Sự khác biệt giữa các hàng rào kỹ thuật với các loại rào cản trước đây là những quy định và yêu cầu của thị trường được phát triển từ những mối quan tâm chung của cả Chính phủ và người t
Trang 1Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến quý Thầy, Cô Khoa Kinh tế, Bộ môn Kinh tế thương mại trường Đại học Nha Trang đã dìu dắt, chỉ bảo và trang bị cho em những nền tảng kiến thức thiết thực, bổ ích trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Thị Trâm Anh đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Cô Chú, Anh Chị thuộc công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods F17 đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp tại đơn vị Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến anh Thiện phòng Kinh Doanh đã giúp em hoàn thành bảng câu hỏi điều tra thực tế tại Công ty và tận tình trả lời những thắc mắc trong quá trình thu thập thông tin của mình
Cuối cùng, em xin gửi đến Quý Thầy Cô, Ban lãnh đạo và các Cô Chú, Anh Chị tại công ty F17 lời chúc dồi dào sức khỏe và gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà Trâm
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BẢNG vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 4
1 RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI 5
1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI: 5
1.1.1 Rào cản kỹ thuật trong thương mại là gì? 5
1.1.2 Các hình thức của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế 6
1.1.2.1 Tiêu chuẩn về chất lượng và quy cách sản phẩm .7
1.1.2.2 Tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm và an tồn cho người sử dụng 8
1.1.2.3 Tiêu chuẩn về mơi trường 11
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (TMQT): 13
2 MỘT SỐ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRÊN THẾ GIỚI ĐỂ VƯỢT QUA CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG TMQT: 15
2.1 Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 15
2.2 Hệ thống quản trị mơi trường ISO 14000 .17
2.3 Hệ thống HACCP .19
2.4 Tiêu chuẩn GLOBAL GAP: 21
2.5 Tiêu chuẩn BRC: 22
2.6 Tiêu chuẩn ISO 22000: 24
3 THÁCH THỨC TỪ RÀO CẢN KỸ THUẬT KHI XUẤT KHẨU THỦY SẢN SANG THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN QUA: 25
Trang 3CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA
TRANG SEAFOODS F17 31
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17: 32
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần Nha Trang Seafoods – F17: 32
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty: 38
2.1.2.1 Chức năng: 38
2.1.2.2 Nhiệm vụ: 38
2.1.3 Nguyên tắc hoạt động của công ty: 38
2.1.4 Cơ cấu tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất tại công ty: 39
2.1.4.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý : 39
2.1.4.2 Tổ chức sản xuất của công ty Nha Trang Seafoods: 43
2.1.5 Một số vấn đề đặt ra cho sự phát triển của công ty trước mắt và lâu dài: 44
2.1.5.1 Những vấn đề công ty đang gặp phải: 44
2.1.5.2 Phương hướng phát triển của công ty trong thời gian tới: 45
2.1.6 Khái quát về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian qua (2009-2011): 46
2.1.6.1 Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty (2009-2011): 46
2.1.6.2 Phân tích khả năng sinh lời: 48
2.1.7 Nhận xét thuận lợi và khó khăn của Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods F17 trong thời gian qua: 49
2.2 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17: 51
2.2.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ NHẬT BẢN: 51
2.2.1.1 Thị trường Mỹ: 51
Trang 42.2.1.2 Thị trường Nhật Bản: 56
2.2.2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ NHẬT BẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17: 62
2.2.3 MỘT SỐ RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐỐI VỚI THỦY SẢN NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ NHẬT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17: 73
2.2.3.1 Rào cản kỹ thuật tại thị trường Mỹ: 73
2.2.3.2 Rào cản kỹ thuật tại thị trường Nhật Bản: 77
2.2.4 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17: 81
2.3 Đánh giá chung về việc vượt qua các rào cản kĩ thuật Mỹ và Nhật Bản đối với hàng thủy sản xuất khẩu của công ty F17: 91
2.3.1 Những kết quả đạt được: 91
2.3.2 Những mặt còn hạn chế: 92
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế: 94
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VƯỢT RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17 96
3.1 MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 97
3.1.1 Mục tiêu đề xuất giải pháp: 97
3.1.2 Quan điểm đề xuất giải pháp: 97
3.1.3 Cơ sở đề xuất giải pháp: 98
3.2 CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT: 99
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Biểu đồ 1.1: Thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2010 26
Hình 2.1: Quang cảnh Công ty cổ phần Nha Trang seafoods – F17 34
Hình 2.2: Lễ nhận huân chương Đơn vị xuất khẩu uy tín 35
Hình 2.3: Một số sản phẩm xuất khẩu của công ty 37
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất sang Mỹ 70
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất sang Nhật Bản 70
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1 : Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 2009-2011 47
Bảng 2.2: Phân tích khả năng sinh lời 48
Bảng 2.3: Các thị trường nhập khẩu tôm vào Mỹ giai đoạn (2009-2011) 54
Bảng 2.4: Nhu cầu tiêu dùng thủy sản tại thị trường Mỹ trong mấy năm gần đây 55
Bảng 2.5: Nhập khẩu tôm chế biến vào Nhật năm 2011 60
Bảng 2.6: Tình hình xuất khẩu theo sản lượng 64
Bảng 2.7: Tình hình xuất khẩu theo sản lượng 65
Bảng 2.8: Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang thị trường Mỹ của công ty (2009-2011) 71
Bảng 2.9: Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang thị trường Nhật của công ty (2009-2011) 72
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và đang gặt hái được rất nhiều thành tựu nổi bật trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Trong mấy năm gần đây nền kinh tế Việt Nam luôn tăng trưởng với tốc độ khoảng 6-9%/năm Đặc biệt, xuất khẩu của Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh và góp phần
to lớn cho sự phát triển của đất nước Kim ngạch xuất khẩu hàng năm ngày càng tăng, chiếm khoảng 50% GDP của cả nước Và trong những năm tới, xuất khẩu vẫn
là một định hướng phát triển chiến lược của chúng ta
Nền kinh tế thế giới đang trong thời kỳ hội nhập với xu hướng toàn cầu hoá khu vực hoá, hình thành các khối mậu dịch tự do và hiện nay trên thế giới cũng hình thành các tập đoàn đa quốc gia có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế thế giới Trong kỷ nguyên này, thế giới sẽ là một thị trường thống nhất, mà chủ thể kinh tế là các khối mậu dịch tự do, đơn vị kinh tế chủ yếu chi phối thị trường là các tập đoàn đa quốc gia Cạnh tranh kinh tế sẽ diễn ra gay gắt trên quy mô toàn cầu Các quốc gia sẽ không thể phát triển tốt và sẽ bị tụt hậu nếu đứng ngoài cuộc
Theo xu hướng đó, Việt Nam cũng đã, đang và sẽ từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực Việt Nam đã là thành viên của ASEAN, APEC, AFTA
và WTO Trong tương lai, Việt Nam sẽ gia nhập thêm nhiều tổ chức quốc tế hơn nữa
vì điều này có lợi cho nền kinh tế Việt Nam
Hội nhập kinh tế mang lại rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam: các rào cản thương mại được dỡ bỏ theo hiệp định được ký kết giữa các quốc gia thành viên của các tổ chức, việc tiếp cận thị trường dễ dàng hơn, thông tin được cung cấp đầy đủ hơn Nhưng các doanh nghiệp cũng đứng trước nhiều thách thức: các quốc gia thay vì sử dụng thuế, giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch… để bảo vệ thị trường đã dựng nên một loại rào cản mới tinh vi , phức tạp và khó vượt qua hơn nhiều Đó là rào cản kỹ thuật Rào cản kỹ thuật thật sự là thách thức lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam bởi trình độ khoa học kỹ thuật và công
Trang 8nghệ của nước ta còn thấp, các doanh nghiệp vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của các rào cản đó Do vậy, các doanh nghiệp thủy sản nước ta gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận và xuất khẩu các lô hàng sang các thị trường có sử dụng rào cản kỹ thuật Mà đáng chú ý nhất là Mỹ và Nhật Bản, hai thị trường mang tính chiến lược của thủy sản Việt Nam nói chung và cả công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods F17 nói riêng nhưng nổi tiếng với các quy định kỹ thuật khắt khe mà đang ngày một diễn biến phức tạp, khó nắm bắt và khó vượt qua hơn Trước thách thức đó, công ty F17
đã, đang và sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và cả uy tín của mình trên thị trường quốc tế khi một số lô hàng xuất sang hai thị trường này vẫn
bị cảnh cáo về an toàn thực phẩm và dư lượng kháng sinh
Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của Rào cản kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu thủy sản của công ty F17 nói riêng, Việt Nam nói chung là hết sức cần thiết; để từ đó có thể kiến nghị, đề xuất các giải pháp sáng tạo và hiệu quả, nhằm mục tiêu ngày một nâng cao hiệu quả xuất khẩu thủy sản, góp phần vào sự nghiệp phát triển của công ty
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em xin được chọn
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về rào cản kỹ thuật trong thương mại
quốc tế, trọng tâm là các rào cản kỹ thuật của hai thị trường thủy sản lớn là Mỹ và Nhật Bản
- Phân tích ảnh hưởng của các rào cản kỹ thuật tại Mỹ và Nhật Bản đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của công ty
- Đề xuất một số giải pháp giúp công ty F17 vượt qua rào cản kỹ thuật để nâng cao năng lực xuất khẩu thủy sản của mình
Trang 93 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu: Các rào cản kỹ thuật của Mỹ và Nhật Bản mà công ty Cổ
phần Nha Trang Seafoods F17 phải đối mặt khi xuất khẩu các mặt hàng thủy sản sang hai thị trường này
- Phạm vi nghiên cứu: Vì thời gian có hạn và vấn đề rào cản kỹ thuật hiện nay rất phổ biến tại các nước phát triển nên đề tài chỉ xoáy sâu vào rào cản kỹ thuật tại hai thị trường điển hình là Mỹ và Nhật Bản trong thời gian gần đây để làm rõ vấn đề được nêu ra
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp phân tích, thống kê tổng hợp Đề tài sử dụng các số liệu thứ cấp thu
thập được từ các nguồn như: trang điện tử Hội nghề cá Khánh Hòa và các trang điện
tử về thủy sản có liên quan khác
- Phương pháp điều tra thực tế: Thu thập thông tin trong quá trình thực tập và tiến hành khảo sát Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods f17 thông qua bảng câu hỏi để nắm bắt phản ứng của công ty trước các rào cản kỹ thuật thương mại quốc tế, từ đó đưa ra những nhận định phù hợp
5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:
Khóa luận tốt nghiệp gồm có 3 Chương:
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
CHƯƠNG II – NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐẾN
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17
CHƯƠNG III – MỘT SỐ GIẢI PHÁP VƯỢT RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17
Trang 10CHƯƠNG 1:
Trang 111 RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI:
