1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình

89 839 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIV xác định: “tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh phong phú về cảnh quan thiên nhiên, về di tích lịch sử, kiến t

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Khoá luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của cô giáo, TS

Đỗ Thuý Mùi

Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến

TS Đỗ Thúy Mùi đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khoá luận

Em xin được chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo bộ môn Địa lí của khoa Sử Địa, Ban giám hiệu và các phòng ban chức năng của trường Đại học Tây Bắc đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành khoá luận

Em xin được cảm ơn Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khoá luận

Xin được cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, tạo điều kiện giúp

đỡ để em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp

Khoá luận sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong các thầy

cô giáo và độc giả góp ý để em tiếp tục hoàn thiện

Em xin chân thành cảm ơn!

Tác giả thực hiện

Sinh viên

Bùi Thị Bưởi

Trang 3

4 1.4 Bảng điểm đánh giá các điểm du lịch ở Ninh Bình 23

5 1.5 Bảng điểm đánh giá các cụm du lịch ở Ninh Bình 24

6 1.6 Bảng điểm đánh giá các tuyến du lịch ở Ninh Bình 25

7 2.1 Hiện trạng khách du lịch Ninh Bình giai đoạn

15 3.3 Dự báo số lượng khách du lịch đến năm 2020 53

16 3.4 Dự báo doanh thu từ du lịch đến năm 2020 54

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu 3

2.2 Nhiệm vụ 3

2.3 Phạm vi nghiên cứu 4

3 Lịch sử nghiên cứu 4

3.1 Ở nước ngoài 4

3.2 Ở Việt Nam 5

3.3 Ở Ninh Bình 6

4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6

4.1 Các quan điểm 6

4.2 Các phương pháp nghiên cứu chính 7

5 Ý nghĩa khoa học của đề tài 8

5.1 Ý nghĩa khoa học 8

5.2 Ý nghĩa thực tiễn 9

6 Những đóng góp của đề tài 9

7 Cấu trúc của đề tài 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH 10

1.1 Những khái niệm tổng quan về du lịch và tổ chức lãnh thổ du lịch 10

1.1.1 Du lịch và những định nghĩa về du lịch 10

1.1.2 Tổ chức lãnh thổ du lịch 11

1.1.3 Vai trò của tổ chức lãnh thổ du lịch 13

1.1.4 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá 13

1.2 Vận dụng cơ sở lí luận vào tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình 21

1.2.1 Những căn cứ để vận dụng 21

1.2.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình 22

Trang 6

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC CHÍNH VÀ THỰC TRẠNG

TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH 26

2.1 Đánh giá các nguồn lực chính 26

2.1.1 Vị trí địa lí 26

2.1.2 Tài nguyên du lịch 29

2.1.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 33

2.2 Thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình 35

2.2.1 Thực trạng phát triển du lịch Ninh Bình 35

2.2.2 Thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch 40

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH 47

3.1 Cơ sở để định hướng 47

3.1.1 Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 47

3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 47

3.1.3 Định hướng phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020 48

3.2 Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch Ninh Bình 54

3.2.1 Các loại hình du lịch 54

3.2.2 Các điểm, cụm và tuyến du lịch 55

3.3 Các giải pháp chủ yếu 73

KẾT LUẬN 77

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, với sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật và công nghệ, xu hướng quốc tế hoá toàn cầu, du lịch thực sự là nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá - xã hội Hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh

mẽ, trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới

Hoạt động du lịch đã manh nha hình thành và phát triển từ khi xã hội loài người bước vào quá trình phân công lao động lớn lần thứ hai, khi nghề tiểu thủ công được tách khỏi sản xuất nông nghiệp, khi xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp Tuy nhiên, hoạt động du lịch chỉ thực sự phát triển và xuất hiện trên vũ đài kinh tế thế giới thì phải sau chiến tranh thế giới thứ hai Theo đánh giá của

Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization), du lịch đã trở thành

một hoạt động quan trọng nhất của đời sống hiện đại và hiện là ngành có mức tăng trưởng nhanh và có thu nhập cao trên thế giới Năm 1960, lượng khách du lịch quốc tế trên toàn cầu mới khoảng 69 triệu người thì đến năm 1980 là 287 triệu người và năm 2000 lên tới 689 triệu người, gấp gần 10 lần trong vòng 40 năm Thu nhập du lịch quốc tế năm 1960 mới là 18,2 tỷ USD thì đến năm 1980

là 92 tỷ USD và năm 2000 đạt tới 476 tỷ USD gấp 26 lần so với năm 1960 Trong những năm qua, tình hình du lịch thế giới và khu vực có sự tăng trưởng liên tục nhưng khác nhau ở từng giai đoạn Số lượng khách du lịch quốc tế đạt

940 triệu lượt (năm 2010), 983 triệu lượt (năm 2011) và chạm mốc 1 tỷ lượt (năm 2012) Trong đó, tính đến năm 2011, châu Âu vẫn là thị trường thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất (504 triệu lượt), tiếp theo là châu Á và Thái Bình Dương (217 triệu lượt) Tổng thu du lịch quốc tế ước đạt 928 tỷ USD (năm 2010) và 1.030 tỷ USD (năm 2011) Cũng theo số liệu của Tổ chức Du lịch thế giới, doanh thu từ du lịch trên thế giới tương ứng với 6,5% GNP toàn thế giới và

du lịch cũng là ngành kinh tế mang lại nhiều công ăn việc làm cho người lao động, thu hút 10,4% tổng số lao động toàn cầu

Trang 8

Trong suốt 40 năm hình thành và phát triển, du lịch Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ, trở thành ngành kinh tế có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân Đảng và Nhà nước đã khẳng định "Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước", và coi "Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch, thương mại - dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực" Là một đất nước ở vùng nhiệt đới với nhiều cảnh quan và hệ sinh thái điển hình, với dân tộc có 4000 năm dựng nước và giữ nước, với nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc của 54 dân tộc anh em, du lịch Việt Nam đã khởi sắc, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tổng Cục du lịch cho biết, trong năm

2013 Việt Nam đã đón 7,5 triệu lượt khách quốc tế đến thăm quan, nghỉ dưỡng, tìm kiếm cơ hội đầu tư và 37,5 triệu lượt khách nội địa với tổng doanh thu từ khách du lịch đạt hơn 230.000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2012 Định hướng phát triển du lịch Việt Nam năm 2014 được xác định rõ là tập trung vào chiều sâu thay vì cách làm diện rộng tràn lan, tự phát như trước nhằm mục tiêu đón 8,3 triệu lượt khách quốc tế, 37,5 triệu lượt khách nội địa, doanh thu về du lịch tăng 250.000 tỷ đồng

Ninh Bình là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Trong Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIV xác định:

“tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh phong phú về cảnh quan thiên nhiên,

về di tích lịch sử, kiến trúc, về điều kiện giao thông thuận lợi, những cơ sở vật chất đã được đầu tư xây dựng và những kinh nghiệm trong những năm qua, tạo bước phát triển về du lịch trong 5 năm nữa Tập trung làm tốt việc xây dựng và thực hiện quy hoạch các điểm du lịch trước hết là Tam Cốc – Bích Động, Cố đô Hoa Lư và thành phố Ninh Bình, từng bước quy hoạch, khai thác các nơi khác một cách vững chắc có hiệu quả, đồng thời đảm bảo tốt dịch vụ khách sạn, hàng lưu niệm, tạo điều kiện hết sức thuận lợi và hấp dẫn đối với khách du lịch tại các điểm và nơi ăn ở, để thu hút khách đến ngày một đông và ở lại dài ngày” Nghị quyết Đại hội Đảng tỉnh lần thứ XX đã nhấn mạnh trong những năm tới phấn

Trang 9

đấu đưa Ninh Bình trở thành một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của

cả nước Đặc biệt, quyết định số 2845/QĐ - UBND ngày 17/12/2007 về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2010, định hướng đến năm 2015 đã nêu rõ định hướng phát triển tổ chức không gian du lịch với việc quy hoạch thành 7 khu du lịch chính, 9 tuyến du lịch nội tỉnh và 10 tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế

Mặc dù có những hướng đi mới nhưng ngành du lịch Ninh Bình chưa thực

sự mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều tài nguyên vẫn ở dạng tiềm năng hoặc mới đưa vào sử dụng, chưa có quy hoạch cần thiết và cụ thể cũng như chưa có tổ chức lãnh thổ hợp lý

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu

về du lịch, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tương xứng với tiềm năng du lịch của tỉnh, đồng thời

hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững

- Tổ chức lãnh thổ du lịch trên cơ sở xác định các điểm, tuyến, cụm du lịch của Ninh Bình trong mối quan hệ với các tỉnh phụ cận

Trang 10

2.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về lãnh thổ:

Lãnh thổ nghiên cứu là địa bàn tỉnh Ninh Bình với tổng diện tích tự nhiên

là 1405,04 km² Ranh giới lãnh thổ nghiên cứu được xác định trên cơ sở bản đồ hành chính đã được điều chỉnh theo quyết định về việc ban hành danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ ngày 1/12/2006

- Về nội dung:

Đề tài đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình thông qua việc tìm hiểu các điểm, cụm và tuyến du lịch trên địa bàn tỉnh

- Giới hạn về nguồn tư liệu:

Các số liệu về kinh tế, xã hội của tỉnh Ninh Bình được sử dụng chủ yếu

từ năm 2000 đến năm 2013 Nguồn cung cấp số liệu là Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình, sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình

3 Lịch sử nghiên cứu

3.1 Ở nước ngoài

Du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người, buổi ban đầu thường

đi kèm với hoạt động truyền giáo, buôn bán hoặc thám hiểm các vùng đất mới Tuy nhiên, địa lý du lịch là ngành khoa học tương đối non trẻ Quá trình hình thành địa lí du lịch như là một khoa học bắt đầu nửa sau những năm 1930 của thế kỉ XX Đối tượng nghiên cứu mở rộng từ việc nghiên cứu địa lí các luồng du

lịch cho đến việc nghiên cứu tài nguyên du lịch và phân vùng du lịch

Dưới góc độ địa lý du lịch, việc nghiên cứu trên thế giới tập trung chủ yếu vào 3 hướng: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch, tổ chức lãnh thổ (không gian) du lịch

Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu về đánh giá các thể tổng hợp

tự nhiên phục vụ giải trí (Mukhina, 1973); nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch (Kadaxkia, 1972; Sepfer, 1973)

Các nhà địa lý Mỹ (Bôha, 1918, 1971), các nhà địa lý Canada (Vônfơ, 1966; Henaynơ, 1972) cũng đã tiến hành đánh giá sử dụng các tài nguyên thiên

Trang 11

nhiên phục vụ mục đích giải trí du lịch I.I Pirôznhic (1985) đã phân tích: Hệ thống lãnh thổ du lịch, các vùng du lịch là đối tượng quy hoạch và quản lý

Nhiều nhà địa lý du lịch đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lý du lịch là các hệ thống lãnh thổ du lịch hoặc thể tổng hợp lãnh thổ du lịch tức là xác định các hệ thống địa bàn phát triển du lịch trên lãnh thổ và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển du lịch

Nhìn chung, trên thế giới trong những năm gần đây có rất nhiều các công trình nghiên cứu về du lịch và tổ chức lãnh thổ du lịch Các nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn đối với việc tổ chức lãnh thổ du lịch của các quốc gia trên thế giới

La (Đỗ Thị Mùi, 2010)…

Về mặt khoa học cũng như thực tiễn thì điều quan trọng hàng đầu trong nghiên cứu du lịch là đưa nội dung du lịch vào chương trình giảng dạy địa lí, trong hệ thống nhà trường phổ thông cũng như đại học và sau đại học Mã ngành địa lí du lịch đã được chính thức đưa vào hệ thống đào tạo trên đại học tại trường ĐHSP Hà Nội

Các công trình nghiên cứu về du lịch không chỉ có tầm quan trọng trong chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) và hội nhập quốc tế của đất nước,

mà còn là nguồn lực mới mẻ, mạnh mẽ tiếp sức cho khoa học địa lí, đem lại cơ hội cho Địa lí học đổi mới và phát triển

Trang 12

3.3 Ở Ninh Bình

Các công trình nghiên cứu về du lịch chưa nhiều, chưa mang tính hệ thống và chỉ dừng lại ở giới thiệu các điểm du lịch giàu tiềm năng cũng như những định hướng cho quy hoạch Nhìn chung, Ninh Bình mới có một số công trình nghiên cứu là các đề tài như đề tài “Thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở cố đô Hoa Lư Ninh Bình”, “Nghiên cứu, phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An Ninh Bình”, “Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình”….Các báo cáo tổng kết hoạt động du lịch Ninh Bình năm 2000 – 2008 Hoạt động 10 năm du lịch Ninh Bình và phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ phát triển du lịch 2005 – 2010

Các đề tài nghiên cứu về du lịch Ninh Bình bước đầu đánh giá những tiềm năng để phát triển du lịch trên từng lĩnh vực và ở một số địa phương cụ thể Mặc

dù còn ít và còn có những hạn chế nhất định nhưng những đề tài trên cũng có những ý nghĩa nhất định đối với du lịch của tỉnh

4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Các quan điểm

Quan điểm nghiên cứu là những tư tưởng cơ bản, có tính nguyên tắc, định hướng chỉ đạo trong hoạt động nghiên cứu Đây cũng là thế giới quan của các nhà nghiên cứu, giúp chúng ta tiếp cận vấn đề một cách khoa học Các quan điểm chủ yếu ở đây là: quan điểm tổng hợp lãnh thổ, quan điểm hệ thống cấu trúc, quan điểm lịch sử, quan điểm phát triển bền vững, quan điểm thực tiễn

- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Quan điểm tổng hợp là những quan điểm truyền thống của khoa học địa

lý Tính tổng hợp và hệ thống đã trở thành những tiêu chuẩn khoa học không thể thiếu để đánh giá giá trị của các công trình nghiên cứu địa lý

