nhiều trong vùng mô mềm của trục mang quả, nhất là ở
vị trí tiếp xúc giữa trục mang quả và quả
Hình 2.7 Tế bào tiết ở quả chín Hình 2.8 Tế bào tiết ở quả xanh
với độ phóng đại 100 lần với độ phóng đại 100 lần
Trang 33Hình 2.9 Tế bào tiết tinh dầu ở quả với độ phóng đại 400 lần
Trang 342.4 Khảo sát sự ly trích tinh dầu tiêu lốt
Sơ đồ 2.1 Quy trình ly trích tinh dầu tiêu lốt
- CHHD
- MIHD
Phần nước Dung dịch tinh dầu và dietil eter
Nguyên liệu xay nhuyễn + nước
Trang 352.4.1 Khảo sát khối lượng tinh dầu quả tiêu lốt chín theo thời gian ly trích
Thời gian ly trích là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khối lượng và chất lượng tinh dầu Nếu thời gian ly trích quá ngắn sẽ không thể lôi cuốn hết được lượng tinh dầu có trong nguyên liệu Nhưng nếu kéo dài thời gian ly trích quá lâu, các cấu phần không bền nhiệt trong tinh dầu có thể bị phá hủy, làm ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu Vì vậy cần phải lựa chọn một thời gian ly trích tối ưu để đạt đến hiệu suất ly trích tối ưu
Để khảo sát thời gian ly trích chúng tôi dùng hai phương pháp đun nóng bao gồm:
¾ Phương pháp chưng cất hơi nước đun nóng truyền thống (CHHD)
¾ Phương pháp chưng cất hơi nước chiếu xạ vi sóng (MIHD)
2.4.1.1 Phương pháp chưng cất hơi nước đun nóng truyền thống (CHHD)
Sau khi khảo sát lượng nước tối ưu đối với 200 g nguyên liệu, chúng tôi nhận thấy ứng với lượng nước là 1000 ml thì khối lượng tinh dầu thu được là cao nhất Do đó, chúng tôi chọn lượng nước là 1000 ml để khảo sát thời gian ly trích tiếp theo
Cho 200 g nguyên liệu xay nhuyễn và 1000 ml nước vào bình cầu 2000 ml, sử dụng bộ chưng cất Clevenger dùng cho tinh dầu nhẹ Tiến hành chưng cất trong những khoảng thời gian xác định từ 6-12 giờ để xác định thời gian chưng cất tối ưu
Bảng 2.1 Khối lượng tinh dầu quả tiêu lốt chín theo thời gian chưng cất bằng phương pháp CHHD
Khối lượng (g) 0.38 0.57 0.66 0.79 0.85 0.86 0.85
Trang 360.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0.8 0.9 1
Tinh dầu quả tiêu lốt chín thu được bằng phương pháp CHHD là chất lỏng màu vàng, trong suốt, mùi thơm tự nhiên Khi khảo sát khối lượng tinh dầu từ 6 đến 12 giờ, chúng tôi nhận thấy khối lượng tinh dầu tăng dần đến 10 giờ, sau 10 giờ khối lượng tinh dầu tăng không đáng kể so với thời điểm 10 giờ Do đó chọn 10 giờ là điểm ly trích tối ưu với hàm lượng tinh dầu cao nhất là 0.43 %
2.4.1.2 Phương pháp chưng cất hơi nước chiếu xạ vi sóng (MIHD)
Cho 200 g và 1000 ml vào bình cầu 2000 ml, chiếu xạ ở công suất 900 W, tiến hành chưng cất trong các khoảng thời gian nhất định từ 20-80 phút để xác định thời gian chưng cất tối ưu
Bảng 2.2 Khối lượng tinh dầu quả tiêu lốt chín theo thời gian chưng cất bằng phương pháp MIHD
Khối lượng (g) 0.30 0.33 0.46 0.52 0.62 0.62 0.59
Trang 370.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0.8
2.4.1.3 So sánh hàm lượng tương đối giữa hai phương pháp
Bảng 2.3 So sánh hàm lượng và thời gian ly trích giữa hai phương pháp
Phương pháp ly trích Thời gian (giờ) Hàm lượng (%)
CHHD 10 0.43 MIHD 1 0.31
Trang 38Từ các kết quả trên chúng tôi nhận thấy:
Phương pháp CHHD cho hàm lượng tinh dầu nhiều hơn phương pháp MIHD Tuy nhiên thời gian ly trích của phương pháp CHHD kéo dài hơn rất nhiều so với phương pháp MIHD
2.4.2 Khảo sát khối lượng tinh dầu quả tiêu lốt xanh theo thời gian ly trích
2.4.2.1 Phương pháp CHHD
Sau khi khảo sát lượng nước tối ưu đối với 200 g nguyên liệu, chúng tôi nhận thấy ứng với lượng nước là 900 ml thì khối lượng tinh dầu thu được là cao nhất Do đó, chúng tôi chọn lượng nước là 900 ml để khảo sát thời gian ly trích tiếp theo
Cho 200 g và 900 ml vào bình cầu 2000 ml, tiến hành chưng cất trong các khoảng thời gian nhất định từ 5-11 giờ, để xác định thời gian chưng cất tối ưu
Trang 39Bảng 2.4 Khối lượng tinh dầu quả tiêu lốt xanh theo thời gian chưng cất bằng phương pháp CHHD
Khối lượng (g) 0.57 0.64 0.84 0.87 1.01 0.91 0.88
0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4
2.4.2.2 Phương pháp MIHD
Cho 200 g và 1000 ml vào bình cầu 2000 ml, chiếu xạ ở công suất 900 W, tiến hành chưng cất trong các khoảng thời gian nhất định từ 20-80 phút, để xác định thời gian chưng cất tối ưu
Trang 40Bảng 2.5 Khối lượng tinh dầu quả tiêu lốt xanh theo thời gian chưng cất bằng
phương pháp MIHD
Khối lượng (g) 0.31 0.41 0.62 0.76 0.73 0.75 0.71
0 0.2 0.4 0.6 0.8 1
nhạt, trong suốt, mùi thơm nồng
Thời gian chiếu xạ tối ưu là 50 phút với hàm lượng tinh dầu đạt được là 0.38 %
2.4.2.3 So sánh hàm lượng tương đối giữa hai phương pháp
Bảng 2.6 So sánh hàm lượng và thời gian ly trích giữa hai phương pháp
Phương pháp ly trích Thời gian (giờ) Hàm lượng (%)
CHHD 9 0.50 MIHD 0.83 0.38