1.1.1 Rào cản kỹ thuật trong thương mại là gì?
Thương mại quốc tế ngày càng phát triển, không chỉ giới hạn ở thương mại hàng hoá mà còn mở rộng ra các lĩnh vực khác như dịch vụ, sở hữu trí tuệ…, đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia trên thế giới Vì thế phấn đấu cho nền thương mại tự
do toàn cầu là mục tiêu của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà cụ thể là do trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đồng đều
mà các biện pháp bảo hộ thuế quan và phi thuế quan ra đời nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa Do đó, trong thương mại quốc tế hiện nay, để thâm nhập vào một thị trường, các doanh nghiệp cần phải vượt qua hai loại rào cản, đó là:
• Hàng rào thuế quan ( Custom duties barriers )
• Hàng rào phi thuế quan (Non tariff-Trade barriers )
Tuy nhiên, hiện nay với xu hướng tự do hoá thương mại, hàng rào thuế quan giữa các khối kinh tế, giữa các quốc gia ngày càng giảm đi và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn Do đó, dù thuế quan là một công cụ bảo hộ thị trường quan trọng nhất và đã từng có hiệu quả tốt trước đây nhưng hiện nay vai trò của nó đã bị suy giảm Bên cạnh hàng rào thuế quan, một số rào cản phi thuế khác như quota, quy định giá tính thuế… cũng sẽ được bãi bỏ Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các nhà xuất khẩu
có thể dễ dàng tiếp cận vào các thị trường khác mà việc tiếp cận và thâm nhập thị trường càng trở nên khó khăn hơn do việc các quốc gia tăng cường sử dụng những quy định và các yêu cầu thị trường trong các khía cạnh về an toàn, sức khoẻ, chất lượng và các vấn đề môi trường và xã hội Các quy định này được gọi chung là các rào cản kỹ thuật trong thương mại
Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế (Technical Barriers to International Trade – TBT) là một hình thức bảo vệ mậu dịch thông qua việc các nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn đối với hàng hoá nhập khẩu vào nước mình hết sức
Trang 12khắt khe Nếu hàng nhập khẩu không đạt một trong các tiêu chuẩn được đưa ra đều không được nhập khẩu vào lãnh thổ nước nhập hàng
Rào cản kỹ thuật chính là các chỉ tiêu về chất lượng và an toàn cho người tiêu dùng của hàng hoá mà các nước đưa ra để hạn chế hàng hoá nhập khẩu vào nước mình
Khi chưa hội nhập với tổ chức thương mại khu vực hay quốc tế, các nước thường áp dụng ba loại hàng rào : thuế quan, hạn ngạch và rào cản kỹ thuật để hạn chế sức cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài với hàng hoá trong nước Nhưng sau khi hội nhập, tham gia vào các tổ chức thương mại tự do của khu vực và thế giới thì các nước sẽ phải xoá bỏ hạn ngạch, thuế xuất nhập khẩu bằng không hoặc áp dụng cùng một loại thuế suất đối với một loại hay một nhóm hàng Do đó, hiện nay, rào cản kỹ thuật là biện pháp rất quan trọng và được các nước sử dụng ngày càng nhiều Các quốc gia khi áp dụng rào cản kỹ thuật thường đưa ra những quy định rất nghiêm ngặt
và khó vượt qua về chất lượng và các tiêu chuẩn kỹ thuật của hàng hoá vì vậy, rào cản kỹ thuật là một biện pháp hết sức tinh vi và hiệu quả
Sự khác biệt giữa các hàng rào kỹ thuật với các loại rào cản trước đây là những quy định và yêu cầu của thị trường được phát triển từ những mối quan tâm chung của cả Chính phủ và người tiêu dùng về an toàn, sức khoẻ, chất lượng và môi trường Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trước đây nhìn chung là nhằm bảo
vệ các nhà sản xuất trong nước Ngày nay, bảo vệ môi trường và bảo vệ người tiêu dùng ngày càng được quan tâm và thay thế cho việc bảo vệ nhà sản xuất và lao động
1.1.2 Các hình thức của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế
Rào cản kỹ thuật trong thương mại là một hình thức bảo hộ hết sức phức tạp
và tinh vi Các yêu cầu của các thị trường đặt ra cho hàng hoá nhập khẩu liên quan đến nhiều khía cạnh như tiêu chuẩn về quy cách, mẫu mã, bao bì, nhãn mác, về chất lượng, về vệ sinh, về an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho người lao động, về mức độ gây ô nhiễm môi sinh, môi trường… Tuy nhiên, chúng ta có thể chia những rào cản đó thành 3 loại cơ bản sau :
• Tiêu chuẩn về chất lượng và quy cách của sản phẩm
• Tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng
• Tiêu chuẩn về môi trường
Trang 131.1.2.1 Tiêu chuẩn về chất lượng và quy cách sản phẩm
Chất lượng là yếu tố quan trọng hàng đầu để hàng hoá có thể thâm nhập vào thị trường các nước Người tiêu dùng các nước, đặc biệt là người tiêu dùng ở những nước phát triển đều có yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm Người tiêu dùng thường
ưa chuộng và đánh giá cao những hàng hoá được cấp giấy chứng nhận chất lượng
Và các nước cũng đưa ra nhiều các quy định về chất lượng sản phẩm đối với hàng nhập khẩu để bảo vệ lợi ích cho người tiêu dùng nước mình Tuy nhiên, chất lượng là một khái niệm rất rộng và phức tạp do đó có nhiều nước đã lợi dụng việc đưa ra các tiêu chuẩn chất lượng để dựng lên những rào cản về chất lượng đối với hàng nhập khẩu
Hiện nay, hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu vì nhiều thị trường nhập khẩu bây giờ đều yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu phải có giấy chứng nhận chất lượng quốc tế Người tiêu dùng có thể yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm của những doanh nghiệp này Nói cách khác, ISO 9000 có thể được coi như một ngôn ngữ xác định chữ tín giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa các doanh nghiệp với nhau Và thực tế cho thấy rằng ở mọi thị trường nhập khẩu hàng hoá của những doanh nghiệp
có giấy chứng nhận ISO 9000 thì dễ thâm nhập thị trường hơn nhiều so với hàng hoá của các doanh nghiệp khác Đối với một số chủng loại sản phẩm thì chỉ những hàng hoá nào có đủ các giấy chứng nhận chất lượng nhất định và đáp ứng các yêu cầu cụ thể của nước nhập khẩu thì mới được nhập vào lãnh thổ nước đó Ví dụ Theo Bộ luật Liên bang Mỹ 21 CFR, chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài nào đã thực hiện chương trình HACCP có hiệu quả mới được xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ Đây là một hệ thống quản lý chất lượng mang tính phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm thông qua việc phân tích những mối nguy và thực hiện các biện pháp kiểm soát tại các điểm kiểm soát tới hạn HACCP nhấn mạnh tính nhất thiết phải kiểm soát dây chuyền công nghệ sản xuất để đảm bảo an toàn, vệ sinh cho sản phẩm thay vì kiểm soát sản phẩm cuối cùng
Để được phép đưa hàng thủy sản vào Mỹ, doanh nghiệp phải gửi kế hoạch, chương trình HACCP cho Cục Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) FDA xem
Trang 14xét khi cần thì kiểm tra Nếu FDA kết luận là đạt yêu cầu thì cấp phép cho doanh nghiệp đó
FDA kiểm tra từng lô hàng nhập khẩu Nêú phát hiện có lô hàng không đảm bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm hoặc có các vi phạm khác, lô hàng sẽ bị FDA từ chối nhập khẩu, bị gửi trả về nước hoặc tiêu hủy tại chỗ với chi phí do doanh nghiệp chịu; đồng thời, tên doanh nghiệp sẽ bị đưa lên mạng Internet ở chế độ “Cảnh báo nhanh” (Detention) 5 lô hàng tiếp theo của doanh nghiệp này sẽ bị tự động giữ ở cảng nhập
để kiểm tra theo chế độ tự động Chỉ sau khi cả 5 lô hàng đó đều đảm bản an toàn, vệ sinh và doanh nghiệp làm đơn đề nghị, FDA mới xóa tên doanh nghiệp đó ra khỏi danh sách “Cảnh báo nhanh”
Nếu nước xuất khẩu thủy sản sang Mỹ đã ký được Bản ghi nhớ (MOU) với FDA, cơ quan có thẩm quyền cao nhất về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm của nước xuất khẩu tự chỉ định các doanh nghiệp được đưa thủy sản vào Mỹ mà không cần trình kế hoạch, chương trình HACCP Tuy nhiên, FDA chỉ mới ký MOU cho mặt hàng nhuyễn thể 2 mảnh với Canada, Hàn Quốc và vài nước Nam Mỹ
Mục đích của các quy định và tiêu chuẩn này là nhằm bảo vệ an toàn và sức khoẻ cho con người, cho động thực vật và môi trường của nước nhập khẩu Tuy nhiên do sự chênh lệch về trình độ phát triển nên những quy định này của các nước phát triển đã tạo ra một rào cản rất khó vượt qua đối với hàng hoá của các nước đang