Hệ thống lãnh thổ du lịch được xem như là một hệ thống xã hội được tạo thành bởi nhiều yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử,…Khi nghiên cứu phái xác định đánh giá các nguồn lực trong mối quan hệ tổng thể đó

Quan điểm này là cơ sở để đánh giá tổng hợp và đề xuất các định hướng chính để tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh

Trang 13

- Quan điểm hệ thống cấu trúc

Du lịch Ninh Bình được xem là một bộ phận của du lịch Đồng bằng sông Hồng, là cầu nối giữa vùng du lịch Bắc Bộ và vùng du lịch Bắc Trung Bộ

Quan điểm hệ thống cấu trúc cho phép phân tích, tổng hợp và xác định mối quan hệ hữu cơ trong hoạt động sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Ninh Bình

Như vậy, khi đánh giá tiềm năng cũng như xác định các định hướng phát triển phải xem xét trong mối quan hệ đó

- Quan điểm lịch sử

Khi nghiên cứu du lịch tỉnh Ninh Bình rất cần thiết phải quán triệt quan điểm này Áp dụng quan điểm lịch sử trong nghiên cứu hệ thống lãnh thổ để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, các quá trình diễn biến theo thời gian và không gian trên từng địa bàn cụ thể, trên cơ sở đó hiểu rõ những sự kiện có thật trong lịch sử

để rút ra được những bài học kinh nghiệm áp dụng cho hoạt động du lịch Trên

cơ sở đó chúng ta có được những nhận định, những dự báo phát triển không sai lệch và tổ chức du lịch trên lãnh thổ được thực hiện trong xu thế phát triển chung của Việt Nam và thế giới

- Quan điểm phát triển bền vững

Đây là quan điểm được xuyên suốt trong nội dung của khóa luận Các hoạt động du lịch nếu không được quản lí tốt thì tất yếu sẽ dẫn đến các hệ quả về môi trường, tài nguyên du lịch bị hủy hoại Vì vậy, khi sử dụng các tài nguyên

du lịch đó cần phải tính đến yếu tố phát triển bền vững, nghĩa là phải tính đến hệ quả lâu dài sẽ nảy sinh trong tương lai để đưa ra giải pháp khắc phục

- Quan điểm thực tiễn

Quan điểm này được vận dụng để đánh giá đặc điểm, hiện trạng sử dụng lãnh thổ cũng như trong việc đề xuất định hướng sử dụng hợp lí tài nguyên lãnh thổ với những khuyến nghị và giải pháp có tính khả thi

4.2 Các phương pháp nghiên cứu chính

Phương pháp nghiên cứu không chỉ có tính lí luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn Các phương pháp nghiên cứu chính được dựa trên những quan điểm nghiên cứu trên

Trang 14

- Phương pháp tổng hợp và phân tích

Đây là phương pháp chủ đạo và xuyên suốt trong quá trình thực hiện khóa luận Những thông tin, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau vì vậy cần phải chọn lọc để rút ra những nội dung cần thiết, sau đó được phân tích nhằm đưa ra những nhận định, những kết luận làm cơ sở định hướng cho việc tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình

- Phương pháp nghiên cứu thực địa:

Địa lí nói chung và địa lí du lịch nói riêng luôn gắn bó mật thiết với tự nhiên và xã hội Phương pháp nghiên cứu thực địa giúp ta tiếp cận vấn đề một cách nhanh chóng và chủ động

Trong quá trình nghiên cứu thực địa chúng tôi đã tiến hành khảo sát ở nhiều địa điểm du lịch của tỉnh Các tranh ảnh minh họa trong khóa luận được chụp tại các điểm du lịch trong suốt quá trình nghiên cứu

- Phương pháp phân tích số liệu thống kê

Trong quá trình nghiên cứu tôi đã tiến hành thu thập số liệu Những số liệu về hoạt động du lịch lại rất đa dạng, phong phú và luôn biến động theo thời gian Vì thế đòi hỏi người nghiên cứu thu thập đầy đủ, sau đó phải tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu để có những kết quả có độ tin cậy cao Trên cơ sở những số liệu đó, chúng ta có thể xây dựng biểu đồ và đưa ra những kết luận chân thực, chính xác

- Phương pháp bản đồ

Phương pháp bản đồ là phương pháp đặc trưng của địa lí Việc trình bày những dữ kiện du lịch trên bản đồ là rất cần thiết giúp chúng ta dễ dàng nắm bắt được những thông tin quan trọng, cập nhật, đáp ứng cho việc đi lại, tham quan, giải trí, ăn ở Đề tài đã sử dụng bản đồ hành chính, bản đồ tài nguyên du lịch, bản đồ hiện trạng tổ chức lãnh thổ du lịch…và các số liệu nghiên cứu Phương pháp này được áp dụng với sự trợ giúp của hệ thống thông tin địa lí GIS

5 Ý nghĩa khoa học của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 15

Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch Ninh Bình bằng những quan điểm khoa học, đề tài góp phần hoàn thiện về phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu Nghiên cứu địa bàn tỉnh Ninh Bình, chú ý tới những đặc trưng riêng của từng khu vực, từng điểm, cụm và tuyến du lịch

Đề tài nghiên cứu góp phần xây dựng tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh để

từ đó có hướng khai thác hợp lí có hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp những luận cứ khoa học cho công tác quy hoạch và tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh trong những năm tới Việc quy hoạch tổ chức lãnh thổ du lịch sẽ khai thác hiệu quả những tiềm năng sẵn có giúp cho Ninh Bình nắm được thời cơ, vượt qua thử thách để phát triển du lịch bền vững

6 Những đóng góp của đề tài

- Tổng quan có chọn lọc các nghiên cứu ở trong và ngoài nước về tổ chức lãnh thổ du lịch và vận dụng chúng vào hoàn cảnh cụ thể của Ninh Bình trong điều kiện nền kinh tế thị trường

- Đánh giá tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), thực trạng phát triển

du lịch, thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình (các điểm, tuyến du lịch) và đưa ra những điểm mạnh, những hạn chế của chúng

- Đề xuất phương hướng phát triển du lịch nói chung và các điểm, tuyến

du lịch nói riêng ở Ninh Bình

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương :

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình Chương 2: Đánh giá các nguồn lực chính và thực trạng tổ chức lãnh thổ

du lịch tỉnh Ninh Bình

Chương 3: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC LÃNH THỔ

Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch Định nghĩa đầu tiên về du lịch xuất hiện năm 1811 tại Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình và mục đích giải trí Ở đây giải trí là động cơ chính”

Định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ): “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Du khách, nhà cung ứng, dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”

Theo Liên hợp quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union

of Officical Travel Oragnization - IUOTO): Du lịch được hiểu là sự du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống

Tại hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp tại Roma - Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành

Trang 17

trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi

ở của họ

Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: hoạt động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển KT – XH nhất định làm cơ

sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện

Theo I.I Pirogionic, 1985 thì: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi

cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá

Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ du khách thì: khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế

Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc

Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

Du lịch cũng được hiểu là sự lữ hành để nhằm mục đích giải trí hoặc tìm hiểu, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại của mỗi quốc gia