và kém phát triển vì những nước này chưa có trình độ khoa học công nghệ cao nên khó có thể đáp ứng được những yêu cầu này
1.1.2.2 Tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng
Vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng là những vấn đề được người tiêu dùng và Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm vì nó liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và an toàn của người tiêu dùng Trong thời gian qua, đã có nhiều lô hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ, Nhật, EU bị trả về do nước nhập khẩu phát hiện lô hàng có dư lượng kháng sinh vượt quá mức cho phép, hay bị nhiễm phải các
vi khuẩn gây bệnh Trong tháng 7/2007, 27 lô hàng của Việt Nam bị Mỹ từ chối hầu hết tập trung trong các mặt hàng thủy sản đông lạnh Người ta đã phát hiện, các lô
Trang 15hàng thủy sản này chủ yếu bị nhiễm salmonella, một loại vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy Ngoài ra, nhiều lô hàng thủy sản xuất khẩu trước đó hay bị phát hiện có chứa tồn dư chất kháng sinh chloramphenicol Trong 4 tháng đầu năm 2011, Mỹ là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ hai của Việt Nam, nhưng lại có số lô hàng bị cảnh báo nhiều nhất, gần 100 lô hàng thủy sản của Việt Nam nằm trong hệ thống cảnh báo
tự động FDA của Mỹ Bên cạnh đó, cũng trong 4 tháng đầu năm 2011, Nhật Bản - thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 3 của Việt Nam – tuy có số lô hàng thủy sản bị cảnh báo thấp, doanh nghiệp thủy sản Việt Nam lo ngại thị trường Nhật Bản vì cơ quan quản lý của nước này đang siết chặt kiểm soát hàng thủy sản từ Việt Nam Từ đầu năm 2011 tới nay, các lô tôm Việt Nam vẫn liên tục bị phát hiện có dư lượng kháng sinh vượt mức cho phép Cụ thể, tháng 1 có 11 lô, tháng 2 là 5 lô, tháng 3 có 6
lô, tháng 4 có 7 lô, tháng 5 có 4 lô Đa số các lô này khi bị kiểm tra đều có chứa các chất kháng sinh như chloramphenicol, trifluralin, enrofloxacin… Các lô sản phẩm tôm liên tục bị phát hiện có dư lượng kháng sinh khiến Nhật Bản đã tiến hành siết chặt kiểm soát chất lượng đối với trifluralin là 100% các lô hàng và enrofloxacin là 30% các lô hàng nhập khẩu từ Việt Nam Sulfadimethoxin là một loại kháng sinh có trong các sản phẩm thú y nhằm mục đích trị bệnh phát sáng trên tôm và cũng đang được sử dụng tại Việt Nam Giới hạn tạm thời của chất này trong sản phẩm thủy sản
do Nhật Bản quy định là 10 ppb, trong khi Thông tư số 15/2009/BNNPTNT ngày 17/3/2009 của Bộ NN và PTNT quy định giới hạn cho phép của các chất thuộc hợp phần sulfonamit (gồm cả sulfadimethoxin) là 100 ppb Điều này đã gây ra những khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp trong việc xuất khẩu tôm vào thị trường Nhật và các thị trường khác trên thế giới trong những tháng đầu năm 2011 Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, xuất khẩu tôm và nhuyễn thể 2 mảnh vỏ sang Nhật Bản 4 tháng đầu năm 2011 đã giảm cả về khối lượng và giá trị, trong đó nguyên nhân một phần do
doanh nghiệp e ngại việc hàng xuất khẩu bị kiểm tra quá chặt chẽ
Qua những sự kiện trên, chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề vệ sinh và an toàn đối với hàng hoá xuất khẩu, đặc biệt là đối với hàng thực phẩm Và thực tế thì các quốc gia cũng quản lý vấn đề này rất nghiêm ngặt Các biện pháp quản
Trang 16lý về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người tiêu dùng bao gồm tất cả các luật, nghị định, quy định, yêu cầu và thủ tục liên quan như các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng; các phương pháp sản xuất và chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp thuận; những xử lý cách ly bao gồm các yêu cầu liên quan đến việc vận chuyển cây trồng vật nuôi, các chất trong quá trình nuôi dưỡng chúng trong quá trình vận chuyển; những quy định về phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các phương pháp đánh giá rủi ro
Các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc liên minh châu Âu EU, Canada… đều ban hành Luật Vệ sinh thực phẩm và Luật trách nhiệm sản phẩm hay các luật và các quy định tương tự để bảo vệ cho quyền lợi người tiêu dùng Theo đó, thì các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về những tổn thất xảy
ra đối với người tiêu dùng nếu đưa ra một sản phẩm có sai sót Nước nào cũng thành lập cơ quan kiểm dịch hàng hoá để kiểm tra vệ sinh và các tiêu chuẩn an toàn của các sản phẩm nhập khẩu vào nước mình
Trong các quy định về vệ sinh và an toàn cho người tiêu dùng thì giấy chứng nhận tiêu chuẩn xác định tình trạng nguy hiểm HACCP là một quy định bắt buộc của rất nhiều thị trường Nếu các doanh nghiệp không áp dụng và có giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn HACCP thì không được phép xuất khẩu hàng sang những thị trường có yêu cầu về điều kiện này Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt GMP – Good Manufacturing Practice ( GMP đòi hỏi người công nhân, nhà máy, các phương tiện chế biến, đồ chứa, nguồn nước phải đảm bảo an toàn vệ sinh) và các quy định trong hiệp định về các biện pháp vệ sinh và vệ sinh thực phẩm của WTO Ngoài ra, tuỳ theo mặt hàng và tuỳ theo yêu cầu của từng thị trường mà còn có nhiều các quy định khác như quy định về nhãn mác sản phẩm, các chỉ tiêu vi sinh quy định loại, lượng khuẩn có trong sản phẩm đối với thuỷ sản, các chỉ tiêu về tiếng ồn, mức phóng xạ đối với các sản phẩm tiêu dùng…
Tóm lại, cũng như các loại rào cản kỹ thuật khác, rào cản về vệ sinh và an toàn cho người tiêu dùng là một loại rào cản hết sức phức tạp , tinh vi, đa dạng và
Trang 17được sử dụng ngày càng nhiều khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu rất khó nắm bắt
và khó vượt qua gây cản trở không ít cho thương mại quốc tế
1.1.2.3 Tiêu chuẩn về môi trường
Phát triển thương mại gắn với bảo vệ môi trường đang là xu thế thương mại quốc tế, đó là phát triển thương mại bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, được gọi chung là “thương mại-môi trường” Sau một thời gian dài chạy theo lợi nhuận, phát triển ồ ạt, không quan tâm đến môi trường sinh thái, các quốc gia đã nhận thấy tầm quan trọng của môi trường đối với sự phát triển bền vững và đã thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ môi trường, trong đó có việc đưa ra các tiêu chuẩn về môi trường đối với hàng hoá nhập khẩu Tuy nhiên, do các quy định của WTO cho phép các nước sử dụng các biện pháp bảo hộ vì mục đích môi trường nên các quốc gia đã thực sự dựng nên những rào cản về môi trường đối với hàng hoá của nước ngoài nhập khẩu vào nước mình Hiện nay giấy chứng nhận ISO 14000 đã trở thành một yêu cầu bắt buộc, một giấy thông hành của doanh nghiệp khi muốn xuất hàng sang các nước khác, đặc biệt là khi xuất sang thị trường những nước phát triển, nơi mà môi trường là một trong những vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu
Hệ thống rào cản môi trường trong thương mại quốc tế hiện nay rất đa dạng và được áp dụng rất khác nhau ở các nước tuỳ vào điều kiện cụ thể của mỗi nước Nhưng nhìn chung, các rào cản môi trường thường được áp dụng trong thương mại quốc tế bao gồm:
• Các phương pháp chế biến và sản xuất theo quy định môi trường:
Đây là các tiêu chuẩn quy định sản phẩm cần phải được sản xuất như thế nào Các tiêu chuẩn này áp dụng cho giai đoạn sản xuất, nghĩa là giai đoạn trước khi sản phẩm được tung ra trên thị trường Về mặt môi trường, việc xem xét quy trình sản xuất là để giải quyết một trong những câu hỏi trọng tâm của quá trình quản lý môi trường: sản phẩm được sản xuất như thế nào, sản phẩm được sử dụng như thế nào, sản phẩm được vứt bỏ như thế nào, những quá trình này có làm tổn hại đến môi trường không
Trang 18Những quy định và tiêu chuẩn về phương pháp chế biến được áp dụng để hạn chế chất thải ô nhiễm và lãng phí tài nguyên không tái tạo Đây là những tiêu chuẩn đối với công nghệ, quá trình sản xuất sản phẩm nhằm đánh giá xem quá trình sản xuất có gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường hay không
• Các yêu cầu về đóng gói bao bì :
Vấn đề bao bì sau tiêu dùng liên quan đến việc xử lý chất thải rắn Các chính sách đóng gói bao gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu đóng gói, những quy định về tái sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng… Những tiêu chuẩn và quy định liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên liệu đóng gói đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hay dùng lại Những sản phẩm không phù hợp có thể bị thị trường từ chối cả nguyên vật liệu đóng gói và sản phẩm chứa trong bao bì
• Nhãn môi trường :
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái được xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, một quá trình còn được gọi là phân tích từ đầu đến cuối (từ lúc sinh đến lúc chết) Theo phương pháp này, người ta sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với môi trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó Các giai đoạn này bao gồm giai đoạn tiền sản xuất (chế biến nguyên liệu thô), sản xuất, phân phối (bao gồm cả đóng gói), sử dụng hoặc tiêu thụ và loại bỏ sau khi sử dụng
• Phí, thuế và các khoản thu liên quan đến môi trường:
Các khoản này được gọi chung là phí môi trường thường được áp dụng nhằm
ba mục tiêu chính: thu lại các chi phí phải sử dụng cho môi trường, thay đổi cách ứng
xử của cá nhân và tập thể đối với các hoạt động có liên quan tới môi trường và thu quỹ cho các hoạt động bảo vệ môi trường Thường có các loại phí sau:
- Phí sản phẩm: được áp dụng cho các sản phẩm gây ô nhiễm như có chứa các hoá chất độc hại (xăng pha chì) hoặc có một số thành phần cấu tạo của sản phẩm gây khó khăn cho việc thải loại sau sử dụng
Trang 19- Phí đối với khí thải: được áp dụng với các chất gây ô nhiễm thoát vào không khí, nước hoặc đất hoặc gây tiếng ồn Các khoản phí này có thể được đánh vào thời điểm tiêu thụ (trong trường hợp này tương đương với phí sản phẩm và có tác động tương tự đến thương mại), hoặc có thể được thu dưới hình thức phí đối với người sử dụng để trang trải chi phí xử lý rác thải công cộng
- Phí hành chính: được áp dụng cùng với các quy định để trang trải các chi phí dịch vụ của Chính phủ và có thể được thu dưới hình thức phí giấy phép, đăng ký, phí kiểm định và kiểm soát Cơ sở của việc đánh thuế hay thu phí vì mục đích môi trường được dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm và người sử dụng các nguồn lực môi trường phải chịu phí
Tất cả các rào cản môi trường này đều ảnh hưởng tới thương mại quốc tế, tới sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, các quốc gia Các quy định về môi trường được các nước sử dụng ngày càng nhiều và đã thật sự trở thành một rào cản hữu hiệu để bảo hộ thị trường trong nước mà vẫn phù hợp với các quy định của WTO
Ngoài các hình thức trên, rào cản kỹ thuật trong thương mại còn tồn tại dưới những hình thức khác như các biện pháp an ninh: các nước đưa ra các quy định hạn chế nhập khẩu, thậm chí cấm nhập khẩu vì những lý do an ninh hay các tiêu chuẩn an toàn cho người lao động: một số quốc gia không nhập khẩu hàng hoá từ những doanh nghiệp không đáp ứng được các điều kiện an toàn cho người lao động
Các nước có thể dựa vào nhiều lý do khác nhau để đưa ra các tiêu chuẩn nhằm mục đích bảo vệ thị trường, người tiêu dùng và môi trường trong nước cho nên rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế tồn tại dưới nhiều hình thức rất đa dạng và phức tạp
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (TMQT):
Thứ nhất: Tiêu chuẩn và các quy định trong hàng rào kỹ thuật thương mại
mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với thuế và hạn ngạch thương mại Các rào cản thương mại cổ điển đó gồm các loại thuế kém hiệu quả và phân biệt đánh vào các nguồn lực kinh tế nước ngoài; đồng thời điều này cũng làm tăng chi phí đối với
Trang 20người tiêu dùng và người sử dụng đầu vào, phân bổ một cách không hiệu quả các nguồn lực và bảo hộ các thế lực thị trường trong nước (Maskus và Wilson 2001) Phải nói rằng các tiêu chuẩn đem lại lợi ích kinh tế lớn mà nếu như xóa bỏ sẽ tạo ra một tổn thất lớn cho xã hội, chẳng hạn các tiêu chuẩn rác thải và yêu cầu sử dụng nhiên liệu hiệu quả có thể giúp làm sạch không khí hơn, yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm có thể cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống hơn, yêu cầu về an toàn thực phẩm có thể cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống, có tác động lan tỏa giúp đạt được năng suất cao hơn
Thứ hai: Rào cản kỹ thuật tác động hai mặt tới TMQT Các quy định và tiêu
chuẩn kỹ thuật một mặt đảm bảo cho thương mại (chất lượng thương mại) vì chúng
ra đời từ mối quan tâm chung của cả Chính phủ và người tiêu dùng đối với vấn đề sức khỏe, an toàn và chất lượng môi trường Nhưng mặt khác mạnh hơn, chúng tác động cản trở thương mại quốc tế Bởi vì thực tế cho thấy các nước có thể đưa ra những quy định nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau, chứ không phải mục đích bảo vệ xã hội, bảo vệ người tiêu dùng
Thứ ba : Từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy rằng hiện nay nếu như đối
với các nước phát triển, rào cản kỹ thuật là một công cụ chính sách thương mại hữu hiệu phục vụ chủ nghĩa bảo hộ, thì ngược lại rào cản kỹ thuật trở thành mối quan tâm, lo ngại đặc biệt đối với các nước đang phát triển Bởi lý do: Rào cản kỹ thuật thương mại của các nước phát triển làm phát sinh chi phí trong sản xuất hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển Không chỉ các tiêu chuẩn trong rào cản thương mại liên quan đến chi phí mà ngay cả các thủ tục đánh giá tính tuân thủ và sự trì hoãn đi kèm cũng gây tốn kém, và đặc biệt chi phí còn phát sinh do sự khác biệt của các tiêu chuẩn ở các thị trường xuất khẩu khác nhau và sự thay đổi tiêu chuẩn theo thời gian
Thứ tư: Việc sử dụng các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế được
điều chỉnh thông qua hiệp định thương mại WTO Cụ thể, để hạn chế những tác động tích cực cũng như sự khác biệt của hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc
tế, tổ chức thương mại thế giới WTO đã thống nhất các nguyên tắc chung và được
Trang 21cộng đồng thế giới cam kết tại Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT) Tuy nhiên, hiệp định này mới chỉ khuyến cáo các nước cân nhắc vào tình hình sử dụng tiêu chuẩn quốc tế nhưng cuối cùng lại không yêu cầu các nước này thay đổi mức bảo hộ Do vậy, nhắc tới hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế, người ta vẫn luôn cho rằng đó là một trong những công cụ bảo hộ mậu dịch hiệu quả của các nước và khu vực, và thị trường Mỹ là một ví dụ điển hình
2 MỘT SỐ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRÊN THẾ GIỚI ĐỂ VƯỢT QUA CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG TMQT:
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu nếu các quốc gia không muốn bị tụt hậu, bị cô lập Nhưng khi tham gia thương mại thế giới thì các nước lại gặp rất nhiều rào cản Do đó, mỗi doanh nghiệp cần phải có những giải pháp để vừa hội nhập kinh tế thành công vừa bảo đảm được những quyền lợi của doanh nghiệp mình
Để vượt qua các rào cản kỹ thuật trong TMQT, các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau trong đó có việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng quốc tế Hiện nay trên thế giới có nhiều hệ thống quản lý chất lượng do các tổ chức tiêu chuẩn và chất lượng khác nhau ban hành và cấp giấy chứng nhận trong đó phổ biến là hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, hệ thống quản trị môi trường ISO
14000, hệ thống quản lý chất lượng theo HACCP, tiêu chuẩn quốc tế Global Gap Ngoài ra, các tiêu chuẩn mới như BRC, IFS và ISO 22000 (chứng nhận hệ thống quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm) đang là điều kiện mua hàng của các tập đoàn bán
lẻ lớn trên thế giới
2.1 Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000
Thực chất đây là một bộ tiêu chuẩn do Tổ chức về Tiêu chuẩn hoá (International Organisation for Standardization - ISO) ban hành Bộ tiêu chuẩn ISO