Như vậy, du lịch không chỉ liên quan đến khách du lịch mà còn đề cập đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở và cá nhân phục vụ cho các nhu cầu tại nơi mà khách đi qua và ở lại

1.1.2 Tổ chức lãnh thổ du lịch

- Tổ chức lãnh thổ

Trang 18

Tổ chức lãnh thổ (TCLT) được hiểu là sự sắp xếp các thành phần (đã đang và dự kiến sẽ có) trong mối quan hệ đa ngành, đa lãnh thổ ở một vùng nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực để đạt hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế,

xã hội, môi trường và phát triển bền vững

- Tổ chức lãnh thổ du lịch

TCLT du lịch là hình thức tổ chức sản xuất xã hội theo lãnh thổ vì vậy nó phải giải quyết hai nhiệm vụ chính là kinh tế và xã hội TCLT du lịch chính là sự phân hóa không gian của du lịch dựa trên các điều kiện là tài nguyên du lịch, hiện trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động trong ngành cùng với các mối liên hệ, với điều kiện phát sinh của ngành với ngành khác, với các địa phương khác cả trong và ngoài nước

Như vậy, TCLT du lịch là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn lực du lịch như tài nguyên du lịch, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất

- Các hình thức biểu hiện của TCLT du lịch:

+ Hệ thống lãnh thổ du lịch

Hệ thống lãnh thổ du lịch được hiểu như một thành tạo toàn vẹn bao gồm

2 yếu tố về hoạt động và lãnh thổ có sự lựa chọn các chức năng xã hội nhất định, trong đó quan trọng nhất là chức năng phục hồi và tái sản xuất sức khỏe, khả năng lao động, thể lực và tinh thần của con người

Xét trên quan điểm hệ thống, hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau về bản chất, nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau

Đó là các phân hệ khách du lịch, tổng thể tự nhiên, lịch sử, văn hóa, các công trình kĩ thuật, cán bộ phục vụ và điều khiển

+ Thể tổng hợp lãnh tổ du lịch

Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch là sự kết hợp giữa các cơ sở du lịch với các

xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng được liên kết với nhau bằng các mối liên hệ kinh

tế, sản xuất và cùng sử dụng chung vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên

và kinh tế của lãnh thổ (E.A.Koliaro, 1978)

Trang 19

Thể tổng hợp lãnh thổ được hình thành qua 3 giai đoạn Giai đoạn đầu là việc tập trung một cách đơn giản các cơ sở xí nghiệp du lịch Giai đoạn tiếp theo phát triển các ngành chuyên môn hóa và tập trung các xí nghiệp du lịch theo dấu hiệu ngành và lãnh thổ Giai đoạn cuối cùng hình thành cấu trúc lãnh thổ của thể tổng hợp

+ Vùng du lịch

Dựa trên quan điểm hệ thống thì vùng du lịch được hiểu như là tập hợp hệ thống lãnh thổ được tạo nên bởi hai yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau Hệ thống lãnh thổ du lịch và không gian KT – XH xung quanh nhằm đảm bảo cho

cả hệ thống hoạt động có hiệu quả Giữa chúng có mối quan hệ mang tính chất công nghệ và kinh tế

1.1.3 Vai trò của tổ chức lãnh thổ du lịch

- Việc nghiên cứu TCLT du lịch và xây dựng được các hình thức tổ chức theo không gian hợp lí giúp cho hoạt động du lịch có cơ sở sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn lực (nhất là tài nguyên du lịch) của cả nước cũng như từng địa phương

- Việc nghiên cứu TCLT du lịch tạo điều kiện đẩy mạnh chuyên môn hóa

du lịch

- Việc nghiên cứu TCLT du lịch nói chung và vạch ra các tuyến, điểm du lịch trên một lãnh thổ nói riêng góp phần quan trọng tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc có khả năng thu hút khách du lịch Sản phẩm du lịch là một trong những yếu tố quyết định đối với việc thu hút khách du lịch

- Như vậy, việc nghiên cứu TCLT du lịch có ý nghĩa lớn không chỉ về mặt

lí luận mà còn cả về mặt thực tiễn Việc nhận thức chúng một cách đúng đắn sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết để sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn lực du lịch để phát triển du lịch nói riêng cũng như phát triển KT – XH nói chung ở các

địa phương và cả nước

1.1.4 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá

1.1.4.1 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá điểm du lịch Ninh Bình

- Các chỉ tiêu

Trang 20

+ Số lượng, chất lượng tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên điểm du lịch, doanh thu và cả sản phẩm du lịch

Số lượng tài nguyên du lịch được đánh giá ở 4 cấp độ: rất nhiều, nhiều, trung bình và ít

Chất lượng tài nguyên du lịch đánh giá ở 4 cấp độ: cao, khá cao, trung bình và thấp

+ Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất – kĩ thuật phục vụ du lịch

Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật tạo điều kiện biến những tiềm năng thành hiện thực Việc đánh giá cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật dựa trên những chỉ tiêu chủ yếu:

• Đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho việc nghỉ ngơi du lịch

• Thuận tiện nhất trong quá trình đi lại

• Đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình xây dựng các công trình

• Thuận tiện cho việc thu hút khách từ nơi khác đến

Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 cấp: tốt, khá, trung bình và yếu

+ Sự kết hợp đồng bộ giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng

Để thu hút khách du lịch cần có sự kết hợp hiệu quả giữa các loại tài nguyên và kết cấu hạ tầng cũng như cơ sở vật chất kĩ thuật

Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 cấp độ: kết hợp tốt, khá, trung bình và yếu + Số lượng khách tham quan du lịch

Số lượng khách là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của các điểm du lịch Điểm

du lịch nào có vị trí địa lí thuận lợi, tài nguyên du lịch hấp dẫn, hệ thống cơ sở

hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phát triển mạnh thì doanh thu du lịch lớn

Trang 21

Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 cấp độ:

• Điểm du lịch có số lượng khách đông

• Điểm du lịch có số lượng khách khá đông

• Điểm du lịch có số lượng khách trung bình

- Về số lượng tài nguyên du lịch:

Rất nhiều: 4 điểm, nhiều: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, ít: 1 điểm

- Chất lượng tài nguyên du lịch:

Cao: 4 điểm, khá cao: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, thấp: 1 điểm

- Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật:

Tốt: 4 điểm, khá: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, yếu: 1 điểm

- Số lượng khách du lịch:

Đông: 4 điểm, khá đông: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, ít: 1 điểm

- Sự kết hợp đồng bộ giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng:

Tốt: 4 điểm, khá: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, yếu: 1 điểm

- Thang điểm đánh giá:

+ Dựa theo các tiêu chí trên, các điểm du lịch được đánh giá theo hệ số như sau:

+ Sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch và cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật: hệ số 3

+ Số lượng, chất lượng tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật: hệ số 2

+ Vị trí địa lí và số lượng khách du lịch: hệ số 1

Trang 22

1.1.4.2 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá cụm du lịch

- Các chỉ tiêu

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá các cụm du lịch bao gồm:

+ Vị trí địa lí của cụm du lịch

+ Số lượng, chất lượng tài nguyên du lịch trong cụm

+ Số lượng các điểm du lịch trong cụm

+ Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất, kĩ thuật phục vụ du lịch

+ Số lượng khách và doanh thu du lịch của cụm

- Vị trí của cụm du lịch

Mỗi cụm du lịch sẽ có những ưu thế riêng về vị trí địa lí Vị trí địa lí được coi là thuận lợi khi gần thủ đô Hà Nội hay các vùng lận cận và có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 cấp độ: rất thuận lợi, khá thuận lợi, thuận

lợi trung bình và không thuận lợi

- Số lƣợng và chất lƣợng tài nguyên du lịch trong cụm

Trang 23

Tài nguyên du lịch trong cụm khác nhau cả về số lượng và chất lượng Chất lượng tài nguyên du lịch có ý nghĩa tạo vùng rất lớn Số lượng tài nguyên

du lịch được đánh giá ở 4 mức độ: rất nhiều, nhiều, trung bình và ít Về chất lượng tài nguyên du lịch được đánh giá ở 4 mức độ: cao, khá cao, trung bình và thấp

- Số lƣợng các điểm du lịch trong cụm

Cụm du lịch càng có nhiều điểm du lịch thì càng thu hút khách du lịch đồng thời thời gian lưu trú của du khách trong cụm sẽ lâu hơn, doanh thu du lịch lớn hơn

Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 mức độ: cụm có nhiều điểm du lịch từ 7 điểm trở lên, cụm có khá nhiều điểm du lịch từ 4 đến dưới 7 điểm, cụm có số điểm du lịch trung bình từ 2 đến dưới 4 điểm và cụm ít điểm du lịch có dưới 2 điểm du lịch

- Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch

Yếu tố hạ tầng cơ sở có ý nghĩa quan trọng trong phát triển du lịch Những nơi được đầu tư tốt về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng là những nơi thu hút khách du lịch Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 mức độ: tốt, khá, trung bình và

yếu

- Số lƣợng khách du lịch và doanh thu du lịch

Cụm du lịch có vị trí địa lí thuận lợi, có nhiều điểm du lịch để thỏa mãn nhiều nhu cầu khác nhau của khách du lịch thì thì số lượng khách du lịch sẽ đông hơn, và ngược lại, nếu cụm du lịch đó không có nhiều điểm du lịch, không

có nhiều tài nguyên du lịch thì không thu hút khách du lịch

Số lượng khách du lịch đông thì doanh thu du lịch sẽ lớn Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 mức độ: số lượng khách đông, khá đông, trung bình và không đông

Doanh thu du lịch được đánh giá theo 4 mức: cao, khá cao, trung bình và thấp

Các chỉ tiêu được đánh giá bằng điểm số như sau:

- Vị trí địa lí:

Trang 24

Rất thuận lợi: 4 điểm, thuận lợi: 3 điểm, bình thường: 2 điểm, không thuận lợi:1 điểm

- Về số lượng tài nguyên du lịch:

Rất nhiều: 4 điểm, nhiều: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, ít: 1 điểm

- Chất lượng tài nguyên du lịch:

Cao: 4 điểm, khá cao: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, thấp: 1 điểm

- Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật:

Tốt: 4 điểm, khá: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, yếu: 1 điểm

- Số lượng khách du lịch:

Đông: 4 điểm, khá đông: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, ít: 1 điểm

- Doanh thu du lịch:

Cao:4 điểm, khá cao: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, thấp: 1 điểm

Thang điểm đánh giá:

+ Số lượng, chất lượng tài nguyên du lịch và số lượng điểm du lịch: hệ số 3 + Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật, vị trí của cụm du lịch: hệ số 2 + Số lượng khách du lịch và doanh thu du lịch: hệ số 1

Bảng 1.2 Bảng đánh giá tổng hợp cụm du lịch

Trang 25

Tổng hợp các chỉ tiêu trên các cụm du lịch có điểm số từ 45 đến 60 là cụm du lịch có ý nghĩa quốc gia, có sức thu hút khách du lịch cao Cụm có điểm

số từ 30 đến cận 45 có ý nghĩa vùng Cụm có điểm số từ 15 đến cận 30 có ý nghĩa địa phương

1.1.4.3 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tuyến du lịch

- Các chỉ tiêu

+ Số lượng TNDL trung bình trong tuyến

Số lượng TNDL trung bình trong tuyến được xác định bằng tỉ số giữa số lượng TNDL trong tuyến với chiều dài tuyến du lịch

Ninh Bình có nhiều tuyến du lịch, mỗi tuyến có những thế mạnh riêng Trong mỗi tuyến du lịch, số lượng các điểm du lịch càng nhiều, du khách có thể thưởng thức các giá trị cả về vật chất và tinh thần thì số lượng khách du lịch càng nhiều Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 cấp độ: Cao, khá cao, trung bình và thấp

+ Chất lượng TNDL

TNDL có giá trị càng cao thì càng thu hút khách du lịch Chất lượng TNDL được tính bằng tổng điểm của các điểm du lịch trong tuyến Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 cấp độ: Cao, khá cao, trung bình và thấp

+ Sự tiện lợi về GTVT

GTVT ở Ninh Bình nhìn chung khá thuận lợi Nhiều tuyến đường đã được trải nhựa, bê tông hóa và được mở rộng phục vụ nhu cầu của du khách Chỉ tiêu

này được phân thành 4 cấp:

• Rất tiện lợi là những tuyến có các điểm du lịch nằm dọc đường quốc lộ, đường đến các điểm du lịch đã được đầu tư nâng cấp, đảm bảo hoạt động quanh năm

• Khá tiện lợi là những tuyến du lịch nằm ở trục đường quốc lộ, có thể có

1 hoặc 2 điểm du lịch nằm xa đường quốc lộ không quá 10 km, nhưng phải hoạt động được quanh năm

• Tiện lợi là những tuyến có điểm du lịch nằm gần quốc lộ hay tỉnh lộ, có

từ 1 đến 2 điểm du lịch nằm xa đường quốc lộ từ 10 đến 20 km

• Không tiện lợi là những tuyến du lịch có các điểm du lịch nằm cách xa quốc lộ, tuyến du lịch này không thể hoạt động quanh năm

Trang 26

+ Sự đồng bộ về CSVCKT

Mục đích của hoạt động du lịch là thưởng thức các giá trị vật chất và tinh thần CSVCKT tốt, đáp ứng nhu cầu của du khách thì sẽ thu hút và lưu giữ khách lâu hơn, doanh thu du lịch tăng Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 cấp độ: tốt, khá, trung bình và yếu

+ Thời gian có thể hoạt động du lịch

Ninh Bình nằm trong khu vực khí hậu mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa, chi phối mạnh mẽ tới hoạt động du lịch

Thời gian hoạt động của các điểm du lịch được xác định là số ngày có thể hoạt động được du lịch Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 cấp độ:

• Rất dài: có thời gian trên 200 ngày trong năm, có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch

• Dài: có từ 150 đến dưới 200 ngày trong năm, có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch

• Trung bình: có từ 100 đến dưới 150 ngày, có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch

• Ngắn: dưới 100 ngày có thể triển khai các hoạt động du lịch

- Các chỉ tiêu được đánh giá cụ thể bằng điểm số như sau

+ Số lượng TNDL trong tuyến:

Cao: 4 điểm, khá cao: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, thấp: 1 điểm

Tốt: 4 điểm, khá: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, yếu: 1 điểm

+ Thời gian có thể hoạt động du lịch:

Rất dài: 4 điểm, dài: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, ngắn: 1 điểm

Tổng hợp các chỉ tiêu ta có bảng số liệu:

Trang 27

1.2 Vận dụng cơ sở lí luận vào tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình

để vận dụng có hiệu quả vào thực tế tỉnh Ninh Bình

- Phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình là một hướng chiến lược của đường lối chuyển đổi cơ cấu kinh tế và CNH – HĐH địa phương

- Phát triển du lịch Ninh Bình để khai thác những thế mạnh về du lịch của tỉnh, phát huy có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, để sớm đưa nền kinh tế của tỉnh lên một bậc phát triển mới

Trang 28

1.2.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình

1.2.2.1 Điểm du lịch

Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị được coi là cơ sở trong phạm vi một tỉnh Có thể chia các điểm du lịch thành 3 nhóm chủ yếu:

+ Nhóm điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia: đặc trưng cơ bản của nhóm này

là sự độc đáo về tài nguyên du lịch và có khả năng thu hút khách cao Thang điểm đánh giá từ 33 đến 54 điểm

+ Nhóm điểm du lịch có ý nghĩa vùng: nhóm này có tài nguyên du lịch tương đối phong phú, có khả năng thu hút tương đối cao khách du lịch Thang điểm đánh giá từ 22 đến 32 điểm

+ Nhóm du lịch có ý nghĩa địa phương: tài nguyên du lịch không thật đặc sắc, một số điểm quá xa đường giao thông, quy mô nhỏ nên sức hấp dẫn khách

du lịch còn hạn chế Thang điểm đánh giá dưới 22 điểm

Ninh Bình có các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia, thu hút đông khách du lịch: núi Non Nước, lăng vua Đinh và lăng vua Lê, núi chùa Bái Đính, nhà thờ

đá Phát Diệm, Tam Cốc, hang động Tràng An,….Những điểm du lịch có ý nghĩa vùng có sức thu hút khách tương đối lớn như: những địa điểm của khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, động Thiên Tôn, ,…và rất nhiều các điểm du lịch có ý nghĩa địa phương

Trang 29

Bảng 1.4 Bảng điểm đánh giá các điểm du lịch ở Ninh Bình

1.2.2.2 Cụm du lịch

Ninh Bình có nhiều điểm du lịch Các điểm du lịch tập trung quanh một khu vực tạo nên cụm du lịch Các khu vực có nhiều điểm du lịch bao gồm: TP Ninh Bình, các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Nho Quan Các huyện khác có dưới 2

Điểm du lịch Địa điểm

Sự kết hợp đồng bộ TNDL và CSVCKT

Số lƣợng TNDL

Chất lƣợng TNDL

CSHT

và CSVC

KT

Số lƣợng khách

du lịch

Vị trí điểm

du lịch

Động

Núi chùa Non

Trang 30

điểm du lịch Dựa vào các chỉ tiêu đánh giá đã đưa ra ở trên, các cụm du lịch ở Ninh Bình được đánh giá như sau:

Bảng 1.5 Bảng điểm đánh giá các cụm du lịch ở Ninh Bình

Cụm

Chỉ Tiêu

TP Ninh Bình Hoa Lư Gia Viễn Nho Quan

Trang 31

nội vùng hoặc liên vùng Dựa vào bảng tổng hợp các chỉ tiêu, các tuyến du lịch

ở Ninh Bình được đánh giá trong bảng sau:

Bảng 1.6 Bảng điểm đánh giá các tuyến du lịch ở Ninh Bình

Tuyến du lịch

Số lƣợng TNDL

Chất lƣợng TNDL

Sự tiện lợi

về GTVT

Đồng bộ về CSHT

Thời gian hoạt động Tổng điểm

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC CHÍNH VÀ THỰC TRẠNG

66 km Phía nam là vịnh Bắc Bộ với chiều dài đường bờ biển 16,5 km Phía đông và đông bắc giáp huyện Ý Yên, huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định, lấy sông Đáy là ranh giới với chiều dài 87 km Phía tây và tây nam giáp huyện Thạch Thành, thị xã Bỉm Sơn, huyện Hà Trung và huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa với chiều dài 87 km

Tọa độ địa lí của tỉnh Ninh Bình: điểm cực nam: 19º57’ độ vĩ bắc (cửa Đáy, xã Kim Đông, huyện Kim Sơn), điểm cực bắc: 20º28’ độ vĩ bắc (xóm Lạc Hồng, xã Xích Thổ, huyện Nho Quan), điểm cực tây: 105º32’30” độ kinh đông (núi Điện, rừng Cúc Phương, huyện Nho Quan), điểm cực đông: 105º53’20” độ kinh đông ( bến Đò Mười, xã Xuân Thiện, huyện Kim Sơn)

Ninh Bình có diện tích tự nhiên là 1405,04 km², chiếm 0,04% diện tích của cả nước So với các tỉnh thành cả nước, về diện tích tự nhiên, Ninh Bình thuộc loại tỉnh nhỏ

Ninh Bình nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc Bộ rộng lớn, giàu có về tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, dân cư đông đúc, nguồn lao động dồi dào Ninh Bình nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long, điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế của tỉnh

Ninh Bình nằm trên tuyến giao thông huyết mạch (quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam) và đầu mút của đại lộ phía Tây (đường Hồ Chí Minh), nối liền vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, trong đó có thủ đô Hà Nội với các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, với thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng Sông

Trang 33

Cửu Long Ninh Bình còn là cửa ngõ giao lưu của các tỉnh phía nam với vùng Tây Bắc giàu tiềm năng về tự nhiên, nhưng thiếu nhân lực, thiếu vốn và kĩ thuật

Ở vào vị trí cửa ngõ phía nam vùng Đồng bằng sông Hồng, vừa có đường

bộ, đường sắt và đường sông Ninh Bình là một trong ba tỉnh, thành phố của Đồng bằng sông Hồng có điều kiện thuận lợi để mở rộng các mối liên hệ nội vùng, ngoại vùng tạo động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh

Với những lợi thế về vị trí địa lí như vậy, Ninh Bình có điều kiện để phát triển các ngành kinh tế nhất là thương mại du lịch Vấn đề đặt ra là phải khai thác có hiệu quả những lợi thế nói trên, biến những tiềm năng thành hiện thực