9000 được ban hành lần đầu năm 1987 nhằm mục đích đưa ra một mô hình được chấp nhận ở mức độ quốc tế về hệ thống đảm bảo chất lượng và có thể áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ
Trang 22ISO 9000 tập hợp các kinh nghiệm quản lý chất lượng tốt nhất đã được thực thi trong nhiều quốc gia và khu vực và được chấp nhận là tiêu chuẩn quốc gia của nhiều nước
Mục tiêu lớn nhất của bộ ISO 9000 là đảm bảo chất lượng đối với nguời tiêu dùng Bộ ISO
9000 gồm 24 tiêu chuẩn, chia thành 5 nhóm là:
• ISO 9001: Hệ thống chất lượng – Mô hình đảm bảo chất lượng trong quá trình thiết kế, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ
• ISO 9002: Hệ thống chất lượng – Mô hình đảm bảo chất lượng trong quá trình sản xuất lắp đặt và dịch vụ
• ISO 9003: Hệ thống chất lượng – Mô hình đảm bảo chất lượng trong quá trình kiểm tra cuối cùng và thử nghiệm
• ISO 9004.1: Quản lý chất lượng và các yếu tố trong hệ thống chất lượng Phần 1: Hưóng dẫn
• ISO 9004.2: Quản lý chất lượng và các yếu tố trong hệ thống chất lượng
Phần 2: Hướng dẫn dịch vụ
Bốn triết lý của bộ ISO 9000:
Phương hướng tổng quát của bộ ISO 9000 là nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng để thoả mãn nhu cầu của khách hàng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Các đặc trưng kỹ thuật đơn thuần không thể đảm bảo sự phù hợp của sản phẩm đối với nhu cầu của khách hàng.Các tiêu chuẩn của hệ thống chất lượng
sẽ bổ sung thêm vào các đặc trưng kỹ thuật của sản phẩm nhằm thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng
Bộ ISO 9000 nêu ra những hướng dẫn đối với hệ thống chất lượng cho việc phát triển có hiệu quả chứ không áp đặt một hệ thống chất lượng chuẩn đối với từng doanh nghiệp Hệ thống chất lượng của mỗi doanh nghiệp bị chi phối
Trang 23bởi tầm nhìn, văn hoá, cách quản trị, cách thực hiện, ngành công nghiệp, loại sản phẩm hay dịch vụ Mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có hệ thống quản lý chất lượng đặc trưng phù hợp cho từng hoàn cảnh cụ thể
Hệ thống chất lượng của bộ ISO 9000 dựa trên mô hình quản trị theo quá trình (MBP – Management By Process) lấy phòng ngừa làm phương châm chủ yếu trong suốt vòng đời sản phẩm (thiết kế - sản xuất - tiêu dùng)
Bộ tiêu chuẩn ISO là một bộ tiêu chuẩn mang tính toàn cầu, được thừa nhận rộng rãi trên thế giới do đó các doanh nghiệp sẽ có lợi ích rất lớn nếu được bên thứ ba công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9000 Các doanh nghiệp ISO 9000 này sẽ được:
- Bên mua hàng hoá, dịch vụ hay bỏ thầu miễn giảm việc thử nghiệm lại sản phẩm
- Xuất khẩu và trúng thầu dễ dàng đối với các đối tác nước ngoài
- Có hệ thống mua bán tin cậy trong việc bán hàng giữa các doanh nghiệp cũng như giữa các quốc gia
- Dễ được thị trường khó tính chấp nhận, đặc biệt là các sản phẩm liên quan đến sức khoẻ, an ninh và môi trường
2.2 Hệ thống quản trị môi trường ISO 14000
ISO 14000 là tiêu chuẩn về hệ thống quản trị môi trường (Environment Management System – EMS) do Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO xây dựng và ban hành Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là tập hợp các tiêu chuẩn cùng họ, bao gồm các
tiêu chuẩn và các hướng dẫn chủ yếu liên quan đến vấn đề quản lý môi truờng Bộ tiêu chuẩn này thích ứng với yêu cầu giải quyết vấn đề môi trường toàn cầu, mục đích chính của nó là cải thiện việc quản lý môi trường, bảo vệ môi trường, chú trọng đến các tác động, các ảnh hưởng xấu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến môi trường Áp dụng ISO 14000 đi liền với việc thiết
Trang 24lập vận hành một hệ thống quản lý môi trường
Các tiêu chuẩn ISO 14000 đưa ra những chuẩn cứ được quốc tế thừa nhận về quản lý, đo lường và đánh giá môi trường Các tiêu chuẩn này tuy không đề cập đến những chỉ tiêu chất lượng môi trường nhưng những công cụ được đưa ra lại là những công cụ hữu hiệu giúp các tổ chức và các doanh nghiệp thực hiện việc đánh giá và kiểm soát tác động môi trường đối với các hoạt động, sản phẩm và dịch vụ của mình ISO 14000 được biên soạn để áp dụng cho tất cả các loại hình và quy mô tổ chức/doanh nghiệp Kể từ những tiêu chuẩn đầu tiên được xuất bản năm 1996 đến nay, bộ tiêu chuẩn ISO đã có khoảng 20 tiêu chuẩn, báo cáo kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng Theo tiêu chuẩn ISO 14001 – Hệ thống quản lý môi trường Quy định và hướng dẫn sử dụng ( một trong các tiêu chuẩn của bộ ISO 14000), một hệ thống quản lý môi trường gồm 5 thành phần cơ bản sau:
Chính sách môi trường
Lập kế hoạch
Áp dụng và hoạt động
Kiểm tra và hành động chỉnh sửa
Xem xét lại của ban lãnh đạo
Giống như bộ tiêu chuẩn ISO 9000, bộ tiêu chuẩn ISO 14000 cũng đem lại lợi ích không nhỏ đối với doanh nghiệp Trong nền thương mại quốc tế hiện nay, một số quốc gia thường lợi dụng điều khoản liên quan đến những biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ con người để bảo vệ sản phẩm của mình dựng lên những rào cản môi trường đối với thương mại thì ISO 14000 có thể được coi là một sự đảm bảo cho hàng hoá của các nước có thể vượt qua các rào cản đó để bước chân vào thị trường các nước khác
Tóm lại ISO 14000 góp phần làm tăng ý thức bảo vệ môi trường của người dân, thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật về công tác bảo vệ môi trường, giúp doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước thông qua việc giảm giá thành, tạo lập hình ảnh tốt đẹp trong tâm trí người tiêu dùng, thúc đẩy
sự phát triển của “mậu dịch xanh”
Trang 252.3 Hệ thống HACCP
HACCP ( Hazard Analysis and Critical Control Point) là hệ thống phân tích mối nguy và xác định điểm kiểm soát trọng yếu HACCP là sự tiếp cận có tính khoa học, hợp lý và có tính hệ thống cho sự nhận biết, xác định và kiểm soát mối nguy trong chế tạo, gia công, sản xuất, chuẩn bị và sử dụng thực phẩm để đảm bảo rằng thực phẩm là an toàn khi tiêu dùng (tức là nó không có mối nguy không thể chấp nhận cho sức khoẻ) Hệ thống này nhận biết những mối nguy có thể xảy ra trong quá trình sản xuất thực phẩm và đặt ra các biện pháp kiểm soát để tránh những mối nguy xảy ra
HACCP là khái niệm được hình thành vào những năm 1960 bởi công ty Pillsbury Cùng với Viện quản lý không gian và hàng không quốc gia (NASA) và phòng thí nghiệm quân đội Mỹ ở Natick, họ đã phát triển hệ thống này để đảm bảo an toàn thực phẩm cho các phi hành gia trong chương trình không gian Việc phát triển
kế hoạch liên quan khắp thế giới về an toàn thực phẩm bởi những người có thẩm quyền, sức khoẻ cộng đồng, công nghiệp thực phẩm và người tiêu dùng đã là sự thúc đẩy chủ yếu trong việc áp dụng hệ thống HACCP trong những năm gần đây Việc này được chứng minh bởi sự tăng lên đáng kể phạm vi ra đời thực phẩm không bệnh tật trên thế giới và sự gia tăng nhận thức về hiệu quả kinh tế và hiệu quả sức khoẻ của thực phẩm không bệnh tật Và việc áp dụng HACCP được yêu cầu ngày càng nhiều bởi những người tiêu dùng tại các thị trường như Mỹ, châu Âu, Australia, Canada
Nhiều tổ chức quốc tế như Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ, Uỷ ban Tư vấn Quốc gia về tiêu chuẩn vi trùng học cho thực phẩm và Uỷ ban CodexWHO/FAO
đã chứng nhận HACCP là hệ thống có hiệu quả kinh tế nhất cho đảm bảo an toàn thực phẩm
Trang 26HACCP quan trọng trong sản xuất thực phẩm vì nó kiểm soát mối nguy tiềm tàng trong sản xuất thực phẩm Thông qua việc kiểm soát những rủi ro thực phẩm chủ yếu như chất gây ô nhiễm thuộc vi trùng học, hoá học và vật lý những nhà sản xuất có thể đảm bảo tốt hơn cho người tiêu dùng rằng sản phẩm của họ an toàn cho tiêu dùng Việc giảm bớt mối nguy thực phẩm, việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng sẽ được củng cố