Trang 34

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình

Trang 35

Lãnh thổ Ninh Bình nằm ở vùng rìa đồng bằng Bắc Bộ, lại vừa nằm trong vùng chuyển tiếp Hòa Bình – Thanh Hóa nên nền địa chất và địa hình có cấu tạo không đồng nhất Địa hình Ninh Bình có hướng nghiêng từ tây bắc xuống đông nam, từ vùng núi Nho Quan, Tam Điệp tới miền đồng bằng Hoa Lư, Yên Khánh rồi thấp dần ra vùng biển Kim Sơn Địa hình Ninh Bình khá đa dạng, được thể hiện ở một số dạng tiêu biểu như: vùng đồng bằng với đất đai màu mỡ, bãi bồi bên sông, có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp tạo ra những sản phẩm độc đáo phục vụ khách du lịch; địa hình đồi gò đá phiến; địa hình núi đá vôi hiểm trở với rất nhiều kiểu cácxtơ phong phú như cácxtơ dạng vòm, dạng phủ, dạng kín, hang động cácxtơ, thung cácxtơ, cánh đồng cácxtơ

Xét về mặt địa mạo, địa hình cácxtơ là dạng địa hình đặc trưng độc đáo nhất của Ninh Bình, đồng thời có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, đặc biệt là về du lịch Kiểu địa hình cacxto độc đáo nhất là khu vực Cố đô Hoa Lư và Tam Cốc – Bích Động, đây là kiểu cacxto vịnh Hạ Long hay “Hạ Long cạn”

Dạng địa hình đồi núi – cácxtơ Ninh Bình tạo ra khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du lịch cộng đồng,…

- Khí hậu

Là một bộ phận của đồng bằng sông Hồng, nên Ninh Bình nằm trong đới gió mùa chí tuyến á đới có một mùa đông lạnh khô Hàng năm lãnh thổ nhận được một lượng bức xạ lớn với tổng bức xạ 110 - 120 kcal/cm²/năm và cán cân bức xạ cao 87,2 kcal/cm²/năm Chính điều này đã tạo cho Ninh Bình một nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm từ 23,3 – 24ºC vượt tính chất nhiệt đới là

Trang 36

21ºC Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ 13 - 15ºC, nhiệt độ trung bình tháng 7 là 28,5ºC Tổng nhiệt độ năm 8500 giờ, số tháng có nhiệt độ trên 20ºC tới 8 – 9 tháng trong năm Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80 - 90% tổng lượng mưa năm Lượng mưa trung bình năm đạt 1870 mm

Sử dụng chỉ tiêu khí hậu đối với sinh học con người để đánh giá tài nguyên khí hậu do học giả người Ấn Độ đưa ra có thể xếp khí hậu Ninh Bình theo các chỉ tiêu này như sau:

- Nhiệt độ trung bình năm 23ºC→ xếp hạng 1

- Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 28,5ºC→ xếp hạng 2

- Biên độ năm của nhiệt độ trung bình là 14ºC→ xếp hạng 3

- Lượng mưa trung bình năm 1870 mm→ xếp hạng 1

Nhìn chung, khí hậu Ninh Bình khá thuận lợi cho du khách tiến hành các

hoạt động du lịch Với 2 trong 4 chỉ tiêu xếp hạng 1, tức là thích nghi, một chỉ tiêu khá thích nghi Riêng chỉ tiêu biên độ dao động nhiệt độ trung bình năm xếp

hạng 3, tức là khó thích nghi

- Thủy văn

Hệ thống sông ngòi của Ninh Bình có mật độ khoảng 0,6 – 0,9 km/km² Mạng lưới sông suối của tỉnh phân bố tương đối đều, gồm hàng chục con sông lớn nhỏ với tổng chiều dài khoảng 1000 km Các sông lớn thường chảy theo hướng tây bắc – đông nam rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ Một số sông chính trong mạng lưới sông ngòi ở Ninh Bình là sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bôi, sông Nho Quan, sông Vạc

Ngoài hệ thống sông ngòi, Ninh Bình có nhiều sông, hồ, đầm như Đầm Cút (Gia Viễn), hồ Thường Sung, hồ Đồng Liên (Nho Quan), hồ Đồng Thái và

hồ Yên Thắng (Yên Mô) Các hồ này đều có cảnh quan đẹp, nằm ngay chân các núi đá vôi có thể phát triển du lịch

Một đặc điểm khá độc đáo của thủy văn Ninh Bình, đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong sinh hoạt và du lịch là các suối nước nóng và các nguồn nước cácxtơ Nước suối Kênh Gà nổi tiếng lâu nay có tác dụng chữa bệnh và dùng làm nước giải khát Ngoài ra các suối nước nóng Thường Sung (Cúc Phương),

Trang 37

Kỳ Phú (Nho Quan) đều có ý nghĩa chữa bệnh và du lịch Các nguồn nước cácxtơ chảy từ trong hang ra cung cấp nước cho các con mương, ngòi lạch có ở hầu hết các chân núi Đặc biệt ở khu vực đá vôi Hoa Lư (Trường Yên, Tam Cốc,…) chúng vừa là nguồn nước sạch vừa tạo ra các cảnh quan kì thú cho du khách chiêm ngưỡng

- Sinh vật

Tỉnh có rừng Cúc Phương là nơi có địa hình đá vôi hiểm trở và lại được Nhà nước quy hoạch bảo vệ từ lâu nên rừng còn phong phú

Theo số liệu điều tra mới nhất, Cúc Phương có: 89 loài thú, 307 loài chim,

110 loài bò sát, 65 loài cá, 2000 loài côn trùng Thuộc địa hình cácxtơ nửa che phủ, Cúc Phương có nhiều hang động đẹp với những cái tên rất gợi cảm: động Sơn Cung, động Vui Xuân, động Phò Mã,…

Ngoài ra, ở một số nơi trên các sườn núi đá vôi có thảm thực vật thứ sinh nghèo Ở ven biển thuộc huyện Kim Sơn có một ít rừng ngập mặn với cây sú, vẹt thưa thớt

Như vậy, Ninh Bình có nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên tương đối đa dạng thích hợp với nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch giải trí, du lịch tham quan,…

2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

- Dân cư, dân tộc

Tính đến năm 2012, dân số của Ninh Bình là 915,9 nghìn người, chiếm 4,5% dân số vùng Đồng bằng sông Hồng và khoảng 1,03% dân số cả nước Ninh Bình là một trong những tỉnh có mật độ dân số thấp nhất vùng Đồng bằng sông Hồng với 665 người/km² (năm 2012) Dân cư phân bố không đều, tập trung đông ở thành phố, thị xã Hai huyện Nho Quan và Gia Viễn có mức tập trung dân cư thấp hơn Các huyện còn lại có mức tập trung dân số khá cao

Đồng bào các dân tộc thiểu số của tỉnh có 22.467 người, chiếm 2,1 % dân

số, cùng sống hòa đồng với cộng đồng dân cư ở 8 huyện, thành phố, thị xã, trong

đó dân tộc Mường có 21.748 người, dân tộc Tày có 447 người và một số dân tộc khác như: Nùng, Thái, Dao, Hoa,…sinh sống tại các xã vùng cao thuộc huyện

Trang 38

Nho Quan, Yên Mô, Gia Viễn, Thị xã Tam Điệp Điều này đã tạo ra những nét đẹp văn hóa dân gian – văn hóa truyền thống của riêng Ninh Bình

- Các di tích lịch sử, văn hóa

Bên cạnh sự phong phú và đa dạng về tài nguyên du lịch tự nhiên, Ninh Bình có những tài nguyên du lịch văn hóa, lịch sử nổi tiếng, mang ý nghĩa quốc gia và quốc tế, gắn với các giai đoạn lịch sử, kiến trúc quan trọng của Việt Nam Điểm văn hóa, lịch sử nổi tiếng có giá trị cho phát triển du lịch đó là khu di tích

cố đô Hoa Lư với đền thờ vua Đinh – Lê và quần thể kiến trúc nhà thờ đá Phát Diệm (Kim Sơn) Các lễ hội quan trọng là lễ hội Trường Yên (từ 8/3 đến 10/3

âm lịch) và lễ hội điện Thái Vi (nửa đầu tháng 3 âm lịch)

Bên cạnh đó Ninh Bình còn có nhiều các di tích văn hóa lịch sử có giá trị khác như lễ hội Trường Yên, đền Thái Vi, chùa Tam Cốc và những công trình khác gắn với các cảnh quan tự nhiên làm tăng thêm sự phong phú và đa dạng về tài nguyên du lịch Ninh Bình

Nhìn chung, các lễ hội ở Ninh Bình mang nét độc đáo của một miền quê giàu truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước Lễ hội khơi dậy truyền thống đấu tranh của quân dân Ninh Bình Chủ đề các lễ hội đều toát lên nội dung xây dựng và bảo vệ cuộc sống ấm no, hạnh phúc Các lễ hội chứa đựng nhiều giá trị về tinh thần, xã hội, văn hóa, lịch sử, tri thức dân gian, du lịch và phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Trang 39

Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Ninh Bình

Trang 40

2.1.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

2.1.3.1 Hệ thống giao thông

Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong những năm gần đây đã được xây dựng tương đối hợp lý, rộng khắp toàn tỉnh Toàn tỉnh hiện có 2.278,2 km đường bộ và 496 km đường sông với các tuyến quan trọng nối liền thị xã tỉnh lỵ với các huyện lỵ và tỏa đi các xã Các tuyến đường từ tỉnh xuống huyện được nâng cấp rải nhựa ô tô đi đến 100% số xã phường Mạng lưới giao thông của tỉnh phân bố tương đối đều: đường sắt, đường bộ, đường thủy…

2.1.3.3 Hệ thống cấp thoát nước và vệ sinh môi trường

- Hiện trạng hệ thống cấp nước: Trong những năm gần đây tỉnh Ninh

Bình đã từng bước phát triển đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho vùng đô thị Hiện tại, nhà máy nước ở thị xã Ninh Bình đã được đầu tư nâng công suất lên 20.000 m3/ngày đêm, thị xã Tam Điệp có nhà máy nước công suất 12.000

m3/ngày đêm Các thị trấn như Thiên Tôn, Yên Thịnh, Yên Ninh, Nho Quan,

Me, Phát Diệm đều có trạm nước máy công suất 2.000 - 2.200 m3/ngày đêm

- Hiện trạng hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường:

Mạng lưới thoát nước thải sinh hoạt tại các đô thị của tỉnh sử dụng hệ thống thoát chung (cho cả nước mưa và nước thải sinh hoạt) Hệ thống thoát nước mưa bao gồm các loại cống tròn bê tông cốt thép, cống hộp và mương có nắp đan Các loại nước thải hầu như chưa được xử lý đến giới hạn cho phép và thường được xả trực tiếp ra sông suối

2.1.3.4 Hệ thống bưu chính viễn thông

Mạng lưới thông tin liên lạc đã phủ kín các vùng trong tỉnh với hệ thống tổng đài điện tử số hiện đại của bưu điện trung tâm tỉnh và bưu điện của 7 huyện, thị xã, hệ thống thông tin viễn thông vi ba, cáp quang Bắc - Nam chạy

Ngày đăng: 03/10/2014, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, (2001). Du lịch bền vững, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
2. Đỗ Thị Mùi, (2010). Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Sơn La, Luận án Tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Sơn La
Tác giả: Đỗ Thị Mùi
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
3. Trường Đại học Kinh tế quốc dân. (1995). Giáo trình địa lí kinh tế xã hội Việt Nam. NXB Giáo dục Khác
4. Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, (2005) Địa lí kinh tế xã hội đại cương, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
5. Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng. (1996), Địa lí du lịch. NXB Thành phố Hồ Chí Minh Khác
6. Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XX Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Bảng đánh giá tổng hợp điểm du lịch - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Bảng 1.1. Bảng đánh giá tổng hợp điểm du lịch (Trang 22)
Bảng 1.3 Bảng đánh giá tổng hợp tuyến du lịch - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Bảng 1.3 Bảng đánh giá tổng hợp tuyến du lịch (Trang 27)
Bảng 1.4. Bảng điểm đánh giá các điểm du lịch ở Ninh Bình - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Bảng 1.4. Bảng điểm đánh giá các điểm du lịch ở Ninh Bình (Trang 29)
Bảng 1.5. Bảng điểm đánh giá các cụm du lịch ở Ninh Bình - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Bảng 1.5. Bảng điểm đánh giá các cụm du lịch ở Ninh Bình (Trang 30)
Bảng 1.6. Bảng điểm đánh giá các tuyến du lịch ở Ninh Bình - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Bảng 1.6. Bảng điểm đánh giá các tuyến du lịch ở Ninh Bình (Trang 31)
Bảng 2.3: Tổng số lao động trong ngành du lịch tỉnh Ninh Bình từ - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Bảng 2.3 Tổng số lao động trong ngành du lịch tỉnh Ninh Bình từ (Trang 43)
Bảng 2.6. Các điểm du lịch ở Ninh Bình - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Bảng 2.6. Các điểm du lịch ở Ninh Bình (Trang 48)
Bảng 3.2. Dự báo đóng góp của ngành du lịch vào GDP - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Bảng 3.2. Dự báo đóng góp của ngành du lịch vào GDP (Trang 58)
Hình 1. Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Hình 1. Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (Trang 86)
Hình 2. Tam Cốc – Bích Động - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Hình 2. Tam Cốc – Bích Động (Trang 86)
Hình 4. Nhà thờ đá Phát Diệm - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Hình 4. Nhà thờ đá Phát Diệm (Trang 87)
Hình 7. Cây chò ngàn năm tuổi ở Vườn quốc gia Cúc Phương - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Hình 7. Cây chò ngàn năm tuổi ở Vườn quốc gia Cúc Phương (Trang 88)
Hình 8. Núi chùa Bái Đính - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Hình 8. Núi chùa Bái Đính (Trang 88)
Hình 10. Lễ hội cồng chiêng của bà con dân tộc Mường ở Nho Quan - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Hình 10. Lễ hội cồng chiêng của bà con dân tộc Mường ở Nho Quan (Trang 89)
Hình 11. Toàn cảnh Cố đô Hoa Lư nhìn từ núi Mã Yên - tìm hiểu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh ninh bình
Hình 11. Toàn cảnh Cố đô Hoa Lư nhìn từ núi Mã Yên (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w