HACCP có nhiều ưu điểm so với những cách tiếp cận truyền thống để kiểm soát an toàn thực phẩm Những chương trình kiểm soát an toàn thực phẩm truyền thống nói chung dựa trên sự kiểm tra “chụp ảnh nhanh” và nghiên cứu thành phẩm tức là cách tiếp cận “quan sát, phát hiện và tiếp xúc” tin tưởng vào phát hiện mối nguy tiềm tàng hơn là ngăn chặn Mà những cách tiếp cận này có giới hạn của chúng như mất nhiều thời gian mới thu được kết quả, không dự báo được những vấn đề an toàn thực phẩm tiềm tàng, chi phí cao do việc nghiên cứu thành phẩm, khó khăn trong việc tập hợp và nghiên cứu đủ ví dụ tiêu biểu để thu được thông tin có ý nghĩa Còn với hệ thống HACCP, an toàn thực phẩm được hợp nhất vào đề cương của phương pháp chứ không phải là vào hệ thống không hiệu lực của phương pháp nghiên cứu thành phẩm Bởi vậy, hệ thống HACCP cung cấp một phương pháp mang lại lợi nhuận hơn và ngăn ngừa cho an toàn thực phẩm Kinh nghiệm của một số quốc gia cho thấy việc áp dụng hệ thống HACCP dẫn đến việc phòng ngừa có hiệu quả hơn bệnh tật từ sản phẩm Ví dụ, theo Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm
Mỹ, ứng dụng của HACCP cho máy chế biến cá được đánh giá ngăn chặn khoảng chừng 20 đến 60% bệnh do hải sản gây ra
HACCP có 7 nguyên tắc làm cơ sở Đó là:
Hướng dẫn phân tích những mối nguy
Xác định những điểm kiểm soát trọng yếu (CCPs – Control Critical Points)
Thiết lập những ranh giới tới hạn
Thiết lập một hệ thống kiểm tra việc điều khiển của CCPs
Thiết lập hoạt động hiệu chỉnh được thực hiện khi hệ thống kiểm tra chỉ ra mét CCP đặc biệt không nằm dưới sự kiểm soát
Trang 27Thiết lập những thủ tục kiểm tra xác định hệ thống HACCP đang làm việc hiệu quả
Thiết lập tài liệu dẫn chứng liên quan tới tất cả các thủ tục và các biên bản thích hợp với những nguyên tắc này và áp dụng của chúng
Áp dụng hệ thống HACCP rất có ích đối với các doanh nghiệp vì nó giúp doanh nghiệp nâng cao được chất lượng, đảm bảo vấn đề vệ sinh cho sản phẩm, nâng cao được hình ảnh của doanh nghiệp và tăng cơ hội xuất khẩu của doanh nghiệp sang những thị trường khó tính, có yêu cầu cao về an toàn và vệ sinh thực phẩm
2.4 Tiêu chuẩn GLOBAL GAP:
GLOBAL GAP (www.globalgap.org) là tổ chức tư nhân thiết lập các tiêu chuẩn tự nguyện cho việc chứng nhận quy trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản khắp nơi trên thế giới Ý thức hơn
về sức khỏe và môi trường, người tiêu dùng trên thế giới bắt đầu lên tiếng và yêu cầu các sản phẩm được nuôi trồng một cách có trách nhiệm trong điều kiện tốt về mặt sinh thái
và có kiểm soát Nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất thực phẩm đang phát triển nhanh nhất thế giới vì thế mối quan tâm của người tiêu dùng được ưu tiên hàng đầu Nhằm nỗ lực đáp ứng những yêu cầu này, các nhà sản xuất và các nhà bán lẻ ngày càng dựa vào các tiêu chuẩn có độ tin cậy, được tín nhiệm, mang tính minh bạch và quan trọng hơn nữa là tạo môi trường đáng tin cậy trong thị trường của họ
Tiêu chuẩn GLOBAL GAP cho thủy sản là một tiêu chuẩn tiền nông trại được tổ chức Sáng kiến An toàn Thực phẩm Toàn cầu (GFSi) xác nhận Cùng với cấu trúc cơ bản của tiêu chuẩn
GLOBAL GAP cung cấp cho ngành công nghiệp này công cụ tốt nhất trên thị trường để tin tưởng vào hệ thống chứng nhận từ doanh nghiệp đến doanh nghiệp
Trang 28bao hàm toàn bộ dây chuyền sản xuất từ nhà cung cấp giống bố mẹ, con giống và thức ăn đến các giai đoạn nuôi trồng, thu hoạch và chế biến
GLOBAL GAP tự hào giới thiệu một chu trình chứng nhận nuôi trồng thủy sản mới bắt đầu từ tháng 1/2011 Theo kết quả của hội nghị bàn tròn ở bốn châu lục
và ba tổ chức tư vấn công, phạm vi của tiêu chuẩn GLOBAL GAP cho thủy sản đã phát triển lên Phiên bản 4 bao gồm các loài được nuôi trồng ở trại giống và được sản xuất theo hệ thống nguồn nước có kiểm soát trong đó có xem xét đến việc thu gom giống thụ động trong giai đoạn phiêu sinh Từ khi phiên bản trước bắt đầu vào năm
2007 cho đến quý 3 năm 2010 đã có 500 ý kiến đóng góp của các bên có liên quan đại diện của 116 tổ chức khắp nơi trên thế giới bao gồm các tổ chức chứng nhận, các nhà bán lẻ, các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các nhà cung cấp, hộ nông dân, Nhóm Công tác Kỹ thuật quốc gia GLOBAL GAP cho thủy sản, các tổ chức sản xuất, chủ sở hữu đề án, chuyên gia tư vấn, ngành công nghiệp dịch vụ thực phẩm, ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe động vật và các viện đo lường
GLOBAL GAP tin chắc vào sự hỗ trợ và áp dụng của các bên có liên quan tại địa phương theo nguyên tắc “Nghĩ về toàn cầu, hành động theo địa phương” để thực hiện nguyên tắc này, các Nhóm Công tác Kỹ thuật quốc gia” (NTWG) đã được thành lập trên toàn cầu trong từng phạm vi GLOBAL GAP cụ thể ví dụ như Trồng trọt, Chăn nuôi hoặc Nuôi trồng thủy sản Vai trò của nhóm này là xây dựng các hướng dẫn được diễn giải phù hợp cho từng quốc gia và đưa ra giải pháp áp dụng cho từng địa phương cụ thể cũng như nhận diện
được những thách thức
trong quá trình thực hiện
2.5 Tiêu chuẩn BRC:
Tiêu chuẩn BRC - viết tắt của
British Retail Consortium - là tiêu chuẩn
của Hiệp hội các nhà bán lẻ Anh Tiêu
chuẩn được phát triển để giúp các nhà
Trang 29bán lẻ về các yêu cầu đầy đủ của luật định và bảo vệ cho người tiêu dùng bằng cách cung cấp đánh giá cơ bản về các công ty cung cấp thực phẩm cho các nhà bán lẻ
- Hiện nay nhu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm đang được đặt lên hàng đầu, nếu như hệ thống HACCP tạo cho chúng ta sự tin tưởng về các sản phẩm được sản xuất từ công ty thì phần cũng rất đáng quan tâm khác là việc kiểm soát nguyên liệu đầu vào của nhà máy
- BRC chỉ cung cấp đánh giá cơ bản các yêu cầu về vấn đề sản xuất và kiểm soát nguồn nguyên liệu đầu vào Trong BRC yêu cầu về mặt sản xuất công ty phải được chứng nhận về HACCP
- Tiêu chuẩn BRC cung cấp các yêu cầu giúp chúng ta kiểm soát dây chuyền cung cấp sản phẩm từ nguyên liệu đầu vào bắt đầu từ việc cung cấp giống, trồng trọt, thu hoạch và chế biến đến khi giao sản phẩm cho khách hàng Tiêu chuẩn cũng yêu cầu phải cập nhật các yêu cầu luật định và thông tin công nghệ về sản phẩm giúp công ty đảm bảo ứng phó kịp thời với những sự thay đổi luôn cung cấp sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng
- Ngoài ra một trong những yêu cầu quan trọng là ngày nay khách hàng muốn biết sản phẩm mình đang sử dụng có nguồn gốc từ đâu và BRC giúp chúng ta điều này BRC đưa ra các yêu cầu chung cho việc kiểm soát nông sản đầu vào chứ không
cụ thể và chặt chẽ như yêu cầu của GAP
- Việc áp dụng tiêu chuẩn BRC giúp công ty chứng minh với khách hàng rằng sản phẩm công ty an toàn và đã được kiểm soát về nguồn gốc Ngoài ra áp dụng tiêu chuẩn BRC giúp công ty kiểm soát tốt hơn về hệ thống quản lý của công ty đối với sản phẩm Thực hiện BRC cũng là đáp ứng yêu cầu của khách hàng là các công ty phân phối giúp tăng sản lượng tiêu thụ, nâng cao năng suất đồng thời sẽ có thể nâng cao giá mua nguyên liệu, cải thiện đời sống của người nông dân
Với tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, các sản phẩm nông, thủy sản và thực phẩm của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt tại thị trường quốc tế Một trong những nguyên nhân gây ra nhiều khó khăn chính là việc không đáp ứng được tiêu chuẩn BRC Food mà các nhà nhập khẩu yêu cầu
Trang 30Các yêu cầu của BRC liên quan đến 7 nội dung chính đó là:
1 - Cam kết của lãnh đạo cấp cao
2 - Kế hoạch an toàn thực phẩm – HACCP
3 - Hệ thống quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm
4 - Tiêu chuẩn nhà máy (Bên ngoài, an ninh, mặt bằng, cấu trúc, tiện ích …)
5 - Kiểm soát sản phẩm
6 - Kiểm soát quá trình
7 - Nhân sự
2.6 Tiêu chuẩn ISO 22000:
Tiêu chuẩn mới ISO 22000:2005 hệ thống quản
lý an toàn thực phẩm nhằm đảm bảo sự liên kết chặt chẽ trong chuổi dây chuyền cung ứng về thực phẩm được xây dựng bởi những chuyên gia & tổ chức quốc tế về lĩnh vực thực phẩm có kết hợp với những nguyên tắc của hệ thống HACCP về vệ sinh thực phẩm (Hazard Analysis and Critical Control Point - Phân tích mối nguy & kiểm soát những điểm trọng yếu trong quá trình sản xuất - chế biến thực phẩm) và với Ủy ban thực phẩm CODEX (CODEX - Cơ quan liên kết giữa Tổ chức lương nông thế giới của Liên hiệp quốc FAO (United Nations’ Food and Agriculture Organization) và Tổ chức Y tế thế giới WHO (World Health Organization) để biên soạn các tiêu chuẩn về thực phẩm)
Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm phù hợp tiêu chuẩn ISO 22000:2005 cũng tương thích với hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 - do vậy những tổ chức
đã áp dụng ISO 9001:2000 có thể dễ dàng mở rộng việc áp dụng ISO 22000:2005
Việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế ISO 22000:2005 tạo điều kiện cho việc hợp tác giữa các doanh nghiệp và các tổ chức liên quan sản xuất, chế biến, vận chuyển, bao gói, lưu kho, cung cấp thiết bị & dịch vụ thực phẩm nhằm hỗ trợ cho việc trao đổi thông tin và kinh nghiệm về việc thống nhất hóa các chuẩn mực quốc tế về an toàn thực phẩm
Trang 31Hiện nay, bộ tiêu chuẩn ISO 22000:2005 gồm có các tiêu chuẩn sau đây:
• ISO/TS 22004, Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm: Hướng dẫn áp dụng ISO 22000:2005 ban hành vào tháng 11/2005 (Food safety management systems - Guidance on the application of ISO 22000:2005)
• ISO/TS 22003, Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm: Các yêu cầu cho các tổ chức đánh giá và chứng nhận hệ thống quản lý an toàn thực phẩm (Food safety management systems - Requirements for bodies providing audit and certification of food safety management systems) sẽ ban hành vào Quý 1/2006
• ISO 22005, Liên kết chuẩn trong chuỗi dây chuyền thực phẩm và thức ăn súc vật - những nguyên tắc & hướng dẫn chung cho thiết kế và phát triển hệ thống (Dự thảo tiêu chuẩn - DIS) (Traceability in the feed and food chain - General principles and guidance for system design and development, Draft International Standard)
3 THÁCH THỨC TỪ RÀO CẢN KỸ THUẬT KHI XUẤT KHẨU THỦY SẢN SANG THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN QUA:
Mặt hàng thủy sản của Việt Nam là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của cả nước Năm 2009 là năm có nhiều khó khăn đối với xuất khẩu nói chung và đối với mặt hàng thủy sản nói riêng Số liệu của Tổng cục thống kê cho thấy xuất khẩu thủy sản cả nước mang lại kim ngạch khoảng 4,2 tỷ USD, giảm 6,2% (tương đương 276,6 triệu USD) so với kim ngạch năm 2008 Tuy nhiên, năm 2010 đã chứng kiến
sự vươn lên mạnh mẽ của ngành thủy sản, với sản lượng ước đạt 5,2 triệu tấn, giá trị sản xuất toàn ngành 56.900 tỷ đồng, tăng 6,1% so với năm 2009 và giá trị xuất khẩu ước đạt 4,95 tỷ USD, tăng hơn 16% so với năm 2009
Trang 32Biểu đồ 1.1: Thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2010
Nguồn: VASEP
Biểu đồ 1.1 cho thấy EU, Mỹ và Nhật bản là ba đối tác chính nhập khẩu hàng thủy sản của Việt Nam trong năm 2010 Đây cũng là các thị trường truyền thống đối với mặt hàng thủy sản của nước ta Mặc dù kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào các thị trường này ngày càng tăng, song vì đây là thị trường của các nước phát triển với các tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật rất khắt khe, các rào cản kỹ thuật vẫn luôn là vấn đề gây khó khăn lớn cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Dưới đây là dẫn chứng về một số rào cản kỹ thuật mà các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam vướng phải khi xuất khẩu sang thị trường
Mỹ và Nhật bản
Thị trường Nhật Bản:
Nhật Bản luôn là đối tác “chung thủy” của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, Nhật Bản cũng là một trong những thị trường có những đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm
Xuất khẩu tôm Việt Nam vào Nhật năm 2011 đạt 607,2 triệu USD, tăng 4,5%
so với cùng kỳ năm 2010 Năm 2011 chứng kiến sự trồi sụt đáng kể trong xuất khẩu tôm sang Nhật Bản Thảm họa kép (động đất và sóng thần) tại Nhật Bản gần cuối
Trang 33tháng 3 khiến xuất khẩu tôm sang thị trường này sụt giảm mạnh do nhu cầu thị trường xuống thấp Sau 5 tháng giảm sâu, xuất khẩu tôm sang Nhật Bản mới tăng trưởng trở lại vào tháng 8
Góp phần vào mức sụt giảm này cũng phải nhắc tới việc Nhật Bản áp dụng biện pháp tăng cường kiểm tra 100% Enrofloxacin vào đầu tháng 6 trong khi ngành tôm Việt Nam vẫn đang “loay hoay” với hàng loạt lô tôm chứa dư lượng Trifluralin, một hoạt chất diệt cỏ bị phía Nhật thắt chặt kiểm tra tới 100% vào tháng 9 năm 2010 Khối lượng nhập khẩu tôm vào Nhật Bản 10 tháng đầu năm 2011 giảm gần 4% Trong 5 nước cung cấp tôm hàng đầu cho Nhật Bản gồm Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Ấn Độ và Trung Quốc thì có tới 3 nước đứng đầu giảm khối lượng xuất khẩu tôm sang thị trường này so với cùng kỳ năm 2010 Trong đó, nhập khẩu từ Việt Nam giảm mạnh nhất 22,2%; Thái Lan giảm 3,7%; Inđônêxia giảm 4,1% Ngược lại, nhập khẩu từ Ấn Độ và Trung Quốc lại tăng khá với mức tăng tương ứng 4,7% và 23,3%
Theo Vasep, sản phẩm thủy sản Việt Nam, đặt biệt là mặt hàng tôm, xuất khẩu sang thị trường này vẫn tiếp tục bị cảnh báo nhiễm Enrofloxacin, một chất kháng sinh bị cấm sử dụng khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
Tổng hợp cảnh báo từ hệ thống cảnh báo nhập khẩu của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, và Trạm Kiểm dịch Sendai (Nhật), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam nhận thấy thủy sản nhiễm Enrofloxacin có chiều hướng tăng nhanh và mạnh trong nửa cuối năm 2011
Sau khi có cảnh báo của Nhật Bản, Vasep đã khuyến cáo các doanh nghiệp chế biến thủy sản cần lưu ý đẩy mạnh kiểm soát dư lượng hóa chất, kháng sinh trong sản phẩm thủy sản Các doanh nghiệp xuất khẩu tôm cũng như Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm Thủy sản (NAFIQAD) đã tăng cường công tác kiểm soát dư lượng kháng sinh trong sản phẩm tôm xuất khẩu, tuy nhiên vẫn chưa thể kiểm soát được việc sử dụng Enrofloxacin trong nuôi tôm bởi theo quy định hiện hành, chất kháng sinh này chỉ bị liệt vào danh mục hạn chế sử dụng nên người nuôi vẫn tiếp tục dùng phổ biến
Trước tình hình này, ngày 13/9/2011, Vasep đã gửi công văn tới Tổng cục Thủy sản kiến nghị ban hành quyết định cấm sử dụng Enrofloxacin trong nuôi tôm và hướng dẫn người nuôi sử dụng chất thay thế Tuy nhiên, Bộ NN và PTNT chỉ giải quyết vấn đề ở "phần ngọn" bằng việc yêu cầu thực hiện kiểm tra lấy mẫu kiểm
Trang 34nghiệm đối với 100% lô hàng tôm nuôi, cá tra, basa và sản phẩm chế biến từ các loại thủy sản này xuất khẩu vào Canada về chỉ tiêu dư lượng Enrofloxacin và Ciprofloxacin
Khi quyết định này mới được ban hành, Vasep cho biết đã và đang nhận được nhiều kiến nghị của doanh nghiệp về các vướng mắc liên quan để tổng hợp gửi Bộ
NN và PTNT theo đó việc kiểm tra lấy mẫu kiểm nghiệm 100% sẽ làm tăng chi phí
và làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam Được biết, tại Thông tư
số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009 của Bộ NN và PTNT ban hành Danh mục thuốc, hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng vẫn có tên enrofloxacin trong danh mục thuốc, hóa chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong kinh doanh, sản xuất thủy sản với hàm lượng giới hạn là 0,1ppm
Theo nhận định của Vasep điều này sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp vì khó kiểm soát được đầu vào hoặc gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp khi phải đầu tư quá lớn vào khâu tự kiểm
Từ trước tới nay, Nhật Bản luôn là một trong những thị trường có những đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm nhưng cũng là đối tác “chung thủy” của các DN thủy sản Việt Nam, trả giá cao và sòng phẳng trong kinh doanh Do đó, tại thời điểm này, các DN càng cần cẩn trọng hơn trong việc kiểm soát kháng sinh Enrofloxacin để giữ chữ “tín” cho các sản phẩm thủy sản xuất khẩu của nước nhà
Thị trường Mỹ:
Mỹ là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam trong đó thủy sản là một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam Trong thời gian qua sự gia tăng trong kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam có sự đóng góp không nhỏ của thị trường Mỹ và đây là nhóm hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ
Tuy nhiên, những mặt hàng thủy sản có lợi thế của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kì cũng chính là những mặt hàng mà nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là các nước trong Asean, Trung Quốc có điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sang thị trường Mỹ Đồng thời đây cũng là một trong những thị trường có
Trang 35chính sách quản lí hàng hóa nhập khẩu phức tạp nhất Mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam cũng gặp phải nhiều rào cản khi thâm nhập thị trường Mỹ do chưa đáp ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như các tiêu chuẩn kĩ thuật khắt khe của Hoa Kì
Thách thức đầu tiên đặt ra là tác động cộng hưởng của hàng rào kĩ thuật trong môi trường kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay do các nhà nhập khẩu nói chung và Mỹ nói riêng sẽ chú trọng khai thác các rào cản kĩ thuật nhằm đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp trong nước Ở Mỹ, Bộ Nông nghiệp Mỹ đã áp dụng Luật Nông trại (Farm Bill 2008) tại Việt Nam, trong đó bao gồm việc định nghĩa lại tên gọi catfish nhằm tạo ra nhiều rào cản hơn nữa đối với mặt hàng cá tra,
cá basa của Việt Nam, hạn chế xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trường Hoa Kì Bởi vì nếu hai loại cá trên bị coi là catfish, chúng sẽ chịu chế độ kiểm tra chất lượng ngặt nghèo hơn theo Luật Nông nghiệp Mỹ 2008 Đây thực chất là quyết định của chính phủ Mỹ muốn tăng cường sự giám sát đối với cá tra và cá ba sa của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ, nhằm tạo ra một rào cản thương mại gây khó khăn cho việc xuất khẩu cá tra và cá ba sa của Việt Nam vào thị trường Mỹ
Bởi theo qui định của Bộ Nông nghiệp nước này, khi hai loại cá này được xếp vào loại catfish thì các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ phải đáp ứng những tiêu chuẩn tương đương như những nhà nuôi trồng, sản xuất, chế biến thủy sản của Mỹ Điều này sẽ là một khó khăn rất lớn cho các nhà nuôi trồng chế biến cá tra và cá ba sa của Việt Nam Bởi vì theo như tính toán, phải mất
ít nhất 5 năm các nhà nuôi trồng, sản xuất và chế biến cá tra và cá ba sa của Việt Nam mới có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn rất cao theo tiêu chuẩn tương đương này Ngoài ra, theo các chuyên gia, những tiêu chuẩn này khá áp đặt vì điều kiện nuôi mỗi nước khác nhau, chưa kể khác nhau cả về con giống, thức ăn, môi trường
tự nhiên…Vì thế đây thực chất là một hàng rào thương mại hết sức phi lý mà phía
Mỹ dựng lên để ngăn cản sự cạnh tranh của cá tra và cá ba sa của Việt Nam đối với
cá da trơn của các nhà sản xuất ở Mỹ
Trang 36Không những cá tra, cá ba sa Việt Nam gặp rắc rối với rào cản kỹ thuật Mỹ
mà mặt hàng tôm cũng gặp không ít khó khăn khi xâm nhập vào thị trường này Thời gian gần đây, Việt Nam vừa nhận được thư cảnh báo của khách hàng Mỹ cho hay, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (US FDA) sắp có biện pháp kiểm tra tăng cường hoạt chất Enrofloxacin trong tôm nhập khẩu từ Việt Nam bởi
họ cho rằng, tôm Việt Nam đang bị cảnh báo liên tiếp tại thị trường nhập khẩu và đã
bị áp kiểm tra với tần suất rất cao vì có chứa hoạt chất cấm Enrofloxacin vượt mức cho phép Nếu sự việc này xảy ra, thiệt hại cho tôm Việt Nam sẽ vô cùng lớn vì cho đến nay, chỉ riêng Mỹ và Nhật Bản đã tiêu thụ hơn 50% tôm Việt Nam
Vậy là nỗi lo về thị trường Nhật chưa qua thì nguy cơ từ thị trường Mỹ lại đến Năm 2011, có 57 lô tôm Việt Nam bị cảnh báo và trả về từ Nhật do phát hiện
có chứa enrofloxacin vượt ngưỡng cho phép Do đó, vụ nuôi chính năm nay đang đến, các doanh nghiệp xuất khẩu tôm càng đứng ngồi không yên khi các lô hàng bị cảnh báo và trả về không những không giảm mà còn tăng lên Nếu không có biện pháp kịp thời, nhiều doanh nghiệp sẽ phải đóng cửa
Tự do hóa thương mại luôn là một vấn đề trọng tâm trong xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới hiện nay Nhằm tự do hóa thương mại, các nước, với các thỏa thuận song phương, khu vực và đa phương, đã và đang tiến hành giảm và tiến tới loại bỏ rất nhiều rào cản đối với thương mại Tuy nhiên, trong khi các rào cản thuế quan đã được giảm đáng kể theo lộ trình cắt giảm thuế của các nước, các rào cản phi thuế quan, đặc biệt các rào cản mang tính kỹ thuật vẫn tồn tại, thậm chí phát triển dưới nhiều hình thức phức tạp hơn Để có thể vượt qua các rào cản kỹ thuật tinh vi và khắt khe này, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam phải không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, đặc biệt trong việc quản lý chất lượng sản phẩm thì mới
có thể giữ được vị thế của mình trên hai thị trường tiềm năng nhưng cũng khó tính như Mỹ và Nhật Bản
Trang 37CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN KỸ
THUẬT ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17
Trang 382.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS F17:
- Tên thương mại: Seaproduct Company
- Tên viết tắt: Nha Trang Seafoods – F17
- Trụ sở chính: 58B Đường 2/4- Vĩnh Hải – Nha Trang – Khánh Hòa
- Điện thoại: (84)58.831040 – 831041
- Fax: (84)58.831034
- E_mail: ntsf@dng.vnn.vn và nhatrangseafoods@vnn.vn
- Website: http://www.nhatrangseafoods@vnn.vn
- Ngành nghề kinh doanh chính: Chế biến và xuất khẩu thủy sản
- Hình thức sở hữu vốn: Công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp
- Ngân hàng giao dịch: Ngân hàng Công thương tỉnh Khánh Hòa
- Tài khoản Việt Nam: 361.111.370.2152 VCB Hồ Chí Minh
61.111.370.008 VCB Nha Trang
- Logo công ty:
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần Nha Trang Seafoods – F17:
Công ty cổ phần Nha Trang seafoods – F17 trước đây là xí nghiệp đông lạnh
Nha Trang được UBND tỉnh Phú Khánh ( nay là tỉnh Khánh Hòa) ra quyết định thành lập vào ngày 10/11/1976
Trang 39Tháng 8/1978 Công ty rời cơ sở sản xuất từ 51 và 55 Lý Thánh Tôn – Nha Trang tới địa điểm mới tại 58B Vĩnh Hải – Nha Trang để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh đồng thời hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường
Xí nghiệp đông lạnh Nha Trang là đơn vị hạch toán độc lập theo nghị định số 388/HĐBT, là doanh nghiệp nhà nước thành lập theo thông báo số 2313 – TS/TB ngày 8/12/1992 của Bộ thủy sản
Ngày 14/12/1993 Xí nghiệp đổi tên thành công ty chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang và tên giao dịch nước ngoài là Nha Trang Seaproduct company, viết tắt là Nha Trang Seafoods
Ngày 06/8/2004, công ty chính thức đổi tên thành Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods – F17, tên giao dịch với nước ngoài là Nha Trang Seafoods
Trải qua gần 35 năm xây dựng và phát triển với bao khó khăn, hiện nay công
ty đang giữ vai trò đầu đàn trong ngành thủy sản Khánh Hòa Là công ty xuất khẩu
có uy tín trên thị trường, có nhiều kế hoạch ổn định, đội ngũ công nhân lành nghề,
cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối tốt Nhiều năm qua công ty luôn dẫn đầu các tỉnh khu vực miền Trung về giá trị kim ngạch xuất khẩu
Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, công ty đã không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và đa dạng hóa sản phẩm Công ty áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP, đảm bảo vệ sinh theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế Từ năm 2000 đến nay hệ thống quản lý chất lượng của công ty được tổ chức quốc tế BVQI vương quốc Anh cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000
Với những thành tích đạt được và những đóng góp không nhỏ của mình cho ngành và địa phương, công ty đã nhận được những hình thức khen thưởng như huân chương lao động hạng nhất, cờ thi đua của UBND tỉnh Khánh Hòa và của sở thủy sản Khánh Hòa
Trang 40Hình 2.1: Quang cảnh Công ty cổ phần Nha Trang seafoods – F17
Từ khi được hình thành tới nay công ty không ngừng phát triển đổi mới và
đã khẳng định được uy tín và chất lượng trên thị trường Với tiềm lực phát triển mạnh mẽ hiện nay, công ty đang phát triển với tốc độ rất nhanh bao gồm rất nhiều ngành nghề kinh doanh
Trong quá tình phát triển công ty đã vinh dự được nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng nhất (1996), 2 huân chương lao động hạng nhì (1985 và 1994) và 1 huân chương lao động hạng ba năm 1981 Được bộ thương mại tặng thưởng danh hiệu đơn vị xuất khẩu tiên tiến liên tục trong các năm 2004-2005-2006-2007-2009…